Showing posts with label võ đắt. Show all posts
Showing posts with label võ đắt. Show all posts

Monday, May 26, 2025

 Cám ơn một người đã đi qua - Lê Phùng Xuân


Bỏ nước ra đi

Sống đời lưu vong,

Phận mình nào có sá gì,

Thương người ở lại cu ky ôm sầu.

(Thiên ca bốn, Lê Phùng Xuân)

Khi Xuân trở về, cơn mưa đã dứt hột. Con đường trở nên lầy lội hơn. Bùn trền trệt như đám trái lười ươi bị mắc mưa. Chàng bước đi nặng nề. Hai chơn bang bang như đi hàng hai cho đỡ bị trợt té. Rút cuộc chàng cũng cà lê cà lết về tới lều. Hậu cứ tiểu đoàn nhỏ xíu. Hổng có trại gia binh. Các đại đội không có chỗ trú quân. Họ chia nhau từng khu trong vườn cây cà phê, sầu riêng, mít của dân chúng quanh Xuân Lộc. Vành đai ấp chiến lược vẫn còn, nên đóng quân bên trong rất an toàn.

<!>

 Họ căn lều lụp xà lụp xụp dưới những tàng cây, che mưa che nắng. Độc thân chỉ cần một cái poncho và một cái võng là đủ. Những người lính có vợ phải che thêm những tấm ni lông cho rộng ra. Những ngày nắng ráo, hai vợ chồng nằm dưới đất. Những hôm mưa, họ treo võng kè kè sát bên nhau trong cái lều chật hẹp.


Bùn đỏ bám đầy đôi giày. Xuân lấy một khúc cây nhỏ gạt bớt đất đỏ. Chàng ngồi trên võng, chật vật tháo đôi giày ra mà không để tay dính bùn. Cái radio ấp chiến lược màu xanh vang lên tiếng hát buồn trong lúc mưa gió như thế nầy. Mừng luôn luôn bắt đài Quân Đội từ 7 giờ đến 9 giờ tối. Nó mê giọng êm thủ thỉ của cô Dạ Lan. Gần sáng, là gia đình Bác Tám của đài khác. Còn lại là radio ra rả suốt ngày. Xuân nghe riết phát chán.

- Hao pin lắm. Sao hông tắt Mừng?

- Tui xin pin tép của thằng Hòa. Đâu có hao, thẩm quyền.


Mừng không biết cách ghép. Lúc thì hai tép, lúc thì ba tép, làm cho cái radio kêu rè rè. Chắc nó bỏ đi đâu rồi.

- Cô Mận! Tắt radio đi. Cô vừa ca mà để máy như vậy ai mà nghe được.

- Trung Úy tắt đi. Tui làm biếng đứng dậy quá hà!


Phùng Xuân đi đến chỗ Mừng. Chàng tắt radio cho bớt ồn. Nghe cổ ca ơ ơ theo cái võng lắc lư, đong đưa còn đỡ buồn hơn.

- Mừng! Có phải em gái của mầy thiệt hông hay là bồ bịch đó mậy?

- Dạ, em tui thiệt mà Trung Úy!

- Sao cổ hông ở nhà mà đi theo mầy làm gì?

- Gia đình có hai anh em. Mùa nầy ở quê hổng có việc làm. Nó nhớ tui. Nó buồn nó lên thăm tui. Hổm rày, tui kêu nó đi dìa đi mà nó chưa chịu dìa. Hổng biết mắc chứng gì mà nó khoái ở đây hoài. Nó nói lúc rày ở dưới quê chưa có việc, chờ gần Tết, lúa chín. Lúc đó họ mới kêu công gặt.


Cô Mận còn trẻ, khoảng dưới đôi mươi, bới tóc đuôi gà theo kiểu con gái miệt vườn. Má bầu trắng, tròn trỉnh xinh xắn, có duyên con gái. Cổ vui tươi và nói tía lia khi kể chuyện nhà quê. Khi nào tới bữa cơm, là cổ cũng có chuyện để nói.


Hàng ngày Mừng nấu cơm cho Xuân và em nó. 3 người ăn cơm chung. Xì xà xì xụp cho qua bữa: canh rau, cá khô, rau canh, khô cá, mì gói, gói mì! Cô Mận múm mím cười, hơi ló hai cái răng nanh khi nghe Xuân nói như thế. Ăn xong, việc của cổ là rửa ba cái gà mên, treo lên đầu võng. Rồi cổ nằm võng đong đưa qua lại, tiếp tục ca nữa. Mỗi lần ư, ư là gân cổ rung lên như gà giò mới biết gáy.

- Ca hoài sao cô Mận? Hổng chán à?

- Tui đâu biết ca tân nhạc. Mà Trung Úy có mê vọng cổ hôn? Tân cổ giao duyên cũng hay lắm à nghen!

- Ơ…ơ… Cũng biết thưởng thức chút chút.Tui nhớ hồi khoảng năm 1958 hay 1959 gì đó, tui có đến rạp hát một lần. Cái rạp đó ở đâu trên đường Nguyễn Trải. Tên là Thủ Đô thì phải.

- Để làm gì?

- Thì để xem hát chớ làm gì. Thằng bạn học có người quen trong đó. Nó dẫn vô hổng có tốn tiền. Bữa đó, tui hông nhớ gánh hát tuồng tích gì, nhưng tui hổng quên được cô đào Bích Sơn và kép Hoàng Giang. Họ diễn hay lắm. Khán giả vỗ tay muốn bể rạp luôn. Cô Bích Sơn, người Bắc, còn kẹp tóc, mà ca cải lương mùi lắm. Tiếng nói kép Hoàng Giang cũng rổn rảng. Tụi tui ở trong cánh gà thấy đủ thứ hết trơn. Xong tuồng, hạ màn. Cô đào Bích Sơn và kép Hoàng Giang lên xe hơi về nhà. Sân khấu ngổn ngang. Họ lo dọn dẹp mọi thứ. Chừng đó, cũng đã gần 2 giờ sáng rồi mà họ có ngủ đâu! Tui thấy họ tụm ba tụm năm chia nhau đánh bài. Nào cát tê, bài cào, xập xám, phé. Ối thôi, tùm lum. Tiếng cãi cọ vang rền. Đã đời, họ lăn đại ra ngủ trên sàn. Trời nóng, nam trần trùi trụi, ngáy khò khò. Nữ, quần vén lên cao, áo tốc lòi ngực ra, ngủ say như chết. Gần trưa hôm sau họ mới dậy, rồi quây quần quanh chiếc bàn hình chữ nhựt ăn cơm với chỉ độc nhứt có món mắm chưng hột vịt và những tô rau trộn đủ thứ.

- Cái đó là Trung Úy coi cải lương. Nhưng mà trong cải lương cũng có ca vọng cổ.

- Tui đâu phân biệt được.

- Vọng cổ là một bài hát có 32 nhịp, như hổm rày tui ca cho Trung úy nghe đó. Mùi lắm à nhen! À, mà rồi, Trung Úy có ăn hôn?

- Có. Tụi tui cũng xáp vô ăn luôn. Tui thấy đào chánh, kép chánh họ sung sướng. Chớ những người phụ coi bộ họ sống cũng chật vật lắm.

- Vậy là Trung Úy cũng mê mê vọng cổ rồi đó. Để hôm nào tui ra chợ kiếm mấy bài tân cổ giao duyên thiệt mùi, tui ca cho Trung Úy nghe chơi đỡ buồn.


Dưới võng của cô Mận có đủ thứ những cuốn tập nho nhỏ, chất cho một đống. Buổi sáng, cô đi chợ với anh cô. Hôm nào Xuân làm biếng, hoặc đường bùn lầy trơn trợt chàng không đi, Xuân nhờ cổ mua 1 tờ báo. Ở đơn vị chỉ có báo Tiền Tuyến. Đi chợ về, cô lo cơm nước. Ăn rồi, cô nằm ca ít bài. Xong, bỏ võng treo tòn teng ở đó, đi tới chỗ mấy bà vợ lính, nói chuyện ba hồi ba đổi, rồi đi rủ chị Hiền ra suối tắm.


Từ ngày anh Hiền chết đi, chị Hiền không chịu về quê, ở lại đây, sống cùng với đại đội. Chị đi chợ mua thức ăn nấu cho mấy người lính độc thân.Vì thế, chị cũng có cái ăn cái uống sống đắp đổi qua ngày. Mỗi người lính có 1 ca gạo (khoảng 600g) (1) mỗi ngày. Họ ăn không hết. Hai người là dư một phần cơm cho chị. Về quê làm gì? Quê chị đâu miệt Phan Rang, nghèo lắm.


Dòng suối nhỏ, ở cuối đầu sân bay, chảy xuyên qua vườn cà phê ông Đại Tướng Lê vănTỵ. Dòng suối nầy là nơi tắm giặt và cũng là nơi lấy nước ăn uống cho cả đại đội khi về trú quân ở Long Khánh. Hình như có giờ giấc và nơi ấn định sẵn đâu hổng biết. Đàn ông và đàn bà có khu riêng biệt. Đầu nguồn là nơi lấy nước để ăn uống. Chính giữa là nơi tắm giặt của đàn bà, trẻ con. Dưới cùng là của các ông. Vì không có nhà tắm, các bà và các cô thường mặc nguyên quần áo khi tắm. Có người bỏ áo, kéo quần lên tận ngực. Khi họ đến đó, trời còn nắng. Một đám người đang tắm và giặt quần áo. Thêm mấy đứa con nít đùa giỡn bắn nước tung tóe…

- Ê. Đừng vô chỗ lùm tre thay đồ nghe chị Hiền!

- Sao vậy?

- Chị hổng nghe hôm trước vợ Hạ sĩ Y Clip mang con ra suối đẻ rồi chui vào lùm tre đó bả vạt nang tre cắt rún cho con sao? Ý, thấy mà ghê!

- Tội nghiệp. Ông đó người Thượng, ở đâu trên miệt KonTum- PleiKu. Ổng đi lính lâu lắm rồi, trước anh Hiền của tui.

- Sao ổng hông chịu đem vợ vào nhà thương để đẻ?

- Mấy người Thượng họ theo tục lệ của họ. Họ hông đem vào nhà thương đâu. Đẻ xong họ còn đem con xuống suối tắm nữa cà.


Y Clip, hơi lớn tuổi, nói tiếng Việt lơ lớ, thật thà, ít trò chuyện với anh em trong đại đội. Ai có hỏi thì nó trả lời một vài tiếng, rồi mỉm cười. Hai vợ chồng chiếm một góc xa ở cuối bìa vườn, quây lá chuối chung quanh thành một căn lều nho nhỏ. Họ chứa đủ thứ: nồi niêu, xoong chảo, lon guigoz, thùng đạn đựng nước… Cô vợ ở trong đó, ít khi ra ngoài. Thậm chí khi đẻ con rồi, cô không bao giờ bồng con ra.


Anh chàng người miền núi nầy đi rừng rất giỏi, biết nhiều loại rau ăn được. Và đã nhiều lần đơn vị không tìm được suối, Xuân quá khát. Y Clip đã cắt dây chìu từng đoạn để lấy từng nắp bi đông nước cho Xuân uống.

- Chị Hiền! Chị có đem nước về hôn?

- Hông. Nhờ trời mưa, tui hứng được mấy thùng và 2,3 ống đạn. Chắc nấu cơm, rửa chén cũng được mấy bữa.

- Còn em phải đem 2 thùng. 3 người thì cần nhiều hơn. Anh hai em ảnh xài hao nước lắm.

- À! Mà còn cho ông Trung Úy. Ổng lấy nước tắm nữa chứ gì?

- Hông. Ổng lấy nước rửa chưn hông hè.

- Sao hổng lấy nước nhiều nhiều cho ổng tắm?

- Thôi đi bà. Ổng muốn tắm thì đi ra suối tắm chứ. Tui đâu có hầu ổng. Bà muốn gì vậy? Bộ bà cũng muốn hả? Ổng chưa có vợ đó nghen!

