Saturday, August 1, 2015

Robert Herjavec : Tôi chỉ muốn kết thúc cuộc sống .
- Nguyên tắc sống hiện nay của tôi là không phán xét gì cả , điều cần thiết là phải có một TẤM LÒNG . -- Herjavec .
Sau khi hôn nhân đổ vở , nhà siêu triệu phú phát hiện rằng , ông đã đi tới ngưởng cửa của tự sát . Rồi ông đã tìm đc mục đích mới của cuộc sống .
Robert Herjavec hình như đã có mọi thứ : một đế chế doanh nghiệp ăn nên làm ra xuất phát từ vai trò của ông trong show rất ăn khách Shark Tank trên đài ABC , một ga-ra toàn xe Ferrari trong lâu đài giá nhiều triệu đô ở Toronto và một gia đình rất toàn mỹ. 


MỘT LÂU ĐÀI RỘNG 50.000 SQ.-FT. (4.645 M2) TẠI TORONTO , MỘT ĐỘI XE TOÀN FERRARI , MỘT TÀI SẢN TRÊN 100 TRIỆU . . . NHƯNG TẠI CANADA , NHÀ CỬA VÀ TIỀN BẠC CHIA ĐỀU CHO VỢ CHỒNG . "QUÁ ĐŨ CHO CẢ HAI CHÚNG TÔI , "HERJAVEC NÓI (CHỤP VỚI VỢ NĂM 2013) .
"TÔI ĐÃ LUÔN NGHĨ RẰNG KHÔNG GÌ CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THẾ GIỚI CỦA TÔI , " HERJAVEC NÓI (CHỤP TỪ CHƯƠNG TRÌNH SHARK TANK) .
Nhưng trong riêng tư , thế giới của ông đã sụp đổ . Sau 24 năm chung sống , ông và vợ Diane Plese chia tay chính thức vào tháng 6 năm 2014 . Bực mình bởi sự ly dị này , ba con ông , Caprice 17 , Skye 18 , Brendan 21 lúc đầu đã từ chối nói chuyện với ông , Herjavec nói , và ông đã suy sụp tinh thần đến độ đã đứng trên ban-công và định nhảy xuống . " "Tôi đã luôn luôn nghĩ rằng ko gì có thể rung chuyển/tác động đến thế giới của tôi, nhưng trong một đêm khi thức giấc , tôi đã muốn kết thúc nó , " ông nói . "Tôi chỉ nghĩ có một điều , 'Tôi không thể tiếp tục như vậy.'"
Sau vài tháng đen tối và cố gắng hết sức , Herjavec đã rời xa ngưởng cửa này . . . nhà triệu phú về kỷ thuật này nói , ông đã vươn lên từ khủng hoảng này " mạnh hơn , đồng cảm hơn và cân bằng hơn."Chìa khóa cho sự phục hồi này là ông đã làm việc tại một nơi trú ẩn dành cho ng homeless ở Seattle trong 2 1/2 tuần , trải qua những đêm ngoài đường để giúp kẻ nghèo túng


Mục sư của ông , John McAuley , thuộc giáo hội Congregational , đã thúc dục ông làm như vậy . "Nơi này đã cứu tôi" ,Herjavec đã tâm sự với phóng viên báo People khi ông lái xe tới một khu lều bạt của dân homeless bên dưới một cầu vượt xa lộ trong chuyến đi thiện nguyện gần đây . "Tôi luôn luôn nghĩ , 'Mục đích của sự đau khổ này là gì ?' Tôi nghĩ rằng đau khổ này đã cho tôi cơ hội để nối kết lại với Chúa và giúp ng khác . Lối sống cũ của tôi không bền vững như tôi nghĩ (Giống như "Đời là vô thường" của Phật giáo -- Tài) . MS Auley nói , "Tôi chỉ biết rất ít về tác động sâu xa của đau khổ đã ảnh hưởng đến ông ta . "
Herjavec , một doanh nhân mà gia đình là dân Croatia (một vùng thuộc Nam Tư cũ) đến Canada năm 1970 "với 1 va-li và 20 đô" sau khi trốn chạy từ Nam Tư cũ , nơi cha ông bị tù 22 lần vì chỉ trích CS . Việc đầu tiên của gđ là học tiếng Anh , Herjavec , đứa con một , đã lớn lên . Sau khi đc nhận làm việc ko lương cho một cựu giám đốc của IBM , Herjavec đã khởi nghiệp bằng cách tạo và bán các cty về kỷ thuật . Một một tài sản chưa tính thuế hơn 100 triệu đô , ông đã viết các sách về kinh doanh bán rất chạy và đạt sự nỗi danh khi làm giám khảo các thí sinh trong chương trình Shark Tank . " Tôi luôn luôn nghĩ mình dở hơn ng khác (underdog) và điều này là động cơ khiền tôi làm việc,"ông nói . "Không chỉ là mua thêm tài sản . Tôi cố gắng hết sức để trở thành ng giỏi nhứt."
. . . Ông nhấn mạnh ông ko lo âu về các hậu quả tài chánh . Ông nói , Việc ko còn được nói chuyện với con tác động mạnh với tôi . Chúng đã bực mình . Chúng đứng về phía mẹ."
    Ông đã bị cuốn hút vào sự thất vọng (despondency) . "Tôi thường đi ngủ và thức giấc nữa đêm và kêu thét lên, "ông nói. "Khi tôi gọi cho MS của tôi , tôi nói , Tôi sẽ ko sống tới ngày mai."
Herjavec đã suy sụp tột độ khi ông đến  Sứ vụ Phúc âm
Liên Hiệp (Union Gospel Mission) tại Seattle vào tháng 7/2014 và lập tức đc giao việc phục vụ bửa cơm cho homeless , sau đó đi ra đường giúp họ . " Không ai biết tôi là ai, "ông nói ,"Mọi ng nghĩ rằng tôi là dân nghiện vừa mới cai .
Đau khổ của ông từ từ phai nhạt nhờ tình cảm dành cho ng ông gặp . Nguyên tắc mà tôi theo là không PHÁN XÉT  và không gì hết trừ TÌNH YÊU từ con tim , "ông nói . Trong khi ở chương trình Shark Tank , không có gì ngoài phán xét cũng như tôi đã từng luôn luôn nghĩ rằng , nếu bạn có TẤM LÒNG , bạn là người yếu đuối . Ông vẫn thiện nguyện tại nhà trú ẩn (dành cho homeless) này bất cứ khi nào ông rảnh và giúp đở tài chánh cho nơi này , có lúc mua tất cả vớ của 1 tiệm Wal-Mart ở địa phương .
Sau khi "té đau" như vậy , ông ta ko còn cảm giác mình được an toàn như cũ . Và chính từ ý thức mới về sự dễ tổn thương của cuộc đời đã khiến ông "rời bỏ vùng an toàn" và thi đua trong show "Dancing with the Stars" , một sô diển mà ông cùng với mẹ say mê xem khi bà đang sống những ngày cuối ở BV vì bị ung thư buồng trứng . . .
Cuộc sống khó khăn , thiếu thốn ngoài đường phố tại Seattle đã giúp ông "chịu đựng" nỗi đau đã gần như đẩy ông xuống vực thẩm . "Đau khổ này ko dễ gì quên được , nhưng tôi có nhiều niềm tin trong tương lai , ông nói thêm , " Cuộc đời tôi đã tan nát , và những người homeless đã cứu tôi . Tôi luôn luôn nhớ ơn họ ."

