Tuesday, September 2, 2014

ABOUT NEW YORK; When East Met West and Walking Around Led to Brooklyn

By Michael T. Kaufman
Published: February 24, 1993
TO gain a sense of place it really helps to walk around a lot. That is what Hope Cooke did when her world turned bleak and rotten 20 years ago and now, as a result, the 52-year old Brooklyn resident, who is also the last reigning Queen of Sikkim, says she feels more rooted than she has ever been.
"I can honestly say I really know where I am," Ms. Cooke said in the cozy and sweet-smelling ground-floor kitchen of her 1878 house on the periphery of Brooklyn Heights.
Upstairs, her second husband, Michael Wallace, a history professor at John Jay College of Criminal Justice, was working on a manuscript. Her own book of walking tours of New York City has just been issued by Temple University. Now she is hoping to put together a video series describing issues of city life like immigration, racial division and gentrification in their historical contexts. She has lectured on the social history of New York and organized walking tours.
About a month ago she was at a party where there were many local history buffs. "At one point," she recalled, "I was introduced to a young man who, as he shook my hand, blurted out, 'Oh you're Hope Cooke, the Hope Cooke? Hope Cooke, the walking tour guide?' It made me so happy. It was a real turning point."

Over the last 30 years there had been so many other introductions drawing responses, spoken or silent, that were very different. Hope Cooke? Oh, yes, the New York debutante, the Sarah Lawrence student, the one who met and married the heir to the throne of that tiny kingdom tucked between Nepal, Tibet, Bhutan and India. Wasn't she the Grace Kelly of the Himalayas who in 1963 went to live in a palace in Gangtok as the bride of the Chogyal, a man revered by his subjects as the reincarnation of an ancient Buddhist holy man?
And later there must have been many others who tried to fit the name with what they could remember of old newspaper accounts. Yes, she had lived as the Queen of the remote kingdom with its steep paths, silk-clad archers and prayer wheels. She had borne a son and daughter, but then, despite predictions of court astrologers, the marriage turned stormy.
But the little country was running into greater problems as India moved to absorb it. Crowds, organized by agents from New Delhi, marched on the palace calling for an end to the monarchy. Ms. Cooke fled with her children, coming back to New York, a city she hardly knew. "It was a period of intense and painful dislocation," said Ms. Cooke. "I literally did not know where I was."
She had been born in the city but her experience with it was very limited. Her mother died when she was 2, probably a suicide. Her mother's well-to-do parents kept her father away. She was raised by Scottish governesses whose lilt and burr still mark her speech.
"I don't remember ever going to the zoo or walking anywhere as a child," she said. "We would just take the Chapin school bus down Park Avenue and back. Those of us who lived on the avenue felt sorry for the Chapin children who lived on the side streets. Later there were dreadful dancing classes." After that there was boarding school, Sarah Lawrence and then the palace at Gangtok.
One of the news articles that appeared at the time of her marriage quoted a Sarah Lawrence classmate of Ms. Cooke's as saying, "Hopey was always a little out of place in the West." Ten years in Sikkim could not possibly ease the alienation.
"That's when I started walking and looking," she said. "At first it was a matter of orientation and diversion. Later it grew into a passion. Now it is what I do."
When she first came back, she says, her major concern was being a single mother, living in an apartment with very little furniture and a constant flow of guests from Sikkim. The king was then under house arrest back in Sikkim, which had been swallowed up by India. For a while she lectured about her experiences and then she wrote about them in a book "Time Change." And all the while she was venturing out into neighborhoods, figuring out where she was and how she and her fellow New Yorkers had gotten here.
Eventually, she lectured on New York City history at Yale and at one time wrote regular columns on city landmarks for The Daily News. Her children finished school, the son becoming a banker, the daughter a public relations representative. Her marriage grew estranged and then ended in divorce two years before the dethroned Chogyal died in 1982. She met Michael Wallace at a meeting of historians and 10 years ago they moved to the house in Brooklyn.
Now, quite clearly, she has grown into the city, taken on a new identity. She really is "Hope Cooke, the guide to New York." And though her newest book traces the destinies of immigrants, bankers and writers, it also marks another passage -- her own. "I am rooted here," she said. "Life has become sheer fun."
Drawing.


