Monday, September 14, 2026

 TRẬN ĐỖ XÁ ĐỢT 1 NĂM 1964.

… Trong những ngày cuối tháng 4, bộ tổng tham mưu QLVNCH ra lịnh cho trung tá Lê nguyên Khang thành lập một chiến đoàn gồm 2 TĐ và một pháo đội cho QĐ 2. Khi đó TQLC sẽ cùng các thành phần của sđ 2 và 25 VNCH để mở một tấn công gồm nhiều trung đoàn vào rừng núi hiểm trở ngay phía nam của ranh giới QĐ 1 và 2. Được đặt tên BẠCH PHƯỢNG 10, cuộc hành quân này nhầm xâm nhập vào Đỗ Xá, một căn cứ địa bất khả xâm phạm của CS. Căn cứ này nằm trên dãy Trường Sơn, tại một nơi mà 3 biên giới của 3 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngải, và Kontum gặp nhau, xem hình. Trước 1954, quân Pháp chưa bao giờ đến đây.

 

Các tù binh CS bị bắt vào đầu thập niên 1960 khai rằng các cán binh bắc VN đã đi qua Đỗ Xá trước khi đến những bình nguyên ven biển dân cư đông đúc thuộc các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Hơn nữa, khu vực này được cho là nơi đặt bộ tư lịnh (BTL) của quân khu 5 (QK-5).

Sau khi ra lịnh cấm trại đối với TĐ 2 và 4, một pháo đội sơn pháo, xem hình, 1 trung đội viễn thám, và một BCH nhẹ, Khang bay cùng với trung tá Moody tới Pleiku để bàn kế hoạch với thiếu tướng Nguyễn Khánh và BTM của QĐ 2. Theo kế hoạch, trực thăng của TQLC và lục quân Mỹ sẽ bốc bộ binh và pháo binh của VNCH để lập vòng đai bao vây khu vực tình nghi của căn cứ Đỗ Xá. Theo từng giai đoạn, các đv VNCH sẽ bắt đầu thu nhỏ vòng vây, sau đó (whereupon), đv TQLC sẽ được bốc vào khu vực tình nghi, để lục soát.

Ảnh: Sơn pháo 75 ly, tầm xa 8.8 km, tốc độ 6 viên phút, súng nặng 653 kg. Do Mỹ sản xuất, nhưng quân đội VM và CSBV cũng có (do TC chuyển giao cho VMCS sau khi chiếm được của quân Tưởng giới Thạch trước 1949).

Để kiểm soát toàn bộ chiến dịch, tướng Khánh sẽ lập BCH tiền phương tại Plateau GI, một làng Thượng, ở bờ nam của khu vực hành quân, ở 25 dặm đông bắc Kontum.

Ngày 1/5/1963, các C-123 của Không quân Mỹ chở 2.000 lính TQLC từ SG đến thị xã Quảng Ngải. Trung tá Moody và thiếu tá Croft, cố vấn phó và cố vấn pháo binh, đi theo TQLC. Ngày kế, một đoàn xe tải chở các TQLC này chạy khoảng 40 dặm về phía bắc tới Tam Kỳ, tỉnh lỵ của Quảng Tín. TĐ 2 TQLC, cố vấn bởi đại úy Taylor, xuống xe và tập họp ở phi đạo Tam Kỳ, trong khi phần còn lại của đoàn xe quay về phía tây, theo con đường đất chật hẹp vòng quanh các ngọn đồi để tiến sâu vào rừng núi Trường Sơn.

Ảnh: trực thăng H-21. Tốc độ đường trường 158 km/h, tối đa 204 km/h, tầm xa 426 km. Vỏ trang: 1 hay 2 khẩu 12.7 ly hay M-60. Chở 20 lính hay 12 băng ca.

Trong khi đó, các H-21, còn gọi là trực thăng “trái chuối”, xem hình, từ Pleiku đã đáp xuống Tam Kỳ, bốc các thành phần của TĐ 2, và đã bắt đầu trực thăng vận họ vào một bãi đáp hay LZ nằm cạnh một dòng suối, khoảng 30 dặm tây nam của tỉnh lỵ. Đoàn xe chở TQLC tiếp tục  chạy theo hướng tây nam cho tới khi gặp 1 tiền đồn nhỏ của vnch ở Trà My. Tại đây, khoảng 24 dặm tây nam của Tam Kỳ, Khang đã lập BCH trong một trường học kế cận một phi đạo thô sơ bằng đất nện. Pháo đội sơn pháo 75-ly, cố vấn bởi thiếu tá Croft, được đặt gần đấy trong khi trung đội viễn thám  và các thành phần của TĐ 4, cố vấn bởi đại úy Christensen, làm công tác an ninh. Sau đó, các trực thăng H-34 của TQLC mỹ từ Đà Nẳng chở một bong bóng đựng xăng (fuel bladder), xem hình, và máy bơm sân bay này. Một khi cuộc đổ quân của TĐ 2 hoàn tất, các H-21 của lục quân Mỹ, được nhận xăng từ các bồn chứa này, đã bắt đầu bốc TĐ 4 vào LZ của TĐ 2, ở vài dặm phía nam của Trà My.

