Những quy tắc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam
MỌI NGƯỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Monday, August 17, 2026
Saturday, August 15, 2026
TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN II TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ
Chiến Dịch Đỗ Xá 1964 .Đỗ Xá từng là một mật khu bất khả xâm phạm của Cộng sản vì địa thế hiểm trở của nó. Mật khu này là một thung lũng sâu thẳm nằm nép mình vào dãy núi Trường Sơn tại đỉnh núi Ngọc Lĩnh cao vút (2598m), cao đến độ ánh sáng mặt trời không rọi xuống tới mặt đất của thung lũng được. Vì địa danh này nằm ở giáp giới ba tỉnh Kontum, Quảng Tín và Quảng Nam , nên được Cộng sản dùng làm địa điểm xâm nhập quân từ đường mòn Hồ Chí Minh vào nội địa miền Trung ( Quảng Tín nay nhập với bắc tỉnh Quảng Ngãi ). Khu này cũng là khu tồn trữ đạn dược, lương thực và cũng là nơi dưỡng quân và điều trị thương binh. Vì các đơn vị của QLVNCH không tài nào xâm nhập vào vùng này, nên nó được ấn định là vùng oanh kích tự do. Do đó, các phóng pháo cơ, sau các phi vụ yểm trợ trên đường bay trở về căn cứ, được phép tự do trút hết bom đạn dư thừa xuống vùng đất này.
Ngày thứ hai 27 tháng 4 năm 1964, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phát động chiến dịch Đỗ Xá (Hành Quân Quyết Thắng 202) đánh thẳng vào thung lũng Khe Nước Lah, sào huyệt bất khả xâm phạm của tướng Cộng sản Nguyễn Đôn. Tướng Trí giao việc điều nghiên và thiết kế chiến dịch này cho Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, lúc đó giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, với sự trợ lực của Đại Tá Lữ Lan, lúc đó giữ chức Tư Lệnh Phó Hành Quân.
Bộ Chỉ Huy Mặt Trận Tiền Phương được thiết lập tại phi trường Quảng Ngãi. Các đơn vị chủ lực tham dự trong chiến dịch này được chia làm hai toán. Toán A gồm ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Sơn Thương. Toán B gồm các đơn vị của Trung Đoàn 50, thuộc Sư Đoàn 25, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh. Hai toán quân này còn được tăng phái bởi Tiểu Đoàn 5 Dù (Đại Úy Ngô Quang Trưởng được đặc cách vinh thăng Thiếu Tá tại mặt trận trong chiến dịch này). Vì trước đó, khi còn phục vụ tại Quân Đoàn 1 với tư cách phụ trách hành quân, Thiếu Tá Hiếu từng cộng tác mật thiết với Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Đà Nẵng qua trung gian của Thiếu Tá TQLC HK Wagner, cố vấn cho Quân Đoàn 1, nên Đại Tá Hiếu đã khéo ngoại giao với Bộ Tư Lệnh TQLC HK ở Đà Nẵng biệt phái một phi đoàn trực thăng H-34, Phi Đoàn HMM-364 TQLC HK được tăng phái bởi năm trực thăng võ trang UH-1B của QLHK và hai trực thăng UH-34 của KQVN, yểm trợ công tác chuyển vận chiến binh vào mật khu Đỗ Xá. Ngoài ra có thêm Phi Đoàn 52 thuộc Lục Quân Hoa Kỳ yểm trợ chuyên chở các toán quân và KQVN cũng yểm trợ cuộc đổ quân với hai khu trục Skyraider.
Vùng hành quân bao phủ một diện tích rừng rú rộng 60 cây số vuông.
Bước vào ngày thứ hai của cuộc hành quân, ngày 29/4, một đơn vị Biệt Động Quân phá hủy nhiều cơ sở Cộng sản và tịch thu một khẩu đại liên hạng nặng 30 ly, một khẩu đại liên hạng nhẹ 24x29, 11 khẩu súng trường AR-15, sáu khẩu liên thanh và 144 súng cá nhân. Họ cũng tịch thâu và phá hủy 60 kí lô chất nổ TNT, một ngàn bịch chất nổ hạng nặng cùng thêm một số lượng lớn lựu đạn, mìn, đạn dược, tài liệu và quân cụ và năm tấn gạo.
Trung Tướng Lữ Lan còn nhớ trong một phi vụ trinh sát mặt trận, trực thăng chỉ huy chở Tướng Trí, Đại Tá Lữ Lan, Thiếu Tá Minh (sau này là Tư Lệnh Không Quân) và một Đại Tá Cố Vấn Mỹ, khi bay vào thung lũng thì bị cao xạ Cộng sản đặt trên các đồi núi bắn đuổi theo tới tấp. Viên phi công đã tài tình hạ thấp trực thăng xuống bay lướt sát các ngọn cây, khiến địch không điều chỉnh tác xạ bắn theo kịp. Tuy vậy, thân và bụng trực thắng cũng vẫn bị bắn lủng nhiều chỗ.
Hành Quân Đỗ Xá phá hủy hệ thống truyền tin của bộ chỉ huy Cộng sản gồm năm trạm phát thanh, một trạm dùng để liên lạc với phía bắc vĩ tuyến 17, và bốn trạm dùng để liên lạc với các đơn vị Cộng sản hoạt động tại các tỉnh lỵ.
Hành Quân Đỗ Xá kéo dài một tháng và chấm dứt ngày 27/5/1964. Lực lượng QLVNCH tổn thất 23 chết, 87 bị thương, 3 khẩu súng, 4 trực thăng và hai khu trục Skyraider. Địch tổn thất 62 chết, 17 bị bắt, hai súng phòng không 52 ly, một súng liên thanh 30 ly, 69 súng cá nhân, và một số lượng lớn mìn và lựu đạn, các dụng cụ công binh, chất nổ, thuốc men và tài liệu. Ngoài ra, QLVNCH còn phá hủy 185 căn nhà, 17 tấn lương thực và 292 mẫu mùa màng.