Monday, September 1, 2014


Quân Vương ( The Prince)
Nguyen Viet Dung
08/09/2013
Có rất nhiều những tác phẩm kinh điển trong lịch sử rất hay được mang ra trích dẫn trong các cuốn sách được viết thời nay. Các tác phẩm kể như “Tài sản quốc gia” của Adam Smith (thế kỷ 17); “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của Keynes (thế kỷ 19), “Cộng Hòa” của Triết gia Plato (thế kỷ thứ 4),….
Khi đọc tới những “trích dẫn”, độc giả luôn muốn được xem chính xác bản gốc của tài liệu; cũng giống như khi ta nghe lại bản nhạc cover, một bộ phim được làm lại ta luôn muốn xem ca khúc hay bộ phim nguyên bản như thế nào.
Chính vì vậy các tác phẩm kinh điển trường tồn theo thời gian hiện đã có thể tìm thấy trên giá sách của các nhà sách tại Việt Nam phục vụ cho các độc giả muốn tìm đọc nguyên bản.
Quân Vương “The Prince” của Niccolo Machiavelli (thế kỷ 14) là một trong số đó. Nếu như ai quan tâm đọc tới các chủ đề về chính trị chắc sẽ không thể không biết ông.
The prince Trong “đối thoại với Lý Quang Diệu” có đoạn Tom Plate phỏng vấn Lý Quang Diệu dựa trên cuốn sách này. Nó tạo cho tôi sự tò mò phải đọc cuốn Quân vương để hiểu hơn.
“Quân Vương” được Machiavelli viết ra như một cuốn cẩm nang dành cho các vị vua. Hoàn cảnh viết là vào thế kỷ 14 ở châu âu nơi các vùng đất được cai quản bởi các vị vua với vai trò chăn dắt dân chúng.
Phần 1 mô tả các hình thái quốc gia, cách thức cai trị các quốc gia khi đã xâm chiếm được nó,..Phần 2 thú vị hơn mô tả về các đức tính mà một vị vua nên có để cai trị quốc gia.
1. Nên làm cho dân yêu hay làm cho dân sợ?
Yêu và sợ là hai cảm giác không thể tồn tại song song, vì vậy một vị vua phải chọn một trong hai. Vậy một nhà lãnh đạo  hay một vị vua nên chọn vế nào?
Nếu chọn cho dân yêu thì anh ta sẽ phải làm nhiều thứ để thỏa mãn cả giới quý tộc, binh lính và dân chúng. Khi làm cho dân yêu anh ta sẽ hạ mình khiến cho người dân có thể coi thường nhà vua và cũng rất khó khăn để làm cho tất cả mọi người yêu mến vì có những nhu cầu xung đột nhau.
Yêu cũng là cảm xúc không bền vững vì chỉ cần nhà vua làm trái ý một chút thôi cũng có thể chuyển sang trạng thái ghét. Và vì vậy người dân sẽ có xu thế vô kỷ luật, nhờn, nhà vua khó tồn tại được lâu.
Chính vì vậy Machiavelli cho rằng nên chọn cho dân sợ. Khi dân sợ, người dân sẽ có tính kỷ luật. Nỗi sợ xuất phát có thể từ sự tàn bạo của nhà vua, tuy nhiên ảnh hưởng của sự tàn bạo chỉ có vài người nhưng kết quả lại tốt cho người khác. Điều này giống như việc ban hành luật chặt tay nếu ăn trộm, chỉ có vài người sẽ bị chặt tay nhưng nó sẽ khiến cho xã hội kỷ luật hơn, nhiều người được hưởng lợi. Người dân sẽ sợ mà không vi phạm pháp luật nữa.
Tuy nhiên nhà vua không được làm cho người dân căm ghét. Chừng nào nhà vua còn không đụng tới tài sản, vợ con của người dân thì người dân sẽ không căm ghét anh ta. Chúng ta chú là thời thế kỷ 14, vua có toàn quyền trong quốc gia, không ai được phán xét nhà vua vì vậy vua có thể xâm phạm các quyền sở hữu của người dân nếu muốn.
Nhà vua cũng không được quá tàn bạo vì anh ta có thể gây thù với nhiều người một cách không cần thiết.
Nếu nhà vua có thể chuyển trạng thái từ “yêu” lên thành “kính trọng” thì điều đó là rất tốt nhưng vì phải là người xuất chúng mới có thể khiến cho người dân kính trọng nên tốt nhất thì vẫn nên là làm cho dân sợ.
Lý Quang Diệu cũng chọn vế hai khi Tom Plate hỏi ông về vấn đề này.

