Tuesday, December 7, 2021

 GỢI GIẤC MƠ XƯA 

Tướng Ngô Quang Trưởng

Có nhiều tác giả viết vể đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người. Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi! Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung úy Phan văn Phúc, (sau này ông ấy là Chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của trung úy Nguyễn thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của trung úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rạng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực. Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; sau đó đồi Minh Long, Quảng Ngãi. Ngày 12 tháng 11 năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B /TĐ2PB, thay thế nhiệm vụ của Trung úy Trương duy Tài, (K4TĐ) trung úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký Hành Quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này. 1/4 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng. Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc cì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần Đại Tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông. Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại úy Ngơi là trưởng phòng an ninh Quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ2BB do Đại Uý Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông giòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm tiểu đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sư. Lúc đó Thiếu úy Nguyễn văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh. Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này bị chết đuối mất 2 người. Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau. Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số. Tại đây tôi gặp Đại Uý Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp Đại Đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 võ bị Đà Lạt, mới ra trường. Từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất v v. Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng. Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đừc nằm cách xa đường mòn HCM, khoảng gần 50Km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì , trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta. Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! ! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này: (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II). Tư Lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời: - Hãy để cho nó đi ! Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh. Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc. Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều thứ tư đẹp, tháng tư, năm 1986. Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến. Trung tá Nguyễn văn Viên người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ......Sau này lúc tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau. Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý. Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về quân đoàn lV, không may tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi. Nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước. Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từTướng Đỗ kế Giai, (tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976; sau 1 tháng tra tấn dã man. Việc này do tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có bác sĩ Trần lữ Y và Văn văn Của cùng nghe. Tại bàn tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của bác sĩ Trần lữ Y tại Sài gòn, trước năm mất nước. Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của giáo sư Huy, anh cư trú tại phía nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp tướng Trưởng tại đây. Tôi uống bia, còn tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập Trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón Đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi! Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông. Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh tướng Trưởng với tướng Nguyễn chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi! Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời. Cái gì mà nghiêm trọng vậy? Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy...Tôi vừa nói tới đó, ông dơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói: Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết...... Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn /một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên.... Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các Thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao? Vấn đề này Quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, Quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng đich, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta. Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ . Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi. Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn t... nói p..... Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy!!! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi. Thưa Niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi! Thưa quí vị Sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được. Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng nhu vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta! Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, nên công xuất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. Tôi nhìn tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu giang, miền Đông..v..v.. Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới.....Chợt nhận ra: Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian. Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình..... Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ ! ! ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi , không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi. Đừng buồn chi ! Ai ơi ! ! ! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua .,. Bùi đức Lạc Tháng Tư năm 2018

Friday, December 3, 2021

 MAI THỊ THU VÂN sanh ngày 1 November 1972.

MAI = 411 = 6 

THỊ = 451 = 10 = 1

THU = 456 = 15 = 6

VÂN = 615 = 12 = 3

Cộng lại: 6 1 6 3 = 16 = LẬN ĐẬN.

Friday, November 26, 2021

 Ông Toàn 

NGUYỄN = 7

TOÀN = 4715 = 17 = 8

Cộng lại: 7 8 = 15 = rất may mắn 

Sanh ngày Dec 11 1930. 

Tên Mỹ: Tony Nguyễn 

Sunday, November 21, 2021

 

Phong Cách Anh Hùng Của Tướng Phạm Văn Phú






Nguyễn Ðông Thành
(Trích trong "Ðời Chiến Binh" của Trương Dưỡng)