- Ê! Đừng gắp cá bỏ cho người khác nhen! Tui thấy có bữa, trước lều của ổng có một ống nước.

- Hôm nào anh hai em siêng, ảnh vác về cho ổng tắm đó bà! Tui hổng có siêng như vậy đâu!

Hai người vừa thay đồ vừa cười như nắc nẻ. Rồi họ ngắt nhéo, la chí chóe trong lùm cây cà phê. Chị Hiền thầm nghĩ. Coi vậy chớ con nhỏ nầy ghê lắm. Mấy hôm nay, chị thấy nó mắc võng gần ông Trung Úy hơn. Chị hỏi. Nó nói bà chủ vườn kêu đừng cột võng vô góc cà phê. Đung đua hoài, lông gốc, chết cây. Bây giờ nó xê lại gốc soài riêng càng sát ổng hơn. À, mà thấy nó diện hơn lúc trước: chảy đầu bẽ ba gọn ghẻ và mặc áo bà ba bông coi đẹp đẽ. Và nghe nó ca nhiều bài vọng cổ mùi lắm. Cái gì mà yêu anh lính chiến xa nhà….... Chị tủm tỉm cười.

- Bà cười cái gì đó bà? Ờ, mà chị Hiền? Sao chị hông lên phụ với bà Tư Thiệt bán có đỡ hơn hôn?

- Thằng Lưu Anh nó ở trên đó rồi. Nó đeo con Tươi như sam. Hơn nữa con nhỏ sắp đẻ rồi còn gì.

Lưu Anh là người Tàu Chợ Lớn, đi quân dịch đã 2 năm nay. Nó hiền từ, tháo vát, cao lớn, cũng khá đẹp trai. Không hiểu sao nó chiếm được cảm tình của bà Tư Thiệt. Chồng bà nầy đã chết trận hơn mấy năm nay. Bả không chịu về quê, bám theo đại đội mở cái quán nho nhỏ bán đủ thứ như gánh hàng xén. Lính đại đội làm biếng ra chợ, hơn nữa từ chỗ đóng quân cuốc bộ ra chợ cũng xa hơn 2 cây số nên thiếu chút đỉnh đến tiệm bả mua mau hơn. Đôi khi có những món như: mì ăn liền, rượu đế, khô mực nhậu lai rai… rất tiện lợi cho mấy anh chàng lính độc thân. Bả còn cho mua chịu, ghi sổ, đến kỳ lãnh lương thì trả lại.


Bà chỉ có độc một đứa con gái. Năm nay, cô bé cũng được khoảng 15 tuổi. Cô nầy có nước da trắng mượt mà, cặp mắt trong sáng và có nụ cười rất tươi. Cô có da có thịt, cao ráo hơn mẹ. Nhiều chàng lính độc thân cũng ngấm nghé. Bà mẹ, hơi lùn, ít khi cười, có lẽ vì bà hơi lé kim và một mắt bị cườm. Nhưng, bà rất lanh lợi và nói chuyện có duyên.


Từ khi về đại đội, chỉ mươi ngày sau là thằng Lưu Anh đi gánh nước, đi chợ chở nước đá, la de, rượu đế và các thứ lặt vặt... Lúc đó con bé Tươi mới có 13 tuổi. Mới đầu thằng Lưu Anh còn về võng nó ngủ. Nhưng sau đó, nó ở lì trên tiệm, không về lều, trừ khi nào có phiên cắt gác. Lần lần nó thay bà Tư cáng đáng mọi công việc. Và cuối cùng, cô bé Tươi có bầu lúc 14 tuổi. Trong đại đội, không ai nói gì vì bà Tư có thưa gởi gì đâu. Thằng Lưu Anh khôn, lăn chai bám riết rồi cũng được. Còn mấy thằng Bình, thằng Thiện cứ đứng vòng ngoài đưa mắt ngó thì được cơm cháo gì! Và con Tươi thản nhiên mang cái bụng bầu chang bang cặp kè đi chợ với thằng Lưu Anh bổ đồ hàng bữa…

Chiếc GMC chở trung đội vũ khí nặng sắp sửa chuyển bánh. Lưu Anh mang súng đứng dựa vào thành xe nhìn Tươi vừa ẳm con ra đứng trước cửa quán. Đứa con còn đỏ hỏn, chưa đầy tháng. Tiếng nói om sòm, tiếng la hét của những người lính khác vang lên gần như lấn át tiếng máy nổ của 4 xe nhà binh. Kẻ dặn vợ con, người dặn kẻ ở lại lo dùm công việc nầy, công việc nọ.

Đoàn xe chưa có lịnh di chuyển. Xuân và Chúc còn đứng dưới đất. Hai đứa đang nói chuyện:

- Cuối cùng rồi tao cũng gặp mầy.

- Tớ đâu có ngờ cậu ở Sư Đoàn nầy.

- Ờ! Cái Sư Đoàn có số 10 nầy làm cho ông Hoàng Tử lưng gù mới về khó chịu. Ổng tin dị đoan. Số 10 là bù. Thế là đổi thành 18. Chín nút là nhứt rồi. Hổng hiểu rồi đây 9 nút có ngon lành hay hông hay là chúng nít???


Đỗ Bá Chúc không thích đi sĩ quan. Nó không khai bằng cấp. Để khỏi bị động viên, nó lo nhảy trước. Nghỉ dạy, nó chạy chọt làm anh binh nhì phòng 2 của Tiểu khu Tây Ninh, tà tà ở văn phòng. Một ít sau, nó chán lính bàn giấy. Hơn nữa bị các sĩ quan và thượng sĩ ít học hơn nó đì nó. Nó nản. Nó đi lính biệt kích một thời gian. Cuối cùng, chàng ta bèn nộp đơn vào Thủ Đức. Ra trường với cái quai chảo, nó phân vân chưa biết chọn nơi nào. À! Cái Sư Đoàn 18 có số tốt, lại ở gần Sài Gòn. Thế là hắn về đây. Phùng Xuân cho nó về làm Trung đội trưởng Trung đội 3.


Hai đứa gặp nhau, bá vai chửi thề. Tổ cha mầy, sao lại ra tới đây! Họ kịp chưa nhậu 1 bi đông rượu đế nào. Có lịnh hành quân.


*****

Sông La Ngà là phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Di Linh. Khi đến bán bình nguyên Gia Rai, sông chảy ngoằn ngoèo, tạo nên những cái hồ bán nguyệt rất đẹp mắt từ những khúc đoạt giang. Đồng xanh bát ngát, trù phú. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có những khu trù mật Vỏ Xu, Vỏ Đắt dành cho những gia đình từ Trung Phần vào đây lập nghiệp. Nơi đây còn hoang dã. Có rất nhiều thú để săn bắn như nai, min... Voi đôi khi còn đi từng đàn. Cá dưới sông suối còn dẫy đầy. Gần quận Tánh Linh (tỉnh Bình Tuy), có Biển Lạc rộng khoảng 5km2, có rất nhiều loại cá...


Xuân rít một hơi dài điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ lỏng le, rồi búng tàn ra xa. Đoàn xe bắt đầu đi về Tân Phong, qua Suối Cát. Đến ngã ba Ông Đồn, quẹo trái. Ngọn núi Chứa Chan cao chễm chệ nằm sát đường. Bụi đỏ tung mịt trời. Xe sau không nhìn thấy xe trước. Gia Ray kia rồi. Hậu cứ của Trung Đoàn 52 trên đồi Phượng Vĩ. Hàng năm Sư Đoàn hành quân về vùng nầy khoảng đầu năm, lúc mùa gặt sắp tới, để bảo vệ dân thu lúa, không cho VC về lấy.


Đại đội đóng quân cuối xã Vỏ Xu, sát những cánh đồng lúa đang ngã màu vàng. Chừng 2 hôm sau, gia đình binh sĩ lục đục kéo tới. Họ lại căng lều, làm thành những cái thum nho nhỏ trong những đám chuối. Xuân nhận thấy đó là điều vô cùng nguy hiểm, nhưng làm sao bây giờ. Tiền lương của họ không đủ để san ra làm đôi cho gia đình, bắt buộc họ phải sống như vậy.

- Chà! Sao mà nhiều đồ ăn quá vậy? Lại có mấy con cá chép nướng to tổ bố nữa.

- Bữa nay 30 rồi. Tất niên mà thẩm quyền hổng nhớ sao?


Thức ăn để một dọc dài trên những tàu lá chuối. Một góc tư nước đá, 3 kết lade con cọp lớn ngã nghiêng ở góc chuối. Mấy người vợ lính lên tiếng mời Phùng Xuân. Mọi người bắt đầu. Lai rai ba sợi, tán dóc qua lại. Tiếng nói, cười vang dội. Rồi đến độ ngà ngà, cụng ca cộp cộp. Anh em vui vẻ. Ở cuối đầu kia, các bà lâu lâu cũng thêm vài câu nói tiếu lâm làm buổi tiệc thêm hào hứng. Mận và chị Hiền cũng xúm xít cười nói huyên thiên với mấy bà vợ lính.


Các chàng lính nhà ta hơi mềm môi, bắt đầu gõ chén gõ đũa vô gà men, ca hát vang trời. Đám quỷ sứ đó bắt đầu nói trây. Và rồi thì là rượu nói “Má ơi! con muốn lấy anh thợ bào. Còm lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu. Má ơi! Con muốn lấy chồng. Con ơi! Mẹ cũng một lòng như con”...thì mấy bà la lên rần rần. Không hiểu mấy bà có thích không mà Phùng Xuân thấy mấy bả cũng phụ họa thêm. Tội nghiệp, họ bị chê như vậy mà họ cũng ráng lết ra tới ngoài nầy để vui vẻ cùng chồng 3 ngày Tết.


Xuân cảm thấy trong mỗi bàn tiệc nhậu của đám đàn ông lúc nào cũng nói đến chuyện trây trúa. Và bao giờ họ cũng lấy đề tài là mấy bà. Những chuyện tiếu lâm luôn luôn chê các bà thậm tệ, coi họ như con cái lúc nào cũng ham hố cái đó của con đực. Trong lúc đó, họ không bao giờ nghĩ là họ xấu xa hơn, đụng đâu là bốc hốt tới đó. Vậy mà mấy bà cũng vui vẻ phụ họa cùng cánh đàn ông.

Xuân ngồi xếp bằng dưới đất quá lâu. Chàng thấy ê hai chơn. Chàng duỗi dài chơn trái. Vô tình, chơn này xé rách một vài miếng lá chuối khô. Một chồng giấy báo cũ lộ ra. Phía trong chồng báo cũ là một mớ giấy tờ lộn xộn. Chàng đưa mắt liếc coi. Có những thiệp đám cưới. “Sao thiệp báo tin đám cưới Yvette có ở đây? Lại có đến hai ba cái?”


Phùng Xuân cầm lên một cái thiệp in rất trang nhã. Xuân lẩm nhẩm đọc. Đầu óc chàng quay cuồng:

- Ai có mớ nhựt trình cũ nầy đây?

- Dạ. Của em Trung Úy.

- Làm sao chị có được những thiệp báo tin đám cưới nầy?

- Dạ. Nhà em vựa ve chai. Chắc mấy người mua lẻ họ đem đến. Có gì hông, Trung Úy?

Xuân không trả lời. Chàng ngồi im, ngồi im thật lâu, không biết đến bao lâu. Cho đến khi Chúc nhắc đến phiên Xuân phải uống. Chàng cầm ca lên, thò vào nón sắt múc cho thật đầy rồi đưa lên ực mạnh một hơi hết sạch. Chúc quay nhìn Xuân. Không dè mới hơn năm nay thôi mà Xuân thay đổi nhanh chóng. Thời thầy giáo hiền lành đạo mạo ở Tây Ninh đã qua rồi? Nó liếc một lần nữa. Có gì vậy Xuân? Có gì cậu thay đổi dữ vậy?Đâu có lẽ là đời lính tráng làm cậu khoác một cái áo khác?