Chiến Dịch Đỗ Xá là kết quả của sự phối hợp giữa hùng khí của một tay tác chiến gan dạ - Tướng Đỗ Cao Trí - và tài tham mưu của một tay chiến lược thâm thúy - Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu. Hai anh em Trí/Hiếu đã dám tung một đạo quân cấp Sư Đoàn gồm một Trung Đoàn Bộ Binh, ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và một Tiểu Đoàn Dù vào tận sào huyệt kiên cố của địch quân, một việc táo bạo mà trước nay chưa một Tướng Lãnh nào làm nổi. Thật vậy, trước khi Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Đỗ Cao Trí hoán chuyển Quân Đoàn 2 và Quân Đoàn 1 với nhau, Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của Trung Tá Ngô Dzu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Nhưng đã rút lui vì đạo quân tung vào, bị địch quân CS đánh dội trở ra mất một Tiểu Đoàn.
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ
Đỗ-xá, một vùng rừng núi hiểm-trở, nằm giữa ranh-giới của 3 tỉnh Quảng-nam, Quảng-tín, và Kontum. Địa-hình nơi đó được vẽ bằng những đường đỉnh cong-queo màu nâu sậm, chứ không phải là những vòng cao-độ như những cao-đỉểm khác mà ta thường thấy trên bản-đồ.
Từ thời chiến-tranh Đông-dương lần thứ nhất (1945-1954) cho đến khi cuộc chiến Đông-dương lần thứ nhì (1960-1975) bắt đầu, và kéo dài mãi đến thời điểm của bài này (1963), Đỗ-xá là một mật-khu bất-khả xâm-phạm của quân Cộng-sản. Không một đơn-vị nào của Quân-đội PhápViệt (1945-1954) hoặc của QLVNCH (1960-1963) có thể vào nơi đó. Nhờ địa-thế hiểm-trở với núi rừng bao bọc, dễ thủ khó công nên các đơn-vị quân-đội quốc-gia muốn hành-quân vào Đỗ-xá đều thất bại. Với những lợi-đỉểm trên, Cộng quân đã coi Đỗ-xá là một an-toàn-khu và đã dùng nơi đó làm một hậu-cần to lớn để cất dấu lương-thực, vũ-khí, đạn-dược, cùng xây cất quân-y-viện, và đây cũng là nơi dưỡng-quân lý-tưởng cho bọn chúng.
Vì nghĩ rằng nơi đây là vùng bất-khả xâm-phạm nên cộng sản chỉ dùng một số quân nhỏ để bảo-vệ mật-khu. Nếu chúng ta tấn- công đại-qui-mô vào thì sẽ bị đánh bật ra ngay như chúng ta và quân Liên-hiệp-Pháp đã từng bị.
Để phá tan mật-khu Đỗ-xá, bộ Tổng-tham-mưu QLVNCH, đã lập kế-hoạch hành quân (chiến-dịch Đỗ-xá) bằng cách điều-động các đơn-vị của Quân-đoàn 1 và Quân-đoàn 2 làm lực-lượng án-ngữ, (Blocking forces) bao vây vòng ngoài của mật-khu, và Lữ-đoàn TQLC/VN làm lực-lượng xung-kích (main force) đánh vào Đỗ-xá. (Liên-đoàn TQLC/VN đã được nâng lên cấp Lữ-đoàn từ đầu năm 1962, dưới sự chỉ-huy của Trung-tá Lê-nguyên-Khang làm Tư-lệnh, và Tư-lệnh Phó kiêm Tham-mưu-trưởng là Thiếu-tá Nguyễn-bá-Liên, hai vị này vừa được vinh thăng ngày 1/4/1963; TQLC vẫn còn thống-thuộc Hải-quân VN).
Để thi-hành nhiệm-vụ, Lữ-đoàn TQLC đã xử-dụng các đơn-vị như sau:
- Tiểu đoàn 2 do Đại-úy Nguyễn Thành Yên, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 4 do Đại-úy Bùi Thế Lân, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn Pháo binh do Đại-úy Nguyễn Văn Trước, Tiểu đoàn trưởng.
- Pháo đội A sơn-pháo 75 ly do Trung-úy Đoàn Trọng Cảo, Pháo đội trưởng
- Bộ chỉ huy Lữ-đoàn.
Lực-lượng Mũ-xanh được đặt dưới sự điều-động của Tư-lệnh và Tư-lệnh phó.
Toàn-bộ quân-số và quân-dụng dành cho cuộc hành quân nầy được không vận bởi không quân sự Hoa-kỳ loại C123 từ Saigon đến phi-trường Quảng-Ngãi, sau đó di-chuyển bằng đường bộ đến phi-trường quận Trà-mi tỉnh Quảng-tín, và sau cùng thì nhảy diều-hâu (một chiến-thuật cảm-tử; nhảy xuống ngay đầu của địch-quân và đánh từ trong lòng địch đánh ra, đôi khi phải cân-chiến nếu cần), vào Đỗ-xá với loại trực-thăng H21 của Lục-quân Hoa-kỳ. Đây là một loại trực thăng cũ-kĩ, mỗi lần chuyên -chở được khoảng 8 chiến-binh với đầy đủ vũ-khí. Đợt đỗ quân đầu tiên mấy ‘’con sâu rọm’’ (H21) còn sung-sức nên nó cỏng nổi 8 cọp-biển cùng một lúc, nhưng qua đợt 2 thì chỉ còn chở nổi 5 thủy-thần, và đến những đợt sau nó chỉ còn mang nổi có 3 chiến-sĩ mũ-xanh. Bộ chỉ huy tiểu-đoàn đi vào đợt 3. Toán tiền sát của tôi gồm 5 người, nhưng khi lên trực-thăng chỉ có tôi, người hiệu-thính-viên và một cận-vệ, còn 2 anh ‘’nồi-niêu xoong chảo’’ (hỏa-đầu-quân) phải đi chuyến sau. Vì sức chở của H21 quá yếu như vậy, nên bộ Tư-lệnh đã xin thượng-cấp liên-lạc với TQLC/HK để được chuyển quân bằng những chiếc trực-thăng H34 tối tân hơn. Nhờ vậy mà cuộc hành-quân trực-thăng-vận đã hoàn-tất vào khoảng 4 giờ chiều. Đóng quân tại bãi đỗ-bộ một đêm, sáng hôm sau, đoàn quân lên đường tiến chiếm các mục-tiêu ấn-định. Bản doanh của bộ Tư-lệnh LĐ đóng tại một trung tâm đỉnh núi.