Dich từ bài viết của Johnny Dodd trên People số ngày 30.3.2015

Tuesday, July 28, 2015

Hận thù có thể giết chết bạn, khoa học nói gì về sự tha thứ?

iStock_000026055226_Large-676x450
(a-wrangler/iStocK)
Các tôn giáo đều dạy chúng ta nhẫn nhịn không trả đũa khi bị tấn công hoặc bị làm nhục, nhưng có lẽ trong thực tế, sự tha thứ dường như là không thể. Có thể chúng ta cảm thấy có lý do chính đáng về sự oán giận của mình, hoặc tin rằng trả đũa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương một lần nữa, nhưng các chuyên gia nói rằng chúng ta phải trả một giá đắt nếu cứ ôm giữ những mối hận thù lâu dài.
“Sau này bạn sẽ gánh chịu lấy hậu quả về việc này”, tiến sĩ Everett Worthington, tác giả, nhà tâm lý học lâm sàng, và là giáo sư tâm lý học tại Đại học Virginia Commonwealth cho biết. “Chúng ta lúc nào cũng thấy tức giận và bị căng thẳng, và chúng ta không nhận thấy ảnh hưởng gì ngay lập tức. Nhưng cuối cùng chúng sẽ xuất hiện nếu chúng ta tạo nên thói quen đó trong một thời gian dài “.
Sự tha thứ là một quan niệm mà chủ yếu vẫn còn trong lãnh vực tôn giáo. Mặc dù các tác phẩm đồ sộ của Sigmund Freud nói về từng chủ đề tâm lý một, nhưng ông không bao giờ đề cập đến sự tha thứ. Những bậc tiền bối của Freud cũng ít chú ý đến sự tha thứ, nhưng có một sự việc đã xảy ra trong những năm 1980 làm cho các nhà tâm lý học phải thay đổi cách nhìn nhận.

Khoa học đã chỉ ra rằng sự bất bình mãn tính có thể dẫn đến huyết áp cao hơn, căng thẳng và viêm nhiễm gia tăng và các mức hoóc môn nội tiết tố tăng cao.

Kể từ đó, khoa học đã chỉ ra rằng sự bất mãn mãn tính có thể dẫn đến huyết áp cao, tăng căng thẳng và viêm nhiễm, các mức hoóc môn nội tiết tố (cortisol) tăng cao, vốn là những yếu tố phá vỡ gần như mọi quá trình của cơ thể.
Quảng cáo
Worthington là một trong những nhà khoa học đầu tiên có sự nghiên cứu chuyên sâu về đề tài sự tha thứ, và chủ đề này vẫn là trọng tâm trong công tác nghiên cứu của ông. Ông bắt đầu quan tâm đến sự tha thứ khi làm tư vấn hôn nhân vào những năm đầu thập niên 1980. Một vài năm sau đó, ông đã có những bài viết đầu tiên được đăng trên tạp chí khoa học với chủ đề về sự tha thứ, trong đó xem xét vai trò của sự tha thứ trong liệu pháp hàn gắn các cặp vợ chồng.
“Một trong những nghiên cứu sinh của tôi tại thời điểm đó đã quan tâm đến chủ đề này, và chúng tôi bắt đầu nhìn nhận nó như là một đề tài khoa học, và việc nghiên cứu đã khởi sự”, ông nói. “Năm 1996, mẹ tôi đã bị sát hại, điều đó phần nào trở thành một phép thử và và sau đó thực sự đã làm tôi phải chú ý nhiều hơn đối với sự tha thứ”.