2. Nhà vua nên là Sư tử (mạnh mẽ) hay là như Cáo (mưu mẹo)?
Nhà vua nên là cả hai. Anh ta phải mạnh mẽ như sư tử để bảo vệ đất nước và để dân chúng kính trọng. Bề ngoài anh ta phải có những đức tính tốt còn hành động anh ta có thể không tốt với một số người nhưng là tốt cho dân chúng (giống cáo).
Machiavelli cho rằng nhà vua nên có những đức tính sau:
- Nhà vua hãy keo kiệt với tiền của mình và hào phóng với tiền của người khác:
Thông thường khi mới lên nắm quyền thì nhà vua phải tỏ ra hào phóng để củng cố vị trí. Sau đó anh ta phải keo kiệt vì điều đó sẽ tiết kiệm tài sản quốc gia, người dân sẽ không phải đóng thêm thuế.
Khi đi chiếm đóng các vùng đất khác anh ta phải hào phóng với của cải chiếm được vì điều đó sẽ khích lệ tướng sỹ.
- Nhà vua không cần thiết phải giữ chữ tín
Trên tổng thể nhà vua có thể thực hiện mọi hành động miễn là anh ta thấy có lợi cho dân chúng. Anh ta có thể hứa sau đó nuốt lời đặc biệt là với kẻ thù. Người dân sẽ nhanh chóng quên điều này.
king_henry_i_from_npg
3. Ám sát và lật đồ
Trong lịch sử số nhà vua bị ám sát và lật đổ cũng nhiều chẳng kém các vị vua chết vì già. Chính vì vậy vị vua nào cũng sợ hai điều này.
Machiaville cho rằng một cá nhân hay một nhóm khi thực hiện hành vi ám sát hay lật đổ sẽ xem tới các yếu tố sau:
- Người ta sẽ đánh giá sao kết quả đó? Nếu như vua nước đó được nhân dân kính trọng thì anh ta sẽ phải rất cân nhắc vì hành động của anh ta sẽ khiến cho cả nước căm ghét. Vì vậy nếu một nhà vua bị người dân khinh ghét thì đó là tiền đề tốt cho việc ám sát.
- Kẻ định ám sát có đồng minh không? Để ám sát anh ta phải tạo cho mình các đồng minh. Đồng minh của anh ta nếu không phải người rất thân với anh ta thì phải là người rất căm ghét nhà vua vì vậy nhà vua càng hạn chế số người căm ghét càng tốt. Nếu như đồng minh không đủ đông để hành động hay để đối phó với sự phẫn nộ của dân chúng thì anh ta sẽ không làm.
Ngoài ra như đã đề cập ở trên nhà vua nên làm cho dân sợ thay vì yêu vì bản chất con người là sẵn sàng làm hại người mà người ta yêu hơn là làm hại người mà người ta sợ.
4. Quý tộc, Binh lính và người dân; nên làm ai yêu?
Một quốc gia ở thời bình nên hạn chế tối đa lực lượng quân thường trú. Quân đội khi có sức mạnh, mà suốt ngày chỉ có ngồi không thì rất nguy hiểm. Nhưng nếu như nhà vua vẫn phải giữ quân thường trú đông đảo thì anh ta phải làm cho quân đội yêu mến. Thông thường quân đội được yêu mến sẽ có những hành động vô kỷ luật với dân chúng và khiến dân chúng ghét. Nhưng trong trường hợp này nhà vua có thể để cho dân chúng ghét vì dân chúng không có vũ khí trong tay.
Lực lượng Quý tộc là giới nhà giàu thường cũng dạng ăn không ngồi rồi và vì vậy thường gây rắc rối. Nhà vua về ngắn hạn có thể tạo ra mâu thuẫn giữa các dòng họ để các dòng họ dành thời gian đối phó nhau thay vì hành động ảnh hưởng tới nhà vua. Về dài hạn thì nhà vua hạn chế quyền lực của giới quý tộc và dành được sự kính trọng từ người dân.
Dân chúng là một tập hợp những con người có những nguồn gốc, đức tính và nhu cầu khác nhau. Cai quản một quốc gia rất phức tạp và vì vậy không dành cho các vị vua yếu mềm, không có chính kiến, không thể thực thi các quyết định của mình.
Dân chúng cũng có đặc tính là ai bị đụng quyền lợi thì to mồm còn lại thì im thin thít vì vậy nhà vua phải rất cân nhắc kiểm tra kỹ các luồng dự luận. Anh ta không nên thay đổi ngay quyết định của mình vốn đã cân nhắc từ lâu chỉ vì có ý kiến phản đối của một nhóm người.
Chúng ta đang yêu, sợ hay căm ghét nhà vua?http://chienluocsong.com/quan-vuong-the-prince/