Người viết và Chuẩn-úy Thạnh mập (xin chuyển qua Pháo-binh Nhảy-dù sau khi tái-ngủ cho đến năm 1975) được chỉ-định làm tiền-sát pháo-binh cho TD4/TQLC của Đại-úy Bùi-thế-Lân. Tôi đi với cánh A tiểu-đoàn-trưởng; Thạnh mập đi cánh B tiểu-đoàn phó, do Đại-úy Tôn-thất-Soạn chỉ huy. Tiểu-đoàn được chia làm 2 cánh, cánh B do Đ/u tiểu-đoàn-phó chỉ-huy đi trên đỉnh, Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn cùng 2 đại-đội đi chính-giữa, lưng chừng núi. Để bảo-vệ BCH/TĐ ông TĐT đã cho một đại-đội đi sát chân núi. Địa-thế quá hiểm-trở, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, lỡ trật tay là rơi xuống vực ngay. Chúng tôi phải men theo con đường độc-đạo do toán xích-hầu dùng dao chặt cây để mở đường, đôi khi phải luồn dưới rễ cây mà tiến tới. Sau khi chiếm trọn mọi mục-tiêu chỉ-định mà không có đụng độ, có lẽ các đơn-vị trú phòng của địch quân biết rằng không thể chống cự được với đoàn quân Cọp-biển nên không dám nghênh chiến, và đã rút đi, Tiểu-đoàn được dừng quân nghỉ ngơi lấy sức. Chúng tôi đóng quân tại một nơi, mà dưới chân núi có một con suối lớn chảy qua. Ông Tiểu-đoàn-trưởng đã điều động đại-đội đi phía dưới lội qua bên kia suối, và bảo Đai-đội-trưởng cắt một trung-đội làm tiền-đồn nơi cao-điểm, còn bộ chỉ-huy thì lùi thấp xuống phía dưới để được gần con suối hơn.
Sau khi bố-trí quân, Đại-Úy Lân ra lệnh cho các Đại-đội-trưởng, ban 3 và 2 Tiền-sát-viên Pháo-binh xác-định điểm đứng. Vì địa-hình quá giống nhau giữa những ngọn núi, mà bản đồ không có vẽ vòng cao-độ, chỉ có đường đỉnh mà thôi, nên khi trình kết-quả không tọa-độ nào giống tọa-độ nào! Vì vậy, ông Tiểu-đoàn trưởng phải xin Bộ Tư-lệnh Lữ-đoàn cho phi cơ quan-sát L19 lên xác định giùm điểm đứng của đơn-vị. Sau khi quan-sát-viên phi-cơ cho tọa-dộ chính-xác điểm đóng quân của tiểu-đoàn, thì thấy tất cả tọa độ của mọi người đều chấm sai cả. Tọa-độ gần đúng nhất là của người Đềlô, nhưng khi đem so lại với tọa-độ điểm đứng chính-xác mà người Quan-sát-viên Phi-cơ vừa cho thì tọa-độ của anh chàng pháo-thủ nầy cũng sai đến gần một cây số (700m). Sau khi có được đỉểm đứng chính xác, ông TĐT ra lệnh cho tôi lập những hỏa-tập tiên-liệu và bắn thử cho ông xem. Sau khi tôi gởi điện-văn xin tác-xạ, Pháo-đội của ông Truòng-can, ồ không phải, xin lỗi ông Pháo-đội trưởng PĐA/ TQLC! phải gọi là Can-trường mới đúng, đã bắn chính-xác vào những điểm đã xin và ông TĐT tiểu-đoàn Kình-ngư rất hài lòng.
Trong những ngày dừng quân, chúng tôi xuống suối tắm rửa bơi lội, và cả tiểu-đoàn được tha-hồ mà ăn cá, vì dưới suối rất nhiều cá, chỉ cần một quả lựu-đạn, cả một trung-đội xơi cá mệt nghỉ. Cá suối rất to. Khi tiểu-đoàn tiếp-tục tiến quân, tôi ngửi thấy mùi thối, nhưng không biết vì sao! đến khi đi qua một chỗ sát bờ suối tôi thấy một bộ xương cá dài gần 2 thước, từ đó bốc lên một mùi hôi-thúi nồng nặc, như vậy chứng tỏ cá suối cũng có nhiều con to như cá ở biển, chỉ cần một con thì cả một tiểu-đội có thể vừa ăn cá kho vừa ăn canh cá nấu với lá tàu bay thoải mái.
