Monday, December 11, 2017

Theo Lý thuyết Số , những ng hiện nay dù đang hưởng NGHIỆP TỐT , nhưng nếu ko biết tu nhân tích đức , kiếp sau sẽ có ngày sanh là 18 hay có tên cộng lại bằng 18 .
Sau đây là ý nghĩa của số 18 . 
SỰ XUNG ĐỘT TINH THẦN-VẬT CHẤT (SPIRITUAL-MATERIAL CONFLICT)
(Áp dụng cho người có ngày sanh hoặc tên cộng lại bằng 18 )
Trong các số kép , 18 là số khó giải đoán nhất . (Xin đọc lại trang truớc đây của chuơng nầy nói về liên quan giửa số 18 và đức Jesus ) . Nguời xưa mô tả số kép 18 với hình ảnh sau : “ Một mặt trăng tỏa sáng , từ đó những giọt máu đang rơi xuống . Một con chó sói và một con chó đói đứng bên duới , đang đón hứng những giọt máu nầy bằng cái miệng mở rộng của chúng , trong khi bên duới nữa , một con cua đang vội vả kéo tới dự phần “ .
Số 18 tượng trưng cho chủ nghĩa vật chất cố gắng hủy diệt khía cạnh tâm linh của bản chất . Trong giai đoạn có chiến tranh , đổi đời , và cách mạng , người mang số này thường xung khắc một cách cay đắng trong gia đình . Trong một số trường hợp , số 18 cho thấy việc tạo ra tiền và đạt địa vị phải thông qua những chiến thuật gây chia rẻ , qua chiến tranh hoặc xung đột khác . Số 18 cảnh báo sự lừa gạt từ cả “bạn” lẫn thù ; sự nguy hiểm từ lửa , lụt lội , động đất , bão tố và chất nổ , điện giật và sét đánh . 
Nếu tên cộng lại bằng 18 , tác động của số này có thể bị triệt tiêu lập tức bằng cách đổi tên sao cho bằng một số may mắn hơn ( như 6 hoặc 24 ) .
Nếu ngày sanh là 18 , phải rất cẩn thận hầu đối phó những thách thức và nguy hiểm do số này mang lại . Con đường duy nhứt để giảm thiểu tác động của nó trên cuộc sống là bằng những phuơng tiện tâm linh ; bằng cách chấp nhận không né tránh và liên tục sự lừa gạt và lòng căm thù từ những kẻ khác với sự rộng lượng , tình yêu , và sự tha thứ ; bằng cách “ đưa má còn lại cho người ta tát “ , và đổi tốt lấy xấu , đổi sự tử tế lấy sự tàn ác , đổi danh dự lấy xấu hổ . Bằng cách này , tác động của 18 có thể tạo thành công lớn . Có một cách khác để giảm thiểu khía cạnh (aspect) tiêu cực của số 18 là đổi tên sao cho khi cộng lại bằng 6 . Người sanh ngày 18 nên tiến hành các việc quan trọng vào ngày 3 và 6 , hoặc ngày nào cộng lại thành số 3 và 6 ( như 12 , 21 , 24 , 30 trong tháng ) . Nên chọn số nhà , số phone , email address , hoặc bất cứ cái gì liên quan đến cuộc sống của mình , làm sao chúng cộng lại bằng 6 . Bản thân tôi đã gặp nhiều may mắn khi dọn vào một ngôi nhà mang số 2301 = 2 - 3 - 0 - 1 = 6 . Bằng cách này , người mang số này có thể thành đạt , trong lãnh vực tâm linh lẫn vật chất ./. 
( Lược dịch từ trang 255 của quyển Linda Goodman’s Star Signs ) .
San Jose ngày 05 tháng 05 năm 2010 lúc 7:34 tối .                                                   
Ba Dũng sinh ngày 17 và tên cộng lại cũng bằng số 17 (dựa theo Lý Thuyết Số/LTS) . Nghĩa là y được số 17 chiếu mạng HAI lần .
Sau đây là ý nghĩa của số 17 , dịch từ trang 255 của sách Linda Goodman's Star Signs , xem hình .