Phải tha thứ như thế nào

Theo tiến sĩ Worthington, một trong những trở ngại lớn nhất để đạt được sự tha thứ là thiếu một phương pháp thực hành.
“Tôi nghĩ mọi người thường không biết làm thế nào để tha thứ được”, ông nói. “Họ nhận được rất nhiều sự khích lệ hãy tha thứ. Nhiều người nghĩ rằng tha thứ là một điều tốt. Và bạn nghe những bài giảng giáo huấn, rồi bạn đọc các bài viết trên tạp chí rằng tha thứ là điều tốt cho sức khỏe của bạn”.
“Nhưng cũng có người nói, ‘Vâng, nếu tôi cũng có thể nhảy cao 6m trong không khí thì tốt biết mấy, chỉ là tôi lại không thể làm nổi điều đó”.
Mặc dù Worthington là một tín đồ Cơ đốc giáo, nhưng ông nói rằng không cần phải có một niềm tin vào Chúa mới có thể nhận thấy giá trị của sự tha thứ. Trong thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một mình tôn giáo thường là không đủ để đạt được một chỗ đứng cho sự tha thứ.
iStock_000049617186_Large-674x449
Theo tác giả Tiến sĩ Everett Worthington, chìa khóa đối với việc tha thứ thành công là trau dồi ý thức về sự đồng cảm, khiêm tốn, và tình thương. (camaralenta / iStock)
“Nếu bạn nghĩ rằng ‘tôi có bổn phận phải tha thứ bởi vì tôi tuân theo tôn chỉ của tôn giáo này’, vậy thì kết quả là bạn có thể tha thứ được một chút theo cách đó, chứ không nhiều. Động cơ từ bổn phận tôn giáo có vẻ không hiệu quả lắm trong việc thúc đẩy được nhiều sự tha thứ”, ông nói.

Chìa khóa cho sự tha thứ thành công là trau dồi ý thức về sự đồng cảm, khiêm tốn, và tình thương.

Theo Worthington, chìa khóa cho việc tha thứ thành công là trau dồi ý thức về sự thấu cảm, khiêm tốn, và tình thương. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tha thứ dễ đến hơn với những người quan tâm đến sự tiến bộ của người khác, hơn là chỉ chú ý đến lợi ích cá nhân.
Thông qua nghiên cứu và kinh nghiệm điều trị, Worthington đã phát triển một phương pháp để mọi người học cách tha thứ. Nó được gọi là REACH:
  1. (recall) là đại diện cho sự hồi tưởng – nhớ khi người khác đã làm bạn tổn thương, theo một cách khách quan nhất có thể.
  2. E (empathize) là về sự thông cảm, đồng cảm – cố gắng hiểu được quan điểm của người đã đổ tiếng xấu cho bạn.
  3. A (altruism) là về lòng vị tha – suy nghĩ về một lúc nào đó bạn làm tổn thương một ai đó và đã được tha thứ, sau đó hãy ban tặng món quà tha thứ ấy tới người đã làm tổn thương bạn.
  4. C (commit) là phạm lỗi – công khai tha thứ cho người làm điều sai trái với bạn.
  5. H (hold on) là kiên nhẫn – dù bạn không quên được nỗi đau, nhưng hãy nhắc nhở bản thân rằng chính mình đã lựa chọn sẽ tha thứ.
Mục tiêu của REACH là cân nhắc những cảm giác tổn thương mà không đổ lỗi cho người khác hoặc nhắc đi nhắc lại khi bị đối xử bất công. Thông tin chi tiết có sẵn trong tài liệu Word miễn phí trên trang web của Worthington.
Cuốn sách mới nhất của Worthington, “Tiến lên phía trước: 6 bước để Tha thứ cho bản thân và Thoát khỏi quá khứ”, cung cấp cái nhìn sâu sắc và nhiều cách ứng phó hơn nữa.

Tha thứ và quên đi

Một trong những khó khăn đối với nghiên cứu về sự tha thứ là việc xác lập một định nghĩa chính xác. Có nhiều điều mọi người coi là sự tha thứ nhưng thực sự lại là một cái gì đó rất khác.
“Tha thứ không phải là cách duy nhất để đối phó với những bất công mà ta trải qua. Có rất nhiều cách”, Worthington nói. “Một là sẽ chỉ chấp nhận: “Ồ, cuộc đời mà. Mình vẫn đang tiến bước”. Cách nữa là sẽ bào chữa cho những gì đã thực hiện hoặc biện minh cho những gì đã làm hoặc đổ tại ý trời – “Tôi sẽ chỉ để Chúa hạ gục chúng”. Hoặc, “tôi sẽ chuyển nó qua cho Chúa trời bởi vì nó không phải là vấn đề của tôi”.
Sự tha thứ đích thực cần có nỗ lực phi thường. “Tha thứ không phải chỉ là thôi không giữ những cảm xúc tiêu cực đối với ai đó, mà trên thực tế là bắt đầu trở lại nhìn nhận [người ấy] là một người có giá trị – là một người mà có thể cải biến được” Worthington nói.
Ý niệm muốn tìm ra giá trị ở người khác thường chẳng ăn nhập gì với văn hóa hiện đại, trong một xã hội có tính cạnh tranh cao và phân cực về quan điểm chính trị như hiện nay. Nhưng Worthington tin rằng những thay đổi lớn có thể thành hiện thực nếu tích cực khuyến khích nhận thức về sự tha thứ. Nghiên cứu gần đây của ông còn coi sự tha thứ là một sáng kiến ​​cho sức khỏe cộng đồng.
“Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn rơi vào một cộng đồng, giả dụ như ở thành phố New York, và bạn chỉ cần có một chiến dịch nâng cao nhận thức chung thế là bạn đã khiến cho cả thành phố này đổ dồn sự chú ý vào việc tha thứ?”, ông nói. “Nếu có một mối quan hệ chặt chẽ giữa liều lượng (tha thứ) và phản ứng, thì những người được tiếp xúc rất nhiều với sự tha thứ và nghiêm túc muốn tha thứ, sẽ có thể đạt được sự tha thứ”.

Khi các trường học thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức về sự tha thứ, thì hầu hết mọi người trong trường nhìn thấy những lợi ích tích cực về sức khỏe tinh thần và thể chất.

Những thí nghiệm như vậy đã xảy ra trong các trường đại học. Đối với các trường đã chấp thuận các chiến dịch nâng cao nhận thức về sự tha thứ thì hầu hết mọi người trong trường đều nhìn thấy những lợi ích tích cực về sức khỏe tâm thần và thể chất.