Sanh xách 2 xị đế về. Chỉ quay 1 vòng là muốn hết. Riêng phần Xuân uống hơn nửa xị. Rồi lại thêm 2 xị nữa. Nhóm người ăn uống lần lần bớt đi. Chỉ còn lại Xuân, Thiếu Úy Thanh, Chúc. Cuối cùng là đế pha xá xị không đá, đầy một nón sắt. Thiếu Úy Thanh e dè hơn, uống cầm chừng. Ông Thượng sĩ Danh Sơn, lúc đầu thì tố dữ lắm, bây giờ lẳng lặng rút lui đâu mất tiêu.

- Thanh! Mầy uống ít. Tối nay coi chừng đại đội dùm tao. Trung đội Nghĩa trực đêm nay, dặn Nghĩa cẩn thận mấy toán tiền đồn.

- Bây giờ cũng sắp giao thừa rồi. Sau giao thừa thì hưu chiến đó, Trung Úy.

- Tin VC là bán lúa giống.Nó phản thùng. Nó đột kích thì mình chết mẹ hết.


Nhưng rồi Xuân quay mặt qua bên, ụa lên một cái. Một vòi rồng nước đục đồ ăn lẫn rượu bắn tràn qua sau. Sau đó, là thêm hai ba hơi rồi chàng gục đầu xuống. Không có một tiếng nói. Cõi không vắng lặng. Đầu óc quay cuồng. Thời gian ở đâu? Không gian ở đâu? Đêm đã khuya. Xuân mơ màng nghe văng vẳng Yvette! Yvette!... Hình như có tiếng trách móc thì thầm bên tai:

- Uống gì mà uống dữ vậy hôn hè? Cho chó ăn chè. Í ẹ! Chua lè chua lét! Tanh ói! Dơ quần dơ áo hết chơn hết chọi!


Một cái khăn ướt đắp lên mặt Xuân, xoa xoa nhiều lần. Mát rười rượi. Đôi bàn tay mềm mại lật nghiêng Xuân qua lại, cổi áo dính đầy đồ ăn và rượu. Và rồi, từ từ tháo đôi giày ra. Và rồi, cái quần dài…


- Chèng đét ơi! Sao mà …………………………

*******

Mái tóc dài ngào ngạt mùi lúa thơm phủ trùm lên mặt Xuân. Và hai tay mềm dịu trở nên cứng rắn nắm tóc chàng cà nghịt, cà nghịt như muốn bứt ra từng sợi... Yvette! Yvette!


Đêm 30 Tết. Trời tối như bưng. Giao thừa đã qua. Gà gáy canh hai…


Phùng Xuân mở bừng mắt ra. Trời đã bửng sáng. Đầu óc còn quay mòng mòng. Chàng nằm im một lúc. Xong ráng chống hai tay ngồi dậy. Chàng ngó qua ngó lại. Im lặng. Cái gì đã xảy ra đêm hôm qua? Thiệp báo tin mừng của Yvette. Uống rượu. Uống thật nhiều la de. Rồi đế. Đế pha xá xị.... Mữa... Mữa... Mữa tới mật xanh luôn. Say không còn biết trời trăng... Bộ quần áo dính đầy đồ ói tanh nằm kia. Ai đã thay chúng? Ai đã làm gì mình đêm qua? Da thịt Xuân còn ướt rít trịt. Ai? Ai? Xuân vụt đứng dậy. Chàng ngó quanh quất. Vắng teo. Đại đội đi đâu? Lều võng còn kia mà!..


Mừng chợt hiện ra, nhìn chàng. Nó cười cười:

- Đêm qua thẩm quyền say quá. Uống dữ à nhen. Hết lade rồi đế.

- Tôi uống nhiều lắm hả? Ủa! Sao ở đây im lặng quá vậy?

- Anh em trong nhà dân chúng đang hô "dô dô", vui vẻ ăn Tết. Bữa nay mùng 1 mà Trung Úy.

- Đêm qua hổng có gì hả? Thằng Lanh có trực máy hay bỏ đi đâu rồi. Thiếu Úy Thanh có cắt 1 trung đội ứng chiến hôn?


Chàng đứng lên, vươn vai, bẻ người qua lại cho tỉnh táo. Xong xuôi đâu đó, chàng đi một vòng xem lại nơi đóng quân. Đám nầy tụm ba tụm bảy đang cười nói um sùm bên xị đế và mấy con khô cá khoai nướng. Họ mời Xuân. Chàng lắc đầu từ chối. Đêm hôm qua xỉn quá rồi. Đám kia chùm nhum bên sòng bài cát tê hay xập xám chướng. Chàng biết vui 3 ngày Tết, nhưng có anh em ra giêng sạch túi. Cấm cản cũng không được. Mấy đại đội khác đều như vậy. Mấy bà vợ nhiều khi cũng có máu đỏ đen như chồng. Qua mùng 3, hết Tết, hết hưu chiến. Tất cả phải trở lại như cũ. Đêm đêm phải di chuyển chỗ ngủ, hết binh, hết tố. Không còn cù lủ, đồng hoa, suốt, ba tây, bù, chín nút gì ráo trọi…

Cái lều của cô Mận không còn ở góc bụi chuối gần sát bên Xuân. Đồ đạc được tem tém. Buổi ăn trưa chỉ còn 2 thầy trò:

- Ủa! Cô Mận đâu rồi Mừng?

- Nó với mấy bà vợ lính về quê ăn Tết. Họ theo xe đò đi từ khuya. Nó nói đi sớm về đến Cần Thơ cho khỏe, với lại gởi lời chào Trung Úy. Ra giêng, họ kêu công gặt rồi.


Xuân ngưng đũa, cầm chén cơm nghĩ đến chuyện đêm qua. Cô Mận chớ hổng ai trồng khoai đất nầy. Cô gái miệt vườn nầy ghê thiệt! Hông hiểu cổ để ý mình từ lúc nào. Cũng em em như Loan, Khanh, Vân. Các cô nầy nhiều khi vượt ra ngoài lề lối…

*******

Buổi trưa bến xe Chợ Lớn đầy nhung nhúc người. Và xe tới bến. Rồi xe đi. Không bao giờ ngớt. Cuộc sống có nhiều cơ cực vì ngăn sông cấm chợ, nhưng người ta cố tìm đủ mọi cách luồn lách để mà sống. Chỉ có cái là đi buôn lậu. Họ tìm mọi cách qua mặt quản lý thị trường. Giấu hàng đủ mọi nơi trong xe chở khách, mọi chỗ trong thân người. Đút lót, quà cáp khi qua mỗi trạm.

- Mừng! Mừng! Anh đi đâu đây?

- Trời ơi! Ông thầy còn sống hả?

- Chết hồi nào đâu? Còn sống nhăn răng đây.

- Vậy mà sau năm 1975, tui ở miền Tây, người ta đồn Sư Đoàn 18 bị banh ta lông ở trận Long Khánh hết rồi. Tui nghĩ chắc ông thầy cũng hông chạy đâu khỏi. Rồi ông thầy đi cải tạo có lâu hông?

- Đủ nếm mùi tù VC. Bây giờ anh làm gì?

- Đang làm lơ xe đò. Xe lúc nầy vô quốc doanh ráo trọi thành thử đói lắm. Xe tui chạy chui. Tui phải bán thêm thứ khác đủ nuôi mấy đứa nhỏ và thằng cháu nầy.

- Thằng cháu nầy con của ai?

- Con của con Mận đó ông thầy!

- Cổ ra sao rồi? Chồng cổ chết rồi hả?

- Em tui có chồng con gì đâu! Đầu năm đó, Mận ở Long Khánh về. Mấy tháng sau thì cái bụng nổi lên chình ình. Ở nhà hỏi: có chửa với ai? Em tui hổng nói. Mặt mày buồn so. Tới kỳ sanh đẻ xong rồi ở vậy nuôi thằng nầy cho đến trọng tuổi thì bị ban cua chết. May là lúc đó tui đổi về gần nhà nên mang thằng nhỏ dìa nuôi cho đến bây giờ. Nó theo tui phụ lơ kiếm chút đỉnh sống qua ngày. À, mà ông thầy, ngộ nghen! Lúc nghe tin đồn Sư Đoàn 18 bị thua trận, em tui buồn rũ rượi. Ngày ngày, Mận nó đốt nhang khấn vái hoài.


Phùng Xuân giựt mình ngó qua thằng nhỏ cũng cở trạc tuổi 20. Từ năm 1966, 1967 đến giờ cũng tròn trèm 20 năm. Nó có vẻ cũng hao hao giống mình. Mà biết có phải con mình trong cái đêm hôm mình say rượu hông?Chàng bán tín bán nghi ngó nó một hồi lâu.

- Ông thầy làm cái gì nhìn thằng Phùng dữ vậy? Bộ nó giống ông thầy lắm hả?

Phùng Xuân thót mình quay lại, ngó thấy Mừng chúm chím cười. Xuân đoán Mừng nghi ngờ điều gì. Cái gì cũng có thể được, nhưng có cái không có thể được! Sao cuộc đời nhà binh mình đa đoan nhiều quá vậy? Xuân gây buồn phiền cho bao nhiêu người? Từ lúc mới ra đơn vị đã nhìn thấy Hiền chết ngay trước mặt mình. Chuyện của Mận có phải tại mình không? Cái không thể biến thành cái có thể. Thằng Phùng đang trờ trờ trước mặt mình đây mà! Xuân có nên nói thiệt câu chuyện đã xảy ra cho Mừng nghe hôn? Mà chắc gì Mừng tin. Nó đâu có nghĩ là em mình dám làm điều đó. Có khi nó còn nghĩ ngược lại. Ông thầy coi em tui như gái qua đường, chơi rồi bỏ. Như thế lại càng khổ cho mình nữa. “Làm sao đây hở cô Mận?” Tui đành có lỗi với cô. Dù sao cũng cám ơn cô. Những ngày tháng nằm kế bên võng của cô, nghe những bài ca vọng cổ mùi mẫn của cô cũng làm cho tui đỡ buồn. Tình yêu thời chiến tranh của cô quá bồng bột, hông tính toán. Thiệt tình tui hông ngờ được.


Lê Phùng Xuân

(Trích trong Trăng Suông )

Monday, August 28, 2023

VÕ ĐẮT - VÕ XU ĐÃ NHIỀU LẦN LÀ NƠI ÁC CHIẾN GIỮA HAI BÊN.

Lời nói đầu: 

Trước đây, tôi đã đăng lại một bài viết về Trận Võ Xu 1966 của một tác giả CS. Và tôi đã rất mong có thêm thông tin về trận này từ một quân nhân nào đó của QLVNCH, và may mắn thay, mới đây trong lúc lang thang trên mạng tôi có thêm thông tin về trận này do TĐ 145 không vận chiến đấu của Mỹ (145th CAB) viết. Hóa ra sau khi chiến sự xảy ra, quân đội Mỹ đã dùng trực thăng bốc BA TIỂU ĐOÀN BĐQ VNCH từ ba địa điểm khác nhau trên quân khu 3 để tiếp viện cho quân bạn.

Tưởng cũng nên nói thêm: 

Khi mới thành lập vào tháng 9/1955, tỉnh Bình Tuy vẫn còn hoang sơ, rừng núi bao la, thú rừng rất nhiều, dân cư thưa thớt, phần lớn là người Thượng Rag-lai và người Chăm. Sau kinh lý tỉnh này vài lần, vì thấy đất đai phì nhiêu, thích hợp với trồng lúa, vì nằm trong Thung Lũng Sông La Ngà, cố TT Diệm đã quyết định đưa dân ở các tỉnh đông dân ở miền Trung đến đây khẩn hoang lập nghiệp. Để bảo vệ họ, chính quyền địa phương lập các ấp chiến lược (ACL) như Gia Huynh, Võ Đắt, Võ Xu, Duy Cần, Lạc Tánh, v.v... các khu dinh điền như Dak Ménou, Khắc Cần, v.v... Từ QL-1, muốn vào Võ Đắt của quận Hoài Đức, có tỉnh lộ (TL) 333 chạy từ Ngã Ba Ông Đồn. Sau khi vượt qua cầu Gia Huynh thì gặp ACL Gia Huynh, chạy thêm 9 km thì tới xã Võ Đắt: ở đây TL 333 chia làm 2 nhánh, chạy thẳng sẽ gặp Núi Võ Đắt, xem hình, quẹo phải là TL-334, sẽ gặp ACL Võ Xu. 

