Showing posts with label liên đoàn 6 bđq. Show all posts
Showing posts with label liên đoàn 6 bđq. Show all posts

Sunday, September 3, 2023

 BÀI 2 - CĂN CỨ DAK TO II THẤT THỦ  

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đv. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi - Hoàng đế Napoléon.


Căn cứ Tân Cảnh, chụp bởi một ng lính Mỹ thuộc sđ 4 bộ binh. 


Đây là bài thứ hai, trong chuyên khảo (monograph) sau đây, ghi chép các báo cáo của các cố vấn Mỹ thuộc SĐ 22 VNCH. Những thông tin này trước đây được xếp vào loại Mật, sau này được giải mã; và chưa bao giờ đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại.


- Đang đóng quân chung với một pháo đội Dù tại CCHL Lam Sơn, phía nam Võ Định trên QL-14, dù chỉ bị pháo kích và tấn công thăm dò, hai tiểu đoàn 34 và 35 thuộc liên đoàn 6 BĐQtheo lịnh của trung tá liên đoàn trưởng, đã rút khỏi CCHL này để về Kontum. Vị liên đoàn trưởng này đã bị tướng Ngô Dzu cách chức sau đó mấy ngày.

- Đại úy Ken Yonan, cố vấn của trung đoàn 42, đã lên tháp nước để hướng dẫn không kích. Lúc đầu mọi người nghĩ rằng ông đã chết vì tháp nước đã nhiều lần trúng đạn đại bác, nhưng ông đã sống sót và được trao trả vào năm 1973.

- Hai trung đội xe tăng M-41 và một trung đội bộ binh từ Ben Het kéo về tiếp viện cho Tân Cảnh nhưng bị phục kích và đánh tan ở kế cầu Dak Mot, phía tây của Dak To II. 

- Sông Dak Poko, nằm ở phía nam của Dak To II và Tân Cảnh, gần như bị tắc nghẽn vì xác chết cũng như người bị thương do hỏa lực Bắc quân khi họ vượt qua cầu treo.

- Khi tấn công vào trại LLDB Ben Het, dù pháo kích dữ dội và tấn công bằng bộ binh, và mất 11 xe tăng và hơn 100 lính, nhưng Bắc quân vẫn ko chiếm được trại này.


Sau đây là phần chuyển ngữ

. . . 

TRẬN ĐÁNH TẠI CĂN CỨ DAK TO 2 

"Trong khi đó, chưa tới một giờ sau khi cuộc tấn công vào căn cứ Tân Cảnh bắt đầu, căn cứ Dak To 2 đã bị gia tăng pháo kích và một số tấn công thăm dò của bộ binh địch. Một chiếc trực thăng lúc đầu định dùng làm trực thăng C-and-C (command and control/chỉ huy và kiểm soát) cho sđ 22 nhưng sau đó được chuyển qua Dak To 2 để bốc sáu cố vấn của sđ. Đại úy Carden, cố vấn của trung đoàn 47, đã đánh dấu các vị trí phòng không CSBV trên bản đồ và gọi máy báo cho phi công biết. Máy bay đã bay từ phía đông nam và tiến về bãi đáp trực thăng nơi mà 6 cố vấn đang chờ. Dù bị bắn bởi súng nhỏ từ rừng rậm bên ngoài chu vi phòng thủ nhưng máy bay đã đáp và cất cánh vô sự. Tuy nhiên, vì ko theo chỉ dẫn trước đó, phi công đã bay về tây bắc và đi vào đường đạn của 2 súng phòng không. Máy bay đã bốc cháy và rơi xuống bờ phía nam của chu vi. Carden kết luận ko ai sống sót.

Trong khi đó, ở căn cứ của trung đoàn 42, tại Tân Cảnh, Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn, đã chọn ở lại tới phút cuối. Ông và trung tá Thông, trung đoàn trưởng, cuống cuồng (feverishly) làm mọi cách để phục hồi tuyến phòng thủ đã tan nát của trung đoàn này. Lúc 0630, các thiết giáp, theo sau bởi bộ binh địch, đã chọc thủng chu vi đông bắc. Tuy lúc đầu, đại đội trinh sát đã đẩy lui một TĐ bộ binh địch ở chu vi phía nam, nhưng sau đó do quân số ít ỏi nên họ bị tràn ngập, dù đã hạ trên 100 địch. Chu vi phía tây bắc bị chọc thủng bởi một TĐ bộ binh và một trung đội T-54.

Pháo binh địch đã liên tục giã vào căn cứ. Cuối cùng, khi thời tiết sáng tỏ, Dobbins thông báo mục tiêu cho quan sát cơ L-19 để chiếc này đánh dấu bằng đạn khói. Các xe tăng ngừng lại và có vẻ ko lẩn trốn: chúng làm mồi (decoy) để nhử cho máy bay vào lưới phòng không. Tuy nhiên khi phòng không 37 ly nổ súng, chúng đã bị đánh dấu bởi quan sát cơ. Dobbins và Thông đã tiếp tục đi chuyển từ hầm này sang hầm khác, bằng cách trốn trong các cống nước (culvert) và bất cứ thứ gì có thể che dấu họ. Lúc 10:00 g, trung tá Thông ko còn liên lạc với các đơn vị dưới quyền, và cả hai đã quyết định ko thể làm gì hơn để cải thiện tình hình này. Trước đó Dobbins định liên lạc với Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó của 42, nhưng ko được. Có vẻ Yonan ko còn sống khi khu vực của y bị pháo nặng. (Ghi chú của ban biên tập: Đại úy Yonan có tên trong danh sách tù binh được phóng thích bởi Hà Nội cuối tháng giêng 1973.) Dobbins đi theo Trung tá Thông về doanh trại (quarters) của ông này trong chu vi phòng thủ. Theo họ là khoảng 19 người lính. Tới một căn nhà, Thông mở một cửa để lộ ra một hầm ngầm. Trèo vào bên trong, họ đóng cửa lại và nghỉ ngơi (settle into) trong bóng tối vì mệt lả trong khi cuộc chiến đấu trên đầu họ, nay chỉ là những ổ kháng cự rời rạc.

Sau khi báo cáo chiếc UH-1 bị rơi ở Dak To 2, đại úy Carden và trung tá Brownlee, cũng là cố vấn của trung đoàn 47, đã ko thể tìm thấy các đồng nhiệm (counterpart) VN của họ cũng như BCH của trung đoàn 47. TTHQ của trung đoàn trống vắng, và có vẻ BCH của trung đoàn đã rời bỏ khu vực nguy hiểm này. Trong khi tìm kiếm một cấp chỉ huy VNCH, đại úy Carden thấy hai T-54 tới phi đạo. Một chiếc chạy tới đầu phía tây của sân bay, nằm dọc (along) theo con đường phía bắc của căn cứ, nhằm khống chế tỉnh lộ 512 đến Dak To từ Ben Het, nơi mà đại tá Đạt đã sai lầm khi bố trí phần lớn thiết giáp ở đây. Chiếc T-54 thứ hai từ phía bắc chạy vào giữa của sân bay và đã tấn công có hệ thống các hầm trú ẩn của BCH của trung đoàn 47. Hai chiếc M-41 của VNCH đột ngột xuất hiện và chạy về phía hông phải của chiếc T-54 này và mỗi chiếc bắn 3 phát về đối thủ. Carden lúc đó chỉ cách chiếc T-54 khoảng 100 m và thấy nó trúng đạn, bốc khói, nhưng ko bị phá hủy. Chiếc T-54 bắn trả 2 phát và chiếc M-41 đã bị phá hủy bởi phát thứ hai, và ngay sau đó chiếc T-54 đã bắn cháy chiếc M-41 còn lại chỉ bằng một phát. Những người lính bị thương bỏ chạy khỏi thiết giáp bị cháy của mình.

Vào lúc này, hai trung đội M-41 và một trung dội bộ binh từ Ben Het kéo về để tiếp viện cho Dak To 2. Họ đã vượt cầu Dak Mot và đã bị phục kích bởi một lực lượng lớn CSBV đang chiếm giữ cao điểm ở phía đông kế cầu. Hỏa lực B-40 và súng không giựt đã hủy diệt tất cả M-41 và đánh tan đơn vị bộ binh này. Đây là cuộc phản công CUỐI CÙNG của VNCH trong ngày 24/4. 