Một khi hoạt động này đã hoàn tất, hai TĐ này bắt đầu lục soát một thung lũng sâu và những núi kế cận để kiếm các căn cứ địa CS. Sau vài ngày TQLC của Khang đã tìm được một căn cứ nhưng ko gặp bất cứ kháng cự nào khi tiến vào vị trí này. Lại một lần nữa, đối phương, có lẽ được cảnh báo trước đó bởi hoạt động của các đv VNCH, đã rút lui.  Quân ta chỉ bắt một y sĩ bắc VN và một y tá. Những ngày kế, sau khi lục soát những túp lều và hệ thống địa đạo, TQLC đã tìm thấy 1 kho tiếp liệu gồm vài súng, 6 máy đánh chữ, 3 máy may, một máy truyền tin, 44 bản đồ, một bảng tính bằng tiếng Pháp cho pháo binh, và nhiều pin cho đèn bấm.

 

Ảnh trên: Bong bóng đựng xăng; ảnh dưới: bong bóng chứa 10.000 gallon xăng, bốn phía là bao cát, chụp tại căn cứ Cửa Việt, Quảng Trị.

 

 SAN JOSE NGÀY 14 THÁNG 9 2026.

TÀI TRẦN

 

QUÂN PHÁP TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT THÁNG 11 NĂM 1945.

                           

ĐÂY LÀ MỘT XE RENAULT VIVA 4, MÀ CHỈ HUY CỦA VM TẠI ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ DÙNG. XE NÀY TRƯỚC ĐÓ CỦA CHỦ ĐỒN ĐIỀN CAO SU. QUÂN PHÁP NHỜ XE NÀY ĐÃ QUA MẶT CÁC TRẠM KIỂM SOÁT CỦA VM TRÊN ĐƯỜNG TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT. (C’est un véhicule identique à celui-ci (Renault Viva 4) que le chef régional viet-minh s’était approprié (sûrement en le prenant au propriétaire d’une plantation) et que la colonne a pu récupérer pour tromper les sentinelles des postes VM dans la dernière ligne vers Buôn Ma Thuột). 

LỜI NÓI ĐẦU:

Tưởng cũng nên nhắc lại: Tháng 9/1940, quân Nhật đã xâm chiếm phía bắc của Đông Dương sau khi nước Pháp rơi vào tay Đức Quốc Xã. Chánh quyền thuộc địa của Pháp tại Đông Dương (dưới thời Vichy) lúc đầu vẫn nắm quyền, nhưng cho phép quân Nhật hiện diện.

Tháng 7/1941, quân Nhật tiến vào phía nam Đông Dương, dùng khu vực này để làm bàn đạp tấn công Malaya, Singapore, và vùng Đông Ấn (Dutch East Indies).

Tháng 3/1945: Sợ rằng người Pháp sẽ nổi dậy khi chiến tranh trở nên thất lợi cho Nhật, họ đã làm đảo chánh Pháp, bắt giam các viên chức Pháp, và buộc các thủ lãnh địa phương phải tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật.

Tháng 8/1975, Nhật đầu hàng, tạo ra 1 khoảng trống quyền lực dẫn đến Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhứt. Lợi dụng tình hình này, VM đã dành chánh quyền tại Hà Nội và một số khu vực trên toàn quốc, bao gồm tại Nam Kỳ và Trung Kỳ. Sau đó, quân Pháp theo chân quân Anh, để tái chiếm Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ở Bắc Kỳ, quân của Trung Hoa Dân Quốc vào giải giới quân Nhật…

Sau là là phần chuyển ngữ.

Chú ý: Để tôn trọng nguyên bản, tôi xin giữ những danh xưng đã dùng trong bài viết.

“Trong khuôn khổ của việc người Pháp trở lại Nam Kỳ (Cochinchina), và Trung Kỳ (Annam), họ đã thực hiện các cuộc hành quân tảo thanh (lục soát) và bình định. (Nam Kỳ và Trung Kỳ, sau này được chúng ta gọi Nam phần và Trung phần – ND)

BẢN ĐỒ CỦA HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT (BMT).

 

Ngày 25/11/1945, đại đội A của Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) nhận lịnh phải tiến hành một hành quân xa 350-km vào Cao nguyên Trung Kỳ để bất ngờ chiếm Ban Mê Thuột.  (Nói thêm: Trung đoàn này là một đơn vị cảm tử hay thám kích thành lập tại An-giê-ri năm 1943 trong Đệ Nhị Thế chiến, lúc đầu có tên là Đoàn Can thiệp Cơ động (Corps Léger d’Intervention hay CLI) và được tái xử dụng (repurpose) để hoạt động tại Viễn Đông, và cuối cùng tái cấu trúc ngày 1/5/1945 ở Tích Lan, nay là Sri Lanka, với tên mới là Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) để giúp quân Pháp tái chiếm Đông Dương. (Trung đoàn này được thiết kế như 1 đơn vị bộ binh nhẹ, họ xử dụng chiến thuật du kích/thám sát, hoạt động sau phòng tuyến của đối phương, dựa trên những kinh nghiệm của các đơn vị đặc biệt của Đồng Minh như SAS của Anh, v.v… Đến Sài Gòn vào cuối 1945, họ đã chiến đấu từ Nam Kỳ đến Lào và bờ biển Trung Kỳ. Đơn vị này đã chính thức giải tán vào ngày 1/7/1946 tại Lào, với các cán bộ kinh nghiệm sau này trở thành nòng cốt của các TĐ Dù và thuộc địa của Pháp – ND).

