Showing posts with label trận ban mê thuộc. Show all posts
Showing posts with label trận ban mê thuộc. Show all posts

Saturday, December 21, 2019



Trận Ban Mê Thuột
(Từ ngày 10/3 đến 16/3/1975)
Buôn Ma Thuột (hay Ban Ma Thuột) là tỉnh lỵ của tỉnh Đắc-lắc (Darlac) và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Buôn MaThuột gốc tiếng Ê-Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", xuất phát từ tên gọi buôn của A-ma-Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê-Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê-Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A-Ma-Thuột cai quản. Với lợi thế là trung tâm của Đắc-lắc cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng. Năm 1904, khi tỉnh Đắc-lắc được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn.

Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa thị xã này có tên là Buôn Ma Thuột.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Việt Cộng bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, dẫn tới việc thôn tính toàn cõi VNCH.


Bản đồ Thị xã Buôn Ma Thuột

Từ sau ngày ký Hiệp Ðịnh Paris ngừng bắn 27/1/1973 tình hình Việt Nam tương đối yên tĩnh. Tháng 6-1973 Quốc hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự tại Ðông Dương Việt-Miên-Lào. Ðầu tháng 7-1973 Nixon ký thành đạo luật áp dụng từ giữa tháng 8-1973 cấm hoạt động quân sự của Mỹ trên toàn cõi Ðông Dương. Tháng 10-1973 Quốc Hội ra đạo luật hạn chế quyền Tổng thống về chiến tranh, Tổng thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến.

Cộng sản Bắc Việt nhận thấy thời cơ đã đến, bèn thay đổi đường lối đấu tranh từ chính trị sang bạo lực. Trước hết tiến đánh các đồn bót lẻ tẻ, sửa chữa và tu bổ hệ thống đường mòn HCM. Tại Quân khu 1, lấn chiếm một số căn cứ của Việt Nam Cộng Hòa, tháng 9, tháng 10 một số đơn vị thuộc tỉnh Thừa Thiên phải di tản. Năm 1973 Bắc Việt vẫn chưa phục hồi sau trận Mùa Hè 1972, chưa thể tổ chức được cuộc tấn công qui mô lớn.

Sau khi ký Hiệp định Paris, Bắc Việt cho khởi công xây tuyến đường xa lộ hành lang 613, song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng Hòa từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh gọi là “Xa Lộ Đông Trường Sơn”, đến đầu 1975 thì công trình hoàn thành dài 1,200km gồm 5 hệ thống đường dài 5,500km, 21 đường trục ngang dài 1,020km. Dọc theo xa lộ Ðông Trường Sơn là hệ thống ống dẫn dầu dài 1,445km qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục nghìn xe cơ giới các loại. Bắc Việt huy động hàng nghìn xe ủi đất, hàng vạn bộ đội, công nhân, thanh niên xung phong, dân công... ngày đêm phá núi san đèo, xây cống, lắp đường, dựng cầu... đường rộng 8m. Các xe vận tải cỡ lớn, các chiến xa loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm chuyển hàng trăm nghìn tấn vũ khí đạn dược quân trang quân dụng cho chiến trường.

Bắc Việt đã xử dụng 16,000 xe vận tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược, lương thực chuẩn bị cho chiến trường miền Nam trongsuốt hai năm 1973 và 1974. Đường dây liên lạc hữu tuyến cũng đã kéo dài tới Lộc Ninh. Từ Hà Nội đã nói chuyện thẳng được với nhiều chiến trường.

Ngày 22-5-1974 Hạ Viện Mỹ phủ quyết đề nghị gia tăng quân viện 1.4 tỷ Mỹ Kim cho Việt Nam Cộng Hòa của Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện, tới 23/9/1974 Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ đồng thanh chấp thuận Quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa là 700 triệu, như vậy từ 1/7/1974 VNCH chỉ nhận được một nửa số quân viện cần thiết, trong số 700 triệu này thì 300 triệu đã được dùng để trả lương cho nhân viên cơ quan DAO (Phòng Tùy Viên Quân Sự).

Tướng Nga Kulikov, Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Nga tới Hà Nội xúi giục Bắc Việt tấn công xâm chiếm Miền Nam và hứa giúp thêm vũ khí đạn dược. Cuối tháng 10-1974 Bộ Chính Trị Bắc Việt quyết định kế hoạch tác chiến năm 1975. Văn Tiến Dũng đã xác nhận trong Đại Thắng mùa xuân:

“Quyết tâm chiến lược của Bộ chính trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: Năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.”

“Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, kết luận xác định khu vực và mục tiêu chiến trường Tây nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và nhiệm vụ chiến dịch, hướng phát triển, sử dụng lực lượng, gợi ý về cách đánh, nhấn mạnh đến phương châm mạnh bạo, bí mật, bất ngờ, phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào bảo vệ phía Bắc Tây nguyên.”

Như thế Bắc Việt đã chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột từ bốn tháng trước trong khi ta không có một nhận định hoặc tin tức tình báo nào rõ rệt. Ngày 13/12/1974 Bắc Việt đưa ba Sư đoàn tấn công Phước Long, đến ngày 7/1/ 1975 tỉnh này hoàn toàn lọt vào tay địch.

Sau khi tỉnh lỵ Phước Long thất thủ CSBV yên chí thấy phía Mỹ không phản ứng. Sau đó ngày 8/1/1975 Lê Duẫn nói “tình hình đã sáng tỏ, chúng ta quyết tâm hoàn thành kế hoạch 2 năm”. Nhân khi cùng Phạm Hùng ra Bắc họp vào tháng 11-1974, Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh mặt trận B2/CSBV đưa ý kiến nên tấn công Buôn Ma Thuột thay vì Kontum hay Pleiku, để khởi đầu chiến dịch tấn chiếm Nam Việt Nam, được Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt chấp thuận với khẩu hiệu “Mạnh bạo, bí mật và nghi binh”. Để tấn công Buôn Ma Thuột, cộng quân chuẩn bị 5 Sư đoàn chính quy, một Trung đoàn Thiết Giáp, Pháo Binh, Phòng Không, Truyền Tin và Công Binh với tổng số bộ đội lên đến 80,000 người.

Sau trận Phước Long, Bộ TTM ta biết chắc cộng sản sẽ đánh lớn tại Cao Nguyên nhưng chưa biết chắc chỗ nào vì chúng nghi binh tối đa, ta không đoán được ý định của địch, theo Tướng Hoàng Văn Lạc “trước khi Văn Tiến Dũng vào Nam, Giáp đã dặn dò Dũng phải nghi binh thật nhiều để đánh lạc hướng ta”.

Tình hình chính trị quân sự Việt Nam Cộng Hòa 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970-71 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm. Khi Mỹ đã rút gần hết chỉ còn 24,200 người trong năm 1972 thì Việt Nam phải một mình gánh vác chiến trường với tiền viện trợ ngày một bị cắt giảm. Năm 1973 viện trợ quân sự là 2.1 tỷ, năm 1974 chỉ còn 1.4 tỷ, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó 300 triệu để trả lương cho nhân viên Phòng Tùy Viên Quân Sự (DAO) của Mỹ.

Ðảng Dân chủ nắm đa số tại Quốc Hội Mỹ chủ trương rút quân bỏ Việt Nam không cần đếm xỉa gì tới bạn đồng minh cũng như danh dự cho nước Mỹ. Họ tìm sơ hở của Cộng Hòa để phá phách kiếm phiếu, Dân Chủ thường mị dân, o bế dân nghèo, giới bình dân khố rách áo ôm, đám trốn quân dịch, phản chiến... để lấy lòng; họ thắng lợi đúng lúc người dân chống đối chiến tranh Việt Nam dữ dội. Ðảng nọ phá đảng kia, miền Nam Việt Nam chết oan vì bị nằm giữa cái thế trâu bò húc nhau giữa Cộng Hòa và Dân Chủ.

Hậu quả của của việc cắt giảm quân viện khiến chúng ta lâm vào tình trạng thiếu hụt, năm 1972 một số lớn xăng dầu đạn dược đã được dốc vào mùa hè đỏ lửa. Hậu quả là Không Quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 tầu chiến các loại nằm ụ. Ðạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 5, tháng 6-1975, hỏa lực giảm 60%.

Năm 1972 ta xử dụng 66 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7-1974 đến tháng 3-1975 ta chỉ còn xử dụng 18 ngàn tấn một tháng, thiếu thuốc men, số tử thương tăng cao, tinh thần binh sĩ xuống thấp.

Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức mang theo những lời hứa hẹn với Tổng thống Thiệu xuống tuyền đài.

Việt Nam Cộng Hòa nay đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, thù trong giặc ngoài. Ðồng Minh thì phản bội, lãnh đạo bất tài, tham ô, sợ chết... kẻ thù thừa nước đục thả câu xua đại binh tấn công như vũ bão.

Tin tức Tình Báo về cuộc điều quân của địch:

Trong phần trình bày về trận chiến tại Cao nguyên, Đại tướng Cao Văn Viên đã phân tích về kế hoạch tấn công của CSBV như sau: “cộng sản chuẩn bị kế hoạch quân sự của họ trong sự tin tưởng và phấn khởi vì thái độ yên lặng của Hoa Kỳ từ sau biến cố Phước Long. Nhiều biến chuyển và hoạt động của địch cho thấy Vùng II sẽ là mặt trận mở màn cho các cuộc tấn công sắp đến của CS.”

Vào cuối tháng 1/1975, Sư đoàn 320 CSBV hoạt động tại Đức Cơ được báo cáo là đang di chuyển về hướng Nam của Cao nguyên Đắc-Lắc. Quân đoàn 2 liền báo động nhưng không có hành động nào đáng kể ngoài một số phi vụ oanh kích các đoàn xe tiếp tế của địch. Suốt trong tháng Hai, nhiều đoàn xe tiếp tế của CQ gồm hàng trăm chiếc vận tải bị phát giác và bị tấn công bằng Không quân VNCH. Các bằng chừng khác là các Sư đoàn CSBV như 312, 314, 316 cũng được báo cáo là đã di chuyển xuống miền Nam, nhưng đến đâu thì chưa được xác nhận. Sư đoàn 316 CSBV sau đó bị phát giác là tiến về Buôn Ma Thuột bằng đường Nam Lào.

Những cuộc hành quân truy lùng tin tức địch đã được thực hiện liên tục. Các đơn vị Nghĩa Quân (NQ) và Cảnh Sát Quốc Gia (Cảnh Sát Quốc Gia) tại Buôn Ma Thuột vào cuối tháng 2 năm 1975, đã phát giác dấu xích xe tăng T-54 của địch. Các đơn vị Nghĩa Quân và Cảnh Sát Quốc Gia Bản Đôn cũng đã cung cấp tin tức về sự di chuyển của quân cộng sản Bắc Việt trong khu vực Bandon. Các tin tình báo của những tình báo viên trong những tháng 2 và 3/1975, khi đi khai thác lâm sản ở khu vực phía tây thị xã (Bandon) và Tây Nam thị xã 62km cũng đã báo cáo cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Darlac tin tức về các đường dây điện thoại, ống dẫn dầu và dấu xích chiến xa T-54 của cộng quân.

Ngày 14/2/1975, 7 chiếc xe be khai thác lâm sản, trong lúc làm cây ở khu vực Nam Tây-Nam thị xã Buôn Ma Thuột 82km đã bị cộng quân cưỡng chiếm, các nạn nhân cũng đã khai trình Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh và Phòng 2 Tiểu Khu những tin tức về lực lượng cộng quân.

Tháng 2/1975, một nữ cán binh thuộc Trung đoàn 25 Địa Phương của cộng quân ra hồi chánh với một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac đã cung cấp tin tức về Sư đoàn F10 của cộng quân đang di chuyển về khu vực Nam thị xã Buôn Ma Thuột, đồng thời cho biết Trung đoàn 25 Địa Phương sẽ mở chiến dịch tại khu vực Khánh Dương, nằm trên Quốc lộ 21, ranh giới gữa Khánh Dương và Phước An-Buôn Ma Thuột.

Ngày 5 tháng 3, 1975 một cuộc phục kích tại phía đông Buôn Dak Gang cách bắc Đức Lập 10km. Lực lượng chi khu đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn F10 cộng sản Bắc Việt, và tài liệu tiết lộ Bắc quân sẽ đại tấn công Quảng Đức và Buôn Ma Thuột để mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975.

Đặc biệt là cuộc hành quân ngày 7 tháng 3/1975 (ba ngày trước khi cộng quân tấn công Buôn Ma Thuột), của một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac, đã bắt được một tù binh cộng sản, cấp bậc thiếu úy trong toán tiền thám của Sư đoàn 320 Điện Biên trong lúc y đang giăng dây điện thoại ở khu vực Buôn La Sup, thuộc xã Cư Ming, Bandon, Quận Buôn Ma Thuột. Qua sự thu thập từ những tin tức này cho thấy là cộng quân đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn và kế hoạch tấn công Buôn Ma Thuột dần dần thấy rõ hơn.

Nhưng nguồn tin này, cũng như nguồn tin tình báo tương tự của tiểu khu Buôn Ma Thuột, đã không được Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh và Quân đoàn II "xếp hạng" là những nguồn tin quan trọng và đã không có những phản ứng thích nghi.

Giai đoạn tiên khởi, CQ muốn cắt đứt Quốc lộ 14, 19 và 21 để tách vùng Cao nguyên ra khỏi vùng đồng bằng của Quân khu 2 và đồng thời ngăn chận lực lượng VNCH đến tăng cường. Sư đoàn 320 CSBV chuyển lên đóng tại các vị trí nằm về hướng Bắc của Buôn Ma Thuột để vô hiệu hóa tất cả các đồn đóng dọc theo Quốc lộ 14. Tất cả những sự chuẩn bị này CQ cho tiến hành bí mật để hòng tạo yếu tố bất ngờ.

Đại tướng Cao Văn Viên phân tích tiếp: “Phòng 2 của Tình Báo Quân đoàn 2 đã có đầy đủ ước lượng về hoạt động và mục tiêu của địch quân vào giữa tháng 2/1975, nhưng những báo động này không được vị Tư lệnh Quân đoàn cứu xét một cách cẩn thận. Tướng Phú cho rằng việc địch di chuyển đến Buôn Ma Thuột chỉ là nghi binh, trong khi thật sự Pleiku mới là mục tiêu của CSBV. Do đó cách bố phòng của Quân đoàn 2 đã nói lên lối suy nghĩ của vị tư lệnh Quân đoàn”.

Lực Lượng Ðịch: Dưới quyền điều động của Bộ Tư Lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột A75 do Tướng VC Văn Tiến Dũng, Ðinh Ðức Thiện và Lê Ngọc Hiền chỉ huy gồm khoảng 30,000 người:

1. SĐF10 dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Thượng tá Hồ Đệ và Chính ủy Thượng tá Lã Ngọc Châu chủ lực tấn công BMT

2. SÐ320 dưới sự chỉ huy của Đại tá Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng, và Thượng tá Bùi Huy chỉ có danh vì đã bị thiệt hại nặng khi đụng độ với Nhảy Dù ở Thường Ðức

3. SÐ316 do Đại tá Đàm Văn Ngụy, Sư đoàn trưởng, Thượng tá Hà Quốc Toản, Chính ủy và Thượng tá Hải Bằng CSBV từ Nam Lào tiến sang

4. SÐ968 do Thanh Sơn làm Sư đoàn trưởng

5. SÐ3CSBV Sao Vàng do Trần Bá Khuê làm Tư Lệnh, Mai Tần Tư Lệnh Phó làm nghi binh

6. 4 Trung đoàn Bộ Binh 95A, 95B, 25 và 271

7. 5 Trung đoàn pháo binh gồm 48 khẩu pháo đủ loại và phòng không

8. 1 Trung đoàn Chiến Xa, một Trung đoàn Ðặc Công

9. 2 Trung đoàn Công Binh, Một Trung đoàn Thông Tin

10. Các đơn vị hậu cần, Quân xa...

Lực Lượng Bạn: Tổng cộng khoảng 4,000 người:

1. Trung đoàn 53 Bộ Binh (chỉ còn 2 Tiểu đoàn)
2. Liên đoàn 21 BĐQ
3. Các Tiểu đoàn Địa Phương Quân
4. Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia.

Lực lượng phòng thủ Buôn Ma Thuột:

Vì không tin những nguồn tin tình báo của tiểu khu Buôn Ma Thuột, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh và Quân đoàn II đã không "xếp hạng" là những nguồn tin quan trọng, toàn bộ Sư đoàn 23 Bộ binh được đưa về hoạt động phòng ngự quanh Pleiku, việc phòng thủ Buôn Ma Thuột ủy nhiệm cho Liên đoàn 21 Biệt động quân, Địa phương quân, Nghĩa quân tỉnh và Cảnh Sát. Vào đầu tháng 3/1975 khi có báo động về Sư đoàn 320 CSBV chuyển đến Buôn Ma Thuột, Quân đoàn 2 chỉ đưa một phần Trung đoàn 53 (chỉ có 2 Tiểu đoàn) trở lại Buôn Ma Thuột. Trung đoàn này lúc bấy giờ được giao nhiệm vụ hành quân quanh khu vực phía Nam phi trường Phụng Dực, còn lực lượng Biệt Động Quân thì trấn giữ tại khu vực Buôn Hô chừng 32km về hướng Đông Bắc. Các toán thám sát của Sư đoàn 23BB và Nha Kỹ Thuật QLVNCH được tung ra chung quanh trại Bản Đôn để theo dõi các hoạt động của Sư đoàn 320 CSBV nhưng chỉ phát giác được một số đơn vị nhỏ cấp đại đội CQ địa phương.

Như vậy, lực lượng quốc gia phòng thủ Buôn Ma Thuột tổng cộng khoảng gồm những quân nhân hậu cứ của Bộ Tư Lệnh (BTL) Sư đoàn 23 Bộ Binh, hậu cứ Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 8 (quân số chủ lực của các đơn vị này đã được điều động về Pleiku và Kontum từ trước Tết).

Buôn Ma Thuột thực sự là một thành phố bỏ ngõ không lực lượng bảo vệ. Do vậy, vấn đề phân nhiệm phòng thủ tuy có kế hoạch nhưng chẳng thấm vào đâu so với lực lượng tấn công thiện chiến và đông đảo gấp 20 lần của đối phương.

• Lực lượng phòng thủ phía Nam là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh gồm các phòng các ban các sở trực thuộc

• Lực lượng phòng thủ phía Tây, khu vực trọng yếu và nguy hiểm nhất, gồm các đơn vị hậu cứ của Thiết đoàn 8 kỵ binh và kho đạn (trại Mai hắc Đế) cùng với Trung Tâm Yểm Trợ tiếp vận (đại đội Hành chánh Tài chánh)

• Lực lượng phòng thủ phía Đông do Trung Tâm Huấn Luyện Sư đoàn 23 Bộ Binh đảm trách. Xa hơn là Chi Khu Buôn Ma Thuột và Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia quận Buôn Ma Thuột phối hợp với nhau để chịu trách nhiệm vấn đề phòng thủ mặt này

• Lực lượng phòng thủ mặt Bắc thị xã là Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị 206 Cảnh Sát Dã Chiến

• Nội vi thị xã và các chốt điểm trọng yếu đều do lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đảm trách, và được bố trí như sau:

1. Hai chốt cảnh sát đặt tại Trường Trung Học và cuối đường Phan Chu Trinh là các chốt ở cửa Bắc

2. Cuối đường Tự Do được giao cho Cục Cảnh Sát Cư-Kplong và một tiểu đội Cảnh Sát Dã Chiến

3. Cửa ngõ phía Nam có Cảnh Sát Cư-Ê-Bư và một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến trách nhiệm

4. Cửa Tây thị xã giao cho Cục Cảnh Sát thị xã Cục-Lạc chịu trách nhiệm. Các cao ốc trong toàn thị xã và các khách sạn đều được Cảnh Sát Quốc Gia đóng chốt

5. Các đơn vị trừ bị gồm có một Tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ Binh đóng tại phi trường Phụng Dực, cách thị xã Buôn Ma Thuột 7km, có một pháo đội 105ly, trong khi pháo binh của cộng quân lại là loại 130ly, và hỏa tiễn 122ly, tầm xa và sức công phá hoàn toàn cách biệt

6. Ngoài ra, doanh trại các Tiểu đoàn Pháo binh, Công binh, Truyền tin, Tiếp vận thống thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đóng gần thị xã đều tận dụng quân số tại hàng để tổ chức phòng ngự trong phạm vi trách nhiệm.

Riêng về trách nhiệm của tiểu khu Darlac, Đại tá Nguyễn Trọng Luật đã cho điều động Tiểu đoàn 204 Địa phương quân đang đóng tại Ban Don về thị xã.

Các trận đánh nhằm nghi binh & cô lập Buôn Ma Thuột trước ngày 10/3/1975

Cô lập Buôn Ma Thuột:

Bắc Việt đưa kế hoạch tấn công bất ngờ và đông đảo, nghi binh tối đa, chúng vờ đánh Pleiku để nhử ta lên giải tỏa rồi cắt các đường dẫn đến Buôn Ma Thuột, chiếm phi trường sau cùng ba mặt giáp công.

Bắc Việt dùng các Trung đoàn, Sư đoàn cắt các đường giao thông 19, 14, 21 nghi binh thu hút quân đội VNCH về phía Bắc để bất thần tấn công Buôn Ma Thuột. Chúng không để sẵn quân ở vị trí xuất phát tấn công mà tập kết từ xa vận động đến, bỏ qua vòng ngoài, bất ngờ thọc sâu vào thị xã phối hợp với lực lượng đặc công đã len lỏi sẵn trong thị xã, rồi từ đó đánh ra ngoài.

Ngày 1-3-1975 Sư đoàn 968 Bắc Việt tấn chiếm các đồn bót gần Thanh An, pháo kích phi trường Cù Hanh, Pleiku.

Ngày 4/3/1975 Trung đoàn 95B Việt Cộng và Sư đoàn 3 Sao Vàng tấn công ngăn chận Quốc lộ 19 tại An Khê như muốn tấn công Pleiku, cắt đường giao thông Pleiku và Nha Trang.

Ngày 5/3/1975 Trung đoàn 25 Việt Cộng cắt Quốc lộ 21 giữa Phước An và Khánh Dương, cắt đường Nha Trang - Buôn Ma Thuột. Tướng Phú cho tăng cường Trung đoàn 45 tại Thanh An và cho 2 Tiểu đoàn Biệt Động Quân và Thiết Giáp giải tỏa Quốc lộ 19 nhưng không thành công.