Sunday, August 31, 2014

Những giống nhau giửa cuộc chiến tại Mã Lai (Malaya) * và VN .

Ngoài việc ném bom và rải thuốc khai quang , còn có 2 điểm tương tự .
1/ CT tái định cư
Nước Anh đã lập CT "tái định cư" đã c.cấp 1 khuôn mẫu cho CT Ấp Chiến Lược tại VN . Trong cuộc chiến Mã Lai lần đầu , 450 khu tái định cư đc lập và khoảng 470.509 n - gồm 400 ngàn ng Hoa - đã ở trong đó . Một biện pháp chiến tranh của Anh là tạo sự trừng phạt tập thể *** đối với làng mà ng dân đc cho rằng (deem) giúp đở phe nổi dậy . Ở Tanjong Malim tháng 3/1952 , Trung Tướng Templer , TL quân Anh ở Malaya thời đó , áp đặt (impose) giới nghiêm 24 giờ **, cấm rời khỏi làng , đóng cửa trường , ngừng dịch vụ xe bus và giảm khẩu phần gạo cho 20 ngàn người . Biện pháp cuối đã khiến Trường Vệ Sinh và Bịnh Nhiệt Đới London viết thư tới VP Thuộc Địa nhận xét rằng "ng dân Mã Lai suy dinh dưỡng kinh niên" dẫn đến cái chết . "Biện pháp này ko những chỉ làm gia tăng b.tật nhưng cả chết chóc , đặc biệt các bà mẹ và trẻ thơ" . Một số ng bị phạt vì rời nhà để đi cầu bên ngoài . Một trừng phạt tập thể khác - tại Sengei Pelek vào tháng kế - gồm giới nghiêm , cắt khẩu 40/100 khẩu phần gạo và dựng hàng rào (chain-link) cao 22 yard/20,1 m bên ngoài hàng rào kẻm gai (barbed wire) cũ quanh làng này . Viên chức giải thích rằng làm như vậy đối với 4.000 dân làng vì ' sự tiếp tục tiếp tế lương thực' cho phe nổi dậy và ' vì họ ko cung cấp t.tin cho nhà c.quyền' .
2/ Tìm và diệt .
Cũng như lính Mỹ tại VN , lính Anh cũng thường đốt những làng bị kết tội tiếp tế cho phe nổi dậy , bắt giử hàng ngàn ng tình nghi là cộng tác với nổi dậy , hầu ko còn chổ cho phe nổi dậy ẩn náo . Nếu khám phá ng dân giúp đở phe nổi dậy thì lính Anh sẽ giử và điều tra họ để biết nơi đóng quân của nổi dậy . Phe nổi dậy có nhiều t.lợi hơn lính Anh ; họ sống gần ng dân , đôi khi có thân nhân hay bạn thân trong làng , và họ ko ngại dùng bạo động hay tra tấn hay giết các trưởng làng để làm gương cho kẻ khác , buộc ng dân phải giúp họ lương thực và t.tin . Vì vậy lính Anh có đe dọa kép : phe nổi dậy và mạng lưới thầm lặng trong làng , dù muốn dù ko , hổ trợ (nổi dậy) . Trong khi phe n.dậy ít khi đụng độ với lính Anh , họ lại dùng chiến thuật khủng bố để làm dân sợ và phải giúp đở vật chất cho họ . Lính Anh thường mô tả sự kinh hãi (terror) khi đi hành quân trong rừng ; ngoài việc để ý/canh chừng quân nổi dậy , họ phải di chuyển trên địa thế khó khăn và tránh động vật và côn trùng nguy hiểm . Nhiều toán phải ở trong rừng nhiều ngày , ngay cã nhiều tuần , ko đụng địch và kế đó , trong k.khắc ngắn ngủi lại lọt ổ p.kích . Lính Anh , ko thể p.biệt bạn thù , phải điều chỉnh với nguy cơ thường xuyên bị phe nổi dậy tấn công . Những tình huống này dẫn đến sự kiện ô nhục (infamous incident) tại Batang Kali khi 24 dân làng ko vỏ trang bị giết bởi lính Anh .
* hiện nay gọi là Malaysia .
** áp dụng bên ngoài làng , bên trong làng chỉ g.nghiêm ban đêm .
*** điều này ko có tại VN . Lính Úc , do có k.nghiệm chiến đấu ở Mã Lai (vì trong khối liên hiệp Anh) , khi đóng quân ở Phước Tuy đã làm chủ tình hình 100/100 . Thời đó tỉnh này là yên nhứt trong các tỉnh ở VN . Họ đánh theo lối du kích , ví dụ : tiến quân vào 1 làng , sau đó rút lui nhưng "ém" lại 1 trung đội . Lính CS tưởng rút hết , lò mò trở về thì bị phục kích .
Theo báo Úc , có lần họ đã cột 1 xác lính CS vào sau xe M-113 để cảnh cáo dân làng "nếu ai theo VC sẽ có số phận như vậy" .
Vài biểu đồ (chart) về chiến tranh chống cộng lần 1 * tại Malaysia .

