Sunday, October 20, 2019

Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân

 0 THANH NIÊN
Cùng với điện, nước sinh hoạt là lĩnh vực thiết yếu cần phải bảo đảm cho người dân sau ngày thống nhất. Thậm chí, ngay trong ngày 30.4 lịch sử, nước sạch vẫn được cấp đủ cho người dân Sài Gòn.

Cùng với điện, nước sinh hoạt là lĩnh vực thiết yếu cần phải bảo đảm cho người dân sau ngày thống nhất. Thậm chí, ngay trong ngày 30.4 lịch sử, nước sạch vẫn được cấp đủ cho người dân Sài Gòn.



Các kỹ sư, công nhân sửa chữa khắc phục máy móc của Nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975
Các kỹ sư, công nhân sửa chữa khắc phục máy móc của Nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975 - Ảnh: tư liệu Sawaco
Nhận cả Ban lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục
Cuối tháng 2.1975, khi đang tiếp quản huyện Phước Long (Bình Phước), ông Bùi Minh Thế nhận được lệnh cấp trên chuẩn bị công tác tổ chức tiếp quản Sài Gòn.
Ngày 30.4.1975, đoàn tiếp quản của ông Thế vào tới Sài Gòn. Dọc hành trình, do trước đây làm ở Nhà máy chế tạo bơm Hải Dương nên ông Thế được phân về đội tiếp quản nước gồm 11 thành viên.
Đến Sài Gòn, đội tiếp quản nghỉ một đêm ở Trường kỹ thuật Cao Thắng để hôm sau tiến hành công việc tiếp quản. Chiều 30.4.1975, dù Sài Gòn đã được tiếp quản nhưng theo ông Thế “tiếng súng đạn vẫn kêu đì đẹt cả đêm. Mọi người dặn nhau nếu không có chuyện gì quan trọng nên tránh ra đường”.
6 giờ sáng 1.5.1975, 11 thành viên lên đường để tiếp quản. Ông Thế kể do không rành đường lại không biết địa chỉ Sài Gòn Thủy cục (tên gọi cũ của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) trước 1975) nên đoàn cứ nhìn ở đâu có bồn nước to thì cứ đến đó dò hỏi.
Ban đầu đoàn vào khu cấp nước Sài Gòn nằm gần Hồ Con Rùa, nay là trụ sở của Sawaco. Tuy nhiên, một số công nhân cho biết trụ sở chính của Sài Gòn Thủy cục lúc đó ở số 86 Nguyễn Thông (Q.3). Tới nơi, Ban giám đốc của Sài Gòn Thủy cục đã có mặt, trong đó có cả Giám đốc Sài Gòn Thủy cục Vũ Đình Hạnh.


Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân - ảnh 2
Các kỹ sư, công nhân đang sữa chữa khắc phụ máy móc của nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975  - Ảnh: tư liệu Sawaco
Ban đầu tổ tiếp quản vẫn giữ nguyên thành phần lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục và bộ máy cũ hơn 1.500 công nhân viên. Hoạt động của Sài Gòn Thủy cục diễn ra bình thường dưới sự giám sát của đội tiếp quản.
 “Quan hệ giữa đội tiếp quản và lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục lúc đó khá tốt, tôn trọng lẫn nhau. Hằng tuần hai bên vẫn họp giao ban để nắm tình hình”, ông Thế nói.
Theo ông Thế, sau một thời gian, tổ tiếp quản đã tiến hành chuyển đổi Sài Gòn Thủy cục. Tên gọi của công ty được đổi sang thành Công ty cấp nước TP.
Ông Trần Văn Thình - một trong những thành viên của đội tiếp quản - được phân công làm giám đốc công ty, phó giám đốc là các ông Võ Văn Đường, Nguyễn Văn Lang, Trương Hoàng Khải. Ngoài ra, công ty tiếp quản được hệ thống cơ sở vật chất ngành nước hầu như còn nguyên vẹn, từ Nhà máy nước Thủ Đức, Biên Hòa đến các chi nhánh Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn... đủ sức cung cấp nước sinh hoạt cho 3 triệu dân Sài Gòn ở các quận 1, 3, 5, 11, Tân Bình...
Sau đó, công ty còn cung cấp nước sản xuất cho Khu công nghiệp Biên Hòa và một số khu công nghiệp vùng phụ cận.
“Người bên kia” bảo vệ ngành nước
Theo hồi ức của ông Võ Văn Đường (thời điểm tiếp quản là phó giám đốc,  sau này là Giám đốc Công ty cấp nước TP, hiện ông Đường đã mất), việc cơ sở ngành nước Sài Gòn sau ngày 30.4.1975 được bảo toàn nhờ một phần từ chủ trương của lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục mà đứng đầu là Giám đốc Vũ Đình Hạnh.
Khi nắm vị trí Giám đốc Sài Gòn Thủy cục trong những ngày “dầu sôi lửa bỏng”, chủ trương của ông Hạnh là bất kỳ giá nào cũng phải duy trì hoạt động sản xuất, bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho dân thành phố.


Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân - ảnh 3
Các kỹ sư, công nhân đang sữa chữa khắc phụ máy móc của nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975  - Ảnh: tư liệu Sawaco
Một câu chuyện còn được anh em ngành cấp nước Sài Gòn kể cho nhau nghe về việc lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục cố gắng bảo vệ Trạm bơm Hóa An không để cho chiến tranh tàn phá.
Theo đó, vào chiều 28.4.1975, một tàn quân của quân đội Việt Nam Cộng hòa sau khi rút chạy từ Xuân Lộc và Biên Hòa về đã định vào chốt Trạm bơm Hóa An, biến thành nơi tử thủ và phá vỡ hệ thống cung cấp nước của Sài Gòn.
Ông Hạnh nhận thức Trạm bơm Hóa An là đầu nguồn cung cấp nước cho cả Sài Gòn. Nếu đụng độ ở đây, bom đạn khiến hệ thống bơm nước bị phá hủy thì cả Sài Gòn sẽ bị tê liệt về nguồn nước, mọi sinh hoạt và sản xuất xem như đều đình trệ. Ngay lập tức, ông Hạnh bàn với lãnh đạo các sở trực thuộc thủy cục tìm cách can thiệp để quân đội không đưa quân vào trạm bơm tránh những tổn thất cho cơ sở vật chất của ngành nước.
Theo ông Bùi Minh Thế, rất tiếc sau một thời gian làm việc với Công ty cấp nước TP, vì nhiều lý do ông Vũ Đình Hạnh đã nghỉ việc. Một thời gian sau ông Hạnh sang Pháp định cư.
“Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp dù trước đó làm lãnh đạo ở Sài Gòn Thủy cục nhưng sau này vẫn được bồi bổ, cất nhắc. Điển hình nhất là ông Võ Quang Lý trước ngày 30.4.1975 là Trưởng khu cấp nước Chợ Lớn. Khi tiếp quản ông Lý được đưa lên Nhà máy nước Thủ Đức làm chuyên gia, sau này về công ty kết nạp Đảng, làm trưởng phòng kỹ thuật, rồi phó giám đốc công ty cấp nước”, ông Thế nói.       
Chế nòng pháo làm phần bạc cho máy bơm
Ông Phạm Tấn Sỹ - nguyên Giám đốc Nhà máy nước Thủ Đức - cho biết tối 30.4.1975, đoàn tiếp quản đã tiếp quản Nhà máy nước Thủ Đức, nơi cung cấp phần lớn nước sạch cho Sài Gòn.
Dù từng được coi là hiện đại nhất Đông Nam Á nhưng thời điểm tiếp quản Nhà máy nước Thủ Đức đã vận hành được 14 năm nên nhiều thiết bị bắt đầu hư hỏng, cần phải thay thế, sửa chữa. Tuy nhiên, việc sửa chữa không hề dễ dàng vì toàn bộ máy móc của nhà máy đều của Mỹ mà sau 1975 hai nước không bang giao.
“Do đang bị cấm vận nên dù có tiền cũng không mua được thiết bị thay thế. Đơn cử như máy bơm to quá khi hư không xưởng nào trong nước sửa được. Phần bạc trong máy bơm chạy một thời gian bị mòn. Anh em phải đến Nhà máy Ba Son, Nhà máy Z751 cắt những nòng pháo không còn sử dụng để tiện thành bạc thay thế vào. Dù khó khăn nhưng không bao giờ để thiếu nước khó khăn cho sinh hoạt”, ông Sỹ cho hay.
Nguồn : https://thanhnien.vn/thoi-su/giu-huyet-mach-cho-hon-ngoc-vien-dong-ky-3-nuoc-sach-cho-3-trieu-dan-555648.html