Chúng tôi lần-lượt tiến chiếm các mục tiêu ấn-định. Có vài binh sĩ bị thương vì đạp phải chông. Nơi đây địch đã thiết lập rất nhiều bãi chông, và hầm chông. Ban ngày băng rừng, leo dốc. Ban đêm trải ‘’poncho’’ ngủ ở lưng-chừng núi. Điều đáng sợ nhất ở Đỗ-xá không phải là quân địch, không phải là những con muỗi rừng, cũng không phải là những cây chông mà là những con vắt . Ngửi thấy hơi người là chúng nó búng lẹ như gió, bám được chỗ nào trên cơ-thể của người chiến-binh là nó không ngần ngại bám vào để hút máu; đến khi no cằng, nó tự nhả ra, nằm lăn trên mặt đất thưởng-thức những gì nó thu-hoạch được. Nếu nó hút máu người chưa đã thì không bao giờ chịu nhả ra, ta phải dùng tay dứt nó ra; nhiều con bám chặt quá chúng ta phải dùng thuốc lá trét lên mình nó, chờ cho nó say, ta mới rứt nó ra được. Nghe mấy bà già nói rằng, nếu một con vắt chui vào lỗ tai, nó sẽ mò vào óc, đẻ một bầy vắt con trong đầu của ta, và làm cho con người bị điên hoặc chết. Điều nầy tôi không biết có đúng không? Nhưng để cho yên trí, lúc nào trước khi ngủ, tôi cũng thoa thuốc trừ muỗi khắp người, và thấm thuốc vào bông gòn rồi nhét vô lỗ tai. Đã kỹ như vậy mà tôi vẩn ‘’tránh trời không khỏi nắng’’. Khi đoàn quân đi ngang qua bản-doanh Bộ Tư-lệnh, Tiểu đoàn được lệnh dừng lại để nhận thêm tiếp-liệu-phẩm. Tiểu-đoàn-trưởng, tiểu-đoàn-phó, Sĩ-quan ban 3, và Đề-lô được lệnh vào họp để nhận lệnh hành-quân của giai-đoạn 2. Khi chúng tôi chui vào lều của Tư-lệnh LĐ, thì Trung-tá Khang hỏi tôi:
- Ông Lộc đạp phải chông hả?
- Đâu có Trung-tá!
- Sao chân ông đầy máu thế?
Nhìn xuống, tôi thấy ống quần dính đầy máu; vén lên, tôi thấy một chú vắt to bằng ngón tay cái đang bám vào đầu gối của tôi để hút máu. Tôi vội lấy gói thuốc Rugby trong túi áo trận ra, rút một điếu, xé giấy quấn, rồi lấy những cọng thuốc thoa khắp mình con vật hút máu người, chờ một lúc lâu, nghĩ rằng con vắt đã say, tôi dùng những ngón tay bấu lấy nó, rồi rứt ra, nhưng nó vẫn bám chặt vào thịt của tôi, cuối cùng tôi phải dùng đến 10 thành công-lực mới dứt dây nó ra được. Khi rứt được con con vắt ra rồi, thì máu từ đầu gối của tôi chảy ra càng nhiều, tội phải lấy cuộn băng cá-nhân quấn vào nơi vắt cắn. Chỗ đó đã để lại trên đầu gối của tôi một vết thẹo, vết thẹo nầy tôi đã mang trên ngưòi suốt mấy chục năm qua và tôi đã gọi nó : Vết thẹo Đỗ-xá.
Cuộc hành-quân dự-trù 15 ngày, tôi đã chuẩn-bị 2 cây thuốc lá Quân-tiếp-vụ loại Rugby đỏ để đủ hút trong những ngày hành-quân, nhưng sau 15 ngày leo núi băng rừng, thì có lệnh triển-hạn thêm 15 ngày nữa!! 90% lính chiến ngày xưa đều ghiền thuốc lá, và có lẽ những bạn ghiền ấy cũng biết nỗi khổ của người hút khi hết thuốc? Nó khổ sở biết chừng nào khi mình muốn hút mà trong túi không còn một điếu thuốc ! Khi tấn-công vào một điểm tiếp-liệu của địch, chúng tôi đã mừng rỡ lúc khám phá ra một kho thuốc lá của cộng quân. Các Cọp-biển chúng ta chia nhau những lá thuốc khô và phun khói ì-xèo. Thằng đệ-tử của tôi (các sĩ-quan thường gọi những binh-sĩ thân-tín dưới quyền một cách thân-mật = đệ-tử, và ngược lại những người lính cũng gọi cấp chỉ-huy của mình với danh-từ thân-thương = ông thầy) chạy đến trao cho tôi một điếu thuốc lá quấn sẵn, và một xấp lá thuốc khô. Sau khi rít một hơi vào, tôi ho săc-sụa vì thuốc nặng quá; tôi trả lại cho thằng đệ-tử, nhưng vẫn giữ lại những lá thuốc khô phòng khi ghiền quá thì đốt lên bập-bập cho đở cơn ghiền.
Chúng tôi tiếp tục tiến quân nhưng không có đụng độ, hành-động chính của chúng tôi lúc đó là phá hủy kho-tàng, cùng những thửa ruộng trồng lúa, bắp, khoai mì, và những hoa-mầu khác. Bên cánh tiểu-đoàn 2 TQLC có đụng-độ lẻ-tẻ và có thu-hoach nhiều hơn. Các Thủy-thần bên đó đã phá-hủy được một quân-y-viện rộng lớn, bắt sống được 1 quân-y-sĩ và 4 y-tá của địch; tịch thu rất nhiều y-dược và dụng cụ y-khoa, cùng trung tâm truyền tin và điện đài, những trại nhà cho quân đội CS trú ngụ.
Sau một tháng dẫm nát mật khu Đỗ-xá, toàn-bộ Lữ-đoàn TQLC hành-quân được trực thăng bốc về Quận-lỵ Sông-cầu, ở phía nam đèo Cù-mông, tỉnh Bình-định, để dưỡng quân, sau đó tiếp-tục hành-quân vào vùng mật-khu An-lão của cộng sản .