Tìm kiếm sự hỗ trợ

Khoa học cho thấy rằng nếu ôm giữ một mối ác cảm thì có thể gây ra bệnh tật. Nhưng đối với một người nào đó đã được chẩn đoán là đang ở một tình trạng nghiêm trọng, thì việc nhận ra khả năng để tha thứ và buông bỏ càng trở nên quan trọng hơn.
Theo Katherine Puckett, nhân viên bệnh lý xã hội và giám đốc quốc gia về Y học Tâm hồn–Thể xác tại các Trung tâm Điều trị Ung thư của Mỹ (CTCA), bệnh nhân được hưởng lợi khi hiểu biết về những gì họ bị mất nếu cứ ôm giữ nỗi tức giận trong lòng.
iStock_000024897413_Large-674x449
Phát triển các mối quan hệ hỗ trợ là một trong những bước đầu tiên để đạt được sự tha thứ. (monkeybusinessimages / iStock)
“Khi chúng ta bị căng thẳng, có những điều thực sự tiêu cực xảy ra trong cơ thể”, Puckett cho biết. “Cơ thể cảm nhận sự căng thẳng đó như là một mối đe dọa cho sự sinh tồn của chúng ta. Có sự phóng thích khoảng 1.400 các chất hóa học khác nhau trào lan khắp cơ thể khi chúng ta đang ở trong một tâm trạng căng thẳng. Khi người ta đang ở trong tâm thái không tha thứ, tức là họ đang gặp rắc rối trong việc buông bỏ oán giận, thì họ đang sống trong một tình trạng mà các kích thích tố (hormone) đang ngừng hoạt động”.
Theo Puckett, phát triển các mối quan hệ hỗ trợ là một trong những bước đầu tiên để giúp bệnh nhân đạt được sự tha thứ.
“Chúng tôi muốn sẽ có thể giải thích những gì chúng ta đang trải qua”, bà nói. “Khi có rất nhiều tổn thương và đau đớn, sẽ khó mà học được cách buông bỏ đi điều đó, đặc biệt là khi không có sự giúp đỡ nào cả”.

Nhận dạng sự thù hận

Hiểu được nguyên nhân của lòng hận thù đòi hỏi phải tự suy nghĩ và phản ánh để nhận ra nguồn gốc của những cảm xúc tiêu cực. Khi tìm cách hiểu được hiện trạng của mình, các bệnh nhân ung thư có thể chỉ ra một loạt những thứ để đổ lỗi, chẳng hạn như những mối quan hệ xấu, bị người cha ngược đãi, hoặc do công việc có độ căng thẳng cao. Xác định nguồn gốc của sự tổn thương là một bước quan trọng trong quá trình buông bỏ.
Nhiều lần, bệnh nhân cần giúp đỡ trong việc tha thứ cho bản thân mình. Một phần lớn của chương trình tha thứ (forgiveness) tại Trung tâm Điều trị Ung thư của Mỹ (CTCA) là giúp cho bệnh nhân nhìn nhận giá trị của sự tự chăm sóc. Puckett muốn mọi người đối xử tốt với bản thân như cách họ đối xử với một người bạn tốt nhất.
“Rất nhiều khi mọi người cảm thấy họ không xứng đáng có được hạnh phúc, hoặc là họ không đáng được thoát khỏi tội lỗi hay sự oán giận”, cô nói. “Đó chỉ là cách sống khác nhau của mỗi người. Họ chưa có kinh nghiệm làm những điều tốt đẹp để chăm sóc bản thân. Đó là một tiến trình học hỏi, nhưng nó rất đáng giá. Tôi nghĩ điều này rất hiệu quả”.
Dwayne Bratcher (57 tuổi), bệnh nhân của CTCA cho biết, tự tha thứ đóng vai trò lớn trong quá trình chữa bệnh của ông. Khi ông được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, ông ngượng ngùng khi bị một “bệnh phụ nữ” và xấu hổ vì ông đã hút thuốc lá hơn 20 năm. Bratcher cũng tự mô tả bản thân là một người “tham công tiếc việc”. Trước khi đến CTCA, ông đã tiết kiệm được tới 970 giờ nghỉ ốm đau. Tất cả những gì ông nghĩ đến chỉ là công việc của mình.
“Tôi đã phải tha thứ cho bản thân mình vì đã không dành nhiều thời gian cùng với gia đình. Kể từ khi tôi bị ung thư hồi năm ngoái, điều đó làm cho tôi và gia đình tôi gần nhau hơn”, ông nói. “Bây giờ tôi nói chuyện với con gái của tôi mỗi ngày, trong khi trước đó điều duy nhất trong tâm trí của tôi chỉ là công việc”.

