Monday, October 23, 2017

Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại

Print Friendly, PDF & Email
Tác giả: Nguyễn  Hải Hoành
Việt Nam, Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc (TQ), thời xưa đều từng mượn chữ Hán của người TQ làm chữ viết cho nước mình trong nhiều nghìn năm, làm nên Vành đai văn hóa Hán ngữ. Nhưng người Nhật không chỉ vay mượn một chiều mà từ cuối thế kỷ 19 còn dùng chữ Hán để sáng tạo ra nhiều từ ngữ mới tương ứng với các khái niệm khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội-nhân văn hiện đại trong văn minh phương Tây. Những từ ngữ chưa từng có trong Hán ngữ ấy lại du nhập về TQ, trở thành một phần quan trọng trong Hán ngữ hiện đại của người TQ, được người TQ, Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc sử dụng một cách phổ biến và quen thuộc tới mức rất nhiều người không biết đó là những từ ngữ đến từ Nhật mà vẫn tưởng là của TQ.
Cũng mượn dùng chữ Hán như người Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc, nhưng người Nhật đã có những sáng tạo đáng khâm phục như vậy, đó là do họ đặc biệt có năng lực học tập và tiếp thu văn hóa nước ngoài, có tinh thần mạnh dạn đổi mới. Một số học giả TQ ước tính các từ ngữ do người Nhật sáng tạo chiếm khoảng 70% tổng số từ ngữ hiện dùng trong Hán ngữ ngày nay. Nói cách khác, trong các khái niệm người TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc dùng để suy nghĩ, nói và viết, có 70% là do người Nhật tạo ra. Điều đó cho thấy trong 100 năm qua, người Nhật đã có ảnh hưởng lớn tới tư duy của người TQ. Họ đã làm phong phú Hán ngữ, góp phần rất quan trọng giúp TQ và các nước trong vành đai văn hóa Hán ngữ nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây, đẩy mạnh tiến trình lịch sử về cải cách xã hội và văn hóa, chính trị, tiến lên con đường hội nhập quốc tế. Trở thành nước xuất khẩu Hán ngữ hiện đại, Nhật đã đóng vai trò cầu nối TQ và Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc với văn minh phương Tây. Những sáng tạo ngôn ngữ của họ rất đáng để chúng ta nghiên cứu học tập.
Dân tộc Nhật thời cổ không có chữ viết. Thời Chiến Quốc, chữ Hán truyền vào Nhật. Năm 600, Nhật Hoàng lần đầu tiên cử sứ giả triều đình sang thăm TQ thời nhà Tùy, kèm theo nhiều học sinh sang tìm hiểu, học tập về thể chế chính trị xã hội, giáo dục, văn hóa TQ. Thời Đường, từ năm 630 đến năm 894 đã có gần 20 đoàn sứ giả Nhật sang TQ học tập. Họ học lấy học để mọi cái hay cái tốt của văn hóa Hán và mang về nước nhiều thứ, như kỹ thuật xây dựng, chế tạo vật liệu, luyện kim… rất nhiều thư tịch chữ Hán, nhất là thư tịch Phật giáo. Từ đó người Nhật bắt đầu mượn chữ Hán làm chữ viết cho nước mình, nhưng đọc theo âm tiếng Nhật và viết theo trật tự từ tiếng Nhật. Họ làm thế được vì chữ Hán là chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), có thể đọc theo những âm khác nhau. Nhưng vì thứ chữ này không ghi âm được tiếng mẹ đẻ nên lúc đầu người Nhật chỉ dùng chữ Hán để viết, coi là thứ chữ của tầng lớp quan lại, quý tộc, trí thức, chủ yếu dùng trong công việc hành chính và văn học.
Thế kỷ 10, người Nhật sáng tạo ra chữ viết riêng của họ, gọi là chữ Kana (chữ Hán-Việt là Giả danh), là những ký tự ghi âm tiếng Nhật, một loại chữ cái biểu âm bản thân không có ý nghĩa gì, được tạo ra từ một phần của chữ Hán, đơn giản hơn chữ Hán. Mới đầu chữ Kana được dùng để phiên âm chữ Hán, về sau phát triển hình thức kết hợp cả hai thứ chữ.
Cuối thế kỷ 19, trong quá trình giao lưu với phương Tây, người Nhật thấy việc dùng các từ ngữ văn ngôn của Hán ngữ TQ khó có thể biểu đạt được các khái niệm mới của văn hóa phương Tây. Vì thế một số học giả Nhật đã vận dụng vốn hiểu biết sâu sắc chữ Hán, tiến hành cải tạo từ ngũ cũ và tạo ra nhiều từ ngữ mới không có trong Hán ngữ, hoặc có nhưng với ý nghĩa khác, để thể hiện các khái niệm mới, sự vật mới chưa từng có trong văn hóa TQ. Ví dụ các từ hy vọng, trường hợp, phương châm, quyền uy, chi bộ, tôn giáo, dẫn độ, thủ tục…. tổng cộng ngót nghìn từ ngữ ngày nay người TQ quen dùng đều là do người Nhật tạo ra.
Người Nhật còn đi đầu trong việc đơn giản hóa (bớt nét) những chữ Hán nhiều nét. Về sau người TQ đã tiếp thu cải tiến này và tiến hành đơn giản hóa chữ Hán với quy mô lớn, tạo ra hàng nghìn chữ giản thể (simplified character). Đại lục TQ hiện chỉ dùng chữ giản thể, không dùng chữ phồn thể (chữ đủ nét, complex character) như Hong Kong, Đài Loan.
Các sáng tạo của người Nhật đã góp phần không nhỏ phát triển, hoàn thiện Hán ngữ và được TQ (sau đó là Triều Tiên, Việt Nam) tiếp thu, sử dụng nhuần nhuyễn tới mức ít ai biết đó là thành tựu của người Nhật. Không rõ vì sao các từ điển chữ Hán do TQ xuất bản đều không ghi xuất xứ Nhật của những từ đó. Gần đây các học giả TQ xới lại vấn đề này, nhưng một số người TQ có ý hạ thấp hoặc phủ nhận cống hiến của người Nhật.
Không thể phủ nhận, Nhật đã có ảnh hưởng tới TQ trên nhiều mặt, quan trọng nhất là đã có tác dụng mở ra cánh cửa giúp TQ tiếp xúc với văn minh phương Tây.
Thời Minh Trị (Meiji era, 1868-1912), Nhật đẩy mạnh mở cửa tiếp thu văn minh phương Tây chứ không đóng cửa “bế quan tỏa quốc” như TQ, Việt Nam. Khi thấy được tính ưu việt của văn minh phương Tây, người Nhật bèn dứt khoát bỏ ngay ông thầy Tàu mà họ đã học mấy nghìn năm để học ông thầy Tây, ồ ạt cử thanh niên sang Âu Mỹ học tập, giới trí thức Nhật say sưa đọc và dịch hầu như toàn bộ các sách có tính khai sáng của Âu Mỹ. Rất nhiều khái niệm mới, phần lớn là khái niệm trừu tượng, được họ dịch ra chữ Hán, qua đó phát huy được tác dụng biểu ý thâm sâu vốn có của chữ Hán (trong khi bán đảo Triều Tiên, Việt Nam bắt đầu loại bỏ chữ Hán). Giới học giả Nhật đã chuyển ngữ sang chữ Hán một cách rất hiệu quả những từ ngữ phương Tây thể hiện các khái niệm mới người châu Á chưa từng biết, chủ yếu về y học, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn.