Từ 1975 tới nay, có một số người viết về Tướng Phạm Văn Phú, một cấp chỉ huy trong ngành LLÐB và Nhảy Dù cũ. Ở San Jose có tờ báo cũng cho đăng bài của một sĩ quan cấp Tá, nặng lời với một chiến hữu đã mất. Các cấp bậc của Tướng Phú đều được gắn tại mặt trận, và ông cũng đã nhiều lần nếm mùi thất bại, cắt lon, giáng chức, để cho có đủ..."khi vinh lúc nhục" của một đời binh nghiệp. Huyền thoại Phạm Văn Phú đã được mỗi người nhắc tới một cách khác nhau. Ông đã chết nên...ngoại trừ nhà văn Phạm Huấn, người cũng đeo bằng Dù trên ngực áo như Tướng Phú, và đã sống cạnh ông trong những ngày cuối của 1974-1975, là hơn một lần lên tiếng bênh vực cho cấp chỉ huy cũ khi ông Phú bị chỉ trích. Nhà văn tiền bối Nguyễn Ðông Thành, đeo cấp Trung Úy từ năm 1947 và là một cây viết chủ lực của cơ quan truyền thông thời Ðệ Nhị Cộng Hòa và các tờ báo đứng đắn tại hải ngoại hiện nay. Ông đã đúc kết về Tướng Phạm Văn Phú (Ðại Ðội Trưởng và Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù năm 1953 tại Ðiện Biên Phủ) qua tài liệu khách quan nhất của những người ngoại quốc có thẩm quyền và tiếng nói của họ có đủ giá trị để chúng ta suy nghĩ.
Trương Dưỡng
Dù rằng có nhiệm vụ không thể thiếu xót là làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, K8ÐL, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 và Quân Khu 2, vẫn không chối được trách nhiệm về việc bỏ mất miền Tây Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho Cộng quân tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa một cách mau chóng và để dâng hơn cả dự liệu hoang đường nhất của bọn Chóp Bu CSBV. Ðó là nhận định nhất trí của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, trong vào năm đầu hạ bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lý vào hồi đó, tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành binh đã bị ghi nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị, và thiếu chỉ huy.
Nhưng rồi thì từng phần sự thực dần dần được phơi ra. Người ta chưa biết thật đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng đã biết rõ được vài ba sự việc có thể chứng minh rằng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trên thực tế không có trách nhiệm gì hết trong cuộc rút quân khởi sự ngày 13/3/75 ở Pleiku. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH. Trung Tướng Thiệu đã đích thân ra Nha Trang gặp Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, mang theo Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham Mưu Trưởng, để đích thân truyền đạt quyết định rút quân cho Tướng Phú thi hành.
Với tư cách là Tư Lệnh của một Quân Ðoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chống lại mệnh lệnh của Tổng Tư Lệnh và Tổng Tham Mưu Trưởng. Nhưng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú cũng không tuân hành: hoặc là vì chính ông từ khước; hoặc vì Tổng Thống Thiệu, Ðại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không ngoan ngoãn vâng lời. Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây Nguyên là một Ðại Tá mới được thăng cấp Chuẩn Tướng, Ðại Tá BÐQ Phạm Duy Tất, để lãnh chức Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, và Tướng Tư Lệnh được đặt trong tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe, từ ngày 14/3/75 đến ngày bị Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Tổng Trướng Quốc Phòng mới nhận chức, bắt giam vì tội bỏ mất vùng Tây Nguyên!
[...]
Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây Nguyên được thực hiện theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trên thực tế chẳng còn là Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu II, nên không có trách nhiệm gì về cuộc hành binh tự sát mà Thiếu Tướng tuyệt nhiên không tham dự vào bất cứ một giai đoạn nào, từ quyết định, thiết kế, đến việc chuẩn bị và thực hiện. Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc bỏ mất vào tay địch một phần lãnh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rõ là đại cuộc đã tạm thời không còn cách nào cứu vãn nữa, vì Tướng Dương Văn Minh đã lạm dụng quyền Tổng Tư Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp mình cho giặc Cộng.
Người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú tự sát chẳng phải là vì sợ giặc Cộng bắt được và hành hạ trả thù. Nếu muốn, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra nước ngoài một một cách ung dung như một số đông các vị cựu Tướng Lãnh khác, chứ không đến nỗi phải chịu nhục trong tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ như một số người khác...hay phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đáp trên một mái nhà như ông Bộ Trưởng Quốc Phòng, kẻ mới tuần trước còn tống giam Tướng Phú vì tội "Không dám hy sinh chiến đấu và bỏ chạy trước quân địch"!
[...]
Việc Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đến cơ quan D.A.O. gặp Tướng Mỹ Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một chuyến bay di tản cho một người con ông, tác giả sách Decent Interval không khen các Tướng khác là thức thời, và cũng không chê Thiếu Tướng Phạm Văn Phú là gàn dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ý là Tướng Phú tự sát ngay sau khi Cộng sản tràn vào Sài Gòn, và thở hơi cuối cùng ở bệnh viện Grall.
Nhưng một tấm hình in trong tập ảnh kẹp ở giữa quyển Sauve Qui Peut (bản tiếng Pháp của sách Decent Interval) lại "nói" hộ ông Frank Snepp những điều ông cần viết ra mà vẫn nói lên được, về tiết tháo và tinh thần trách nhiệm cao độ của một Phạm Văn Phú đã quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm thanh thản chứ không đành chạy thoát lấy thân khi đất nước lâm nguy. Ðó là bức ảnh kỷ niệm mà Tướng Smith chụp với Tướng Phú tại cơ quan D.A.O. ngày 27/4/1975. Tướng Smith lúc đó phụ trách việc xếp hạng ưu tiên cho những người được coi là có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc, lần lượt của các phi vụ di tản. Ông ta bận đến mực không có thời giờ đi ăn, nên sự kiện Tướng Smith bỏ ra vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với Tướng Phú, chứng tỏ hai người có tình thân thiết lắm. Nếu cũng tham sống sợ chết, Tướng Phú có thể xin ở một người thân với mình như thế hàng chục chỗ cho cả gia đình ung dung ra đi.
Nhưng người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú còn đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng Smith một chỗ duy nhất cho một cậu con trai của ông, ý hẳn là để giữ cho họ Phạm còn có người nối dõi. Hành động tự giết mình để chết theo Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử đã được quyết định từ lúc Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tìm gặp Tướng Smith để ký thác "con côi", chứ không phải là một việc liều lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng sản đã hùng hục tiến về phía Dinh Ðộc Lập.
Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả người Pháp cũng đã có dịp để tán thưởng phong cách anh hùng của một sĩ quan Nhảy Dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ ra họ không lưu ý tới, vì đã chỉ có một chức vụ khiêm nhường (Tiểu Ðoàn Phó mới được đề bạt) lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành hình. Một trong 2 tác giả đó là Ðại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đã tự thú là có thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.
Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo đơn vị (Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam) nhảy xuống tiếp viện lực lượng G.O.N.O. trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ, Trung Tá Langlais còn giữ nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng xấu đặc biệt về Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, đơn vị mà chính ông ta đã đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị hồi cuối năm trước. Langlais có chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển Ðiện Biên Phủ do nhà xuất bản France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập ký sự đó, Langlais còn nhìn nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp...Nhưng cũng trong tập ký sự Ðiện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành ra đến hơn 10 đoạn để nói về Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù VN, và đặc biệt về viên sĩ quan cấp Úy mang tên Phạm Văn Phú, người đã chỉ huy giỏi giang và chiến đấu dũng liệt đến mức làm cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm của mình về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống Cộng. Ðại Tá Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của Quân Khu II của nước Việt Nam Cộng Hòa:
Ngày 2/3/1954, khi tình hình Biện Ðiên Phủ đã nguy ngập tới mức Bộ Trưởng Bộ Quân Lực Pháp (René Pleven) vừa từ Ðiện Biên Phủ trở về, đã phải ra trước Hội Ðồng Liên Bộ để đề nghị một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập Liên Ðoàn 5 Nhảy Dù VN, Tiểu Ðoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, mà Tiểu Ðoàn Trưởng Thiếu Tá Begeard, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ những năm kháng chiến ở vùng Ðức chiếm đóng. TÐ5NDVN nhảy xuống Ðiện Biên Phủ trước tiên, vào buổi chiều ngày 14/3/1954. Nhảy ở độ thấp, dưới mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly. Ðịch bắn dữ dội đến mức phải thay đổi bãi nhảy mấy lần.
Trung tá Langlais là Tư Lệnh là Tư Lệnh Phó Lực Lượng GONO nhưng nắm toàn quyền trên thực tế, vì Ðại Tá De Castries chỉ làm một việc độc nhất là...ký và chuyển đi những gì được Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với quân nhân người Việt, nhát là với TÐ5NDVN, mà chính ông ta đã "trả về" trước đó hơn 2 tháng. Nên ông đã dự tính là xé lẻ ra để bổ sung chỗ này chỗ nọ, chứ không sử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.
Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một đại đội của TÐ4NDVN đã bị biệt phái cho một đơn vị Lê Dương để tiếp cứu lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành quân không đạt được kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần chiến đấu của lực lượng vừa gởi đến tăng viện. Nhưng Langlais đã bắt đầu nhìn TÐ5NDVN với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TÐ6ND của Thiếu Tá Begeard, TÐ5NDVN được giao cho trấn giữ đồi Eliane IV ở phòng tuyến thứ 2, nhiệm vụ vừa nặng nề vừa nguy hiểm, là tự chôn mình dưới hỏa lực địch. Cả 2 tiểu đoàn đóng ở gần đỉnh đồi, TÐ6 giữ mặt Tây, TÐ5NDVN giữ 2 mặt Ðông và Nam.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðaòn có thể vị bắn trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch rình rập thường trực ở phía đối diện. Thiếu Tá Tiểu Ðoàn Trưởng tình nguyện trấn giữ vị trí nguy hiểm đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông hào trong một thời gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng và tinh thần phục vụ của những quân nhân Việt Nam, đang ép lòng chấp nhận quyền chỉ huy của người Pháp vì đang cần đến đồng minh giai đoạn!
Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội trong TÐ5NDVN và cũng là Ðại Ðội Trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy, 2 Ðại Ðội Trưởng khác là Ðại Úy Armandi, Rouault, và Ðại Ðội Phó tạm lĩnh.
Ngày 24/3/54, TÐ5NDVN được tăng cường thêm Ðại Úy Alian Bizzard, một quân nhân Tùy Viên của một Tướng ở Sài Gòn để xung phong ra mặt trận, do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm Tiểu Ðoàn Phó TÐ5NDVN, rồi chịu trách nhiệm trấn giữ 2 cứ điểm H.6 và H.7, trong tập đoàn cứ điểm Huguette, mà nhiệm vụ bảo vệ các phi đạo còn dùng được. Ðại Úy Bizzard mang theo mấy trung đội lấy từ 2 Ðại Ðội I và IV; trong khi ấy Ðại Ðội III được biệt phái cho cứ điểm Dominique, Éliane, và Isabelle; lính Bắc Phi ở Dominique I bị tràn ngập. Ðại Ðôi III của TÐ5NDVN tăng phái chỉ còn 10 người chạy về tới Tiểu Ðoàn Bộ.
Tình hình hồi ấy tuyệt vọng đến mức Navarre và Cogny chỉ còn độc một việc là đổ lỗi lên đầu nhau; Langlais luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến Dédé (Botella), để động viên tinh thần họ giữ vững đồi Éliane IV, vì để mất cứ điểm ấy là Ðại Bản Doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia sẻ với TÐ6 của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TÐ5NDVN, đã mất đi Ðại Ðội III, vẫn chỉ sử dụng được non phân nửa quân số còn lại. Langlais giải nhiệm cho Bizzard chức Tiểu Ðoàn Phó hư hàm để ông ta mang Ðại Ðội I đi trấn giữ cứ điểm H.6, trong khi Trung Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng trách không tương xứng với 1 đại đội là trấn giữ điểm tựa Opéra vừa thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm Huguette I và Épevier.
Trong thượng tuần tháng 4/54, tình hình ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14/4/54, Langlais báo cáo là chỉ còn 3000 quân khiển dụng vì ông không thèm tính tới các phần tử đã mất hết tinh thần chiến đấu. Ở đoạn này trong sách Ðiện Biên Phủ, tác giả nhấn mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Éliane IV (TÐ6ND và TÐ5NDVN) vẫn giữ vững tinh thần, và họ đã nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.
Hôm sau, ngày 15/4, Ðại Tá De Castries được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và Ladande cũng được thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong số có Trung Úy Phạm Văn Phú.
Ngày 19/4/54, Ðại Úy Phú được thay thế bởi Ðại Úy Bizzard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H.6 đêm hôm trước, Ðại Ðội I gồm 200 chỉ còn có 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Ðại Ðội II, rồi Ðại Úy Phạm Văn Phú được đề bạt lên chức Tiểu Ðoàn Phó ngày 26/4.
Vào thời điểm ấy, tình hình ở Ðiện Biên Phủ rõ ràng là vô phương cứu vãn. Sau gần một tháng thí quân không tính đếm, 3 Trung Ðoàn địch đã phá huỷ được toàn bộ phi đạo; giải quyết hết 3 điểm tựa trong số có điểm tựa Opéra, mà Ðại Úy Phú đã giao lại cho Ðại Úy Bizzard 5 ngày trước.
TÐ5NDVN chỉ còn ngót hơn 200 chiến sĩ, vì ngoài Ðại Ðội II (không toàn vẹn), Bộ Chỉ Huy chỉ sử dụng vài chục người còn lại của 3 đại đội đã tan vỡ. Quân số đã hao hụt quá nửa, nhưng TÐ5NDVN lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội, là một mình trấn giữ tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TÐ6ND (Tiểu Ðoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Béchignac) giữ liên lạc vớ Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Ðể làm cái việc không thể làm nổi là ngăn chận không cho địch quân (đông gấp mấy chục lần) vượt sông mà xâm nhập khi Trung Tâm, ngót 200 chiến sĩ TÐ5NDVN chỉ dược tăng cường với mấy chục chiến sĩ còn lại của Tiểu Ðoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù do Ðại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng lực lượng tử thủ ấy vẫn làm tròn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7/5/54. Mấy giờ trước đó, hai đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TÐ5NDVN, nhưng họ phải mất 3 giờ mới đến được Chỉ Huy Sở của Thiếu tá Botella, và chỉ còn không quá 20 chiến sĩ!
Ðến hừng sáng, Ðại Úy Phạm Văn Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng giành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Ðại Úy Guillemint, Thiếu Úy Lafanne, và Ðại Úy Phạm Văn Phú) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng vài chục chiến sĩ TÐ5NDVN tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Ðông Nam. Ðịch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này với loại vũ khí đầu tiên được sử dụng trên chiến trường VN (một thứ súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn), và căn cứ chỉ huy của TÐ5NDVN thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7/5/54.
Trên đây là tóm lược các đoạn nói về TÐ5NDVN, và về Ðại Úy Phạm Văn Phú trong quyển Ðiện Biên Phủ của Ðại Tá Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng G.O.N.O. ở Ðiện Biên Phủ trong thời gian TÐ5NDVN tham chiến tại mặt trận đó. Ðại Tá Langlais đã đích thân ra lệnh, đã chính mắt nhìn thấy, hay đã được báo cáo tường tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên Ðại Tá Pháp đó đã từng mang nặng thành kiến không tốt với chiến hữu VN, nên chắc chắn không cố ý nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TÐ5NDVN nói chung, và viên Ðại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập hồi ký Ðiện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển Decent Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê gì nhân vật Phạm Văn Phú.
Cũng như Ðại Tá Pierre Langlais, người viết quyển La Bataille de Dien Bien Phu (xuất bản ở Paris cuối 1963) cũng là một sĩ quan cao cấp, từng tham chiến ở mặt trận đó suốt từ đầu đến cuối. Ông Jules Roy về sau được phép trở lại Bắc Việt thu thập tài liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho vì dầy đến 624 trang), nên vẫn bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Ðiện Biên Phủ. Sự nghi ngờ đó không phải vu vơ, quả thật tác giả La Bataille de Dien Bien Phu đã đưa ra khá nhiều hình ảnh và luận điệu có lợi cho phe đó. Tuy nhiên trong các đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến mấy trận đánh từ sau ngày các cứ điểm Béatrice I, II, và III thất thủ (đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương tự như Pierre Langlais (khá chi tiết hơn vì viết dài hơn) về các chiến tích của TÐ5NDVN, và nhất là về phong cách anh hùng của Tiểu Ðoàn Phó Phạm Văn Phú. Về trận đánh dứt điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Éliane IV, Jules Roy bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:
Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch liệt cứ điểm Éliane IV. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng của cộng quân là Trung Ðoàn 98. Bộ chỉ Huy TÐ5NDVN chỉ còn sử dụng được khoảng 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được. Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và đại bác không giật, nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân vẫn tiến được lại gần. Trong thế ưu thắng rõ rệt, Trung Ðoàn 98 vẫn phải dè dặt tối đa; đây là lần đầu tiên họ sử dụng đường điện thoại vô tuyến nối liền vác đại đội với Chỉ Huy Sở Trung Ðoàn!
Chiến sĩ TÐ5NDVN chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ Ðại Úy Phạm Văn Phú chỉ còn có 30 người để chỉ huy, họ bắn đến nòng súng nóng bỏng, và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giật với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu (như Tow mà thô hơn) nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Ðoàn Phó vừa bị đốn ngã.
Trên đỉnh trời vừa rạng sáng, trận cận chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Éliane IV. Quân địch tràn ngập khắp nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Éliane IV vẫn còn cầm cự. Theo lệnh Ðại Tá Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Ðoàn Lê Dương số 13, đi tiếp cứu Éliane IV nhưng không kịp. Vì trong căn cứu chỉ huy đầy nhóc thương binh. Thiếu Tá Béchignac không đồng ý xin bắn lên đầu mình và hơn 10 người còn vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng!
Tác giả quyển La Bataille de Dien Bien Phu bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận Ðiện Biên Phủ. Tác giả hồi ký Dien Bien Phu xác nhận vốn có thành kiến xấu với quân nhân người Việt Nam nói chung và TÐ5NDVN nói riêng. Nhưng cả hai tách giả ấy đều đã không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn Phú, hồi ấy còn là một sĩ quan cấp Úy, tức là nhỏ cấp hơn họ nhiều. Một chiến sĩ chống Cộng có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu binh nghiệp, tất nhiên không thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một Tướng Lãnh, mà cúi mặt...ở nước người này quân tan, nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát, để được chết với lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một nhà Tướng.