Hỗ trợ tinh thần

Không còn e ngại về bệnh tật của mình, hiện nay Bratcher tham gia vào các lĩnh vực hoạt động của những người bị bệnh ung thư vú và rất cởi mở khi nói chuyện về nó. “Một khi tôi đã tha thứ cho bản thân mình để sống cùng căn bệnh ung thư vú, tôi có thể nói chuyện với bất cứ ai”, ông cho biết.
Bratcher coi bệnh tật của mình là một tiếng chuông cảnh tỉnh và cho biết bệnh ung thư của ông là một phước lành, trong cái rủi có cái may. Phần lớn sự hỗ trợ mà ông nhận được đều đến từ nhà thờ. “Tôi đã có toàn bộ một cộng đoàn giáo hội đang cầu nguyện cho tôi được khá lên. Việc đó đã giúp tôi rất nhiều”, ông nói.
Đối với những người không có một cộng đồng tâm linh nào hỗ trợ, CTCA đề nghị có một giáo sĩ không thuộc giáo phái nào để hỗ trợ cho những bệnh nhân này. Theo Carl Williamson, người quản lý của đội ngũ mục sư chăm sóc tại Trung tâm y tế khu vực miền Trung Tây của CTCA, những giáo sĩ có thể cho bệnh nhân một cơ hội để chia sẻ cảm giác tội lỗi, xấu hổ và oán giận của họ mà không phán xét gì cả.
“Bệnh nhân ung thư thường thấy khó tha thứ cho bản thân mình bởi vì họ đang đi qua trải nghiệm này, vốn gây ra rất nhiều căng thẳng về tài chính và tình cảm lên gia đình” Williamson nói. “Bởi vì chúng tôi cung cấp sự hỗ trợ cho họ, họ có thể buông bỏ rất nhiều những gì họ đang ôm giữ”.
Đôi khi các bệnh nhân nói rằng họ giận Chúa, nhưng hầu hết đều là vấn đề về gia đình. Dù vấn đề gì đi nữa, các giáo sĩ có thể trở thành một người ủng hộ bằng cách truyền tải những nhu cầu cụ thể của bệnh nhân cho những người còn lại của nhóm chăm sóc, hoặc họ có thể chỉ đơn giản là giữ bí mật trong sự tâm sự riêng tư.
“Gần đây một trong những giáo sĩ của chúng tôi đã kể với tôi rằng một bệnh nhân chia sẻ với anh một điều mà cô ta chưa bao giờ chia sẻ với bất cứ ai khác”, Williamson nói. “Anh ta là người duy nhất biết những gì cô ấy đang trải qua”.
Tha thứ rốt cuộc là một sự quyết định, nhưng có thể mất nhiều năm nỗ lực mới đạt đến đó. Một số bệnh nhân có thể không bao giờ đạt được sự tha thứ, nhưng Puckett nói rằng điều quan trọng là vẫn phải kiên nhẫn với họ.
“Để tha thứ, những con người khác nhau phải mất lượng thời gian khác nhau, và có lẽ một số người không bao giờ hoàn toàn đến được đỉnh điểm của sự buông xả và tha thứ”, cô nói. “Nhưng nếu họ cảm thấy có sự hỗ trợ đồng hành, điều đó sẽ làm lắng dịu bất kể căng thẳng nào mà họ đang gặp phải”.

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè

Saturday, July 25, 2015

Trước năm 1975 VNCH không có cột mốc biên giới với Cam Bốt, rất người dân Việt sống bên Cam Bốt dọc theo biên giới với VNCH nhưng không có đụng chạm với nhau, bởi vì họ là người họ hàng với nhau cả trăm năm nay sống bên này và bên kia biên giới, hoặc là theo các tàu bè lên tận Tonle Sap sinh sống đánh cá mang về lại Việt Nam để bán..

Riêng tại Nam Vang thì có chừng vài ngàn người Việt sinh sống hầu hết là không công nhận VNCH và không chịu trực thuộc của Tòa Đại Sứ VNCH tại Nam Vang, mà trực thuộc vào Tòa Đại Sứ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam & Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam. Chỉ có chừng chục thương gia và chừng chục nhân viên Tòa Đại Sứ VNCH ở Nam Vang vào đầu năm 1970.

Trước khi đảo chánh Shihanouk (lúc đó đang dưỡng bệnh ở France) thì ngày 8.03.1973 Lon Nol ban tối hậu thư cho Phạm Đồng là trong vòng 72 tiếng đồng hồ thì quân đội chính qui Bắc Việt và VC phải rút khỏi lãnh thổ của Cam Bốt vô điều kiện. Nhưng Hà Nội không trả lời từ đó làm cho giới sinh viên học sinh Cam Bốt nổi giận biểu tình ở Svay Rieng. Đến ngày 11.03.1970 Hà Nội cũng chưa chịu trả lời thì sinh viên học sinh biểu tình ở Nam Vang đánh phá vào Tòa đại Sứ của Băc Việt và của Chính phủ lâm thời MNVN, chứ không có đụng đến Tòa Đại Sứ VNCH ở Nam Vang.

Đồng thời người dân Việt thân cs Bắc Việt ở Nam Vang từng được Shihanouk che trở bị sinh viên học sinh Cam Bốt bắt dồn vào một sân vận động ở Nam Vang để bị bắt làm con tin. Ngày 16.03.1970 Phạm văn Đồng gởi điện tín đến Hoàng tử Sirik Matak đòi bồi thường thiệt hại cho tòa đại sứ và bắt Sirik Matak phải xin lỗi (mà chẳng đề cập đến "kiều bào" Việt sống ở Nam Vang, tiếng Việt NCH không có danh từ "kiều bào"). Thế là sinh viên học sinh bắt đầu đánh đập "kiều bào" trong sân vận động ở Nam Vang.

Trước tình trạng đó thì vào ngày 18.03.1970 Ông Trần Văn Lắm Bộ trưởng Ngoại giao VNCH lúc đó mới ra lệnh đóng cửa Tòa đại sứ VNCH ở Nam Vang, xin Ông Thiệu cho không quân ở Biên Hòa đưa một tiểu đội nhảy dù với trực thăng (sơn mày đen xử dụng cho các cuộc hành quân bí mật) và Chinook đến một trường tiểu học Công giáo ngoại ô Nam Vang để di tản chừng 45 người nhân viên Tòa đại sứ, đại sứ VNCH ở Nam Vang và những thương gia người Việt về Biên Hòa.

Chỉ có 1 vụ cáp duồn là vào giữa tháng 3 năm 1970, chứ không có 2 vụ cáp duồn.

Trong tháng 4 năm 1970 thì tình hình ở Cam Bốt chưa rõ ràng, Hoa Kỳ và VNCH còn đang chờ tín hiệu từ Mạc Tư Khoa là Kossygin và Breschnew sẽ tuyên bố gì. Kết quả là Shihanouk không nhận được sự ủng hộ của Liên Sô.