Từ đây TL 334 chia làm 2 nhánh, chạy thẳng sẽ gặp Mépu Đa Sroi hay Suối Đa Sroi, nếu quẹo phải sẽ vào TL-335; sau khi đi ngang cầu Lăng Quăng, các ACL Duy Cần và ACL Lạc Hóa và cuối cùng sẽ tới ACL Lạc Tánh, cũng là quận lỵ của quận Tánh Linh. Từ đây có TL-336, chạy về đông bắc sẽ gặp Bon Ké Trang hay Làng Ké Trang trên QL-20.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

"Sáng sớm ngày 28/2/1966, một lực lượng chính quy VC, ước khoảng một trung đoàn, đã tấn công và tràn ngập xã Võ Xu, được bảo vệ bởi một đv VNCH, mà theo bài viết của một tác giả CS thì đó là TĐ 1/43 sđ 18 bộ binh -- người dịch; nằm phía đông của xã Võ Đắt, xem bản đồ, trong khu vực có tên Vựa Lúa (Rice Bowl). Nói thêm: quận Hoài Đức và Tánh Linh tỉnh Bình Tuy, do phần lớn nằm trong Thung Lũng Sông La Ngà, nên dù ở cao độ trên dưới 100 mét vẫn có thể trồng được lúa. Có thời được xếp hạng THỨ NĂM về sản lượng lúa trong cả nước -- người dịch. 


Lúc 04:55 giờ, TĐ 145 không vận chiến đấu Mỹ đã được báo động để chuyển vận một lực lượng phản ứng nhanh để tăng viện cho lực lượng bạn ở Võ Xu. Lúc 06:30 giờ, 40 trực thăng UH-1D chỡ quân và 17 trực thăng võ trang UH-1B đặt trong tình trạng báo động tại các sân bay Biên Hòa, Vũng Tàu và Tân Sơn Nhứt. Mọi máy bay và phi hành đoàn đã được tập hợp, thuyết trình và sẵn sàng chiến đấu lúc 0730 giờ. Một TĐ BĐQ sẽ được bốc từ Đức Hòa thuộc tỉnh Hậu Nghĩa và đổ xuống Võ Đắt. Một TĐ BĐQ khác được bốc từ Bàu Trai, cũng là tỉnh lỵ của tỉnh Hậu Nghĩa, và đỗ xuống Võ Đắt. Một TĐ BĐQ khác được bốc từ An Lộc của tỉnh Bình Long và đổ xuống phía nam của Võ Xu. Một TĐ BĐQ sau khi đổ xuống Võ Đắt sẽ tiến về khu vực đổ quân ở phía nam Võ Xu. 

Những cuộc đổ quân này đã được thiết kế để bao vây (entrap) và tấn công lực lượng VC trước đó đã tấn công Võ Xu. Ba máy bay đã trúng đạn từ dưới đất bắn lên. Một chiếc chỡ quân phải hạ cánh khẩn cấp. Một trực thăng CH-47 đã nhanh chóng tới và đưa chiếc này khỏi bãi đổ quân. 

Việc bốc đi chiếc máy bay bị nạn này đã diễn ra với một tốc độ nhanh đến độ ko gây trở ngại đến kế hoạch hành quân của quân dưới đất. Cuộc hành quân ngày hôm đó đã chứng tỏ lực lượng Không Vận Chiến Đấu của Lục Quân Mỹ đã thích ứng tốt đẹp với phản ứng nhanh hơn cả những lực lượng dưới đất -- khi việc điều quân đã được thực hiện trong phòng lái với các cấp chỉ huy và bộ tham mưu trên đường bay tới địa điểm đổ quân. Những cuộc thuyết trình ngắn gọn và lịnh lạc rõ ràng là yếu tố thành công trong phản ứng nhanh. 

                                


Nguồn: www.145thcab.com/History/NL24HIST.htm

======

BÀI II - Trận đánh ngày 21/3/1966 tại Võ Xu.

"Trong khi bảo vệ Ấp Tân Sinh (New Life Hamlet) Võ Xu thuộc quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy, ngày 21/3/1966, nghĩa là chưa đến một tháng sau trận đánh kể trên, TĐ 1/52 sđ 18 bộ binh VNCH đã bị tấn công bởi một trung đoàn cộng của VC (gọi như vậy vì quân số của đv này đông hơn một trung đoàn bình thường, khoảng 1.500 người --nguời dịch). Nói thêm: Khi ấp chiến lược bị dẹp bỏ sau khi TT Diệm bị lật đổ, ấp tân sinh được thành lập để thay thế với an ninh lỏng lẻo hơn -- người dịch). 

Ngay từ phút đầu, dù quân số ko cân sức khi một phải chống bốn, TĐ 1/52 này, đã anh dũng đẩy lui cuộc tấn công ồ ạt của đối phương với sức mạnh, dũng cảm và quyết tâm đến độ kẻ thù đã buộc phải rút lui, tập hợp lại, nhận viện binh, và tái tục tấn công từ một hướng khác. Trong trận cận chiến ác liệt xảy ra sau đó (ensue), dù ko có đơn vị nào tiếp viện ngoài pháo và không yễm, TĐ 1/52 vẫn tiếp tục chống cự sự xâm nhập của đối phương võ trang mạnh mẻ bằng súng tự động, đại liên 50, cối và súng không giựt. Quân VC, trong vòng ba giờ, sau khi bị đẩy lui hai lần trong các cuộc xung phong cấp TĐ và đại đội cộng, cuối cùng đã tràn ngập (overwhelm) một đoạn của chu vi phòng thủ và tiến cách BCH tiểu đoàn chừng vài mét, nhưng đã bị đẩy lui. TĐ 1/43 đã tiếp tục chiến đấu anh dũng suốt đêm chống lực lượng áp đảo của địch. Lúc 06:25, VC đã buộc phải rút lui về hướng nam". 

Dịch từ bản tuyên dương TĐ 1/52 sđ 18 bộ binh của VNCH, do Bộ Quốc Phòng Mỹ lập trong năm 1967. Trong giấy khen có hàng chữ, tạm dịch: 

... "Thông qua những hành động này của TĐ 1/52, một trang mới đã được viết trong lịch sử của những nỗ lực quân sự nổi bật (outstanding military endeavor) và những hành động này đã giữ đúng truyền thống cao nhứt của quân đội"...

Kèm theo tuyên dương này là huy chương Valorous Unit Award, xem hình. Thời đó mỗi TĐ bộ binh hay Dù hay TQLC hay BĐQ đều có một toán cố vấn khoảng 3 người gồm một sĩ quan, một hạ sĩ quan và một người mang máy truyền tin. Ngoài việc kêu máy bay hay pháo binh Mỹ để yểm trợ hay tải thương cho đv mà họ làm cố vấn; sau mỗi cuộc hành quân, họ báo cáo thành tích của TĐ mà họ làm cố vấn lên Ban Cố Vấn của trung đoàn bộ binh hay lữ đoàn Dù hay TQLC hay liên đoàn BĐQ. Do vậy chiến công anh dũng của TĐ 1/52 của sđ 18 VNCH đã được bộ quốc phòng Mỹ biết nên họ đã tuyên dương đv này.

Nguồn: https://armypubs.army.mil/epubs/DR_pubs/DR_a/NOCASE-AGO_1968-10-000-WEB-0.pdf

====

BÀI III - Quân Mỹ tham dự hành quân New Life 65 tại xã Võ Đắt, thuộc tỉnh Bình Tuy.

Từ ngày được triển khai tới thung lũng sản xuất lúa gạo, phì nhiêu này, lữ đoàn (LĐ) 173 Nhảy Dù Mỹ và các đv tăng phái đã gây thiệt hại nặng nề cho các đv địa phương của vc, và đã bắt đầu một chương trình dân sự vụ qui mô lớn lao với tốc độ chưa từng thấy. Cuộc hành quân (HQ) có tên bằng tiếng Việt là Đời Mới 65 đã bắt đầu với việc trực thăng Mỹ đổ TĐ 2/503, thuộc LĐ 173 dù, xuống sân bay Võ Đắt. Các người lính nhảy dù này đã nhanh chóng giữ gìn an ninh cho sân bay để sau đó vài phút là các đv khác đến sân bay này bằng máy bay vận tải C-130 của Không quân và trực thăng của Lục quân Mỹ. Lúc xế chiều, khu vực Võ Đắt ầm ỉ với pháo binh Mỹ bắn đi trong khi bộ binh tiến vào vị trí đóng quân đêm. Ngày hôm sau, lực lượng này, đã lục soát kỹ lưỡng con đường từ Võ Đắt đi về phía nam khoảng 15 km, có lẽ đi tới Gia Huynh, một ấp chiến lược (ACL) nằm trên TL-333 -- người dịch. Việc làm này là tín hiệu sẽ có một đoàn công-voa với nhiều TĐ di chuyển từ Biên Hòa đến Võ Đắt. Dù vài cầu bị hư hỏng hay phá hủy bởi VC giữa Gia Rai và Võ Đắt, lính Công binh Mỹ đã nhanh chóng sửa chữa các cầu này và đoàn công-voa đã đến khu vực chỉ định mà ko bị tấn công. Trong khi đó, sân bay Võ Đắt, hoạt động hết công suất, đã đón nhận các máy bay tái tiếp tế hay chỡ quân hay tải thương với nhịp độ cứ 6 phút một chiếc hạ hay cất cánh. Máy bay vận tải CV-7 Caribou, do Canada sản xuất, xem hình, lần đầu tiên được dùng tại VN để yểm trợ cho cuộc HQ này. Nhiệm vụ bảo vệ cho dân thu hoạch lúa được giao cho LĐ 173 nhảy dù trong HQ Đời Mới 65. Các kế hoạch dân sự vụ có sự hợp tác của 4 nước; Úc, Phi Luật Tân, Đại Hàn, và Mỹ trong việc phân phối thực phẩm và trợ giúp y tế. Các chiến sĩ đã sửa chữa rất nhiều cầu cống và nhà cửa. 

Nguồn: https://www.vhpa.org/KIA/panel/battle/65121102.HTM                           


Saturday, August 26, 2023

 Một số ảnh về khu trù mật Võ Đắt, chụp khoảng tháng 4/1962.







Thursday, August 17, 2023

 

Tánh Linh - trăm năm dáng núi

07/04/2023, 09:24 - Lượt đọc: 3,258

Từ năm Thành Thái thứ 13 (1901) Tánh Linh là địa danh hành chính cấp huyện, tách từ hai tổng Cam Thang, Ngân Chữ của thổ huyện Tuy Lý, phủ Hàm Thuận nhưng bấy giờ thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

Tri huyện đầu tiên là người Chăm tên Mã Ôn (1). Ba năm sau, đến năm Thành Thái thứ 16 (1904) mới chuyển huyện Tánh Linh nhập lại phủ Hàm Thuận thuộc tỉnh Bình Thuận gồm 17 thôn sách, chia ra 3 tổng: Cam Thang, Ngân Chữ và Nông Tang (2). Thời Minh Mạng thứ 17 (1836), tổng Nông Tang thuộc huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận đã có địa danh thôn Tánh Linh (cùng thời với các thôn trong khu vực (Ma Lâm, Hiệp Nghĩa, Phù Trì).