ẢNH: HUY HIỆU CỦA TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA, TRƯỚC ĐÓ CÓ TÊN LÀ ĐOÀN CAN THIỆP CƠ ĐỘNG (CLI).

Đơn vị này đã đến sân bay Tân Sơn Nhứt ngày 12/9/1945, dưới quyền của đại úy Noirtin, bên cạnh là trung tá Rivier—một đại biểu quân sự lâm thời, từng phục vụ trước đây trong TĐ lính Thượng.

Nay chỉ huy bởi đại úy Lataste, đại đội (đ.đ.) được chia thành 3 trung đội chiến đấu và hai toán chỉ huy và võ khí nặng, bao gồm 8 sĩ quan (sq), 4 dự bị sq, 48 hạ sq, và 61 binh sĩ (bs). Họ được tăng cường bởi khoảng 30 người từ Trung đoàn 5 bộ binh thuộc địa và 1 nhóm các cựu tù binh Pháp, cũng như vài dân thường quen thuộc với địa thế trong vùng hành quân. Liên đoàn khinh chiến của sư đoàn 2 thiết giáp, viết tắt là GM/2e DB, đã cung cấp hai xe thiết giáp nhẹ M8 (Greyhound), xem hình, và 1 trung đội của trung đoàn 501 chiến xa, viết tắt là 501e RCC, cùng với xe tải như xe GMC hay xe Dodge 6x5; trong khi đó trung đoàn 5, lại trang bị bởi Sư đoàn 20 Ấn độ của thiếu tướng Anh quốc Douglas Gracey với các xe tải hiệu Chevrolet C MP 15-cwt do Canada sản xuất, xem hình. Toàn bộ lực lượng này dưới quyền chỉ huy của trung tá Rivier.

 

ẢNH CHIẾN XA M-8: Khi bị phục kích trên QL-19 năm 1954, chiến đoàn 100 của Pháp có xài chiến xa này, sản xuất từ 1942, có đại bác 37 ly (80 viên), 1 đại liên 12.7 ly 400 viên và 1 đại liên 7.62 ly 1.500 viên. Trong trận Đồng Xoài 1965, có 2 xe này bị VC chiếm, gây thương vong cho quân trú phòng, nhưng sau đó bị máy bay phá hủy.

ẢNH của chiến xa Cadillac V-100, sản xuất năm 1963, do chạy bánh nên được ĐPQ VNCH dùng để tuần tiểu các quốc lộ như QL-4 cho tới năm 1975. Trang bị 1 đại bác tự động 20 ly, 1 phóng lựu 40 ly, 1 đại liên 12.7 ly và một đại liên 7.62 ly.  

 

ẢNH TRÊN VÀ DƯỚI, XE TẢI CHEVROLET 15 CWT CMP DO CANADA SẢN XUẤT, TRƯỚC ĐÂY THUỘC SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ CỦA TƯỚNG GRACEY, NAY TRANG BỊ CHO TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA.

ẢNH XE DODGE 6X6 DO MỸ SẢN XUẤT GẶP TRỞ NGẠI.

ẢNH: TỚI TRẠI LE ROLLAND, TRÊN ĐẤT CAM-BỐT.

ẢNH: TỚI NGÃ BA TAM BIÊN.

ẢNH TRÊN: TRỤ ĐỊNH VỊ CỦA NGÃ BA BIÊN GIỚI,

CHỤP NĂM 1945, VÀ ẢNH DƯỚI, CHỤP BÂY GIỜ.

ẢNH: DO TỪNG TRANG BỊ CHO SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ, LÚC ĐÓ VẪN CÒN LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH, NÊN XE NÀY MANG CỜ ANH. ẤN ĐỘ ĐỘC LẬP NGÀY 15.8.1947.

ẢNH TRÊN: CẦU 14 HAY CẦU SÊ RÊ PÔC, GẦN BMT, CHỤP NĂM 1945, VÀ BÂY GIỜ, ẢNH DƯỚI.

ẢNH BẢNG HIỆU TRƯỚC BAN TÀI CHÁNH CỦA VM, Ở BMT.

ẢNH TRÊN: KHẨU ĐẠI LIÊN Ở SAU XE LÀ HOTCHKISS 1914; ẢNH DƯỚI, RÕ HƠN. (TRƯỚC NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP 9/3/1945, BMT VẪN CÒN DƯỚI QUYỀN CỦA PHÁP).