Ngày 7/3/1975 Sư đoàn 320 Việt Cộng chiếm quận lỵ Thuần Mẫn trên Quốc lộ 14 nằm giữa đường Pleiku đi Buôn Ma Thuột.

Ngày 9-3 hôm nay Sư đoàn F10 cộng sản Bắc Việt nhất định san bằng quận Đức Lập để tiến quân về Buôn Ma Thuột. Chi khu bị tấn công từ 6 giờ sáng, VC đã dùng pháo binh 130ly và SKZ 82ly bắn vào Chi khu và Chi đoàn Chiến xa, địch đã làm tê liệt các chiến xa của ta ngay từ phút đầu và sau đó quân chính qui cộng sản Bắc Việt mở "trận địa chiến" đánh ban ngày, các công sự phòng thủ trên mặt đất sập hết. Tình hình Đức Lập vô cùng nguy ngập. Các đồn phụ đã bị "bứt". Tiểu đoàn Địa phương quân đóng tại Núi Lửa cách Đức Lập 9km bị địch tràn ngập sau một trận đánh đẫm máu. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và một số cấp chỉ huy khác bị Việt cộng sát hại.

Trung đoàn 53BB do Trung tá Võ Ân làm Trung đoàn trưởng đã điều động một Tiểu đoàn đến giải vây quận Đức Lập. Tiểu đoàn này liền bị địch quân bao vây và đã giao chiến ác liệt với Sư đoàn F10 của CSBV. Trung tá Võ Ân đã bay C&C trên vòm trời Đức Lập để hướng dẫn cho đơn vị dưới đất thoát khỏi vòng vây của cộng quân và gọi các phi tuần A37 ném bom chính xác vào vị trí quân VC. Phòng không 37ly của CSBV bắn lên như đan lưới. Phi Hành Đoàn của Biệt Đoàn 219 Trực thăng thật gan lỳ hạ thấp cao độ để tránh đạn.

Tướng Phú liên lạc thẳng với Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng quận Đức Lập. Ông được báo cáo Trung tá Quận trưởng đã bị thương, hiện ở ngoài chỉ huy và điều khiển những khẩu đại bác 105ly bắn trực xạ vào cộng quân. Chi khu cầm cự cho đến sáng, khi mặt trời bắt đầu lên. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 9/3 quận Đức Lập biến thành biển lửa.

Như thế Việt Cộng đã cô lập Buôn Ma Thuột cả Bắc và Nam mà Tướng Phú vẫn cho là địch sẽ đánh Pleiku, ông lại nghĩ chúng nghi binh vờ đánh Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên theo đề nghị của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn ông đã cho trực thăng vận 2 Tiểu đoàn Biệt Đông quân thuộc Liên đoàn 21 từ Kontum đến Buôn Hô cách 30km ở phía Bắc Buôn Ma Thuột.

Sự sai lầm của Tướng Phú đã được Việt Cộng khai thác triệt để: “Từ 1 tháng 3 đến ngày 9 tháng 3 năm 1975, trước khi tiến công vào Buôn Ma Thuột, ta triển khai thế chiến dịch, thu hút sự chú ý của địch về hướng Công tum, Plây cu, cắt các đường, cô lập mục tiêu chủ yếu. Cho nên đến lúc ta sắp nổ súng đánh vào Buôn Ma Thuột, địch mới biết. Chúng báo động và muốn tăng cường lực lượng nhưng không kịp nữa rồi, lực lượng đã bị căng giữ ở các nơi khác” (ÐTMX trang 90)

Mặt Trận Buôn Ma Thuột

Ngày 9/3/1975 Thiếu tướng Phú bay lên BMT thị sát kế hoạch phòng thủ, ứng chiến của thành phố ra lệnh cấp phát hỏa tiễn chống chiến xa M72 và hỏa tiễn TOW cho các đơn vị. Từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày 9/3/1975, Tướng Phú họp với Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, các Tiểu khu trưởng Buôn Ma Thuột và Quảng Đức để duyệt xét tình hình các mặt trận.

Sau khi chấp nhận những đề nghị của các giới chức liên hệ và cho những chỉ thị cần thiết, ông ra lệnh cho Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức bay về trước. Tại Buôn Ma Thuột, để cho có sự thống nhất chỉ huy, Tướng Phú bổ nhiệm Đại tá Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 làm Tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột.

Các Tư lệnh mặt trận phải ra lệnh đôn đốc các đơn vị chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu trong 2, 3 tháng liên tiếp; tổ chức những cuộc hành quân xa ngoài thị xã và vị trí phòng thủ. Kho xăng, kho đạn phải được phân tán, đề phòng đặc công cộng sản Bắc Việt đánh phá. Lệnh thiết quân luật mỗi nơi được ủy nhiệm cho các Tư lệnh mặt trận toàn quyền định đoạt.

Đến 10.00 giờ đêm ngày 9/3, thành phố Buôn Ma Thuột được lệnh báo động đỏ, tập họp tất cả binh sĩ chuẩn bị tác chiến. Sang ngày 10/3/1975, từ 1giờ 20 đến 2 giờ 15 sáng, các chốt điểm Cảnh Sát Dã Chiến ở cửa Bắc và cửa Tây thị xã đã phát giác các tổ trinh sát tiền phong của cộng quân và liên tiếp báo về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac. 2 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, cộng quân bắt đầu thực hiện trận mưa pháo theo chiến thuật tiền pháo hậu xung bằng đại bác 130ly, hỏa tiễn 122ly vào các cứ điểm quân sự như Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh, kho đạn Mai Hắc Đế và phi trường L19. Những tiếng nổ của hỏa tiễn 122ly và đại pháo 130ly khủng khiếp làm vỡ tung hết các cửa kiếng và rung chuyển cả thành phố như cảnh tượng động đất. Các nhà cao tầng bị rung chuyển cực mạnh. Thành phố đã như con tàu chao nghiêng trong bão tố. Một số các nhà xây thô sơ quanh các khu vực quân sự đã bị sụp đổ, và trận mưa pháo liên tiếp không ngừng đổ xuống các cứ điểm quân sự cho đến 6 giờ sáng.


Bốn giờ sáng, Đặc công CS đã đột nhập tấn công vào vị trí của Biệt Đoàn 219 Trực Thăng, và bắn sập đài kiểm báo Pyramid của Phi Trường L19. Sau đó chiến xa T-54 và bộ đội cộng sản chia làm nhiều mũi tấn công vào phi trường L19, kho đạn Mai Hắc Đế, Tiểu Khu Darlac, Tòa Hành Chánh Tỉnh, BTL Sư đoàn 23BB, Hậu cứ Trung đoàn 53BB sát phi trường Phụng Dực với chiến thuật biển người. Trận đánh quyết định giữa Nam-Bắc đã diễn ra. Nhưng lực lượng giữa hai bên quá ư chênh lệch, như trứng chọi với đá nếu so sánh cả về quân số, vũ khí, chiến cụ. Địch đã ở thế thượng phong ngay từ lúc đầu! 6 giờ 15 sáng, xe phóng thanh của Ty Thông Tin đậu tại Ngã 6 thị xã phát lời kêu gọi của Đại tá Tỉnh Trưởng yêu cầu đồng bào bình tĩnh, ai ở nhà nấy, tình hình an ninh tại thị xã vẩn còn yên tĩnh.

6 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một góc phía Bắc của phi trường L19 bị cộng quân tràn ngập. 7 giờ 15 các chốt cảnh sát xin lệnh rút khỏi vị trí phòng thủ vì áp lực địch quá mạnh, dân chúng từ khu vực Buôn A-Lê B, Tân Mai, cửa Nam thị xã lũ lượt chạy vào trung tâm thành phố.

8 giờ 30, Kho đạn Mai Hắc Đế thất thủ. Viên Đại úy chỉ huy trưởng bị tử thương.

9 giờ 20, chiến xa T-54 và bộ đội cộng quân chia làm nhiều mũi tấn công vào thị xã. Một mũi từ cuối đường Phan Chu Trinh (cửa Bắc) tràn chiếm khu vực nhà thờ Chính Tòa, ngã Sáu thị xã, cách Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu 800m. Mũi phía Nam, từ khu vực Buôn A-Lê B, đồi La San, theo đại lộ Thống Nhất tiến đánh khu vực tư dinh Tỉnh Trưởng, Ty Ngân Khố. Một mũi khác, từ hướng chùa Khải Đoan, đánh chiếm ngã tư Nguyễn Tri Phương-Phan Bội Châu, và mặt Tây thị xã cũng đã bị cộng quân tấn chiếm. Ngoài mặt trận chính Buôn Ma Thuột, cộng quân tấn công khắp nơi. Các trận bắc Kontum, nam Pleiku, bắc Bình Định, Quảng Đức và trên 2 Quốc lộ 19, 21 đều bị áp lực nặng nề.

MẶT TRẬN TIỂU KHU DARLAC

Từ 9 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 3/1975, các mũi tiến quân của cộng quân từ hướng Bắc và hướng Tây Bắc đã tràn vào trung tâm thành phố và tập trung nỗ lực tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu nằm trên đại lộ Thống Nhất. Bộ đội và chiến xa T-54 của cộng quân từ khuôn viên nhà thờ chính tòa tràn qua ngã Sáu, chiếm Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá sĩ quan, nằm trên Ngã Ba đại lộ Thống Nhất và đường Lê Lợi.


Lực lượng phòng vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu phản công quyết liệt. Một chiếc T-54 của cộng quân bị bắn cháy. Dù với chiến thuật biển người và đại bác 100ly trang bị cho T-54 bắn trực xạ không ngừng nhưng cộng quân vẫn chưa tiến sát được vào hệ thống công sự phòng thủ này. Tinh thần chiến đấu và lòng dũng cảm của những chiến sĩ thuộc Tiểu Khu quả thật không thể tưởng tượng. Cứ mỗi đợt tiến công của cộng quân là những tràng đại liên, M-79 (súng phóng lựu) và M-16 từ các công sự phòng thủ xối xả phản kích làm cho bước tiến quân của cộng quân đã phải ngừng lại. Cộng quân lui về cố thủ khu vực cư xá sĩ quan và Câu Lạc Bộ Biên Thùy, đồng thời chia quân tràn qua đại lộ Thống Nhất đánh chiếm Tòa Án, bưu điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ, và tiếp tục thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100ly từ các chiến xa T-54 và đại bác 130ly cùng hỏa tiễn 122ly từ hướng Tây thị xã (khu vực Bandon) đổ vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

11giờ 20, một chiếc T-54 của cộng quân tiến vào cổng trước Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trên đường Thống Nhất đã bị bắn hạ. Tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Tiểu Khu càng lên cao.

11 giờ 45, hai chiếc Commando Car (thiết giáp với bốn bánh cao su, không xích sắt) của Thiết Đoàn 8 từ hướng chùa Khải Đoan theo đường Quang Trung qua Tôn Thất Thuyết để tiến về đánh bọc hậu lực lượng của cộng quân đang công hãm Tiểu Khu. Nhưng khi đến ngã ba Ama-Trang-Long Tôn Thất Thuyết, các chiến sĩ Thiết Đoàn 8 bị lực lượng của cộng quân từ ngã Sáu tràn xuống chận đánh. Hai chiếc Commando Car bị cộng quân bắn cháy trước Bar Quốc Tế. Nhưng các chiến sĩ của Thiết Đoàn 8 đã len theo khu phố Ama-Trang-Long để tiến về hướng Tiểu Khu.

Khu chợ Buôn Ma Thuột, từ đường Quang Trung chạy dọc theo đường Y-Jút đến Ama-Trang-Long bị trúng đạn pháo và bốc cháy dữ dội. Nhà hàng Thanh Thế mới khai trương, cũng tân kỳ không thua gì nhà hàng Thanh Thế ở đại lộ Lê Lợi Sài Gòn, giờ đây đang là một biển lửa. Dãy phố bên kia đường Ama-Trang-Long, đối diện với nhà hàng Thanh Thế như tiệm Rồng Vàng, nằm mặt sau của Ty Cảnh Sát cũ đã là một bãi gạch vụn. Khu phố nằm trên đường Y-Jút, đối diện với chợ Buôn Ma Thuột như nhà của Ông Tôn Thất Hối đã bị sập.

Lực lượng Biệt Ðộng Quân tại Buôn Hô được điều động về tiếp cứu Buôn Ma Thuột nhưng gặp hỏa lực mạnh của các chốt kháng cự trên đường đi. Một lực lượng Thiết Giáp và ÐPQ đang hành quân tại Budrang cũng được lệnh trở lại nhưng bị cầm chân ở một cây cầu phía Nam tỉnh lỵ khoảng 10km.

Đến 11 giờ 45 các chiến sĩ của Tiểu Khu Darlac vẫn cố thủ. Lực lượng của cộng quân từ 2 mặt, phía Bắc và mặt tiền Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã bám sát hệ thống công sự phòng thủ của Tiểu Khu. Những trận đánh xáp lá cà đẫm máu đã xảy ra dọc theo hệ thống công sự phòng thủ này.

13 giờ 15 trưa,Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị trúng pháo, mọi liên lạc truyền tin bị phá hủy.

14 giờ 20 Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Tỉnh Darlac thất thủ, sau hơn 7 tiếng đồng hồ giao tranh với lực lượng biển người của cộng quân có chiến xa T-54, và các loại đại pháo yểm trợ, mà không có được một đơn vị bạn nào tiếp cứu. BCH Tiểu Khu phải di tản và sát nhập với BTL tiền phương của SĐ23BB.

Sáu mươi ngàn dân thị xã Buôn Ma Thuột mãi mãi ghi nhớ chiến công, lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của các chiến sĩ Tiểu Khu Darlac. Trong những giờ phút lâm nguy đã cố gắng và hy sinh để làm tròn bổn phận cho đến hết sức mình với những trận tấn công và đánh xáp lá cà cùng lực lượng biển người của quân thù, đến giờ phút cuối đành di tản Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để bảo toàn lực lượng.

MẶT TRẬN PHÍA BẮC THỊ XÃ

Những Trận Đánh Oanh Liệt của Các Chiến Sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac.

Trong kế hoạch phòng thủ thị xã Buôn Ma Thuột, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac là một trong những đơn vị chịu trách nhiệm về một khu vực phòng thủ nặng nề nhất, từ nội vi thị xã đến cả một mặt Bắc, bao gồm phi trường trực thăng và phi trường L19. Phòng thủ phi trường L19 là đơn vị Thám Sát Tỉnh (PRU), trực thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Tỉnh.

Với những tin tức nhận được của mạng lưới tình báo cơ hữu và của các đơn vị bạn, vị chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, Trung tá Trần Quang Vĩnh đã sẵn sàng kế hoạch phòng thủ và phản công cho đơn vị hằng tháng trước. Ông đã bổ nhiệm Đại úy Nguyễn Ngọc Tuấn, Đại đội trưởng đại đội Cảnh sát Dã Chiến 206 làm phụ tá đặc trách hành quân. 2 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, cộng quân bắt đầu tấn công phi trường L19, (khu vực phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, do Đại Đội Thám Sát chịu trách nhiệm), bằng đại bác 130ly và hỏa tiễn 122ly. Đến 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3/1975, cộng quân bắt đầu dùng lực lượng bộ binh với chiến thuật biển người và xe tăng T-54 tấn công phi trường L19. Đơn vị Thám Sát Tỉnh chống trả quyết liệt và báo cáo về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia. Đại úy Nguyễn Ngọc Tuấn liền liên lạc với Tiểu Khu xin Đại Đội 1/224 tiếp viện. Nhưng Đại Đội 1/224 đã không thể chọc thủng vòng vây của cộng quân ở mặt Bắc Phi trường L19. 6 giờ 20, một đoạn vòng đai ở khu vực phía Bắc phi trường bị chọc thủng. Lực lượng cộng quân tràn ngập khu vực này, và đơn vị Thám Sát Tỉnh đã phải lui về phòng tuyến phòng thủ phía sau với những tổn thất nặng nề về nhân sự.

Sau khi tràn ngập các vị trí phòng thủ, 9 giờ 20, lực lượng cộng quân từ mặt Bắc thị xã, tức là khu vực phía Bắc phi truờng L19 bắt đầu tấn công Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac, nằm trên đường Tự Do để xâm nhập trung tâm thành phố. Lợi dụng hệ thống công sự phòng thủ và các dãy hàng rào kẽm gai bảo vệ phi trường L19 nằm bên kia đường Tự Do, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã chận đứng các mũi tiến quân của cộng quân. Các chiến sĩ Cảnh Sát dù chỉ được trang bị M-16, M-79 và lựu đạn nhưng đã anh dũng phản công quyết liệt trước những đợt tấn công của cộng quân, không cho địch tiến sát vào hệ thống công sự phòng thủ.

Chính nhờ lòng dũng cảm chiến đấu, kỹ thuật tác chiến, và hệ thống chỉ huy chặt chẽ, mà một mặt phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột, từ khu đường Tự Do, chạy dài xuống Bà Triệu, Hùng Vương, Trường Trung Học Tổng Hợp Buôn Ma Thuột, chưa có bóng dáng của cộng quân. Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã trấn giữ một khu vực an toàn mà có lẽ họ không thể nào ngờ được, đó là con đường di tản duy nhất sau này cho các đơn vị phải rút lui vào phút cuối.

15 giờ 40 với áp lực của địch, và để bảo toàn đơn vị, Thiếu tá Hàn Văn Thành, chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã ra lệnh mở đường máu đem đơn vị ra khỏi thị xã về Cây Số 5, phối hợp với các đơn vị trực thuộc và Chi Khu Buôn Ma Thuột để tiếp tục phản cộng quân thù.

16 giờ cộng quân hoàn toàn làm chủ tình hình thị xã Buôn Ma Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh vẫn còn kháng cự.

Trong thành phố, tiếng súng nhỏ đã im, nhưng cảnh tan hoang của thị xã thật không cách nào tả xiết. Rải rác trên các khu phố, những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Bóng dáng của cộng quân như tử thần đến chiêu hồn những kẻ còn sống và đe dọa mọi người.

Trong gần suốt 14 giờ đồng hồ, các đơn vị quân đội, Cảnh Sát, Nghĩa Quân, Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh và Nhân Dân Tự Vệ toàn thị xã đã tận hết sức mình để chống trả với lực lượng biển người, chiến xa và đại bác của cộng quân mà không có được một đơn vị bạn nào tiép cứu. Và giữa những giờ phút quyết liệt này, người ta nhận được tin vào lúc 10 giờ 15 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một đơn vị Biệt Động quân từ cửa Bắc thị xã (bến xe Cây Số 3) đã xâm nhập trung tâm thành phố. Tin tức này được loan truyền đến hầu hết các đơn vị đang chiến đấu trên khắp các cửa ngõ thị xã, và mỗi người lính, từ cấp chỉ huy cho đến binh sĩ đều vui mừng hy vọng chiến trường sẽ xoay hướng. Nhưng cho đến một giờ chiều, tin tức về Liên đoàn 21 Biệt Động Quân vẫn im hơi lặng tiếng, mà chiến trường mỗi lúc càng quyết liệt hơn, cho đến khi người ta biết rằng đơn vị Biệt Động Quân tiến vào thị xã sáng nay là chỉ để giải cứu gia đình vợ con của Chuẩn tướng Lê Trung Tường, vị Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã. Tin này quả thật là một tác động tâm lý, không những làm cho các đơn vị tham chiến mà cả toàn thị xã có cảm nghĩ Buôn Ma Thuột đã bị bỏ rơi. Tuy nhiên với tinh thần và trách nhiệm của một người lính, các đơn vị có mặt tại thị xã vẫn anh dũng chiến đấu với niềm tin lực lượng tổng trừ bị, và đặc biệt là hai Trung đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ được gởi đến.

ĐÊM KINH HOÀNG

Từ 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3/1975, bộ đội cộng quân bắt đầu chia thành từng toán nhỏ lục soát khắp cùng các khu phố và những điểm tập trung của người chạy loạn như chùa Khải Đoan, trường Bồ Đề, trường Tàu ở đường Y-Jút. Họ thanh lọc dân chúng, bắt đi những thanh niên nam nữ, và truy lùng các viên chức chính phủ, sĩ quan và binh lính.

Khắp cùng các ngõ phố, bọn đặc công và du côn, thi nhau lập công, đập phá các cửa tiệm, dinh thự, tư gia, những nơi mà họ cho là có kẻ thù ẩn trốn, là Việt gian, phản động, làm việc cho Mỹ-Ngụy, hoặc có nợ máu với nhân dân. Chúng thi nhau lục soát các trường học, nhà thờ, bức tượng ở nhà thờ quân đội, cạnh trường Hưng Đức cũng bị chúng đập nát, đồng thời lùng bắt những người có thù hằn với chúng, và lôi đốt hết các loại sách báo, giáo khoa, tự điển, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đặc biệt là những ấn phẩm viết bằng tiếng ngoại quốc như Anh văn, Pháp văn. Một lần nữa, ngọn lửa tượng trưng cho sự hủy diệt lại bùng lên khắp cùng thị xã. Cảnh hôi của, hôi người, trả thù cá nhân lan tràn khắp nơi. Thành phố bây giờ là một xã hội không tổ chức, không luật pháp, và tai họa thảm khốc đã diễn ra khắp cùng các ngõ phố. Những hình phạt dã man thời tiền sử đã được đem ra thực hiện. Hình ảnh của chết chóc và khủng bố đang bao trùm lên thị xã nhỏ bé này và đè nặng xuống tâm hồn mỗi dân đinh của toàn thành phố.