Dân bản địa vùng cao Tánh Linh xưa chỉ có các bộ tộc người thiểu số Rai, K’ho, Châu Ro, Mạ sống theo buôn, mang, sách… Và duy nhất có làng Chăm Lạc Tánh (Palei Picam) và về sau dần dần người Kinh các vùng lân cận đến nhập cư sống nghề rừng, buôn bán trở thành trung tâm dân cư huyện lỵ Tánh Linh. Dưới triều vua Minh Mạng thứ 5 (1824) ban sắc phong Thần quản tế cho Pô Harum Cơk (Pô Lâm Chớ) lãnh chúa người Chăm cai quản vùng này.

Những địa danh huyền thoại

Đất huyện miền núi Tánh Linh, phía tây Bình Thuận ngày đó có địa giới giáp huyện Xuân Lộc, Túc Trưng (Đồng Nai), Đạ Oai, B’lao (Lâm Đồng)… Khi chưa lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đất Di Linh thổ phủ (Di Dinh/ Djiring) từ năm 1899- 1905 là địa lý hành chính do Công sứ Bình Thuận quản lý. Sau đó tách ra trả về vùng cao nguyên để tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng vào năm 1920. Trước đó, theo Doanh điền sứ Nguyễn Thông ghi trên châu bản “Doanh điền biểu văn” (1877) kể lại cuộc hành trình khảo sát vùng núi này, khi đi qua đất Lão Lâm (sát Võ Xu) đến cánh đồng lớn vào đất La Ngư (La Ngà), ruộng khẩn 3.000 mẫu, rồi theo chân núi Ông đến thôn Lạc Tánh, làng người Chăm theo đạo Bàni ở phía tây Bình Thuận có từ thời Minh Mạng thứ 5 thuộc tổng Nông Tang, huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận. Từ điển Địa danh đối chiếu… của Sakaya ghi Tánh Linh/ Danaw Aia Lin/Ling (hồ/ bàu) do người Pháp phiên âm (3). Hoặc có thể viết“Danau Halin”, đều có nghĩa “Bàu nước thiêng” bởi địa hình một lòng chảo được bao quanh bởi núi cao và con sông La Ngà. Tựu chung, chữ Danaw Lin/Ling, là trường hợp viết theo gốc Chăm bằng chữ Latin và người kinh đọc chệch âm thành Tánh Linh.

Nói đến Tánh Linh là phải nhắc đến con sông La Ngà, còn có tên gọi khác như La Nha, La Ngư… có chiều dài trên 270 km, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh chảy qua địa bàn Tánh Linh, Đức Linh ngày nay. Dòng sông có nhiều đoạn ngoằn ngoèo rồi nhập vào sông Đồng Nai chảy ra biển Đông, tạo nên một lưu vực lớn, đất đai trù phú. Riêng tên con sông đã đồng hành cùng dòng chảy miên man có nhiều cảnh quan huyền ảo và biết bao điều kỳ diệu. Với sách “Gia Định Thành Thông Chí”(4) gọi là La Nha Giang, mô tả sông La Ngà bắt nguồn ở phía bắc thượng lưu Phước Long Giang- sông này từ núi Phố Chiêm chảy ra phía bắc gọi là sông Dã Dương rồi vòng quanh núi Cộp Cộp, do dòng nước chảy xiết cọ vào đá phát ra tiếng kêu cộp cộp. Có tư liệu cho rằng La Ngà là biến âm của từ Rơnga theo người Mạ hoặc La Ngà có gốc của người K’ho với nghĩa Lơnga là hạt mè vì dòng sông này mùa hạ có đoạn khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh, thấy như một bãi phơi hạt mè, nên đặt tên sông Hạt Mè (Lơnga/Hạt mè). Người Việt đọc chệch âm từ Lơnga thành La Ngà.

Nhưng với cách giải thích có sức thuyết phục hơn, theo Đại Nam Quấc Âm tự vị- Huình Tịnh Của, viết “Là Ngà” là tên một loài tre - mọc đầy hai bờ sông. Âm ngữ gốc địa danh này là Laghna. Người Việt mượn tên loài tre Là Ngà để phiên âm địa danh Laghna, về sau do đọc chệch thành La Ngà.(Cửa sổ tri thức, trg 56 -Pgs.Ts Lê Trung Hoa). Nguồn phù sa, trầm tích màu mỡ từ con sông “lực lưỡng” giữa đại ngàn này đã tạo nên những lưu vực phì nhiêu với những cánh đồng, đầm trũng, ngập nước quanh năm. Ở đây vừa là những cánh đồng rộng lớn, vừa là hồ nước ngọt mênh mông, tôm cá đầy đàn như Bắc Ruộng (Bác Dã), Đồng Kho, Biển Lạc/Lạc Dã… Từ đó trong dân gian có câu “cá Biển Lạc, lúa Đồng Kho”.

Đọc lại trang sử một thời

Sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) Nhà Nguyễn thỏa hiệp giao cho Pháp vùng lãnh thổ Nam kỳ Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nhưng vua Tự Đức âm thầm tính kế “Tạm thời khuất mình, không bị mất đất đai thì nên lắm”. Trước nguy cơ lần lượt mất thêm các tỉnh miền Tây, nhiều sĩ dân Nam kỳ bỏ xứ chạy ra vùng Giao Loan Bình Thuận lánh nạn. Đang lúc nghĩa quân Trương Định bị thất thế thì Phan Trung (Phan Cư Chánh/ Chỉnh) đứng ra tiếp lãnh sứ mệnh, rút quân về Giao Loan là địa bàn hiểm trở giữa Tánh Linh - Biên Hòa, không nằm trong nhượng địa Pháp để lập căn cứ. Với 500 nghĩa sĩ bất khuất của Phan Trung, khai phá vùng đất hoang để tự túc lương thực và rèn đúc vũ khí, xây dựng lực lượng tự xưng “Bình Tây Phó Nguyên Soái”, được vua Tự Đức ngấm ngầm ủng hộ với kế sách vừa đánh vừa đàm…

Năm Tự Đức thứ 30 (1877) Thị giảng học sĩ Nguyễn Thông được giao chức Doanh điền sứ tỉnh Bình Thuận, trực tiếp đi hội khám vùng La Ngư và vùng thượng du đã lập bản “Nghỉ thinh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ” (Bài sớ khai khẩn đồn điền vùng thương du), có đoạn mô tả vùng đất vàng của Tánh Linh giữa núi cao rừng thẳm như thế này: “Biển Lạc vốn là một chằm lớn, mùa hè mùa thu mưa nhiều, các khe suối từ thượng nguồn đổ xuống, thế nước tràn trề, cá tôm đầy dẫy. Đầu xuân nước cạn, dân cư chọn cá tươi mà nấu, đến tháng tư mưa xuống mới thôi. Thật là một kho vô tận nuôi sống dân địa phương”(5). Không có gì lạ, khi phát hiện của đoàn hội khám ở phía bắc bờ sông La Ngư, phía nam đến núi Ông có “ruộng đã khai khẩn khoảng hơn 3.000 mẫu”… Nhưng vẫn còn thưa thớt dân cư mà chỉ có nhóm dân miền Nam đến Lạc Dã/Biển Lạc, lại mới dựng 15 nóc nhà! Có thể giải mã phần nào trong bối cảnh tình hình phong trào chống Pháp của Phan Trung. Đó là việc Phan Trung chiêu mộ 2.000 nghĩa binh tiếp tục chiến đấu và tổ chức 500 nghĩa binh, đã cùng với các sĩ phu thân tín trung thành của Trương Định, Tham tán quân vụ Lương Quang Quyền, Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương mộ phu, tuyển binh, khai khẩn đất hoang, lập “đồn diến khố”, tích trữ lương thảo… ở vùng đất này. Cho đến khi phải đương đầu trước nhiều áp lực từ triều đình Huế với Pháp, đành phải giải binh, coi như đã hết vai trò và phần lớn trở về quê nhà sinh sống hay tản lạc các nơi có cư dân ổn định. Bởi đây là vùng đất của tộc người miền núi sống gần gũi lâu đời với buôn rẫy và vẫn còn là vùng đất sơn lâm chướng khí. Thời Nguyễn Thông khi đi sâu vào vùng này rất khó mà giao tiếp với người dân tộc bản địa. Thậm chí họ còn trốn chạy nên những cuộc khảo sát không có người dẫn đường. Cho nên những mộ phu, nghĩa sĩ, lưu dân người kinh dù từng có mặt ở đây cũng khó thích nghi để chọn lựa cuộc sống an cư lập nghiệp.

Trong lịch sử hình thành vùng đất Giao Loan Biên Hòa - Tánh Linh (Bình Thuận) có một lợi thế chiến lược và trở thành căn cứ khá an toàn để xây dựng lực lượng cho phong trào yêu nước trong thời kỳ chống Pháp ở miền Đông Nam bộ. Không xa mấy với các địa danh Lạc Dã, Bác Dã, Dã An, Võ Xu, Võ Mang… dù quá trình biến đổi các địa danh do phát âm, chữ viết nhưng vẫn là một bằng chứng khá sinh động trên bản đồ vùng đất huyện Tánh Linh xưa và nay.

Mối quan hệ giữa Bình Thuận với hạt/trấn Biên Hòa khá đặc biệt trong hiệp đồng giữ ấn quan phòng tuần phủ. Như trường hợp cử chức án sát Bình Thuận đi làm án sát Biên Hòa hay năm 1849, đưa Phó lãnh binh Biên Hòa là Lê Công Đức thăng chức lãnh binh quan tỉnh Bình Thuận. Đặc biệt hơn, bố chánh Biên Hòa Phạm Duy Trinh thấy dân trong hạt ngày càng tăng mà đất đai khô cằn nên nghĩ tới việc khai phá đất hoang với nhiều chính sách ưu đãi thuế, miễn đi lính để người dân đến vùng đất Chủ Chân (núi Chứa Chan) lập nghiệp. Thấy nguy cơ “tụ nghĩa” của những người dân có tinh thần kháng Pháp từ các nơi đến đây lánh nạn nên năm1866 triều đình Huế bị sức ép của Pháp phải ra lệnh đình chỉ việc khai khẩn đồn điền ở Tánh Linh (theo Địa chí Đồng Nai). Tiếp đó, năm 1890 lệnh “sáp nhập lãnh thổ người Mọi ở Tánh Linh vào Biên Hòa” (ĐCĐN- trang 203). Để dễ bề quản lý, năm 1899, Pháp cho thành lập quận núi Chứa Chan (thuộc tỉnh Biên Hòa). Sau đổi thành quận Võ Đắc, quận lỵ đặt tai xã Gia Ray. Năm 1912, bãi bỏ quận Võ Đắc để nhập vào quận Xuân Lộc (1924) đặt quận lỵ tại Xuân Lộc (thành phố Long Khánh hiện nay).

Nói đến địa danh hành chính quận/huyện Võ Đắc và liên hệ lại thị trấn Võ Đắc cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thời VNCH thuộc tỉnh Bình Tuy (1957-1975). Trong sách Nam Kỳ Địa Hạt Tổng Thôn…(1892) ghi Hạt Biên Hòa có 17 tổng, 196 thôn, trong đó tổng Bình Tuy có 7 thôn, gồm Cao Cang, Định quán, La Canh, Lý Lịch, Thuận Tòng, Túc Trưng, Vĩnh An. Phù hợp với bản đồ “Annuaire de l’Indochine.Hanoi 1910”- trên đất huyện Tánh Linh xưa đã có tổng Bình Tuy. Năm 1899, tổng Bình Tuy nhập vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Cạnh bên là Hạt Biên Hòa/ Đồng Nai có tổng Phước Thành, trong đó có các thôn Gia An, Trà Tân và Dõ Đắt/ Võ Đắc…(6) là địa danh quận lỵ Hoài Đức trước đây- là một thị trấn của huyện Đức Linh ngày nay.