" NGÔI SAO CỦA NHÀ THÔNG THÁI ( THE STAR OF THE MAGI)
Đây 1 số rất cao về tâm linh/tôn giáo (highly spiritual number) , và người Chaldean cổ đại đã tuợng trưng nó bằng sao Kim (Venus) 8 cánh . Ngôi sao của Nhà Thông thái là hình ảnh của Tình yêu và Hòa bình , và những uớc muốn của nguời số 17 sẽ vuợt qua đựơc (trong tâm tư) những thử thách và khó khăn của kiếp truớc (will rise superior in spirit to the trials and difficulties of earlier life) , với khả năng chinh phục thất bại truớc đây trong quan hệ cá nhân và nghề nghiệp (with the ability to conquer to conquer former failure in personal relationships and the career) . [Nói thêm : ngưòi thuộc số 17 rất khôn ngoan về mặt đạo đức (to be morally good or wise) để có khả năng tránh đựơc những điều mà họ không nên làm và hiểu được những điều mà ngưòi khác không hiểu ] . 17 là “số của sự Bất tử“ (number of the Immortality) , và cho thấy tên của nguời (hay thực thể) này sẽ sống mãi sau khi họ đã lìa đời (the person's name will live after him) . Đây là một số của cực kỳ may mắn , với một cảnh báo . Vì nó thu nhỏ thành ( 1+7 = ) 8 , do vậy những ngưòi số 17 nên đọc kỷ phần nói về các số 4 và 8 đăng ở cuối chương này " .
Chú thích : những ng có ngày sinh hay có tên cộng lại bằng 4 hay 8 đều thuộc nhóm TRẢ NỢ DỒN , đã giải thích nhiều lần trên FB này .
NHẬN XÉT : Tôi ko rõ kết cục của Ba Dũng ra sao * nhưng theo LTS thì 17 là “ số của sự Bất tử “, và cho thấy tên của nguời (hay thực thể) này sẽ sống mãi sau khi họ đã lìa đời .
* Kể cả các chiêm tin gia giỏi nhứt cũng ko dám nói vì "thiên cơ bất khả lậu" (máy trời ko thể tiết lộ) .

Sunday, December 10, 2017

BỊNH BÉO PHÌ (OBESITY)
Obesity được định nghĩa theo chỉ số khối lượng cơ thể , hay BMI , một cách đo lường trọng lượng cơ thể so với chiều cao . Một ng với một BMI 30 hay hơn được xem là béo phì (obese) - và có nguy cơ cao hơn về các bịnh từ đầu (TBMN) tới chân (loét bàn chân do đái đường/diabetic foot ulcer) .
Từ 1971 tới 2.000 số ng béo phì gia tăng từ 14.5/100 tới 30.9/100 dân số Mỹ , đẩy số ca bịnh đái đường gia tăng . 
Bịnh liên quan đến béo phì gây tốn kém hàng năm trên 100 tỉ . Năm tới , bị béo phì được tiên đoán sẽ qua mặt chứng nghiện thuốc lá về nguyên nhân chánh gây tử vong , có thể tránh được , ở xứ này .
. . . tàu phà ở puget sound bang washington đã tăng chều rộng của ghế từ 18 tới 20-inch cho khách có mông bự . tại bang colorado , một cty xe cấp cứu đã trang bị tay quây/winch và ngăn xe quá khổ dành cho bịnh nhân nặng hơn 500 kí . một xưởng sx hòm ở indiana làm hòm rộng 38-in , so với tiêu chuẩn 24-in . 
. . . theo 1 khảo sát của đh michigan , sv thà cưới 


Giải thích biểu đồ này .
Trong 4 cột nằm kế nhau , cột bên trái tượng trưng cho trọng lượng bình thường hay dưới cân (underweight) , cột kế là quá cân (overweight), cột kế là béo phì , và cột cuối cùng là béo phì vừa phải tới béo phì bịnh tật (moderately to morbidly obese) .
Trong các bịnh từ tim mạch , TBMN , phong thấp , sạn trong túi mật/gallstone và đái đường , gần như ng có trọng lượng bình thường và duới cân chỉ có nguy cơ rất thấp . 

