Tuesday, April 28, 2015

1 CCB MỸ ĐEN LẤY VỢ MỸ TRẮNG (ĐÃ CON RIÊNG, BÊN PHẢI MẸ NÓ) . ANH CŨNG CÓ CON RIÊNG (ĐỨNG GIỬA) . ĐỨA ANH BỒNG LÀ CON CỦA HAI NG . CHỤP TẠI DETROIT , NƠI CÓ MỸ ĐEN RẤT ĐÔNG . TẤM ẢNH NÀY TƯỢNG TRƯNG CHO NƯỚC MỸ .

Monday, April 27, 2015

Tiến sỹ Vũ Minh Khương, từ Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 25/4.
Việt Nam đã để mất cơ hội trở thành một cường quốc sau năm 1975 do coi thường các thành quả trong chính sách của Việt Nam Cộng hòa.
Nhận định trên được Tiến sỹ Vũ Minh Khương, từ Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 25/4.
"Sau năm 75, tôi từ Bắc vào làm việc ở TP.HCM thì thấy trình độ quản lý của các cơ sở tiếp quản từ doanh nghiệp miền Nam rất tốt, kể cả từ mặt thiết bị, tính chuyên nghiệp, sổ sách, tính quy hoạch.

"Rõ ràng là có dấu ấn của nỗ lực khá tốt trong việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có hiệu quả."

"Tôi thấy trong bối cảnh của miền Nam sau 75 thì ý thức học hỏi của Việt Nam rất hạn chế vì tâm lý là người chiến thắng. Khi đó miền Bắc nhìn nhận mọi vấn đề ở miền Nam một cách rất coi thường, đánh giá thấp, không trân trọng những gì họ đã làm được.", ông nói.

"Tôi từng làm việc ở một trung tâm tính toán và thấy tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ ở đó rất cao. Họ tận tình chỉ bảo nhau rất kĩ càng mà tôi là người mới vào, được chỉ dẫn rất rõ."

"Hệ thống IBM hiện đại lúc đó còn để lại, duy trì hàng chục năm mà vẫn còn giúp cho miền Bắc rất nhiều, từ xây dựng Thủy điện Sông Đà, tới tuyển sinh và quản lý hoàn toàn hệ thống điện lực ở miền Nam, rất hiệu quả."

"Cũng không hề có tham nhũng tiêu cực ở đó, tính chuyên nghiệp rất cao. Đồng lương thì khiêm nhường nhưng anh em làm việc ở đó gắn bó tình cảm lắm. Sau này thì mọi người ly tán, mỗi người đi một nơi, xuất cảnh ra nước ngoài."

"Sau này nghĩ lại tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như sự gắn bó giữa người dân hai miền."

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào

Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào (Kỳ 2)