Sự ngu dốt của kẻ chiến thắng, hay sự dã man và thiếu trình độ của cấp lãnh đạo chính là tai họa và thảm trạng tàn khốc cho một xã hội. Xã hội miền Nam, và dân trí của nền Cộng Hòa miền Nam đã có một trình độ văn hóa và kỹ thuật cách xa gấp bội so với miền Bắc, nên bộ đội cộng quân, sau khi đã kiểm soát toàn thị xã, lập tức đi dò tìm những "đài địch", và đã dùng súng B-40, B-41, hoặc đại bác 100ly trang bị trên chiến xa T-54 bắn vào các tư gia có trụ ăng ten trên nóc nhà, vì họ cho rằng đó là vị trí đặt các máy truyền tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà các trụ ăng ten TV là những "đài địch" ấy đã có khắp trong toàn thị xã. Thảm thương thay cho thành phố Buôn Ma Thuột và 60 ngàn dân của thị xã này. Trong đêm này, không biết có bao nhiêu gia đình tan hoang, bao nhiêu người bị chết oan, đánh đập, hoặc bị đấu tố mang thương tích hay tàn khuyết, mà vợ con, thân nhân, bạn bè chỉ đứng nhìn mà không dám kêu van. Máu và lệ đã đổ, nhưng không chảy ra từ khóe mắt, mà lại tuôn ngược vào lòng. Trời ở quá cao mà Phật cũng rất xa, nên con người đã là chủ của con người trong đêm nay, với đầy đủ quyền uy và hung dữ. Đêm kinh hoàng, đêm của địa ngục và Sa-Tăng.

Nhưng cái quan trọng của những kẻ chiến thắng không phải là những thứ đó. Cái quan trọng đối với kẻ chiến thắng trong cuộc chiến 20 chọi 1 này là vơ vét tất cả những gì họ có thể vơ vét: Kho dự trữ lương thực trung ương, nằm trên đường Tự Do, Kho Quân Nhu, Quân Cụ, dụng cụ y khoa và dược phẩm, thuốc men của các bệnh viện như Quân Y Viện, Dân Y Viện, Trạm xá, nhà hộ sinh, các cửa tiệm thuốc Tây, các đại lý gạo, cửa hàng bách hóa của tư nhân trong toàn thành phố...

Suốt đêm, người ta nhìn thấy những đoàn Molotova chở đầy hàng hóa vật dụng của thành phố đi về hướng Bandon, phía Tây thị xã.

BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH VÀ TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG

Bây giờ là 4 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, khu suối Đốc Học với những vườn rau tàn tạ đầy dấu dép râu và dấu xích chiến xa, khu vực Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh và Dân Y Viện Buôn Ma Thuột, chỉ còn thấy được ngọn đèn Signal chơ vơ trên trụ truyền tin. Những đóm màu đỏ của hỏa châu càng nhỏ hơn, như ánh mắt của loài thú hoang trong rừng đêm. Cái lặng lẽ của đêm trường và cái yên tĩnh của chiến trường càng làm cho người ta liên tưởng tới một cái gì khủng khiếp sắp xảy ra. Lâu lâu một tràng đại liên hoặc những loạt súng nhỏ không phân biệt được AK-47 hay M-16 bắn ra. Và như vậy là đã hơn 24 giờ đồng hồ, từ lúc 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, lực lượng phòng thủ hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh đã chống trả không ngừng trong suốt 24 giờ, và không hiểu sẽ còn cầm cự được bao lâu nữa.

Qua hệ thống truyền tin, người ta nhận được tín hiệu của Chi Khu Buôn Ma Thuột, và Đại tá Dậu, chỉ huy trưởng Liên đoàn 21 Biệt Động Quân còn ở ngoài vòng đai thị xã, ở mặt Bắc, mà chưa chọc thủng được phòng tuyến của cộng quân để tiến vào thị xã. Hy vọng duy nhất trong lúc này, là hai chiếc L-19 đang bay trên đầu Bộ Tư Lệnh, dầu rằng màng lưới phòng không với đại liên 37ly của cộng quân vẫn không ngừng tấn công.

5 giờ 55 sáng ngày 11 tháng 3/1975, chiến trường vẫn còn yên tĩnh, Ở cửa Nam thị xã, lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng, nằm trên đại lộ Thống Nhất vẫn còn cầm cự.

6 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, từ khuôn viên trường tiểu học Nguyễn Du, sau lưng Sở Học Chánh Buôn Ma Thuột, những chiếc T-54 của cộng quân, và lực lượng bộ binh tùng thiết đang thực hiện một cuộc chuyển quân bao vây hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh. Vòng vây này đang được thắt chặt, như một màng lưới dày đặc chung quanh vòng đai phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Và 6 chiếc T-54, nhìn được từ hướng Tây-Nam, đang dàn hàng ngang tiến sát vào hệ thống công sự phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Với kinh nghiệm của những người lính, ai cũng hiểu Bộ Tư Lệnh khó lòng cầm cự được trong vòng vài ba giờ đồng hồ tới. Trong khi đó, những tiếng súng nhỏ, và đại bác 100ly, cùng lúc gầm lên như những giây pháo nổ không ngừng, làm rung chuyển cả một vùng trời. Cộng quân bắt đầu nỗ lực tấn công hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh. Và tại cửa Nam thị xã, bộ binh và chiến xa T-54 cũng ráo riết tấn công lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng. 8 giờ 15 sáng ngày 11 tháng 3/1975, tư dinh tỉnh trưởng bị T-54 ủi sập các bức tường vòng đai, và pháo sập các tầng lầu. Trung úy Trung đội trưởng bị trọng thương. Tư dinh tỉnh trưởng đã thất thủ, chốt điểm cuối cùng ở cửa Nam thị xã đã bị cộng quân tràn ngập, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh bây giờ như người hùng cô đơn vẫy vùng dưới trời mưa đạn của quân thù.

NHỮNG PHÚT CUỐI CÙNG CỦA BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH

Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh gồm hai đại đội và một số các phòng ban chuyên môn, trong đó có đại đội tổng hành dinh, chuyên trách về hành chánh và ẩm thực. Lực lượng chủ chốt là các Trung đoàn 44 và 45 đang hành quân vùng Pleiku. Trung đoàn 53 chỉ có hai Tiểu đoàn ở Buôn Ma Thuột, và một trung đội Pháo Binh 105ly, nhưng một Tiểu đoàn lại đã điều động lên giải tỏa Quận Đức Lập, một quận vừa bị cộng quân tràn ngập vào sáng Chủ Nhật ngày 9 tháng 3/1975. Tiểu đoàn còn lại phòng thủ Phi trường Phụng Dực, cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía Đông Đông-Bắc 7km.

Cho đến 8 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, đơn vị quân lực còn có mặt tại thị xã Buôn Ma Thuột chỉ là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh, cộng quân biết rõ điều này, và càng hiểu rằng Trung đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ trở về chiếm lại giang sơn của họ. Và đặc biệt là Liên đoàn 21 Biệt Động Quân đang có mặt ngoài vòng đai thị xã ở cửa Bắc, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân được đổ xuống Buôn Hô, một quận cách thị xã Buôn Ma Thuột 35km về hướng Bắc lúc 4 giờ 30 chiều ngày 10 tháng 3/1975. Đến 9 giờ tối cùng ngày đã tiến sát vào vòng đai thị xã, nhưng chưa chọc thủng được vòng vây của cộng quân. Tiểu Khu Darlac lúc bấy giờ đã rút ra khỏi thị xã. Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 cố thủ trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh, nên không có được một đơn vị nào làm đầu cầu cho Liên đoàn 21 Biệt Động Quân tiến vào thị xã.

Điểm đáng tiếc là 10 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, đơn vị tiền sát của Liên đoàn đã đột nhập thị xã, di tản gia đình vị tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã, nhưng lại không được lệnh ở lại làm điểm tựa cho Liên đoàn 21 Biệt Động Quân đến giải cứu thị xã sau này. Từ 6 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 3/1975, cộng quân đã bố trí xong lực lượng thắt chặt vòng văy hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh, và thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100ly trang bị trên chiến xa T-54, bắn trực xạ, đại bác 130ly, hỏa tiễn 122ly từ hướng Bandon dồn dập đổ xuống Bộ Tư Lệnh Sư đoàn. Đồng thời, chiến xa và bộ đội cộng quân dàn hàng ngang tấn công bốn mặt vòng đai Bộ Tư Lệnh. Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh đã chống trả quyết liệt, đẩy lui nhiều đợt tấn công, và đánh cận chiến với quân thù.

10 giờ 10 phút, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy.

10 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, một đoạn hệ thống công sự ở mặt Tây và phía Nam Bộ Tư Lệnh đã bị chọc thủng. Cộng quân và chiến xa tràn vào hậu cứ Sư đoàn 23 Bộ Binh như nước vỡ bờ. Đại tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư đoàn, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ, bỏ lại Buôn Ma Thuột và 60 ngàn dân đinh trong một tình huống vô cùng bi thảm. Buôn Ma Thuột lâm chung. Sáu mươi ngàn dân như một đàn gà con mất mẹ. Đêm đen phủ xuống thành phố này cùng với nỗi hãi hùng và tuyệt vọng mênh mông.

MẶT TRẬN PHI TRƯỜNG PHỤNG DỤC VÀ TRUNG ĐOÀN 53 BỘ BINH

Thị xã Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay cộng quân từ chiều hôm qua, ngày 10 tháng 3/1975, và đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã này lúc 10 giờ 38 phút ngày 11 tháng 3/1975. Nhưng Trung đoàn 53 Bộ Binh, phòng thủ Phi Trường Phụng Dực, cách thị xã Buôn Ma Thuột 7km về hướng Đông Bắc vẫn cố thủ và cương quyết chống lại lực lượng biển người và chiến xa T-54 của cộng quân.

Cùng lúc tấn công vào thị xã Buôn Ma Thuột 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, cộng quân đã không bỏ sót Trung đoàn 53. Chiến xa và bộ đội của cộng quân, với đại bác 130ly, và hỏa tiễn 122ly yểm trợ đã không ngừng luân phiên tấn công Trung đoàn 53. Và sau khi đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng rời bỏ Buôn Ma Thuột, cộng quân càng tập trung lực lượng tấn công Trung đoàn 53 ác liệt hơn. Trận đánh thư hùng giữa Trung đoàn 53 Bộ binh và một lực lượng quân chính qui CS Bắc Việt đã được tăng cường thêm đông hơn gấp 10 lần xảy ra lúc 5 giờ sáng. Đó cũng là lần xuất trận đầu tiên của Sư đoàn 316, Sư đoàn tổng trừ bị của Bắc Việt tại mặt trận phi trường Phụng Dực trên chiến trường Cao nguyên.

Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 Bộ Binh là Trung tá Võ Ân. Biết rõ ý đồ của cộng quân, nhưng ông cũng hiểu rằng Phi Trường Phụng Dực là điểm tiếp liệu, tiếp vận duy nhất cho lực lượng tổng trừ bị là Sư đoàn Nhảy Dù sẽ đến giải cứu Buôn Ma Thuột sau này, đồng thời đơn vị của ông là lực lượng đầu cầu và liên lạc duy nhất cho các đơn vị bạn về sau. Do vậy, ông đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược và mọi phương tiện quân y, dược cụ, cố gắng chiếm dụng vũ khí của địch để chống lại kẻ địch, và phải nhất định bắn trúng mục tiêu.

Trong suốt thời gian 6 ngày đêm, Trung đoàn 53 Bộ Binh không những đã đánh tan nhiều đợt tấn công biển người của cộng quân, mà còn tịch thu nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như súng cộng đồng để tiêu diệt T-54 và hàng trăm xác quân thù bỏ lại chiến trường. Sự tổn thất nặng nề nhất của cộng quân trong mặt trận Buôn Ma Thuột, hơn 200 nhân mạng, không biết được con số bị thương, và hàng chục T-54 bị phá hủy bằng chính B-40, B-41 của cộng quân do Trung đoàn 53 tịch thu tại mặt trận Phi trường Phụng Dực.

Góp phần đáng kể vào việc kéo dài trận chiến là một đại đội chừng 70 binh sĩ tinh nhuệ, gan lì, được huấn luyện đặc biệt và quyết tâm chiến đấu đến cùng. Tham gia trận chiến Buôn Ma Thuột ngay từ ngày đầu, và là đơn vị sau chót rút khỏi đấy là Đại Đội Thám Báo mà Thiếu úy Nguyễn Công Phúc là một Trung đội trưởng.

Đại đội đã chiến đấu trong hoàn cảnh cô đơn, cam go, căng thẳng và thiếu thốn súng đạn, lương thực. Họ đã gây tổn thương nặng cho một Tiểu đoàn địch, giúp Trung đoàn 53 của bạn chống trả lại những đợt tấn công mãnh liệt của đối phương, đồng thời chấm tọa độ hướng dẫn pháo binh bạn bắn vào những vị trí địch. Một trong những yếu tố để đại đội đạt được thành tích trên và tồn tại mà chiến đấu bền bỉ nhất ở Buôn Ma Thuột là cộng quân không biết vị trí đóng quân kín đáo và bất ngờ của đại đội. Cộng quân khi tấn công Trung đoàn 53 đã bị thúc mạnh vào cạnh sườn vì không biết có đại đội thám báo nằm quanh những ụ đất dùng để che chở cho máy bay ở phi trường và gần rừng cao su phía ngoài căn cứ của Trung đoàn. Đại đội mới nhận vị trí đóng quân ở đấy vào buổi chiều. Chỗ đóng quân lại không phải là doanh trại. Quanh phi trường lại có những bãi trống, địch tiến quân dễ bị phát hiện.

Trong những giờ đầu của cuộc tấn công, Phúc theo dõi tình hình mặt trận qua máy truyền tin. Được trang bị hệ thống truyền tin tối tân hơn những đơn vị bộ binh thông thường khác, đại đội thám báo có thể liên lạc với những đợn vị bạn theo hàng dọc, mà cả với mấy đơn vị theo hàng ngang như quân đoàn, Sư đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Nhờ vậy Phúc biết thêm một số diễn tiến ở trận chiến.
Từ sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975 cho đến hết ngày 15 tháng 3/1975, Trung đoàn 53 Bộ Binh chỉ với một Tiểu đoàn Bộ Binh, và Pháo đội 105ly đã anh dũng chiến đấu với một lực lượng cộng quân nhiều gấp bội, có chiến xa và đại bác đủ loại, mà không cần biết đến Buôn Ma Thuột đã thất thủ và đài BBC trong bản tin phát đi vào đêm 14 tháng 3/1975, đã loan tin Sư đoàn 23 Bộ Binh bị xóa tên trong quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 15 tháng 3/1975, một phi vụ yểm trợ tiếp liệu cuối cùng cho Trung đoàn 53 đã không rơi đúng điểm ấn định mà lại rơi xuống khu vực Vườn ương ở Hồ thực nghiệm. Ngày 16 tháng 3/1975, Trung đoàn 53 Bộ Binh hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Hết đạn dược và thuốc men, Trung tá Trung đoàn trưởng Võ Ân đành phải ra lệnh rút khỏi phi trường Phụng Dực. Điểm liên lạc, tiếp vận duy nhất cho Buôn Ma Thuột đã lọt vào tay cộng quân. Nhưng Trung tá Ân, đúng là người hùng của quân lực, và Trung đoàn 53 Bộ Binh anh dũng là những người con yêu của Tổ Quốc, đã làm khiếp đảm quân thù, và đem vinh quang về cho một quân đội kiêu hùng của nền Cộng Hòa miền Nam.

Với lịch sử của Sư đoàn 23 Bộ Binh, và thực tế của mặt trận Buôn Ma Thuột, nếu thị xã Buôn Ma Thuột được Trung đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh phòng thủ, thì cho dầu cộng sản Bắc Việt có quân số nhiều hơn vài ngàn người trong cuộc tấn công này, Buôn Ma Thuột và 60 ngàn dân đã không rơi vào biển đêm của lịch sử dân tộc. Và Sư đoàn 23 Bộ Binh vĩnh viễn sẽ là một đơn vị kiêu hùng của một quân lực kiêu hùng bất diệt.

QĐ2 Tiếp cứu BMT:

Buôn Ma Thuột lọt vào tay CS, khởi đầu cho việc sụp đổ của Miền Nam Tự Do. Buổi sáng khi 2 trái bom 500 cân Anh của Không quân đánh sập một đầu hầm Trung tâm Hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã thoát lên được. Đại tá Quang ra lệnh rút quân vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” - cách BTL Sư đoàn 250m. Cũng may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Lòng suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, khoảng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa của Tỉnh hội Phật giáo Buôn Ma Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Cộng quân lúc này đầy khắp các ngả đường trong thành phố cùng với những đoàn xe tăng của chúng.

Sau cùng Đại tá Quang quyết định mọi người phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân. Đại tá Quang, vị Tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột sẽ đi về hướng Nam, đến gần cầu khoảng cách 14km và tìm đường về Nha Trang. Còn Đại tá Nguyễn Trọng Luật cùng với Phó Tỉnh trưởng Hành chánh Nguyễn Ngọc Vỵ đi về hướng Tây, nhắm về khu vườn cà phê của Trung tướng Thái Quang Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc Buôn Ma Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Riêng các binh sĩ thì phân tán mỏng và tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu. Cũng thời gian này trên Quốc lộ 14, từ Đức Lập về Buôn Ma Thuột, bộ Chỉ huy Hành quân nhẹ của Trung đoàn 53 Bộ binh cùng với một Tiểu đoàn, được lệnh rút từ vùng hành quân phía đông bắc quận Đức Lập về tiếp cứu Buôn Ma Thuột, cũng bị Việt cộng phục kích chận đánh. Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 và hầu hết các sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị địch bắt. Cánh quân này coi như bị tan rã trước khi tới được trận địa Buôn Ma Thuột.

Đến xế trưa ngày 11 tháng 3, bên cạnh Đại tá Quang chỉ còn có người Thiếu úy, Sĩ quan Tùy viên và một người lính. Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và cũng không còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người đã lẩn tránh trong một vườn cà phê mấy tiếng đồng hồ, đợi đêm tối nhắm hướng nam đi về phía Quảng Đức.

Khoảng 2 giờ sáng ngày 12 tháng 3, Đại tá Quang và tùy tùng trốn khỏi Trung Tâm Hành Quân, đi được khoảng 6km đường rừng, ngay khi vừa tới sát một làng Thượng, thì bị Việt cộng nổ súng, xông ra vây bắt. Đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc trên cổ áo và xưng danh là Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, chúng đã trói lại, lột giầy và liệng xuống hố. Chừng một giờ sau, chúng được lệnh dẫn Đại tá Quang đi suốt đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13 tháng 3, được cởi trói, cho đi giầy vào và chở đi bằng xe Molotova sang Cam Bốt để khai thác.

Riêng cánh Đại tá Nguyễn Trọng Luật khi chạy đến vườn cà phê của Trung tướng Thái Quang Hoàng, tất cả cũng bị cộng quân dàn quân chận bắt hết. Riêng Đại tá Luật bị chúng bắt lên một xe thiết giáp chở đi mất.

Những cơ sở đầu não ở Buôn Ma Thuột bị VC đánh chiếm trong hai ngày đầu. Mấy ngày sau Sài Gòn chưa nhìn nhận Buôn Ma Thuột thất thủ vì chiến trận còn tiếp diễn ở Trung đoàn 53 khu vực gần phi trường nằm phía ngoài thị xã.

Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức cuộc đổ quân tăng viện để tái chiếm Buôn Ma Thuột. Lực lượng chính của cuộc phản công là Trung đoàn 45 Bộ binh (BB) và 1 Tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về phía Không quân VNCH tham gia cuộc đổ quân, ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6 Không quân, BTL đặt tại Pleiku, còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn 1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả các loại Chinook.

-Theo lịch trình đổ quân, hai Tiểu đoàn của Trung đoàn 45BB và đại đội Trinh sát Sư đoàn 23BB được trực thăng vận trước tiên. Tiếp đến, các Chinook móc theo các khẩu đại bác 105 thả xuống khu vực đổ quân của lực lượng đặc nhiệm tại quận lỵ Phước An.

-1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú từ bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 bay đến Buôn Ma Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ để trực tiếp điều quân. Tới Buôn Ma Thuột vào khoảng 2 giờ chiều, Tướng Phú đã liên lạc với đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở quanh Buôn Ma Thuột như Trung đoàn 53BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân, các Tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng đi theo cánh quân cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, được Tướng Phú chỉ định giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac thay thế Đại tá Nguyễn Trọng Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có bộ chỉ huy lưu động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.

Tuy nhiên, sự phản công và kế hoạch giải vây của quân ta đã không hữu hiệu, các Trung đoàn 44 và 45 được đổ xuống Phước An dùng làm bàn đạp để tiến về thành phố Bàn Mê Thuột. Nhưng Phước An vào lúc đó trở thành một trung tâm tản cư của những người dân chạy thoát ra từ Buôn Ma Thuột. Ở đây nhiều binh sĩ gặp lại gia đình tự động lẩn vào đám đông bỏ ngũ. Một số các binh sĩ khác tự động rời hàng ngũ đi tìm thân nhân mất tích. Một đạo quân giải vây trong tình trạng như thế chắc chắn không thể hoạt động được. Bốn ngày sau, SĐF10 của CSBV tiến chiếm Phước An. Hy vọng giải vây BMT bị tan vỡ.

Chiều ngày 12 tháng 3/1975, cùng lúc tấn chiếm tại chiến trường Buôn Ma Thuột, thì tại Pleiku,cộng quân cũng đã pháo kích bằng hỏa tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Trưa ngày 14 tháng 3, 1975, trong khi Sư đoàn 23BB đang khai triển các cánh quân để tiến về giải cứu Buôn Ma Thuột, thì tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá An ninh Quân sự của Tổng thống, đã họp mật với Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2-Quân khu 2. Tại cuộc họp kéo dài gần 2 giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 2/Quân khu 2 khỏi Cao nguyên, di chuyển về các tỉnh duyên hải miền Trung thuộc lãnh thổ Quân khu 2.

Thay lời kết:

Cộng sản Bắc Việt tung vào trận địa tấn công Buôn Ma Thuột 3 Sư đoàn chủ lực và các đơn vị biệt lập địa phương, toàn bộ lực lượng vào khoảng 30 ngàn người, gấp 7 lần lực lượng trú phòng (khoảng 4000). Chủ lực quân ta chỉ có hai Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 53 còn lại là Địa Phương Quân, Cảnh Sát... Lực lượng đã quá chênh lệch, địch lại đánh lén, đánh trộm thì chúng phải dành chắc phần thắng trong tay. Sự thất thủ của Buôn Ma Thuột là chuyện đương nhiên; dù biết trước phòng thủ cũng vẫn thua. Nhưng nếu biết trước và tăng cường yểm trợ để gây tổn thất nặng nề cho địch thì có thể giảm bớt áp lực địch tại các mặt trận khác hy vọng không đưa tới tình trạng hốt hoảng hỗn loạn dây chuyền đưa tới sụp đổ tan tành mau chóng.