Năm 1898, hai học giả lớn đại biểu phái Duy tân TQ là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đến Nhật. Trong thời gian ở đây, Khang Hữu Vi đã dịch sách Nhật và ra một tờ báo chữ Hán phát hành về TQ, trong đó ông đã dùng các từ chữ Hán do người Nhật sáng tạo.
Nước Nhật sau chiến thắng tiêu diệt hạm đội Nga tại eo biển Tsushima (1904) đã trở thành tấm gương sáng của châu Á. Giới tinh hoa TQ đua nhau sang Nhật học tập, hoạt động: Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Lỗ Tấn, Tưởng Giới Thạch, Quách Mạt Nhược… Hầu hết các nhân vật chủ chốt của phong trào Tân Văn hóa TQ đều từng học ở Nhật. Họ đã mang về nước những từ ngữ chữ Hán được người Nhật chuyển ngữ từ ngôn ngữ phương Tây. Ví dụ chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Marx, triết học, … Từ ngoại lai nguồn gốc Nhật ồ ạt tràn vào TQ. Người TQ tiếp thu gần như toàn bộ số từ này và lâu ngày biến thành từ Hán ngữ 100%. Các thế hệ người TQ về sau hầu như không thể biết các từ ngữ đó là do người Nhật sáng tạo.
Thời ấy TQ cũng bắt đầu dịch sách của phương Tây. Hồi đó các học giả TQ có ba quan điểm về vấn đề này: 1. Người TQ nên cố hết sức tự phiên dịch, không nên du nhập vô điều kiện các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật. 2. TQ nên mượn dùng từ ngữ người Nhật đã dịch. 3. Nên dịch âm, tức phiên âm tiếng nước ngoài mà không dịch nghĩa.
Tiêu biểu cho quan điểm thứ nhất là Nghiêm Phục (Yan Fu, 1853-1921), nhà tư tưởng, nhà phiên dịch nổi tiếng từng học ở Anh, người đề xuất lý luận Tín, Nhã, Đạt có ảnh hưởng lớn trong giới phiên dịch ở TQ. Ông đã dịch cuốn Evolution and Ethics (Tiến hóa và Đạo đức, của Thomas Huxley), lấy tên sách là Thiên diễn luận, lần đầu tiên giới thiệu cho người TQ biết một lý thuyết khoa học tiên tiến: thuyết Tiến hóa. Trong quá trình dịch, do quá chú trọng Nhã (là yêu cầu khó nhất), nhiều từ do ông dịch tỏ ra tối nghĩa khó hiểu, không được dư luận TQ chấp nhận sử dụng.
Học giả nổi tiếng Vương Quốc Duy (Wang Guo-wei, 1877-1927) đại diện quan điểm nên dùng từ ngoại lai gốc Nhật, nhằm tiết kiệm công sức cho người TQ. Theo ông, người Nhật dịch quá hay, trong khi người TQ dịch thiếu sáng tạo. Quan điểm trên được thực tế chứng minh là đúng: người TQ (và cả VN, Triều Tiên) đều dùng các từ Nhật dịch.
Trương Sĩ Chiêu (Zhang Shi-zhao, 1881-1973, từng học ở Nhật và Anh) đại diện cho chủ trương phiên âm từ ngữ tiếng nước ngoài, nhưng vì những từ phiên âm đó đọc không thuận miệng nên về sau cũng đều bị đào thải. Ví dụ telephone TQ dịch âm là德律风 [de lu feng], sau phải nhường chỗ cho từ điện thoại do Nhật dịch. Người Nhật cũng có chủ trương dịch âm, ví dụ từ club họ dịch sang Hán ngữ là câu lạc bộ, rất đạt cả về âm, hình, ý. Nhưng cũng có những từ Nhật dịch không được TQ chấp nhận, như cholera (dịch tả), Nhật dịch âm là虎列拉 [hu lie la], được TQ dùng khá lâu nhưng về sau thay bằng từ 霍乱 [hu luan] do TQ dịch. Hoặc logic Nhật dịch là luân lý, xem ra không đạt; về sau Nghiêm Phục dịch là逻辑 [luo ji], đạt cả về âm, hình, ý. Từ này về sau đã truyền vào Nhật.
Giới học giả Nhật chủ yếu dùng hai cách sau để dịch từ ngữ phương Tây:
  1. Gán thêm hàm nghĩa mới vào những từ ngữ có sẵn trong Hán ngữ, dần dần làm các từ ngữ đó mất ý nghĩa cũ. Ví dụ Nhật dùng xã hội dịch từ society; trong Hán ngữ cổ, xã hội là nói việc tụ tập cúng tế vào mùa, mùa thu. Nhật cũng dùng từ dân chủ trong từ ngữ thứ dân chi chủ tể庶民之主宰để dịch khái niệm democracy hoàn toàn ngược lại.
  2. Sáng tạo từ ngữ chữ Hán hoàn toàn mới, cách này dùng nhiều nhất. Khi từ ngữ phương Tây không có khái niệm tương ứng trong Hán ngữ, người Nhật bèn tự đặt ra từ chữ Hán mới. Ví dụ nổi tiếng nhất là từ điện thoại đã thay cho từ 德律风. Các danh từ trừu tượng lại càng nhiều, như dân tộc, cá nhân, khoa học, triết học
Có thể thấy người Nhật có xu hướng ưa dùng từ kép (song tự từ) gồm hai chữ, có ưu điểm ngắn gọn, dễ nhớ, ví dụ nhân dân, phục vụ, chính phủ, cán bộ
Thực ra khi tiếp xúc với các nguyên tác của phương Tây, người TQ cũng đã dùng tư duy của mình để sáng tạo một số khái niệm. Điển hình là Nghiêm Phục. Ví dụ economy, người Nhật dịch là kinh tế, ông dịch là kế học (计学). Evolution Nhật dịch là tiến hóa, ông dịch là thiên diễn (天演). Philosophy Nhật dịch là triết học, ông dịch là lý học (理学). Capital Nhật dịch tư bản, ông dịch mẫu tài (母材). Metaphysics Nhật dịch hình nhi thượng học (形而上学), ông dịch huyền học (玄学)… Nghiêm Phục từ chối dùng từ xã hội (Nhật dịch từ society), mà ông dịch là quần (群), xã hội học là quần học (群学). Người TQ cho rằng cách dịch nói trên của Nghiêm Phục chưa hợp lý. Có lẽ người Việt chúng ta cũng nghĩ như vậy.
Rốt cuộc các từ dịch của Nhật giản đơn dễ hiểu nên được người TQ ưa dùng hơn. Từ đó các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật biến thành từ TQ. Vương Quốc Duy cho rằng cách dịch của Nghiêm Phục sở dĩ không được dư luận chấp nhận, chủ yếu do ông quá chú trọng nhã, chú trọng văn dịch phải đẹp, dùng những từ Hán cổ khó hiểu. Tuy vậy, Nghiêm Phục vẫn chấp nhận một số từ Nhật dịch, ví dụ tự do (dịch từ liberty và freedom).
Có học giả TQ đặt vấn đề: Cùng một thuật ngữ phương Tây khi đến TQ và Nhật được dịch thành hai loại từ có mùi vị khác xa nhau, cuối cùng kết thúc bằng việc từ TQ dịch (Trung dịch) thua, từ Nhật dịch (Nhật dịch) thắng. Tại sao lại như vậy, điều này rất đáng suy ngẫm!
Năm 1898, Lương Khải Siêu dịch tiểu thuyết Nhật “Giai nhân chi kỳ ngộ” ra Hán ngữ, đánh dấu sự bắt đầu du nhập TQ của các từ ngoại lai đến từ Nhật. Năm 1998, nhân kỷ niệm 100 năm sự kiện này, một số học giả TQ đặt câu hỏi: Trong thời gian ấy nếu không sử dụng các từ ngoại lai gốc Nhật mà chỉ dùng những từ do Nghiêm Phục dịch, thì người TQ hiểu và suy nghĩ như thế nào về các khái niệm du nhập từ văn minh phương Tây? Và điều đó có ảnh hưởng ra sao tới tiến trình lịch sử của TQ? Cụ thể, nếu các khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa, cách mạng, giai cấp, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa… đổi sang một phương thức khác xuất hiện trước mắt người TQ, phải chăng sự hiểu biết, cảm thụ của người TQ đối với các khái niệm đó sẽ có biến đổi?