Sự tiến-chiếm mật-khu Đỗ-xá của những Thủy-thần Mũ-xanh, trong chiến-dịch Đỗ-xá năm 1963, tuy chỉ thu-hoạch một kết-quả rất khiêm-nhường, nhưng đó là bước khởi đầu cho các Thiên-thần Mũ-đỏ của Sư-đoàn Nhảy-dù VN. cùng các Sơn-thần Mũ-nâu của Quân-đoàn 2 sau nầy nhảy vào Đỗ-xá nhiều lần; và họ đã thu-đoạt được nhiều kết quả về nhân mạng cũng như quân trang, quân-khí của địch quân.
Đỗ-xá không còn là một an-toàn-khu của Cộng-sản nữa.
Friday, August 14, 2026
Chuyện tình Vương Hồng Sển
Vương Hồng Sển (1902-1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ Việt Nam. Chuyện tình của ông cũng lắm nỗi thăng trầm với những rung động từ thuở thanh xuân cho tới lúc bạc đầu…
Ngôi nhà cổ ở Sài Gòn nơi cụ Vương Hồng Sển viết hồi ức về “cuộc tình tàn” với “em Tuyết”. Ảnh: Diệp Đức Minh. |
Nhà xưa mái Tuyết…
Cô Dương Thị Tuyết đẹp có tiếng ở vùng chợ Sóc Trăng vào những năm cuối thập niên 20 của thế kỷ trước. Đẹp đến nỗi cụ Vương Hồng Sển gọi bằng mấy tiếng “sắc nước hương trời” và vẻ tươi mát trẻ trung như hoa hàm tiếu sánh với những nụ “hoa đào vừa hé”. Ngoài sắc đẹp được xếp vào hàng hoa khôi trong vùng, cô Tuyết lại là cháu nội của bà phủ An nức tiếng giàu có với 2.000 mẫu ruộng cò bay thẳng cánh và gia sản sáng lòa với nhà cao cửa rộng mà tiếng đồn phú quý lan khắp Sài Gòn. Thế nhưng có hai điều đã đặt “em Tuyết” (chữ cụ Vương Hồng Sển dùng) trước ngã năm ngã sáu đường đời.
Một là, bà phủ An do một chướng duyên nào đấy đã “không nhìn” cô cháu nội (Tuyết) của mình trong một thời gian dài, lúc đó cô Tuyết vừa đang trong độ tuổi trăng tròn. Hai là, ba má cô Tuyết rất ham đánh bạc, tiền của trong nhà đội nón ra đi khiến cho “nợ thiếu tứ giăng”. Trong tình cảnh như vậy, cô Tuyết như một đóa hoa hàm tiếu nở hé trên đất nóng. Chẳng thiếu gì người mơ ước được đem những giọt nước mát tưới cho đời Tuyết được tươi, trong số đó có một thanh niên 26 tuổi.
Thanh niên đó chính là Vương Hồng Thạnh, sinh năm Nhâm Dần (1902) tại Sóc Trăng (cùng quê với Tuyết). Mấy chữ Vương Hồng Thạnh (đọc theo âm Hán Việt) khi làm khai sinh (ghi theo chữ Quốc ngữ) mới thành Vương Hồng Sển. Chữ Sển, theo một số người hiểu chuyện, thì không có nghĩa gì, mà chỉ do đọc chệch âm “Thạnh” mà ra. Tới năm 17 tuổi, chàng Vương rời Sóc Trăng lên Sài Gòn học Trường Chasseloup Laubat tức Trường Jean Jacques Rousseau sau này (nay là Trường Lê Quý Đôn). Bốn năm sau, tốt nghiệp Thành chung lúc 21 tuổi (1923). Đến năm 23 tuổi đã cưới vợ, không phải “em Tuyết” mà là cô Trần Thị Th., nhưng chỉ ở với nhau 9 tháng rồi ly dị.
Khi cuộc hôn nhân đầu tiên trong đời khép lại, chàng Vương mới mở ra một cánh cửa mới nhắm đến “em Tuyết” mà Vương thương yêu nồng nàn và cũng đau khổ nhiều năm vì Tuyết. Bấy giờ, chàng Vương 26 tuổi và cô Tuyết mới 17 tuổi (1928) đã làm lễ thành hôn và sống chung với nhau trong 19 năm trước khi chia tay. Lúc mới gặp nhau, chàng Vương đưa “em Tuyết” từ chốn tha hương về lại quê Sa Đéc và sau này trong một hồi ức đã kể lại đoạn trường tứ cố vô thân ấy như sau: “Rồi từ ngày anh (Vương Hồng Sển) đưa em (Dương Thị Tuyết) về tỉnh Sa Đéc, mười lượng vàng của mẹ anh mãn phần trối để lại, anh dâng cho nhạc phụ, nhạc mẫu làm lễ sính, ông bà “nướng” tất cả trong sòng me (cờ bạc), cầm thế cho nhà Tăng Quang Vĩ, 10 lượng thế lấy 600 đồng bạc đầm xòe, khi mẹ chúng ta mất rồi, người bố ghẻ hứa chuộc nhưng không giữ lời…”.
Nhà xưa mái Tuyết phai tànTình xưa vẫn ngõ mấy hàng song song Ảnh: Diệp Đức Minh. |
Tình cảnh lúc ấy thật bi đát. May sao bà phủ An thay đổi thái độ nhìn nhận “em Tuyết” làm cháu ruột của mình và cho hưởng gia tài. Khi bà phủ mất năm 1931 đã trối lại cho “em Tuyết” một gia sản không nhỏ trong đó có đôi bông 6 ly là đôi bông tai kim cương mà bà đã đeo từ lúc còn sống, nhất là “cái vòng xoàn đeo cổ, đếm 16 miếng vàng có nhận hột xoàn từ 3 đến 4 ly (nếu biết lấy xoàn này nhận làm bông tai sẽ có 160 đôi hoa tai, mỗi đôi nay giá mấy triệu đồng)”. Nhưng về sau này tất cả của cải nói trên theo lời thuật của cụ Vương thì “thảy đều tiêu tan như bọt xà phòng vì em Tuyết thua bài thua bạc sạch trơn”.