Tuy nhiên sự sai lầm của Tướng Phú chỉ là phương diện chiến thuật, Buôn Ma Thuột mất vì tại Quân khu 2 ta không đủ lực lượng để đương đầu lại áp lực của địch quân gồm 5 Sư đoàn chủ lực cộng với 15 Trung đoàn biệt lập và cơ giới, lại thêm những lệnh lạt bất thường thiếu nghiên cứu vì cấp lãnh đạo của ta đã sai lầm về lãnh đạo và chiến lược...

Những Chiến Binh can trường của QLVNCH tai chiến trường Cao nguyên


Tài liệu tham khảo:

1. Những Ngày Cuối Của VNCH, của Đại tướng Cao Văn Viên Bản dịch Việt Ngữ của Nguyễn Kỳ Phong, nhà xuất bản Vietnambliography 2003

2. Buôn Ma Thuột, ngày đầu cuộc chiến của Nguyễn Định trên trang Web History of the Viet Nam War
3. Mặt Trận Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 của Vương Hồng Anh đăng trên Việt Báo từ 3/2000
4. Những Trận đánh lịch sử trong chiến tranh VN 1963-1975 của Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương, Đại Nam xuất bản 1993
5. Mặt Trận Buôn Ma Thuột của Phạm Huấn trên trang nhà http://doanket.orgfree.com
6. Nhìn lại trận đánh Buôn Ma Thuột 1975 của Đại tá Nguyễn Trọng Luật trên http://doanket.orgfree.com
7. Email suavantran@hotmail.com của Trần Văn Sua Biệt Đoàn 219 Trực Thăng tại Buôn Ma Thuột.

Friday, May 25, 2018

Tưởng Niệm Một Người Anh - Phạm Tín An Ninh

Đại Tá Võ Ân
- Sinh tháng 4 năm 1941 tại Thừa Thiên
- Nhập ngũ ngày 23-10-1911
- Xuất thân trường sĩ quan Thủ Đức Khóa 12
- Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23

Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong số những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động”, bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:
- Đại Tá!
Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:
- Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?
Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét: “không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:
- Mi nhớ giữ gìn sức khỏe, hỉ!
Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó.
Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời. Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện. Vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đặc biệt, anh cũng là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi vào những giờ thứ 25, trước khi Quân Lực VNCH bị bức tử, để những chiến sĩ anh hùng như anh phải đành đau đớn tức tưởi kết thúc binh nghiệp nửa đường.
Vào đầu tháng 4/75, QĐ II & QK2 lần lượt lọt vào tay giặc, sau những cuộc triệt thoái tồi tệ và bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh. Hầu hết quân nhân các cấp thuộc các Sư Đoàn và Tiểu Khu thống thuộc còn sống sót đã tiếp tục di tản vào Bình Tuy, Vũng Tàu, Sài gòn. Được lệnh của Bộ TTM truyền đi trên các đài phát thanh, truyền hình, kêu gọi “đến trình diện tại Trại Chí Linh, Trung Tâm Huấn Luyện XDNT Vũng Tàu” để sau đó được bổ sung tái lập một sư đoàn duy nhất: Sư Đoàn 22BB với Thiếu Tướng Phan Đình Niệm tiếp tục làm tư lệnh, đặt dưới quyền xử dụng của Quân Đoàn III.
Không ngờ số lượng đến trình diện thật đông đảo. Đa số là sĩ quan, chỉ có khoảng một phần ba là hạ sĩ quan và binh sĩ. Khi lang thang đi tìm mấy thằng bạn cùng đơn vị cũ, xem ai còn ai mất sau trận chiến Khánh Dương và một số phải di tản theo Tỉnh Lộ 7B oan nghiệt, bỗng tôi nghe trên loa có một giọng Huế quen thuộc gọi tên mình, và yêu cầu đến dãy nhà số 4 gặp Đại Tá Võ Ân. Tiếng gọi quen thuộc ấy cũng chính là tiếng nói của anh.
Tôi tìm đến dãy nhà số 4, nơi đặt BCH Trung Đoàn 47 (tái lập). Vội vàng tìm gặp anh, để xem người hùng của trận chiến Ban Mê Thuột bây giờ ra sao. Anh ngồi trên dãy bàn dài với một vài sĩ quan cấp trung tá, có nhiều vị tôi quen biết. Tôi đưa tay chào, chưa kịp trình diện lời nào, thì anh đã phất tay bảo tôi ngồi:
-Tau được chỉ định tái lập gấp Trung Đoàn 47 này. Mi về đây với tau cho vui. Anh em 23 nhiều lắm. Tụi mình “đánh đấm” tiếp.
Thoáng một chút xúc động. Nghĩ mình là một sĩ quan đàn em cấp thấp, cũng chẳng tài cán gì, chỉ gặp gỡ một vài lần và được anh quí mến. Vậy mà hôm nay, trong cái cảnh chợ chiều, hổn tạp rối ren này, anh vẫn còn nghĩ đến mình.
Ba ngày sau, Trung Đoàn 47 BB được tạm tái lập với một quân số mà quan nhiều hơn lính. Một tiểu đoàn có đến 2 trung tá. Cấp đại đội có 1-2 thiếu tá, có vị đã từng làm tiểu đoàn trưởng hay chi khu phó. Có nhiều trung đội được chỉ huy bởi một đại úy với quân số không quá 25 người, mà 50% là sĩ quan. Chắc chắn trên thế giới không có một đội quân nào với bản cấp số kỳ quặc và “ghê gớm” như thế.
Trong hầu hết những bài viết về các trận chiến cuối cùng của QLVNCH, dường như chưa có ai nói đến sự kiện này. Tại sao những sĩ quan cấp tá, cấp úy lại sẵn sàng nhận lãnh những chức vụ quá nhỏ nhoi như thế, trong lúc tình hình nguy ngập, chiến trường đang từng giờ thu hẹp lại, mà mọi bất lợi, hiểm nguy đang chờ họ đối mặt? Hơn nữa hầu hết đều bỏ lại gia đình ở miền Trung mà bây giờ đã thuộc vùng địch chiếm. Bao nỗi ưu tư canh cánh bên lòng. Nếu không phải là “Tổ Quốc, Danh Dự. Trách Nhiệm”, sứ mạng cao cả mà họ đã tuyên thệ nhận lãnh khi quì xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa?
Ngay tại BCH Trung Đoàn, ngoài Đại tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, còn có đến 4, 5 trung tá. Trung tá Nguyễn Thắng Phùng, Chỉ Huy Trưởng TTHL/SĐ 23BB nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban 3. Vai trò này anh đã từng làm cách đây trên 10 năm, khi còn mang cấp bậc thiếu úy. Tôi vẫn còn nhớ, khi mới ra trường vài tháng, dắt trung đội biệt phái đến trình diện BCH Trung Đoàn 45BB của Trung tá Võ Văn Cảnh, đóng trại giữa rừng để chỉ huy trận đánh Quảng Nhiêu đang hồi khốc liệt nhất, tôi được gặp Thiếu Úy Nguyễn Thắng Phùng, đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Anh rất vui vẻ, niềm nở hướng dẫn trung đội tôi ra nằm giữ an ninh cho một Pháo Đội Pháo Binh 155 ly, đóng bên cạnh BCH Trung Đoàn. Anh dặn dò chỉ vẽ những điều cần thiết. Chỉ với câp bậc thiêu úy, nhưng tôi nghĩ anh là một Trưởng Ban 3 nhiều kinh nghiệm, khả năng. Tôi có cảm tình với anh kể từ ngày ấy. Anh đã đảm trách chức vụ này từ khi còn thiếu úy, bây giờ mang đến cấp bậc trung tá, anh lại trở về với cái chức vụ hơn 10 năm trước. Vậy mà anh rất vui vẻ, bình dị, thường thân tình đùa cợt với anh em và chu toàn trách nhiệm của mình. Anh bảo:
- Được làm việc với Đại Tá Ân là vui rồi!
Tôi rất nể phục thái độ và tư cách của anh.
Trong BCH Trung Đoàn có một vài vị nguyên là tiểu khu phó, tham mưu trưởng của các tiểu khu. Tôi cũng gặp một anh thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của một tiểu đoàn ĐPQ tại TK Bình Định. Năm 1971 có một thời tăng phái hành quân cho Trung Đoàn 44 của chúng tôi tại An Khê, còn bây giờ thì anh đang vui vẻ làm đại đội trưởng với quân số chưa tới 80 người.
Tôi được anh Ân thương mến, giao cho một chức vụ cũng không có trong bản cấp số: Sĩ Quan Hành Quân & Tiếp Vận. Thực chất, đó chỉ là một loại “thượng sĩ thường vụ” của Trung Đoàn, chạy ngược chạy xuôi lo đủ thứ việc.
Ngày 17/4/1975, chưa kịp trang bị xong, một số quân nhân chưa có cả súng đạn, Trung Đoàn được lệnh di chuyển xuống Long An, đảm trách hành quân an ninh trong vùng Bến Lức. Ban đêm, từng đoàn xe từ Tổng Kho Long Bình chở vũ khí, quân trang quân dụng xuống để đơn vị vừa hành quân vừa trang bị tiếp. Đạn thì thiếu nhưng súng lại thừa. Một người có thể được trang bị một khầu M16 và thêm một súng Colt 12, nếu muốn.
Ngày 22/4/75 có khoảng 10 tân sĩ quan hai khóa 29 và 30 của Trường VBQGVN vừa tốt nghiệp “non” tại Trường Bộ Binh Long Thành, đến trình diện. Các anh vẫn giữ đúng nề nếp, cử một đại diện chỉ huy trình diện đơn vị trưởng theo đúng lễ nghi quân cách. Nhìn họ mà tất cả chúng tôi ai nấy cũng đều cảm kích, chạnh lòng. Những sinh viên này đã từ bỏ học đường chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn tổ quốc. Bây giờ giang sơn đang như sợi chỉ mành trước gió, tổ quốc lâm nguy, vậy mà họ vẫn đến đây, để chấp nhận một cuộc chiến ở giờ thứ 25, trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, khi chưa hề có được một ngày kinh nghiệm chiến trường. Trong những đôi mắt nhuốm chút ít ưu tư ấy vẫn tỏa ra đầy khí phách, sẵn sàng nhập cuộc.
Đại Tá Võ Ân đến bắt tay từng người một. Im lặng một lúc, anh lấy giọng:
- Thay mặt đơn vị, anh cám ơn và hoan nghênh các em đã đến trình diện. Các em đã cho chúng tôi một nguồn sinh lực mới, sau thời gian trải qua những mất mát, giao động. Điều đó cũng đã là một góp phần xứng đáng rồi. Anh biết các em chưa nghỉ phép sau khi làm lễ ra trường. Còn đơn vị lại đang trong thời kỳ tái tổ chức. Bây giờ theo thông lệ, anh cấp cho các em giấy nghỉ phép mười ngày, để các em về thăm gia đình. Mong là các em hiểu sự quyết định này của anh.
Hầu hết các tân sĩ quan nhất quyết xin ở lại để chiến đấu cùng đơn vị. Có anh bảo là gia đình ở ngoài Trung, không có ai ở đây. Nhưng tất cả sĩ quan chúng tôi có mặt lúc ấy đều thấy quyết định của ĐạiTá Ân là có cân nhắc và có tình có lý, nên khuyên các anh nên chấp nhận quyết định của Đại tá, nếu anh nào gia đình ở miền Trung có thể về Sai gon tạm nghỉ ngơi chờ lệnh, sau khi hết phép trở lại đơn vị cũng chưa muộn (?)
Ngay chiều hôm ấy, có lệnh bàn giao vị trí cho một đơn vị khác của Quân Đoàn III, chúng tôi khẩn cấp di chuyển đêm xuống giải tỏa áp lực địch tại Quận Cần Giuộc. Theo tin tức, đã có hơn một trung đoàn địch đang trên đường tiến đến uy hiếp khu vực này.
Tất cả chúng tôi đều đến từ Vùng 2, nên không ai biết rành địa thế và tình hình trong khu vực lạ lẫm này. Để tránh chậm trể và nguy hiểm, Trung Đoàn được biệt phái một toán Cảnh Sát do một Thiếu Tá chỉ huy, dẫn đường. Khởi hành từ 10 giờ tối, cho mãi 5 giờ sáng đơn vị mới tới địa điểm. Toán Cảnh sát “hướng lộ” đã dẫn chúng tôi đi sai lộ trình. Rất may là tất cả an toàn, không đụng độ với bất cứ lực lượng nào của địch.
BCH Trung Đoàn đóng tại Trường Trung Học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng, nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc xe GMCvà xe jeep các loại, kèm theo một lệnh miệng: “ Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, xử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.” Vừa xe, vừa gạo, và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô.
Trung Đoàn có ba tiểu đoàn, không có đại đội trinh sát và đại đội chỉ huy công vụ. Một tiểu đoàn đóng chung với BCH Trung Đoàn, làm lực lượng trừ bị, hai tiểu đoàn bung ra xa. Trong đó có một tiểu đoàn hành quân tái chiếm xã Mỹ Lộc, một khu trù phú của quận Cần Giuộc, bị một tiểu đoàn địa phương của địch xâm nhập, truy giết các nhân viên xã ấp và các trung đội nghĩa quân.
Giữa một cuộc chiến không nhìn thấy tương lai, và phải chỉ huy một đơn vị như chiếc áo cũ mục nát, được vá víu bằng những tấm vải đủ màu, nhưng Đại tá Võ Ân cùng tất cả chúng tôi đã sống với nhau thật vui vẻ, chí tình. Với tôi, đó lại là thời gian đáng ghi nhớ nhất trong cả mười một năm binh nghiệp. Cái ranh giới chỉ huy gần như nhỏ lại, để nhường cho cái tình huynh đệ. Điều này có được phần lớn là nhờ vào anh - Đại tá Võ Ân.
Ngày xưa, khi còn chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn hùng mạnh, tham dự nhiều trận chiến cam go ở Bình Định, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, anh vẫn vui vẻ thân tình như hôm nay. Với bạn bè hay đàn em, thuộc cấp lúc nào anh cũng dùng hai chữ “mi, tau”. Sĩ quan trong đơn vị thực sự xem anh như một người anh, hay một ông thầy của thời trung học.
Tháng 11 năm 1973, Phóng viên chiến trường Dương Phục, trong một lần đặc biệt đi theo đơn vị của anh, khi ấy là Trung Đoàn 53 thuộc Sư Đoàn 23BB, đang quần thảo với địch trong một trận chiến vô cùng khốc liệt tại Quảng Đức, đã viết:
“Tôi vác ba lô ra xe và hai tiếng đồng hồ sau có mặt bên cạnh đơn vị có nhiệm vụ tái chiếm hai tiền đồn Bu Prang và Bu Bong đã lọt vào tay địch quân trong cuộc tấn công ngày 4.11 vừa qua.
Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, trông giống một giáo sư hơn là một đơn vị trưởng tác chiến. Cả bộ chiến phục bụi bậm, bẩn thỉu, và khẩu súng lục Colt 12 đeo lủng lẳng bên hông cũng không giúp anh có vẻ ngoài oai hùng của người lính chiến. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài. Sức chịu đựng bền bĩ và ý chí sắt thép của anh Ân được truyền tụng theo chiều hướng huyền thoại hóa trong trung đoàn.
Ân tiếp tôi ngay tại vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/53. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng dầy dạn vẻ phong trần, nụ cười chân tình như chỉ những người lính chiến mới biết cười như vậy. Ân bảo tôi:
- Anh đến chậm mất hai ngày.
- Hai ngày sớm hơn đã xảy ra chuyện gì?
- Pháo. Địch pháo như mưa, pháo dội vào các đơn vị chúng tôi. Sau pháo, chúng xung phong.”
Sáng ngày 27 tháng 4 /1975, khoảng 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong một phòng học được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nghe tiếng trực thăng đang đảo thấp một vòng đáp xuống đám ruộng khô phía trước, cách chúng tôi chừng hơn100 mét. Nghĩ là trực thăng CNC đến làm việc cho Trung Đoàn, Đại Tá Ân bảo tôi lấy một chiếc xe jeep mới toanh, không mui, chạy ra đón phi hành đoàn. Vì trời nóng, nên đa số chúng tôi đều mặc áo thun. Tôi không kịp mặc áo lính, lái xe chạy băng qua mấy đám ruộng khô và dừng lại trước chiếc trực thăng vừa đáp xuống. Bỗng bất ngờ, ngạc nhiên khi thấy một người vừa bước xuống, tay cặp chiếc mũ sắt ngụy trang có gắn 3 ngôi sao. Theo sau là một vị trung tá trên tay cầm khẩu M-18. Tôi giật mình, nhận ra đó là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Vội vàng bước xuống xe, tôi đứng nghiêm đưa tay chào. Ông bước tới gần tôi. Trong tiếng cánh quạt trực thăng chưa dừng hẵn, tôi nghe ông hỏi lớn:
- Có Đại Tá Ân trong đó không?
- Trình Trung Tướng, có.
Tôi trả lời và mời ông lên xe, nhưng ông từ chối, bảo là ông muốn đi bộ. Có thể là ông có ý cho tôi chạy vào trước để báo cho đại tá Ân, tôi đoán thế.
Tôi vội vã lái xe chạy vào BCH la lớn cho Đại Tá Ân và mọi người biết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tới thăm chứ không phải phi hành đoàn.
Tất cả vội vã mặc áo và sửa soạn lại tấm bản đồ lớn được treo trên bảng đen (của lớp học). Tôi xếp mấy chiếc ghế lại cho ngay ngắn. Khi Đại Tá Ân chưa kịp bỏ áo vào trong quần thi Tướng Trưởng đã bước vào phòng. Anh chỉ còn kịp đứng nghiêm hô to: “vào hàng, phắc” rồi đưa tay lên chào.
Tướng Trưởng trông khá mệt mỏi, ánh mắt hình như bị mất ngủ. Ông hỏi với một giọng buồn bã:
- Tình hình thế nào em?
Đại Tá Ân đưa cây que chỉ bảng lên tấm bản đồ, định trình bày tình hình, thì Tướng Trưởng đưa tay ngăn lại. Ông chỉ nói một câu ngắn ngủi:
- Phải cẩn thận. Đừng để hao tốn sinh mạng của anh em một cách vô ích.
Sau khi đưa tay bắt từng người có mặt trong TTHQ, Tướng Trưởng cho biết ông không có nhiều thì giờ vì chỉ mượn được trực thăng trong một thời gian ngắn, và bảo Đại Tá Ân lái xe chở ông sang thăm ông Quận trưởng Cần Giuộc. Tôi gọi toán cận vệ lên một xe jeep khác chạy theo, nhưng Tướng Trưởng khoát tay, bảo không cần. Sau này Đại tá Ân cho biết, anh Trung tá Quận Trưởng này cũng là một thuộc cấp được Tướng Trưởng tin cậy và quí mến, thời Ông còn làm Tư Lệnh QĐIV.
Cả Đại Tá Ân và chúng tôi không biết lúc ấy Tướng Trưởng giữ chức vụ gì. Chỉ biết là ông đến thăm anh Ân và dặn dò đôi điều. Anh Ân cũng cho biết là chưa từng làm việc dưới quyền Tướng Trưởng, có lẽ ông chỉ nghe nói đến anh Ân “người hùng trong trận chiên Ban Mê Thuột”, nên đến thăm và khen ngợi anh như từng khen ngợi những sĩ quan, những đàn em xuất sắc của ông ở Quân Đoàn I, nơi có nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc với cái tên chỉ có hai chữ như anh (Võ Ân): Lê Huấn, Võ Toàn, Vĩnh Dác, Hoàng Mão, Nguyễn Hóa, Võ Vàng...
Tôi gặp và biết anh Ân lần đầu tiên vào khoảng cuối năm 1972, khi anh mang cấp bậc trung tá, dắt một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 22BB, từ Bình Định lên tăng cường cho Trung Đoàn 44BB chúng tôi, để giải tỏa Trung Nghĩa, một ngôi làng Công giáo, dưới sự chỉ huy của một vị linh mục, quyết tử chiến với Cộng quân, nhưng vì không đủ hỏa lực nên bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn chiếm hơn nửa làng. Một trận chiến phức tạp, khốc liệt, và cuối cùng anh đã chiến thắng ngoạn mục. Bằng một lối đánh giặc rất đặc biệt, xử dụng toàn súng cối 60 ly thay cho Pháo Binh và phi yểm.
Sau nhiều lần tấn công bất thành, do lực lượng địch trú ẩn bám trụ trong các giao thông hào kiên cố và chống trả mãnh liệt. Lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, tránh tối đa việc xử dụng phi pháo có thể gây thiệt hại cho khu nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Hơn nữa, Pháo Binh khó cận yểm vì khoảng cách giữa địch và dân quá gần, tiền sát viên của ta khó tiếp cận để điều chỉnh cho thật chính xác.
Anh lệnh cho các đại đội tạm rút ra, lựa chọn các binh sĩ trẻ và có năng lực tác chiến, chỉ trang bị súng nhẹ, không mang theo ba lô, chia thành nhiều toán nhỏ, làm lực lượng xâm nhập, tấn công. Các binh sĩ lớn tuổi hay yếu kém theo sau, làm lực lượng tải đạn, tản thương và án ngữ. Anh tâp trung cơ hữu và xin chúng tôi tăng cường thêm cho anh nhiều súng cối 60 ly (ít được các đơn vị xử dụng) với đầy đủ đạn dược, cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm về loại vũ khí này. Tôi được Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng 44, chỉ định đảm trách công việc này. Anh và tôi cùng hướng dẫn cấp tốc các tiểu đội trưởng cũng như xạ thủ, điều chỉnh súng cối từng mét một. Khi các tiểu đội bò vào tiếp cận các hầm hố của địch, đích thân anh điều động trên 20 khẩu súng cối 60 ly tác xạ theo sự điều chỉnh của các tiểu đội trưởng. Kết quả thật không ngờ. Địch quân bị tiêu diệt bởi các khẩu súng cối 60 ly này, số còn lại bị thương và bị bắt sống, bên ta không có binh sĩ nào tử thương.
Sau trận chiến, trước khi trở về đơn vị gốc, anh gọi tôi ra ăn bữa cơm chia tay, cùng với vài sĩ quan của anh ngoài tiệm Thiên Nam Phúc. Và có lẽ do chiến công này, chỉ một thời gian ngắn sau đó anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 23 BB để giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 thay Đại Tá Trần Văn Chà. Sau này, tôi cũng được nghe kể lại, anh Ân là người chưa từng giữ cấp “phó” bao giờ.
Anh tốt nghiệp Khóa 12 Thủ Đức, là người thăng cấp trung tá sớm nhất và cũng là người duy nhất của khóa mang cấp bậc đại tá. Hầu hết những sĩ quan giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng dưới quyền, đều là khóa đàn anh, có người xuất thân trường Võ Bị đồng thời với anh. Nhưng tất cả đều nể phục và kính mến anh. Ngày 30-4-75, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đang quây quần trong phòng học được dùng làm TTHQ. Đại Tá Ân gục đầu xuống bàn. Tất cả im lặng. Cái im lặng thật rợn người. Có lẽ trong đầu mỗi người đang suy nghĩ về một điều gì đó. Tôi bước lại ôm vai anh. Trung Tá Phùng lệnh cho gọi tất cả anh em tập họp trước sân trường để nghe anh Ân ra lệnh lần cuối cùng. Anh cám ơn, bắt tay và ôm từng người, chúc tất cả trở về an toàn và gặp lại gia đình. Anh cũng ra lệnh phá hủy tất cả các loại súng ống trước khi rời vị trí.
Anh bảo tôi tâp trung tất cả tài xế lái các xe GMC khả dụng chở anh em về cầu chữ Y. Không đủ xe, tôi chạy đi mướn thêm hai chiếc xe đò. Tôi nghiệp hai anh tài xế đến giờ này vẫn còn chí tình với lính, tình nguyện chở giúp bọn tôi về đến Sài Gòn. Tôi đưa anh về nhà (chị Ân thuê để cùng các con tạm trú ở đây, sau khi theo đoàn quân di tản từ miền Trung). Anh bắt tay tôi thật chặt, nhìn tôi rồi bỗng nở một nụ cười, như chưa hề có chuyện gì xảy ra:
- Mi về xem vợ con ra sao. Cẩn thận hỉ.
Tôi nhìn anh, chưa biết nói lời gì để an ủi anh, thì lại nghe tiếng anh đùa:
- Que sera sera! Chừ tau chỉ tội nghiệp cho vợ con, còn tau thì phó thác số phận cho ông trời!
Tính anh là vậy đó, lúc nào cũng bất cần, cũng cười đùa, mặc dù trong lòng đang rối như tơ vò.
Chia tay anh, tôi bước đi mà nước mắt lưng tròng. Bước chân nhẹ tênh như không còn cảm giác, và trong lòng bây giờ dường như chỉ là một khoảng trống mênh mông!
Anh bị tù hơn 14 năm. Sang Mỹ cùng gia đình năm 1992 theo diện HO, và chỉ vài năm sau anh qua đời tại Colorado, do bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Có lẽ do hậu quả từ những cơn say và nhiều đêm mất ngủ. Anh dùng rượu để có thể tâm tình với hư vô, với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở đâu đó trên các chiến trường xưa, và đã ân hận vì không trả được món nợ máu xương này cho họ.
Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.
(40 năm sau ngày tan đàn xẻ nghé)