Sau trận xa chiến này, Carden đã gặp lại Brownlee. Cả hai đã tin rằng căn cứ Dak To 2 sắp bị tràn ngập vì thiếu vắng sự hiện diện của trung đoàn 47 và TĐ 9 Dù, từng đóng trong căn cứ này. Khoảng 10:00 g, Carden trông thấy quân bạn đang tiến về phía nam. Sự ra đi của lính Dù, việc di tản của các cố vấn Mỹ, và sự bỏ chạy (desertion) của BCH là cú đấm CUỐI CÙNG làm tan nát tinh thần chiến đấu của trung đoàn 47. Vì ko còn ai chỉ huy, họ đã bắt đầu rời vị trí và chạy khỏi căn cứ. Brownlee và Carden đã thấy rõ (realize) rằng họ ko thể kiểm soát tình hình và sẽ ko còn đv nào chiến đấu nữa trong ngày này. Họ đã gom góp máy truyền tin, lương thực, đốt bỏ một số giấy tờ, và rời căn cứ tiến về đông nam. Hai cố vấn này, các thông dịch viên của họ và tài xế định vượt qua một cầu treo dành cho người đi bộ, bắc qua sông Dak Poko, chảy dọc theo bờ nam của căn cứ. Tuy nhiên TĐ Dù và các thành phần của trung đoàn 47 đi theo họ, đã bị cầm chân bởi hỏa lực dữ dội của địch. Con sông giờ đây gần như bị tắc (clog) vì xác chết cũng như kẻ bị thương khi họ vượt qua cầu treo này. Vì biết rằng ko thể vượt sông ở chỗ này, Brownlee và Carden đi dọc bờ sông về hướng tây cho tới khi gặp một khúc sông cạn (ford) có thể lội qua được, cách cầu treo khoảng 700m. Khi họ định vượt sông ở khúc sông cạn này, họ đã bị bắn bằng đủ loại súng. Khi nhóm của họ đã vượt sông và trèo bờ dốc để lên bờ, Carden đã thấy trung tá Brownlee gặp khó khăn khi leo lên bờ. Lúc đó hỏa lực địch lại gia tăng, Carden buộc lòng phải bỏ bờ sông và chạy nhanh đến bụi cây thấp cách đó khoảng 100m. Đợi khi giảm bớt (slack off) tiếng súng, ông cẩn thận đi ngược bờ sông để tìm trung tá Brownlee. Ông cũng đi tới lui vài trăm mét dọc theo dòng nước để tìm kiếm Brownlee nhưng vô vọng. Cuối cùng Carden và hai người lính VN đã bắt đầu đi về hướng nam và gặp CCHL Vida nơi mà họ được bốc đi 2 ngày sau.

Suốt ngày không quân Mỹ đã tấn công địch chung quanh Tân Cảnh và làm rung chuyển hầm trú ẩn mà Dobbins và 20 quân nhân VNCH ẩn núp. Lúc 20:00 g, Dobbins chia họ thành các toán 3 người và chuẩn bị lẩn trốn. Vì là lúc trăng tròn nên họ đã bị phát hiện khi gần hàng rào phía tây nam. Bốn người đã bị giết trước khi nhóm này cuối cùng tìm được chỗ núp trong một chuồng heo (pigpen) ở tuyến phòng thủ phía đông. Vào nửa đêm, họ lại lẩn trốn. Lần này họ bị phát hiện bởi một hỏa châu do Spectre bắn ra khi tấn công mục tiêu trong khu vực. Lần này họ bị mất thêm vài người do súng nhỏ của địch. Họ đã trở lại chuồng heo và chờ đến 4 g sáng. Một lớp sương mù thấp đã giúp họ vượt được chu vi phòng thủ. Họ đi về phía nam vài km và được bốc đi ngày kế.

Lực lượng tấn công Tân Cảnh và Dak To 2 là các thành phần của sđ 2 CSBV. Các TĐ của trung đoàn 1 và 141 và TĐ đặc công D-10 đã tấn công hai nơi này. Các xe tăng hỗ trợ cuộc tấn công thuộc một TĐ của trung đoàn xe tăng 203. Cuộc tấn công đã phối hợp kỹ càng dù có sai sót nhỏ về giờ giấc, và việc dùng những chiến thuật cổ điển này ko có gì mới mẻ ở Chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên điều đáng chú ý là sự có mặt của lính CSBV trong mọi trận đánh, Trong trận Tết 1968, các đơn vị VC dẫn đầu mọi tấn công, nhưng trận Tân Cảnh toàn là lính CSBV. Trong ngày 24 và 25/4, Bắc quân đã cũng cố các thành quả và mở rộng kiểm soát về phía Tây của sân bay Dak To 2 và phía nam tới Diên Bình. Vũ khí VNCH bị mất gồm 25 khẩu 105 ly, 7 khẩu 155 ly, 14,000 đạn đại bác, và các chiến cụ khác. Trong số người mất tích có đại tá Đạt và toàn bộ tham mưu của ông.

Trong lúc Tân Cảnh và Dak To 2 bị tấn công, sđ 320 CSBV đã tiếp tục tạo áp lực lên các CCHL còn lại trên Rặng Hoả Tiển. Ngày 25/4, tướng Dzu đã rút bỏ CCHL 5 và 6, khiến quân CSBV ít gặp nguy hiểm khi tiến về Kon-Tum. Cùng lúc với áp lực này tại tỉnh Kon-Tum, sđ 3 CSBV và các đơn vị chủ lực của VC đã tấn công 3 quận phía bắc của tỉnh Bình Định. Dù trung đoàn 40 và 41 của sđ 22 đã thành công trong những trận đánh gần đây với VC, quân CSBV tại tỉnh Bình Định đã buộc họ phải rút khỏi Bãi Đáp (landing zone) English và các CCHL khác trong khu vực. Điều này đã tập trung chú ý của quân Việt- Mỹ về mối đe dọa với Kon-Tum, vì Bắc quân sắp đạt mục đích là cắt Nam VN làm hai. Bộ tổng tham mưu VNCH và bộ tư lịnh Mỹ tại VN đã bắt đầu tin tưởng hơn vào nhận định của Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 rằng chiến dịch của địch tại Quảng Trị và An Lộc Bình Long có giới hạn về qui mô và rằng mục đích thực sự của Bắc quân là chiếm các tỉnh Kon-Tum, Pleiku, Bình Định bằng các cuộc tấn công cấp nhiều sđ suốt cao nguyên. 

                  


ĐỊCH QUÂN TIẾN GẦN KON TUM

Để đối phó với thành công này của Bắc quân, bộ tham mưu của QK2 đã kích hoạt kế hoạch sau. Đại tá Bá, tư lịnh của sd 23, chỉ huy mọi lực lượng ở tỉnh Kon-Tum. Bốn TĐ BĐQ sẽ chiếm giữ các vị trí án ngử ở Võ Định và phía nam dọc sông Dak Poko. Trung đoàn 53 bảo vệ tp Kon-Tum. TĐ 22 BĐQ chuyển đến Polei Kleng để tăng cường cho TĐ BĐQ biên phòng ở đây. Ngoài ra Vann cho B-52 ném bom dọc Rặng Hoả Tiển và các CCHL đã di tản. Hàng ngàn người tị nạn, tàn quân của sđ 22, và các cố vấn mất tích trong vùng địch chiếm đã hạn chế các cuộc không kích của B-52. Để giảm nhẹ vấn đề này Không quân Chiến Thuật hay TACAIR đã được xử dụng với hơn 180 phi xuất từ 24 đến 28/4.

Ngày 28/4, hầu như bộ tham mưu của sđ 23 đã lên đường tới Kon-Tum. Đại tá Bá đã có nhiệm vụ khó khăn là kết hợp các đơn vị khác thành một tổ chức chặc chẻ (cohesive). Đơn vị duy nhứt của sđ 23 dưới quyền ông là trung đoàn 53. Trong khi đó, hai LĐ 2 và 6 BĐQ, một LĐ Dù, và các lực lượng ĐPQ dưới quyền của đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kon-Tum, là các đơn vị mà chỉ huy của họ dưới quyền chỉ huy của 9 BCH khác nhau. Vài vị đại tá ko bằng lòng vì bị chỉ huy bởi một đại tá khác. Vì vài liên đoàn trưởng BĐQ hay lữ đoàn trưởng Dù cũng mang cấp đại tá — người dịch. Nhiều lần họ ko dự họp hành quân mà để cấp phó thay thế. Để giải quyết vấn đề này, Vann đề nghị với tướng Dzu cử thiếu tướng Phong và phó của Vann là chuẩn tướng John Hill, bay đến Kon-Tum mỗi sáng lúc 0800 để chủ tọa các buổi họp. Sự có mặt của họ bảo đảm mọi người phải có mặt và việc phòng thủ sẽ tốt đẹp. Đại tá Truby, quyến cố vấn trưởng của sd 23, được giao nhiệm vụ cố vấn cho bộ tham mưu (BTM) của sđ về quan niệm phòng thủ quy ước trong một thời gian ngắn. Các cố vấn của sđ phải giải thích những chi tiết như các điểm hạn chế, sự phối hợp giữa các đv trên tuyến phòng thủ, giảm thiểu những nơi có thể bị xuyên thủng, v.v…

Để bảo đảm sđ có tối đa thời gian để huấn luyện và chuẩn bị việc phòng thủ, đại tá Bá giao cho LĐ 2 và 6 BĐQ có nhiệm vụ trì hoãn chiến trên QL14 giữa Tân Cảnh và Kon-Tum. Tuyến phòng thủ ngoài cùng ở bảy km từ trung tâm TP Kon-Tum, tuyến thứ hai cách tuyến cuối cùng 4km. Tuyến cuối cùng nằm ở rìa của TP. Bốn khẩu 155 ly và 44 khẩu 105 phụ trách yểm trợ cho họ. Đường tiến sát phía tây và bắc dược giao cho BĐQ, trong khi trung đoàn 53 lo phía đông và nam.