Đầu tháng 5.1970 Hoa Kỳ & VNCH đưa quân vào Cam Bốt là dưới sự đồng ý của Lon Nol & Sirik Matak cũng như người dân Cam Bốt để phá hủy các xào huyệt, mật khu, cục R của chính qui Bắc Việt & VC, đánh đuổi quân cs, rồi sau đó cuối tháng 6 như đã cam kết thì rút quân trở về VNCH. Quân đội Cam Bốt lúc đó không tham dự vào cuộc hành quân hổn hợp Hoa Kỳ-VNCH trên nước họ, ngược lại họ còn tán thưởng vui mừng khi nhìn thấy quân đội Hoa Kỳ & VNCH như là Đồng Minh.

Hận thù giữa người VNCH với người Cam Bốt không có, cũng không có trạm thu thuế hay cửa phòng quan thuế...

Trả lời

Wednesday, July 22, 2015

CHỮ NHỤC, THEO CỤ MẠNH TỬ .
Bài này tôi đã gửi đến Tuổi Trẻ online và Vietnamnet .
  
Mạnh Tử đã nói : " Việc lớn nhứt , quan trọng nhất của một người không gì hơn chữ NHỤC " . Vì sao ? Vì hiểu được chữ nhục này , ta có thể sửa đổi được tất cả các lỗi lầm . Nếu không hiểu được chữ nhục , ta sẽ phóng túng làm càn , đánh mất nhân cách , không khác gì cầm thú . Những lời trên chính là bí quyết chân chánh để sửa lổi . (Trích từ sách Làm Chủ Vận Mệnh của Viên Liễu Phàm đời nhà Minh bên Trung Quốc ) .

Kính thưa quý báo ,

Nhân đọc bài các cơ quan VN đã tiết kiệm như thế nào , tôi xin kể về sự tiết kiệm ngân sách trong cơ quan nhà nước cũng như các cá nhân trên thế giới .Cái gì của kẻ khác nếu hay thì ta nên nghiên cứu học tập chứ đừng vì kỳ thị, thành kiến , lợi ích cục bộ hay mặc cảm mà không dám áp dụng . Vì không có nỗi nhục nào lớn hơn khi cứ phải tiếp tục là một nước nghèo nàn , lạc hậu , dân trí thấp kém , trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt từng giờ từng phút trên thế giới ngày nay .
Ở nước Đức , bà thủ tướng Angela Merkel , sau khi rời công sở thì tự lái xe riêng của mình đi mua sắm hay việc riêng v.v... Bà nói bà rất khó khăn khi tìm chổ đậu xe . Mà chúng ta đều biết Đức là một trong hai nền kinh tế hùng mạnh nhất Âu châu , trong nhóm G-8 .
Riêng Nam Hàn ( South Korea ) trong giai đoạn xây dựng đất nước (thập niên 70 , 80 , 90) họ đã bắt buộc các cơ quan nhà nước phải dùng xe hơi sản xuất trong nước . Thời gian đó cả nước được cổ võ phải xử dụng hàng nội địa dù cho phẩm chất không bằng hàng ngoại . Báo đăng tin một nam hướng dẩn viên du lịch , chỉ vì có một gói thuốc lá ngoại để trong túi áo sau một chuyến hướng dẩn khách nước ngoài mà bị đuổi việc . Vì vậy củng không lạ gì khi khởi đi từ một nền kinh tế không hơn gì Việt nam trước năm 1975 , nay họ trở thành một trong những cường quốc về kinh tế ở Á châu mặc dù tài nguyên của họ không bằng VN như nhập cảng toàn bộ xăng dầu tiêu thụ trong nước , v.v...
Trong hệ thống chuyên chở của quân đội Mỹ ở Việt Nam trước 1975 , chỉ có các tướng lãnh giử chức chỉ huy mới có xe riêng có tài xế để đi lại . Mọi sĩ quan từ thiếu tá đến đại tá đều dùng xe taxi của quân đội ; mỗi ngày xe taxi đến nhà đón họ đến nơi làm việc và đến chiều lại đón họ về nhà . Còn sỉ quan cấp nhỏ và binh sỉ thì dùng xe buýt của quân đội . Họ đả lập một trung tâm điều động xe cộ (motor pool) để quản lý hoạt động của các loại xe . Ngoài giờ làm việc thì các SQ này phải bỏ tiền túi để kêu taxi hay xe xích lô để đi . Vì tổ chức khoa học như vậy họ tiết kiệm ngân sách rất nhiều về việc trả tiền thuê tài xế , mua xe và xăng nhớt ; ngoài ra còn giảm bớt lưu lượng xe cộ lưu thông trong thành phố .
Còn rất nhiều chuyện về tiết kiệm của nhửng người giàu có trên thế giới . Tôi thường được ba tôi kể về một người bạn ( xin được dấu tên ) là doanh nhân rất giàu có trước 1975 ở Sài Gòn . Ông này mỗi lần xé một tờ lịch thì giử lại để dùng lại mặt sau của tờ lịch . Ông này đã vừa tiết kiệm và đi trước mọi người về bảo vệ môi trường mặc dù trước 1975 , vấn đề này chưa bức xúc như bây giờ ; nó hiện nay là câu nói đầu môi chót lưởi của các lãnh tụ thế giới .
Do đó tôi xin có thiển ý như sau . Việc quản lý kinh tế trong nước phải nên tổ chức một cách khoa học , chứ đừng ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên dồi dào rồi hoang phí vì tài nguyên này nay mai sẻ cạn kiệt . Phải thực hành cần- kiệm -liêm -chính vì nước ta vẫn còn nghèo . Phải tập trung vào việc đào tạo và nâng cao kiến thức cho mọi thành phần trong xã hội hầu bắt kịp thế giới , nhất là cho giới trẻ vì đó là tài nguyên quí giá và không bị hao mòn . Phải lắng nghe ý kiến của dân để biết nỗi bức xúc của họ . ( Tôi được biết mổi tuần dù quốc sự đa đoan , quốc vương của xứ Á -Rập Sê -Út giàu có đều để riêng một ngày để trực tiếp tiếp dân ) .Nếu không cố gắng thực hiện được những điều này thì sẽ hoang tưởng khi nghĩ rằng nước ta có thể sẽ là một trong những cường quốc về kinh tế của thế giới . Vì một số nước và vùng lãnh thổ hùng mạnh về kinh tế lại không phải nhờ thiên nhiên ưu đải ( Nhật , Đức , Nam Hàn , Singapore , Đài loan , Hongkong , v.v... ) nhưng do nhờ quản lý kinh tế tốt và có nền khoa học và giáo dục tiên tiến , đẳng cấp quốc tế .
Là một người sống tha hương nhưng luôn luôn nghĩ rằng đến tương lai dân tộc , tôi xin chia xẻ những kinh nghiệm trên cho quí báo . Kính chào qúi báo ,