 

Lực lượng khởi hành ngày 27/11. Dự định sẽ đi qua Bù Đốp, trại Le Rolland (trên đất Cam-bốt), và đồn “Tam Biên”, xem bản đồ; các chướng ngại – như đường và cầu hư—ngày càng nhiều khi đi khỏi Bù Đốp (khiến phải tốn 36 giờ để sửa chữa sau vùng Tam Biên. Rất may cho quân Pháp khi họ đã chận bắt một viên chức địa phương của VM; và dùng xe của y (hiệu Renault Viva 4, xem hình) mà trước đó VM tịch thu của chủ đồn điền. Quân Pháp cho xe này chạy trước đoàn xe để đánh lừa và tiêu diệt từng chốt kiểm soát của VM. Chiến thuật này đã cho phép quân Pháp tới BMT mà không đánh động quân VM ở đó và gần như chiếm thị trấn này mà ko cần chiến đấu. Quân Pháp có sáu bị thương; trong đó có chuẩn úy Fabrège, sau này chết ở binh viện Grall hay Đồn Đất ở SG. Một số lớn súng đạn bị tịch thu, và khoảng 30 con tin Pháp được giải thoát.

Thay vì phát huy sự thành công này để làm suy yếu khả năng của VM tại địa phương, Rivier quyết định trở lại Bù Đốp ngày kế-- có lẽ do hiểu lầm lịnh của cấp trên—dù có phản đối của cấp dưới. Ngay khi tới Bù Đốp, ông lại nhận lịnh phải trở lại BMT; quân Pháp đã tái chiếm BMT ngày 5/12 sau khi bị phục kích nhiều lần—khi phải chiếm lại các trạm kiểm soát của VM trên đường từ Bù Đốp đến BMT. Họ cũng đụng độ dữ dội ngay trong thị xã. Tổn thất nặng hơn kỳ trước rất nhiều: 6 chết—trong đó quân y sĩ Nouaille-Degorce, thiếu úy Hérichier, và binh nhứt Geoffroy—và sáu biệt kích bị thương, gồm thiếu úy Icart, trung sĩ Guinet, và binh nhì Gross.

Tường trình của trung sĩ Pierre Guinet:  ”Đó là ngày 5/12/1945. Trung đội của Martin dẫn đầu. Xe thiết giáp đi cuối lần nữa bị hư. Khoảng trưa, khi sắp tới 2 km cuối cùng, súng tự động nổ vang. Quân phục kích, với quân đông đảo núp sâu trong rừng, tấn công những xe đi đầu. VM vô hình trong rừng rậm hai bên đường. Trung sĩ Aubert, ngồi kế tôi, bị trúng đạn vở đầu. Gross, thủ khẩu 12.7, bị trúng đạn ở cổ, trong khi chúng tôi phóng xuống đất giữa tiếng đạn rít (whin). Icart bị trúng ở đùi. Tôi trở lại xe tải và điều khiển khẩu 12.7. Giờ chỉ bắn từng phát 1. Aubert đã chết, Gross đang hấp hối, và máu khắp nơi”.  

 9

Chuyển ngữ bản tiếng Anh, dịch bằng Google Dịch từ nguyên bản bằng tiếng Pháp từ nguồn:

(4) Facebook

San Jose ngày 8 Aug 2026, cập nhật ngày 29/8/2026, và cập nhật lần 2 ngày 14/9/2026.

Tài Trần

 

TRẬN ĐÁNH TẠI QUẬN LỴ SẦM GIANG* TỈNH ĐỊNH TƯỜNG NĂM 1972.

·   Quận lỵ đặt tại xã Vĩnh Kim.

·   Từ ngày 8/7 đến đầu tháng 8/1972, máy bay B-52 ném bom 50 lần trong tỉnh Định Tường.

LỜI MỞ ĐẦU: Bài viết dưới đây chỉ mô tả một phần các hoạt động chính trị và quân sự của CS trong năm 1972 tại tỉnh Định Tường. Tác giả là George Elliott, một học giả người Mỹ, từng là một sq hải quân Mỹ, trước khi làm việc cho tổ chức RAND. Vợ ông tên Dương vân Mai, cũng làm cho RAND, có nhiệm vụ phỏng vấn các tù binh và hồi chánh viên trong chiến tranh VN.

Ảnh: cô Dương Vân Mai Elliott ti sân bay Cn Thơ, trên đường v nhà sau khi phng vn tù binh và đào ngũ VC, ảnh chp năm 1965.

 

Dưới đây là phần chuyển ngữ.

-      Khoảng năm 1971, một cán binh tên Nai nguyên là thành viên của đơn vị (đv) an ninh Miền, đóng dọc biên giới Cam-bốt, đã hồi chánh với quân VNCH sau khi y bị gửi đến một đv tác chiến và ko được phép cưới một phụ nữ -- đã bị cách mạng xem là một “thiên nga” (swan). (Đây là một đv gồm toàn phụ nữ thành thị được cảnh sát VNCH huấn luyện kỹ lưỡng và xâm nhập vào nhiều nơi, đặc biệt là nông thôn để thu lượm tin tức tình báo từ phe cs. Sau 75, một số đã bị bắt đi cải tạo lâu năm – ND).

Ảnh dưới: Bà Nguyễn Thanh Thủy (trái) cùng các nữ học viên Sĩ Quan Cảnh Sát thực tập tại bến cảng Sài Gòn năm 1966. Một số họ đã phục vụ trong Biệt đội Thiên Nga. Sau 75, bà đã đi tù 13 năm và định cư tại Mỹ.

 

Ảnh dưới: Bà được chọn đăng trên trang bìa của tạp chí ‘Thế giới Tự do”. Ảnh kế: trung tâm huấn luyện nữ Cảnh sát Quốc gia.