Ngày 26/4, tướng Dzu được lịnh về SG để gặp TT Thiệu. Khi trở lại Pleiku, ông cho biết bị đau tim và phải điều trị ở một bịnh viện tại SG. Dzu đã có vẻ bị sốc sau chuyến đi SG và ko muốn nói điều đó với ai. Cuối cùng Dzu về SG để nhập viện và thay thế bởi thiếu tướng Toàn.

LIÊN ĐOÀN 6 BĐQ THAY THẾ LỮ ĐOÀN 2 DÙ

Liên đoàn (LĐ) này từ chiến trường Huế, nơi mà họ đụng nặng với địch, đã tới QK 2 ngày 24/4. Thiếu tá James Givens, cố vấn trưởng của liên đoàn 6 BĐQ đã hay tin Tân Cảnh thất thủ trên radio khi liên đoàn tiến vào vị trí ở CCHL Bravo. Căn cứ này ở bắc của Võ Định, nơi mà liên đoàn đã đóng chung với BCH của lữ đoàn () 2 Dù. Ngày kế lữ đoàn Dù được xe GMC chỡ tới Kontum để không vận về SG và liên đoàn 6 chuyển tới CCHL November để gần Kontum hơn. Từ căn cứ Lam Sơn, một cao điểm trên QL-14, có cái nhìn khống chế về phía Bắc của Võ Định và về phía nam tới Kon-Tum, Givens và phụ tá, đại úy Vannie, đã thấy TÀN QUÂN của sđ 22 vượt qua vị trí của hai người trong từng nhóm 5 tới 15 người, với vài súng nhỏ và ko có súng cộng đồng; nhiều kẻ ko còn nón sắt hay ba lô (web gear). Họ đã bỏ những thứ này trong lúc rút chạy. Dù ko có chỉ huy, nhưng họ ko hoảng loạn.

Suốt ngày 25 và 26, địch gia tăng pháo kích BCH liên đoàn. Dù ko có thương vong, nhưng lúc 1500 của ngày 27, Givens và Vannie và BCH liên đoàn đã được trực thăng vận tới CCHL November dù Givens chống đối vì ông nghĩ rằng BCH nên ở tại căn cứ Lam Sơn với những đơn vị lớn của liên đoàn. Các TĐ BĐQ còn ở Lam Sơn, gồm 34 và 35, tiếp tục bị pháo kích và tấn công thăm dò. Lúc 05:00 ngày 1/5, lính của bốn xe M-41 tại Lam Sơn đã bỏ xe khi Bắc quân tấn công. Bắc quân chiếm xe nhưng bị không quân VNCH và một AC-130 bắn cháy và cuộc tấn công bị đẩy lui.

Lúc 18:00 g toán cố vấn của sđ 23 báo cho Givens rằng pháo đội của Dù đã rút khỏi căn cứ Lam Sơn. Ông liền gặp ngay trung tá Đệ  liên đoàn trưởng BĐQ để hỏi chuyện. Ông này trả lời ko liên lạc được với hai TĐ ở Lam Sơn. Lúc 19:30 liên lạc đã tái lập. Hai TĐ này đang di chuyển về phía nam của Lam Sơn, mang theo 50 thương binh và súng cộng đồng. Về việc pháo binh Dù bỏ Lam Sơn, Givens đã khám phá rằng liên đoàn trưởng BĐQ đã ra lịnh cho hai TĐ của ông bỏ căn cứ, do vậy pháo binh Dù phải rút theo vì ko còn ai bảo vệ. Ngày 4/5 tướng Dzu cách chức liên đoàn trưởng này.

Vấn đề này đã khiến Vann thuyết phục tướng Dzu rằng nên đưa hai trung đoàn 44 và 45 của sđ 23 lên Kon-Tum để thay thế hai liên đoàn BĐQ và lữ đoàn Dù. Dzu đã đồng ý. Ngày 6/5, trung đoàn 45 từ Pleiku theo QL-14 để thay thế LĐ 6 BĐQ.

===

Từ 24/4 đến 5/5, các cuộc pháo kích vào các trại BĐQ nằm kế bên đường tiếp tế của CSBV gia tăng. Hai trại Ben Het và Polei Kleng bị nặng nhứt do họ là trở ngại cho việc tiếp tế cho các khu tập trung quân để đánh tp Kon-Tum. Lúc 1200 ngày 6/5 Polei Kleng bị pháo nặng. Hơn 50 quả rơi trong một giờ rưỡi trước khi máy bay Mỹ tạm thời làm ngừng hỏa lực địch. Tuy nhiên khi quan sát cơ rời nhiệm sở tác chiến lúc 1515, pháo địch lại lần nữa gia tăng đến 500 quả tính tới 1900 cùng ngày. Các bunker trong căn cứ này lần lượt bị sụp đổ chứng tỏ pháo đã điều chỉnh chính xác. Vị trưởng trại, mà cố vấn là đại uý MacLaren và trung úy Paul McKenna đang điều khiển không kích, đã bị thương. Lúc 1730 một quả làm sập tường và thổi bay một cửa làm bằng gỗ sồi. Hai cố vấn đào đất để chun ra và tới một hố chiến đấu gần chu vi phòng thủ. Pháo địch đã hủy diệt một cách hệ thống mọi nhà cửa trên mặt đất, tất cả các bunker, và làm sập cột an-ten. Cuộc pháo kích liên tục và chính xác này đã làm mất tinh thần lính phòng thủ. Khi McKenna định gặp TĐ trưởng lúc 18:00 g, ông phát hiện y đã rời trại. Khi trở lại hố chiến dấu, ông thấy địch  đang dùng đèn đỏ chớp sáng để thông báo với bộ binh đang chờ để tấn công trại. Lúc 1900, dù phòng không dầy đặc, một OH-6 đáp xuống để bốc cố vấn. Trại tiếp tục chiến đấu thêm ba ngày dù liên tục bị pháo và bộ binh tấn công thuộc trung đoàn 64 CSBV. Việc Bắc quân tập trung lực lượng để chiếm Polei Kleng đã cung cấp mục tiêu hấp dẫn cho 16 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, vào khu vực này trong 3 ngày trên. Một hồi chánh viên (HCV) sau này thừa nhận đại đội 100 người của y đã chết 40 người và nhiều hơn bị thương vì B52. Lúc 0500 ngày 9/5, sau một tấn công bởi chiến xa và bộ binh, lực lượng VNCH tại Polei Kleng đã buộc phải rút lui. Tướng Dzu đã ra lịnh trại này từ nay được xếp vào vùng oanh kích tự do.        

                 ĐÈN CHỚP SÁNG MÀU ĐỎ 

Trong giai đoạn này, trại Ben Het đã nhận từ 400 đến 500 đạn đại bác đủ loại. Ngày 7/5, TĐ 71 BĐQ đã nổi loạn, ra tối hậu thư cho TĐ trưởng phải bốc họ ra khỏi trại trong 43 g. Trước khi cuộc bốc quân hoàn tất, hỏa lực phòng không đã vây kín trại.

Vào lúc rạng đông của ngày 9/5, Bắc quân xua chó vào hàng rào phòng thủ để nổ mìn. Lúc 0600, chúng tấn công bằng bộ binh có 6 PT-76 yểm trợ. Hai chiếc, có bộ binh tùng thiết, tấn công cổng chánh, nhưng bị bắn cháy bởi M-72 của BĐQ. Lúc 0730, năm PT-76 tấn công chu vi phòng thủ phía đông, hai chiếc bị phá hủy bởi M-72. Số xe tăng còn lại rút lui sau khi bộ binh chiếm chu vi phía đông. Suốt ngày hôm đó BĐQ đã đẩy lui địch.