QĐND - Thứ hai, 14/02/2011 | 17:16 GMT+7


Kỳ 2: Còn người còn chốt, bị thương không rời trận địa
QĐND - Thực hiện quyết tâm tác chiến của bộ chỉ huy Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, các lực lượng ém quân trên các hướng. Các chốt chặn của chiến dịch được lệnh nổ súng chia cắt, ngăn chặn làm giảm nhịp điệu tiến công của địch, tạo ra những yếu tố bất ngờ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ kho tàng giao thông vận chuyển. Các lực lượng cơ động, chủ lực phục kích, tập kích ngăn chặn địch ở Bản Đông.
Ngày 8-2-1971 trên hướng tấn công chủ yếu của địch, bộ đội ta đã bẻ gãy nhiều đợt tấn công của quân ngụy Sài Gòn. Khi chúng vượt qua biên giới Việt Nam sang Lào, bộ đội ta vẫn giữ vững các điểm chốt.
Đặc biệt, 16 giờ chiều ngày 8-2-1971 tại khu vực đường 16, Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308, vừa cơ động tới A Lia thì gặp địch đổ quân xuống điểm cao 316, sát trận địa pháo của ta ở Làng Sen. Trung đoàn trưởng 88 ra lệnh cho Tiểu đoàn 6 vận động tấn công, bao vây đánh thiệt hại nặng Đại đội 3, Tiểu đoàn biệt động quân 21 diệt 80 tên, bảo vệ an toàn trận địa pháo. Chiều 10-2 quân địch chiếm được Bản Đông. Ta quyết tâm vây đánh không cho chúng tiến lên Sê Pôn. Đêm 11-2, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 88 và Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 64 phối hợp tập kích Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn dù số 1 ở Bắc Sê Num. Tiếp đó, đến ngày 12-2 Tiểu đoàn 4 (thiếu Đại đội 2) được tăng cường Đại đội 9, Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 88 tập kích Tiểu đoàn biệt động quân 39 vừa đáp máy bay trực thăng xuống điểm cao 500. Trong 2 trận đánh ở Sê Num và điểm cao 500 ta chỉ tiêu diệt được một số sinh lực địch, hiệu suất chiến đấu thấp. Dù vậy, quân địch sợ hãi phải co cụm lại không dám bung ra lùng sục ngoài căn cứ.
Các chiến sĩ Quân giải phóng trong trận tiêu diệt Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn dù 3 - ngụy  quân tại chân cao điểm 402 và Đồi Không tên. Ảnh tư liệu.
4 giờ sáng ngày 9-2-1971, từ Sở chỉ huy Trung đoàn 24 (Sư 304) - đây là lần đầu tiên Trung đoàn 24 vừa làm nhiệm vụ chốt chiến dịch vừa thực hiện chiến thuật bao vây công kích địch, Trung đoàn trưởng Lê Đắc Long nhận được điện của Tư lệnh trưởng Sư đoàn 308 Nguyễn Hữu An “địch đang tiến vào cầu Ka Ky và điểm cao 351, 311”. Ngay lập tức Trung đoàn trưởng điện qua bộ đàm 2 WPRC25 cho Chính trị viên phó Đại đội 7 Lê Mã Lương đang chỉ huy trung đội chốt chặn điểm cao 351. Vừa triển khai nhiệm vụ cho 3 tiểu đội bộ binh và tiểu đội hỏa lực theo chỉ thị của Trung đoàn trưởng, chưa kịp về vị trí chỉ huy thì cả trận địa chốt C7 của Lê Mã Lương ngập chìm trong khói lửa, tiếng nổ của pháo binh và trọng liên từ trên máy bay trực thăng vũ trang địch. Trong 2 giờ chiến đấu, cán bộ chiến sĩ Đại đội 7 đã đánh lui 5 đợt tiến công của địch, tiêu diệt gần 2 đại đội lính dù và biệt động quân, riêng Lê Mã Lương diệt 14 tên. Ngày 11 và 12-2 tại khu vực cầu KaKy, các đơn vị súng máy cao xạ của Trung đoàn 24, Trung đoàn 102 bắn rơi 30 máy bay lên thẳng của địch. Kẻ thù khiếp đảm khi phải qua “con đường máu lửa” mà chốt cầu Ka Ky 351 do đơn vị anh chốt giữ suốt thời gian chiến dịch mở ra và kết thúc là cửa tử đối với địch khi chúng hành quân lên Bản Đông và khi chúng rút chạy về Khe Sanh.