THẢM KỊCH THÁNG TƯ ĐEN
NHỮNG DIỄN BIẾN MỞ MÀN

  • Phước Long trận chiến ngày 1/1/1975 - Gần như đã lãng quên
  • Chiến trường Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975. Mặt trận phi trường Phụng Dực- Căn cứ B50 - Lặng lẽ bỏ rơi
  • Cuộc triệt thoái Tây Nguyên Pleiku-Kontum - Bỏ rơi ngày 14/3/1975
  • Việt Nam Cộng Hòa - Bỏ rơi ngày 30/4/1975
Luchiep tác giả quyển sách “Đất Nước Chúng Ta Lỡ Bỏ Rơi”
Một nhân chứng sống tham dự trực tiếp tại Trung tâm hành quân Trung Đoàn 53/BB
------------------------

I - Phước Long trận chiến ngày 1/1/1975 - Gần như đã lãng quên
     Hồi tưởng lại 40 năm về trước, là một Sĩ quan trẻ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tác giả nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của Chánh Phủ VNCH vào cuối năm 1969, sau thời gian thụ huấn ở quân trường, anh ấy ra đơn vị và trở thành một Sĩ quan trẻ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lòng đầy nhiệt quyết.
     Lúc bấy giờ, đơn vị anh ấy là Tiểu đoàn 231Pháo Binh, trấn thủ vùng Tây nguyên Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột, nhiệm vụ của đơn vị là yểm trợ trực tiếp cho Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23/BB. Năm 1975, Tiểu đoàn 231/PB đóng quân tại phi trường Phụng Dực cạnh căn cứ B50 Thị xã Ban Mê Thuột.
     Tết năm 1975, đơn vị cấm trại và hầu hết mọi quân nhân đều phải có mặt tại đơn vị, thế là họ ăn Tết tại chổ, gọi là ăn Tết chứ thật ra có ăn uống gì đâu, đám Sĩ quan trẻ, độc thân, xa nhà ngồi tán dóc trong đơn vị, đứa nào đứa nấy cũng phì phèo liên tục những điếu thuốc lá “Capstan”, Capstan là nhản hiệu của một loại thuốc lá rất thông dụng lúc bấy giờ, nó có một chuyện tình không biết thật hay giả, gọi là chuyện tình “Capstan”, có thể ai đó đặt ra, thế nhưng câu chuyện phù hợp với tâm trạng của những chàng lính trẻ lúc bấy giờ.
     Chuyện tình Capstan bắt đầu từ một anh chàng thư sinh vừa rời ghế nhà trường, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của Chánh Phủ VNCH, người yêu tiếp tục dưới mái trường đại học, “xa mặt thì cách lòng” đó là thường tình tâm lý xã hội thế thôi, thế là cô nàng quen một anh chàng khác, tình cảm vớ vẫn thuở ban đầu đấy mà, nhưng rất sâu đậm. Anh chàng buồn lắm lúc nào cũng than thở với bạn bè, đi đâu vẻ mặt cũng buồn buồn; thế mà càng buồn thì lại càng hút thuốc lá nhiều hơn, và mỗi lần móc bao thuốc lá ra, dĩ nhiên là bao thuốc Capstan, anh chàng nhớ đến chuyện tình Capstan rồi than thở một mình, đọc theo chử “Capstan”, “Chiếc áo phong sương tình anh nặng”, rồi đọc ngược lại, vậy mà em “Níu áo thư sinh phụ áo chàng”, thế rồi thời gian trôi qua,  ngày mãn khóa cũng đã đến, tất cả bạn bè phân tán, cuộc chia tay không mấy buồn bã như lúc chia tay người yêu đi nhập ngũ, mà trái lại họ rất phấn khởi, nôn nóng về tương lai một cuộc sống mới, có người thì quen biết, thân thế được về các ngành ít nguy hiểm cho bản than, thời ấy gọi là “Con ông cháu cha” (COCC), riêng tác giả chẳng có quen lớn gì cả nên được xếp vào loại “Con bà phước” và được chuyển ra đơn vị tận miền cao nguyên đất đỏ xa xôi.
     Thế rồi vào một ngày đẹp trời anh chàng được về phép, trong lúc đi dạo phố ở Saigòn, tình cờ gặp lại người yêu củ trên đại lộ Nguyễn Huệ quận nhất, cô nàng đi dạo phố với người bạn mới, họ đi đối diện nhau; anh chàng vừa buồn vừa hận, muốn chạy trốn cái thực tế phủ phàng, thế nhưng không còn kịp nữa, cô nàng đã thấy anh chàng, và khoảng cách hai người dần dần thu ngắn lại cuối cùng họ đối diện nhau. Anh chàng hơi trách móc nhưng hy vọng cô nàng thương hại than thở tiếp; “Chiều ấy phố sầu tình ân nghĩa”, “Nghĩa ân tình sao phụ anh chi”, cô nàng cũng tỉnh bơ, nhoẽn miệng cười thông cảm, anh chàng tức quá trước cảnh bẻ bàng, móc khẩu súng ngắn ra đưa cho cô nàng rồi nói tiếp: “Cho anh phát súng tim anh nát”, thế nhưng anh chợt nghĩ lỡ cô nàng làm thiệt thì uổng đời, nên vội cất đi rồi nói cho đỡ ngượng: “Nhưng anh tin số phận anh còn”.
    
     Trở lại những ngày Tết ở đơn vị năm 1975. Thiếu tá Trần Đạt Khải Tiểu đoàn phó 231 Pháo Binh viết 2 câu đối và treo tại phòng họp của đơn vị:
                                                 “Mừng Tết đến Đức Lập, Dack-son, cát bụi mịt mờ thân pháo thủ”
                                                 “Đón Xuân về Hàm Rồng, buôn-Black, nắng mưa dầu dãy kiếp đề lô”
     Những ngày Tết năm ấy, Thiếu tá Khải kể chuyện về trận đánh vào thị xã Phước Long ngày 1/1/1975 và sau gần một tuần lễ chiến đấu Phước Long đã lọt vào tay quân Cộng Sản, thế nhưng chưa có kế hoạch tái chiếm lại chẳng hiểu vì sao. Ông còn nhắc nhở đám Sĩ quan trẻ VC đang về đây, đang ở trên đỉnh núi xa xa bên ngoài vị trí đóng quân của chúng ta, ông cho lệnh di chuyển phòng “truyền tin” của đơn vị từ vị trí sát cạnh hàng rào của phi trường Phụng Dực, di chuyển vào bên trong nằm giữa căn cứ cho an toàn hơn.
     Tuy nhiên, bọn Sĩ quan trẻ của chúng tôi, thật tình lúc bấy giờ chẳng quan tâm nhiều lắm về mặt trận Phước Long, coi như chuyện đó không liên quan gì đến mình, ngoài nhiệm vụ trong đơn vị, chúng tôi thường hay rủ nhau đến những quán cà phê ngồi hết giờ nầy sang giờ khác, tìm cách lân la với mấy cô trong quán, tuổi trẻ, độc thân, lính xa nhà là vậy. Thế rồi mấy tháng sau, chiến trường ban Mê Thuột bùng nổ, Thiếu tá Khải đã nằm lại vĩnh viễn tại phi trường Phụng Dực cùng 5 Sĩ quan tham mưu của Tiểu đoàn 231/PB ngày 10 tháng 3 năm 1975 tại mặt trận phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, tôi vẫn nhớ hình ảnh ấy như mới xảy ra ngày hôm qua!
     Thời gian quá nhanh, 40 năm trôi đi cái vèo biết bao nhiêu kỷ niệm của cuộc đời hằng sâu trong tâm trí; tôi nghĩ lại vì sao Chánh Phủ của chúng ta không có kế hoạch tái chiếm lại Phước Long sau khi đã lọt vào tay quân Cộng sản Bắc Việt ngày 6 tháng 1 năm 1975.
      Trong thời kỳ nầy, dường như Chánh Phủ của chúng ta tại Saigòn không nôn nóng tái chiếm lại Phước Long, không giống như hồi năm Mậu Thân 1968, hay mùa hè đỏ lửa năm 1972; tôi còn nhớ những danh xưng như “Bình Long Anh Dũng”, “Kontum Kiêu Hùng” hay “Trị Thiên Vùng Dậy”; chúng tôi rất tự hào mang trên vai áo cái phù hiệu “Kontum Kiêu Hùng” mỗi khi đi phép về Saigòn; bất cứ nơi nào Cộng quân đánh chiếm, thì lập tức bằng mọi giá QLVNCH đánh trả và chiếm lại cho bằng được.
     Thế thì chẳng lẽ Chánh Phủ của chúng ta định bỏ luôn tỉnh lỵ Phước Long cho VC hay sao mà mãi từ tháng 1 năm 1975 cho đến tháng 3 năm 1975 không thấy có một kế hoạch nào của Chánh Phủ nhằm tái chiếm lại vùng đất nầy. Tỉnh lỵ Phước Long thuộc Quân khu III vùng 3 chiến thuật, một vị trí cách Sàigòn vào khoảng 150 cây số, rất gần Thủ Đô của miền Nam nước Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
     Dù nghĩ thế nào cũng đành thôi vậy, vì đây là nhiệm vụ của cấp trên, chúng tôi lúc bấy giờ chỉ là lính lác, đồ cắc ké! Tuy nhiên, thời gian sau năm 1975, tại Phước Long, tôi đã có khá nhiều kỷ niệm khó quên trong đời, thứ nhất trong thời gian hơn 4 năm sống trong trại tù Cộng sản “Bùi Gia Mập” mà họ gọi là “trại tập trung cải tạo”, từ con suối đá (Chúng tôi đặt tên cho con suối vì toàn là đá ông) mà mỗi chủ nhật tôi và vài người bạn tù mang cái mùng đi lưới cá lòng tong để có chút thức ăn gọi là “cải thiện cho cuộc sống”; thỉnh thoảng bẩy được một con kỳ đà, chúng tôi chia nhau xẽ thịt trong những ngày đói khổ có nhau trong trại tù CS.
     Nhiều đêm hồi tưởng lại đoạn đường đất đỏ không có xe cộ lưu thông, từ ngã ba Minh Hưng vào trại tập trung Bùi Gia Mập, trên 30 cây số đường rừng, cha mẹ tôi đã lặn lội thăm nuôi, bây giờ tất cả chỉ còn là kỷ niệm, kỷ niệm đau lòng và quặn thắt từng cơn; có nhiều lúc tôi muốn quên đi, nhưng quên làm sao được vì mình là con người đâu phải con vật mà không có lương tri.
     Kỷ niệm thứ hai là vào khoảng năm 1992, tôi không nhớ chính xác ngày giờ, tôi có lần trở lại vùng đất Bùi Gia Mập trong một dịp dẫn đường một gia đình người bạn tù Trương Tô Há chết trong trại để tìm hài cốt đưa về an nghĩ theo ý muốn của người em trai anh Há từ Canada về nước, những đồi cây mì mênh mông bát ngát ngày trước mà bọn tù chúng tôi khai hoang trồng tỉa nay đã trở thành rừng lồ ô hoang vắng.
      Trận chiến Phước Long hình như người ta ít nhắc đến, gần như đã lãng quên; riêng tôi đã có khá nhiều kỷ niệm nơi đây, núi rừng hùng vĩ làm cho tôi liên tưởng đến chiến trường Ban Mê Thuột xảy ra ngày 10 tháng 3 năm 1975 chỉ sau mặt trận Phước Long khoảng 2 tháng. Nơi đây, chúng tôi đã trực tiếp chiến đấu kiên cường suốt 7 ngày đêm nhưng rồi cấp trên cũng bỏ rơi Phi trường Phụng Dực – căn cứ B50 vào tay giặc.
     Mặc dù đã hơn 40 năm trôi qua, thế nhưng chưa một ai nói lên sự thật của mặt trận nầy một cách tường tận; trong thời gian vừa qua tôi thấy có bài viết của Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac, thế nhưng ông chỉ nói về tình hình xảy ra tại thị xã Ban Mê Thuột trong 2 ngày đầu của trận đánh, bên cạnh đó có bài viết của tác giả Phạm Huấn, Sĩ quan báo chí cận kề Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân đoàn II , thế nhưng phần kết không đúng với những gì đã xảy ra tại mặt trận nầy. Trong sự thật mặt trận phi trường Phụng Dực – căn cứ B50; “VC không hề chiến thắng tại căn cứ B50 suốt 7 ngày đêm chiến đấu, mà trái lại phía QLVNCH đã chủ động trên mặt trận nầy”.
     Thật vậy, tôi là một nhân chứng sống, tham dự trực tiếp tại Trung Tâm Hành Quân của Trung đoàn 53 trong những ngày binh lửa đó, tôi viết lại hồi ký trong quyển sách “Đất Nước Chúng Ta Lỡ Bỏ Rơi” và bản tiếng Anh “The Country We Gave Away” với một mục đích nói lên một sự thật để mọi người cùng biết kể cả người Mỹ và cũng để lưu lại cho những thế hệ về sau. Vấn đề ở đây là tại sao cấp trên lại bỏ rơi một đơn vị tiền đồn vững chắc, hay nói trắng ra là hình như đã phản bội lại xương máu của chiến sĩ tại mặt trận nầy để rồi dẫn đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. 
       
II – Chiến trường Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975; Mặt trận phi trường Phụng Dực-căn cứ B50 - Lặng lẽ bỏ rơi

     Thưa quý vị, Luchiep là danh hiệu của chức vụ Sĩ quan truyền tin Tiểu đoàn 231 Pháo Binh, đơn vị của Luchiep đóng tại phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột năm 1975, Phi trường Phụng Dực là một vùng ven đô của Thị trấn Ban Mê Thuột vào khoảng 7 cây số về hướng Đông của thành phố, cạnh phi trường Phụng Dực là căn cứ B50, một căn cứ quân sự do quân đội Hoa Kỳ xây dựng và trú đóng rất kiên cố trước đây. Sau khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam theo tinh thần Hiệp định Paris ngày 27/3/1975, căn cứ B50 được Trung đoàn 53 xử dụng làm hậu cứ.
     Khi chiến cuộc bùng nổ năm 1975, tại căn cứ B50 là Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 53 và một Tiểu đoàn quân trú đóng phòng thủ, đó là Tiểu đoàn 3 của trung đoàn. Đây là một tiền đồn vững chắc, đơn vị nầy đã giữ vững căn cứ suốt 7 ngày đêm và đang ở thế thượng phong của trận đánh. Thế nhưng cấp trên đã bỏ rơi và các chiến sĩ tham dự tại mặt trận đã phải vượt núi rừng trên 100 cây số trong tình trạng hoàn toàn không có lương thực để tìm về vùng đất mẹ; Luchiep là một trong số những người còn may mắn sống sót trong trận đánh nầy, tác giả viết lại một hồi ký rất thật trung thực trong quyển sách “Đất Nước Chúng Ta Lỡ Bỏ Rơi”.
     Thưa quý vị, mọi người trong chúng ta đâu có ai muốn bỏ rơi đất nước; nó là quê hương, là máu thịt, là nơi chôn nhau cắt rún khi mới lọt lòng; thế nhưng, đất nước của chúng ta đã lọt vào tay Cộng sản từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, đây là một sự kiện tối hệ trọng của dân tộc Việt Nam mà mọi người trong chúng ta không thể bỏ qua, không thể thờ ơ lãnh đạm, dù có trực tiếp trong cuộc chiến tranh hay không; chính vì vậy, là một chứng nhân tham dự trực tiếp tại mặt trận, tôi cảm thấy đau nhói trong lòng khi nghĩ lại tại sao cấp trên lại bỏ rơi đơn vị của chúng tôi. Chúng tôi chưa hề thua cuộc, chúng tôi đang ở thế thượng phong của trận đánh, suốt 7 ngày đêm chưa một lần bị bễ tuyến phòng thủ, chúng tôi đã triệt hạ và tịch thâu đại bác của địch (2 khẩu Sơn Pháo 85 ly nòng dài và 2 chiếc Molotova) từ bên ngoài căn cứ và đã kéo tất cả vào bên trong căn cứ, lính của phe ta đỗ xô đi xem như xem hát. Thật không thể hiểu nỗi tại sao cấp trên lại bỏ rơi vào sáng ngày 17 tháng 3 năm 1975 mà không giữ lại tiền đồn nầy để rồi từ đó làm bàn đạp tái chiếm lại Thị xã Ban Mê Thuột?
     Rất tiếc và rất đau lòng, đau lòng lắm khi nhận ra cấp trên đã phản bội, đây không phải là một sự bội ước đơn thuần mà đây chính là sự phản bội lại xương máu của chiến sĩ ngoài mặt trận!
     Là một Sĩ Quan Truyền Tin kiêm An Ninh đơn vị của Tiểu Đoàn 231 Pháo Binh đóng tại phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột. Khi ấy tác giả là một Sĩ quan trẻ, độc thân, lòng đầy nhiệt quyết, tác giả đã trực tiếp nhận tin từ phòng An Ninh Sư Đoàn 23/BB vào xế chiều ngày 9 tháng 3 năm 1975 “Đêm nay VC tấncông” là một quân nhân cấp bậc nhỏ xíu trong quân đội, tác giả còn biết được mật tin “Đêm nay VC tấn công”, huống hồ các cấp chỉ huy Tá, Tướng tôi thiết nghĩ rằng quý vị còn hiểu hơn tôi nhiều lắm; VC tấn công Ban Mê Thuột chúng ta hoàn toàn không bị bất ngờ. Chính vì vậy, ngay đêm hôm ấy theo lệnh Thiếu tá Đào Đắc Đạo Tiểu Đoàn Trưởng 231/PB, Trung úy Nguyễn Cửu Hoạt và tác giả quyển sách, cả 3 người đã vào ứng chiến trong căn cứ B50 để sẳn sàng đối phó theo tin tình báo đêm đó VC sẽ tấn công (Căn cứ B50 nằm cạnh Tiểu đoàn 231/PB tại phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột).
     Không sai, vào khoảng 3 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975. Một tiếng nổ vang rền giữa núi rừng Cao Nguyên, VC đã khai hỏa tấn công nhiều nơi tại Thị xã Ban Mê Thuột; tại căn cứ B50 chúng tôi đã sát cánh với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 53/BB trong nhiệm vụ Phối Hợp Hỏa Lực tại Trung Tâm Hành Quân của Trung Đoàn và cuộc chiến bắt đầu.
     Đây là một trận đánh vô cùng ác liệt, phe ta đã tổn thất khá nặng nề; tuy nhiên suốt bảy ngày đêm chiến đấu, VC chưa một lần đánh bễ tuyến phòng thủ của Trung đoàn 53/BB, mà trái lại vào khoảng ngày thứ năm của trận đánh, QLVNCH đã triệt hạ 2 khẩu Sơn Pháo 85 ly nòng dài, cùng hai chiếc Molotova kéo đại bác của VC, từ bên ngoài vòng tuyến, bằng đại bác 105 ly của phe ta, chính Thiếu tá Đạo là người điều chỉnh và Trung uý Luông tác xạ đã triệt hạ 2 khẩu pháo nầy. Ngay sau đó Trung tá Võ Ân ra lệnh phá vòng vây của địch và đem M113, chi đội phòng thủ Trung đoàn ra tận nơi kéo tất cả vào vị trí của căn cứ cả hai xe Molotova và hai khẩu đại bác của Cộng quân, khi ấy địch đã bỏ chạy vào rừng.
     Đây là một chiến công vẽ vang chưa từng có của lịch sử Trung đoàn 53, các quân nhân đang đánh nhau tại phòng tuyến thay phiên nhau đi xem đại bác VC như xem hát; đây là sự thật 100%, tôi khẳng định điều nầy; hiện nay ngoài tôi ra còn có một số cựu quân nhân hiện sống tại Hoa Kỳ, quý vị có thể xác minh một cách rỏ ràng về điều đó. Xét như vậy thì vào lúc bấy giờ tại mặt trận nầy phe ta đang ở thế thượng phong, cho dù địch đang bao vây; chính tôi cũng có mặt trên chiếc Molotova kéo khẩu Sơn pháo nầy, và chính tôi cũng có lấy một số lương khô của Trung Cộng trên xe ăn thử, nó ngọt ngọt mặn mặn được ép từng bánh vào khoảng 2 ngón tay. Bên cạnh đó tôi còn đọc được một tài liệu trong mấy quyển sách nhỏ lấy được trên xe Molotova về đặc tính kỷ thuật của Pháo binh địch “Một vòng tròn chia thành 6200 ly giác trong khi chúng ta đang sử dụng kỷ thuật một vòng tròn là 6400 ly giác”; tôi nói điều nầy để chứng tỏ đây là một sự thật mà đã trên 40 năm chưa có ai tiết lộ.
     Lúc bấy giờ chính Trung tá Võ Ân Trung đoàn trưởng 53 có ý định kéo quân ra tái chiếm lại Thị Xã Ban Mê Thuột, thế nhưng phe ta chỉ có một Tiểu đoàn quân, trong khi quân số địch hoàn toàn áp đảo, nếu phân tán như thế sợ rằng không bảo toàn được đơn vị đang ở thế thượng phong, vì vậy Trung tá Võ Ân và toàn thể Sĩ quan trong TOC lúc bấy giờ đang nóng lòng chờ đợi quân tiếp viện theo lời Tướng Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II đã nói với Trung tá Võ Ân vào ngày 12 tháng 3 năm 1975, khi ông đang bay trên vùng trời Ban Mê Thuột; thế nhưng sự chờ đợi đã hoàn toàn vô vọng suốt 7 ngày đêm.
      Chúng tôi cũng nhận được tin Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang trên đường vào tiếp viện, ngay những ngày đầu của trận đánh, nhưng chờ mãi vẫn không thấy, cuối cùng hay tin Tư lệnh Sư Đoàn 23/ BB Chuẩn Tướng Lê Trung Tường điều động Liên đoàn 21 Biệt Động Quân giữ an ninh bãi đáp và đã cho trực thăng đáp xuống bóc gia đình của ông ấy mà chẳng đếm xỉa gì đến chúng tôi cũng như sự tái chiếm Ban Mê Thuột, Trung Tá Võ Ân lúc đó đã quá tức giận đành phải chửi thề “Đu mệ nó đemtrực thăng chở vợ con nó đi hết rồi” (Trung tá Võ Ân người Huế).