Chữ Hán là của người TQ, người Nhật chỉ mượn dùng. Nhưng khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, người Nhật dám mạnh dạn dịch từ ngữ chữ Tây ra chữ Hán-Nhật, còn người TQ thì ngại làm điều đó, chủ yếu do người TQ có tâm lý không dám động đến chữ Thánh hiền của tổ tiên mình. Mặt khác vì nhà nước Nhật đối ngoại thi hành chính sách mở cửa hòa nhập, học cái hay cái tốt của thế giới, đối nội đẩy mạnh giáo dục quốc dân. Trái lại phong kiến TQ vốn cho mình là trung tâm tinh hoa thế giới, coi thường người nước ngoài, đối ngoại thi hành chính sách đóng cửa, đối nội thi hành đường lối ngu dân, dĩ nhiên không khuyến khích học phương Tây, vì thế tất nhiên TQ đi sau Nhật về mặt dịch ngôn ngữ Âu Mỹ.
Ban đầu các học giả Nhật cũng chưa thống nhất cách dịch từ ngữ phương Tây. Ví dụ từ literature họ dịch là văn chương học và văn học, sau cùng văn chương học bị đào thải. Từ artmới đầu dịch là nghệ thuật/ mỹ thuật/ văn học kỹ nghệ, mãi cho tới đầu thế kỷ 20 từ nghệ thuật mới chiếm vị trí thống lĩnh. Từ individual vất vả hơn cả, mới đầu dịch là nhất cá nhân, sau dịch là độc nhất giả/ nhân/ độc nhất cá nhân/ tư nhân… mấy từ này đồng thời được dùng trong một thời gian dài, cuối cùng từ cá nhân thắng.
Nhưng từ nửa cuối thế kỷ 20 trở đi, khi cần chuyển ngữ các từ ngữ phương Tây, người Nhật lại ngại chuyển sang chữ Hán (là loại chữ biểu ý khó học khó nhớ) mà dùng cách dịch âm và thể hiện bằng chữ Katakana, một loại chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonography). Ví dụ: máy tính họ dùng computer, nhà báo dùng journalist, thịt cừu dùng lamb, và rất nhiều từ khác như bus, taxi, sex, fax, pizza, goods … Người nước ngoài biết tiếng Anh chỉ cần biết các chữ cái Katakana là có thể đọc hiểu khá nhiều từ tiếng Nhật. Một số học giả TQ cũng tán thành cách chuyển ngữ như vậy, vì đỡ mất công suy nghĩ chọn từ chữ Hán; vả lại tiếng Anh đã quốc tế hóa trên toàn cầu.
Từ thập niên 70 thế kỷ 20 tới nay là thời kỳ từ ngoại lai nguồn gốc Nhật lần thứ hai du nhập vào TQ. Sau khi TQ lập quan hệ ngoại giao với Nhật (1972) và bắt đầu cải cách mở cửa, nhiều từ tiếng Nhật, cách dùng từ, phương thức biểu đạt của người Nhật bắt đầu xuất hiện trong tiếng TQ, như 卡拉OK (Karaoke), 料理 (món ăn), 写真 (tả thật, vẽ chân dung), 欧巴桑 (obasan, từ chỉ phụ nữ trung niên trở lên), 卡哇伊 (kawayi, đáng yêu) v.v… Sự du nhập ấy ban đầu qua Hong Kong, Đài Loan, hiện nay trực tiếp vào TQ qua mạng Internet. Hầu hết các từ ngoại lai nguồn gốc Nhật gần đây du nhập vào TQ đều có liên quan với ACG (Animation, Comic, Game: phim hoạt hình, tranh hoạt họa, trò chơi máy tính), chủ yếu do giới trẻ TQ chủ động tiếp thu. Qua đó đã làm giàu vốn từ và sức biểu đạt của Hán ngữ, đồng thời các khái niệm và tư tưởng mới cũng du nhập vào TQ.
Một số học giả TQ khẳng định sự ồ ạt du nhập các từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật đã ảnh hưởng tới tiến trình lịch sử hơn 100 năm qua của TQ. Họ cũng tranh luận về mức độ ảnh hưởng của nguồn từ ngoại lai đó. Bài Vấn đề “Từ ngoại lai” Nhật ngữ trong Hán ngữ hiện đại của GS Vương Bân Bân (Wang Bin-bin) ở Khoa Trung văn ĐH Nam Kinh đăng trên tạp chí Văn học Thượng Hải số 8/1998 khẳng định 70% danh từ, thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay TQ dùng là nhập từ Nhật. “Trên thực tế, nếu rời khỏi các từ ngoại lai Nhật ngữ thì ngày nay chúng ta gần như không thể nói chuyện được” – ông viết.
Hiện tượng các từ ngữ chữ Hán do người Nhật sáng tạo ồ ạt du nhập TQ và được người TQ dễ dàng tiếp nhận cho thấy văn hóa Nhật có sức đồng hóa rất mạnh. Có học giả TQ cho rằng nếu trong Thế chiến II Nhật chiếm được toàn bộ TQ thì có lẽ người TQ đã biến thành người Nhật. Quả thật điều đó đã xảy ra sau khi đảo Đài Loan bị sáp nhập vào nước Nhật (1895-1945). Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (sinh 1923) nói 30 năm đầu ông là người Nhật. Thậm chí có người Đài Loan không nói được tiếng Đài Loan, chỉ nói tiếng Nhật.
Một số dân mạng TQ cho rằng nói từ ngữ ngoại lai gốc Nhật chiếm tỷ lệ 70% là nịnh bợ Nhật, là hủy hoại nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm; họ khó chấp nhận kết luận “Trung dịch thua, Nhật dịch thắng”. Ngược lại, nhiều học giả TQ cho rằng chẳng có gì đáng xấu hổ khi thừa nhận đóng góp của người Nhật đối với sự phát triển Hán ngữ.
“Hiện đại Hán ngữ Đại từ điển” chia từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật làm hai loại: 1- Loại người Nhật mượn dùng các từ Hán ngữ cổ đã có của TQ nhưng gán hàm nghĩa mới và cách dùng mới, như cách mạng, kinh tế, văn hóa …; 2 – Loại do người Nhật dùng chữ Hán tự sáng tạo, như mỹ thuật, trà đạo, thủ tục…
“Hán ngữ Ngoại lai ngữ từ điển” xuất bản năm 1984 thống kê được 772 từ ngoại lai có gốc Nhật, phần lớn thuộc loại thứ nhất, nhưng nhiều người không tán thành, vì từ ngoại lai gốc Nhật có ý nghĩa khác hẳn từ Hán ngữ cổ. Ví dụ kinh tế, Hán ngữ cổ là kinh thế tế dân, ý nói sự quản trị quốc gia. Trong Hán ngữ hiện đại, kinh tế là các hoạt động sản xuất xã hội, lưu thông, trao đổi.
Bài Nghiên cứu ngoại lai ngữ trong Hán ngữ hiện đại của Cao Minh Khải và Lưu Chính Viêm cho rằng Hán ngữ hiện đại có 459 từ ngoại lai nguồn gốc Nhật. Những từ này hiện đã mọc rễ ở TQ, chủ yếu vì người Nhật dùng từ rất khôn khéo, nhất trí với quy tắc tạo từ của Hán ngữ, dễ hiểu, dễ ghi nhớ và phổ cập. Không ít từ ngoại lai Hán ngữ vốn có cũng bị từ ngoại lai gốc Nhật thay thế. Ví dụ: hợp điểm thay bằng phân tử; giới thuyết bằng định nghĩa; minh giác tráo/ nhãn minh y – giác mạc; nguyên hành chất, nguyên chất – nguyên tố; hoa tinh/ hoa tinh phấn/ tu phấn – hoa phấn …
——————