Saturday, November 20, 2021

 hứ Ba, 23 tháng 3, 2021

Trận chiến sau cùng tại Quảng Tín - Huy Văn


 

Đầu tháng 3-1975 Tướng Trưởng cho lệnh rút Liên Đoàn 12 BĐQ từ Quảng Ngãi về hậu cứ tại Đà Nẵng (thôn Phú Lộc, xã Hòa Minh) để tái trang bị và bổ sung quân số. Đây là lần hành quân dai dẳng nhứt của Liên Đoàn, khi hành quân liên tục suốt từ đầu tháng 4/1974 trong các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín, rồi đến các quận trong địa bàn phía tây của tỉnh Quảng Nam (phần lớn là bảo vệ quận Đức Dục trong trận tái chiếm Nông Sơn tháng 7/1974). Sau đó, Liên Đoàn có nhiệm vụ giữ an ninh sườn trái, khu vực đồng bằng Hà Nha thuộc quận Đại Lộc, để Nhảy Dù rồi Thủy Quân Lục Chiến rảnh tay cự địch tại Hà Nha và cao điểm 1062 vào tháng 10/1974) và cuối cùng là trở vào Quảng Ngãi từ đầu tháng giêng 1975 (bảo vệ quận Minh Long và mặt tây bắc của Tiểu Khu) cho đến sau Tết.


<!>

 


   Một tuần trôi qua thật nhanh, nhưng cũng vừa đủ để chỉnh đốn và nhận thêm quân số bổ sung. Đây cũng là khoảng thời gian kỷ lục để Liên Đoàn nhận lại tất cả những quân nhân cơ hữu vốn đã có mặt ở Saigon, Dục Mỹ hay Vũng Tàu để học các khóa huấn luyện chuyên môn về Tiếp Liệu, Tổng Quản Trị, Truyền Tin, Quân Báo, Bộ Binh Cao Cấp và cả Viễn Thám.


 


   Thời gian một tuần cũng vừa đủ để Liên Đoàn 12 BĐQ triệu hồi Đại Đội Trinh Sát 12 từ Dục Mỹ và những sĩ quan ưu tú của các Tiểu Đoàn được gởi đi học, trong số những vị này có Đại Úy Trần Văn Vương của Tiểu Đoàn 37 BĐQ, Đại Úy Thông thuộc Ban 4 Liên Đoàn và Đại Úy Trần Văn Quy, người chịu trách nhiệm dẫn bốn Đại Đội Trinh Sát của các Liên Đoàn BĐQ thuộc Quân Khu 1 về thụ huấn ở quân trường BĐQ tại Dục Mỹ. Ngoại trừ Đại Úy Quy chuyển qua làm Tiểu Đoàn Phó TĐ 37 BĐQ, những vị khác đều trở lại vị trí cũ của mình như trước khi được gởi đi học các khóa chuyên môn.


 


   Tuần lễ đầu tháng 3-1975 cũng là mốc thời gian khai mào cho một cuộc quyết đấu sinh tử giữa Quân Lực VNCH và bộ đội chính quy Bắc Việt, vì bỗng dưng áp lực địch gia tăng một cách trầm trọng trên toàn lãnh thổ của Quân Khu 1 và trên vùng Hoàng Triều Cương Thổ thuộc Quân Đoàn II và Quân Khu 2. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng suốt từ Quảng Trị đến Quảng Đức.