     Ngày 12/3/1975 Tướng Phú bay trên vùng trời Ban Mê Thuột, trong cuộc điện đàm với Trung tá Võ Ân đã cho biết quân tăng viện Trung đoàn 45 đổ xuống Phước An, chúng tôi hy vọng tràn trề. Chờ đợi mãi vẫn không thấy, đại úy Thư ban 3 Trung đoàn theo lệnhTrung tá Võ Ân liên lạc vớiTướng Tường Tư Lệnh mặt trận Ban Mê Thuột lúc bấy giờ và được trả lời “Trung đoàn 45 chỉ còn cách bạn 4 cây số rưởi”; thế nhưng đã nhiều lần cố gọi máy, nhưng chúng tôi không bắt được liên lạc Trung đoàn 45/BB. Nghi ngờ lời nói của Tướng Tường không đúng và để kiểm chứng sự thật, chúng tôi báo với Tướng Tường địch đang pháo kích chúng tôi rất nặng, xin được phản pháo tự do trong vòng bán kính 5 cây số được không?, không một chút suy nghĩ Lê TrungTường trả lời ngay tức khắc “Phản pháo đi.” Như vậy rỏ ràng trong vòng bán kính 5 cây số không có bất kỳ một đơn vị bạn nào cả, chuyện Trung đoàn 45 cách chúng tôi 4 cây số rưởi chỉ là nói dối. Trung Tá Võ Ân lại một lần nữa chửi thề “Đu mệ nó gạt mình lần nữa”.
     Từ những dữ kiện bên trên, chính xác Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tư Lệnh Sư đoàn 23/BB quá tệ, vì hèn nhát hoặc vì một động cơ nào đó, chính ông đã bỏ rơi mặt trận phi trường Phụng Dực – căn cứ B50 trong những ngày đầu của trận đánh. Rồi sau đó ngày 15/3/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Tướng Phú rút bỏ Phước An, thế mà Phước An nằm bên dưới Ban Mê Thuột, như vậy coi như Ban Mê Thuột đã đi vào quên lãng của mọi cấp chỉ huy từ lúc ấy. Lặng lẽ bỏ rơi!
Ngày thứ nhất của trận đánh 10/3/1975
     Trở lại trận đánh xảy ra vào đêm 9 rạng 10 tháng 3 năm 1975 vào lúc khoảng 3 giờ sáng, một tiếng nổ kinh hồn giữa núi rừng cao nguyên “Ầm” tất cả chúng tôi bật dậy.
     Tại căn cứ B50 và phi trường Phụng Dực nơi đóng quânTiểu đoàn 231Pháo Binh; đặc công VC đã lọt vào vị trí, những tiếng bê ta, lựu đạn “Oành-oành”, những loạt đạn của súng trường M16 và AK47 của ta và địch nổ liên hồi “bằng-bằng-bằng, tạch-tạch-tạch”, những đóm lửa chớp nháng bập bùng của pháo địch rót vào vị trí của chúng tôi liên tục; tuy nhiên, quân phòng thủ của chúng ta đã chống trả lãnh liệt; sáng ngày hôm sau phe ta đã hoàn toàn kiểm soát cả hai vị trí phi trường Phụng Dực và căn cứ B50, đặc công địch một số chết, một số vượt qua hàng rào phòng thủ trở ra rừng, nhiều xác chết nằm phơi trên hàng rào kẽm gai “concertina”. Kể từ giây phút ấy phe ta hoàn toàn chủ động trên mặt trận cho đến ngày 17 tháng 3 năm 1975 phải rời bỏ căn cứ, sau khi nhận được tin chính thức từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.
     Tất nhiên trong cuộc chạm trán đầu tiên cả 2 bên đều có chết và bị thương, riêng tại Tiểu đoàn 231/PB trong ngày đầu có 6 Sĩ quan tham mưu tử trận, trong đó có Thiếu tá Trần Đạt Khải Tiểu đoàn phó 231/PB, Trung úy Trần văn Tiềm sĩ quan quân xa, Trung úy Lưu đức Thành phụ tá ban 3, Trung úy Nguyễn đăng Bình xử lý thường vụ Pháo đội trưởng chỉ huy, Trung úy Tân và Thiếu úy Ân; sáu vị sĩ quan nầy chính tôi đã chuyển công điện về Bộ Chỉ Huy Pháo Binh ở Saigòn ngay sau đó và tất cả họ đã được chôn cất ngay trong vị trí của đơn vị nằm cạnh phi trường Phụng Dực ngày hôm sau trong tình hình đang đánh nhau.
     Tại căn cứ B50 Trung tá Võ Ân Trung đoàn trưởng bị ù tai quéo tóc vì một quả bê ta của đặc công ném gần miệng hầm trong đêm đầu tiên, tuy nhiên chỉ sơ sài thôi, ông vẫn còn đủ khả năng chỉ huy suốt 7 ngày đêm.
Ngày thứ hai của trận đánh 11/3/1975
     Địch pháo kích đủ các loại pháo từ đại bác 130 ly, Hỏa tiển 122 ly và tấn công liên tục bằng xe tăng T54 vào căn cứ, thế nhưng chẳng lung lai tuyến phòng thủ của phe ta. Trung tá Ân thành lập ngay một toán chống tăng di động, toàn bộ là những chiến sĩ trẻ tình nguyện, Trung sĩ Kết ban 3 làm trưởng toán chống tăng, họ di chuyển vòng quanh tuyến phòng thủ và trang bị hỏa tiển cầm tay M72 và XM 202 (loại 4 nòng chuyên dùng chống tăng). Mỗi lần xe tăng T54 địch xuất hiện bất kỳ ở tuyến phòng thủ nào, họ được báo động và đã dũng cảm bò đến đúng vị trí, phục kích sẳn sàng chờ đợi; khi T54 lú đầu xuất hiện lập tức ăn đôi ba quả cùng một lúc.
     Thưa quý vị, sắt nào mà không cháy khi trúng phải Hỏa tiển M72 của Mỹ; trong lúc phe ta đang reo hò vang dội thì bộ binh VC núp phía sau xe tăng chạy như một bầy vịt tháo lui trở vào rừng; lúc bấy giờ súng trường M16 và đại liên M60 có dịp lập công, sung nổ vang rền (bằng-bằng-bằng-bằng, còng-còng-còng-còng), chiến trường thật sự như đang xem xinê trong rạp Rex ở Saigòn trước năm 1975.
     Trong khi ấy, trên vòm trời Ban Mê Thuột, phi cơ L19 lượn vòng quanh, đây là phi cơ quan sát; một giọng nói rè rè phát ra từ cái loa khuếch đại của chiếc máy liên lạc PRC25 tại Trung Tâm Hành Quân:

  • Phi cơ L19: “Chúng tôi phát hiện 1 con cua sắt của “Vịt con” đậu trước cửa Ty Ngân Khố của Thị xã làm thịt được không bạn?”
  • Đại úy Thư ban 3 Trung đoàn: “Không trở ngại phe ta làm đi bạn”
Mấy phút sau những phản lực cơ A 37 gầm lên rồi những tiếng nổ vang rền “ì-ì”
  • Phi cơ L19: “Tôi xơi tái nó rồi bạn ơi”
     Tại Thị xã Ban Mê Thuột, tình hình lúc bấy giờ rất căng thẳng, theo hồi ký “Nhìn lại Trận Đánh Ban Mê Thuột” trong chương “Những giây phút cuối cùng của Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23/BB của Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng tỉnh Darlac được ghi nhận như sau:
     Trích dẫn: “Những giây phút cuối cùng của Bộ Tư lệnh SD 23 BB”
     “Khoảng 10 giờ sáng, tiếng pháo địch im tiếng. Nếu ai đã ở trong binh nghiệp thì đều hiểu rõ tâm trạng của những phút giây im lặng này. Nó hoang mang và lo sợ hơn nhiều khi bên tai mình có tiếng súng nổ. Người ta cho là say súng. Mà thật vậy, khi đã làm quen với chiến trận, việc nghe thấy tiếng nổ làm mọi người quên chính mình và chỉ còn một cách duy nhất là chiến đấu. Chiến đấu để sống còn và ít ai còn để ý đến thần chết đang lảng vảng quanh mình. Tôi lại nhảy lên pháo tháp quan sát và thấy những chiếc xe đang chuyển bánh. Tôi nhảy vội xuống và la lớn:”Sẵn sàng ứng chiến!”. Tôi dứng cạnh trưởng xa va căn dặn chỉ được bắn khi chúng tới gần 100 m nhé. Các anh em đều răm rắp tuân lệnh theo và chờ đợi khúc phim nghẹt thở bắt đầu.
     Chiến xa địch đầu chầm chậm tiến thẳng vào chiết vận xa M113. May mà ngụy trang khéo léo nên chúng không thấy. Tôi mừng quá và nói thầm trong bụng:”Mày sẽ chết con ạ”... Khói đen từ ống thoát phun ra mù mịt, chiến xa T54 địch, chiếc đầu chầm chậm tiến vào. Chúng vẫn chưa biết có chiếc M113 đang chờ đón nó vào cửa tử, vì được ngụy trang kỹ càng như đã nói trên.
     Tiếng máy kêu ầm và các chiến xa đâm thẳng vào cổng Bộ Tư lệnh. Những con cua sắt ì ạch tiến gần cổng 250m, rồi 200m, rồi 100m. Thần kinh tôi như giãn ra. Tất cả anh em chúng tôi hồi hộp, giờ sinh tử bắt đầu. Tôi hét lớn “Bắn!”. Thay vì chúng tôi phải nghe tiếng nổ thật lớn của viên đạn vút ra khỏi nòng súng, thì trái lại cây súng chỉ cho chúng tôi một tiếng khô khan, lãng xẹc:”Cóc!”.

     Trong khi mắt mọi người và tôi dán chặt vào những con cua sắt. Tôi gào lên:
-Gì thế! Gìthế!
Xạ thủ trả lời:
-Trở ngại tác xạ, Đại tá!
-Mở “culasse” ra xem?
-Trình Đại tá, “Percuteur” bị gẫy!
-Có “percuteur” thay thế không?
- Thưa... không!
     Tiếng “thưa không” làm tôi toát mồ hôi, vì đây là hy vọng cuối cùng cho sự cầm cự với Cộng quân để chờ viện binh tới. Cây súng đại bác 106 ly không giựt này là phương tiện duy nhất chống trả với T54 của địch mà thôị Các loại súng khác chỉ là trò đùa với những con cua sắt này.
     Bây giờ tiêu diệt chiến xa địch bằng phương tiện gì đây? Tôi biết tôi phải rất bình tĩnh mới cứu được anh em và chính mình. À phải rồi, chúng ta còn oanh tạc cơ đang bay lượn trên không. Những chiếc phản lực cơ A37 sẽ xơi tái chúng một cách dễ dàng. Cũng nên biết từ ngày hôm qua cho đến sáng nay, phi cơ của ta chỉ có thể thả bom ở các mục tiêu xa ở ngoài thị xã. Trong thị xã còn 50,000 thường dân chưa được di tản, vì vậy tôi đã trình với Tướng Phú về việc này và ông đã chấp nhận không oanh tạc vào khu đông dân cự Cũng cần ghi nhận, từ trước tới giờ, chưa bao giờ thị xã bị pháo kich của CS hoặc tấn công nên không gia đình nào có hầm trú ẩn... Nay thì chiến xa địch đã lọt vào thị xã thì các oanh tạc cơ cũng không có cơ hội nhào xuống thấp để đánh trúng mục tiêu vì phòng không của Cộng quân quá mạnh. Cứ mỗi lần máy bay quan sát L19 hay oanh tạc cơ bay thấp một chút là phòng không địch đã bắn lên trời như cảnh đốt pháo bông trong ngày Quốc Khánh.
     Tôi liên lạc ngay với L19 và nói chấp nhận sự nguy hiểm để dùng phản lực cơ dội bom thẳng vào các chiến xa đang tiến vào Bộ Tư Lịnh Sư đoàn 23 BB, và như vậy mới chặn đứng cuộc xung phong của CS. Trong lúc chờ đợi phi cơ làm thịt mấy con “cua sắt”, tôi đi lui đi tới kế cận các chiến sĩ đang ghì tay súng chống trả lại địch quân.
     Thình lình, mọi người nghe một tiếng nổ “ầm” thật khủng khiếp vang dội cả một góc trời. Cát, đá, bụi tung lên cao cả hàng trăm thước. Thôi hỡi ơi! Trung tâm Hành quân Sư đoàn (TOC), nơi đầu não Mặt trận Ban Mê Thuột để chống lại địch quân đã bị Không quân ta đánh trúng.
     TOC bị sập và các phương tiện truyền tin thiết trí trong đó đều tiêu tùng theo mây khói. Một số lớn sĩ quan, binh sĩ ở trong TOC bị chết và bị thương. Ai cũng biết, trong trận mạc, truyền tin là huyết mạch chính. Bây giờ không còn để liên lạc với cấp trên và thông tin cho cấp dưới nữa. Không một chút suy nghĩ, tôi chạy về phía sau TOC để bàn với Đại tá Quang. Tôi nói nhanh với Đại tá Quang nhận định của tôi:
     Chúng ta không thể cố thủ được nữa vì đầu não của chúng ta là Trung tâm hành quân nay đã sụp đổ. Không có truyền tin, không có chiến xa làm sao chận đứng những chiến xa T54 và bộ binh CS đang tiến vào căn cứ. Trong khi đó chúng ta không có viện binh. Tồi đề nghị chúng ta rút ra khỏi vị trí phòng thủ BTL Sư đoàn ngay để bảo toàn lưc lượng còn lại.
     Đại tá Quang đồng ý và ra lịnh rút quân. Chúng tôi vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” - cách BTL Sư đoàn 250m” (Hết trích).
     Theo Đại tá Luật, sau 10 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23/BB đã mất liên lạc. Đại tá Luật là một người can đảm phi thường, khi những chiếc xe tăng T54 của VC từ từ tiến về Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23/BB; chiếc tăng đầu chỉ còn cách 100 thước, Đại tá hét lớn “Bắn” nhưng súng bị trở ngại tác xạ.
     Trong hoàn cảnh đó mà Đại tá còn bình tỉnh liên lạc với phi cơ L19 cho phản lực A37 ném bom thật vĩ đại. Nếu tôi trong hoàn cảnh súng bị trở ngại tác xạ, chắc chắn tôi đã 3 chân 4 cẳng vọt ngay tức khắc; thật vậy, chạy bộ chưa chắc kịp vì ông đã hét lớn “Bắn” thế nào địch cũng phát hiện, trên xe tăng T54 có một khẩu không giật ghê lắm; tôi hình dung lại cái chết của Trung úy Tân Tiểu đoàn 231 Pháo Binh tại tuyến phòng thủ hướng Bắc của phi trường Phụng Dực ngày 10 tháng 3 năm 1975, Trung úy Tân, anh ấy đã hy sinh mà hình hài đã không còn nguyên vẹn, anh ấy đã lãnh nguyên một quả không giật nầy.
     Cũng trong thời gian nầy tại Trung Tâm Hành Quân Trung đoàn 53/BB, phi cơ L19 liên lạc với chúng tôi vì không còn liên lạc được với bất cứ một đơn vị nào dưới đất trong khu vực.
  • Phi cơ L19: “Có 2 con cua sắt của Vịt Con đậu trước cửa Bộ Tư Lệnh SD làm thịt được không bạn?”
  • Đại úy Thư ban 3 Trung đoàn: “Không trở ngại phe ta làm đi bạn”
  • Trung tá Võ Ân: “Ê coi chừng Đại tá Luật”
  • Đại úy Thư: Ổng dzu lu rồi”
Trong tít tắc hai tiếng nổ “Oành-oành”
  • Phi cơ L19: “Tôi xơi tái nó rồi bạn ơi”
Phi cơ L19 là nhịp cầu tiếp vận của đơn vị chúng tôi và Bộ tư lệnh Quân đoàn II lúc bấy giờ. Cũng trong ngày nầy phi cơ L19 đã tiếp vận cho tôi chuyển công điện tường trình 6 Sĩ quan tham mưu của Tiểu đoàn 231/PB đã tử thương tại phi trường Phụng Dực trong ngày đầu của trận đánh về Bộ Chỉ Huy Pháo Binh ở Saigòn. Trước tình hình nầy, theo Đại tá Luật có nghĩa là “quân thế cô thành vỡ”!   
     Trong khi đó cùng ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi ban Mê Thuột gọi là thất thủ. Có lẽ cấp trên đã mất liên lạc với Đại tá Nguyễn Trọng Luật và Đại tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh mặt trận Ban Mê Thuột lúc bấy giờ (trong lúc nầy phi cơ L19 vẫn bay lượn trên bầu trời Ban Mê Thuột, vì sao các ông không liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II qua sự tiếp vận của L19), tôi không thể hiểu …Phi cơ L19 là trạm tiếp vận của đơn vị chúng tôi với Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II liên tục cho đến ngày 17 tháng 3 năm 1975.
     Trong khi đó thì tại Dinh Độc Lập Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu họp mật đã quyết định cắt bỏ vùng I và vùng II Cao nguyên, chỉ giữ lại vùng III, vùng IV và một phần Bình nguyên của vùng I và vùng II, ông đặt tên là chiến lược “Đầu bé đít to”; trong buổi họp tại Dinh Độc lập có 3 vị Tướng thân cận nhất của ông là Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên và Trung Tướng Đặng Văn Quang; theo tài liệu quyển sách “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” của tác giả Nguyễn Tiến Hưng (Chương XVI Cứ Địa Cuối Cùng trang 445).
     Theo Nguyễn Tiến Hưng, chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH, đã quyết định cắt bỏ Cao Nguyên vì nguồn viện trợ từ Mỹ đã cắt giãm nên không đủ khả năng để phòng thủ toàn bộ lãnh thổ, vì vậy ông đã quyết định cắt bỏ vùng cao nguyên Trung phần, chỉ giữ lại vùng đất đông dân cư và trù phú, trong cuộc họp mật tại Dinh Độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1975, chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói lên điều nầy.
     Bên cạnh đó, ttheo web site YOUTUBE.COM truyện dài của Phạm Huấn kể về  “Cuộc Triệt Thoái Tây Nguyên 1975”, theo đó cuộc họp tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975 nhằm rút bỏ Pleiku và Kontum là điều mà Tổng Thống Thiệu đã tính từ trước.    
     Cuộc họp mật gồm có Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang và Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Nội dung cuộc họp chính Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho Tướng Phú bí mật rút toàn bộ quân chủ lực về Nha Trang để phòng thủ vùng Duyên hải; Phú xin ở lại tử thủ Pleiku nhưng Thiệu không cho. Lệnh nầy nhằm bỏ rơi toàn bộ dân quân vùng Cao nguyên cho Cộng sản, thật nhẩn tâm, dân quân VNCH là máu thịt của đất nước VNCH, vì sao ông Thiệu đang làm Tổng Thống lại nỡ bỏ rơi!
     Cuộc triệt thoái Tây nguyên đã làm tan tành vùng I và Vùng II chiến thuật, hủy diệt toàn bộ quân trang, quân dụng, luôn cả đạn đại bác tại sân bay Cù Hanh, Pleiku, thuộc Quân đoàn II trị giá không nhỏ, trong khi tình trạng đất nước đang cạn kiệt về viện trợ. Có phải chăng Tổng Thống Thiệu đã góp phần đáng kể trong việc làm tiêu hao lực lượng của QLVNCH rồi bỏ trốn ra nước ngoài để Dương Văn Minh sớm trao Tổ Quốc cho Cộng sản; thật đau lòng!
     Một đoạn khác Phạm Huấn viết về lệnh bỏ Phước An của Tổng Thống Thiệu ngày 15 tháng 3 năm 1975
Trích dẫn: “Tướng Phú lệnh cho Phạm Huấn mang trực thăng xuống Phước An truyền lệnh đến Chuẩn Tướng Lê Trung Tường rút bỏ Phước An theo lệnh của Tổng Thống Thiệu, mang quân về phòng thủ Khánh Dương càng sớm càng tốt” (Hết trích)
     Phước An nằm cách Thị xã Ban Mê Thuột vào khoảng 30 cây số đường chim bay về hướng Đông, nếu bỏ Phước An có nghĩa là đã bỏ Ban Mê từ trước đó rồi. Như vậy kể từ ngày 15/3/1975 Ban Mê Thuột coi như hoàn toàn đã đi vào quên lãng của mọi cấp chỉ huy trong QLVNCH; trong khi đó tại Mặt trận phi trường Phụng Dực- căn cứ B50, từ Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 53/BB Trung đoàn trưởng Võ Ân đến tất cả Sĩ quan tham mưu Thiếu tá Hiệp ban 3, Đại úy Thư ban 3, Đại úy Thu ban 2 và Sĩ quan phối hợp hỏa lực Pháo Binh Thiếu tá Đạo, Trung úy Hoạt và Luchiep, tất cả những người nầy vẫn hiện hửu; bên ngoài tuyến phòng thủ Thiếu tá Lai tiểu đoàn trưởng và toàn bộ chiến sĩ của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 53 vẫn kiên cường chiến đấu dù họ không được tiếp viện, họ chiến đấu trong đơn độc, dù vậy họ đang ở thế thượng phong của trận đánh. Thế thì tại sao các cấp lãnh đạo của chúng ta lại quên lãng đơn vị tiền đồn nầy? 
Họ cố ý hay vô tình? Vô tình thì không phải vì hằng ngày đều có phi cơ quan sát L19 lên vùng và chính phi cơ L19 là trạm tiếp vận thường xuyên của đơn vị chúng ta với Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II. Tóm lại chính Tổng Thống Thiệu đã bỏ rơi mặt trận phi trường Phụng Dực và căn cứ B50.
     Và sau đây là một đoạn trên Facebook của Hướng Việt Thẳng Tiến posts ngày 16 tháng 3 năm 2015.
     Trích dẫn: “Và câu chuyện tiếu lâm mà người tù nghe được là Tướng Lê Trung Tường Tư Lệnh Sư Đoàn 23/ BB xin không ra mặt trận nữa, Ông xin từ chức Tư Lệnh Sư Đoàn chỉ vì trên đường từ Chi Khu Khánh Dương về Nha Trang, trực thăng của ông bị cộng quân bắn tỉa, vào khoảng 2 giờ chiều ngày 16 tháng 3 năm 1975, ông bị thương nhẹ, nhưng đã vào Quân Y Viện Nha Trang điều trị, và lấy cớ này để xin từ chức với Tư Lệnh Quân Đoàn . Tướng Phú đã tá hỏa tam tinh tìm người thay thế, trong khi mặt trận Ban Mê Thuột còn trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng” (Hết trích)
     Bên cạnh đó một nguồn tin khác viết từ Phạm Huấn, một sĩ quan báo chí theo sát Tướng Phú Tư Lệnh Quân đoàn II trong những ngày nầy. Thiếu tá Phạm Huấn viết:
    Trích dẫn: “13 giờ ngày 16 tháng 3 năm 1975 Tướng Tường bị thương sơ sài ở cầu 31 và sau đó trực thăng chở về Quân y viện Nha Trang.
    14 giờ cùng ngày Tướng Phú bay lên chỉ huy Sư đoàn 23, gặp Tướng Tường, Tường hòa lên khóc như trẻ con: “Em chết mất Thiếu Tướng ơi! Thiếu Tướng thương em”
     Tướng Phú nạt TướngTường: “Làm Tướng không khóc, tôi muốn nghe tình hình, thật nhục nhã!” (Hết trích)
     Tệ thật, Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh tệ thật; hết ý kiến!
     Cũng theo tài liệu của Phạm Huấn trong đoạn kết Phạm Huấn viết:
     Trích dẫn: “Nhưng hôm nay, 17/03/1975, sẽ là ngày… dài nhất trong cuộc đời lính chiến của họ!
     7 giờ 40 sáng, khi rừng núi Cao Nguyên vẫn còn ngủ yên với những tầng sương mù phủ kín. Thì hàng trăm hàng ngàn đạn pháo của Bắc quân dội vào những chiến hào của Trung Đoàn 53 BB. Cỏ cây rạp xuống, những cột đất đỏ tung cao. Trận địa pháo kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng, tiếng hò reo như sóng vỡ của biển người. Và rồi tiếng gầm rú của hàng đoàn chiến xa T.54 trên khắp ngả tiến vào cày nát phi đạo phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột!
     Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân Đoàn II. Sư Đoàn 316 CSBV quyết “khai tử” Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH. Quyết nhổ đi “cái gai” cuối cùng của Mặt Trận Ban Mê Thuột, của Chiến Trưởng Cao Nguyên để mở đường tiến về Duyên Hải!
     8 giờ 30 sáng, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, vị Tướng lớn nhất của Quân Đội, gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về Mặt Trận Phi Trường Phụng Dực, và… số phận các Chiến Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh.
     Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những”Dũng Sĩ” tại mặt trận này! Nhưng Đại Tướng Viên chỉ được báo cáo, qua nguồn tin không chính xác, của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Hành Quân ở Phước An: Trung Đoàn 53 Bộ Binh đang bị đánh rất nặng, Bắc quân đã tràn ngập vị trí phòng thủ của họ! (Báo cáo láo)
     Đạn hết, lương thực hết, không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc để liên lạc, để… kêu cứu; những chiến sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh gục ngã từng người, từng tổ, từng Tiểu Đội trong những chiến hào cho đến người cuối cùng!
     11 giờ 30 sáng 17/03 Tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát không lưu của phi trường Phụng Dực và thu dọn chiến trường.
     Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những Dũng Sĩ của Trung Đoàn 53 Bộ Binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra… từng mảnh vụn và trộn lẫn vào đất đỏ của miền Cao Nguyên hùng vĩ!
     Ngày 17/03/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày bi tráng và đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống Cộng và giữ Nước, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II triệt thoái khỏi Cao Nguyên!
     Nhưng không! đó vẫn chưa phải là những giòng chữ cuối cùng viết về các Dũng Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh! Bởi vì, vẫn còn những anh hùng của QLVNCH mang phù hiệu cũa Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23 BB trên vai áo!
     Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm quân nhân của đơn vị này đả “về” được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc Lộ 21. Một tuần lễ sau nữa, ngày 24/03/1975, ba “người anh hùng” khác, sau 7 ngày 7 đêm vượt cả trăm cây số đường rừng núi “sống với cỏ cây, thiên nhiên”, từ Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt! Họ là những quân nhân bất tử của Trung Đoàn 53 Bộ Binh! Họ thật vĩ đại và thật phi thường!
     Và đó là một trong những huyền thoại của chiến tranh Việt Nam, trong những trận quyết tử Nam-Bắc sau cùng 1975”
(Hết trích)