Những địa danh tên đất Tánh Linh- Đức Linh xưa nay và cả tỉnh, hạt Biên Hòa/Đồng Nai xen lẫn, chồng lấn lên nhau ở một số địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Bình Thuận - Đồng Nai, đã làm nên sự giao thoa, tính cách, nếp sống văn hóa của con người ở đây, bởi dung hợp một phần Nam bộ hào phóng, một xứ miền Trung nghĩa tình…

Tại sao thời Ngô Đình Diệm khi ký sắc lệnh thành lập tỉnh Bình Tuy (24/1/1957) lại chọn địa danh hành chính là Bình Tuy? Có suy diễn cho rằng ghép hai tỉnh lân cận, chọn một từ Bình của Bình Thuận với Tuy của Phước Tuy! Chẳng lẽ đơn giản vậy, vì Phước Tuy cũng là một tỉnh mới cùng thời gian thành lập tỉnh Bình Tuy. Từ đó mới thấy sự tính toán của Ngô Đình Diệm, không những chọn địa bàn La Gi, Hàm Tân với vùng biển đã ổn định về cư dân mà vẫn phải mở rộng lên vùng cao Tánh Linh, đất đai trù phú, được coi là địa bàn chiến lược về quân sự lẫn kinh tế ở cuối dãy Trường Sơn. Cho nên mới tách phần đất rộng lớn của Tánh Linh lập quận Hoài Đức và quận lỵ ban đầu đặt tại Bắc Ruộng.

Những cột mốc để khởi đầu

Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đất Tánh Linh nối dài với miền Đông Nam bộ, trở thành một căn cứ địa kháng chiến vững chắc có tầm chiến lược rất quan trọng. Dấu mốc mang tính lịch sử lớn nhất, sau hơn 50 năm (1904 - 1956) địa danh hành chính huyện Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Thuận, tồn tại trên bản đồ tỉnh Bình Thuận để trở thành một thành trì căn cứ cách mạng, kiên cường nhất với cuộc chiến chống Mỹ oanh liệt. Đây cũng là vùng đất thật sự giàu tiềm năng thiên nhiên nên chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương đưa dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đến các khu Dinh điền Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn ở Hoài Đức và Gia An, Võ Xu, Hiếu Tín, Đồng Kho, Tà Pao ở Tánh Linh. Tiếp đó là các đợt di dân từ Quảng trị, Thừa Thiên - Huế… đến lập nghiệp. Đất Tánh Linh, Hoài Đức trở thành đất tỵ địa, đất tụ nghĩa, đất của người dân tứ xứ chăm chỉ lao động, không chịu khuất phục và có ý chí vươn lên để thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu.

Tháng 7/1960, trận đánh hủy diệt Chi khu quận Hoài Đức - Bắc Ruộng có ý nghĩa lịch sử gây chấn động toàn miền và buộc địch phải dời quận lỵ Hoài Đức về xã Võ Đắc và từ năm 1980 đặt tại thị trấn Võ Xu. Sau ngày thống nhất đất nước 1975, với chủ trương của Trung ương, hai huyện Tánh Linh và Hoài Đức được sáp nhập thành huyện Đức Linh. Đây cũng bí danh của tổ chức Đảng của huyện căn cứ cách mạng Nam Thành từ năm 1970.

Ngày 26/4/1983, huyện Đức Linh lại được tách thành hai huyện Tánh Linh và Đức Linh, để mở ra một trang sử mới cho chặng đường xây dựng và phát triển. Phía Bắc sông và Nam sông của dòng sông La Ngà như một chứng nhân lịch sử của vùng đất lắm thăng trầm nhưng giàu lòng nghĩa khí…                    

Trích và tham khảo từ:

*Đại Nam Nhất Thống Chí -Bình Thuận (2)

*Địa chí Bình Thuận- (1).

*Nguyễn Thông, con người tác phẩm- (5).

*Từ điển Địa danh đối chiếu –Sakaya (3).

*Gia Định Thành Thông Chí -(4)

*Nam kỳ địa hạt tổng thôn- (6) Sách ghi: thôn Dõ Đắt- là đọc, viết theo âm Nam bộ thay vì Võ Đắc- địa danh này có từ trước 1892.        

PHAN CHÍNH

Saturday, August 12, 2023

 http://rarasa.org.au/wp-content/uploads/2016/05/A-DUTY-DONE-Addendum.pdf





Thursday, August 10, 2023

CHIẾN DỊCH TÁNH LINH - HOÀI ĐỨC TỪ THÁNG 12 NĂM 1974 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 1975.

Lời nói đầu: Thời gian qua, chúng ta đã biết về trận đánh tại làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Tuy vào cuối năm 1974 đến tháng 3 1975 theo bài viết của các cựu thiếu tá Lê Phi Ô, tiểu đoàn trưởng của TĐ 344 ĐPQ thuộc tiểu khu Bình Tuy, hay cựu thiếu tá Nguyễn Hữu Chế tiểu đoàn trưởng của TĐ 2/43 sđ 18 bộ binh hay cựu pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân và Nguyễn Phát Tài thuộc sđ 18 bộ binh. 

Các tác giả trên có nhắc tới việc tham chiến của liên đoàn (LĐ) 7 BĐQ tiến quân theo tỉnh lộ (TL) 333 để tiếp viện cho chi khu Hoài Đức; hay TĐ 2/43 của sđ 18, do thiếu tá Chế chỉ huy, vào giờ chót đã được trực thăng vận để giải cứu chi khu này trước khi bị tràn ngập. Nhưng theo bài viết sau đây của cựu đại tá Le Gro thuộc Phòng Tùy viên Quốc Phòng DAO thì trong trận này còn có hai TĐ của trung đoàn 48 sđ 18 tiến quân theo TL này để tiếp viện cho Hoài Đức. 

Do đại tá Le Gro là một sq cao cấp của cơ quan DAO, hàng ngày làm việc với Phòng 2, Phòng 3 và Trung tâm Hành quân của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, nên tôi nghĩ bài viết của ông giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ hơn về chiến dịch này.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 135-136 của quyển Từ Ngưng Bắn Đến Đầu Hàng của ông.

                           

"Bình Tuy-Long Khánh

Bộ tổng tham mưu QLVNCH và tư lịnh của quân đoàn III đã biết một cách khá chính xác rằng trung đoàn 33 csbv dự định tấn công quận lỵ Hoài Đức tỉnh Bình Tuy và trung đoàn tân lập 812 csbv, gồm các TĐ của tỉnh Lâm Đồng kế cận, sẽ tấn công quận lỵ Tánh Linh cùng tỉnh. Hơn nữa họ đã ước tính đúng đắn rằng trung đoàn 274 csbv cũng sẽ tham chiến. (Vì cuối tháng 11/1974, trong một cuộc chạm súng nhỏ ở đông bắc Xuân Lộc, họ đã tịch thu một tài liệu cho thấy đối phương sẽ tấn công Gia Rai và triệt hạ các tiền đồn dọc tỉnh lộ 333 và trung đoàn 812 csbv sẽ hỗ trợ những cuộc tấn công này -- trang 135, sách đã dẫn). Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, xã Gia Rai là một căn cứ quân sự lớn ở bên trái tỉnh lộ 333, cách QL-1 khoảng 5km, có hai sân bay, đường xe lửa xuyên Việt đi ngang căn cứ, đi thêm 18 km sẽ gặp xã Võ Đắt -- người dịch). Một bộ tư lịnh mới cấp sđ của csbv đã được thành lập để điều khiển cuộc hành quân (HQ) này. Do thiếu thông tin nên lúc đầu QLVNCH đã đặt tên cho đối thủ mới của mình là sđ quân khu 7, vì sđ này hoạt động trong quân khu 7. Sau đó họ mới biết đó là sđ 6 csbv, chỉ huy ba trung đoàn kể trên, cộng với những đv về tiếp vận - giống như các sđ chính quy khác của csbv. 

 https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/xa_cam_my-6430-1.pdf

Khi quân csbv bắt đầu tấn công, không có các đv chánh quy của QLVNCH tại tỉnh Bình Tuy. Chỉ có các đại đội ĐPQ đã được triển khai ở các làng chánh, và các đv nhỏ hơn của ĐPQ hay nghĩa quân canh giữ các cầu và các trạm kiểm soát dọc tỉnh lộ (TL) 333 và 335 - hai con đường còn xử dụng được của Hoài Đức và Tánh Linh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm vẽ từ năm 1968, trong khu vực của quận Hoài Đức và Tánh Linh, ngoài hai tỉnh lộ (TL) vừa kể, còn có TL 334 từ Võ Xu chạy về phía đông bắc, và TL 336 chạy từ QL-1 đến quận lỵ Tánh Linh và sau đó đi về phía đông bắc, sau này do mất an ninh nên hai TL này không còn xử dụng. Do vậy muốn đến Tánh Linh, thay vì dùng TL-336 ngắn hơn, người ta phải theo TL-333, chạy từ Ngã Ba Ông Đồn trên QL-1, khi qua khỏi Võ Đắt, đi tiếp TL-334, sau khi tới Võ Xu, sẽ gặp một ngã tư, quẹo phải vào TL-335, đi qua làng Duy Cần để tới quận lỵ Tánh Linh -- người dịch). Dân số ít ỏi của tỉnh này đã tập trung trong những làng dọc theo 2 đường này, thường chạy dọc theo dòng chảy uốn khúc (meander) của sông La Ngà. Bắt nguồn từ những núi cao 5.000 bộ hay 1.424 m nhìn xuống những rừng rậm của khu tứ giác (quadrant) này của tỉnh Bình Tuy, sông La Ngà đã chảy xuyên qua vựa lúa này của tỉnh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, dù khu vực này ko phải là đồng bằng như châu thổ sông Cửu Long, nhưng lại trồng nhiều lúa, phần lớn ở phía bắc của sông La Ngà, nên được dân địa phương gọi là Bắc Ruộng -- người dịch). Hai quận lỵ, Tánh Linh ở phía đông và Hoài Đức ở phía tây của tỉnh đều có sân bay. Một ngôi làng rất lớn của tỉnh là Võ Xu, khoảng giữa hai quận lỵ này. (Nói thêm: Dựa vào bản đồ đính kèm, làng Võ Xu ở dọc theo tỉnh lộ 334, và phía tây nam của nó là làng Võ Đắt, ở dọc theo tỉnh lộ 333, trước đây từng là ấp chiến lược (ACL), được lập ra thời tổng thống Diệm vì dân làng sống tập trung dọc theo các tỉnh lộ, và các khu xóm trong làng giống như bàn cờ. -- người dịch). 

Bản đồ xã Võ Su quận Tánh Linh tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/tanh_linh-6531-3.pdf

Bản đồ xã Võ Đắt quận Hoài Đức tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dinh_quan-6431-2.pdf

Trung đoàn 812 csbv đã tấn công Tánh Linh ngày 8/12/1974. Yểm trợ bởi TĐ 130 pháo binh, một TĐ đặc công và ba TĐ bộ binh, họ đã tấn công chi khu, vị trí pháo binh trên đồi kế chi khu, và những làng giữa Tánh Linh và Võ Xu. Ngày kế, trung đoàn csbv này đã chiếm hai khẩu 105 ly ở Tánh Linh và những làng chung quanh, và kiểm soát tỉnh lộ 335  giữa Võ Xu và Tánh Linh.