Dưới đây là những ví dụ về một số từ ngoại lai nguồn gốc Nhật thường gặp, do GS Trần Sinh Bảo ở Đại học Ngoại quốc ngữ Thượng Hải thống kê, phân loại; chúng tôi chỉ ghi chú kèm những từ đã có từ Hán-Việt tương ứng:
  1. Từ tu sức + từ được tu sức:
(1) Hình dung từ + danh từ.   Ví dụ: 人权 nhân quyền, 金库, 特权 đặc quyền, 哲学 triết học, 表象 biểu tượng, 美学 mỹ học, 背景 bối cảnh, 化石 hóa thạch, 战线 chiến tuyến, 环境 hoàn cảnh, 艺术 nghệ thuật, 医学 y học, 入场券, 下水道, 公证人, 分类表, 低能儿.
(2) Phó từ + động từ. Ví dụ: 互惠, 独占 độc chiếm, 交流 giao lưu, 高压, 特许, 否定 phủ định, 肯定 khẳng định, 表决 biểu quyết, 欢送, 仲裁 trọng tài, 妄想, 见习 kiến tập, 假释, 假死, 假设 giả thiết.
  1. Từ phức hợp đồng nghĩa:
Ví dụ: 解放 giải phóng, 供给 cung cấp, 说明 thuyết minh, 方法 phương pháp, 共同 cộng đồng, 主义 chủ nghĩa, 阶级 giai cấp, 公开 công khai, 共和 cộng hòa, 希望 hy vọng, 法律 pháp luật, 活动 hoạt động, 命令 mệnh lệnh, 知识 tri thức, 综合 tổng hợp, 说教 thuyết giáo, 教授 giáo thụ, 解剖 giải phẫu, 斗争 đấu tranh.
III. Động từ + tân ngữ:
Ví dụ: 断交, 脱党, 动员 động viên, 失踪, 投票 đầu phiếu, 休战, 作战 tác chiến, 投资 đầu tư, 投机 đầu cơ, 抗议 kháng nghị, 规范 quy phạm, 动议, 处刑.
  1. Từ phức hợp do các đơn từ kể trên họp thành:
Ví dụ: 社会主义 xã hội chủ nghĩa, 自由主义 tự do chủ nghĩa, 治外法权 trị ngoại pháp quyền, 土木工程, 工艺美术 công nghệ mỹ thuật, 自然科学 tự nhiên khoa học, 自然淘汰 tự nhiên đào thải, 攻守同盟, 防空演习 phòng không diễn tập, 政治经济学 chính trị kinh tế học, 唯物史观 duy vật sử quan, 动脉硬化, 神经衰弱 thần kinh suy nhược, 财团法人 tài đoàn pháp nhân, 国际公法 quốc tế công pháp, 最后通牒 tối hậu thông điệp, 经济恐慌 kinh tế khủng hoảng.
Ngoài ra còn có:   Động từ: 服从 phục tùng, 复习, 支持, 分配 phân phối, 克服 khắc phục, 支配 chi phối, 配给…
Khái niệm cơ bản về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội:   哲学 triết học, 心理学 tâm lý học, 论理学 luân lý học, 民族学 dân tộc học, 经济学 kinh tế học, 财政学 tài chính học, 物理学 vật lý học, 卫生学 vệ sinh học, 解剖学 giải phẫu học, 病理学 bệnh lý học, 下水工学, 土木工学, 河川工学, 电气通信学, 建筑学 kiến trúc học, 机械学 cơ giới học, 簿记, 冶金, 园艺, 和声学 hòa thanh học, 工艺美术…
Từ kết vĩ (结尾词):
(1) 化 hóa: 一元化 nhất nguyên hóa, 多元化 đa nguyên hóa, 一般化, 自动化 tự động hóa, 现代化 hiện đại hóa …
(2) 式 thức: 流动式, 简易式, 方程式, 日本式, 新式…
(3) 炎 viêm: 肺炎 (viêm phổi), 胃炎 (viêm dạ dày), 关节炎 (viêm khớp), 气管炎 (viêm khí quản), 皮肤炎 (viêm da)…
(4) 力 lực (sức): 生产力 (sức sản xuất), 原动力, 想像力 (sức tưởng tượng), 劳动力 (sức lao động), 记忆力…
(5) 性 tính: 可能性, 必然性 (tính tất nhiên), 偶然性(tính ngẫu nhiên), 周期性(tính chu kỳ), 习惯性(tính tập quán)…
(6) 的: 大众的, 民族的, 科学的, 绝对的, 公开的…
(7) 界 giới: 文学界 (giới văn học), 艺术界(giới nghệ thuạt), 思想界(giới tư tưởng), 学术界(giới học thuật), 新闻界…
(8) 型 hình: 新型, 大型, 流线型, 标准型, 经验型…
(9) 感 cảm: 美感, 好感, 优越感, 敏感, 读后感…
(10) 点 điểm: 重点 trọng điểm, 要点 yếu điểm, 焦点 tiêu điểm, 观点 quan điểm, 出发点 (điểm xuất phát), 盲点 (điểm mù)…
(11) 观 quan: 主观 chủ quan, 客观 khách quan, 悲观 bi quan, 乐观 lạc quan, 人生观 nhân sinh quan, 世界观 thế giới quan, 宏观, 微观…
(12) 线 tuyến: 直线, 曲线, 抛物线, 生命线, 战线 chiến tuyến, 警戒线…
(13) 率 suất: 效率 hiệu suất, 生产率, 增长率, 利率 tỷ suất, 频率 tần suất…
(14) 法 pháp: 辨证法 biện chứng pháp, 归纳法 (phép quy nạp), 演绎法 (phép diễn dịch), 分析法 (phép phân tích), 方法 phương pháp, 宪法 hiến pháp, 民法, 刑法…
(15) 度 độ: 进度 tiến độ, 深度, 广度, 强度 cường độ, 力度…
(16) 品 phẩm: 作品 tác phẩm, 食品 thực phẩm, 艺术品, 成品 thành phẩm, 展品, 废品 phế phẩm, 纪念品…
(17) 者 giả: 作者 tác giả, 读者 độc giả, 译者 dịch giả, 劳动者, 缔造者, 先进工作者…
(18) 作用 tác dụng: 同化作用 (tác dụng đồng hóa), 异化作用 (tác dụng dị hóa), 光合作用 (tác dụng quang hợp), 心理作用 (tác dụng tâm lý), 副作用 (tác dụng  phụ)…
(19) 问题 vấn đề: 人口问题 (vấn đề nhân khẩu), 社会问题 (vấn đề xã hội), 民族问题 (vấn đề dân tộc), 教育问题 (vấn đề giáo dục), 国际问题 (vấn đề quốc tế)…
(20) 时代 thời đại: 旧石器时代 (thời đại đồ đá cũ), 新石器时代 (thời đại đồ đá mới), 新时代 (thời đại mới), 旧时代 (thời đại  cũ)…
(21) 社会 xã hội: 原始社会 (xã hội nguyên thủy), 奴隶社会(xã hội nô lệ), 封建社会(xã hội phong kiến), 资本主义社会(xã hội chủ nghĩa tư bản), 社会主义社会(xã hội XHCN), 国际社会…
(22) 主义 chủ nghĩa: 人文主义 (chủ nghĩa nhân văn), 人道主义 (chủ nghĩa nhân đạo), 浪慢主义 (chủ nghĩa lãng mạn), 现实主义 (chủ nghĩa hiện thực), 帝国主义 (chủ nghĩa đế quốc), 排外主义 (chủ nghĩa bài ngoại)…
(23) 阶级 giai cấp: 地主阶级 (giai cấp địa chủ), 资产阶级 (giai cấp tư sản), 中产阶级(giai cấp trung sản), 无产阶级(giai cấp vô sản)…
Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do sống tại Hà Nội.
LỊCH SỬ CỦA DÂN CHỦ .
Dịch từ bài History of Democracy ở : http://library.thinkquest.org/264…/history_of_democracy.html
. . . 
Năm 1215 sau công nguyên , hiến chương Magna Carta mở đường cho một hệ thống dân chủ hơn tại Anh . Các quí tộc đã buộc Vua John phải ký 'Đại Hiến Chương' này , để lập 'Quốc hội' Anh , hay cơ quan lập pháp , và nói rõ rằng những luật thành văn (written law) thì có quyền hơn vua , do vậy hạn chế quyền lực của Hoàng gia và chuyển một vài quyền này cho nhân dân . Sau đó , Kiến Nghị về các Quyền (Petition of Rights) , năm 1628 , qui định (stipulate) rằng vua ko có quyền đánh thuế nếu QH ko cho phép và Đạo Luật về các Quyền (Bills of Rights) năm 1689 , cho phép tự do ngôn luận và cấm các hình phạt độc ác và ko bình thường (unusual) . Những điều này làm cho QH mạnh hơn thêm và cho dân nhiều quyền để bày tỏ ý kiến .
Dù những cải cách này ko biến nước Anh thành một nền dân chủ thật sự , nó đã bao hàm (incorporate) những ý tưởng về dân chủ , mà sau đó được dùng để tạo nên chính quyền nước Mỹ .
Những quan niệm về DC đã tiếp tục lưu hành (prevalent) tại Âu châu với những triết lý của triết gia John Locke người Anh và Jean-Jacques Rousseau người Pháp . Quyển sách Hai Thỏa thuận (Two Treaties) của Locke , in năm 1690 , nói rõ rằng theo 'xã ước' (social contract) , công việc cũa CQ là bảo vệ những 'quyền tự nhiên' (natural rights) , bao gồm 'quyền được sống , tự do , và làm chủ tài sản' . Rousseau đã mở rộng ý này trong sách , Xã Ước (The Social Contract ) , năm 1762 . Tóm lại , 2 triết gia này nói rằng nhân dân phải chỉ đạo/chỉ dẫn(have input on) chính quyền phải như thế nào . Trường phái tư tưởng này đã mở đường cho nền Dân chủ Mỹ ngày nay .
(còn tiếp)