Ngày 11-2-1971, Phùng Quang Thanh-Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 trực tiếp chỉ huy một tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên. Địch dùng 1 đại đội có máy bay yểm trợ, chia làm 2 mũi tấn công chốt. Phùng Quang Thanh chỉ huy tiểu đội chờ địch vào gần mới nổ súng, diệt 38 tên, đẩy lùi địch ra xa, riêng Phùng Quang Thanh diệt 8 tên. Hai ngày sau địch lại tiến công lên chốt, Phùng Quang Thanh bị thương, cấp trên cho lui về tuyến sau nhưng anh xin ở lại chiến đấu. Phùng Quang Thanh nhờ đồng đội tháo nắp 17 quả lựu đạn cho vào túi đeo quanh người nhờ y tá băng và treo cánh tay trái cho đỡ vướng rồi dẫn đầu tiểu đội xung phong đánh tạt sườn quân địch, phối hợp đơn vị bạn diệt gọn 1 đại đội địch. Riêng tiểu đội do anh chỉ huy diệt 37 tên, bắt 1 tên, thu 2 súng. Sau trận thắng ở đồi Không Tên, quân địch không dám ra lùng sục dọc đường 16A.
Như vậy, sau 5 ngày quân địch liều mạng tiến công, từ ngày 8 đến 13-2-1971, chúng đã bị thiệt hại nặng, nhiều kế hoạch triển khai lực lượng, bị ta phá vỡ, buộc chúng phải hủy bỏ hoặc điều chỉnh, do đó tốc độ tiến quân và các mục tiêu đánh chiếm đạt được rất thấp. Trước tình hình đó, kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch là kiềm chế địch trên các hướng, đồng thời thực hiện chia cắt đường 9, con đường độc đạo nối thông từ Quảng Trị Việt Nam qua tỉnh Sa-van-na khệt Lào bao vây, cô lập lực lượng tinh nhuệ ở Bản Đông. Chặn lực lượng địch tiến lên Sê Pôn. Nếu quân địch chọc thủng tuyến bao vây, chia cắt để lên được thì lập tức tập trung lực lượng đủ mạnh buộc địch sa lầy và bị tiêu diệt lớn ở đó. Từng bước điều chỉnh lực lượng nhằm triển khai thế trận phản công, toàn chiến dịch. Thực hiện đúng kế hoạch tác chiến ngày 15-2-1971 các đơn vị trên cả ba hướng chiến dịch bắt đầu mở đợt phản công, tiêu diệt địch.
Trên hướng chủ yếu, sừng sững điểm cao 500 do Tiểu đoàn số 39 liên đoàn biệt động quân số 1 ngụy chiếm giữ được chọn là mục tiêu “đột phá khẩu”. Đây là điểm cao khống chế có ý nghĩa về chiến thuật nằm sát trục đường 16b, nối đường 16A với Bản Đông. Tiểu đoàn số 39 là tiểu đoàn thiện chiến với trang bị hỏa lực mạnh lại được hỏa lực pháo binh và Không quân Mỹ chi viện. Địch coi đây là một chốt chặn quan trọng trên hướng Bắc.
Ý thức được trận đánh điểm cao 500 có ý nghĩa then chốt tác động đến sự phát triển của chiến dịch, vì vậy Bộ tư lệnh Sư đoàn 308 quyết định chọn trung đoàn chủ công 102 do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính ủy Nguyễn Hữu Ích chỉ huy thực hiện trận đánh quan trọng này. Từ ngày 16-2-1971 đến ngày 20-2-1971, ta dùng các thủ đoạn chiến thuật vây lấn hỏa lực chế áp, phá hoại các mục tiêu, không quân địch khó khăn trong việc tiếp ứng cho điểm cao 500, vì vậy quân địch chống trả ngày càng yếu ớt. Đến chiều ngày 20-2-1971, quân ta hoàn toàn làm chủ điểm cao 500, tiểu đoàn biệt động quân 39 bị xóa sổ.
Thừa thắng, trưa ngày 25-2-1971 được hỏa lực pháo binh chi viện, bộ binh Trung đoàn 64 và xe tăng phối thuộc tấn công vào căn cứ 31. Mặc dù địch tập trung pháo binh và không quân bắn ngăn chặn quyết liệt nhằm chi viện cho lực lượng phản kích, nhưng chiều 25-2 chiến sĩ Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt gọn Tiểu đoàn dù 3, Tiểu đoàn pháo binh và sở chỉ huy Lữ đoàn dù số 3, bắt sống viên Đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ cơ quan tham mưu lữ đoàn.
Ngày 26-2-1971, sau khi Lữ đoàn dù số 3 bị tiêu diệt. Địch buộc phải tổ chức lại sư đoàn dù, tổ chức thành 2 lữ đoàn gồm 7 tiểu đoàn và 1 tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn dù có nhiệm vụ trấn giữ Bản Đông, và giải tỏa đường 9 giảm áp lực chia cắt của ta.
Như vậy là ở cánh phía Bắc, sau khi đổ quân chiếm các điểm cao, địch đã bị ta vây hãm, ngăn chặn, bị diệt từng đơn vị, buộc địch ở Bản Đông phải cơ động lực lượng lên phản kích cứu nguy nhưng không cứu vãn được tình thế.