 


   Ngay khi địch tung quân vào Quảng Đức (tấn công tỉnh lỵ Gia Nghĩa, và quận Kiến Đức) vào ngày 08-03-1975, thì Liên Đoàn 12 BĐQ đã có mặt tại vùng tiếp giáp giữa quận Thăng Bình của tỉnh Quảng Tín và quận Quế Sơn của Quảng Nam, để vừa góp phần bảo vệ khu vực phía tây bắc thị xã kiêm tỉnh lỵ Tam Kỳ, vừa cùng với Trung Đoàn 56/ SĐ3BB đề phòng địch quân dùng hành lang Hiệp Đức- Quế Sơn lấn chiếm về phía đông, tức quốc lộ 1 và ven biển.


 


   Lúc đầu không thấy động tĩnh của địch trong vùng thung lũng Quế Sơn và phần đất giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín, nhưng chiều ngày 08-03-1975, sơn pháo của địch rót đạn liên tục vào vị trí của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ đóng tại căn cứ Hương An thuộc quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Tín. Không có thiệt hại nhân mạng, nhưng kho đạn của căn cứ bị trúng một quả 122 ly làm nổ tung một số lớn đạn dược tồn trữ. Không có cách để dập tắt ngọn lửa vì đạn nổ liên tục .


 


   Cột khói đen ngòm, nghi ngút, dựng cao trên nền mây càng làm lộ rõ mục tiêu. Hương An bị pháo kích cho đến tối, nhưng mối lo ngại nghiêng về phía Tam Kỳ vì tin tình báo cho biết toàn bộ Sư Đoàn 2 CSBV cùng với một lực lượng tăng cường gồm các Trung Đoàn biệt lập của quân khu 5 CS và cả thành phần chủ lực tỉnh cũng đã có mặt trong vùng núi của hai quận Tiên Phước và Hậu Đức của tỉnh Quảng Tín. Thêm một lần nữa, người Lính QLVNCH lại lâm vào thế bị động và chỉ biết chờ địch chọn địa thế và mục tiêu để bày cuộc chơi.


 


Thứ hai 10-03-1975


   Tờ mờ sáng, địch đồng loạt tấn công Chi Khu Tiên Phước và Hậu Đức. Sau thời gian chừng hơn nửa năm được sống trong yên bình, người dân khốn khổ của hai quận miền núi này lại phải gồng gánh nhau tản cư và các cao điểm cũng như những căn cứ trọng yếu quanh các chi khu và dọc theo hai bên Tỉnh Lộ 533 nối Tam Kỳ- Tiên Phước, lại trở thành chiến trường đẫm máu.


 


  Địch tung lực lượng hùng nhậu nhứt của quân khu 5 là Sư Đoàn 2 CSBV với nòng cốt là Trung Đoàn 31 và 38, cộng với Lữ Đoàn 52 cùng một tiểu đoàn đặc công tăng cường. Ngoài ra, còn có hai Trung Đoàn pháo 368, 572 cùng với Trung Đoàn cao xạ 573 và Trung Đoàn 574 thiết giáp. Tất cả mọi nỗ lực của địch đều tập trung vào chiến trường Tiên Phước - Phước Lâm (Hậu Đức) để làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng và tiến chiếm thị xã Tam Kỳ.


 


   Không có gì khác lạ trong ý đồ hành quân của địch. Vẫn là những màn thí quân, bất chấp phi pháo thường xuyên hỗ trợ cho các đơn vị trú phòng. Tuy nhiên, đến xế trưa cùng ngày thì tin tức chiến sự tại các vùng núi Tiên Phước đều lâm vào tình trạng nguy ngập, khi trung đoàn 38 CSBV đã bắt đầu trực xạ bằng đại bác 122 ly và 85 ly không giựt vào quận lỵ Phước An. Trong khi đó, Lữ Đoàn 52 CSBV bắt đầu xung phong tại các chốt chiến lược ở phía tây và tây nam của Chi Khu Tiên Phước là núi Tú Sơn (căn cứ 211) và núi Phú Mỹ (cao điểm 300).


 


   Mặc dù được sự hỗ trợ tối đa của Không Quân (từ Đà Nẵng vào oanh kích) và của pháo binh diện địa, các đơn vị trấn thủ tại Tiên Phước và Hậu Đức vẫn bị địch tràn ngập sau gần một ngày cố thủ. Các Liên Đoàn ĐPQ 912 và 916 mở đường máu rút lui khỏi khu vực giao tranh để bảo toàn lực lượng (và sau đó đảm trách nhiệm vụ ngăn chặn địch tại phía đông của thị xã Tam Kỳ, tức bên kia quốc lộ 1, về phía biển).


 


   Để ngăn cản bước tiến quân của địch, Trung Đoàn 5/ SĐ2 BB đang hành quân trong tỉnh Quảng Ngãi được điều động trở về Quảng Tín để giải tỏa khu vực Suối Đá, Bàn Quân và rải quân dọc theo tỉnh lộ 533, cũng như tại các cao điểm chiến lược tại tỉnh lộ 531, bên phía hữu ngạn (hướng Bắc) của sông Tam Kỳ. Cùng lúc đó Liên Đoàn 12 BĐQ nhập cuộc sau gần một năm tạm xa Quảng Tín.


 


   Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ vào đóng chung với Tiểu Khu, còn hậu trạm thì nằm trong Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận ngay kề bên. Các Tiểu Đoàn 21BĐQ và 37BĐQ được tung ngay vào vùng đồi Đức Tân, núi Khánh Thọ Đông, núi Cấm và rải dài bên cánh phải, về hướng bắc của trung đoàn 5/ SĐ 2BB. Tiểu Đoàn 39 BĐQ án ngữ dọc theo tỉnh lộ 586 (Kỳ Phú, Cẩm Khê, Phú An , Phú Thứ, Ngọc Nam ...), trên vùng núi Dương Côn và núi Ngọc. Cao điểm 400 mét này là chốt quan sát trọng yếu, để kiểm soát toàn bộ khu vực đồng bằng phì nhiêu của phía tây bắc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín.


 


Thứ ba 11/03/1975 - Thứ bảy 15/03/1975.