Saturday, October 19, 2019


NHỮNG CÁI CHẾT CỦA TRÍ THỨC
Chép từ FB 
Mai-Agnetha Pham
Nguồn: trên mạng
Khi bàn về thân phận của trí thức, Vũ Tài Lục có nêu ra một hiện tượng là trí thức thường bị ngược đãi và đồ sát bởi thế lực chính trị.
Lenin gọi trí thức phản biện là “não đầy cứt”, Mao cũng gọi trí thức là “cục phân”.
Những trí thức ban đầu đi theo “lý tưởng cộng sản” rồi vấp phải thực tế mà tỉnh ngộ thường bị căm thù và săn đuổi bởi các đồng chí.
Bị coi là phản bội và bị giết bằng những hình thức man rợ.
Cái “tội” chết người của họ không phải chỉ vì bất đồng quan điểm mà là tội “phạm thượng” dám coi khinh lãnh tụ.
Đầu tiên là Trotsky, sau khi bị Stalin trục xuất, Trotsky đã sang đến Nam Mỹ mà vẫn bị mật vụ Soviet săn đuổi.
Ông chết như thế nào ? Ta hãy nghe một đoạn của tay sát thủ khai trước tòa :
“Tôi đặt chiếc áo mưa lên bàn sao cho có thể lấy được chiếc rìu phá băng trong túi ra. Tôi quyết định không bỏ lỡ cơ hội tuyệt vời đang có. Thời điểm Trotsky bắt đầu đọc bài viết, cơ hội của tôi đã đến; tôi rút chiếc rìu ra khỏi túi áo, nắm chặt trong tay, nhắm mắt lại, giáng cho ông một cú chết người vào đầu”.
Một lần, trong đại hội đảng, Stalin chìa tay ra, Trotsky không bắt mà nhổ nước bọt vào lòng bàn tay của bạo chúa, một thái độ khinh bỉ đến cùng cực của trí thức đối với phần tử “tinh hoa lãnh đạo”. Stalin không thể nuốt nổi mối hận này.
Hay Tạ Thu Thâu, người ta nói, ông chết vì đã dám coi thường Hồ Chí Minh, cái chết của Tạ Thu Thâu được bàn cãi nhiều, nhưng có một bài báo mà ít người được đọc, đó là bài : “Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết” của một người ký tên là Nguyễn Văn Thiệt, đăng trên tờ tuần báo “Hồn nước” của Tập đoàn công binh Việt Nam (Rassemblement des travailleurs vietnamiens) vùng Paris trong hai số 7 (ngày 30-7) và số 8 (ngày 7-8) năm 1949 :
“… Hôm nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng bảo thế, vì vừa được lệnh riêng của Cụ Hồ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh.Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người, một tiếng đoành (Tạ Thu Thâu bị đưa ra pháp trường 2 lần, nhưng những người được lệnh hành quyết không nổ súng- NNĐ).
Bỗng người lính gác kêu lên:
– Châu cha ! Tạ Thu Thâu lại về !
Tất cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn.
Sự sung sướng của tôi không được lâu. Đám người đi vừa đến gần cổng lao thì một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
– Đồ Việt gian phản động!
Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm, đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu quá.
Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy được tường tận.
Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu.
Và từ đó, một giọng the thé rất trong của người thiếu niên vang lên:
– Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết!
Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy”.
Hết trích.
Trong buổi phỏng vấn năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: “Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”.
Hay giáo sư khảo cổ học Nghiêm Thẩm, năm 56 sau khi tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp ông về nước, không theo lời mời từ Hà Nội mà lại về Sài Gòn (dù nơi ông sinh ra là Hà nội).
Năm 1982, ông bị đập chết bằng chiếc búa khảo cổ chính trong ngôi nhà của mình. Công an kết luận là một vụ cướp.
Hãy đọc một đoạn hồi ký kể về cuộc gặp gỡ giữa trí thức và lãnh đạo Lê Duẩn :
“… Cuối buổi tiệc Lê Duẩn nói :
- Anh Nghiêm Thẩm, chắc anh biết, cả thế giới đang coi Việt Nam mình như “đỉnh cao trí tuệ loài người”, mà anh cũng được vinh dự ấy.
Việt Nam chúng ta phải làm chủ miền Đông Nam Á này. Mọi yếu tố làm chủ hầu như đã đầy đủ, chỉ còn thiếu một điều...
Từ trước tới nay, mấy thằng chép sử “nhãi ranh” vẫn cho rằng: nguồn gốc các sắc tộc miền Đông Nam Á này là Mã Lai hay Indonesien.
Liên Xô mới tìm được dấu vết chứng tỏ rằng Việt Nam chúng mình mới là thủy tổ.