     Đoạn nầy Phạm Huấn viết rất hay nhưng không đúng 100%. Là một Thiếu úy tham dự trực tiếp tại Trung Tâm Hành Quân Trung Đoàn 53/BB từ những giây phút đầu tiên cho đến những giây phút sau cùng, tôi có thể xác nhận rằng:
     Sáng ngày 17 tháng 3 năm 1975, khi phi cơ L19 lên vùng đã trực tiếp, tiếp vận cuộc nói chuyện của Trung tá Võ Ân với phòng 3 Bộ Tư lệnh Quân Đoàn II. Giới chức từ phòng 3 Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II nói chuyện với Nguyễn Huệ tức Trung tá Võ Ân: “………không có kinh kỳ hồng hà gì cho Nguyễn Huệ hết, Nguyễn Huệ tự liệu lấy” (Nguyễn Huệ là danh hiệu của Trung tá Võ Ân lúc bấy giờ); tôi nhấn mạnh vào thời điểm nầy phe ta vẫn đang ở thế thượng phong của mặt trận. Bên cạnh đó đài kiểm báo phi trường Phụng Dực đã bị sập rồi, còn đâu nữa mà VC cắm cờ trên đài kiểm báo không lưu, sai hoàn toàn, Phạm Huấn viết theo sự suy đoán thế thôi. Chính Trung tá Võ Ân cho lệnh triệt hạ đài kiểm báo không lưu, bởi vì VC đã chiếm đài kiểm báo từ ngày đầu của trận đánh, và đã đặt khẩu đại bác không giật trên đó, chính khẩu đại bác nầy đã bắn trực xạ vào vị trí Tiểu đoàn 231/PB làm toàn bộ chiến sĩ bị thương trong đêm đầu tiên tập trung về đây chờ tản thương chết sạch trong đó có Thiếu uý Ân. Chính vì vậy Thiếu tá Đạo Tiểu đoàn trưởng 231/PB lệnh cho chúng tôi san bằng đài kiểm báo nầy, và chính Trung uý Cổ Văn Phong, Sĩ quan tác xạ Pháo đội C đóng tại phi trường Phụng Dực đã trực xạ 2 quả san bằng đài kiểm báo không lưu, từ đó khẩu đại bác không giật của VC đã yên lặng.
     Trở lại sau cuộc điện đàm với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Trung tá VÕ Ân quay qua nói với chúng tôi: “Chúng nó bỏ mình rồi hè, thôi chuẩn bị đi”; sau một lúc chuẩn bị, lực lượng phe ta đánh bễ vòng vây địch và ra rừng.
     Trung Tâm Hành Quân Trung Đoàn 53/BB khi ấy vẫn còn nguyên vẹn, từ Trung tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Hiệp Trưởng Ban 3, Đại úy Thư Ban 3, Đại úy Thu Ban 2 và Pháo Binh gốm có Thiếu tá Đào Đắc Đạo, Tiểu đoàn trưởng 231/PB Trung úy Hoạt và tôi là Sĩ quan Phối Hợp Hỏa Lực của Trung Tâm Hành Quân; ngoài vòng tuyến Thiếu tá Võ Phước Lai, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 và toàn thể quân nhân tham chiến tại căn cứ B50, tất cả chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn đâu có ai chết hay bị thương gì đâu, một số chúng tôi vẫn còn liên lạc đến ngày hôm nay, dù đã hơn 40 năm trôi qua.
     Chúng tôi chiến đấu suốt 7 ngày đêm nhưng cấp trên đã bỏ rơi và sau khi ra rừng nhìn lại căn cứ, mọi người ai cũng đều rơi lệ, (Trung tá Võ Ân, Thiếu tá Đạo đôi mắt đỏ hoe), không một cá nhân nào có thể ngờ rằng cấp trên đã bỏ rơi!; vậy mà đây là một sự thật.
     Có phải đây là vở tuồng mở màn cho thảm kịch ngày 30 tháng 4 năm 1975 do đạo 
diễn Nguyễn Văn Thiệu và lon ton (nimble foot) Lê Trung Tường, chắc chắn thảm kịch phải còn có thêm chuyên viên âm thanh, ánh sáng như Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, hay Trung tướng Đặng Văn Quang và nhất là thành phần quảng cáo của những quân nhân có sẳn phương tiện trong tay vọt trước ngày 30/4/1975, giúp cho kép chánh Dương Văn Minh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trao trọn miền Nam VN cho Cộng sản Bắc Việt.
  
     Thế rồi từ đó chúng tôi vượt núi rừng trong tình trạng hoàn toàn không có lương thực, trong khi địch truy đuổi phía sau, chúng tôi phải phân tán ra nhiều toán nhỏ để tránh sự truy đuổi và tìm về vùng đất mẹ; nhóm của chúng tôi gồm 16 quân nhân, chúng tôi vượt núi rừng về Đà Lạt, sau 12 ngày đêm đói khát và bị phục kích đôi lần, cuối cùng Hạ sĩ Sắc, một quân nhân Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 53 và tôi về đến Đà Lạt ngày 29 tháng 3 năm 1975, Sắc đã bị thương nơi cánh tay phải, tôi may mắn hơn anh không bị trúng đạn trong lần phục kích sau cùng. Sắc theo tôi vào hậu cứ Tiểu đoàn 231/PB đóng trên đồi “Peak Robin”. Ngay sau đó Thiếu úy Hòa chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 231/PB và tôi đưa Hạ sĩ Sắc vào bệnh viện Đà Lạt để điều trị và chúng tôi chia tay nhau chiều hôm ấy; tôi trở về đơn vị tiếp tục trong nhiệm vụ mới. Kể từ khi chia tay đến nay tôi không có dịp gặp lại người chiến hửu năm xưa đã sát cánh với tôi 12 ngày đêm băng rừng vượt suối từ Ban Mê Thuột về Đà Lạt, nguyện cầu cho anh được bình yên!
     Gia đình chúng tôi đến Mỹ khá trễ, ngày 26 tháng 9 năm 1995 theo chương trình HO 36. Trong một dịp tình cờ tôi liên lạc được Thiếu tá Lai; tôi biết anh Lai từ lúc mới ra đơn vị, tôi đi đề lô và anh Lai là Tiểu đoàn trưởng, khi ấy anh còn mang cấp bậc Đại úy. Anh được trực thăng đưa vào vùng hành quân thay thế cho Thiếu tá Thạch trong cuộc hành quân vào đỉnh núi Pleimeron gần căn cứ Pleime năm 1972. Anh Lai hiện sống ở Bang Colorado; và mãi sau nầy được biết anh có quan hệ thân thiết với Trung tá Võ Ân cũng định cư tại Bang Colorado, bây giờ Trung tá Võ Ân đã trở thành người thiên cổ.
     Năm 1975 anh Lai là Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung đoàn 53/BB; đây là Tiểu đoàn duy nhất phòng thủ căn cứ B50, anh vừa tiếp nhận Tiểu Đoàn 3 khoảng 10 ngày thôi. Trước đó anh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 của Trung Đoàn 53, Tiểu đoàn của anh khi ấy đóng quân tại ngã ba Daksong, trên đường đi Quảng Đức. anh được lệnh bàn giao Tiểu đoàn 2 cho Đại úy Tiên, Tiểu đoàn phó lên thay và về căn cứ B50 chỉ huy Tiểu đoàn 3 thay thế cho Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn Tiểu Đoàn Trưởng, anh Nhẫn vừa lên Trung Tá và được cử đi làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23/BB.
     Tôi và anh Lai, anh Nhẫn biết nhau từ lúc mới ra đơn vị và tôi cũng thường đi đề lô với Tiểu Đoàn của anh Lai, anh Nhẫn thế nên chúng tôi quen thân với nhau, ngoài tình huynh đệ chi binh anh Lai còn xem tôi như người em, hiện tại chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau. Ngoài ra Đại úy Thư ban 3 của Trung Đoàn, nhân vật sát cánh với Trung tá Võ Ân trong suốt 7 ngày đêm chiến đấu tại căn cứ B50 chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên. Những người cố thủ tại căn cứ B50 ngày nào, chúng tôi quên làm sao được …, cái nổi đau tận cùng của những người lính chiến mà một thời trấn thủ Tây Nguyên đã bị cấp trên phản bội bỏ rơi!
     Thiếu tá Đạo và Trung úy Hoạt, Pháo thủ Tiểu đoàn 231/PB nghe đâu cũng ở Mỹ, nhưng chưa liên lạc được; bên cạnh đó Đại tá Trần Văn Chà là vị Trung Đoàn Trưởng 53, người tiền nhiệm trước khi Trung tá Võ Ân về thay, hiện sống tại Bang Kansas, ông là vị Trung đoàn trưởng trong khoảng thời gian Hiệp Định Paris ngừng bắn năm 1973. Trung tá Cao Mạnh Nhẫn, người tiền nhiệm Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 53, một thời giầy sô áo trận giẫm nát núi rừng Cao Nguyên, hôm nay đã trở thành Mục sư Hội Thánh Tin Lành Nguyên Thủy, cư ngụ tại Bang Oklahoma; tôi cũng không quên vị Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư đoàn 23, Trung tá Đặng Nguyên Phả, hiện sống ở Bang California, ông là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi trước khi Thiếu tá Đạo về nắm Tiểu đoàn trưởng 231/PB.
     Tất cả chúng tôi mỗi người sống một nơi nhưng liên lạc qua mail thường xuyên trong tình chiến hửu  như anh em vậy; tình huynh đệ chi binh ngày nào trên vùng Cao nguyên đất đỏ thật sự khắng khít làm sao; Kontum, Pleiku,Ban Mê Thuột nhớ lắm quê tôi một thời trấn giữ.

                                                                                         TÌNH BAN MÊ                                                                        (Thân gởi chiến hửu Sư đoàn 23)

                                                 Ban Mê mới thuở nào                         Chiến hửu giờ chốn nào
                                                 Chiến trường rộn binh đao                Tha hương lắm lao đao     
                                                 Quê em trời xanh thẳm                       Xuân về trên đất lạ
                                                 Huynh đệ mình thương nhau             Mây mù khuất núi cao
                                                 Rồi bốn mươi năm sau                        Đêm đêm thấy máu đào
                                                 Lưu lạc gặp lại nhau                            Tuôn chảy lúc binh đao
                                                 Tình cờ trên đất khách                        Bao phen lòng thổn thức
                                                 Huynh đệ lòng rạc rào                        Thức giấc còn nghẹn ngào
                                                                                     Thế đủ chưa Ban Mê
                                                                                     Sớm muộn ta cũng về
                                                                                     Thư nầy lưu luyến gởi
                                                                                     Tình ta cho Ban Mê


III – Cuộc triệt thoái Tây Nguyên Pleiku-Kontum - Bỏ rơi ngày 14/3/1975 
     Theo Phạm Huấn, một sĩ quan báo chí sát cánh Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II
    
1 - Cuộc họp tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975 tại Bạch Dinh gồm có Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao văn Viên và Trung Tướng Đặng Văn Quang; tổng cộng thời gian họp 117 phút gần 2 tiếng đồng hồ.
     Theo cuộc họp chính Tổng Thống Thiệu lệnh cho Tướng Phú phải triệt thoái toàn bộ quân chủ lực, xe tang, đại bác, phi cơ từ Kontum – Pleiku về phòng thủ Duyên hải; lệnh nầy phải giữ bí mật, từ cấpTỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng trở xuống không được tiết lộ. Cuộc họp được ghi nhận qua truyện kể về “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của Phạm Huấn như sau:
Ngày 14/3/1975 – Lúc 11:32 giờ, 5 Tướng bước vào phòng họp gồm có Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, cao Văn Viên, Đặng Văn Quang và Phạm Văn Phú.
  • Thiệu hỏi ngay: “Tình hình nặng lắm phải không Thiếu tướng Phú”
  • Tướng Phú đáp: “Thưa Tổng Thống nặng rất nặng” Thiếu tướng Phú đang trình bày …
  • Thiệu tiếp: “ Tôi muốn anh trình bày Ban Mê Thuột trước nhất và phải thật chính xác”
  • Phú trình bày: “Ngày 10/3/1975 Cộng quân tiến chiếm Ban Mê Thuột 2 Sư đoàn F10 và 320 và có cả Trung đoàn chiến xa, đại pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly, nhưng tin mới nhất Sư đoàn 316 cũng vào trận địa ngày hôm sau 11/3/1975.
  • Thiệu ngạc nhiên: “Thằng 316 cũng vào Ban Mê Thuột”
  • Phú quả quyết: “Sư 316 vào ngày thứ hai của trận đánh 11/3/1975”
  • Thiệu hỏi Viên: “Tôi nghe thằng 316 tháng trước còn ngoài Bắc”
  • Viên: “Dạ phải”
  • Phú: “316 vô Nam khoảng giữa tháng 2/1975 theo tù binh bắt được khai ra tại mặt trận phi trường Phụng Dực – căn cứ B50.
  • Thiệu: “Còn thằng F10 …”
  • Phú: “Nó kéo thẳng xuống Ban Mê Thuột”
  • Thiệu: “Anh định đối phó ra sao”
  • Phú: “Tôi quyết định bằng mọi giá đưa gia đình tử thủ Pleiku”
  • Thiệu: “Anh nghĩ sau Ban Mê Thuột nó đánh Pleiku”
  • Phú: “Tôi tin chắc như vậy”
  • Thiệu: “Nếu Cộng sản đánh Pleiku như Ban Mê Thuột với 2, 3 Sư đoàn liệu anh chịu nỏi không”
  • Phú: “Tôi quyết tử thủ Pleiku, nếu cấn tôi bỏ luôn Kontum, tôi tin sẽ giữ được Pleiku”
  • Thiệu nhìn đồng hồ lúc bấy giờ là 12:35 giờ. Thiệu trình bày viện trợ Mỹ giãm dần từ 2 tỷ xuống còn 1 tỷ, rồi dưới 1 tỷ trong khi Bắc Việt được viện trợ tăng gấp bội.
  • Thiệu: “Tôi muốn tái phối trí lại lực lượng”. Thiệu hỏi Phú: “Nếu anh được lệnh mang toàn bộ quân chủ lực, xe tăng, đại bác và không quân về phòng thủ duyên hải anh tổ chức cuộc triệt thoái ra sao”
  • Phú: “Thưa Tổng Thống cho tôi tử thủ Pleiku”
  • Thiệu: “Với quân số vũ khí hiện có liệu anh chiến đấu được bao nhiêu ngày với Cộng sản”
  • Phú: “Thưa Tổng Thống 40 tới 60 ngày”
  • Thiệu: “Rồi sao nữa”
  • Phú tiếp: “Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho đến khi không còn được tiếp tế súng đạn lương thực nữa”
  • Khiêm chen vào: “Anh Phú Tổng Thống đã quyết định”
  • Phú liều lĩnh nói giọng lớn hơn: “Thưa Tổng Thống, thưa quý vị Tướng lãnh, nếu rút quân năm nay thì một cuộc tấn công khác vào năm tới ở duyên hải và mất nước. Tôi và các chiến hửu của tôi có chết ở cao nguyên bây giờ cũng không khác gì chết ở saigòn năm tới”
  • Thiệu: “Tôi ra lệnh cho anh mang quân chủ lực, xe tăng , đại bác và không quân về phòng thủ duyên hải và tổ chức tái chiếm ban Mê Thuột”
  • Phú: “Thưa Tổng Thống như vậy không có nghĩa là rút bỏ cao nguyên, thưa Tổng Thống lệnh nầy từ cấp Tỉnh trưởng Tiểu khu trưởng không được biết, các lực lượng Địa Phương Quân các lực lượng hành chánh 3 Tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn vẫn tiếp tục làm việc như thường lệ”
  • Phú tiếp: “Thưa Tổng Thống nếu chủ lực quân, Thiết Giáp, Biệt Động Quân rút đi làm sao Địa Phương Quân chống đỡ khi CS đánh, hơn nữa 100 ngàn dân 2 tỉnh Pleiku và Kontum cùng gia đình anh em binh sĩ bị kẹt lại ….”
  • Thiệu: “Thì cho thằng CS số dân đó, với tình hình hiện tại mình phải lo phòng thủ giữ được vùng đông dân cư đất đai mầu mỡ đỡ hơn vùng cao nguyên”. Đây cũng là quyết định của Hội Đồng Tướng Lãnh, hôm qua tôi đã lệnh cho Tướng Trưởng ở Vùng I”
     Lệnh triệt thoái Cao nguyên coi như ban hành vào lúc 13:29 giờ ngày 14/3/1975; Có phải chăng vì không còn tiền viện trợ của Mỹ, Tổng Thống Thiệu đành cắt đất, bỏ dân cho giặc, đã thế còn tiêu hủy kho đạn đại bác tại Quân đoàn II Pleiku, rỏ ràng đây là một hành động phá tan tành thực lực; còn hành động nào tàn nhẫn hơn sự phản bội trắng trợn, khi những người dân nầy đã trừng bỏ phiếu bầu ông làm Tổng Thống, khi những người lính Địa Phương Quân Tây nguyên đã từng bảo vệ Tổ Quốc hay cho ai đây?, biết bao nhiêu trong số họ đã chết, vợ con họ đã mất chồng , mất cha trong cuộc chiến nầy!
         