   Trung Đoàn 5/SĐ 2 BB vừa vào vùng là chạm địch dữ dội tại khu vực Phước Lâm, Suối Đá (tỉnh lộ 533) và tại Dương Lâm (núi Yon), núi Lân cùng  các cao điểm dọc theo tỉnh lộ 531. Cuộc phản kích của các đơn vị VNCH gặp phải sức kháng cự khá mãnh liệt của địch quân. Tuy Quân Lực VNCH đang trong tình trạng khan hiếm đạn dược và quân dụng một cách trầm trọng, các đơn vị tham chiến tại Quảng Tín vẫn nhận được sự yểm trợ tối đa của pháo binh cơ hữu Sư Đoàn 2 BB và của Không Quân Đà Nẵng với những phi vụ oanh tạc bằng A-37 ngay từ ngày đầu nhập trận.


 


   Cùng lúc đó, địch không ngớt pháo kích vào thị xã Tam Kỳ gây thương vong và thiệt hại tài sản cho nhiều người dân vô tội tại khu vực chung quanh Tiểu Khu và Bệnh Viện Quảng Tín.  Cuộc chiến giằng co hầu như bất kể đêm hay ngày tại Quảng Tín, đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Tướng Ngô Quang Trưởng nên ông ra lệnh cho tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh SĐ 3BB, điều động Trung Đoàn 2/Sư Đoàn 3BB, từ Quảng Nam vào tăng cường cho mặt trận Tam Kỳ trong ngày 13/03/1974.


 


    Như biết được kế hoạch điều binh của Quân Đoàn I, Quân Khu 5 của địch gom các lực lượng từ Quế Sơn và Hiệp Đức (gồm một tiểu đoàn chủ lực tỉnh, các tiểu đoàn biệt lập và một trung đoàn chính quy lấy từ lực lượng đang kiểm soát vùng Nông Sơn- Trung Phước) tấn công để tạo áp lực tại phía tây Thăng Bình và ngay ranh giới hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín trong hai ngày 14 và 15/3/1975.


 


    Do đó, Trung Đoàn 2/SĐ3BB - thay vì xuống Quảng Tín để tiếp viện cho mặt trận Tam Kỳ- đã phải chuyển hướng để hành quân khẩn cấp vào khu vực thung lũng Quế Sơn và chạm địch ngay lập tức tại vùng đồng bằng trải dài giữa hai tỉnh lộ 535 (Quảng Nam) và 534 (Quảng Tín). Ngoài một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 4/ SĐ 2BB từ Chu Lai, được tăng viện khẩn cấp cho trung đoàn 5/ SĐ2 BB, thì không còn đơn vị nào khác để tiếp ứng cho Tam Kỳ kể từ ngày 15-03-1975.


 


   Tuy nhiên, dù phải đương đầu với một lực lượng đông gấp 3 lần về mặt quân số, các đơn vị của SĐ2 BB và LĐ12 BĐQ cũng đã oanh liệt tái chiếm và giữ vững vị trí tại các trọng điểm Suối Đá, Đức Tân, Dương Lân (cao điểm 90, trong vùng núi Yon) Phú Ninh, Khánh Thọ Đông và núi Dương Côn. Chiến tranh về gần làm Tam Kỳ rúng động, ngoài các trường học đã phải đóng cửa từ ngày 10/03/75 (vì tính mạng của học sinh bị đe dọa trầm trọng khi địch pháo kích bừa bãi vào thị xã) thì Tam Kỳ vẫn sinh hoạt bình thường trong tiếng súng lớn, nhỏ liên tục vọng về hoặc tiếng đạn pháo nổ ngay trong phố.


 


Chúa nhựt 16/03/1975 - Thứ năm 20/03/1975.


   Để dễ dàng theo sát diễn tiến của các trận đánh và cũng để thu ngắn thời gian tiếp nhận quân nhu và đạn dược, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 12 BĐQ dời bản doanh từ trong Tiểu Khu ra khu vực nhà ga xe lửa cũ, ở ngoại ô, phía tây bắc Tam Kỳ, còn hậu trạm của các tiểu đoàn thì được đưa vào trung tâm thị xã và đóng tại khu nhà dành cho Uỷ Ban Liên Hiệp 4 Bên trước đây.


 


    Dãy nhà này chỉ cách trường trung học công lập Trần Cao Vân- nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh tiền phương SĐ 2 BB- chừng 2, 3 khu phố. Nhịp độ giao tranh bắt đầu tăng dần từ ngày 16/03/1975 nên đã có thêm nhiều đơn vị hành chánh và công sở phải đã phải ngưng hoạt động. Không khí chiến tranh đã thật sự tràn về thị xã vốn bình yên nằm trên quốc lộ 1 bấy lâu nay, với các màu áo trận và quân xa thường xuyên qua lại nhiều hơn.


 


   Tuy vậy, vẫn còn sinh khí trong sinh hoạt hằng ngày, nhờ hàng quán mở cửa buôn bán bình thường và các phương tiện giao thông công cộng vẫn được duy trì trên đường phố. Trong khi tình hình ở hướng đông của quốc lộ 1- tức phần lãnh thổ dọc theo ven biển- chỉ rộn lên vài cuộc chạm súng giữa du kích với các đơn vị ĐPQ và Nghĩa Quân, thì bên hướng tây và tây nam của Tam Kỳ đã xảy ra những trận giao tranh khốc liệt giữa bộ đội chính quy Bắc Việt và các đơn vị của Bộ Binh và BĐQ tại các trọng điểm Suối Đá, Đức Tân, Dương Lân, Phú Ninh (SĐ 2BB) Khánh Thọ đông, núi Dương Côn và núi Ngọc (LĐ 12BĐQ)


 


   Ý đồ của địch quân đã bộc lộ rõ ràng khi đánh tốc chiến để dứt điểm Tam Kỳ, sau khi đã làm chủ được toàn vùng phía tây (Tiên Phước) và tây nam (Hậu Đức- Phước Lâm) một tuần trước đó. Các đơn vị VNCH bị lâm vào tình trạng thiếu hụt quân số và đạn dược một cách trầm trọng. Con đường vào Chu Lai thường xuyên bị du kích của địch quấy phá dọc theo đoạn Kỳ Liên - Lý Tín nên các đoàn công voa tải đạn đã hết sức vất vả trong hành trình hầu như từng ngày.