Chúng ta đang làm lại lịch sử Đông Nam Á. Khoa nhân chủng học và khảo cổ của ta lúc này đang phát triển, nên anh phải nắm lấy cơ hội này, với uy tín sẵn có của anh, anh phải viết một bài lớn, thẩm định lại: Dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông Nam Á. Như thế mới đúng ý nghĩa của “Đỉnh cao trí tuệ loài người” và mới xứng đáng tài năng hiếm có của anh.
Tôi im lặng một phút... trả lời hắn:
- Uy tín của tôi lúc này là nói đúng và nói thật. Theo các tài liệu khoa học hiển nhiên, nhất là khoa khảo cổ học và nhân chủng học quá rõ ràng, tôi không thể viết thế khác được. Viết như đồng chí nói là phản khoa học.
Hắn mỉm cười, bảo tôi:
- Anh nói thế tức là còn đang ở trong vòng gò bó của sách vở, của óc đế quốc, của hủ lậu, chứ không theo sử quan một tí nào cả.
Tôi cảm thấy tức đầy ruột, và thực sự lúc ấy tôi nhìn thằng Lê Duẩn như một con chó chết đê hèn, nên tôi hơi bạo lời:
- Nếu tôi viết như thế, thì các nhà khảo cổ và nhân chủng học trên thế giới sẽ cho tôi và cả chế độ tôi phục vụ là con chó chết. Tôi không bao giờ làm chuyện sa đoạ ấy.
Lê Duẩn vẫn không lộ vẻ tức giận. Hắn hỏi tôi vắn tắt:
- Anh nhất định không làm chuyện đó?
Tôi bỗng tìm được một danh từ xưng hô, trả lời hắn:
- Tôi không thể đáp ứng yêu cầu của “đàn anh” trong việc này.
Lê Duẩn ném cho tôi một cái nhìn có vẻ dữ tợn với câu nói cộc lốc:
- Anh nhất định thế... Mong anh đổi ý.
Tôi cũng nhìn thẳng vào mặt hắn, trả lời cương quyết:
- Tôi không bao giờ đổi ý.
Hắn ra đi, không nói thêm nửa lời.
Tôi coi đó như một biến cố đổ vỡ trong đời tôi, dưới chế độ khốn nạn này. Nhưng tôi thà tan vỡ cả tấm thân với cả chế độ này, còn hơn đổ vỡ cho đất nước tôi, cho chí hướng và danh dự học thức của tôi”.
Hết trích.
Lần gặp gỡ của giáo sư Trần Đức Thảo với Lê Duẩn được ông kể lại cũng cho ta thấy sự đụng độ giữa trí thức và quyền lực chính trị với thành phần “tinh hoa”.
Tất cả các lãnh tụ như Hitler, Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vv…hay Stalin, Chu Ân Lai, Trường Chinh, Lê Duẩn, Polpot, vv…không có ai xuất thân từ những giai cấp nông dân, thợ thuyền. Họ được gọi là “tinh hoa”.
Kẻ sỹ, người đọc sách và sau này gọi là “trí thức” cũng chỉ xuất thân chỉ ở giai cấp trung lưu, tiểu tư sản ? Vì vua chúa, đại tư bản không thèm đọc sách, dân nghèo không có điều kiện để đọc sách.
Cùng xuất thân ở một tầng lớp, tại sao trí thức lại thường bị đồ sát bởi người anh em cùng nguồn gốc nhưng tự coi mình mới đúng là “tinh hoa” ?
Có lẽ, xem xét cuộc đời của Maurice Barrès, một nhà văn Pháp sau này theo đuổi chính trị, được bầu vào Hạ viện với ước mơ xây dựng Pháp thành một “Quốc gia Cộng hòa XHCN” ta sẽ thấy được sự khác biệt giữa “trí thức” và “tinh hoa”, tất nhiên không nói đến thành phần “trí thức tinh hoa” một sự kết hợp hiếm hoi.
Maurice Barrès viết về trí thức như sau :
“ Không có gì đáng ghét bằng lũ trí thức nửa mùa tự nhận là những tay quý tộc tư tưởng tự cho ta khác xa với đám quần chúng tanh hôi…Bọn ấy đúng là rơm rác mà xã hội đang cố gắng tạo thành tinh hoa. Những thiên tài thiếu tháng, những tâm hồn bị đầu độc đáng cho ta thương hại chúng như lũ heo được đưa về viện Pasteus để thử thuốc điên rồ. Đương nhiên người ta phải giết chúng không thì cũng phải giam nhốt chúng”.
Sứ mạng của trí thức là đi tìm chân lý và phê phán.
Chính vì thực hiện sứ mạng này mà trí thức thường mang thái độ đối lập.
Phê phán thì động chạm, những kẻ nắm quyền lực độc tài không bao giờ chấp nhận thái độ đó, chúng tìm mọi cơ hội để tiêu diệt phê phán. Cũng vì sứ mạng mà trí thức chấp nhận bị ngược đãi và đồ sát, cũng vì thế họ khác biệt với kẻ cũng đọc sách mà sẵn sàng gạt bỏ mọi quy chuẩn đạo đức để tiến thân, tự nhận là “tinh hoa”.
Phê phán tạo nên sự thù hận giữa kẻ cầm quyền độc tài và trí thức, nhưng thù hận mặc, phê phán cứ phê phán, trí thức chấp nhận bị ngược đãi, bị thủ tiêu vì sứ mạng của mình.