Còn những ngày hàn vi chân ướt chân ráo ở Sài Gòn về Sa Đéc lại rất ấm áp như cụ Vương kể: “mỗi đêm anh mê chia bài thiên cửu, dắt em theo ngồi ngoài sòng chờ anh sát phạt ba cây bài gỗ, đến khuya rủ nhau đi xơi mì chú Dầu nơi mé rạch Sa Đéc, qua năm 1931 đổi về tỉnh nhà Sóc Trăng, rồi năm 1938 đổi lên Cần Thơ, kế thuyên chuyển về đô thành Sài Gòn làm việc nơi Soái phủ Nam kỳ, có tiền dư, có sức khỏe, ngờ đâu từ ngày xảy ra việc binh Nhựt tràn vào cõi Nam, tiếp theo là cuộc Pháp mất thuộc địa, toàn quyền Decoux bị hạ bệ, Nhựt hất chưn Tây, để lãnh đủ hai trái bom (nguyên tử) tan tành giấc mơ Đại Đông Á, đôi ta chạy về ruộng nhà ở làng Hòa Tú, trần ai khổ cực có nhau, bỗng chuyến trở về Châu Thành Sóc Trăng, ngồi dưới sương lạnh trọn một đêm dài, về tới nhà phụ thân anh, em xán một bịnh trối chết, bịnh ban cua lưỡi trắng, chạy thầy chạy thuốc, bổn thân anh bơm thuốc, hốt bụm chất dơ, em lành mạnh rồi, em đáp xe đò lên Sài Gòn mượn tiếng đi bán xoàn để có tiền chi dụng, ngờ đâu kim cương là đại họa, cái bâu cổ 320 hột quý làm cho đổi trắng thay đen…”. Nghĩa là về sau những chuyến đi Sài Gòn của “em Tuyết” đã dần dần rời xa mối duyên “nghìn xưa đã lại” với cụ Vương để ra đi cùng một người khác tên là Th. Nỗi đau lại đến với cụ Vương trong “cuộc tình tàn” thứ hai này.
Tuyết về với cõi hư khôngĐèn kia vẫn đỏ lửa lòng chứa chan... Ảnh: Diệp Đức Minh. |
Vĩnh biệt “em Tuyết” ở Sài Gòn
Vượt qua cơn bệnh nặng, “em Tuyết” của cụ Vương hồi phục. Sắc đẹp mặn mà của người phụ nữ ở độ tuổi 30 – độ tuổi của quả ngọt đang hồi chín tới – đã làm xiêu lòng một “người thứ ba” nhỏ hơn cụ Vương đến mười mấy tuổi.
Đó là Hồ Văn Th. được cụ nhắc tới trong hồi ức như một người quen biết với cụ cũng như với “em Tuyết” từ trước và là một tay chơi bài “khôn” đáo để. Cụ viết như nói với “em Tuyết” rằng: “Anh không lanh lợi như Th., mỗi dịp Tết hội nhau chơi bài, Th. ăn gian mà anh lù khù vẫn chung tiền…”. Con người “lanh lợi” ấy, tuổi lại trẻ hơn cụ Vương nhiều, đã cùng “em Tuyết” hẹn hò, lao vào cơn lốc đầy ma lực của tình yêu mới. Ở lãnh địa nhiều sức hút này, Th. và “em Tuyết” ngày càng đi đến chỗ gắn bó không còn muốn xa nhau nữa. Hai người ngày càng biểu lộ rõ hơn tình cảm của họ trước mọi người. Để rồi đến một bữa nọ “em Tuyết” công khai ngỏ lời muốn chia tay với “chàng Vương” sau 19 năm chung sống (không có con).
Cụ Vương lúc đầu tìm lời khuyên nhủ, nhắc nhở những ngày hai người đầu ấp tay gối, đùm bọc chia sẻ ấm lạnh từ đất Sài Gòn, Sa Đéc đến Cần Thơ và Sóc Trăng với Tuyết. Nhưng dường như những kỷ niệm xưa do cụ Vương khơi dậy đã không mạnh bằng tiếng nói mới thầm thì nhưng mãnh liệt từ mối giao tình với Th. nên cuối cùng, như cụ Vương viết: “Em (Tuyết) vẫn bỏ anh, mấy lần cậy anh em thương thuyết, nài nỉ cách mấy, em cũng không ở lại. Thế rồi em lấy Hồ Văn Th., nhỏ hơn anh trên mười mấy có dư, em vui duyên mới, anh tê tái, nát ruột như tương”. Thế là cụ Vương đành chia tay với người vợ thứ hai này sau gần hai thập niên ăn ở với nhau. Lúc ấy cụ Vương đã 46 tuổi và “em Tuyết” 36 tuổi (1947), khi chia của cải “em biếu anh mớ sách cũ và bao nhiêu thứ đồ cổ mà em không tha thiết, em chỉ xin và anh ưng lòng để em ôm hộp sắt Fichet ra đi, hộp chứa đựng vàng vòng của phụ thân anh tự tay làm ra, và bao nhiêu của báu mà anh không màng, anh chỉ màng mối tình 19 năm âu yếm mà em đành đứt đoạn, của báu ấy xiết bao người mê thích, chỉ một anh không thích mê chút nào, thật vậy, anh chỉ mê chén xưa tuy nứt nẻ và mê ấm sứt vòi”.