Quân đoàn III VNCH đã ra lịnh sđ 18 bộ binh, với liên đoàn 7 BĐQ tăng phái, từ Xuân Lộc tăng cường cho ĐPQ của Bình Tuy. Khi TĐ 32 BĐQ lọt vào ổ phục kích đã giăng sẵn dọc TL 333 và bị thiệt hại nặng, điều này cho thấy trung đoàn 33 csbv đã áp dụng chiến thuật công đồn đã viện. Sau đó TĐ 1 và 2 của trung đoàn 48 sđ 18 bộ binh đã tăng cường cho nỗ lực này khi được lịnh tiến quân theo TL 333 và chẳng bao lâu đụng nặng ở bắc Gia Ray. Những ngày sau đó TĐ 85 BĐQ đã tham gia chiến đoàn này, bây giờ gồm có hai TĐ bộ binh và hai TĐ BĐQ, nhưng các đv BĐQ, dẫn đầu của chiến đoàn này, ko thể vượt qua khỏi làng Gia Huynh, ở 16 km nam của Hoài Đức. Vì Trung đoàn 33 csbv, với hầm hào vững chắc, đào dọc theo TL 333, đã được yểm trợ mạnh mẻ với cối và pháo binh.

Ngày 17/12, làng Duy Cần, giữa làng Võ Xu và quận lỵ Tánh Linh, đã bị tràn ngập bởi trung đoàn 812 csbv, và vài kẻ sống sót của đại đội (đ/đ) 700 ĐPQ đã chạy thoát về quận lỵ Tánh Linh. (Nói thêm: làng Gia Huynh, trên tỉnh lộ 333 và làng Duy Cần, trên tỉnh lộ 335, cũng là các ấp chiến lược cũ.-- người dịch). Dù vẫn nằm trong tay QLVNCH, nhưng các tiền đồn cũng như quận lỵ Hoài Đức và Tánh Linh đang bị pháo kích nặng nề, nên tướng Dư Quốc Đống, TL của QĐ 3 đã ra lịnh cho sđ 18 không nên cố gắng vượt qua Gia Huynh trên TL 333. Với các cuộc tấn công của địch từ Tây Ninh tới Phước Long, ông ko muốn bốn TĐ này của ông bị chia cắt và hủy diệt khi tiếp viện cho Hoài Đức. Trong khi đó, quân csbv đã phá hủy một cây cầu ở nam quận lỵ Hoài Đức (có lẽ là cầu Gia Huynh -- người dịch) và chiếm Võ Xu, và gia tăng tấn công vào quận lỵ Tánh Linh. Sau khi pháo kích 3.000 đạn pháo trong ngày 23 và 24/12, quân csbv đã tấn công 5 đợt, cuối cùng đã tràn ngập phòng tuyến cuối cùng của quận lỵ Tánh Linh vào ngày Giáng Sinh. Trong khi đó, Hoài Đức bị tấn công bởi trung đoàn 274 thuộc sđ 6 csbv. 

Sau khi trung đoàn 274 csbv đã lọt qua một số phòng tuyến của chi khu Hoài Đức và chiếm đầu cầu (foothold) ở rìa đông bắc và tây nam của chi khu, sđ 18 bộ binh VNCH đã lần lượt trực thăng vận TĐ 1 và 2 của trung đoàn 43 vào phía tây và bắc của chi khu và bắt đầu đẩy lui địch ra khỏi chi khu. Trong khi hai TĐ của trung đoàn 48 VNCH vẫn cố thủ ở phía bắc Gia Ray trên TL 333, liên đoàn 7 BĐQ mệt mỏi và rất kiệt sức (deplete) được lịnh rút về tỉnh Bình Dương để dưỡng quân và bổ sung quân số và tái tiếp tế. Vì tất cả các đv trừ bị của sđ 18 bộ binh đều đã tham chiến, bộ tổng tham mưu (BTTM) đã chuyển liên đoàn 4 BĐQ từ Kontum về căn cứ Long Bình để dưỡng quân, bổ sung quân số và tái tiếp tế và được quân đoàn III dùng làm trừ bị.

=====

Nói thêm: Qua bài viết của đại tá Le Gro, ta thấy việc phối trí lực lượng của sđ 6 csbv ở tỉnh Bình Tuy, là nằm trong một kế hoạch lớn hơn của ban lãnh đạo CSBV nhắm cầm chân QLVNCH để đối phương ko thể tiếp cứu lẫn nhau. 

Chẳng hạn như trước khi chi khu Đồng Xoài, còn gọi là Đôn Luân, tỉnh Phước Long bị tấn công vào ngày 13/12/1974, để mở đầu chiến dịch Tánh Linh Hoài Đức, ngày 8/12/1974, trung đoàn 812 csbv đã tấn công chi khu Tánh Linh, vị trí pháo binh trên đồi và các làng giữa Tánh Linh và Võ Xu, để ngăn ko cho quân tiếp viện từ Võ Xu kéo tới Tánh Linh. 

Trong khi đó, trung đoàn 33 csbv có nhiệm vụ đánh quân tăng viện cho Hoài Đức. Quân tăng viện lúc đầu chỉ có hai TĐ BĐQ, nhưng sau khi một TĐ bị phục kích và thiệt hại nặng khiến quân tăng viện lên đến bốn TĐ. Tuy nhiên quân tăng viện cũng ko thể vượt quá Gia Huynh trên TL 333.

Sau khi Tánh Linh đã thất thủ đúng ngày Giáng Sinh 1974, chi khu Hoài Đức bị trung đoàn 274 csbv tấn công. Và sau đó vài giờ, chi khu Định Quán thuộc tỉnh Long Khánh trên QL-20 cũng bị tấn công.

Trong quyển Black April, trên trang 251-252, George Veith đã có những thông tin đáng chú ý như sau: 

"Trong khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, sđ 6 csbv đã phối hợp chặc chẻ với sđ 7 csbv trong kế hoạch tấn công các tiền đồn dọc theo các QL-1 và QL-20 (Sài Gòn đi Đà Lạt). Từ 15 đến 18/3/1975, Bắc quân đã tấn công các tiền đồn trên liên tỉnh lộ (LTL) - 2 từ Bà Rịa đi Xuân Lộc. (Nói thêm: sđ 18 bộ binh và Nhảy Dù đã theo đường này khi rút lui khỏi Xuân Lộc tháng 4/75 -- người dịch). Tới ngã ba Tân Phong, họ theo QL-1 tiến về phía đông, tràn ngập một căn cứ quan trọng của sđ 18 ở chân  Núi Chứa Chan*, còn có tên là núi Gia Ray, cao 837 m. (Nói thêm: Theo một hồi ký, căn cứ này bị thiệt hại nặng vì bị đặc công đột nhập -- người dịch).

Ngày 28/3/1975, sđ 6 csbv đã kiểm soát một đoạn 30 dặm hay 48 km trên QL-1 từ Núi Chứa Chan tới Hàm Tân, Bình Tuy. Huyết mạch quan trọng cuối cùng từ SG đến miền Trung đã bị cắt, khiến QLVNCH ko thể dùng QL-1 để tiếp viện cho quân đoàn 2. 

Vài giờ trước khi sđ 7 tấn công Định Quán, trung đoàn 812 csbv đã mở mặt trận thứ ba trên khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, khi tấn công làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức Bình Tuy. Những người lính ĐPQ kiên cường (stalwart) của Võ Đắt, dù đã trải qua 30 ngày trong vòng vây của quân csbv, đã đẩy lui các cuộc tấn công liên tiếp của địch trong 3 ngày. Không còn kiên nhẩn với thành tích chiến đấu này của trung đoàn 812, tướng Trần văn Trà ra lịnh phải nhanh chóng dứt điểm chi khu Hoài Đức. Trong những giờ đầu tiên của sáng ngày 20/3, sau một cơn mưa pháo dồn dập, quân của trung đoàn đã xung phong vào chi khu. Sau khi làm chủ trận địa, trung đoàn 812 quay sang tấn công đv VNCH vẫn còn tử thủ trong khu vực, đó là TĐ 3/43, đang chiếm giữ vài cao điểm gần đó. Sau hai ngày chiến đấu, TĐ này được lịnh rút về Xuân Lộc. Thời gian ngắn sau đó, trung đoàn 812 đã bắt tay với một đv trinh sát của sđ 6 csbv. Trung đoàn 812 đã hoàn thành nhiệm vụ, và Hoài Đức đã được đưa vào danh sách những vùng mới "giải phóng", mà trước đó là Tánh Linh. Từ nay họ có nhiệm vụ mới, đó là phối hợp với sđ 7 để quét sạch các đồn bót và cứ điểm của VNCH dọc QL-20 và tấn chiếm tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức".

SJ ngày 12 tháng 8 2023.
Tài Trần



Wednesday, August 9, 2023

 3/ Địa điểm của cuộc hành quân New Life (Đời Mới).

Chuyển ngữ từ sách Blue Lanyard, Green Valley của Lex McAulay

Phía đông của Sài Gòn, Việt Nam, là thung lũng của Sông La Ngà. Cho tới năm 1954, khu vực này hầu như ko có ai sinh sống với rừng rậm bao la và những đồi thấp. Sau Hiệp định Geneva 1954, chấm dứt cuộc chiến dành độc lập giữa nhân dân VN và thực dân Pháp, hàng trăm ngàn người VN do không chấp nhận sống dưới chế độ CS tại miền bắc, đã vượt ranh giới tạm thời giữa 2 miền tại vĩ tuyến 17 để di cư vào nam. Khoảng 30 ngàn trong số họ đã khẩn hoang lập ấp tại thung lũng La Ngà hoang vu này, và sau vài năm lao động khổ nhọc, họ đã tạo một khu vực sản xuất lúa gạo giàu có, đứng hàng THỨ NĂM về năng xuất tại miền nam. (Nói thêm: Theo hồi ký Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh TT Ngô Đình Diệm của Nguyễn Hữu Duệ, tổng thống đã vài lần thăm viếng khu vực này và vì thấy đất đai phì nhiêu, dân cư lại thưa thớt nên ông lập kế hoạch đưa dân từ các tỉnh miền trung - những nơi đất đai khô vằn, đất chật người đông, đến khẩn hoang lập ấp tại khu vực này. Theo bản đồ và hình ảnh đính kèm, ở thung lũng này có vài khu trù mật như Địa Điểm Dinh Điền Khắc Cần hay Dinh Điền Dak Ménou. Theo bản đồ đính kèm, phần lớn vùng phía bắc Sông La Ngà là ruộng lúa. Chung quanh Sông Lăng Quăng Hồ Biển Lạc cũng là ruộng lúa. Khu vực các xã Lạc Tánh, Văn Lê, và Hiếu Tính thuộc quận Tánh Linh cũng là ruộng lúa. -- người dịch).

Khu vực trồng lúa này nằm dọc theo Sông La Ngà có chiều rộng từ đông sang tây khoảng 32 km và từ bắc xuống nam khoảng 18 km. Sông này xuất phát từ núi rừng hiểm trở ở phía đông và có dòng chảy uốn khúc, có chỗ như cùi chỏ, chảy xuyên qua thung lũng theo chiều đông nam lên tây bắc, trước khi quay về phía nam vào khu nhiều đồi núi, nơi mà nó trở thành ranh giới giữa tỉnh Long Khánh và Bình Tuy. Khoảng 15 phố thị và làng nằm trên các sườn đồi, nối với nhau bởi những con đường ko thuận tiện lắm cho lưu thông (vì đường xấu và thường xuyên bị quấy phá bởi du kích cs). 

Vì các làng và phố thị này nằm ở rìa những núi đồi, bao phủ bởi rừng rậm, chúng là nơi lý tưởng dễ bị khống chế bởi du kích quân.

Một số làng có chiều dài 2 tới 3 km nhưng những làng khác, dân sống tập trung hơn; nhưng việc các làng này nằm rải rác dọc theo các đường vừa rất xấu, vừa đi ngang khu vực hoạt động của du kích, khiến cho việc bảo vệ các làng là điều ko khả thi. Kết quả là những kẻ võ trang, ý nói CS, từ rừng núi đã khống chế dân làng.

Năm 1963, VC đã bắt đầu hoạt động ở thung lũng La Ngà, và lấy 1/2 hoa màu. Năm 1964, chúng lấy toàn bộ.