 


   Trong khi Trung Đoàn 5/ SĐ 2 BB và Liên Đoàn 12 BĐQ dốc hết toàn lực để chống giữ tại phòng tuyến phía tây và tây nam để bảo vệ Tam Kỳ, thì địch cũng ra sức cô lập tỉnh Quảng Tín bằng cách thường xuyên quấy rối rồi tấn công quận Lý Tín, cắt đường tiếp vận ở phía nam và gây áp lực để cầm chân Sư Đoàn 3BB và Thiết Kỵ 11 tại Thăng Bình, quận cực bắc của tỉnh Quảng Tín.


 


Ngày thứ sáu 21/03/1974 và thứ bảy 22/03/1975


   Vào lúc rạng đông ngày 21/03/1975, địch tấn công các căn cứ 175 tại Suối Đá và tại cao điểm 375 (trên đỉnh Bàn Quân), cũng như tại núi My (cao điểm 78), Dương Lâm (cao điểm 97) và trên vùng núi Yon (nơi có căn cứ 83). Ngoài ra, trung đoàn Ba Gia của địch, được thiết giáp và 2 tiểu đoàn chủ lực tăng cường, cũng tấn công các đơn vị khác của Trung Đoàn 5/SĐ2 BB tại núi Tân Lợi, đồi Phú Ninh và khu vực núi Cốc, Núi Lân, dọc theo hành lang của tỉnh lộ 531 và con sông Tam Kỳ.


 


   Trong khi Trung đoàn 5 vất vả chống đỡ tại phía tây nam, thì tình hình chiến sự tại phòng tuyến của Liên Đoàn 12 BĐQ ở hướng tây và tây bắc của Tam kỳ, cũng sôi động không kém. Địch mở đầu trận chiến bằng cách cho đặc công giựt sập cầu Kỳ Phú, trên tỉnh lộ 586 ở phía tây bắc Tam Kỳ đêm 21/03/1975. Sau đó, các lực lượng thuộc tỉnh đội (D72) và huyện đội Tam Kỳ (V12) đồng loạt tấn công núi Cấm, núi Kỳ Phước (cao điểm 104)


 


   Đồng thời, địch tung lực lượng chủ lực tỉnh uy hiếp khu vực Cẩm Khê và núi An Hà, để Sư Đoàn 2 CSBV tung toàn lực tấn công phòng tuyến của các Tiểu Đoàn 21 và 37 BĐQ tại vùng đồi Đức Tân, Thạnh Đức (Kỳ Ngọc, Kỳ Long , Kỳ An) Khánh Thọ Đông (cao điểm 110), cũng như tại tuyến đóng quân của Tiểu Đoàn 39 BĐQ trên núi Dương Côn, núi Ngọc và tại xã Kỳ Phú.


 


Các đơn vị tham chiến tại Quảng Tín đã cạn quân trừ bị và không còn đường tiếp ứng , vì sau khi đoàn xe phối hợp của sư đoàn 2 BB và LĐ12 BĐQ tải chuyến đạn cuối cùng từ Chu Lai về Tam Kỳ vào trưa ngày 22/03/1975, thì trung đoàn 36 của bộ đội cộng sản đã thành công trong việc tấn công và cô lập quận Lý Tín ngay đêm hôm đó, để cắt đứt quốc lộ 1 và ngăn chặn ý định tăng cường cho Tam Kỳ hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 4/SĐ2 BB theo lệnh của Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh SĐ 2 BB.


 


Cường độ giao tranh tại Quảng Tín đã lên đến mức tử chiến trong hai ngày 21 và 22/03/1975. Báo cáo thương vong từ các nơi gọi về đã lên đến mức báo động và trong khi đó thì phi pháo cũng bị hạn chế về mặt số lượng. Chỉ riêng pháo đội (gồm 4 khẩu 105 ly) của liên đoàn 12 BĐQ vừa nhận tiếp tế ngày 22/03, thì ngay buổi tối hôm đó, đã gọi về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn xin thêm đạn.


 


Bộ Tư Lệnh tiền phương của Sư Đoàn 2BB cũng rối rắm không kém, khi ban 4 của LĐ12 BĐQ vào tận bản doanh đặt trong trường trung học tỉnh lỵ (trường Trần Cao Vân), để xin thêm đạn dược và các loại tiếp liệu phẩm cần thiết. Mang tiếng là tăng phái cho sư đoàn 2BB, nhưng Phòng 4 của sư đoàn cũng rất công bằng với BĐQ trong việc phân phối đạn dược. Phải nói là cả hai đơn vị đang "đồng cam cộng khổ", vì tiếp liệu thì như mưa rào tưới ruộng khô, mà nhu cầu chiến trường lại đang bước vào giai đoạn xả láng của một canh bạc. Thật là buồn lòng khi mọi thứ đều phải tiết kiệm, kể cả xương máu của chiến sĩ QLVNCH.


 


   Từng đơn vị của sư đoàn 2BB và BĐQ lần lượt bể tuyến. Các căn cứ của BĐQ trên Dương Côn, núi Ngọc, Khánh Thọ cùng với vùng đồi Thạnh Đức tiếp theo nhau rơi vào tay địch quân. Dưới áp lực của cộng quân, tiểu đoàn 21 và 37 BĐQ đành rút về cố thủ tại vùng Xuân An, Chiên Đàn, Phú Trạch, còn Tiểu Đoàn 39 BĐQ thì bảo vệ mặt bắc dọc theo tỉnh lộ 586. Sư đoàn 2BB ra sức phá vòng vây, rồi lui binh từ Bàn Quân, núi Cốc, Kỳ Tân, Dương Lâm về tận Trường Xuân, Khánh Tân, sau đó tái tổ chức lại đội hình và tuyến phòng thủ tại vòng đai quanh Xuân Trung, Phú Trà, Kỳ Nghĩa là những xã, thôn, ấp phía tây nam, ngay cạnh phi trường Tam Kỳ.


 


    Một số quân nhân bị lạc đơn vị nên đã di tản qua phòng tuyến của bạn, như trường hợp của nhiều quân nhân thuộc các toán trinh sát của Trung Đoàn 5 đã theo BĐQ rút về Chiên Đàn, Phú Trạch. Có người còn về tận thị xã Tam Kỳ trình diện ngay tại bản doanh Bộ Tư Lệnh tiền phương Sư Đoàn 2BB đặt tại trường Trung Học công lập Trần Cao Vân. Ngược lại, đã có khá nhiều chiến sĩ Biệt Động Quân từ cao điểm Charo (Khánh Thọ đông) và vùng đồi Đức Tân- sau khi tan hàng-  cũng đã dạt về phía Dương Lâm và kẹt luôn tại đó với các thành phần của Tiểu Đoàn 2/5/SĐ 2BB còn đang cố thủ.