Ngày 9/7/2008 .
ÔNG CHA TA ĐỜI XƯA ĐẢ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG NHƯ THẾ NÀO ? 



Nguồn : Việt Nam Văn Hóa Sử Cương , được viết năm 1938 bởi cụ Đào Duy-Anh .

       I/ Ở sách đã dẩn , sau khi mô tả cách tuyển lựa quan lại dưới các triều đại phong kiến Việt Nam , ở trang 149 cụ đã viết về những quyền hạnquyền lợi của các quan như sau :
       "... Các quan tại triều là những người giúp đỡ vua mà đãm đang quốc chính . Các quan ngoại chức (coi các tỉnh , phủ , huyện , châu ) là những người vâng mệnh thay mặt vua để cai trị nhân dân . Bởi thế nên các quan cũng như vua , người dân thường gọi là cha mẹ dân . So với dân , các quan là một hạng người có những đặc quyền xứng đáng với tư cách “dân chi phụ mẫu” . Quan không phải chịu thuế thân ; ngoài tiền lương quan còn có tiền dưỡng liêm (cấp cho các quan địa phương những khi họ túng thiếu để họ khỏi nhũng lạm của dân) cùng lộc điền (ruộng cấp cho những người có tước lộc) . Người nào xâm phạm đến danh dự hay sinh mệnh của ông quan thì bị xử tội nặng hơn là xâm phạm người thường ; mưu hại ông quan từ ngũ phẩm trở lên là một tội thập ác (1). Quan lại phạm tội , phải có chiếu vua thì pháp quan mới được thẩm vấn . Cha mẹ quan lại cũng được phong phẩm hàm ngang với con . Đó là lược cử một ít các quyền rõ ràng khiến quan lại tuy không phải là một giai cấp quí tộc mà cũng là một hạng người cao quí được thiên hạ tôn kính và thèm thuồng . Bởi thế người nào cho con đi học cũng hy vọng cho nó được làm quan , mà đứa trẻ đương để trái đào mới cắp sách đi học cũng đã hoài bảo một ông quan trong mộng tưởng" .
        II/ Ở trang 150 , cụ lại cho ta thấy cách phòng chống tham nhũng dưới thời phong kiến :
        " Quan lại tuy có nhiều đặc quyền , song cũng không phải ở trên pháp luật . Nhà vua sợ các quan lạm dụng những đặc quyền ấy mà vũ uy tác tệ , cho nên đã đặt nhiều điều lệ để chế tài các quan . Ví dụ pháp luật cấm quan địa phương không được thụ nhiệm ở tỉnh nhà , hay ở nơi cách tỉnh nhà dưới 500 dặm để cho thân thích bằng hữu khỏi cậy thế cậy thần mà làm ngang ; cấm không được lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình nhà vợ nhũng nhiễu ; cấm không cho tậu ruộng vườn cửa ở trong trị hạt , vì sợ quan hiếp bách kẻ trị hạt để mua rẻ ; cấm không được tư giao với đàn bà con gái trị hạt để đừng treo gương xấu cho nhân dân ; cấm quan lại hồi hưu không được lui tới cửa công để thỉnh thác cầu cạnh . Ngoài ra còn nhiều trừng trị các quan hối lộ và nịch chức , nếu thi hành cho nghiêm mật thì cũng có thể tránh được những tệ tham quan ô lại mà ta thường thấy làm cực khổ nhân dân" . 

Nhận xét : tôi nghĩ ngày xưa , do bị ràng buộc hay chế tài bởi những điều lệ như trên ,  các quan ít hay khó tham nhũng như bây giờ . Thế mới thấy tổ tiên ta khi đặt ra các điều lệ này đã rất cao kiến . Nếu luật này ngày nay được áp dụng ở Việt Nam , chắc ít ai chịu đi làm quan !!!
 
Chú thích : (1) Thập ác là 10 tội lớn . Mưu loạn (mưu làm hại xã tắc) ; mưu đại nghịch (phá hủy lăng miếu) ; mưu phản (theo địch mà phản quốc) ; ác nghịch (đánh hay giết cha mẹ ông bà) ; bất đạo (giết ba người vô tội trong một họ , hay cắt da thịt người sống để làm thuốc độc hoặc bùa …) ; đại bất kính (thất kính đối với vua , như ăn trộm đồ thờ ở lăng miếu , đồ xa giá của vua …) ; bất hiếu (chưởi mắng hay nói xấu cha mẹ ông bà , không để tang cha mẹ ông bà …) ; bất mục (mưu sát hay là bán bà con trong hàng ty thôi trở lên …) ; bất nghĩa (dân giết cha mẹ của quan , binh lính và hạ lại giết quan trên …) ; nội loạn (tức là loạn luân) .

Số 13 và định mạng của VNCH .
- Trong cái họa có chứa cái phúc -- Kinh Dịch .
TT Thiệu , TT Khiêm và tướng Phú , ba người ra quyết định rút bỏ cao nguyên Trung phần , dẩn đến sự sụp đổ của VNCH , đều có tên bằng số 13 .