Saturday, December 9, 2017

PHẦN 1 .
Trịnh Y Thư : « Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không chỉ đơn thuần là cuốn tiểu thuyết miêu tả cảnh nghèo khó, cùng bĩ của một gia đình trí thức Hà Nội vào đầu thập niên 80. Tầm vóc của cuốn tiểu thuyết lớn hơn thế nhiều, bởi nó đã vượt qua đường biên của những tranh chấp chính trị thấp kém, những ý thức hệ ngông cuồng và nhất là nó dám trực diện với cái bản ngã vẫn ẩn nấp trong mỗi chúng ta mà bằng cách này hay cách khác chúng ta chối bỏ ».
Trên đây là nhận xét của nhà thơ Trịnh Y Thư khi viết về cuốn tiểu thuyết đã được Nguyễn Xuân Khánh hoàn tất hơn 30 năm về trước, nhưng mới chỉ chính thức đến được với độc giả vào mua thu 2016.
Tuy là tác phẩm đầu tiên trong số bốn cuốn tiểu thuyết đưa tên tuổi ông đỉnh cao trên văn đàn Việt Nam, song Chuyện ngõ nghèo với cái tên nguyên thủy là Trư cuồng, lại lận đận hơn cả, so với những Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn(2008) hay Đội gạo lên chùa (2011).
Chuyện ngõ nghèo nói về Hà Nội thời kỳ bao cấp, đầu thập niên 1980, khi mà « cao trào nuôi lợn đang dâng ». Cấu trúc Về hình thức, cuốn tiểu thuyết gồm ba phần : những trang nhật ký mà tác giả gọi là Nhật ký lợn. Phần giữa mang hình thức những truyện ngắn –Hành trình vào Hỗn mang, là những giấc mơ trong cơn mê sảng vật vã suốt thời gian đau ốm của nhân vật ghi chép cuốn nhật ký. Đoạn kết Nhật ký lợn là phần ba cuốn sách.
Trịnh Y Thư- Chuyện Ngõ Nghèo (P.1)02/12/2017Nghe
« Sống với lũ lợn còn thấy vui hơn »
Trịnh Y Thư : « Tôi có cái duyên gặp nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hồi đầu năm 2017 trong dịp về thăm Hà Nội. Dù đang hồi phục sau một ca mổ, ông vẫn niềm nở đón tiếp tôi tại tư gia và qua câu chuyện trao đổi tôi nhận ra ngay đây là một trí thức nhiều tâm huyết, một nhà văn đáng kính phục. Ông kí tặng tôi cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo mới xuất bản, mà trước đó tôi chỉ đọc loáng thoáng trên báo chí ở hải ngoại.
Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không chỉ đơn thuần là cuốn tiểu thuyết miêu tả cảnh nghèo khó, cùng bĩ của một gia đình trí thức Hà Nội vào đầu thập niên 80. Kì thực, tầm vóc của cuốn tiểu thuyết lớn hơn thế nhiều, bởi nó đã vượt qua đường biên của những tranh chấp chính trị thấp kém, những ý thức hệ ngông cuồng, những cuộc chém giết bạo tàn, những hận thù chồng chất, và nhất là nó dám trực diện với cái bản ngã vẫn nằm ẩn nấp trong mỗi chúng ta mà bằng cách này hay cách khác chúng ta chối bỏ, không chịu nhìn nhận nó là một phần con người.
Tác giả gọi cái bản ngã ấy là Trư cuồng. Và nếu định nghĩa tiểu thuyết là cuộc truy tìm bản ngã thì cái tố chất lợn cuồng điên ấy đã được Nguyễn Xuân Khánh lật phải lật trái lật ngang lật dọc, đã được đặt dưới ống kính hiển vi cho chúng ta ngắm nhìn, quan sát kĩ càng, tường tận. Không nhìn ra nó, phần lỗi ấy chẳng những bởi thị lực và tâm trí chúng ta yếu kém mà còn vì chúng ta đã tự đóng chốt xây một hàng rào thành kiến che kín lương tri :  
Nhật ký này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nghề nuôi lợn. Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái ‘húy’ gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu, tuy chưa đến tuổi . . .”
Qua những trang sách sau đó chúng ta biết ông Hoàng sống với mẹ già, vợ và bốn con trong một căn nhà tồi tàn ở ven đô Hà Nội. Nhà ông Hoàng nghèo lắm, và như rất nhiều người dân Hà Nội thời bấy giờ, ông xoay ra nghề nuôi lợn.