Oanh tạc cơ Avro Lincohn của Úc ném bom 500 cân Anh xuống phiên quân CS trong rừng núi Mã Lai . * Cuộc chiến kéo dài từ 16-6-1948 tới 12-7-1960 (12 năm , 3 tuần và 5 ngày) . Kết quả phe Liên Hiệp Anh thắng . Chin Peng , lãnh tụ của ĐCS Mã phải trốn khỏi Mã Lai  .

Các bên tham chiến : bên trái là các nước trong Liên hiệp Anh ; bên phải là ĐCS Mã Lai , QĐ giải phóng dân tộc Mã Lai , đc hổ trợ bởi TQ .

Các TL và lãnh tụ 2 bên . Quân số 2 bên : 
A/ 250.000 nghĩa quân (home guard) Mã Lai , 40 ngàn quân chính qui , 37 ngàn CS đặc biệt , 24 ngàn CS liên bang . Quân của Liên Hiệp Anh gồm lính Nam Phi , các trung đoàn lính Gurkha . 
B/ Khoảng 150 ngàn MIN YUEN (tạm dịch là thân binh) , một tổ chức dân sự nhằm cung cấp tiếp tế và thông tin cho lực lượng MNLA , (a civilian organisation called the Min Yuen supported the MPLA, collecting supplies and information) và 8.000 lính MNLA .

Tổn thất : chết , 1346 lính và CS Mã , 519 lính Anh . Bị thương : 2.406 lính và CS Mã và Anh . Thường dân : 2478 chết , 810 mất tích .
Phe Mã cộng : 6.710 chết , 1289 bị thương , bị bắt 1.287 và đầu hàng 2.702 
Dịch từ : http://en.wikipedia.org/wiki/Malayan_Emergency





Khác nhau giửa chiến tranh VN và Mã Lai (Malaya , giờ gọi là Malaysia)