-     

Ảnh trên: thành hôn với ông Lê thành Trung.

Các ảnh dưới về xã Vĩnh Kim quận Sầm Giang tỉnh Định Tường.

Ảnh: Cầu này nằm kế BCH của chi khu Sầm Giang. Khoảng năm 1973-74, TĐ của tôi đã vượt cầu này và tiến quân về hướng tây dọc sông Sầm Giang, xem đường màu đỏ trên bản đồ bên dưới. Sau vài ngày hành quân, dựa vào đêm tối, chúng tôi tiến ra bờ sông, sau đó di chuyển về hướng đông bằng cách lội sình theo hàng một dọc theo bờ sông đầy sình lầy, (đường xanh dương trên bản đồ), có đoạn bị lún rất sâu, ko khác cảnh lính Mỹ của sư đoàn 9 bị mắc lầy, xem hình dưới. Sau đó chúng tôi dùng ghe vượt sông trong đêm tối. Và theo hương lộ 212, đường màu tím trên bản đồ, đi bộ về lại chi khu Sầm Giang, trong khi bị chúng bắn đuổi theo bằng cối 82 ly. 

Lính của đại đội B, TĐ 3 của sư đoàn 9 bộ binh Mỹ

nghỉ ngơi sau khi vất vả lội sình.

Một tàu chở lính, còn gọi là tàu Tango, đổ lính của

lữ đoàn 2 sđ 9 bộ binh tại châu thổ sông Cửu Long.

Đại bác để trên bè, dùng trong địa thế đầm lầy ở Vùng 4 Chiến thuật.

Căn cứ hỏa lực Nudgel bị tấn công ngày 18/11/67.

Trong bản đồ trên của tỉnh Định Tường, vẽ năm 1967 bởi Erik Villard: phần sọc đỏ do CS kiểm soát, vùng sọc vàng là vùng đang tranh chấp, và vùng còn lại do VNCH kiểm soát. Hai bản đồ dưới, vẽ về quận Sầm Giang và quận Châu Thành.

 

Cuộc tấn công của CS đã thành công trên ba phương diện. Thứ nhứt, nó đã giúp họ giành lại việc tiếp cận các căn cứ địa ở tỉnh Định Tường và Đồng Tháp Mười rất cần cho việc tập trung các đơn vị lớn. Thứ hai, nó đã phá vở phòng tuyến của QLVNCH từng ngăn cách vùng phía bắc của châu thổ sông Cửu Long với các căn cứ địa của cách mạng ở Cambodia. Thứ ba, nó đã hồi sinh phong trào chiến tranh du kích trong vùng châu thổ tới chỗ buộc các đơn vị quân chánh phủ (CP) như sđ 9 và 21 từng rút đi để tăng cường cho quân khu 3 nay phải trở lại quân khu 4. Một đánh giá sơ khởi của CIA vào cuối tháng 4/72 đã kết luận “Trong 1 thời gian ngắn, vùng châu thổ này đã đổi từ 1 khu vực an ninh và trù phú nhứt của đất nước thành một nguồn lo ngại (apprehension) của các cấp chỉ huy vnch. Đe dọa chánh cho chương trình bình định ở vùng châu thổ ko phải là các lực lượng nổi dậy VC, dù họ đã đột ngột đẩy mạnh những tấn công quấy rối, nhưng lại là những đơn vị chính quy csbv vừa di chuyển vào vùng châu thổ. Cán cân quân sự tại vùng châu thổ đã dịch chuyển ý nghĩa trong những tuần gần đây như là 1 kết quả của sự xâm nhập của hai trung đoàn csbv vào phía bắc của châu thổ, và của hai trung đoàn csbv tại Cambodia di chuyển vào vị trí ở phía tây của tỉnh Châu Đốc, cũng như sđ 21 vnch rút đi để bảo vệ An Lộc. Trước đây chỉ có sáu trung đoàn chính qui của cs tại vùng châu thổ -- bây giờ là mười sđ.

Trong những năm đầu của chiến tranh, lực lượng cách mạng đã yếu hơn nhiều so với lực lượng của Sài Gòn tại tỉnh Định Tường, nhưng lại một lần nữa, họ đã có thể hành quân và bảo vệ các căn cứ địa và đường tiếp tế khắp tỉnh. Tuy nhiên, điều này ko là sự lập lại của phát triển cách mạng trong giai đoạn đầu. Khác biệt lớn là dân chúng phần lớn đã sống trong những khu vực dễ kiểm soát hơn bởi Sài Gòn, điều mà chương trình Ấp Chiến Lược đã thất bại, và phần lớn họ đã chán nản (numb) bởi cuộc chiến khốc liệt và dường như không có hồi kết. Rất ít người gia nhập hàng ngũ du kích và chuyển từ du kích sang vận động chiến. Quân csbv đã lấp chỗ trống này.

Quân tăng viện từ quân khu 2 CS cuối cùng đã đến vào đầu tháng 5/72, bao gồm TĐ 2009 B và 5 đại đội từ quân khu. Quân sử của tỉnh viết rằng “đây là lần đầu tiên Mỹ Tho đã nhận quân từ hậu phương miền bắc (Nam Hà là thành phố kết nghĩa với tỉnh Mỹ Tho) để tăng viện cho lực lượng tỉnh và huyện.”