Cho đến ngày 3-3-1971 ta đã chặn đứng được địch ở Bản Đông không cho địch phát triển lên Sê Pôn bằng lực lượng thê đội 1 chiến dịch, buộc địch phải sử dụng thê đội 2 chiến dịch tiếp tục kế hoạch tiến công lên Sê Pôn với mục tiêu hạn chế. Các lực lượng của ta giữ vững Sê Pôn bảo đảm an toàn tuyến vận chuyển chiến lược bao vây, chia cắt địch đồng thời điều động lực lượng chuẩn bị điều kiện để thực hành phản đột kích lớn tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch. Lực lượng thê đội 1 và cả thê đội 2 chiến dịch của địch đều tổn thất nặng nề. Trong thế quẫn bách, hoang mang, lúng túng, chúng vẫn tiếp tục liều lĩnh đổ quân lên Sê Pôn với mục đích phô trương vớt vát ảnh hưởng về chính trị và nghị binh để rút quân mau lẹ. Vì vậy, địch sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 1 bộ binh, đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống Đông Bắc Sê Pôn, cùng đi sẽ có cả phóng viên báo chí, thông qua đám phóng viên báo chí địch tổ chức một cuộc họp báo để tuyên bố là chiếm được Sê Pôn. Nhưng kế hoạch không thành, do quá khiếp sợ các phóng viên báo chí không dám liều mạng lên Sê Pôn và 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 2, Sư bộ binh 1 ngụy cũng không thể tới được Sê Pôn vì bị quân ta chặn đánh.
Trong quá trình ngăn chặn và phá thế tiến công của địch, các lực lượng của ta, đặc biệt là các lực lượng tại chỗ, các chốt chiến dịch đã phát huy tốt tác dụng đánh ngăn chặn, hạ máy bay, diệt cơ giới, nhiều phân đội đánh có hiệu suất cao, các đơn vị B70 và Sư đoàn 324 đã tiêu diệt 1 bộ phận sinh lực địch, ngăn chặn từng bước và chặn đứng được địch ở Bản Đông. Không cho địch thực hiện kế hoạch tiến lên Sê Pôn bằng lực lượng thê đội 1 chiến dịch; phản đột kích mạnh mẽ, bẻ gãy hoàn toàn cánh Bắc của địch, đánh thiệt hại nặng cánh Nam, triển khai được đội hình chiến dịch để hình thành thế bao vây địch vững chắc.
Thiếu tướng Lê Mã Lương
Kỳ cuối: Cơn ác mộng của ngụy quân
HUỲNH BỬU SƠN : PHỎNG VẤN .
Chuyên mục Tuần Việt Nam của báo điện tử Vietnamnet.vn hôm thứ Ba dẫn lời của một khách mời tham dự cuộc "Tọa đàm 40 năm ký ức ngày thống nhất" (Kỳ 1), nói:
"Khoảng 11 giờ trưa 30/4/1975, tôi nghe tiếng gầm rít của xích sắt tốp xe tăng đầu tiên từ Thị Nghè tiến vào trung tâm. Tôi và nhiều người kéo nhau đứng sát tường rào của khu trường dược nhìn ra. Đứng sát tôi là anh đại úy dù, người chỉ huy đại đội dù tử thủ trước khi có lệnh đầu hàng. Anh ta mặc nguyên bộ đồ dù, chỉ để đầu trần," ông Huỳnh Bửu Sơn được dẫn lời nói.
Ông Sơn được tờ báo giới thiệu là 'Chuyên gia tài chính – ngân hàng. Trước 30/4/1975, ông là thành viên ban lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng quốc gia Việt Nam và là người giữ chìa khóa kho vàng 16 tấn; sau năm 1975 là thành viên “Nhóm thứ 6” giúp việc cho lãnh đạo TP.HCM và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt'.
Vẫn ông Sơn được dẫn lời nói tiếp:
"Chiếc xe tăng đi đầu cắm cờ Giải phóng đột nhiên quay ngoắt lại, leo lên lề, tiến sát vào tường rào. Tôi nhìn thấy rõ họng pháo sâu hun hút với những hình răng cưa ở miệng súng. Một người lính trên tháp pháo đột nhiên đứng dậy, rút súng ngắn, lên đạn. Thời gian bỗng như đông cứng lại trong đầu, tôi nhắm mắt chờ tiếng súng nổ. Nhưng người chỉ huy đứng trên tháp pháo đưa tay gạt khẩu súng ngắn xuống. Anh từ tốn hỏi người lính dù: “Đã đầu hàng rồi sao anh còn ở đây?”. Viên đại úy dù trả lời: “Chúng tôi đã tuân lệnh buông súng, tôi chỉ đứng đây xem thôi”.
"Người chỉ huy phất tay, chiếc xe tăng quay ngoặt trở lại ầm ầm phóng về phía dinh Độc Lập. 5 hoặc 6 chiếc đi sau chạy theo, tiếng xích sắt ken két nghiến trên đường nhựa.
Lát sau tôi nghe một tiếng “ầm” rất lớn. Lúc đầu cứ ngỡ là tiếng đại bác. Sau này mới biết là tiếng xe tăng húc đổ cổng dinh Độc lập.