BÁC SỸ “KHÙNG”


Nguồn : blog của Bùi văn Bổng 
         
           * MINH DIỆN
Bệnh viện K8 nằm giữa vùng Mỏ Vẹt, Tây Ninh sát biên giới Campuchia. Những căn nhà hầm nửa nổi nửa chìm rải rác khắp cánh rừng khộp, liên kết với nhau bằng những con đường mòn ngoắt ngoéo băng qua trảng, qua suối, qua bãi bom, mỗi ngã ba, ngã tư có những mũi tên đẽo vào thân cấy chỉ hướng.
Thỉnh thoảng trên bầu trởi lại xuất hiện những vệt khói thẳng như dòng kẻ của bản nhạc,rồi tiếng máy bay B52 bay qua như tiếng sấm rền. Nhiều lần bom B52 bỏ rất gần,cả cánh rừng chao đảo như đưa võng. Rồi pháo  bầy từ căn cứ Mỹ ở Trảng Lớn  bắn tới , và những toán biệt kích  thường xuyên đi lùng sục. Bệnh viện ngày đêm thấp thỏm trong không khí báo động . Thương  bệnh binh từ các nơi  ùn ùn đổ về.  Các bác sỹ, y sỹ, y tá ngoài việc chữa trị cho thương bệnh binh  phải làm nhiệm vụ chiến đấu  như mọi người lính ngoài mặt trận.
              Tôi nhập viện vào một buổi chiều giáp tết năm 1970, vì sốt rét. Bác sỹ  khám cho tôi rồi nói như quát:
              - Không được  nằm lì trên võng nghe chưa? Nói không nghe là ra bãi le!
               Nhìn  ông bác sỹ không có chút cảm tình nào. Khuôn mặt dài ngoẵng,trán hói đầy nếp nhăn, mái tóc muối tiêu trùm kín cả gáy. Ông ta đi khỏi, tôi hỏi tay bệnh binh bên cạnh:
              - Lão ấy tên gì mà hắc xì dầu vậy?
              Tay bệnh binh nói:
              - Bác sỹ Lê Mai. Biệt danh “Lão khùng”!
              - Sao lão  đe ném tớ ra bãi le?
              Tay bệnh binh cười:
              - Thằng nào vào lão cũng đe như vậy!  Muốn biết bãi le đi với tớ!
              Tay bệnh binh ấy tên Len, quê  Hưng Yên, khá rôm chuyện.
               Hắn khoe :
              - Hai thằng cùng đơn vào  đây với tớ , một  đang bị tâm thần, một  thằng đã ra bãi  le rồi! Chiều nay tớ ra thăm nó , mai về đơn vị.
              Vừa tò mò , vừa sợ bác sỹ Lê Mai, tôi không dám nằm lì trên võng, theo Len ra bãi le .
              Cuối mùa khô, rừng khộp đỏ rực màu như  nhuộm máu. Những cây khộp to hai người ôm không xuể, cao chót vót, da xù xí như da cá sấu, cành khẳng khưu.  Lá khộp  rụng xuống phủ kín mặt đất, khô dòn, rực lên một màu đỏ  nhức mắt.  Bãi le nằm giữa rừng khộp, cạnh con suối cạn, những  bụi le thấp lúp xúp còn giữ được màu xanh và chút bóng râm, che cho những nấm đất lùm lùm như ụ mối , không  bia mộ, không  một khúc cây, hòn đá làm dấu.
              Len chỉ ngôi mộ  đất còn tươi  bảo:
              - Đây là thằng cùng đơn ví tớ. Nó nằm lỉ trên võng hai ngày  nghẻo luôn!
              Len tỏ ra là một tay có kinh nghiệm. Hắn nói:
              - Nếu  sốt cao 40-41 độ , rồi cắt cơn , đếch sợ. Nhưng cứ âm ỷ 38 độ là coi chừng. Không vận động mà nằm lì trên võng là đi tiêu!
              Đúng như Len nói, tôi chỉ sốt 38,5 độ mà mệt rã rời, Những cơn sốt hâm hâm, li bì dài dẳng . Tôi bước  đi không vững, đầu  cứ ong ong, mắt  cay và cứ híp lại. Tôi chỉ muốn nằm. Cứ  đặt  lưng  xuống võng  là không muốn và không thể đứng dậy được nữa.
               Ba bốn lần tôi đã nằm lì, nhưng  bị bác sỹ Lê Mai dựng dậy. Ông ấy la lối, chửi bới om sòm  và giật võng  cuốn  lại không cho tôi nằm.Tôi cảm thấy căm ghét ông vô cùng.
                Một buổi sáng tôi  vào rừng,  mắc võng giữa một lủm cây, nằm một mình trốn cặp mắt cú vọ  của bác sỹ Lê Mai.
               Tôi thiếp đi lúc nào không hay. Trong cơn mê tôi thấy mình nhẹ như chiếc lá khộp khô,  bay chập chờn trên bầu trời mầu tím thẫm đầy  sao nhấp nhánh, bay qua những con sông  sóng vỗ và những mặt hồ phẳng lặng. Có lúc tôi đang bay thì  bỗng rơi tõm xuống một hố đen ngòm, rồi lại chới với bay lên. Có tiếng gọi mơ hồ ở đâu vẳng lại. Tôi gặp ông bà nội ngoại tôi,  chìa tay ra đón tôi , nhưng tôi không chạm vào được tay họ,  và tôi nói họ không nghe ...
               Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong lán điểm,  chân  tay   bị  cột chặt xuống  giường , trên  đầu  bình huyết thanh treo lơ lửng.
              Y sỹ Duyệt nói với tôi:
              - Cậu đã hôn mê bảy ngày! Nhờ bác sỹ Lê Mai không thì ra bãi le rồi.
               Duyệt kể, chiểu hôm ấy khám bệnh,bác sỹ Lê Mai không thấy tôi trong lán, ra lệnh mọi người đi tìm. Tìm suốt buổi chiều và suốt đêm , đến sáng mới  thấy tôi ,chỉ còn thoi thóp. Có người thất vọng , định gói tôi  vào  ni lon mang ra gốc le chôn, nhưng bác sỹ Lê Mai nói còn nước còn tát, và ông đã cứu sống tôi.
               Từ hôm đó tôi không dám nằm mà  đi lang thang hết lán này sang lán khác, có khi xuống bếp phụ anh nuôi, hoặc sang phòng phẫu thuật phụ mổ.  Ở  đây có chiếc xe đạp gắn trên bệ gỗ, kê bổng hai bánh xe lên. Một sợi dây điện nối chiếc Dinamo với chiếc đèn pha trên bàn mổ. Mỗi khi mổ, một người ngồi lên xe đạp, đạp thật nhanh , để  quay Dinamo phát điện, làm sáng  bóng đèn  trên bàn mổ.