Trung ương cục miền nam đã thấy một cơ hội để thu hút quân VNCH khỏi vùng châu thổ. Giai đoạn hai (7/72) có mục tiêu là “thu hút địch quân về biên giới Cam Bốt, và nhanh chóng gửi các lực lượng chánh quy của trung ương cục xuống chiến trường này để tấn công phối hợp với các lực lượng địa phương hầu mở các mạng (liên xã/intervillage), và những khu vực phía nam và bắc của QL-4 để tạo một điểm tựa vững chắc hầu phát triển tư thế tấn công.” Dù đã rút khỏi vùng châu thổ, sđ 7 vnch đã buộc phải trở lại tỉnh Định Tường để đối phó một loạt các tấn công kéo dài từ tháng 5 đến 9/1972. Cố vấn cao cấp nhứt của Mỹ tại vùng châu thổ, thiếu tướng Thomas Tarpley, báo cáo, “Lợi dụng sư đoàn 7 chuyển ra biên giới Cam bốt, CS đã tấn công các quận lỵ của tỉnh Định Tường. Họ gồm phần lớn thuộc trung đoàn Đồng Tháp 1 và Z15, đã mở 1 loạt tấn công vào Sầm Giang (Vĩnh Kim), Cái Bè, và Cai Lậy trong thời gian từ 17/5 – 11/7. Mọi tấn công đều thất bại, với thiệt hại nặng. CS chết hơn 800 người, khiến họ phải rút về các an toàn khu để tái chỉnh trang. Thiệt hại của quân bạn tương đối thấp. Tuy nhiên đe dọa tiếp tục của địch trong tỉnh, đòi hỏi phải cũng cố lực lượng bạn trong tỉnh. Hơn thế nữa, giọng điệu lạc quan này hơi quá sớm vì quận lỵ Sầm Giang sắp bị một trong những tổn thất lớn của chiến tranh.

CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ĐỊNH CỦA VNCH BỊ SUY YẾU BỞI TỔNG TẤN CÔNG 1972.

Tổng tấn công ở cao nguyên và tây bắc của SG nhằm đánh lạc mục tiêu của CS tại vùng châu thổ. Tại vùng này, cuộc tấn công mạnh nhứt ko xảy ra cho tới khi phần chánh yếu của tổng tấn công 1972 triển khai tại cao nguyên và tây bắc SG. Một tác động khác là phá hoại chương trình bình định của vnch. Trong khi quân SG tập trung cho các trận đánh lớn, và các đv CSBV mở rộng vùng hoạt động, an ninh trong tỉnh Định Tường suy sụp. Bảng lượng giá ấp hay HES của tỉnh Định Tường, phần lớn dựa vào số người sống các ấp “an ninh”, đã tụt thành 23.3 phần trăm trong tháng 8. Một phân tích khác của bộ ngoại giao Mỹ về tình hình tổng quát của vùng châu thổ. “Một sụt giảm về kiểm soát dân số của CQ mỗi tháng kể từ đầu năm. 742.000 dân quê đã chuyển khỏi vùng được xếp hạng an ninh … Các tỉnh Chương Thiện và An Giang ở phía dưới của châu thổ và tỉnh Định Tường đã ghi nhận kết quả tiêu cực đáng kể nhứt.

Giai đoạn 2 của cuộc tấn công trong tỉnh vào tháng 7/72 nhằm tiêu diệt BCH chi khu Sầm Giang

Và 1 loạt tấn công tung ra ngày 2.7/72. Tỉnh ủy sau này tuyên bố đã diệt 14 đồn; và làng Bàn Long, Hữu Đạo, và Bình Trung được giải phóng, và làng Kim Sơn đã “cơ bản được giải phóng”.

Vào tháng 8/1972, các cố vấn Mỹ trong tỉnh đã báo động. ”Vì biết rằng quân số cs trong tỉnh đã đạt mức cao nhứt kể từ tết Mậu ThÂn 1968, trung tá John Ramsey, cố vấn phó của tỉnh nói, “chúng tôi đã bị quân csbv bao vây.” Họ ước lượng chỉ trong tỉnh Định Tường đã có 5.000 quân csbv và vc trang bị đầy đủ,” và rằng “lực lượng này đã phát triển trong những tuần qua vì nhiều lính địch đã xâm nhập từ an toàn khu ở Cam-bốt.” Phóng viên Jacques Leslie của Los Angeles Times đã được cố vấn cho biết rằng “quân cs kiểm soát phần phía bắc của 1 trong bẩy quận thuộc tỉnh Định Tường, đó là Sầm Giang, và giữ nhiều khu vực lớn trong các quận còn lại. Và chúng đã mang súng cao xạ và hỏa tiện tầm nhiệt SA-7 Strella, khiến một số vùng trở nên cấm bay đối với trực thăng. Đại úy David Dressler, cố vấn chánh của quận Cai Lậy nói: “Tôi chưa từng biết đến khu vực nào trong tỉnh này bị tuyên bố là cấm trực thăng bay vào. Và đây là lần đầu quân csbv đưa Strella quá xa như vậy.”