"Bàn tay của người chỉ huy chiếc xe tăng gạt khẩu súng ngắn đã lên đạn xuống là tín hiệu rõ ràng nhất khiến tôi tin rằng chiến tranh đã thực sự kết thúc," Tuần Việt Nam tường thuật lời ông Huỳnh Bửu Sơn.

06:13



23:29
Bộ đội Bắc Việt bắn nhau ngay trong Dinh Độc Lập ngày 30/04/1975, theo lời kể của Thượng tướng QĐNDVN Nguyễn Hữu An:
 "...mấy quả đạn cối 82 (hoặc 81) nổ liên tiếp ngay trên sân cỏ. Duyến ôm lấy mặt kêu lên: "Tôi bị thương rồi!". Tôi bảo chiến sĩ gác cho tù binh chạy vào trong hầm.
Mấy quả đạn cối nổ, chỉ có mình đồng chí Duyến là chẳng may hỏng một bên mắt. Tôi hỏi một sĩ quan tù binh xem xung quanh đây còn lực lượng nào dám kháng cự nữa không. Không có.
Như thế là "quân ta bắn quân mình" thôi. Chiến tranh khó tránh hết được cái chuyện quái gở ấy..."
Báo Việt Nam có bài 'Hồi tưởng trận đánh Dinh độc lập qua ký ức Thượng tướng Nguyễn Hữu An' (1926-1995), tư lệnh Quân đoàn 2 từ 1975-1979.

22:59

ĐỀ NGHỊ TAN HÀNG .
Từ Hoa Kỳ, ông Trịnh Xuyến, một cựu sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa từng đi cải tạo, gửi cho BBC một đoạn hồi ký mà ông hồi tưởng lại giây phút bàn giao chính quyền ở Mộc Hóa, Long An, cho 'quân Giải phóng' và tân chính quyền tháng 4 năm 1975. Ông khẳng định, đây là những gì mà ông chứng kiến tận mắt và không bao giờ quên:
“Buổi tối khoảng 7 giờ hơn, đơn vị chủ lực của Việt Cộng vào tần số của chúng tôi, đòi nói chuyện với cấp quân sự cao nhất, người này xưng là Xích Điếu, Chánh trị viên của tỉnh.
“Ông Huy bắt máy nói tôi là Đại tá Huy, Tỉnh trưởng liền bị hắn chặn họng sửa lưng:

“Các anh là Nguỵ không được xưng danh đại tá với Cách Mạng,xong hắn ra lệnh,sáng ngày mai lúc 9 giờ cho ba chiếc tàu lên Cải Rưng đón Cách Mạng,mỗi tàu chỉ có hai người, một nói máy và một lái tàu, đích thân anh dẫn ba tàu này, trong tàu không có súng đạn, mọi sai phạm sẽ bị xử lý.
“Ông Huy tái mặt,mồ hôi ông vã ra nói vài câu sẽ thi hành.Tôi đi theo, ông nói mời họp ngay,tôi thông báo cho các nhân vật còn lại,đa số là các trưởng phòng bên quân đội, có ông phó Đức và vài người bên toà Hành chánh tôi không nhớ rõ.
"Ông Huy cho biết nội dung mới nói chuyện với tên chính trị của Việt Cộng, hỏi ý kiến mọi người bây giờ mình giải quyết như nào, cả phòng họp yên lặng.
ĐỀ NGHỊ TAN HÀNG
Tôi đề nghị đằng nào mình cũng tan hàng, mình tập trung Bộ chỉ huy,có 3 xe cơ giới của Đại úy Kiệt hộ tống xuống Kiến Bình gặp Thiếu Tá Đạo lấy tiểu đoàn của Đại úy Nguyễn thành mở đường máu ra Cai Lậy mình tan hàng.
“Ông không chịu, nói: tất cả ở lại bàn giao, lệnh cho ông Đức (phó của ông) làm ba mươi phần cơm canh chua,cá kho đãi Cách mạng. Các trưởng phòng,ty sở, tôn giáo, nhân sĩ có mặt trước dinh lúc 10 giờ đón Cách Mạng.
“Trong lúc đứng chờ họ tới,một cảnh tượng kinh hoang xẩy ra,nhìn xéo sang cổng Toà Hành Chánh,tôi ngó thấy Trung sỹ Hồng thuộc ty An ninh Quân đội cưỡi xe Honda, một chân chống trên bờ hè, máy xe vẫn nổ tìm lối đi, kẹt nỗi từ bến nước tên Xích Điểu, ông Huy và đám xây lố cố từ rừng tràm ra,đang nghênh ngang tiến về dinh.
“Trung sỹ Hồng không có đường chạy, bị một phụ nữ mới được thả ra từ Trung tâm cải Huấn cùng mấy tên mang AK và dây nhợ từ ty An ninh Quân đội bước ra, đang nhớn nhác kiếm Hồng,
“Thoáng thấy Hồng, mụ la nó đó,nó đó,chợt một tràng AK nổ chát chúa,Hồng gục chết không lời trăn trối. Tôi bàng hoàng hoa cả mắt.