Friday, October 18, 2019

CIA GIỮ BÍ MẬT VIỆC BẮC VIỆT ĐẦU HÀNG VÔ ĐIỀU KIỆN NĂM 1973
CIA ém nhẹm tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” năm 1973 của Bắc Việt . Chiến dịch Nixon cho ném bom 12 ngày đêm tại Bắc Việt năm 1972 . Được gọi là chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972.
– Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này, nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Do đó, “Việt Nam Cộng Hòa” không hề kiểm chứng nguồn tin này.
Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt
1. Vài nét về Ted Gunderson, chủ tài liệu liên quan đến bức điện tín
– Cựu Đặc vụ hành sự FBI và cựu Giám đốc FBI Los Angeles,
– Từng điều tra vụ Marilyn Monroe và John F. Kennedy,
– Từng phanh phui những tội các của FBI và những thế lực Do Thái đứng phía sau như Bilderberg và Illuminati,
– Từng bị tin tặc tấn công vào các máy tính cá nhân, từng bị sách nhiễu, đe dọa, bức hại và toan tính sát hại,
– Cuối cùng bị hạ độc bằng Arsenic và qua đời ngày July 31, 2011
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh mà Đỉnh Sóng ghi ra từ YouTube liên quan cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế.
“I also received some information recently in my tours and lectures, and what have you. I did a TV show in Long Beach, California. One of the gentlemen involved in the show was in the U.S. army at one time. He told me that in the spring of 1973 we had bombed all the North Vietnamese supply lines, we had mined their harbors, they were cut off; and one of his associates was in the communication room in Saigon, and this is, of course, a classified job. And when he was in this room he received this message from the North Vietnamese, “We surrender unconditionally.” He passed it on to his superiors; and all army personnel were immediately ushered out and replaced by state department personnel. It’s shortly thereafter that Kissinger met with the north Vietnamese officials in Paris, France. Why do these things happen?”
(Tôi cũng đã nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết trình, v.v.. của tôi. Tôi đã thực hiện một chương trình truyền hình ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương tình có thời đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đã dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã gài mìn những bến cảng của họ, chúng đã bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài gòn, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong phòng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, “Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện.” Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao. Chẳng bao lâu sau Kissinger đã họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)
2. Sự thật về Chiến Tranh VN : Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:
“Decades back, in late 1972, South Vietnam and the United States were winning the Vietnam War decisively by every conceivable measure. That’s not just my view. That was the view of our enemy, the North Vietnamese government officials. Victory was apparent when President Nixon ordered the U.S. Air Force to bomb industrial and military targets in Hanoi, North Viet Nam’s capital city, and in Haiphong, its major port city, and we would stop the bombing if the North Vietnamese would attend the Paris Peace Talks that they had left earlier. The North Vietnamese did go back to the Paris Peace talks, and we did stop the bombing as promised.
On January the 23rd, 1973, President Nixon gave a speech to the nation on primetime television announcing that the Paris Peace Accords had been initialed by the United States, South Vietnam, North Vietnam, the Viet Cong, and the Accords would be signed on the 27th. What the United States and South Vietnam received in those accords was victory. At the White House, it was called “VV Day,” “Victory in Vietnam Day.” The U.S. backed up that victory with a simple pledge within the Paris Peace Accords saying: should the South require any military hardware to defend itself against any North Vietnam aggression we would provide replacement aid to the South on a piece-by-piece, one-to-one replacement, meaning a bullet for a bullet; a helicopter for a helicopter, for all things lost – replacement. The advance of communist tyranny had been halted by those accords.
Then it all came apart. And It happened this way: In August of the following year, 1974, President Nixon resigned his office as a result of what became known as “Watergate.” Three months after his resignation came the November congressional elections and within them the Democrats won a landslide victory for the new Congress and many of the members used their new majority to de-fund the military aid the U.S. had promised, piece for piece, breaking the commitment that we made to the South Vietnamese in Paris to provide whatever military hardware the South Vietnamese needed in case of aggression from the North. Put simply and accurately, a majority of Democrats of the 94th Congress did not keep the word of the United States.
On April the 10th of 1975, President Gerald Ford appealed directly to those members of the congress in an evening Joint Session, televised to the nation. In that speech he literally begged the Congress to keep the word of the United States. But as President Ford delivered his speech, many of the members of the Congress walked out of the chamber. Many of them had an investment in America’s failure in Vietnam. They had participated in demonstrations against the war for many years. They wouldn’t give the aid.