Lúc 1700, BĐQ tái chiếm chu vi phía đông. Bắc quân đã mất 11 xe tăng và hơn 100 lính khi tấn công Ben Het. Dù BĐQ tiếp tục bị quấy rối, họ ko còn bị tấn công ồ ạt bằng bộ binh. Trại Ben Het ko là một mục tiêu ngon xơi với Bắc quân, một phần do hỏa lực trong trại rất mạnh vì có nhiều M-41 đưa lên từ trước theo lịnh đại tá Đạt — người dịch".

. . .

Chuyển ngữ từ trang 42 đến 47 của: 

Wayback Machine (archive.org)

San Jose ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Tài Trần









 










 




Monday, February 1, 2021

 

Những dấu chân diệt giặc – Nguyễn Văn Thịnh

Nguyễn Văn Thịnh
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/photos/c130l.jpg

Nhu cầu chiến trường, Liên-Đoàn 6/BĐQ lại được lệnh di chuyển khẩn cấp bằng không vận C.130 đến chiến trường Tây Nguyên, nơi mệnh danh gặp nhau ba miền biên giới Việt-Miên-Lào, vơí bao trọng trách đầy gian lao và hứa hẹn

Bóng người xưa khuất từ lâu.
Còn đâu những lúc tuyến đầu quân reo,
Giữa đêm đỉnh núi cheo leo.
Tiếng quân vang dậy, nhớ chiều giặc tan.

Mỗi năm cứ đến ngày 19 tháng 6. Lòng người chiến sĩ
quặn đau, ngậm ngùi nhớ đến những người trai tráng năm xưa đã từ bỏ kiếp sống thư sinh để băng mình vào sương gió, tiến ra sa trường theo bước chân những bậc đàn anh đi trước bảo vệ non sông, cho chính nghĩa tự do, chiến đấu với quân thù Cộng sản bạo tàn, sắt máu… đem sự an lành cho quê hương đất nước mà mọi người dân hằng vời vợi khát khao mong đợi .
Kể từ sau năm 1954, hiệp định Geneve giữa Pháp và Việt-Minh Cộng-Sản đã ký kết. Chính nó đã đánh dấu sự chia cắt và phân minh rõ rệt một miền Bắc trong chế độ Cộng-sản độc tài, sắt máu, khắt khe đời sống bị đảng trị… không có tự do, bị bóc lột, lừa bịp, ngu dân… Miền Nam trong thể chế tự do tuy rằng sự lãnh đạo còn yếu kém, nhưng nó đã bắt đầu phục hồi và ổn định tình hình chính trị, kinh tế, an ninh… Trong nước Quân đội và chính quyền đã và đang được xây dựng, phát triển qui mô, khiến các cơ sở và cán bộ Cộng sản nằm vùng đã gần như bị tiêu diệt hết. Về đối ngoại, chính thể quốc gia Miền Nam đã được hầu hết các nước tự-do công nhận và đặt Tòa Lãnh-sự, Sứ-quán ngoại giao. Trong khi đó Miền Bắc đang ráo riết với chủ trương kế hoạch thôn tính nhuộm đỏ nốt phần đất còn lại, với chủ-nghĩa Cộng-sản vô thần, vô nhân , vô đạo lý…
Rồi cái mặt trận trá hình được gọi là ” Mặt trận giải phóng Miền Nam ” ra đời vào năm 1960. Cái ngụy danh để Miền Bắc ồ ạt chuyển quân và vũ khí ngày đêm vào Miền Nam trên đường Hồ-Chí-Minh trong mưu đồ xích hóa, tròng lên đầu người dân cái ách ” Chủ nghĩa xã hội ”
Để đối phó với tình hình hiện tại. Quân đội Mỹ cũng bắt đầu đổ bộ vào năm 1965 và cuộc chiến ngày càng khốc liệt và dai dẳng hơn bao giờ hết.
Nhằm thích ứng với tình thế. Binh chủng Biệt-Động-Quân được ra đời vào ngày 1 tháng 7 năm 1960 bằng những Đại-Đội Biệt lập. Sau đó các Tiểu-Đoàn Biệt-Động-Quân tiếp tục thành hình và Tiểu-Đoàn 51/B.Đ.Q được thành lập vào năm 1962 tại vùng 4 chiến thuật, hoạt động hữu hiệu tại các vùng Năm-Căn, Đầm-Dơi, Cái-Nước, Chương-Thiện, Cà-Mau, Kiến-phong, Kiến-Tường, Mộc-Hóa…để ứng phó với tình thế trong sự gia tăng quân số rầm rộ của Bắc quân
Những bước chân người chiến-sĩ TĐ.51/BĐQ đi đến đâu giặc tan nơi đó tạo nên những chiến công uy-danh hiển hách bạt vía quân thù.
Năm 1965 những chiến sĩ TĐ.51/B.Đ.Q. được lệnh hành quân truy tìm tiêu diệt Bắc quân Cộng-sản tại Bắc Bình-Định…
Từ năm 1966 đến đầu năm 1968 TĐ/51/B.Đ.Q. hoạt động tại vùng Đức-Hòa, Đức-Huệ, nhằm đón đánh, tiêu diệt Cộng quân từ đất Miên lén lút xâm nhập qua lãnh thổ V.N.C.H. Tại đây dưới sự chỉ huy tài ba khéo léo và dũng cảm của Thiếu-Tá Nguyễn-Công-Thông, Đơn vị đã lập được những chiến công to lớn, vang danh. Đặc biệt trong trận đánh tại Trầm-Lạc, Đức-Hòa, TĐ/51/B.Đ.Q. đã đánh tan 1 Trung-Đoàn Cộng quân vừa mới lén lút xâm nhập từ đất Miên qua. Tịch thu đạn dược, vũ khí đủ loại trên 1000 khẩu. Cũng trong một trận đánh khác tại Đức-Hòa vào dịp Mậu-Thân 68, TĐ.51B/Đ.Q. lại tiêu diệt gọn một Trung-Đoàn Cộng-quân. Tịch thu vũ khí đủ loại trên 1000 súng cùng nhiều quân trang quân dụng và giết chết được tên Chính-Ủy Trung-Đoàn. Những chiến công này Tiểu-Đoàn 51/B.Đ.Q. đều được tuyên dương trước Quân-Đội và đặc biệt được ân thưởng Biểu Chương màu ” Bảo Quốc huân chương”. Vũ khí đạn dược, quân trang, quân-dụng… tịch thu được trong hai trận, cũng được hai lần triển lãm tại phòng thông tin Đức-Hòa, dưới sự chủ tọa của Thiếu-Tướng Nguyễn-Xuân-Thịnh, Tư lệnh Sư-Đoàn 25 Bộ Binh.
Năm 1968, sau chiến thắng Mậu Thân, TĐ.51/B.Đ.Q. cùng các TĐ.34/B.Đ.Q. TĐ.35/B.Đ.Q. về Nhà-Bè đặt Bản doanh BCH/Tiền phương và thành lập Liên-Đoàn 6/B.Đ.Q. ra đời từ thuở đó.
Tháng 4/1970 Tiểu-Đoàn 51/B.Đ.Q. tham dự hành quân truy tầm, tiêu diệt và phá hủy Hậu cần Bắc quân trên đất Miên cả thảy 5 lần trên các địa danh như : Krek – Snoul – Soung – Chipou – Damber – Mỏ Vẹt – Lưỡi Câu …