Chiến tranh tại Mã Lai và VN đã được nhiều lần s.sánh và đã đc các sử gia đặt câu hỏi làm thế nào 1 lực lượng lính Anh chỉ có 35.000 ng lại thành công trong khi hơn 1/2 triệu lính Mỹ lại thất bạo trên 1 khu vực nhỏ hơn . Hai cuộc chiến khác nhau ở các điểm sau .
1/ Trong khi MNLA (quân đội dân tộc giải phóng Mã lai) chỉ có hơn 8.000 du kích , quân CS Bắc Việt có hơn 250.000 ng , cộng thêm khoảng 100.000 du kích Việt cộng .
Sự hổ trợ của LX và CHND Trung Hoa đã cung cấp 1 lượng lớn vũ khí mới nhứt , yểm trợ hậu cần , người và huấn luyện cho Bắc VN .
Bắc VN , cùng chung biên gới với đồng minh TQ , cho phép sự giúp đở và tái tiếp tế liên tục .
Lực lượng MNLA bị cô lập và ko có sự giúp đở từ bên ngoài (external supporter) .
LL này đã cô lập về chính trị với phần lớn ng dân . Như đã nói ở trên , đây là 1 phong trào chính trị hầu như chỉ có Hoa kiều tham gia ; sự hổ trợ từ ng Mã Lai theo Hồi giáo và các bộ lạc nhỏ hơn thì rải rác . Người ML ủng hộ ng Anh vì đc hứa sẽ độc lập trong 1 nhà nước ML ; 1 chiến thắng của MNLA sẽ bao hàm (imply) 1 nhà nước khống chế bởi Hoa kiều , và có thể là 1 nhà nước bù nhìn của Bắc kinh hay Moscow .
Nước Anh chưa bao giờ xem cuộc chiến chống Mã cộng là chiến tranh qui ước và nhanh chóng thực thi 1 kế hoạch hửu hiệu gồm : 1/ tình báo (lãnh đạo bởi nghành CS Đặc Biệt của ML để chống lại nhánh chánh trị của phong trào du kích này) và 2/ "dân vận và chiêu hồi" (hearts and minds) .
Nhiều ng ML đã chiến đấu với ng Anh chống lại Nhật trong TC 2 , gồm Chin Peng , lãnh đạo MNLA . Tương phản với Đông Dương khi các viên chức Pháp ko chiến đấu chống Nhật , điều này đã kích động người VN theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Pháp . Yếu tố về lòng tin này giửa dân địa phương và đế quốc Anh đã giúp Anh có thuận lợi hơn Pháp và sau này , Mỹ tại VN , đã ko có sự tin tưởng như vậy từ ng VN ?
Về mặt thuần túy QS , lính Anh nhìn nhận rằng trong 1 chiến tranh cường độ thấp (low-intensity war) , kỷ năng và chịu đựng của cá nhân ng lính thì quan trọng hơn là hỏa lực áp đảo (pháo binh , máy bay , v.v...) . Dù cho nhiều lính Anh là lính quân dịch (conscripted) , kỷ năng và thái độ (attitude) cần thiết lại đc dạy thêm ở trường CT rừng Núi , (nơi đây) cũng đã áp dụng những chiến thuật tối ưu dựa trên kinh nghiệm chiến trường.
Tại VN , ng và vũ khí đc chuyển qua nước thứ 3 như Lào và Cambodia trong khi quân Mỹ ko đc phép vào 2 nước này . Điều này cho phép lính CSVN có chổ núp an toàn đối với mọi tấn công của Mỹ . Phe MNLA chỉ có biên giới Thái , nơi mà họ đa trú ẩn lúc gần kết cuộc chiến .
Dịch từ Wikipedia . Ảnh minh họa từ NAT GEO tháng 11 1963 .


H1 . Một thời là thánh địa của Mã cộng , đồn Legap tại phía bắc Malaysia nay dùng như 1 trung tâm mua bán và giáo dục cho dân bản địa . 1 l.lượng nhỏ CS giử đồn . Hỏa châu đc bắn lên để báo cho phi công đáp xuống p.đạo ngắn , gần bên bải đáp t.thăng và nhà chứa xăng . Cô lập trong rừng núi ko đường xá , đồn này dựa vào m.bay để t.tế . 

Hình 2 . Luồn lách qua cỏ bén như dao , những dân bản địa/aborigene đc huấn luyện gần Kuala Lumpur để thành lực lượng bán QS chống lại những phần tử còn lại của du kích quân CS 1 thời đe dọa đất nước này .
Dịch từ : http://en.wikipedia.org/wiki/Malayan_Emergency