 


Chúa nhựt 23/03/1975


   Địch bày thế trận, chọn sân chơi. Ta lâm vào thế bị động ngay từ phút đầu giao tranh. Địch chiếm đâu, giữ đó. Ta cạn láng lần hồi, nên đành quặn lòng để đất rơi vào tay địch. Dân cũng cùng đường lánh nạn. Đa số phải ở lại nơi chôn nhau cắt rốn, vì không thể theo chân của Lính, như trường hợp dân lành của vùng núi Tiên Phước- Hậu Đức đã làm trong những ngày vừa qua.


 


   Trên đường lui quân vội vã, đã có nhiều tử sĩ phải nằm lại trên tuyến đầu. Trong giờ phút quyết liệt nhứt của chiến trận, sự di tản của toàn thể thương binh đã là một cố gắng tột cùng của các đơn vị. Việc bỏ lại xác của đồng đội các cấp tại mặt trận là việc chẳng đặng đừng. Chưa nói đến sự quyết tử của Tiểu Đoàn 2/5/ SĐ 2BB khi gọi phi pháo dập ngay trên hố chiến đấu, khi họ đã "cài răng lược" với quân địch.


 


   Hành động anh hùng này đã chặn đứng sự di chuyển của cộng quân tại tỉnh lộ 531 và 533 trong đêm 22/03/75. Nhờ đó mà ngày hôm sau, Trung Đoàn 5 mới có cơ hội chỉnh đốn lại đội hình và dàn trận tuyến mới, chỉ cách Tam Kỳ chừng một tầm đạn hiệu quả của súng cối 61 ly (1km). Sự hy sinh nào cũng kèm theo nỗi đau lòng khôn tả. Dân không còn Lính để bảo vệ làng thôn nên đành mang danh phận "vùng giải phóng". Lính không còn Dân thì chẳng khác gì con cá thiếu nước hay con người thiếu dưỡng khí.


 


   Hậu phương của địch là rừng núi thâm sâu, là Trường Sơn ngút ngàn cây lá. Hậu phương của Lính là thôn trang phú túc và thành thị muôn màu. Nay thôn trang đã lọt vào tay địch, nên người Lính co về bảo vệ phố xá của phần đất tự do, bây giờ đã trở thành một ốc đảo. Tam Kỳ vẫn gượng sống từng ngày và gần như bị tê liệt hoàn toàn khi đến thứ bảy 22/03/75 thì Ty Bưu Điện Tam Kỳ cũng phải chính thức ngừng hoạt động.


 


   Bỗng dưng tiếng súng vang trời từ hai tuần qua thưa dần rồi im hẳn vào buổi xế trưa của ngày 23/03/1975. Các đơn vị tham chiến hối hả chấn chỉnh nhân lực. Việc tái phối trí cũng như di chuyển thương binh được thực hiện trong tình trạng khẩn cấp. Chỉ đáng buồn hơn hết là đạn dược đã cạn. Sau mấy ngày cao điểm vừa qua, ai cũng đau lòng vì chuyện đánh đấm mà phải dè xẻn, tính toán về mặt yểm trợ và tiếp vận.


 


   Người Lính QLVNCH chưa bao giờ lâm vào tình trạng bi đát như lúc này. Trong khi cường độ của cuộc chiến mỗi ngày một leo thang, thì phi pháo đều bị hạn chế, vì không phải chỉ có Quảng Tín mà các đơn vị trên toàn cõi Quân Đoàn I và Quân Khu 1- từ Quảng Trị vào tới Quảng Ngãi- đều có nhu cầu yểm trợ và yểm trợ ngang nhau. Thì cũng đành tới đâu hay tới đó. Lính mà Em!


 


   Chiến trường lắng dịu không có nghĩa là tình hình đã yên ổn. Trong hoàn cảnh của Tam Kỳ chiều nay thì câu hỏi lảng vảng trong đầu mọi người là đối phương đang toan tính những gì. Địch cũng đang gom quân chuẩn bị cho cú tấp dứt điểm, hay đang say men chiến thắng và chỉ lo vơ vét chiến lợi phẩm hoặc bận khoác lác với người dân hôm qua còn thuộc quốc gia, bây giờ đã nằm trong sự cai trị của nón cối và dép râu.


 


   Tam Kỳ đang sinh hoạt trong tình trạng người dân đã bỏ đi quá nửa. Trên gương mặt của từng người còn ở lại là nỗi bất an mặc dù quán xá vẫn bán buôn như thường lệ. Lính vẫn còn đây, Dân chưa tuyệt vọng. Chiều nay yên lắng nhưng ngày mai sẽ ra sao?!  Tam Kỳ đang hồi hộp từng giờ và không khí ngộp thở không khác gì đang ở ngay trong mắt bão.


 


  Sự tĩnh lặng rợn người trong toàn thị xã, càng chùng xuống khi hoàng hôn gác núi. Bóng tối dày đặc hơn thường lệ vì đã có nhiều nhà trống, sân không và phố xá thưa thớt xe cộ di chuyển trên đường phố. Đêm lại về trong đặc quánh thinh không. Đêm dài nhứt của Tam Kỳ đang bắt đầu với câu hỏi rồi mai sẽ ra sao?! Câu trả lời chỉ biết dành cho định mệnh!




Chân thành cảm ơn:


Trung Tá Hoàng Phổ, Liên Đoàn Phó LĐ12 BĐQ


Thiếu Tá Hồ Văn Hạc, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 39/LĐ12 BĐQ


Đại Úy Nguyễn Trung Tín, Y sĩ Trưởng LĐ12 BĐQ


Đại Úy Trần Văn Quy, Tiểu Đoàn Phó TĐ 37/LĐ12 BĐQ


Đại Úy Trần Văn Vương, Đại Đội Trưởng ĐĐ3/37/LĐ12 BĐQ


Trung Úy Võ Văn Hiền, Đại Đội Trưởng ĐĐ2/37/LĐ12 BĐQ


Trung Úy Nguyễn Duy Tân, Đại Đội Trinh Sát TrĐ 5/SĐ 2BB


Thiếu Úy Đỗ Văn Tuấn, Đại Đội Phó ĐĐ2/TĐ2/TrĐ 5/SĐ 2BB


đã góp thêm chi tiết về tình hình chiến sự và những địa danh liên quan tới các trận đánh.




HUY VĂN

https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/nd49-01/nd49_01e.html