Cac chien si TD52BDQ .jpg
Sau đó TĐ.51/Đ.Q. cùng các TĐ.34/B.Đ.Q. TĐ/35/B.Đ.Q. trở về hoán chuyển với các Đơn-vị Nhảy-Dù hoạt đông tại hành lang Biên giới Việt-Miên từ Vân-Đồn, Bổ-Túc, Quang-Trung tới tận Tống-lê-chân. BCH/LĐ.6/BĐQ. Đặt bản doanh tại căn cứ Kàtum điều động, chỉ huy các Tiểu Đoàn trực thuọâc. Tại vùng rừng già này, các Đơn-vị B.Đ.Q. đã trưởng thành trong chiến thuật chống và tiêu diệt Đặc-công Bắc phương vô cùng hữu hiệu. Trong nhưng lần Cộng quân thả đặc-công xâm nhập là mỗi lần chúng bị Chiến sĩ TĐ/51/BĐQ tiêu diệt thảm hại. Ngoài ra các Chiến sĩ Biệt-Động-Quân còn thông rành phục kích, giăng đặt các bãi mìn cơ động đánh tan, tịch thu vũ khí những Đơn vị VC di chuyển từ đất Miên qua các mật khu dọc hành lang biên giới Việt-Miên thuộc tỉnh Tây-Ninh. Mùa hè năm 1972, khi chiến trận khắp nơi ngày càng trở nên khốc liệt. Liên-Đoàn 6/B.Đ.Q. được không vận từ chiến trường Tây-Ninh tới chiến trường Trị-Thiên bàn giao vùng trách nhiệm cho Đơn vị thuộc Sư-Đoàn 25/BB, nơi mà các Chiến sĩ B.Đ.Q. đã đổ biết bao mồ hôi và xương máu suốt bao tháng ngày giữ vững miền tuyến ải đem lại sự an lành cho quê hương đất nước.
Khoảng thượng tuần tháng 4/1972 BCH/LĐ.6/BĐQ đặt bản doanh tại BCH/Tiền phương một Đơn-vị Sư-Đoàn 1/BB điều động hành quân trực thuộc.
Tiểu-Đoàn 51/BĐQ hành quân hướng Tây bắc Phong-Điền, Mỹ-Chánh, trên đỉnh Trường Sơn, hứng chịu cái nóng của gió Hạ Lào khắt khe thổi đến rát mặt và cái lạnh thật tê buốt về đêm, lạnh đến thấu xương. Họ ngày đêm đào hầm, khoét đa,ù làm công sự chiến đấu để sẵn sàng giao tranh, tiêu diệt, ngăn bước xâm lăng kẻ thù phương Bắc .
Nhu cầu chiến trường, Liên-Đoàn 6/BĐQ lại được lệnh di chuyển khẩn cấp bằng không vận C.130 đến chiến trường Tây Nguyên, nơi mệnh danh gặp nhau ba miền biên giới Việt-Miên-Lào, vơí bao trọng trách đầy gian lao và hứa hẹn với những trận đánh đẫm máu đang chờ trước mặt, để thay thế nhiệm vụ cho Lữ-Đoàn 2 Nhảy dù, do Đại-Tá Trần-Quốc-Lịch LĐT/LĐ.2/ND đang điều động, chỉ huy các trận đánh khốc liệt mà đã bị tổn thất quân số khá nhiều vì áp lực nặng nề với quân số lớn lao của Cộng quân, bằng nhiều Sư-Đoàn, như Sư-Đoàn 3 Sao Vàng, Sư-đoàn 320 Thép, Sư-Đoàn 304, Sư-Đoàn 307 cùng các Đơn vị Đặc công, pháo 130 ly, 122 ly, phòng không và Tăng của Địch quân phối hợp tung ra uy hiếp, chiếm lĩnh các nơi. Từ trên nhìn xuống là các cao điểm chiến thuật chập chùng, uốn khúc quanh co, có cao độ khoảng từ 800 mét đến 900 mét, như căn cứ 5, Căn cứ 6, Charlie… chạy dài đến đèo Chu-Pao Nhìn về hướng đông bắc là Tân-Cảnh, đông nam là thị xã Kontum, một thị trấn nhỏ bé thuộc vùng cực bắc Tây nguyên, một thành phố miền núi rừng như nằm dưới một lòng chảo, nó mang một tính chất huyền ảo, đầy hiểm nguy và mong manh như làn mây khói tỏa, sương mù u-uất… Nằm dọc bên cạnh giòng sông Pô-Kơ và đường 14 nối liền từ Pleiku tới Tân-Cảnh để đi đến vùng Ben-Hét hoặc rẽ sang A-Sao – A-Lưới nơi mà Cộng quân ngày đêm vận chuyển người và vũ-khí từ miền Bắc vào đây, trong kế hoạch xâm lăng thôn tính miền Nam, trong ý đồ nhuộm đỏ nốt phần đất còn lại.
Khi chiếc phi cơ C-130 xuống thấp để hạ cánh, cái bửng phía đuôi cũng từ từ hạ xuống, cho đến lúc phi cơ chạm bánh chạy dài trên phi đạo, vừa ngừng bánh là anh em BĐQ chúng tôi phóng mạnh, súng cầm tay chạy lao ra hướng bên ngoài bố- trí, tránh đạn pháo kích. Ngay khi đó thì lập tức các anh em Đơn vi Nhảy dù cũng vội vã tiến nhanh lao mình vào phi cơ. Chiếc maý bay lại chạy dài trên phi đạo rồi cất cánh. Nếu chẳng may có chiếc phi cơ nào bị trúng đạn pháo kích không thể xử dụng được nữa, lập tức có những chiếc xe ủi có nhiệm vụ đẩy đẩy chiếc phi-cơ này sang bên lề phi đạo để các chiếc khác tiếp tục nhiệm vụ. Đạn pháo kích cứ rơi, các Chiến sĩ TĐ.51/BĐQ vẫn gấp rút di hành mà không hề hoảng hốt, giữ vững nhiệm vụ quân hành mà chẳng hề lùi bước hoặc nao núng trước lằn đạn pháo kích của địch quân. Sẵn sàng chiến đấu dù phải chấp nhận sự hy sinh bất cứ lúc nào, từ đâu xảy đến. Lực lượng hùng hậu của Cộng quân trải dài, chúng dùng đại pháo 130 ly, 122 ly trải mưa pháo khắp nơi như Cheo-Reo, Dakto, Căn cứ 5, căn cứ 6 .v.v… Riêng Charlie đã bị chúng trải mưa pháo và tràn ngập. Tiểu-Đoàn 11/Nhảy dù đã anh dũng giao tranh. Cố Đại-Tá Nguyễn-Đình-Bảo đã vĩnh viễn ở lại chốn này.
Sau trận Bắc quân dùng Đặc-công làm thiệt hại tiêu hao lực lượng Quân Đoàn II, BCH/Lữ-đoàn 2/ND, Một Đơn vị Dù phòng vệ tại Căn cứ 42 nằm dọc trên QL.14. Bây giờ CH/LĐ.6/BĐQ. Và TĐ.51/BĐQ. Đã thay thế gánh vác trách nhiệm tại đây hằng ngày hứng đạn pháo 130 ly của giặc.
TĐ/51/BĐQ cho đặt các bãi mìn cơ động từ xa, những chỗ nghi ngờ bằng mìn claymore. Đầu đạn 155ly, l05ly cũng gắn tự động thành một thế trận. Sau cùng là lớp mìn claymore bấm tay được xử dụng trong trường hợp địch tràn ngập biển người.
Chiến sĩ TĐ.51/BĐQ, ngày đêm đã hoàn tất các giao thông hào, công sự chiến đấu hình chữ Y cho mỗi tổ tam chế, có ống phóng M.72, lựu đạn tay … hai quay mặt ra và một bảo vệ phía lưng khi chiến đấu. Tuyệt đối không ngủ trong banker dù trời mưa gió, hoặc khi giặc pháo kích, giăng concertina khi màn đêm buông phủ tối, việc đi lại liên lạc bằng hệ thống truyền tin khi hữu sự.
Quả như sự dự liệu và tiên đoán, Việt-cộng đã dùng chiến thuật đặc công tấn công Tiểu-Đoàn 34/BĐQ – 35BĐQ – 51/BĐQ. & BCH/LĐ.6/BĐQ trong một đêm tối trời. Nhưng chúng đã bị bẻ gãy kế hoạch, TĐ.35/BĐQ, đã bị chúng đột nhập vào một góc căn cứ đóng quân, liền bị cô lập. Đợi cho đến sáng thì bị thanh toán gọn ghẽ.
Riêng BCH/LĐ.6/BĐQ & TĐ.51/BĐQ. Tại Căn cứ 42 Bắc quân đã thả lực lượng Đặc công bò vào bằng ba hướng ba lần khác nhau. Nhưng lần nào chúng cũng bị sa vào bãi mìn mà không thể tiến lên đươc. Lần sau cùng, sau đợt pháo tới tấp là một hồi kèn thúc quân lanh lảnh, chúng hò hét và xung phong biển người. Nhưng bị đốn gãy trước nhất là những bãi mìn vô hình lợi hại, sau bị pháo binh trực xạ dữ dội, Và các ổ súng cộng đồng, cá nhân thi nhau tác xạ. Bắc quân bị thiệt hại bằng nhiều trăm xác giặc rải rác khắp nơi trên trận địa. Bắc quân thảm bại lần này trước sự chiến đấu dũng cảm của anh em Biệt-Động-Quân TĐ.51/BĐQ. Tân-Cảnh một địa danh hiểm hóc bị áp lực nặng nề bởi quân số đông đảo gấp chục lần hơn, cùng hỏa lực hùng hậu xe tăng, đại pháo, phòng không … Chúng lăm le sau những trận pháo phủ đầu người là sẽ tràn ngập lực lượng cánh nhẹ Tiểu Đoàn 51/BĐQ bất cứ lúc nào. Các cánh quân thuộc Trung-Đoàn 40, Trung-đoàn 41 thuộc SĐ.22/BB đã bị vỡ khi giặc dùng chiến thuật biển người có chiến xa tùng thiết, uy hiếp tràn ngập. Bây giờ chỉ còn lại Đơn-vị duy nhất là BCH/nhẹ TĐ.51/BĐQ. Gồm 2 Đại Đội BĐQ tác chiến và 1 Pháo Đội pháo binh Dù tăng phái, lực lượng chiến xa gồm có 5 chiếc M.48 loại hạng nặng, có trang bị đại bác không giật 175 ly và đại liên 50 ly, đại bác 90 ly.
Địch quân làm mưa pháo nhiều giờ bàêng hỏa lực 130 ly, 122 ly vào căn cứ phòng thủ Lam-Sơn. Sau đó chúng bắt đầu xung phong. Ta có 5 chiến xa, 5 pháo đài nổi di chuyển hỏa lực bắn trả dữ dội đốn ngã hàng hàng, lớp lớp. Đoàn người Bắc quân, với chiến thuật biển người, dường như bị khựng lại không thể tiến lên được. Sau đó khoảng độ 10 phút địch quân củng cố lực lượng, phối trí hỏa lực vào những chiếc chiến xa từng gây thiệt hại nặng nề cho chúng. Hỏa tiễn SR.7 được phóng ra, vụt đi như lằn tên lửa, 5 chiếc chiến xa bốc cháy dữ dội. Bị thiệt hại những chiếc chiến xa hỏa lực vô cùng mạnh mẽ, quân số tổn thất mỗi lúc càng gia tăng. Nhưng trong tình thế hiện tại giặc vẫn chưa thực hiẹân được ý-định mong muốn.
Lương thực thật sự đã cạn, đạn dược cũng sắp đến lúc chẳng còn. Tình thế này sớm muộn gì cũng bị giặc tràn ngập không xa nữa! Đếm từng ngày, lo lắng tính toán từng giờ. Đêm nay là đêm thứ bảy. Pháo binh Dù được lệnh Đại-Úy Côn: Hãy cố trực xạ cho đến hết đạn rồi hãy phá hủy vũ khí, Antena cứ để nguyên trên nóc hầm chỉ huy (T.O.C.). Mọi người nai nịt gọn gàng sẵn sàng để mở đường máu, khi có lệnh. Tuyệt đối im lặng không được xôn xao.
9 giờ 15 tối pháo đài B.52 trải một loạt bom quá gần vị trí Toán quân phía phòng tuyến xa nhất. Cộng quân hỗn loạn, xác chết ngổn ngang dưới ánh hỏa châu. Tiểu-Đoàn 51/BĐQ thiệt hại mất 1 Trung-Đội trên 40 người vì bom quá gần.
Loạt bom cuối cùng vừa dứt. Lệnh khai hỏa mở đường máu thoát ra bìa rừng hướng bom càn quét dọn đường, rồi theo hướng Tây nam về Kontum. Mười hai cây số đường chim bay trong đói khát đến lịm người… Ngày nghỉ, đêm đi, tránh bị phát giác, giao tranh trong điều kiện thiệt thòi. Lương thực giờ chỉ còn có cỏ non, lá cây rừng như lá bứa, lá khoai mọi và nước suối cầm hơi.
Tháng 9 năm 72, TĐ.51/BĐQ cùng Toàn bộ Liên-Đoàn 6/BĐQ bàn giao vùng trách nhiệm cho Liên-Đoàn 2/BĐQ. nhận nhiệm vụ mới. Cũng tại đây LĐ.2/BĐQ đã tái chiếm quận ly Tân-Cảnh.
Sau những ngày tháng dài giao tranh liên tục, toàn bộ các Tiểu-Đoàn trực thuộc BCH/LĐ.6/BĐQ được không vận về Pleiku bổ xung quân số, trang bị hỏa tiễn ” Tow ” chống chiến xa và thành lập pháo binh Liên-Đoàn 6/B.Đ.Q. Cuối tháng 11/1972, Tiểu-Đoàn 51/BĐQ & Toàn bộ LĐ.6/BĐQ được không vận vào An-Lôc, Bình-long. Tiểu-Đoàn 51/BĐQ phòng thủ Đồi Gió, ngày ngày hứng đạn pháo kích bầy của Việt-Cộng.
Tháng 12/1972 Thiếu Tá Nguyễn-Khoa-Lộc được bổ nhiệm chức vụ Tiểu-Đoàn-Trưởng TĐ.51/BĐQ & Đại-Úy Đổng-Kim-Quan Tiểu-Đoàn-Phó TĐ.51/BĐQ.
Đầu tháng 3/1973 Toàn bộ LĐ.6/BĐQ bàn giao vùng trách nhiệm cho LĐ.3/BĐQ. và Trung-Đoàn 8 thuộc SĐ.5/BB để đi chiến trường Quảng-Ngãi, từ Mộ-Đức – Đức-Phổ tới cửa biển Sa-Huỳnh thuộc vùng I Chiến thuật.
Tiểu-Đoàn 51/BĐQ đã hành quân và giao tranh với lực lượng Cộng quân tại đây, khi chúng chuyển quân từ Tây Nguyên qua ngã Ba-Tơ xuống. Qua sự phối hợp với lực lượng chiến xa và không trợ, TĐ.51/BĐQ đã đè bẹp lực lượng Cộng quân qua sự điều động chỉ huy gan dạ, mưu lược, kinh nghiệm chiến trường của cánh quân nhẹ, do Đai-Úy Đổng-Kim-Quan TĐP/TĐ.51/BĐQ đã tạo nên những chiến công làm hăng say tinh thần chiến đấu của anh em Biệât-Động-Quân.
Tháng 5/1973, bàn giao vùng trách nhiệm cho một Trung-Đoàn thuộc thuộc Sư-Đoàn 2/BB. Liên-Đoàn 6 cùng Tiểu-Đoàn 51/BĐQ được di chuyển tới vùng Đồng-Xuân – La-Hai thuộc tỉnh Phú-Yên, vùng II chiến thuật. Nơi đây là cái nôi thuở xưa Việt-Minh đã lấy quân, tổ chức hội họp, đám cưới tập thể và tập kết rất nhiều tại đây.
Đồng-Xuân, La-Hai địa danh dễ nghe, lạ tai… Nơi đây TĐ.51/BĐQ hoạt động tung hoành như chốn không người. Thật xứng danh với câu thơ người xưa:

” Lên đông, đông tĩnh. Xuống Đoài, Đoài yên. ”

Tháng 8/1973. Liên-Đoàn 6/BĐQ. & Tiểu-Đoàn 51/BĐQ được lệnh bàn giao vùng trách nhiệm cho một Đơn-vị cấp Trung-Đoàn, thuộc Sư-Đoàn 23/BB trở về Hậu cứ Long-Bình Biên Hòa bổ xung quân-số.

Duong van Ham VungTau HQ.503..jpg

Tháng 9/1973, LĐ.6/BĐQ. & TĐ.51/BĐQ di chuyển bằng hải vận, chiếc HQ. 503 đã đưa toàn thể Liên-Đoàn 6/BDQ đến đất Qui-Nhơn, Bình-Định. Tại đây LĐ.6/BĐQ & TĐ.51/BĐQ với nhiệm vụ hành quân tái chiếm các cao điểm chiến lược, từ đèo Bình-Đê giáp với cửa khẩu Sa-Huỳnh xuống Tam Quan, Bồng-Sơn chạy dài về đèo Phù-Củ – đèo Nhông. Tại đây dấu tích chiến tranh đổ vỡ, nơi đã từng giao tranh đẫm máu giữa lực lượng Cộng quân đông đảo với Sư-Đoàn 22/BB. Nhưng Cộng quân vẫn còn chiếm giữ những cao điểm chiến thuật trọng yếu, mà lực lượng LĐ.6/BĐQ phải đổ bao xương máu chiếm lại.
Tiểu-Đoàn 51/BĐQ. đã trải qua biết bao gian lao, khó khăn và nguy hiểm, cùng hy sinh xương máu của các chiến sĩ mũ nâu, với tài điều quân mưu lược gan dạ phi thường, với những trận đánh vang danh, luôn luôn có mặt tại hàng đầu của Đại-Úy Đổng-Kim-Quan TĐP/TĐ.51/BĐQ. cùng anh em binh sĩ, với sự chỉ huy tài ba cùng thương mến hết lòng của quân nhân các cấp đối với Thiếu-Tá Nguyễn-Khoa-Lộc TĐT/Đ.51/BĐQ. Tại đây có những cao điểm chiến lược mà cộng quân mệnh danh là bất khả xâm phạm, vẫn giữ vững từ mùa hè năm 1972, sau khi chiếm cứ được từ các Đơn-vị thuộc Sư-Đoàn 22/BB. Bắc quân đã duy trì trải dài bằng quân số cấp cao và những chốt cấp Đai-Đội, Trung-Đội, bảo vệ từ xa, bằng mìn bẫy cản trở bước tiến quân, bằng đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly yểm trợ đêm ngày. Nhưng cuối cùng vẫn bị TĐ.51/BĐQ. bất thần chiếm lĩnh, đánh tan trong một đêm tối trời mưa to, gió lớn… Tại đây TĐ.51/BĐQ. Có những người con yêu dấu của đất nước thuộc khóa 26/VBQGĐL như anh Nguyễn-Văn-Hùng tình nguyện làm Toán Trưởng chỉ huy đánh đặc-công, đột chiếm cao điểm, đánh tan rã Bắc quân. Nhưng Anh đã phải từ biệt quân- đội vì bị thương vỡ mắt trái, anh Hoàng-Văn-Giai cũng vĩnh biệt chiến trường trở về lòng đất mẹ ” Tổ quốc ghi công.” May mắn chỉ còn sót lại anh Bính bây giờ nghe nói cũng đang định cư tại Hoa-Kỳ.