VC đã áp dụng những phương thức và kỹ thuật của chiến tranh cách mạng CS. Trước nhứt, những cuộc họp rất khiêm tốn (low key) được tổ chức trong đó dân làng được nghe về những sai lầm hay tội ác mà người CS cho là 'đã gây ra bởi các viên chức địa phương', và làm thế nào VC, luôn luôn tự nhận mình là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, sẽ sửa chữa những sai lầm hay tội ác này và đời sống người dân sẽ tốt đẹp hơn sau khi 'giải phóng'. Các tổ chức và ủy ban được thành lập và chẳng bao lâu mọi khía cạnh của sống hàng ngày của làng đã bị kiểm soát bởi Mặt Trận.

Từ từ bàn tay sắt của cách mạng đã lộ rõ. Mọi di chuyển khỏi làng đều bị kiểm soát và các cá nhân đi tới những ngôi chợ gần đó, để bán rau quả hay sản phẩm của họ, đều bị cấm; Mặt Trận mua mọi thứ, với giá do họ qui định. Mọi ý kiến nào khác với chủ trương hay chánh sách của Mặt Trận đều bị cấm; biểu tình hay bất đồng chánh kiến sẽ bị trừng phạt.

            

Các quân nhân và dân làng ko rõ tên họ tại Khu Trù Mật/Khu Dinh Điền Võ Đắt (Unidentified Military Members and Villagers at Vo Dat Agroville). Có lẽ chụp năm 1966.

Ngoài việc chăm lo cho thửa ruộng hay vườn cây của mình, mọi người đều được yêu cầu đóng góp thêm nữa cho cách mạng. Công sức này ko được trả lương, và nếu ai ko thể đóng góp, một thành viên trong gia đình được yêu cầu làm điều đó.

Một ví dụ (VD) về điều này là vào ngày 14 tháng 10 năm 1965, khi 700 người đã tập họp để di chuyển từ Võ Xu tới rừng núi, với lương thực với vật dụng cá nhân của mình, trong vòng 1 tháng. Họ đã bị cưỡng bách khiêng vác đạn dược và tiếp liệu của VC từ căn cứ này tới căn cứ khác. 

4. Trong khi đó, trên bình diện quốc gia, chính quyền Sài Gòn đã chao đảo giữa các khủng hoảng chính trị. Chính phủ (CP) cứng rắn chống cộng của tổng thống Ngô đình Diệm thì tham nhũng ở mọi từng lớp, đã thông qua những đạo luật hà khắc cấm đoán phần lớn các giải trí công cộng phổ thông, do vậy cuối cùng đã xa rời với phần lớn quần chúng. CP này đã bị lật đổ tháng 11 1963, trong đó Diệm và người em đã bị giết bởi những kẻ chiến thắng. Tiếp theo đó là một loạt những đảo chánh bởi những viên tướng nhiều tham vọng nhưng bất tài (incompetent) và tham nhũng. Do các tướng lãnh và bộ tham mưu của họ tập trung vào việc tranh dành quyền lực (focuss on plots and intrigue) tại SG, cuộc chiến đấu tại các tỉnh chống lại lực lượng cách mạng của CS ngày càng xấu đi.

. . . 

Vào đầu năm 1965, QLVNCH, gọi tắt là ARVN - đã bị thua khắp nơi. Trong khi các trung đoàn chủ lực của vc có mặt trong các trận đánh lớn, các sđ chính quy của bắc VN đã xâm nhập qua ngã Lào và Cambodia vào nam VN.

. . .

Đối diện với sụp đổ hiển nhiên trong cuộc tranh đấu cho nền dân chủ tại nam VN, Mỹ đã cam kết đưa lực lượng võ trang để hỗ trợ CP này, dù cho họ tham nhũng và bất tài. Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Đại Hàn Dân Quốc, Phi Luật Tân và nhiều nước dân chủ khác đã gửi quân và các toán dân sự để giúp nam VN. 

Sự trợ giúp từ nước ngoài và tập thể này, được gọi là Lực lượng Yểm trợ Quân sự của Thế giới Tự do, viết tắt là FWMAF, hay "Thế giới Tự do". Dù hơn 30 nước tham dự, nhưng chỉ có 6 nước gửi quân, đó là Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Trung Hoa Dân Quốc và Thái Lan.

Lữ đoàn 173 Nhảy Dù (biệt lập) 

Vào năm 1965, lữ đoàn (LĐ) này có 2 TĐ bộ binh - TĐ 1 và 2 của trung đoàn 503 nhảy dù - với 2 pháo đội 105 ly; chi đoàn D/16 thiết kỵ, tương đương một đại đội xe M-113; chi đoàn E/17 thiết kỵ, với các xe jeep trang bị đại bác ko giật 106 ly và các xe chống tăng tự hành, có tên Spats, cũng trang bị 106 ly; và một TĐ tiếp vận để giúp LĐ hoạt động như một đv biệt lập (separate), thay vì là cơ hữu của một sđ. 

Từ tháng 6 1965, LĐ 173 và các đv của Úc và Tân Tây lan đã hành quân khắp Vùng 3 Chiến Thuật quanh Sài Gòn. Qua đó họ đã nhận thấy: sức mạnh của địch đã bị phóng đại bởi chính quyền địa phương; các trung đoàn VC đã tránh đụng độ; và việc bảo mật về hành quân của các đối tác VNCH có nhiều sơ hở.

Khi LĐ này tới khu vực hành quân, họ thấy rằng VC đã biết trước khi phần lớn các đv rút đi chỗ khác và dân chúng đã được đối phương chỉ dẫn cách đối phó với binh lính nước ngoài trong khu vực hành quân.

12/100

Ngày 19/11, bộ tham mưu của tướng Williamson

.. . . 

====

17/100. Lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ đã  báo cáo với cấp trên như sau 'chúng tôi đã thi hành một kế hoạch táo bạo che phủ trong bí mật. Đáp ứng với các tin tình báo về hoạt động gia tăng của VC trong khu vực hành quân (HQ) và các chỉ báo rằng kế hoạch HQ ngày 29/10/1966 đã hình như bị lộ (compromise), một kế hoạch đã được thiết kế (formulate) để bảo đảm việc thành lập một căn cứ vững mạnh ở sân bay Võ Đắt, trước khi có bất cứ giai đoạn nào của cuộc HQ. Kế hoạch này chỉ được phổ biến rất hạn chế (dissiminate) vào giờ chót đến những ai cần-phải-biết (need-to-know).'

Lúc 7 am, phân nửa của TĐ 2/503 của lữ đoàn 173 nhảy dù được chỡ tới Xuân Lộc, để chuẩn bị đổ quân xuống Võ Đắt, nhưng sương mù quá nhiều, khiến trể 25 phút so với dự định. Việc đổ quân có máy bay ném bom bảo vệ và lính xuống đất vài phút sau 9 am. Không có ném bom hay pháo binh dọn bãi. Toán tiền tiêu của TĐ 2/503 lục soát phi đạo để tìm kiếm mìn bẫy và bảo vệ sân bay cho phần còn lại của lữ đoàn đến. Cả TĐ xuống hết lúc 9.45 am, và lúc 10.10 am, lữ đoàn đã bắt đầu đổ quân, khi chiếc C-130 bốn động cơ đầu tiên đáp xuống phi đạo. 

Xuất phát từ chiếc C-130 này, các chuyên viên của không quân Mỹ đã nhanh chóng lập một trung tâm điều không trên phi đạo, vì lúc đó hàng đoàn trực thăng, vận tải cơ C-130 và những chiếc Buffalo 2 động cơ cũng kéo tới. Nói thêm: Chiếc này thuộc loại STOL, cất và hạ cánh trên đường băng ngắn, do hãng De Havilland Canada sản xuất, xem hình, phi hành đoàn 3 người, chỡ 41 binh sĩ hay 24 băng ca hay 8.200 kí. Chiếc DHC-5 Buffalo đã thay thế chiếc DHC-4 Caribou, rất thông dụng tại VN, cũng do De Havilland sản xuất, ở chỗ tải trọng của chiếc Buffalo gấp 2 lần chiếc Caribou, dùng động cơ tuốc-bin cánh quạt hay turboprop, thay vì động cơ piston như Caribou. Được đưa vào xử dụng từ 1965, so với 1961 của Caribou, lúc đầu bởi không quân Canada, sau bởi không quân Mỹ. -- người dịch). Toán điều hòa không lưu này đã làm việc rất tốt vì có lúc có tới 15 chiếc UH-1 đổ xuống theo hàng một dọc theo phi đạo cùng lúc đó các loại vận tải cơ như C-130 hay Buffalo lên xuống. 

Lúc 9 am cùng ngày, TĐ 1 của quân đội hoàng gia Úc, viết tắt là 1RAR được chỡ tới khu trực thăng của sân bay Biên Hòa, có tên gọi "Hố Rắn", để được bốc vào Võ Đắt. Sở dĩ có tên gọi như vậy vì phi đội trực thăng Mỹ đồn trú tại đây có tên hiệu "The Rattlers" (Rắn rung chuông) với hình con rắn chuông chuẩn bị tấn công được vẽ trên máy bay, rất quen thuộc với những đv đã được nó chỡ. 

Sân bay cũ của Pháp tại Biên Hòa đã là nơi đồn trú của các đv trực thăng Mỹ và một phi đạo kép dài 3.000 mét đã được xây dựng ở đó. Sân bay này được dùng bởi không quân Mỹ và VNCH.

. . .

Trời trong và tầm nhìn tuyệt vời. Các người lính bộ binh Úc, đeo dây ba-chạc TAB, mang nặng ba-lô, trên đó có vũ khí, đạn dược, lương thực, nước uống, quần áo để thay đổi, đồ ngủ, máy truyền tin, pin, đạn cối, bàn tiếp hậu (base-plate), rốc-két để phá hầm, cuộn dây điện thoại, và những thứ cần thiết cho cuộc hQ, đã trèo vào lòng xe và đứng vịn vào thành xe để được chỡ ra bãi đậu trực thăng. 

Ngay khi các xe tới bãi đậu, trực thăng bắt đầu nổ máy và lính Úc trèo lên. Đợt đầu có hai đại đội và hướng về phía đông tới Bình Tuy. 

Có tổng cộng 62 chiếc chỡ quân loại UH-1D do hãng Bell sản xuất, được biết với tên gọi "Huey"; mỗi chiếc chỡ 6 binh sĩ Úc, như vậy đợt này có 372 người. Các trực thăng võ trang hay 'gunship' trang bị đại liên M-60, rốc-két và phóng lựu, ý nói M-79, ở mủi và bên hông của trực thăng. Các trực thăng chỡ quân ko có những trang bị này, nên gọi là "slick".

Dù quân Mỹ từ 1962 đã dùng UH-1B làm gunship tại Nam VN và các phim truyền hình trình chiếu tại Mỹ và Úc từ 1964 đã cho thấy điều đó, nhưng chính sách của Úc vẫn ko võ trang cho trực thăng Úc. 

Từ xa về phía nam, cánh đồng tương đối bằng phẳng bắt đầu hiện rõ trước mắt lính Úc, với thỉnh thoảng những cụm đồi thấp, và xa hơn nữa là bờ biển, với biển bạc và hình dạng của bán đảo Vũng Tàu và gần đó núi đồi Long Hải và Núi Dinh. Họ sẽ quen dần với phong cảnh này với các cuộc HQ sau này. 

. . .

Trong bầu trời trong suốt buổi sáng, từ khoảng cách vài km, những người lính Úc đã có thể thấy một đám mây lớn gồm bụi đỏ và khói do lân-tinh trắng tạo ra bởi không kích xuống một đồi gần Võ Đắt. Có một làn bụi đỏ (red haze) ở cạnh đồi, nhưng ko ai biết đó là gì. 

19/100. Phi đạo ở Võ Đắt là đất đỏ, đất tạo ra từ phún thạch núi lửa. Khi hàng chục trực thăng đáp xuống đất, một đám mây bụi đỏ khổng lồ bốc lên. Đây chính là làn bụi đỏ mà họ đã thấy từ xa.