On April the 30th South Vietnam surrendered and Re-education Camps were constructed, and the phenomenon of the Boat People began. If the South Vietnamese had received the arms that the United States promised them would the result have been different? It already had been different. The North Vietnamese leaders admitted that they were testing the new President, Gerald Ford, and they took one village after another, then cities, then provinces and our only response was to go back on our word. The U.S. did not re-supply the South Vietnamese as we had promised. It was then that the North Vietnamese knew they were on the road to South Vietnam’s capital city, Saigon, that would soon be renamed Ho Chi Minh City.
Former Arkansas Senator William Fulbright, who had been the Chairman of the Senate Foreign Relations Committee made a public statement about the surrender of South Vietnam. He said this, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.” The U.S. knew that North Vietnam would violate the accords and so we planned for it. What we did not know was that our own Congress would violate the accords. And violate them, of all things, on behalf of the North Vietnamese. That’s what happened.
I’m Bruce Herschensohn.”
Phần chuyển ngữ :
Nhìn lại những thập niên trước, vào cuối năm 1972, Miền Nam VN và Hoa Kỳ rõ ràng đang thắng Chiến Tranh VN, hiển nhiên là thế. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi. Đó là quan điểm của kẻ thù của chúng ta, những viên chức của chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rõ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội, thủ đô Bắc Việt và ở Hải Phòng, hải cảng chính của họ, và chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đã rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, và chúng ta không ngưng dội bom như đã hứa.
Vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Nixon đọc một bài diễn văn toàn quốc trên truyền hình vào giờ cao điểm, cho biết Hội Đàm Paris đã được ký tắt bởi Hoa Kỳ, Nam VN, Bắc Việt, Việt Cộng, và Hiệp Định sẽ được chính thức ký vào ngày 27. Những gì mà Hoa Kỳ và Nam VN nhận được trong hiệp định đó là một thắng lợi. Tại Tòa Bạch Ốc, người ta đã gọi đó là ngày “VV Day – Victory in Vietnam Day.”
Hoa Kỳ đã hậu thuẫn chiến thắng đó với một bảo đảm đơn giản bên trong Hiệp Định Paris, theo đó: nếu Miền Nam yêu cầu chiến cụ để tự vệ chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào của Bắc Việt thì chúng tôi sẽ cung cấp viện trợ thay thế (replacement aid) cho Miền Nam trên căn bản từng cái một và một đổi một (piece-by-piece, one-to-one replacement), nghĩa là, một viên đạn đổi một viên đạn, một trực thăng đổi một trực thăng, đối với tất cả những thứ bị mất. Bước tiến của chế độ độc tài cộng sản đã bị chặn đứng bởi hiệp định đó.
Thế rồi tất cả đều tan vỡ. Và sự thể như thế nầy: Vào tháng Tám của năm tiếp theo, 1974, Tổng Thống Nixon từ chức do hậu quả của vụ Watergate. Ba tháng sau khi ông từ chức là những cuộc bầu cử quốc hội tháng mười một và trong đó những thành viên của Đảng Dân Chủ thắng lợi vẻ vang trong Quốc Hội mới và nhiều thành viên đã lợi dụng đa số mới của họ để chấm dứt tài trợ cho chương trình viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đã hứa, một đổi một, bội ước lời cam kết của chúng ta đối với Miền Nam VN ở Paris là sẽ cung cấp bất kỳ chiến cụ nào mà Miền nam cần trong trường hợp bị Bắc Việt xâm lăng. Nói một cách đơn giản và chính xác, đa số những đảng viên Đảng Dân Chủ của Quốc Hội khóa 94 không giữ lời hứa của Hoa Kỳ.
Vào ngày 10 tháng Tư, 1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp nói chuyện với những thành viên Quốc Hội đó trong một buổi họp hỗn hợp buổi tối, được truyền hình trên toàn quốc.
Trong bài diễn văn đó, ông tha thiết kêu gọi Quốc Hội hãy giữ lời hứa của Hoa Kỳ. Nhưng trong khi Tổng Thống Ford đọc diễn văn, nhiều thành viên Quốc Hội bước ra khỏi phòng họp. Nhiều người trong số họ đã đầu tư vào sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ đã tham gia các cuộc biểu tình phản chiến trong nhiều năm. Họ sẽ không cho viện trợ. Vào ngày 30 tháng Tư, Miền Nam đã đầu hàng và những trại cải tạo được dựng lên, và hiện tượng người vượt biển bắt đầu. Nếu Miền Nam nhận được vũ khí mà Hoa Kỳ đã hứa với họ thì kết quả đã khác đi? Sự khác biệt đó đã được chứng minh. Giới lãnh đạo Bắc Việt đã thú nhận rằng lúc bấy giờ họ đang trắc nghiệm Tổng Thống mới Gerald Ford, và họ đã chiếm từ làng nầy đến làng khác, rồi đến những thành phố, tỉnh lỵ; và phản ứng duy nhất của chúng ta là bội ước. Hoa Kỳ không tái viện trợ Miền Nam như chúng ta đã hứa. Chính lúc đó Bắc Việt nhận thức được rằng họ đang trên đường tiến đến Saigon, thủ đô của Miền Nam, sau đó được đổi tên thành TP Hồ Chí Minh.
Cựu TNS William Fulbright, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện, đã đưa ra một công bố chính thức về sự đầu hàng của Miền Nam. Ông nói, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.”
(Tôi không thấy đau khổ gì mấy, chẳng khác nào khi thấy Arkansas thua Texas một trận đá bóng.)
Hoa Kỳ biết rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định Paris và chúng ta đã chuẩn bị cho chuyện đó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc Hội của chúng ta sẽ vi phạm hiệp định đó. Và vi phạm, về mọi mặt, thay cho Bắc Việt. Đó là những gì đã xảy ra. Tôi là Bruce Herschensohn.
** Sau khi Saigon thất thủ, hơn một triệu người Miền nam bị đưa vào các trại cải tạo ở miền quê. 250 ngàn người đã chết ở đó, do bị hành quyết không xét xử, tra tấn, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Giữa năm 1975 và 1995, hai triệu người Việt đã trốn chạy khỏi nước, vượt Biển Đông bằng những chiếc thuyền thiếu trang bị để đi tìm tự do. Ước tính có khoảng 200 ngàn người vượt biển nầy đã chết – do bị chết chìm và bị hải tặc giết. Ngày nay Việt Nam vẫn có một chính phủ cộng sản, nhưng họ đã bỏ hết những lý thuyết kinh tế cộng sản, những lý thuyết mà họ đã hy sinh bao nhiêu sinh mạng của đồng bào của họ để theo đuổi.
3. Nhận định bên lề