Dưới mái ngói của “vuông nhà cổ tích” này, cụ Vương đã viết những dòng khóc lóc “cuộc tình tàn” với Tuyết - Ảnh: Diệp Đức Minh |
Đúng thế thật, lúc bấy giờ cụ Vương đã say mê sưu tầm đồ cổ và sách báo. Trong những năm cuối sống với “em Tuyết” cụ đã biên soạn công trình nghiên cứu đầu tiên công bố trong kỷ yếu của Hội Khuyến học Nam Việt vào đầu năm 1943 và xuất bản Les Bleus de Hue à decor Mai Hạc par Vương Hồng Sển vào năm kế đó, 1944. Có thể tình yêu đồ cổ và nghiên cứu những giá trị quá khứ của cụ đã không hợp mấy với tâm hồn đang đòi hỏi một “hiện tại” ngọt ngào hơn của Tuyết. Song theo cụ sở dĩ “em Tuyết” khăng khăng theo mối duyên mới là vì “mấy hột kim cương tai hại… ai kia nói có xoàn là sang là quý, xin cho tôi cãi lại, tại tôi quá dễ dãi, bắt chước lối ăn ở theo Tây, để vợ quá tự do” lấy cớ mang xoàn lên Sài Gòn bán để rồi giao du rộng rãi. Một lý do nữa do cụ Vương nêu lên và viết lại về nguyên do dẫn đến thái độ chia tay quyết liệt của Tuyết là: “Một phần cũng tại Cảnh (em khác mẹ của cụ). Cảnh nhẫn tâm đổ lư hương nhạc mẫu (mẹ của em Tuyết) để em nước mắt dầm dề, rồi xảy ra chia uyên rẽ thúy từ đây, ôi nhắc lại làm chi, mọi sự đã trễ rồi. Quan (anh của Cảnh) lạy em xin tội, anh riêng nhờ chị Emille Penne giải hòa nhưng mối hòa nan giải”.
Sau ngày xa “em Tuyết”, cụ Vương rời Sóc Trăng trở lại Sài Gòn vào mùa thu năm 1947. Còn Tuyết lập tổ ấm mới với Th. cùng chung sống trong hơn 30 năm rồi Th. qua đời trước, hai bên cũng không có đứa con nào. Từ đó bà Dương Thị Tuyết sống đơn chiếc ở Sài Gòn cho đến ngày qua đời tại cư xá Thanh Đa. Ngày bà mất, cụ Vương được tin trễ sau khi liệm. Cụ đã vội đến viếng ngay khi hay tin và viết những dòng thắm thiết sau đây: “Em Tư (Tuyết) ôi, anh khóc em đây, thôi thôi, em Tư của anh đã không còn rồi! Chiều 6 Juillet (6.7.1992), thằng Thông đến vội vàng, cho hay tin em đã nhắm mắt từ hôm 4 và đã liệm xong rồi, trễ quá rồi và ngày mai 7.7, sẽ đưa đi hỏa táng ở Cây Quéo và tro cốt sẽ gởi nơi nhà thờ. Tin như sét đánh, chẳng kịp bưng tai. Còn gì nữa đâu!”.
Chàng Vương cầu hôn (năm 22 tuổi) - Ảnh: T.L. |
Gặp nữ nghệ sĩ tài danh Năm Sa Đéc
Người đàn bà thứ ba xuất hiện trong đời sống tình cảm của cụ Vương và trở thành người vợ chung sống mặn nồng, lâu nhất với cụ suốt 41 năm là nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc mà nghệ sĩ Đinh Bằng Phi đã tóm lược cuộc đời hoạt động nghệ thuật vang bóng của bà bằng mấy câu: “Trong giới hát bội, ít ai quên được một nữ nghệ sĩ tài danh mà tiếng tăm vang lừng từ Nam ra Bắc, từ lúc thanh xuân đến tuổi lão thành, đó là nghệ sĩ Năm Sa Đéc. Bà có một cuộc đời nghệ thuật khá vinh quang và cuộc đời thường của bà không kém phần sóng gió”.
Nói sóng gió là do việc đổi dời của bà theo nhiều bước thăng trầm của các gánh hát trứ danh thời đó và ngay cái tên Năm Sa Đéc cũng xuất phát từ việc “đụng hàng” với một cô đào khác. Nguyên tên thật của bà là Nguyễn Kim Chung, sinh năm 1907, là con của ông bầu gánh hát bội Nguyễn Duy Tam. Lúc đầu ông Tam đặt cho bà tên gọi ở nhà là Năm Nhỏ. Nhưng về sau để tránh trùng tên với cô đào Năm Nhỏ gốc người Cần Thơ lúc bấy giờ đã nổi tiếng, ông Tam đã đổi tên gọi bà thành Năm Sa Đéc với ý là “Cô Năm (Nguyễn Kim Chung) gốc người Sa Đéc”.
Trước khi gặp cụ Vương, Năm Sa Đéc đã là một trong những nghệ sĩ tiền phong trên sân khấu hát bội được đánh giá thanh sắc lưỡng toàn thu hút đông đảo khán giả ái mộ. Và cụ Vương là một “khán giả” đặc biệt đã ghi sâu hình ảnh “em Năm Sa Đéc” vào mộng chiều xuân, như bài văn tế sau này ghi lại:
“Gió lá vai mang nhè nhẹ”, em xuống giọng “thoàn”
Người hùng lòng thấy lâng lâng, hồn theo mộng bướm.
Đôi chân bước khoan thai dìu dặt, êm đềm như gió trúc lay cành.
Muôn mắt nhìn đắm đuối say sưa, miên man tưởng “chiều thu đổ lá”. (…)
Rạp Quảng Lạc Hà Thành nô nức, lễ tiếp nghinh, tiệc mở cờ treo;
Danh “Cô Năm Sa Đéc” lẫy lừng, đến biểu diễn hoa dâng quạt thưởng.