“Họ tới trước cổng dinh, có một tên Việt Cộng mặc đồ đen,vai quàng chiếc khăn rằn.mũ tai bèo,chột một mắt vung tay hô to Đả đảo Mỹ Ngụy, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Tôi nghe mà ù tai bởi những lời lẽ ghê rợ sắt máu…”, ông Trịnh Xuyến chia sẻ với BBC từ Hoa Kỳ.
Nếu ai cũng như ÔNG bộ đội quản giáo này thì . . .
Đã đc mô tả đầy đũ ở :
http://www.tranthanhhien.com/2015/04/neu-quan-csbv-ai-cung-nhu-ong-quan-giao.html
Nhưng vì thấy bài quá ý nghĩa nên tôi đăng lại và thêm hình ảnh từ báo LIFE . Nếu kẻ chiến thắng , ai cũng như ÔNG bộ đội quản giáo nói trên thì ngày 30.4.75 không phải là ĐẠI TANG hay QUỐC HẬN hay (như một trận) ĐỘNG ĐẤT KHỦNG KHIẾP - mà dư chấn vẫn còn tới hôm nay (sic) !!! Mấy hôm nay , nhiều ng CS , (như cựu CT Nguyễn minh Triết ,v.v...) đã  "thanh minh hay biện minh " một cách VÔ ÍCH về những chuyện mà họ đã làm sau 30.4.75 .
Tại sao nước Nhật bị 2 quả bom NT giết cả trăm ngàn người trong nháy mắt , đất nước chỉ là một đống gạch vụn *  . . . nhưng chỉ sau MƯỜI CHÍN NĂM (1964) đã tổ chức TVH Tokyo và khành thành đường xe điện tốc hành nhanh nhứt thế giới . Nếu ko nhờ sự cai trị khéo léo của kẻ thắng trận - chỉ huy bởi tướng MacArthur .
* Với hàng trăm ngàn homeless , phụ nữ phải ngủ với lính mỹ để có miếng ăn (họ phải là gái điếm nhưng là các cô gái bỏ nhà ra đi sau khi chiến tranh chấm dứt - theo LIFE) , nạn đói dự báo có TÁM triệu người chết , v.v... Trong khi tại VN sau 30.4.75 , trừ Ban Mê Thuột , Xuân Lộc tan nát , các TP còn lại đều nguyên vẹn (gồm cơ sở hạ tầng , nhà máy hảng xưởng) . . .
Hình minh họa dưới đây , lấy từ báo LIFE năm 1945 . 




1945 , SỰ RỘNG LƯỢNG TỰ TIN CỦA KẺ THẮNG TRẬN : LÍNH MỸ CANH GÁC ĐỀN  YASUKINI Ở TOKYO TRONG KHI LÍNH NHỰT VỪA MỚI GIÃI NGŨ ĐẾN ĐỀN CẦU NGUYỆN
ẢNH TRÊN VÀ DƯỚI , HÀNG TRĂM NGÀN NGƯỜI VÔ GIA CƯ CHỈ RIÊNG TẠI TOKYO

MẤY CHỤC NGÀN TRẺ EM MỒ CÔI SỐNG ĐẦU ĐƯỜNG XÓ CHỢ TẠI TOKYO , CHẠ MẸ CHÚNG ĐÃ CHẾT HẾT .