Saturday, August 30, 2014

Ý kiến dân được gửi đi qua 1 nhấp (chuột) .
- Các lãnh đạo VN nói nhiều , nói rất hay nhưng ko làm gì hết hay chỉ làm rất ít --Lý quang Diệu .
TP Mountainview Cali vừa ra đời 1 công cụ trực tuyến để cổ vỏ sự phản hồi của dân , có tên là "Tòa thị chính MỞ của Mountainview" .
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra bởi tòa thị chính đặt ra là "Tp Mountainview có nên ra luật về lương tối thiểu hay ko ?"
"Ngay bây giờ , ng dân có thể cho phản hồi đến hội đồng * TP vào bất cứ lúc nào , từ bất cứ nơi nào - mà họ đang dùng máy tính . . . giúp ng dân có thể gửi phản hồi , đọc ph từ ng khác và đc báo hiệu (alert)  khi có chủ đề mới đc đưa ra từ TP , ' theo bà Shonda Ranson , Điều hợp viên Thông tin của TP .
Vào ngày 8/9 , phiên họp về v/đề lương tối thiểu là chủ đề đầu tiên . Các chủ đề sẽ cập nhựt hóa suốt năm .
Trước đó các tp Palo Alto , Menlo Park và 1 số tp khác đã áp dụng công cụ này ; đc phát triển bởi 1 cty có tên Peak Democracy đặt tại Berkeley , Cali .
"1 trong những mục tiêu của hội đồng tp là dùng kỷ thuật để nâng cao (enhance) các dịch vụ , và đây là cách để chúng tôi cải tiến chất lượng phục vụ dân" bà Ranson nói . "Bằng cách dùng công cụ này chúng tôi thấy đc mọi ý kiến từ nhiều phía về 1 v/đề cũng như vươn tới các ng dân ko thể dự các cuộc họp của tp , nhưng lại muốn có tiếng nói với tp . Ng dân sẽ ko nhận trả lời cá nhân từ tòa thị chính , nhưng mỗi còm sẽ đc đọc bởi chúng tôi " .
Để biết thêm , xin viếng www.mountainview.gov/opencity-hall .
Dich từ báo SJMN ngày 25/8/14 .
* Ở các TP Mỹ , mọi chính sách đc bàn cải và quyết bởi hội đồng TP . Tòa TC , tương đương với UBND TP chỉ là cơ quan thực thi các chính sách đc thông qua bởi HĐ này .  Các thành viên của HĐ này đc ng dân địa phương trực tiếp bầu lên và hưởng phụ cấp SUỐT ĐỜI , sau khi ko còn làm việc . Người Mỹ quan niệm , ko thể để ông thị trưởng hay các thành viên này trở nên nghèo khổ sau khi rời chức vụ - và để tránh tham nhũng theo kiểu TƯ DUY NHIỆM KỲ của các quan tham VN .

Friday, August 29, 2014

CỐ ĐÔ HUẾ . NAT GEO Sep 1952 .


 H.1 .
"Những công nhân vớt cỏ dại (weed) làm tắt (clog) hào của cố đô Huế .
Tử Cấm Thành của các hoàng đế Việt nam , nằm bên trái cổng , ngày nay là chổ ở của lính . Lính khám xe xích lô để xem có lựu đạn . Nông thôn bị bao vây (beleaguered) . 
H.2 . Các nhà lợp lá của nạn nhân chiến cuộc nằm đầy (crowd) bờ sông .
Hương Giang , sông của mùi thơm , đặt tên dựa theo mùi thơm của các cây có hoa mọc trên bờ , nằm ở bên phải của hình . Bị đặt mìn bởi CS , cầu thép này có 1 nhịp tạm . Khu vực cư trú của người Pháp ở bờ nam sông Hương (góc trên phải của hình) " .
Nguồn : NAT GEO Sep 1952 , đã 62 năm .
Nhận xét : Dân VN thời đó đã bắt đầu nếm mùi binh đao , đc phát động bởi ng CS .
H3 . Các cô gái mặt áo dài , quần lụa ko phản ảnh tí gì về thảm kịch của Việt nam . Dù bạo động và khủng bố đe dọa khắp nơi , cuộc sống thường ngày vẫn tiếp tục . Các cọc tre đan chéo nhau đánh dấu 1 tháp canh vệ đường tại Châu thổ sông Cửu long , 1 trong hàng ngàn tháp như vậy bảo vệ các xa lộ chánh .



Các cô gái mặt áo dài , quần lụa ko phản ảnh tí gì về thảm kịch của Việt nam . Dù bạo động và khủng bố đe dọa khắp nơi , cuộc sống thường ngày vẫn tiếp tục . Các cọc tre đan chéo nhau đánh dấu 1 tháp canh vệ đường tại Châu thổ sông Cửu long , 1 trong hàng ngàn tháp như vậy bảo vệ các xa lộ chánh .