          Tá Tướng như ông chẳng ích gì
           Non sông điêu đứng ngoãnh mặt đi
           Quân dân cả nước giờ ly biệt
           Giặc Bắc lan tràn khắp lối đi!
           Giặc Bắc lan tràn khắp lối đi!
           Vào Nam vơ vét chẳng còn chi
           Non sông xơ xác vì Cộng phỉ
           Tá Tướng như ông chẳng ích gì!
    
2 - Lệnh bỏ Phước An của Tổng Thống Thiệu ngày 15/3/1975

     Tổng Thống Thiệu vừa lệnh cho Tướng Phú tái chiếm Ban Mê Thuột ngày 14/3/1975 trong cuộc họp tại Cam Ranh, qua ngày hôm sau 15/3/1975 Thiệu lệnh cho Phú bỏ Phước An rút quân về phòng thủ Khánh Dương càng sớm càng tốt; được biết Phước An cách Thị xã Ban Mê Thuột vào khoảng 30 cây số về hướng Đông. Nếu rút bỏ Phước An có nghĩa là Ban Mê Thuột đã bỏ rơi từ lâu. Trong lúc nầy Bộ chỉ huyTrung đoàn 53/BB tại căn cứ B50 đang ở thế thượng phong của trận đánh, vừa tịch thu 2 khẩu Sơn Pháo 85 ly nòng dài của VC. Đau chưa! Toàn bộ Sĩ quan tham mưu trong TOC căn cứ B50 và 1 Tiểu đoàn quân chủ lực, chúng tôi chiến đấu với Cộng Sản từ ngày 10/3/1975 đến giờ phút nầy chưa hề nao núng, đây là một tiền đồn chủ lực, vì sao tất cả các cấp lãnh đạo lãng quên? Đã trên 40 năm trôi qua chưa một ai nhắc đến sự thật nầy, quý vị không biết hay cố tình lãng quên, nói rằng không biết thì vô lý vì chúng tôi vẫn liên lạc với Quân đoàn II mỗi khi L19 lên vùng cho đến trưa ngày 17/3/1975 và chúng tôi đã rời khỏi căn cứ B50 sau khi nhận được lệnh trực tiếp từ Quân đoàn II: “Không có kinh kỳ hồng hà gì cho Nguyễn Huệ hết, Nguyễn Huệ tự liệu lấy” (đây là original message).
    
3 - Cuộc rút quân bị thiệt hại nặng nề. (Theo Phạm Huấn):
  • Gây nên làn sóng di tản ồ ạt của quân dân từ vùng I và vùng II.
  • Cuộc di tản không còn kiểm soát nổi bởi lực lượng giữ an ninh của từng địa phương.
  • Hậu quả trong việc rút bỏ vùng I và vùng II đã làm tiêu tan phân nữa lãnh thổ của miền Nam lúc bấy gờ.
     Sự nhận xét của Phạm Huấn là hoàn toàn chính xác, chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trực tiếp góp phần làm sụp đỗ nhanh chóng QLVNCH.Thế rồi ngày 21/4/1975 ông tuyên bố từ chức có nghĩa là trốn tránh trách nhiệm trước tình hình Tổ Quốc đang lâm nguy, để rồi ngày 25/4/1975 trốn ra nước ngoài cùng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, phản bội lại chính lời nói của ông với đồng bào khi từ chức là sẽ ở lại chiến đấu cùng anh em binh sĩ; đã thế sau khi ra nước ngoài còn ngụy biện rằng, ra đi là để lo tìm đường cứu nguy cho dân tộc. Thật nhẫn tâm, đau lòng cho dân tộc Việt nam!
IV - Việt Nam Cộng Hòa - Bỏ rơi ngày 30/4/1975
    
     Dương văn Minh, Tổng Thống tạm thời Việt Nam Cộng Hòa, ông làm Tổng Thống chưa đầy 48 giờ đồng hồ vào thời điểm cuối tháng 4 năm 1975; ông đã tuyên bố trên đài phát thanh vào sáng ngày 30/4/1975 “Tất cả quân đội miền Nam ngưng bắn, ở đâu ở đó để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”, lời tuyên bố của ông quả là một sự bỏ rơi Tổ Quốc, phản bội trắng trợn lại xương máu của chiến sĩ, phản bội lại toàn dân Việt Nam. Tôi thật sự không còn từ ngữ nói về ông!
     Những sự kiện bên trên đã từng bước dẫn đến ngày 30/4/1975, ngày đất nước đã thật sự rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt, ngoài 2 nhân vật chủ yếu là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh, tập đoàn Tướng lãnh cao cấp Quân Lực VNCH và toàn thể quý vị đã bỏ đất nước ra đi trước giờ Dương Văn Minh tuyên bố. Tất cả các nhân tố trên đã góp phần trong việc mất nước, mà hậu quả trên 40 năm nay đã để lại cho toàn thể người dân Miền Nam vô cùng khổ sở; chúng ta có thể kể bắt đầu từ việc tập trung Sĩ Quan và Viên Chức Chánh Quyền của Miền Nam vào tù mà VC gọi là “Học tập cải tạo”, cho đến việc đánh tư sản rồi đổi tiền liên tục, bần cùng hóa nhân dân Miền Nam bằng thiều thủ đoạn, từ việc ép buộc người dân Saigòn đi vùng kinh tế mới cho đến tịch thu ruộng đất người dân ở miền quê và đưa vào hợp tác xã. Khắp nơi, ai ai cũng tìm đường vượt biên ra nước ngoài để trốn khỏi chế độ độc tài CS, trong số họ đã chết nhiều lắm dưới lòng biển Thái Bình, những ai may mắn còn sống sót đã phải sống cuộc đời lưu vong khắp nơi trên thế giới; Cộng Sản đã gây ra không biết bao nhiêu thảm cảnh cho dân tộc VN nói chung và Miền Nam VN sau ngày 30/4/1975 nói riêng, tôi ngậm ngùi không nói nên lời!


                                                                                                                                                                                                     Luchiep

                                                             TÌNH BAN MÊ
                                                                                                               (THÂN GỞI CHIẾN HỬU SƯ ĐOÀN 23)
 

Picture

                                                  Ban Mê mới thuở nào                                         
Chiến hửu giờ chốn nào
                                                  Chiến trường rộn binh đao                                Tha hương lắm lao đao
                                                  Quê em trời xanh thẳm                                       Xuân về trên đất lạ
                                                  Tình huynh đệ như nhau                                     Mây mù khuất núi cao    
                                                  Rồi bốn mươi năm sau                                        Đêm đêm thấy máu đào
                                                  Lưu lạc gặp lại nhau                                            Tuôn chảy lúc binh đao
                                                  Tình cờ trên đất khách                                        Bao phen lòng thổn thức
                                                  Huynh đệ lòng rạc rào                                        Thức giấc còn nghẹn ngào
                                                                                          Thế đủ chưa Ban Mê
                                                                                          Sớm muộn ta cũng về
                                                                                          Thư nầy lưu luyến gởi
                                                                                          Tình ta cho Ban Mê
 
                                                                                                                                                          Luchiep 2016

                                                                BUỒN ĐỜI   
                                                                                                                  (NỖI LÒNG NGƯỜI CHIẾN SĨ 23)

                                          Buồn đời viết tạm mấy vần thơ                            Quân dân hồn phách bay lững lơ
                                      Gởi đến non sông kẻo đợi chờ                              Bao năm chinh chiến bổng dại khờ
                                      Ban Mê chiến cuộc chưa hồi kết                            Bao nhiêu xương máu tan thành khói
                                      Sao nỡ lòng đành để bơ vơ                                   Giặc chiếm quê mình nay xác xơ
                             
                                      Sao nỡ lòng đành để bơ vơ                                   Giặc chiếm quê mình nay xác xơ       
                                      Suốt bảy ngày đêm mỏi mòn chờ                          Anh đi từ lúc sáng tinh mơ
                                      Bao nhiêu thời khắc bao xương máu                   Quân dân cả nước nào hay biết    
                                      Chiến đấu đêm ngày, anh thờ ơ                            Mọi người ngơ ngác, tỉnh hay mơ  

                                      Chiến đấu đêm ngày, anh thờ ơ                            Mọi người ngơ ngác, tỉnh hay mơ         
                                      Uổng công trông đợi, uổng công chờ                  Quê hương nặng trĩu áng mây mờ        
                                      Ban Mê chiến trận giờ phải đánh                          Chiến sĩ sa trường ghìm tay súng      
                                      Dẫu biết rằng, anh đã làm ngơ                              Chờ anh sát cánh, thật ngu ngơ       
                     
                                      Dẫu biết rằng, anh đã làm ngơ                              Chờ anh sát cánh, thật ngu ngơ                         
                                       Anh bỏ cao nguyên tự bao giờ                              Khói lửa chiến tranh vẫn mịt mờ                          
                                       Anh lệnh Quân Đoàn Tư Lệnh Phú                       Tin như sét đánh, danh hàng Tướng                        
                                       Rời bỏ vùng trời đang xanh lơ                               Mọi người rúng động tỉnh cơn mơ                     

                                       Rời bỏ vùng trời đang xanh lơ                                Mọi người rúng động tỉnh cơn mơ                            
                                       Sông Hương núi Ngự, cũng thẩn thờ                    Nối gót theo anh chẳng chần chờ
                                       Tướng Trưởng điên đầu anh có thấu                    Quê hương đành bỏ, ly hương tận
                                       Quân dân hồn phách bay lững lơ                           Miền đất xa xôi, sống nhuốc nhơ!

                                                                                                     
                                                                                                                                                                   Luchiep 2016
 

BÀI THƠ HỒI ĐÁP 

“Đất nước mình ngộ quá phải không anh”
của cô giáo Tran T. Lam


Nước mình ngộ quá, hết chiến tranh
Nhà tù lao xá mọc thật nhanh
Người người vượt biển tìm lẽ sống
 Vùì thây đất lạ cũng cam đành

Nước mình lạ quá hết chiến tranh
Bà mẹ anh hùng được vinh danh
Bao năm che dấu quân du kích
Bổng chốc, dân oan chốn thị thành

Nước mình buồn quá hết chiến tranh
Non cao biển cả giữa trời xanh
Ra khơi thấp thỏm bao tàu lạ
Ngư trường truyền thống đã tan tành

Nước mình thương quá hết chiến tranh
Sao nghe thoang thoảng mùi máu tanh
 Phảng phất đâu đây quân Tàu khựa
Cút đi, đừng để chúng lộng hành

Nước mình rồi sẽ về đâu anh
Tiếng cuốc não nùng suốt năm canh
 Chính là oan nghiệt hồn tử sĩ
 Vọng thấu trời xanh, ước nguyện thành

Hảy tin số kiếp dòng Lạc Việt
Muôn thuở còn ghi chép rành rành
                                                                               
                                                                                   April 30, 2016
                                                                         Luchiep

                                                               LẦM TƯỞNG

   

                                         Những tưởng ta là đấng trượng phu                   Năm tháng dần trôi nén hận thù
                                         Chung quanh tất cả mọi người ngu                      Nhưng đời nghiệt ngã lắm cái ngu
                                         Vênh vênh cặp mắt lươn ti hí                                Tự đắc luôn mồm xưng tá tướng
                                         Chễm chệ cho rằng ta phong lưu                          Chỉ tay năm ngón chốn sa trường

                                         Chễm chệ cho rằng ta phong lưu                          Chỉ tay năm ngón chốn sa trường
                                         Quên sao năm tháng chốn lao tù                           Đúng là đồ dzõm xạo hết phương
                                         Ai bỏ sơn hà đang nguy biến                                  Ăn bám dân sinh đồ rác rưởi
                                         Dìu dắt thê nhi trốn kẻ thù                                     Chính anh là kẻ đáng khinh thường

                                         Dìu dắt thê nhi trốn kẻ thù                                     Chính anh là kẻ đáng khinh thường
                                         Nay đà vĩnh viễn chốn thiên thu                            Về nhà rửa chén vợ con thương
                                         Chiến hửu năm xưa giờ ly biệt                              Sống cho hết kiếp đời ô nhục
                                         Năm tháng dần trôi nén hận thù                           Hậu thế may còn chút vấn vương!

                                                                                                                                                                   
                                                                                                                                                           Luchiep Tết 2016







                     

                                                                                                         
                                                                                            

    REFLECTION … BY BAN ME THUOT BATTLEFIELD MAP OF 1975

SECTION 1

I accidentally was born in the war-zone     
The enemy came to cause much pain
Ban Me, many people died, so deep in grief                       
Shelling all day and night, without mercy-on us            
Goodbye the beloved neighborhood                            
Away from hometown was very painful
Heaven decides my fate so must separate                       
Fortunately, my life did not wound 
  
Fortunately, my life did not wound                            
After overcoming a hail of fire full                                 
Nightly, I prayed to River and Mountain Spirits       
Conducts for me all the way to be peaceful              
Hunger and cold did not mind to me                       
Mountain River souls feel pity for me                           
One evening, I fainted in a wild banana forest            
Dreamed of a shining halo very beautiful  
                   
Dreamed of a shining halo very beautiful                     
Guanyin showed up, touched with pity                
Next morning an available rice bucket                  
Lying beside me so amazingly                       
The only sacred Mountain Spirits                                 
Brings to help me while piteously                          
I personally was born in combat                          
The heart still intact with my country
                               
                                                                                   Luchiep
Picture

       REFLECTION … BY BAN ME THUOT BATTLEFIELD MAP OF 1975

SECTION 2

Alone between the chasm mountains                
The soldier’s heart was transcendent                                
Regardless of how risky the danger                               
Protected me to be perfection                                       
Suddenly, a beast guy on the hillside                             
Ambushed me while I was an infant                                      
Bang-bang, bang-bang several gunshots               
This time may break-up mother with children 
             
This time may break-up mother with children               
Decide to survive by Black-Eagle Combatants           
Across the mountains that never were afraid                
They did not coward and heart was consistent            
Heavy on shoulders still holding the baby                     
Truly love he kept me for perfection                           
Da Lat pine hill in a sunny afternoon                        
Too much love hugged tightly a little infant 
                   
Too much love hugged tightly a little infant                  
As petite lover when passionately in love                   
How much danger now terminated                          
My heart still remained to my nation                      
Next time I would return to my mother’s town                          
Reconnect former country for implementation              
Ban Me although many years far away                        
I am still me, my heart was consistent
                                                                                             Luchiep
                                   
Picture

         REFLECTION … BY BAN ME THUOT BATTLEFIELD MAP OF 1975

SECTION 3

Time has elapsed remembering motherland          
Hiding behind the garden, I was an orphan              
Lying quietly stopped moving underground              
Languishing waiting when the sunset
Night by night breezed River Mountain Soul          
Float waving, freezing cold by lasting rain              
Such as separately sorrow plaintive soul                    
How much starlight how in my loving
                      
How much starlight how in my loving                       
He left since the early morning                                         
Throughout four autumns nowhere to be seen          
National birds cry all the nights be very sorrowing 
I was barely alive, despite the termites                              
Hollowing out all day and night so damaging             
In prison camps, he was a young soldier                    
By the youth’s mettle, he still was unyielding 
                        
By the youth’s mettle, he still was unyielding                     
He despised the severe suffering                      
Country had misfortune so separated                               
His life was endured with frost-icy winds                      
The former little girl has been tattered                               
Return day, he was pitiful and waning                
Many years immersed in prison camps                    
I willingly with him at all walk of living
                                                                                                       Luchiep
Picture

       REFLECTION … BY BAN ME THUOT BATTLEFIELD MAP OF 1975

SECTION 4

I willingly with him at all walk of living                  
It doesn’t mind even though the life suffering            
Suddenly, I got the bad news, my broken heart                  
Some brutal guys who shot him                               
On the way across the border to Cambodia                 
My heart was writhe in agony                            
Yet, it was a predestinate relationship                    
He still proudly remained disregarding  
                  
He still proudly remained disregarding                    
In jail 3 years for repayment really wonderful                
Accusingly for that, they called him “Treason”              
Heartbroken, his honor has been wounded            
Twenty years of living underground                         
I silently prayed all over welkin                              
For him to get off because of an abused case                     
Rather had wandered in exile living 
                        
Rather had wandered in exile living                          
Anywhere we also have the human love                      
Even know that leaving like separated                                    
Break up relative really heartbreaking                   
In the afternoon I am hidden in the baggage               
Follow suit with him across Pacific Ocean             
Living beside him for over forty years                         
Hope one day to restore my homeland

                                                                                   Luchiep               
Picture

REFLECTION … BY BAN ME THUOT BATTLEFIELD MAP OF 1975

CONCLUSION

Hope one day to restore my homeland          
Villages has ended in a tragic scene                      
People who behave in a kindness                              
He and I will revisit the native land                            
Burning some incense sticks for the war dead           
They risked one’s life for the homeland                   
The soul of war dead wafted doleful feeling              
Unjustness! Thousands of generations still involving
                                                                               Luchiep
                                                        
                  
Picture

VIVIAN DYER            
LITERATURE PROFESSOR

  • The thoughts and feelings of our people are embedded in the Ban Me Thuot map. We share the story for all to understand the hardships and losses that our country and people have endured during this war.
Picture


ĐOẠN TRƯỜNG   
(KÍNH TẶNG NGƯỜI HÙNG CHIẾN TRƯỜNG BAN MÊ THUỘT)
TRUNG TÁ VÕ ÂN, THIẾU TÁ Đ Đ Đ, THIẾU TÁ V P L
TẤT CẢ CHIẾN SĨ THAM DỰ MẶT TRẬN PHI TRƯỜNG PHỤNG DỰC-CĂN CỨ B50

-----------------------

Đoạn trường viết tạm mấy vần thơ                 
Gởi đến non sông dạ thẩn thờ                        
Ban Mê chiến cuộc chưa hồi kết                     
Sao nỡ lòng đành bỏ bơ vơ                            

Sao nỡ lòng đành bỏ bơ vơ                                     
Suốt bảy ngày đêm mỏi mòn chờ                    
Bao nhiêu thời khắc bao xương máu                   
Chiến đấu đêm ngày, anh thờ ơ                         

Chiến đấu đêm ngày, anh thờ ơ                                 
Uổng công trông đợi uổng công chờ                         
Chiến sĩ quên mình gìn giữ tuyến                           
Sao anh đành lặng lẽ làm ngơ                               

Sao anh đành lặng lẽ làm ngơ                                                   
Cao nguyên đất mẹ từ bao giờ                                                   
Nay lệnh Quân Đoàn Tư Lệnh Phú                                         
Rời bỏ vùng trời đang xanh lơ                                               

Rời bỏ vùng trời đang xanh lơ                                                      
Kontum Phú Bổn chết lặng tờ                         
Sinh mạng con người nào cây c ỏ                   
Quân dân hồn phách bay lững lơ                     
                                                                                   Luchiep    2016

Quân dân hồn phách bay lững lơ
Bao năm chinh chiến bổng dại khờ
Bao nhiêu xương máu tan thành khói
Giặc chiếm quê mình giờ xác xơ!

Giặc chiếm quê mình giờ xác xơ!       
Anh đi từ lúc sáng tinh mơ
Quân dân cả nước nào hay biết    
Mọi người ngơ ngác tỉnh như mơ  

Mọi người ngơ ngác tỉnh như mơ         
Quê hương nặng trĩu áng mây mờ        
Chiến sĩ sa trường ghìm tay súng      
Chờ anh sát cánh đúng trẻ thơ       

Chờ anh sát cánh đúng trẻ thơ                         
Khói lửa chiến tranh vẫn mịt mờ                          
Bổng tin sét đánh, Dương hàng Tướng                        
Trời đất quay cuồng, mặt láo lơ                     

Trời đất quay cuồng, mặt láo lơ                            
Trơ trẽn, nhẵn nhụi, chẳng nhuốc nhơ
Tổ quốc lâm nguy … bỏ trốn tận
Miền đất xa xôi. Cuộc đời nhơ!


                                       NHỚ QUÊ


                                                                                     Cái thuở di cư đến xứ người
                                                                                     Đêm về thao thức lệ tuôn rơi
                                                                                     Nước non cách trở muôn nghìn dặm
                                                                                     Nắm ruột chia lìa đành thế thôi!
                                                                                     Cảnh củ người xưa mất cả rồi
                                                                                     Quê hương yêu dấu vận nỗi trôi
                                                                                     Bao nhiêu xương máu bao chiến sĩ
                                                                                     Vung đắp tràn đầy đất nước tôi!



                                                                                                                         Luchiep231.com