Cùng lúc, các phần tử của sđ 5 và 9 csbv từng chiến đấu ở An Lộc bắc của SG, và chuyển vào Cam Bốt, nay xâm nhập vào Định Tường.” Vài lần, quân csbv bao vây các quận lỵ, rồi đột ngột rút đi. Trong trận đánh 4 ngày tại Vĩnh Kim, quận lỵ của quận Sầm Giang, đã khiến 250 quân csbv và vc tử trận; và 95 lính vnch chết và hơn 200 bị thương. Tuy nhiên, quan trọng nhứt, là tác động đối với dân ở Vĩnh Kim. Dù nó đã chấm dứt vài tuần trước đây, khoảng phân nửa dân làng vẫn ngủ đêm ở Mỹ Tho, tỉnh lỵ của Định Tường, và chỉ ở Vĩnh Kim vào ban ngày. “Họ cảm thấy ko an ninh vào lúc này”, thiếu tá Thomas Davis, cố vấn trưởng của Sầm Giang nói. “Đây có lẽ là một trong những mục tiêu chánh của cuộc tấn công.” Davis nói rằng sau trận đánh, “VC đã khiến dân làng khiếp sợ bằng cách đặt loa trên bờ sông Cửu Long gần Vĩnh Kim và nói rằng chúng sẽ trở lại. Loại chiến thuật này chưa được dùng ở đây kể từ trước trận Mậu Thân 1968.” Báo New York Times loan tin hàng trăm nhà đã bị thiêu hủy trong trận này và mỗi nhà đều bị thiệt hại trước khi quân tấn công bị đẩy lui. 3.000 dân đã tản cư trong lúc đánh nhau.

Một bản tin của Newsweek gửi đi từ SG viết, “Các cố vấn tại Vĩnh Kim ko biết trước trận đánh, nhưng dân làng đã biết từ tháng 6. “Một tháng trước trận đánh, phe bên kia (ý nói VC) đã nói với chúng tôi rằng họ sẽ đánh quận lỵ”, ông chủ nhiệm hợp tác xã điện địa phương nói. “Họ nói sẽ mang nhiều lính tới và khuyên chúng tôi nên rời khi trận đánh bắt đầu. Họ nói ko muốn chúng tôi bị thương”. Ông này và những dân làng khác nói rằng trong những tháng trước trận đánh, cán bộ VC đã tới làng giữa ban ngày để nói với dân làng trong vòng chưa tới 100 mét từ doanh trại của cố vấn Mỹ và BCH của chi khu. 500 chiến binh cs tấn công làng từ 5 hướng. Chúng tràn ngập phân nửa của doanh trại cố vấn và biến doanh trại kế bên thành bình địa. Hai đại đội ĐPQ đã bị phục kích trên đường tiếp viện quận lỵ. “Quy mô và độ ác liệt của trận đánh làm thiếu tá Davis ngạc nhiên. “Chúng đã bám trụ chiến đấu, chúng tôi gọi B-52 nhưng chúng vẫn ko rút.  Bọn họ không hề lùi bước. Tình thế này thực sự khác hẳn so với những gì chúng ta thường thấy ở vùng này”. Đợt tấn công mới đã khiến quân chánh phủ rút bỏ 12 đồn trong khi “củng cố” những đồn khác, khiến toàn bộ phía bắc của quận Sầm Giang, gồm những khu nhiều dân, dưới quyền chỉ huy của vc.” May mắn thay, chỉ có 6 dân tử nạn. Dù đã được cảnh báo trước, khi họ cố gắng rời làng, “viên quận trưởng đã ko tháo gở hàng rào kẻm gai chận đường vào làng. “Một bản tin khác nói quận Sầm Giang đã rút 30 đồn trong số gần 60 đồn. Ba Dừa một vị trí ở nam Cai Lậy, cũng bị tấn công. Cố vấn của quân Cai Lậy nói, “họ đã dùng những chiến thuật cũ. Theo chỗ tôi biết, họ đã thu thuế 2 triệu đồng trong năm nay 1972. Chúng tôi biết họ có 4 hành lang xâm nhập chánh và chúng tôi buộc phải rút bỏ tại khu vực gần Đồng Tháp Mười.

Sư đoàn 7 vnch đã phối hợp với bđq chiến đấu trong tỉnh Định Tường và Đồng Tháp Mười suốt mùa hè 1972, bao gồm trận đánh giải tỏa căn cứ Hậu Mỹ. (Nói thêm, quân Hậu Mỹ do TT Diệm thành lập trên kinh Thiên hộ Dương để kiểm soát một phần đồng tháp mười ở phía bắc. Trong khi quân SG giữ vững vị trí, họ phần lớn đã nhờ giúp đỡ từ trên 100 phi xuất của B-52. B-52 đã từng đập vở xương sống của tổng tấn công của csbv tại cao nguyên trung phần, và giờ đây đang tiếp tục vai trò chưa từng có ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Giữa ngày 8/7 và đầu tháng 8/1972, 50 phi xuất b-52 tại tỉnh Định tường. Một cố vấn ở Cai Lậy nói, tôi ko nghĩ sẽ cần B-52 ở đây vì dân cư sống rải rác khắp nơi… nhưng phần lớn họ đã rời khỏi những vùng kế cận của nơi bom rơi. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào quân SG có thể làm nếu họ phải hành quân mà ko có sự yểm trợ mạnh mẻ này. Phân tích của bộ ngoại giao Mỹ kết luận rằng “sự chuyển dịch này của các đơn vị chánh quy vnch đã đẩy việc bình định vào tay ĐPQ. Thành tích của họ trong việc đảm nhận nhiệm vụ này có phần không đồng đều.