              Tôi tham gia đạp xe  toát mồ hôi và cảm thấy người nhẹ nhõm hơn, nhưng  điếc cả tai vì nghe  tiếng quát tháo của bác  sỹ Lê Mai. Tay ông cầm dao mổ , miệng ông quát tháo những người phụ mổ vì họ  đưa dao, đưa kéo, đưa panh chậm, sai quy cách.
              Y sỹ Duyệt nói với tôi :
            - Lê Mai là bác sỹ phẫu thuật giỏi nhất  K68, và cả mặt trận miền Đông. Nhiều khi  bệnh viện K71 có những ca mổ phức tạp cũng phải triệu ông qua mổ. Ông  đào tạo ra  ê-kíp phụ mổ từ những chiến sỹ chưa biết gì về y khoa...
            -Sao ông ấy có biệt hiệu khùng?
            -Vì hay la và có lần chửi cả chính trị viên bệnh viện.
            -Sao chửi?
            -Thằng cha ấy  không biết chuyên môn lại hay can thiệp vào công việc chuyên môn. Hắn phê bình bác sỹ Lê Mai hạn chế sử dung Coc- tê- in ,để thương binh đau rên la, mà không biết lạm dụng dùng loại thuốc đó có tác hại lâu dài, thậm chí tử vong...
            Nghe  Duyệt nói , tôi càng cảm thấy kính trọng bác sỹ Lê Mai. Ngày cũng như đêm , có  thương binh trên bàn mổ là tôi lại thấy cái dáng người dong dỏng cao của ông cúi xuống , hai  con mắt  như lòi ra khỏi hai tròng kính và khuôn mặt  đanh rắn gồ ghề như tạc bằng đá. Ông làm việc quên mình vì những người lính như chúng tôi. Bệnh nhân trong bệnh viện rất sợ ông và kính trọng ông. Có bệnh nhân tâm thần leo tít trên ngọn cây khộp,ai kêu cũng không xuống, nhưng bác sỹ Lê Mai ra, nói: “ Xuống đi em!” là từ từ leo xuống .
             Một hôm bác sỹ Lê Mai mổ cho một thương binh còn rất trẻ. Ca mổ kéo dài gần bốn giờ đồng hồ. Tôi nghe ông la hét mà phát hoảng.
             Ca mổ xong, bác sỹ Lê Mai  tử hầm phẫu thuật đi lên, mặt hằm hằm rất  căng thẳng. Rồi bỗng nhiên ông bật khóc.  Tiếng khóc vỡ òa  từ cái miệng rộng có hàm răng vổ quen nóng nảy quát tháo, nghe rất lạ , vừa buồn, vừa  chao chát không thể tả được, như lát dao khứa vào tim.
             Tôi hỏi y sỹ Duyệt  có chuyện gì sảy ra , Duyệt nói:
             - Bác sỹ Lê Mai thường cáu gắt và   khóc vì bất lực và vì thương lính. Mỗi lần không đủ phương tiện để xử lý một ca mổ, hoặc  không cứu được một chiến sỹ chưa đáng chết chỉ vì thiếu thuốc men, ông  đều không nén được xúc động . Hôm nay cậu chiến sỹ bị thương , mảnh bom cắt gần đứt dương vật, vì đưa vào viện  trễ, ông không giữ lại được cho cậu ấy.
             Tôi đến bên cạnh bác sỹ Lê Mai, muốn bảy tỏ lòng mình, ông  nắm tay tôi nói , giọng khản đặc :
              - Nó còn trẻ quá, mới mười chín tuổi đầu,  nó không được làm  một người đàn ông nữaTôi nhìn bác sỹ Lê Mai, xúc động tận đáy lòng. Tôi nhận ra trái tim nhân hậu và nhạy cảm của người bác sỹ bề ngoài rất nóng nảy cọc cằn.  Chính ông đã cứu sống tôi, và ông đã khóc vì không giữ được chức năng làm chồng để duy trì nòi giống cho một người lính trẻ.  
             Năm ấy bác sỹ Lê Mai  42 tuổi, chưa có vợ con, cấp bậc trung úy.  Quê ông ở phố Hàn Thuyên , Hà Nội, tốt nghiệp Đại học y khoa từ năm 1952, lúc 24 tuổi, và khi ra trường  làm việc ở bệnh viện  Bạch Mai. Sau ngày giải phóng Thủ Đô, vì không có thành tích tham gia kháng chiến, gia đình  thuộc diện tư sản , nên ông không được trọng dụng, phải lên Tây Băc phục vụ những ngưởi miền xuôi lên khai hoang.  Năm 1966, ông được gọi vào bộ đội, phong quân hàm trung úy và đi B2. Hơn ba năm qua  ông ở bệnh viện K8, cứu sống nhiều thương binh, bệnh binh nhưng ông không được thăng cấp, thăng chức , không được kết nạp đảng vì tính ông thẳng thắn, nóng nảy, dám chửi cả chính trị viên bệnh viện, bị ông này gọi là "khùng".
               Sau gần một tháng điều trị , tôi khỏi sốt rét trở về đơn vị. Mấy tháng sau tôi nghe tin bệnh viên K68 bị bom B52 , và bác sỹ Lê Mai đã hy sinh.
               Ngày Sài Gòn giài phóng, tôi gặp  Liên,  nữ y tá  phụ mổ cho bác sỹ Lê Mai. Cô Liên khóc , nói nói với tôi : “ Hôm đó bác sỹ đang mổ cho thương binh anh ạ!”
               Hơn bốn chục năm đã qua rồi. Hôm kia ngồi ôn chuyện cũ với anh Vũ, anh Bồng và mấy cựu chiến binh miền Đông, không ngờ có người cũng đã từng điều trị ở bệnh viện K8 và biết bác sỹ Lê Mai như tôi. Nhớ tới ông, càm phục tấm lòng người thầy thuốc như ông bao nhiêu, lại cảm thấy buồn  bấy nhiêu vì những điều đang diễn ra trước mắt. Bây giờ ngành y xuống cấp quá. Có những bác sỹ giỏi  chỉ quan tâm đến bệnh nhân là quan chức, đại gia, nhiều tiền, khinh bệnh nhân nghèo như rác. Có kẻ trình độ  non kém, thậm chí chỉ là y tá, lại nhân danh bác sỹ mở phòng khám tư để ‘chặt chém’ người bệnh, hốt bạc, coi thường tính mạng con người, mà vẫn nhơn nhơn tồn tại. Đến chuyện  nhân bản máu mà họ cũng không từ...
              Bây giờ thật khó tìm một người như bác sỹ Lê Mai tuy  ông không phài là đảng viên và có người bảo ông khùng. Ứơc gì có nhiều bác sỹ “ khùng” như ông.
     M D