Trong khi hơn 96% hệ thống truyền thông nằm trong tay Tập đoàn Do Thái quốc tế và Mỹ Cộng thì công việc truy tìm thông tin, tài liệu, nhận định, và phán xét trung thực về Chiến Tranh VN chẳng khác nào mò kim đáy biển, vì hầu hết các hảng thông tấn, các trang mạng, đài truyền thanh truyền hình, những tờ báo hàng đầu đều nói một thứ tiếng của Do Thái được chuyển ngữ sang tiếng Anh, cùng phục vụ một chủ nghĩa độc tài mềm, cùng bị kiểm soát bởi một chính sách ngân hàng trị và Do Thái trị, cùng gián tiếp hay trực tiếp cỗ xúy một loại trật tự được mệnh danh New World Order hayOne-government World – thực chất là một loại thế giới đại đồng hoang tưởng do tập đoàn Do Thái thống trị. Hiện cảnh đen tối của một chính quyền Mỹ thân cộng Do Thái trị ngày nay là nhìn đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải bàn tay lông lá của Do Thái từ CIA, FBI, truyền thông, Internet, đại học, Hollywood đến hành pháp, tư pháp, lập pháp, v.v…; và đâu có Do Thái ở đó có Mỹ Cộng. Những kẻ đi tìm sự thực như Ted Gunderson luôn bị chúng khủng bố và truy sát bằng mọi cách; những kẻ khác thì co đầu rụt cổ vì sợ bị ghép tội bài Do Thái, cùng lắm chỉ vòng vo đập quanh bụi rậm. Hậu quả là Do Thái và Mỹ cộng xem phần còn lại của thế giới như một bầy trẻ con, ngây thơ về chính trị và nhút nhát như bầy gấu trúc. Hầu hết các bài viết, nhất là những bài của những tay viết blog cho VOA, BBC, RFA, RFI, v.v…, đều viết theo đơn đặt hàng của Do Thái, Mỹ Cộng, và Việt Cộng, dưới môt hình thức nào đó và theo một kênh tuyên vận nào đó. Chín mươi phần trăm của những bài viết nầy là vỏ bọc đường nghe rất bùi tai và nhìn rất mát mắt, nhưng chỉ để phục vụ 10 phần trăm còn lại dùng chứa thuốc độc nhằm đánh bóng Mỹ Cộng hay Việt Cộng hay cả hai.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào toàn cục vấn đề và căn cứ trên những tài liệu, dù là hiếm hoi, được chính phủ Hoa Kỳ bạch hóa về những cuộc đi đêm mà Washington đã tiến hành với Bắc Kinh nhằm bán đứng Miền Nam hay thậm chí cả Việt Nam cho Trung Quốc dưới sức ép và đồng lõa của tập đoàn Do Thái và cộng sản quốc tế để đổi lấy quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, về chủ trương đánh Cộng Sản nhưng không được thắng, v.v… thì bức điện tín đầu hàng vô điều kiện nói trên không hẳn là bịa đặt. Nhưng tại sao Bắc Việt đầu hàng mà Mỹ vẫn tiếp tục đánh? Theo thiển ý của chúng tôi, đầu hàng với Mỹ không thành vấn đề; đầu hàng với Trung Quốc mới là mục tiêu tối hậu của cả Mỹ lẫn Tàu. Ở điểm nầy, vì muốn có được những quyền lợi với Trung Cộng, Mỹ ra sức phục vụ quyền lợi của Bắc Kinh trước đã, nghĩa là giúp Bắc kinh thôn tính Việt Nam thông qua Đảng Cộng Sản VN và trên xương máu dân tộc VN ở cả hai miền. Cũng ở điểm nầy người ta mới thấy Chiến Tranh VN là cơ hội bằng vàng để đế quốc Tàu tiếp tục giấc mộng thôn tính Việt Nam sau hơn ngàn năm không thực hiện được. Cả Mỹ lẫn Tàu đã đạt được mục tiêu chung sau những cuộc không tập B52 kéo dài; và sau đó, vì muốn bảo vệ đảng, Bắc Việt đã quỳ gối đầu hàng Bắc Kinh và ký những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng cả chủ quyền cho Trung Cộng. Việc Mỹ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam có lẽ cũng nằm trong khuôn khổ những mật ước như thế nhưng đã có trước khi chiến tranh chấm dứt. Như thế kẻ thắng chiến tranh VN là Trung Cộng chứ không phải Bắc Việt; Bắc Việt chỉ là một thây ma được Mỹ, Tàu, Do Thái vớt lên từ địa ngục để thi hành sứ mạng Thái Thú cho Thiên Triều.
Những người sinh ra và lớn lên trong hệ thống tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ của cộng sản và ngay cả những người cộng sản được xem là “mở mắt” như Bùi Tín, Phạm Chí Dũng, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, chẳng hạn, có lẽ không bao giờ chấp nhận sự thực đó, vì, đối với những người nầy, làm thế chẳng khác nào chối bỏ “ảo ảnh đời mình,” chối bỏ một huyền thoại giúp họ tiếp tục ngẩng mặt lên tiếng với đời. Những đám người nầy có thể “trái dạ” với đảng cộng sản nhưng dứt khoát không tự phản bội chính mình. Nếu không có huyền thoại đó thì cách nay bốn mươi năm họ chỉ là nhưng kẻ mù quáng đi trong doàn quân ma được Mỹ, Tàu và Do Thái tha chết và vớt xác lên từ địa ngục đồng thời trao cho chiếc bánh vẻ “đại thắng mùa xuân” để sau đó đạo quân ma nầy tràn vào Miền Nam cướp của giết người. Nếu không tin các ông các bà cứ hỏi Trần Đăng Thanh, một đại tá VC thuộc Học Viện Quốc Phòng của chế độ Hà Nội thì biết ngay. Cũng có thể các ông các bà đều biết sự thực nhưng không dám công khai thú nhận; các ông các bà vờ mở mắt nhưng chỉ mở một mắt để khỏi thẹn với lương tâm và tiếp tục đi trong mộng du. Ngày nay các ông các bà được giải quyết sang Mỹ chẳng khác nào lá rơi về cội, gặp lại ân nhân ngày trước, thế thôi. Một số người cộng sản vẫn thường bóng gió so sánh cộng sản VN với giới lãnh đạo Tây Đức, Bỉ, với Bắc Quân Hoa Kỳ trong cuộc Nội Chiến, thậm chí với cả chính quyền Hoa Kỳ trong Đệ Nhi Thế Chiến đã thắng Nhật. Làm như thế là hiếp dâm lịch sử vì cố tình đặt một thây ma được vớt lên từ địa ngục ngang hàng với những kẻ chiến thắng đích thực, đặt đạo quân đồ tể ngang hàng với loài người có lương tri, liêm sỉ, và trí tuệ, đặt một đám gia nô thái thú ngang hàng với những con người thực sự làm chủ đời mình và giúp dân tộc làm chủ vận mệnh của đất nước. Hãy nhìn kỹ những gì đám đồ tể đã làm trong suốt bốn mươi năm qua trên đất nước Việt Nam để đặt tên đám thái thú thời đại nầy cho đúng. .
Đỉnh Sóng