Đời tôi có nhiều sai lầm nhưng sai lầm sau đây đã gần như kết liểu đời tôi !
Trong những ngày cuối tháng tư 1975 , gđ tôi đã có mặt đầy đũ tại Sài Gòn . Trước đó , do đc về họp CTCT tại BTL Sư đoàn 7 tại Đồng Tâm nên tôi đã về thăm gđ . Hai bên đường , xe tăng M-113 và pháo binh 105 ly đang bảo vệ QL 4 . Lúc ở BTL , chúng tôi có xem phim Chúng Tôi Muốn Sống nhưng ko cảm xúc gì cả (cứ nghỉ rằng phim nặng về tuyên truyền với tài tử Philippines và VN (LÊ QUỲNH) .
Ở SG , tôi đọc báo Paris-Match nên mới biết họ phỏng vấn ĐT ĐẶNG PHƯƠNG THÀNH , chỉ huy Tr.Đoàn 12 của sư đoàn khi giải tỏa QL 4 tại Bến Tranh gần Long An . (Tôi đã dịch và post trên blog) . Nếu tôi ko lầm , đây là lần cuối cùng , báo chí nước ngoài loan tin về 1 chiến thắng lớn lao của VNCH . Sau đó có chiến thắng Long An nhưng báo chí nước ngoài , nếu có biết họ cũng ko làm phóng sự vì nghĩ rằng đó chỉ là cố gắng TUYỆT VỌNG vì SG sẽ sụp đổ nay mai : tôi còn nhớ tờ TIME hay NEWSWEEK vẽ 1 ống nhắm mà mục tiêu là SG .
Ba tôi lúc đó , ngoài công ty xây dựng lớn lao , còn có phần hùn ở ngân hàng Trung Nam . . . và làm đại diện tại VN của hảng tàu biển Nhật K-Lines . Ng Nhật khẩn khoảng gđ tôi di tản bằng thương thuyền lớn của họ . Gia đình tôi ko nghe lời họ vì nhiều lý do : chưa có kinh nghiệm với CS (ba tôi vào nam lập nghiệp từ thập niên 1940) , tiếc của (điều đó đúng thôi) , ng em trai tôi là SQ bị cắm trại tại CC Long Bình , v.v...
Ông LÊ ĐỨC T. , 1 ng trong hội đồng quản trị đã khuyên ba tôi và các ông trong HĐQT của cty nhà tiền chế NHATICO - mà TGĐ là TRẦN NGỌC TRÌNH - nên ở lại vì "CS sẽ không khó dễ gì các ng giàu có tại SG . . . bà con của ổng ở "bên kia" bảo đảm như vậy (sic)" ! Dù lúc đó HĐQT cũng có tàu riêng để di tản .
Thế là vì ông T. này mà gđ tôi ở lại : tài sản bị tịch thu , ba tôi "làm việc" với CA liên miên nhưng ko bị bắt vì chú bác cô của tôi đều là CB ở miền Bắc . Ông Trình bị bắt : building Phước lộc thọ 8 từng của ông ở đg Hai bà Trung bị tịch thu , bà vợ tức quá nhảy từ lầu 8 tự tử , thời đó vì thang máy ko hoạt động nên ở lầu 8 là một cực hình . Ông T. cũng đi tù , nghe nói con gái làm điếm cho cán bộ CS .
(Sau này tôi biết con của cô ruột từng chiến đấu ở Q.Trị - nếu ở vùng 4 thì anh em tôi đã giết nhau - sau này đánh ở KPC với Khmer đỏ bị cụt chân . . . đi buôn lậu một thời gian vì ỷ thế TPB) . Tôi thì "tốt nghiệp" ĐH Cải tạo trong gần 6 năm , ra tù với tấm thân ma dại .
Những ng thuộc MTGPMN từng sống chung với CS như bà DƯƠNG QUỲNH HOA , TRƯƠNG NHƯ TẢNG , v.v... còn bị CS LƯỜNG GẠT , huống gì gđ tôi chưa bao giờ sống với CS .
Chỉ có dân di cư 1954 , phần lớn là Công Giáo , nên có kinh nghiệm , nên sẳn sàng bỏ của chạy lấy người .