Sunday, October 22, 2017

NGHE LỜI DÂN NGU THÌ CHÚNG TA ĂN CÁM CẢ LỦ À !
(truyện cười)
Nghe lén , bằng kỹ thuật cao, từ hai lãnh đạo cao cấp của đảng nói với nhau :...
A : Đồng chí nghĩ xem , bão lụt thì năm nào cũng có và chỉ xảy ra ở vài tỉnh , dân đã quen cách đối phó (ai cũng biết bơi kể cả trẻ con mới đẻ !?!) ; vã lại đang được các tỉnh không bị bảo lụt , đặt biệt là TPHCM đang gửi vô số quần áo , mì gói , v.v... . 'Khúc ruột ngàn dậm' cũng đang quyên góp .
Còn chống bạo động và khủng bố là công tác hàng đầu , vì nó liên quan đến sự SỐNG CÒN của đảng . Nếu đảng ko lo cho mình thì ai lo .
B : Đúng vậy .
A : Chúng ta chưa bao giờ CÔ ĐỘC như thế này . Hiện giờ chỉ có TQ hết lòng giúp ta , là chỗ dựa trong quá khứ , hiện tại và tương lai . Thằng Nga giờ là con buôn , ai có tiền là chúng bán hàng . Bọn KPC và Lào , ngày xưa ngoan ngoản như chó con , giờ đây cũng cứng đầu , coi VN không ra gì , đúng là ăn cháo đái bát . Biết thế, ta nộp thằng Hun Sen cho Pol Pot khi nó chạy sang VN tị nạn !
B : Quá đúng .
A : Trong khi đó , bọn 'phản động' hải ngoại luôn luôn mang tư tưởng phục thù . Còn bọn 'rân chủ' trong nước thì đòi bỏ điều 4 , đòi tam quyền phân lập , v.v...Nghe lời chúng nó thì ăn mày cả lủ à .
Mà bọn dân ngu này đòi hỏi quá đáng : trực thăng là phương tiện đắc tiền , dùng để chở các quan đi thăm dân vùng lụt , hay để chống khủng bố . Chẳng lẽ dùng nó để chở mì gói à , đúng là một lủ ngu ! . Đói thì ăn lục bình , đồng chí ko nhớ , thời chống Mỹ , lắm lúc chúng ta phải ăn lục bình để sống qua ngày !?!
B : Đúng như vậy .
A : Ghe xuồng , thuyền thúng , bè gỗ , sao ko xử dụng ; không biết bám vào một miếng gỗ để nổi à , trực thăng ko rảnh đâu mà cứu chúng mày . Đúng là một lủ ngu !
Từ năm 1945 tới nay , nếu có sự lãnh đạo tài tình cũa Đảng thì ngày nay VN vẫn là thuộc địa của Pháp (chúng giết hại dân thế nào thì bác Hồ đã nói rõ) , hay là chư hầu của Mỹ như bọn Nam triều tiên , Đài loan hay Nhật .
B: Quá đúng .
A : Đúng là bọn vô ơn bạc nghĩa . Ngày nay có được ba bửa cơm no !?! , không đủ sao mà còn nghe lời xúi giục của bọn 'rân chủ' trong nước và 'phản động' hải ngoại .
Thành ra , đồng chí truyền đạt xuống cấp dưới chỉ thị sau : Tập trung mọi nổ lực , phương tiện tốt nhứt để bảo vệ đảng . Vì còn đảng thì còn mình . Còn dân thì chúng tự biết lo cho chúng , ko chờ đến ta đâu .(Câu này quá đúng . - Tài) .
Vã lại dân ta có truyền thống tin tưởng tuyệt đối vào đảng . Nếu ko , làm sao hàng triệu thanh niên nam nữ đã lăn xả vào chổ chết , như con thiêu thân .
Đồng chí còn nhớ , trận cổ thành Quảng Trị năm 1972 , dù B-52 , máy bay , pháo từ tàu Mỹ ngoài khơi lẫn pháo binh của quân ngụy ngày đêm oanh kích ; bộ đội theo lịnh của đảng vẫn tử thủ . Mỗi đêm ta tăng viện 1 đại đội , hôm sau chỉ có vài người trở về .
Thế mà có ai phản đối , phàn nàn gì đâu . Nay , làm dân một nước độc lập , tự do , dân chủ , cơm ngày 3 bửa mà cứ đòi hỏi .
Đúng là đựơc voi , đòi tiên ! Nghe lời chúng nó thì bọn ta ăn cám cả lủ à !

THƯ NGỎ CỦA CỘNG ĐỒNG NHỮNG NGƯỜI YÊU TỰ DO DÂN CHỦ KIỂU VIỆT NAM .
Hởi những bạn đang sống ở các nước tư bản 'dảy chết' đang nghĩ rằng VN thiếu tự do dân chủ , xin hảy lắng nghe :
Ở Việt nam chúng tôi , người dân và quan chức to nhỏ được QUYỀN làm bất cứ cái gì mình thích , kể cả VI PHẠM PHÁP LUẬT (hối lộ , nhận hối lộ , mua bằng giả , chạy chức , chạy án , mở TMV mà ko cần xin phép , . . . kể ra ba ngày không hết) miễn là thõa mãn các điều kiện , rất dể thực hiện , sau đây :
1/Việc làm hay dịch vụ đó không nhằm mục đích CHỈ TRÍCH , LÊN ÁN hay LẬT ĐỔ chế độ ; hay cổ vỏ cho TỰ DO , DÂN CHỦ , TAM QUYỀN PHÂN LẬP , hay NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN kiểu Tây phương . Đây là điều cấm kỵ với chế độ hiện nay , do vậy nếu không thỏa mản điều kiện này , 2 điều kiện còn lại sẽ không còn giá trị .
2/ Đã chung chi đầy đủ cho CA và chính quyền địa phương , hay đã chung chi đầy đủ cho CẤP TRÊN (cấp chủ quản) .
3/ Sẵn sàng chung chi mạnh tay cho Tòa án nếu việc làm hay dịch vụ này bị đổ bể (dự phòng thôi , chứ dollar - đã chung chi - đâu phải là dollar giả) .
Nếu thỏa mản ba ĐIỀU KIỆN này thì bạn không có gì để lo lắng với việc làm hay dịch vụ này cũa mình , vì bạn đã được BẢO KÊ từ A tới Z . Ví dụ : một hội viên cũa chúng tôi đã lập một hệ thống nhà hàng có vũ sexy 100/100 và nhiều màn 'độc đáo' , còn hơn cả Pattaya cũa Thái , hoạt động từ nhiều năm tại Q. BÌNH THẠNH , TP. Hồ Chí Minh mà vẫn 'bình an vô sự' dù đã bị một tờ báo nêu tên và địa chỉ . Đây là một nghề 'NHẤT BẢN VẠN LỢI' , không phải đầu tư nhiều mà thu lợi rất nhanh vì dựa vào 'vốn tự có' của các vũ nữ của nhà hàng .
Lá thư này được viết bởi Ban Lãnh đạo Cộng đồng (với trên VÀI TRIỆU thành viên lúc thành lập , và ngày càng có nhiều người gia nhập) có tên 'Cộng đồng những Người Yêu thích Tự do Dân chủ kiểu Việt Nam' , (Community of Vietnamese-Style Democracy and Freedom Lovers) nhằm trả lời những bức xúc hay 'ném đá' từ một số người trong/ngoài nước sau vụ 'dân chúng chen lấn ăn sushi miễn phí' .
Nếu bạn đang ở nước ngoài , mà muốn tìm hiểu thêm hay muốn gia nhập , xin vào :
http://www.communityofvietnamese-styleofdemocracyandfreedom… .
Xin nhớ gỏ 'freedom' chứ không là 'condom' vì nó sẽ đưa bạn sang một website khác .
Nếu bạn ko truy cập được , có lẽ do người nhận tiền (để mua domain này) đã dùng tiền đó 'tham quan' dài ngày nhà hàng kể trên . Trể lắm là 1/2 tháng , website này hoạt động .
Nếu có rảnh , bạn chịu khó đến các TĐS hay TLS nơi quốc gia bạn cư ngụ để lấy mẫu đơn . Nếu có 1 hay 2 nhân viên cau có hay hách dịch khi tiếp xúc với bạn , xin thứ lỗi vì quán tính XIN CHO ở Việt nam cũa nhân viên từ VN mới qua . Với thời gian sống ở các nước dân chủ , những tánh xấu này sẽ được khắc phục .
Cuối thơ , Cộng Đồng Những Người Yêu Tự Do Dân chủ Kiểu Việt Nam đang hân hoan trông chờ các bạn gia nhập . Trân trọng cám ơn ,
Hà nội (河内)ngày 28.10.2013 .
T.M. Đồng chí 阮 吨 敢 Chủ tịch kiêm Sáng lập viên
Tổng thư ký
(đã ký)
Đồng chí 阮 成 子
(Có bằng Bovine Ph.D. tại Liên Xô) .
Xin thứ lỗi : chưa có con dấu vì đang thương lượng về giá cả của con dấu với cơ quan chủ quản . Người nhà với nhau cả nhưng do văn hóa RỪNG NÀO CỌP NẤY , nên chúng tôi rất thông cảm việc này .