Trong nhiều trường hợp, quân VNCH đều có chung tâm lý là miễn cưỡng chấp nhận thương vong khi tiến hành các hoạt động tấn công, cũng như xu hướng dựa vào các cuộc không kích để đánh bật lực lượng đối phương.

Dịch từ trang 400 đến 403 của sách The Vietnam War của Elliot.

San Jose ngày 16 June 2026, cập nhật ngày 14.9.2026.

Tài Trần

 

Hai nữ tỉ phú mới nổi tại Việt Nam.


BÀ NGUYỄN THU HƯƠNG 


             BÀ NGUYỄN THÚY HẰNG 

Trước giờ ng ta chỉ biết tới Phạm nhật Vượng và Nguyễn thị Phương Thảo là tỉ phú, nhưng nay lại xuất hiện hai nữ tỉ phú, đó là Phạm Thu Hương và Phạm Thúy Hằng.

Bà Hương là vợ của ông Vượng, và bà Hằng là em gái bà Hương.

Nay tôi dùng LTS để phân tích tên của họ.

1/ Phạm Thu Hương

PHẠM = 8514 = 18 = 9

THU = 456 = 15 = 6

HƯƠNG = 56753 = 26 = 8

Cộng lại: 9  + 6 + 8 = 23, một số may mắn.

Sau đây là ý nghĩa của số này.

Số 23 – Ngôi Sao Huy Hoàng của Sư Tử

(The Royal Star of the Lion)

Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1). Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong những nỗ lực ( endeavor) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp, mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao (protection from those in high places). Đây là một số rất may mắn, và số này ban phát (blesses) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể (entity) tượng trưng bởi số này. Số này, cũng nên được xem xét với những số khác (như ngày sanh hay tên) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số (full numerological analysis), điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn. Nhưng trong những giai đoạn khó khăn, những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử. Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó. / .

(Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs.)

Chú thích: (1) Tỉnh từ karmic xuất phát từ danh từ karma, là tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là hành động/số mệnh/nghiệp. Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước, và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này.

=====

2/ Phạm Thúy Hằng

PHẠM = 8514 = 18 = 9

THÚY = 4561 = 16 = 7

HẰNG = 5153 = 14 = 5

Cộng lại: 9 7 5 = 21, một số may mắn. Sau đây là ý nghĩa của số này.

Vuơng Miện Của Nhà Thông Thái (The Crown of the Magi)

21 đuợc tuợng trưng/biểu tuợng (is pictured) bởi “Vũ trụ “, và còn đuợc gọi là “Vuơng miện của nhà Thông thái”. Nó hứa hẹn sẽ có thành công tổng quát, và bảo đảm sẽ có sự thăng tiến, danh dự/kính trọng (honour), phần thuởng, và địa vị cao một cách chung chung (general elevation) trong cuộc sống và nghề nghiệp. Nó cho thấy sẽ thắng lợi sau một cuộc tranh đấu lâu dài (it indicates victory after long struggle), bởi vì “Vuơng miện của nhà Thông thái” chỉ có đuợc sau nhiều thử thách về tinh thần cũng như những thử thách khác về quyết tâm của họ (for the “Crown of the Magi” is gained only after the long initiation, much soul testing and various other tests of determination). Tuy nhiên, nguời hay thực thể này được ban phúc/phù hộ bởi (blessed with) số 21 sẽ chắc chắn có được thắng lợi cuối cùng sau khi vuợt qua mọi thử thách và chuớng ngại (may be certain of final victory over all odds and all opposition). Đây là số rất may mắn do tạo được nhiều nghiệp tốt trong những kiếp truớc (it's a most fortunate vibration – a number of karmic reward). (Dịch từ sách Linda Goodman's Star Signs nơi trang 258).

======

Nói thêm: Tính tới 29/8, bà Phạm Thúy Hằng, em gái bà Phạm Thu Hương và là Phó Chủ tịch Vingroup, có khoảng 2,9 tỷ USD; ông Trần Đình Long 2,5 tỷ USD; ông Hồ Hùng Anh 2,3 tỷ USD; ông Ngô Chí Dũng 1,2 tỷ USD và ông Nguyễn Đăng Quang khoảng 1 tỷ USD. Riêng bà Phạm Thu Hương, vợ của ông Vượng, có tài sản 4, 1 tỉ.

Họ đều giống nhau ở chỗ từng du học tại LX và các nước Đông Âu, và phất lên nhờ làm ăn mua bán tại các nước này trong giai đoạn tranh tối tranh sáng sau khi Khối CS Đông Âu và LX sụp đổ. Sau đó họ về VN đầu tư vào các nhiều lãnh vực khác nhau, nhưng nhiều nhứt là BĐS, theo kiểu “phân lô bán nền”, v.v…

Ngày 15 Sep 2026.