Thursday, October 17, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3731535066860292&set=pcb.3731546936859105&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARC6Vm_GL3wGYCHIlVjdzrmM_R1EumfIrg1lSLOCHrFaicbq3NBux9_pVtMG7F5opZjjGuI16HipJUWv

Tuesday, October 15, 2019

DI DÂN LẬU TẠI MỸ .

Nguồn : TIME Oct 24 2016 , trang 66-67 .

"Nguời Cuba đc giả định bởi luật Mỹ rằng họ bị thống khổ dưới ách của CS nên họ sẽ đc TIẾP ĐÓN (nghĩa là được phép tị nạn chính trị .--Tài) tại Mỹ khi họ tới - với điều kiện đi bằng ĐƯỜNG BỘ . Vấn đề là ko có nước nào gần Mỹ lại cho phép dân Cuba vào mà ko có chiếu khán" . (Since Cubans presumed by U.S. law to be suffering under the yoke of communism , they would actually BE WELCOMED in America when they arrive - provided they come by LAND . The problem is that none of the countries close to the U.S. allows a Cuban to enter without a visa) .

I/ Biểu đồ 1 : DI DÂN ĐẾN MỸ .
Có 11,1 triệu di dân nhập lậu (DDL) vào mỹ , tụt giảm so với cao điểm 12,2 triệu năm 2007 . Nguyên nhân do ít công việc trong giai đoạn suy thoái và kiểm soát biên giới chặc chẻ hơn .

a/ Tổng số di dân sinh ra ở nước ngoài : 43,6 triệu .
Trong đó di dân lậu chiếm 25,5/100 .
Thường trú hợp pháp tạm thời 4/100 .
Thường trú hợp pháp vĩnh viễn 26,9/100 .
Nhập quốc tịch 43,6/100 .

b/ Làm thế nào DDL vào nước Mỹ :
40 - 50/100 dùng chiếu khán (visa) tạm hay giấy tờ giả (fraudulent paper) . 50/100 vượt biên giới bất hợp pháp .

c/ Biểu đồ 2 : Số DDL vào Mỹ mỗi năm : 300.000 - 400.000 dưới thời Obama . 500.000 - 600.000 dưới thời George Bush  .

XUẤT XỨ CỦA DDL :
48/100 của di dân Mễ , khoảng 5,85 triệu , là DDL .
El Salvador 700.000
Guatamala 525.000
Ấn độ 500.000
Honduras 350.000
TQ 325.000
Phi luật tân 180.000
Nam Hàn 160.000
Colombia 130.000
Ecuador  130.000

2/ Biểu đồ 3 : SỐ NGƯỜI BỊ TRỤC XUẤT (deportation) .
Mỗi năm có khoảng 500.000 DDL tự nguyện về nước , hay có thẻ xanh , hay bị trục xuất hay chết .
Với nhịp độ trục xuất như trên , phải cần 27 năm để trục xuất tất cả DDL khỏi nước Mỹ.
Màu đỏ : số dân Canada và Mễ bị trục xuất về nước tại biên giới .
Màu đỏ sậm : di dân trục xuất từ mỹ , cũng như những di dân không phải người Canada và Mễ bị bắt tại biên giới .
Số bị bắt tại biên giới giảm sau biến cố 9/11 và sau đợt suy thoái 2007 , khi số ng tìm cách vào Mỹ giảm sút .

3/ Biểu đồ 4 : Ở LẠI .
Phân nữa những DDL đã sống tại Mỹ ít nhứt 13 năm . Con số của năm 2003 là tám năm . Do sống lâu năm tại Mỹ , cơ hội lớn hơn là họ có con sinh tại Mỹ .

Bản đồ DDL tại Mỹ :
Bang có màu nâu như Cali , Nevada , Texas : 5/100 hay hơn .
Bang màu xanh lá như Arizona , New Mexico , v.v... : 3.5 tới 4.9/100
Bang có màu vàng đậm như Oregon , Washington , v.v... : 2.5 tới 3.4/100 .
Bang có màu vàng : 1.6 tới 2.4/100 .
Bang có màu trắng : 1.5 hay ít hơn .

Biểu đồ 5 : Có 4,5 triệu trẻ em sinh tại mỹ năm 2012 , trẻ hơn 18 t và sống với ít nhứt là một cha/mẹ DDL ; dân số này tăng gấp hai kể từ 2.000 .

NƠI MÀ DDL LÀM VIỆC : Chia ra  như sau :
13/100 làm trong nghành chuyên môn , quản lý , kinh doanh và tài chánh .
4/100 : nông trại , đánh cá và nghề rừng .
8/100 : chuyên chở .
13/100 : buôn bán , văn phòng hay hổ trợ hành chánh .
33/100 : dịch vụ .
15/100 : xây dựng và khai thác mỏ .
14/100 : sản xuất , lắp đặt và sửa chữa .
Đặc biệt : 62/100 DDL làm trong nghành dịch vụ , xây dựng và sản xuất , gấp hai tỉ lệ của công nhân đẻ tại mỹ .

Tạm dịch từ : TIME Oct 24 2016 .

Sunday, October 13, 2019

 bang này, nhiều nhứt tại Thung Lũng Điện Tử ở bắc Cali. Ở bang Washington có hãng Microsoft sản xuất HĐH Windows, máy tính Surface (trên 1.000 đô cái) và ĐTTM xếp lại được, hiệu Surface Duo, xem hình, và hãng Amazon - chuyên về bán lẻ trên mạng, sx phone BLU, máy tính bản hiệu Fire, Kindle, v.v... và cty máy bay Boeing.
https://www.cnn.com/…/california-bans-fur-produc…/index.html
https://youtu.be/ohYAYQA4ATM
Like
i thường như dưới đây cho nạn nhân về tội mạ lỵ và vu khống. Nạn nhân còn cho biết, ông Lôc cũng ko trả số tiền mà tổ chức của ông đã giữ trái phép.
* Được biết ông Lộc là một cựu ĐT VNCH, qua Mỹ từ 1975, nghĩa ko ở tù một ngày: có lần tôi đến tổ chức của ông để xin cái gì mà tôi quên nhưng thái độ của ông rất rẻ rúng tôi. Tổ chức của ông nhận tiền hay fund (mà chúng tôi chế riểu gọi đó là "phân") và phân phối lại cho người nghèo - nếu nhu cầu chính đáng. Ông cũng bị tai tiếng về các quan điểm chính trị đi ngược với dân tị nạn.
YOUTUBE.COM
Nữ gốc Việt ở Cali được bồi thường $545,625 ------ "Top 10 Tuyệt Đỉnh" là kênh tin tức giải trí tổng hợp. Rất nhiều nhiều những tin mới, tin nhanh chờ đợi cá...