Saturday, October 21, 2017

Hacker đánh cắp mật khẩu Apple ID như thế nào, đọc để biết cách phòng tránh

 Đăng lúc 4:18 PM 13/10/2017  4 0

CÙNG CHỦ ĐỀ

Vụ ám sát Kim Jong-nam

Một phương pháp lừa đảo mới được hacker sử dụng để đánh cắp mật khẩu Apple ID thông qua ứng dụng di động, vô cùng nguy hiểm nhưng lại cực kỳ dễ thực hiện.


mật khẩu, Apple ID,
Cuối tuần vừa rồi, Lorenzo đã sử dụng Giallo Zafferano – một ứng dụng nấu ăn đáng tin cậy trên iPhone để tra cứu công thức nấu ăn mà anh đang cần. Đột nhiên, một khung thông báo xuất hiện trên màn hình yêu cầu anh nhập mật khẩu Apple ID của mình. Cảm thấy không ổn, anh đã lập tức tắt khung thông báo đó đi.
mật khẩu, Apple ID,
Felix Krause, một lập trình viên iOS đồng thời cũng là nhà sáng lập Fastlane, đã phát hiện ra rằng các hacker có thể dễ dàng tạo ra những khung thông báo giả mạo để lừa người dùng cung cấp mật khẩu của họ cho bọn chúng.
Điều này đơn giản đến mức chỉ cần chưa đến 30 dòng code là đã có thể thực hiện được rồi”, Krause chia sẻ trên trang blog của mình. Anh chàng lập trình viên này cũng thử tạo ra một ứng dụng tương tự, để cho tất cả mọi người thấy lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng này. Tất nhiên vì lý do đạo đức, Krause đã không công bố mã nguồn của phương pháp đánh cắp mật khẩu Apple ID.
Tại sao phương pháp này hiệu quả?
mật khẩu, Apple ID,
Bên trái là popup hệ thống, bên phải là popup của ứng dụng để đánh cắp mật khẩu.
Hệ điều hành iOS thường xuyên yêu cầu người dùng nhập mật khẩu Apple ID để thực hiện nhiều tác vụ khác nhau. Phổ biến nhất là khi cài đặt bản cập nhật hệ điều hành iOS hoặc trong khi cài đặt các ứng dụng iOS.
Do đó, người dùng hình thành thói quen nhập mật khẩu Apple ID của mình bất cứ khi nào hệ điều hành iOS yêu cầu. Sẽ có một cửa sổ popup hiện ra khi iOS yêu cầu bạn nhập mật khẩu. Tuy nhiên các popup không chỉ hiển thị trên màn hình khóa, màn hình trang chủ mà còn bên trong các ứng dụng. Ví dụ như khi họ muốn truy cập iCloud, Game Center hay thanh toán trong ứng dụng.
Dựa vào đó, các hacker dễ dàng tạo ra một popup giả mạo, được gọi là UIAlertController và trông giống hệt hộp thoại của hệ thống. Người dùng sẽ dễ dàng bị đánh lừa và nhập mật khẩu Apple ID vào hộp thoại này mà không biết rằng nó sẽ được gửi tới tận tay hacker.
Phương pháp đánh cắp mật khẩu Apple ID mới nguy hiểm, nhưng lại dễ dàng thực hiện
Việc tạo ra một vài dòng code để có thể hiển thị cửa sổ popup giả mạo yêu cầu hệ thống là rất đơn giản. Lập trình viên Felix Krause cho biết anh mất chưa tới 30 dòng code để hoàn thiện, tất cả các lập trình viên iOS đều có thể làm được. Các ứng dụng iOS đều cho phép các lập trình viên thực hiện tùy chỉnh sau khi đã đăng ký.
mật khẩu, Apple ID,
Bên trái là yêu cầu của hệ thống, bên phải là giả mạo.
Mặc dù người dùng có thể tự bảo vệ mình bằng cách kích hoạt tính năng xác thực hai bước (two-factor authentication) trên Apple ID. Nhưng điều đó cũng không đảm bảo 100%. Bởi hacker có thể tạo ra thêm một cửa sổ popup nữa và yêu cầu người dùng nhập luôn cả mã xác thực. Với những người không rành về công nghệ và thiếu cẩn trọng, họ có thể dễ dàng cung cấp mã xác thực mà không biết rằng đó là popup giả mạo.
Ngay cả khi Apple quản lý rất chặt chẽ các ứng dụng của bên thứ ba trên App Store. Việc tùy chỉnh và thêm một vài dòng code vào ứng dụng sau khi đã được Apple cấp phép là điều dễ dàng.
Ví dụ, các hacker có thể sử dụng một công cụ cấu hình từ xa để kích hoạt tính năng mới cho ứng dụng sau khi được Apple cấp phép. Hay sử dụng một trình kích hoạt theo thời gian, với các đoạn mã đặc biệt chỉ khởi chạy sau khi ứng dụng được cấp phép. Tất nhiên Apple có thể phát hiện và khóa tài khoản của các nhà phát triển thực hiện các hành vi này, nhưng có thể lúc đó đã quá muộn.
Làm thế nào để tự bảo vệ mình?
mật khẩu, Apple ID,
Sử dụng biện pháp thủ công để bảo vệ mật khẩu Apple ID.
Lập trình viên Felix Krause đã chia sẻ một số mẹo nhỏ để người dùng có thể nhận biết các popup yêu cầu mật khẩu Apple ID giả mạo.
Đầu tiên, bạn có thể thử nhấn nút Home và xem ứng dụng có bị thoát ra hay không. Nếu như ứng dụng thoát ra cùng với cả popup, ứng dụng đó đã được cài mã đánh cắp mật khẩu của bạn.
Nếu như ứng dụng và hộp thoại vẫn hiển thị, thì đó là thông báo của hệ thống iOS. Lý do là vì hộp thoại của hệ thống được chạy trên một tiến trình riêng và không phải của bất kỳ ứng dụng nào, do đó bạn không thể thoát bằng cách ấn nút Home.
Sử dụng biện pháp thủ công để bảo vệ mật khẩu Apple ID.
Bạn có thể không cần nhập mật khẩu vào cửa sổ popup, thay vào đó bạn có thể bỏ qua và mở ‘cài đặt ứng dụng’ theo cách thủ công. Cũng giống như việc bạn không nên bấm trực tiếp vào các đường link trong messenger hay email, mà bạn nên mở trang web một cách thủ công.
Nếu như bạn đã lỡ gõ mật khẩu trong cửa sổ popup, nhưng chưa gửi, ứng dụng vẫn có quyền truy cập vào nội dung của trường mật khẩu. Do đó, hacker vẫn có được mật khẩu dù bạn kịp thời bấm nút Cancel.
mật khẩu, Apple ID,
Lừa đảo đánh cắp mật khẩu thông qua ứng dụng di động vô cùng nguy hiểm
Ngay cả những người am hiểu về công nghệ cũng có thể dễ dàng dính phải cạm bẫy này. Nguyên nhân là do UI của hệ thống và của ứng dụng chưa được tách biệt, để người dùng dễ dàng nhận ra.
Theo lập trình viên Felix Krause, iOS cần phải tách biệt rõ ràng giữa giao diện hệ thống và các giao diện của ứng dụng. Nhờ đó, người dùng sẽ dễ dàng nhận ra đâu là yêu cầu của hệ thống iOS và đâu là yêu cầu từ ứng dụng của bên thứ 3.
Tất nhiên sự thay đổi này liên quan đến một số vấn đề lập trình rắc rối và bảo mật. Thậm chí ngay cả một số trang web cũng có thể tạo ra những cửa sổ popup với giao diện giống như thông báo của hệ thống macOS, khiến nhiều người dùng nghĩ rằng đó là thông báo của hệ điều hành.
Việc siết chặt quản lý ứng dụng, xem xét các đoạn mã cập nhật mới thường xuyên có thể giúp Apple ngăn chặn được phương pháp lừa đảo mới này. Tuy nhiên cho đến nay Apple vẫn chưa có bất kỳ bình luận gì, vì vậy chúng ta phải tự bảo vệ bản thân mình trước bằng cách nâng cao cảnh giác trước những yêu cầu đăng nhập mật khẩu trong ứng dụng một cách đáng ngờ.
Theo cafebiz