Cụ Vương để tâm tìm hiểu “cô Năm Sa Đéc” và biết sau ngày gánh hát nhà của cha tan rã, Năm Sa Đéc dạt sang Cần Thơ đi hát cho gánh của Bầu Bòn. Ở đó, mặc dầu xuất thân từ sân khấu hát bội, song Năm Sa Đéc cũng phải chiều ý của Bầu Bòn để hát pha cải lương theo nhu cầu của khán giả thời ấy. Nhưng rồi, cũng không bền, Năm Sa Đéc lại xuất hiện ở các đoàn hát của Trần Đắt, Huỳnh Kỳ sắm các vai kiếm khách, văn thần, võ tướng qua các vở cải lương. Tiếp đó cô đến với đoàn Song Phụng, rồi lại về Sài Gòn với đoàn Phước Xương (của cô Ba Ngoạn) và tài năng lại rực sáng, lôi cuốn khán giả với các vai kép, vai văn, hoặc vai võ như Lữ Bố, Triệu Tử, Địch Thanh…
Bấy giờ, tuy Năm Sa Đéc sống giữa chốn đô hội nhưng không mấy vui, vì mang trong lòng mối tình đổ vỡ giữa cô và nghệ sĩ Hai Th. Chính lúc đó cụ Vương cũng lên Sài Gòn, cũng mang trong lòng mối ngổn ngang sau ngày chia tay với Tuyết. Hai người gặp nhau và có lẽ mối đồng cảm trong “trường tương tư” đã nhanh chóng kết nối cụ Vương với nữ nghệ sĩ tài danh này như lời nhận xét của người trong giới, rằng: “Cuộc đời của nghệ sĩ Năm Sa Đéc bước vào một khúc quanh mới, khi cô gặp gỡ và kết nghĩa với học giả, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, khi hai người vừa “gãy gánh giữa đường”. Ông thì làm công chức, viết sách, nghiên cứu các thú chơi đồ cổ, đá gà, hát bội, bà thì hát bội, diễn cải lương… Ban đầu lúc kết nghĩa vợ chồng, vào cuối năm 1947, cụ Vương và Năm Sa Đéc sống trong một ngôi nhà nhỏ ở xóm Cù Lao nằm trên đường Võ Di Nguy cũ. Đó là ngôi nhà lợp lá ọp ẹp nhưng cũng không phải là nhà riêng mà phải thuê lại của một người chủ quen gọi là thầy Sáu. Tuy vậy cuộc sống chung ấm áp dưới mái lá đó đã để lại những kỷ niệm không quên mà sau này cụ Vương nhắc lại:
Anh hồi tưởng: Chòi lá năm xưa, Cù lao xóm cũ
Ngồi nghe em hát, giọng du dương trưa sớm chẳng nhàm tai,
Bàng hoàng giấc mộng trầm tư, đành chết điếng khúc quanh chiều rẽ lối.
Long lanh ngấn lệ trào dâng,
Lặng lẽ trang tình xếp lại (…).
Đôi vợ chồng ra vào khắng khít, mắm muối mà vui,
Một chòi tranh sau trước đìu hiu, ghế bàn chẳng có.
Cụ Vương thời sống với nghệ sĩ Năm Sa Đéc ở “vuông nhà cổ tích” - Ảnh: T.L. |
Những câu trên nằm trong bài “văn tế Năm Sa Đéc” khá thảm thiết. Bài này do một người khác ký tên Tế Nhị chấp bút “viết thay lời chồng là Vương Hồng Sển”. Mà lại viết trước khi nghệ sĩ Năm Sa Đéc qua đời để nhằm “dọn sẵn bài khóc vợ” cho cụ Vương với sự đồng ý của cụ.
Thật vậy, nguyên vào cuối tháng 7.1981 (tức 7 năm trước khi bà Năm Sa Đéc mất), cụ Vương đến nhà của Tế Nhị ở đường Hai Bà Trưng rồi thuật hết tâm tình của mình trong đời sống vợ chồng với bà Năm Sa Đéc cho Tế Nhị nghe. Tế Nhị ngồi trên chiếc ghế mây, vừa nghe vừa ngẫm nghĩ và theo lời cụ Vương sau đó Tế Nhị đã “xuất thần đọc cho tôi chép (bài văn tế), chép tới đâu nước mắt tôi chảy tới đó”. Là vì trước hết bài văn nhắc đến quãng đời “rất nghệ sĩ” của hai người trong cảnh khó khăn: Bút rè ngòi, tiền cạn túi, anh khoe đồ cổ, chúng chẳng thèm mua. Nhà dột nóc, gạo lưng nồi, em bán bánh bao, lời không đủ sống (…). Tôi la cà quán sách giải buồn. Bà cắp củm, túi tiền nhỏ giọt.Về sau này, cuộc sống khá hơn khi họ dời về “vuông nhà cổ tích” rộng rãi hơn nhiều, khang trang hơn nhiều ở đường Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bà Chiểu năm xưa… Chính ở ngôi nhà này bà đã qua đời đột ngột vào trưa ngày 26.1.1988 sau khi đã đi một vòng thăm những nghệ sĩ lão thành như Ba Út và Năm Đồ về. Cụ Vương than: “Em sao vội phủi tay đứng dậy? Tắt đèn đời, tìm giấc ngủ thiên thu. Anh chỉ còn trơ mắt nhìn theo: qua giòng lệ viết trang tình nửa đoạn”…
Việt Báo
(Theo Thanh Niên)
14 tháng 12, 2006
Nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Chuyen-tinh-cu-Vuong-Hong-Sen/45219513/181/
Thursday, August 13, 2026
TRỜI SANH NGUYỄN TẤN DŨNG, SAO LẠI
SANH NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG.
Wednesday, August 12, 2026
https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/pfbid02stTQNW9hHkenKNWGPTRpLEPkDVtjJEykZfhjy137Nbjziqp8TGBpM54wh56djYzyl
Monday, August 10, 2026
Any love involves loss, and that's the risk you take. And th ..