Tại đây qua những chiến công lừng lẫy, vang danh, Đại-Úy Đổng-Kim-Quan được vinh thăng đặc cách Thiếu-Tá sau nhiều trận đánh bại quân thù phương Bắc.
Vào khoảng tháng 8 năm 1974 Đại Tá Cao Văn Ủy về đảm trách chức vụ Liên Đoàn 7/BĐQ. Tình hình chiến sự Cao Nguyên trở nên nặng nề bởi áp lực mạnh mẽ gồm nhiều Sư Đoàn Chính Qui của Cộng Quân như Sư Đoàn Sao Vàng, Sư Đoàn F.10, Trung Đoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt, Sư Đoàn 968, Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 316, Sư Đoàn 304, Sư Đoàn 307…
Liên Đoàn 6/BĐQ, lực lượng Tổng Trừ Bị BĐQ đầu tiên được lệnh đi chuyển về Pleiku, chiến Trường Tây Nguyên, giao vùng trách nhiệm cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Sau bao ngày gian nan đánh chiếm các cao điểm chiến lược từ đèo Phù Củ. đèo Nhông tới đèo Bình Đê… Chạy xa về gần tới An Lão hoặc dọc theo những cao điểm hiểm hóc, rải theo Duyên Hải của dãy Trường Sơn, mà Cộng quân đã cố sức chiếm giữ… Cũng chính tại đây vị Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Tướng Phan-Đình- Niệm hết sức trông cậy và tin tưởng vào lực lượng Biệt- Động- Quân.
Chiến trường Tây Nguyên, lực lượng Liên Đoàn 6/BĐQ được phối hợp với Thiết giáp giao tranh và làm tổn thất rất nặng nề cho Trung Đoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt và các đơn vị khác thuộc các Sư Đoàn Cộng Quân. Sau đó đã được Sư Đoàn 968 Bắc Việt bổ xung quân số 100%.
Ngày 10.3.1975 sau nhứng trận mưa pháo nhiều giờ đồng hồ. Cộng quân với chiến xa và biển người tấn chiếm tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, với lực lượng đông đảo gấp 10-15 lần, địch quân đã làm chủ tình hình. Tuy nhiên chúng ta đã ngăn chặn được bớt sức tiến quân như thác lũ của các lực lượng chiến xa, Pháo Binh và Bộ Binh Cộng Sản với quân số vô cùng đông đảo.
Tiểu Đoàn 51/BĐQ đã cùng toàn lực lượng Liên Đoàn 6/BĐQ, gồm các Tiểu Đoàn 34/BĐQ, 35/BĐQ, Pháo Binh Liên Đoàn 6/BĐQ, Liên Đội Quân Y, Truyền Tin Liên Đoàn 6/BĐQ, Pháo Binh Liên Đoàn 6/BĐQ, lực lượng Hỏa Tiễn TOW/LĐ6/BĐQ, Trinh-Sát cùng toàn thể Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 6/BĐQ, đã được sẵn sàng trang bị lương khô, hỏa lực đạn được đầy đủ… để nhảy vào ác chiến với lực lượng Cộng Quân tại Ban – Mê- Thuột.
Sau cuộc họp lịch sử khẩn cấp của Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II cùng Tướng Không Quân Nguyễn Văn Lượng, Tư Lệnh Sư Đoàn II Không quân với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, còn có sự hiện diện của Đại Tá Nguyễn Văn Hãn, Giám Đốc An Ninh Quân Đội vùng 2 chiến thuật, Đại Tá Lê Trọng Đàm Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quân Khu 2, được diễn ra tại Cam Ranh ngày 14.3.1975.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã phân tích tình hình đất nước. Ông cho biết số quân viện của Mỹ cho Việt Nam kể từ sau hiệp định Paris, đang từ 2 tỷ Mỹ kim mỗi năm, giờ chỉ còn 1 tỷ cho năm 1974 và 300 triệu đôla cho năm 1975 mà vẵn chưa được Quốc Hội Mỹ chuẩn phê thông qua. Về lực lượng yểm trợ Không quân Hoa Kỳ, nhất là pháo đài bay B.52, để phá tan sức mạnh đông đảo biển người của Cộng quân thì đã được ký kết bởi Ngoại Trưởng Mỹ là ông Kissinger, không còn được sử dụng yểm trợ nữa. Tình trạng phi cơ của Quân Lực VNCH thiếu nguyên liệu, Pháo Binh thiếu đạn dược, Chiến Xa thiếu cơ phận thay thế, mọi thứ hoàn toàn thiếu thốn trong hiện tại, và vô cùng nguy ngập trong tương lai rất gần.
Và sau đó quyết định mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của QĐ.II khỏi Kontum và Pleiku, và cũng có quyết định như vậy cho Tướng Ngô-Quang-Trưởng ngoài vùng I, QĐ.I của Tổng Thống Thiệu.
Ngày 14-3-1975 lệnh triệt thoái khỏi Cao Nguyên được chính thức ban hành. Không một Tướng lãnh nào chống đối. Tiếp theo đó là các Tướng lãnh họp, thảo luận về lộ trình rút quân. Quốc lộ 19 và 21 đã bị Cộng quân Bắc việt cắt và lực lượng của chúng có khoảng từ 4 đến 5 Sư-đoàn chiếm cứ nên không thể xử dụng được nữa.
Sau cùng Tướng Phú xin đề nghị chọn đường liên tỉnh lộ 7 nối liền Pleiku – Phú Bổn – Phú yên. Đường liên tỉnh lộ 7 đã bỏ trên 10 năm không xử dụng, có nhiều cầu cống bị hư hỏng và mìn bẫy do quân đội đồng minh gài từ trước chưa được gỡ bỏ. Nhưng có được yếu tố bất ngờ.
Tướng Phú thừa ủy nhiệm thăng cấp đặc cách cho đại tá Phạm-duy-Tất Chỉ Huy Trưởng BĐQ/QK II lên Chuẩn Tướng để chỉ huy mặt trận dưới đất. Đại-Tá Tất đã từng ở những Đơn-vị tác chiến như Lực lượng Đặc Biệt, Biệt-Động-Quân.
Tướng Phạm-Duy-Tất được đề cử chỉ huy tổng quát cuộc rút quân. Các Liên-Đoàn B.Đ.Q. đi tiên phong và đoạn hậu với những đơn vị Thiết-giáp để mở đường, bảo vệ đoàn xe và cuộc rút quân. Riêng Liên-Đoàn Công Binh Chiến Đấu sửa chữa những đoạn đường bị đứt đoạn, hoặc cầu cống bị hư hỏng. Các Liên-Đoàn B.Đ.Q khác có nhiệm vụ đi sau cùng, để bảo vệ đoàn quân và chiến cụ, đề phòng địch quân theo sau đánh tập hậu.
Con đường Liên tỉnh lộ 7 chôn vùi hàng ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Chôn vùi danh dự tất cả các Tướng đang lãnh đạo đất nước trong những năm sau cùng cuộc chiến.
Sau 9 ngày 9 đêm với 300 cây số đường máu, Liên tỉnh lộ 7 nối liền Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên đầy rẫy những rủi ro, bất trắc… Vì kế hoạch không được bảo mật, thiếu cẩn trọng, đố kỵ bất mãn, vô kỷ luât… Đây là những ngày thật đau buồn nhất trên chiến trường Cao-nguyên.
Liên-Đoàn 7/BĐQ của Đại-Tá Nguyễn-Kim-Tây đã “clear” xong Việt-Cộng, sẽ cùng đi với Thiết Giáp tăng cường bảo vệ đoàn xe.
Liên-Đoàn 4/BĐQ và Liên-Đoàn 25/BĐQ giữ tuyến” lửa Thanh-An – Pleime đi sau cùng đoạn hậu và chịu nhiều sự thiệt hại bởi sự giao tranh liên tiếp ngày đêm với các lực lượng Cộng quân thay phiên ” xa luân chiến “.
Liên-Đoàn 7/BĐQ được lệnh nhổ 3 “chốt quyết tử ” của Việt-Cộng, chốt lớn cấp Đại Đội. Những chiên xa M.41 – M.48 – M.113 yểâm trợ Biệt Động Quân ào ào xung phong chiếm mục tiêu. Không-quân được gọi đến yểm trợ phi pháo tối đa.. để giải quyết chiến trường. Nhưng rủi ro xảy đến, bom của Không quân đã đánh trúng hai chiến xa M.41 và Biệt-Động-Quân bị một số thương vong. Mặc dù vậy, chốt quyết tử của Việt-Cộng tại đây đã bị thanh toán nhanh chóng.