 "Số 13 không xấu như nhiều người nghĩ . Người xưa nói ai biết xử dụng số này sẽ có được quyền lực và sự phục tùng từ kẻ khác . Số 13 liên quan đến quyền lực và nếu điều này được dùng vào mục đích vị kỷ thì sẽ mang sự hủy diệt cho chính nó “ . (Trang 251-252 của Linda Goodman's Sun Signs) . Các nhân vật mang số 13 trên đây đều có nhiều quyền lực nhưng vì chỉ biết lo cho mình nên cuối cùng họ đã hủy diệt sự nghiệp và đất nước mà họ đã từng sống chết bảo vệ . Trừ tướng Phú tự sát , hai vị còn lại đã sống lưu vong ở nước ngoài – thân bại , danh liệt , cô đơn , tủi nhục – trong những năm cuối đời .
C2 / Cũng theo bà Goodman , thì “ hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương , là thần chết , tay cầm lưởi hái , đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ , đang chen lấn dẩm đạp lên nhau , tìm cách thoát thân trên một cánh đồng cỏ mới mọc . “ Một cảnh tượng gần như tương tự một cách kỳ lạ đã xảy ra tại tỉnh lỵ Cheo Reo , nơi mà dân thường và các đơn vị Thiết giáp , Pháo Binh , v.v... của VNCH đã dồn cụt trên một diện tích nhỏ hẹp và đã bị tàn sát trong tức tưởi bởi những trận mưa pháo chính xác và kinh hồn của bộ đội CSBV . Một bà vợ lính Biệt động quân sau khi tới Tuy Hòa nghỉ dưỡng một tuần đã đi ngược đường lên tỉnh lộ 7 để tìm chồng con bị thất lạc . Chị cho biết “. . . ngỗn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy , những bộ xương người còn vương vãi đó đây , bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường . Cả một vùng xông mùi tử khí . Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số . . . “ . (Rừng Khóc Giửa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh) . 







C3 / Bà Goodman lại nói  “ số này củng cảnh báo về chuyện không ai ngờ được lại sẽ xảy ra “ .
Nào ai học được chữ ngờ vì miền Nam Việt Nam đã sụp đổ quá nhanh , với hàng trăm ngàn người vào tù , các đợt cải tạo tư sản , đổi tiền , v.v... ; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà gần nữa triệu đã chết , mất tích vì hải tặc , vì CA/bộ đội biên phòng , hoặc vùi xác trong biển sâu v.v... Một số lớn phụ nữ còn bị hảm hiếp , làm nô lệ tình dục bởi hải tặc Thái .
C4 /  Bà còn nói thêm “ Số 13 củng là số của đổi đời (upheaval) , để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn mới – mà trước đó không ai làm được . Số này dính liền với thiên tài – cũng như với các nhà thám hiểm – là số phá vở những gì có tính chính thống và là những khám phá trên mọi lãnh vực “ .
 Sau biến cố bi thảm 30 tháng 4 , người Việt đã có mặt hầu như khắp thế giới mà phần lớn là các nước phương Tây , giàu có . Đa số đã có cuộc sống ổn định , sung túc thậm chí có người thành triệu-triệu phú . Những người đến Mỹ , nếu trên 18 tuổi *** thì thi vào ĐH cộng đồng , hoặc vừa đi làm vừa đi học nghành nghề , để mong tiến xa hơn nữa vì nhà nước giúp đở tài chánh cho họ dù đã ở tuổi 70 hay cao hơn . Còn trẻ em thì được chăm sóc y tế toàn diện đến ít nhứt là 18 tuổi và được hấp thụ một nền giáo dục miễn phí – tiên tiến , phóng khoáng , kích thích tính sáng tạo và tự lập nơi các em . Đây là những điều mà ở VN ngày nay , đất nước của câu nói “vì lợi ích trăm năm ta trồng người “ có nằm mơ cũng không thấy . Thật tội nghiệp cho đa số trẻ em VN .
     Một số ng đã giử chức vụ chóp bu trong các nghành kỷ thuật cao hay chỉ dành cho phái nam như nữ kỷ sư Dương Nguyệt Ánh , người chế bom áp nhiệt dùng phá hang động ở A Phú Hản . Hay nữ phi công Elizabeth Phạm phục vụ trong Thủy quân Lục chiến Mỹ , v.v... (Trong cuộc chiến VN , tuy rất ác liệt nhưng phụ nữ dù tình nguyện , củng chỉ phục vụ ở hậu cứ  hay các thành phố để làm y tá , cán sự xã hội , v.v..) .Tóm lại nhân tài VN ở hải ngoại đã nở rộ như hoa mai mùa xuân , đây là niềm an ủi cho người đã phải đau khổ rời bỏ quê hương , và cũng là niềm hảnh diện cho họ ; đúng như lời người xưa “ trong cái họa có che dấu cái phúc “ .
     *** Trước 1975 ở VNCH , ngoài một số ít được học bổng do quá xuất sắc , thành phần còn lại chỉ có thể du học với điều kiện học giỏi , hợp lệ tình trạng quân dịch và tự túc mọi chi phí . Củng có một số rất ít được du học vì là con ông cháu cha. (Bản thân người viết bài , gia đình rất giàu nhưng do học dở nên không thể du học ; mải đến năm 47 tuổi mới được sang Mỹ nhờ tốt nghiệp đại học “lao động cải tạo” 6 năm ở VN ! .
 

Monday, July 20, 2015

Tôi hay nói với bạn bè : tôi không giỏi hay làm ra tiền bằng nhiều người khác nhưng tôi rất hảnh diện vì luôn giúp đở hay nghĩ đến những kẻ dốt (hay nghèo hơn tôi) hay đang "sa cơ thất thế" . Ảnh : Anastasia Lin, sẽ là đại diện của CND dự hoa hậu thế giới 2015 tại TQ . Cô tiếp tục tranh đấu cho nhân quyền tại TQ dù cha cô đang bị chính quyền đe dọa .