Cac chien si biet dong quan chiem muc tieu vc .jpg
Qua báo cáo của Tướng Tất cho biết, quận Phú-Túc bị pháo kích rất nặng nề và vòng vây đang bị xiết chặt. Liên-Đoàn 7/BĐQ phối hợp với Thiếât-Giáp đang tiến nhanh đến giải vây và tiêu diệt địch. Khoảng 2 Tiểu-Đoàn Cộng quân đã cố ý đóng chốt tại đây là trận đánh đẫm máu của Liên-Đoàn 7/BĐQ.
Liên-Đoàn 7/BĐQ. đánh tan lực lượng Bắc quân. Tịch thu 15 khẩu súng cối 82 ly và 81 ly, 4 súng phòng không 12 ly 7 và rất nhiều vũ khí cá nhân, đạn dược. Thiệt hại là trung bình nhẹ. Tuy nhiên, Liên-Đoàn-Trưởng LĐ.7/BĐQ. Đại-Tá Nguyễn-Kim-Tây cũng đã bị thương, một chiến xa M.41 chở hỏa tiễn TOW đã bị bốc cháy.
Liên-Đoàn 6/BĐQ cho lệnh Tiểu-Đoàn 51/BĐQ tiến nhanh để chiếm lĩnh cây cầu Phú-Túc quan trọng nội trong đêm nay để liên-Đoàn Công Binh sửa chữa. Liên-Đoàn Công Binh đã dồn hết nỗ lực sửa chữa, hy vọng sẽ hoàn tất vào sáng sớm hôm sau để đoàn quân di chuyển. Tuy nhiên Cộng quân từ xa pháo kích vào đoàn quân tiên phong Biệt-Động-Quân tới tấp.
Ngày 18-3 & 19-3-1975 Tiểu-Đoàn 51/BĐQ cùng Liên-Đoàn 6/BĐQ đã giao tranh dữ dội với Cộng quân trong khi Liên-Đoàn Công Binh vẫn tiếp tục dùng vỉ sắt P.S.P. của sân bay Củng-Sơn thảy xuống sông làm đường cho chiến xa và đoàn xe di chuyển về Sơn-Hòa. Lữ-Đoàn 3 Nhảy Dù từ vùng I chiến thuật đã về tới Nha-Trang được di chuyển tới Khánh-Dương. Liên-Đoàn 6/BĐQ cũng về đến Nha-Trang được tăng cường cho mặt trận Khánh-Dương với Lữ-Đoàn Dù. Mặt trạân Khánh Dương bị áp lực vô cùng nặng nề của địch quân, gồm các Sư-Đoàn Cộng-Sản BắcViệt như Sư-Đoàn F.10, Sư-Đoàn 320, Sư-Đoàn 316, Trung-Đoàn 9 Cộng sản Bắc-Việt, Sư-Đoàn 968, tất cả đã bỏ mặt trận Cao nguyên kéo dốc về Khánh-Dương, có ý đồ tiến thẳng tới miền duyên hải đánh chiếm Nha-Trang, Nha-Trang mất thì Bình-Định – Phú-Yên sẽ mất theo.
Một trận đánh dò dẫm của một Trung-Đoàn thuộc Sư-Đoàn F.10 chiều qua với Tiểu-Đoàn 2/40 Sư-Đoàn 22/Bộ Binh tại Tây Khánh Dương, đã gây tổn thất nặng nề cho Cộng quân.
Mặt trận Khánh-Dương được ghi nhận có rất nhiều chiến xa đủ loại của Công-Sản Bắc-Việât xuất hiện. Trong khi đó phía QLVNCH chỉ có loại Thiết vận xa M.113 mà không có một chiếc chiến xa M.41 hoặc M.48 nào!
Ngày 1-4-1975 mặt trận Khánh Dương trở nên vô cùng nguy ngập. Tuy nhiên Lữ-Đoàn 3 Nhảy Dù và Tiểu-Đoàn 51/BĐQ. & Liên-Đoàn 6/BĐQ vẫn còn chiến đấu tận sức quyết liệt với Cộng quân.
Mặt trận Khánh-Dương đã bị vỡ sau nhiều ngày đêm giao tranh dữ dội với Bắc quân cố gắng quyết chặn cản bước tiến của đối phương về Miền Nam.
Tiểu-Đoàn 51 BĐQ tại tuyến đầu do Thiếu Tá Đổng-Kim Quan TĐP/TĐ.51/BĐQ, đã anh dũng chỉ huy chiến đấu vô cùng oanh liệt, bởi lòng can đảm, dũng trí mưu lược, bởi giàu kinh nghiệm chiến trường, bởi lòng bất khuất can trường đã tiềm tàng trong huyết thống và sự quyết chiến của mọi Quân nhân các cấp thuộc TĐ.51/BĐQ, cộng quân đã bao phen bị dáng nhưng đòn chí tử, và bị đẩy lui… Sau nhiều đợt xung phong như thác lũ.
Tình trạng vẫn giao tranh ngày đêm và liên lạc chặt chẽ nơi tuyến đầu giữa lực lượng Dù & Biệt-Động-Quân vẫn luôn tốt đẹp.
Đêm 31-3-1975 vì lý do gì? Tình trạng kỹ thuật trở ngại… Tiểu Đoàn 51 BĐQ, tuyến đầu không liên lạc được với cánh quân Dù.
Trưa 1-4-1975, áp lực của Cộng quân càng nặng nề hơn!!! Trung-Tá Nguyễn-Khoa-Lộc TĐT TĐ 51 BĐQ lệnh liên lạc lần cuối với cánh quân Dù và không thấy hoạt động bình thường trên làn sóng siêu tân số.
– ” 90 ” lệnh cho các đứa con trong gia đình TĐ.51/BĐQ lập tức rút quân theo thế chân vạc, vừa đánh vừa rút từng đoạn một. Thiếu-Tá Đổng-Kim-Quan TĐP /TĐ.51/BĐQ, chỉ huy đánh đoạn hậu cho các đứa con thay phiên nhau rút.

Ngàn năm bàng bạc mây bay.
Oan hồn tử sĩ chốn này vong thân!
Ngày xưa lừng lẫy bao lần,
Thét oai tung kiếm xuất thần xua quân.
Hận thay phận nước phù vân.
Anh đành gởi xác trong lần nay thôi!
Chí trai vùng vẫy ngang trời.
Thịt xương tan nát gan phơi óc lầy.
Làm trai áo trận bọc thây!
Xác thân phiêu bạt từ đây chẳng còn.

Người hùng của chiến trường Khánh-Dương đã bất khuất, kiên trì anh dũng, dang vai gánh vác, đốc thúc chỉ huy các trận đánh đoạn hậu với Cộng quân – ” 80 “, tức Thiếu-Tá Đổng-Kim-Quan được vinh thăng hầu hết các cấp bậc là nhờ những chiến công lừng lẫy… do sự khéo léo, tài ba mưu lược nơi trận địa và lòng can đảm thì thật là vô biên.
Giờ đây người Chiến sĩ Mũ Nâu của Tiểu-Đoàn 51/BĐQ, cố Trung-Tá Đổng-Kim-Quan đã vinh viễn ở lại đất Khánh-Dương bỏ lại vợ trẻ và hai con thơ dại cùng anh em đồng đội.
Anh đã làm đúng trách vụ của người trai đất nước thời ly loạn. Anh không hổ danh với hai câu thơ của anh hùng cổ nhân để lại : Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Nguyễn Văn Thịnh KBC.3505

Nguồn: http://www.nvbonphuong.com/forums/showthread.php?175640-Nh%E1%BB%AFng-d%E1%BA%A5u-ch%C3%A2n-di%E1%BB%87t-gi%E1%BA%B7c

Thursday, December 13, 2018

tiểu đoàn 51 biệt động quân , liên đoàn 6 bđq ,
https://www.youtube.com/watch?v=wrLjyWpBpno&feature=share&fbclid=IwAR12yvZbEguuyXWRd-w9RLpbvyhWj0w1ODw08rOZwCYq6aU29UgfiI0IUkY