Ông Hoàng có hai người bạn thân, ông Lân và ông Tám. Ông Lân là một thương binh, nuôi lợn gần như chuyên nghiệp, chính ông là người chua chát buông câu nói : “Sống với lũ lợn còn thấy vui hơn.”
Còn ông Tám là một giáo viên dạy sinh vật cấp ba, nhưng tính tình ông gàn bướng, thậm chí hơi bất thường. Đang dạy học, ông xin nghỉ ngang nằm nhà viết sách về lợn mà ông gọi là Bách khoa lợn. Ông Hoàng thi thoảng nhận được một trích đoạn Bách khoa lợn mà càng đọc ông càng khiếp hãi ».
RFI : Nếu như chuyện nuôi lợn của ông Hoàng chỉ có thế thì chắc chẳng có gì đáng nói. Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh là cuốn tiểu thuyết đa tầng : ở tầng thứ nhất là cảnh nghèo, nhưng chúng ta nên đọc nó như thế nào để thấu triệt được những điều tác giả muốn nói đến ở tầng cao hơn ?
Trịnh Y Thư : « Thưa đúng vậy, tác giả ở đây đã không cho phép chúng ta lười lĩnh tự ru ngủ với một câu chuyện tuy thương cảm, bi thiết nhưng nói cho cùng chẳng qua chỉ là chuyện thời cuộc thế gian xoàng xĩnh. Tác giả không dừng ở đấy, ông bắt chúng ta phải trực diện một vấn nạn gai góc, khó nhằn hơn nhiều: cái bản ngã lợn hay Trư cuồng, nói theo ngôn từ của ông.
Câu chuyện nuôi lợn của ông Hoàng bắt đầu đi vào giai đoạn có nhiều biến cố từ khi ông mua thêm một con lợn con có đôi mắt như mắt bò và lớp lông màu hung vàng như “cỏ tranh vàng khô vào mùa lá rạc ở Tây Bắc” mà ông đặt tên là Lợn Bò.
Ông đã có sẵn trong chuồng ba con lợn ỉn. Lúc mới về Lợn Bò chịu lép vế ba con lợn ỉn, không dám tranh ăn, khi nằm ngủ phải tìm góc chuồng dơ bẩn, thậm chí còn bị ba con kia cắn tai, húc mõm vào bụng. Nhưng con Lợn Bò ăn hăng lắm, nó tận tình vét máng mỗi lần ăn và nhờ thế tăng trọng nhanh chóng hơn ba con kia. Một hôm khi đã to khỏe đủ, nó đánh lại ba con lợn ỉn và cuộc chiến tranh trong chuồng lợn bùng nổ » .
Từ chuồng lợn đến vai trò của người nắm quyền lực
Trịnh Y Thư : « Cái chuồng lợn nhà ông Hoàng không khác cuộc đời ngoài kia bao nhiêu, nó là sân khấu chính trị, với tất cả những đấu tranh hận thù tàn bạo mà kẻ mạnh có toàn quyền “cắt tiết” những kẻ yếu hơn mà không chịu suy tôn thần phục chịu làm nô lệ cho mình. Ông Hoàng suy ngẫm. Thoạt tiên là ý nghĩ về từ “đồ tể.” Qua những trang viết rời từ cuốn Bách khoa lợn không bao giờ xuất bản của ông Tám, ông Hoàng nghiệm ra ý nghĩa khiếp hãi của vai trò người nắm quyền lực trong tay:
“Tìm từ nguyên của từ ‘đồ tể’ thấy gồm hai thành tố: tiền tố ‘đồ’ và hậu tố ‘tể’. Riêng hậu tố ‘tể’ chỉ thấy hiện diện trong hai từ khác: chúa tể và tể tướng. Hóa ra anh làm nghề giết lợn lại có họ hàng gần với những bậc chí cao: ông vua và quan đại thần tột bậc.
Họ gần gũi nhau ở điểm gì? Xét cả ba nghề làm vua, làm quan, giết lợn, thì thấy cả ba giống nhau ở chỗ đều có quyền giết chóc kẻ khác. Vua và tể tướng có quyền giết dân, đồ tể có quyền giết lợn. Giết người là một quyền uy to lớn nhất, tối cao nhất trong mọi quyền. Suy cho cùng, có thể nói nghề vua quan cũng là một thứ nghề đồ tể; chỉ có khác, đối tượng giết ở đây là con người.”
« Trong tim ai cũng có sẵn một anh đồ tể »
Trịnh Y Thư « Qua con Lợn Bò, ông Hoàng bắt đầu nhìn thấy hình ảnh của Trư cuồng. Đây là ẩn dụ chính trong cuốn tiểu thuyết nhiều ẩn dụ này. Hình như bất cứ ai cũng có thể là một anh đồ tể, trong tim ai cũng lấp ló một anh đồ tể sẵn sàng chém giết không gớm tay. Cái xấu, cái ác tràn ngập thế gian. Tuy vẫn còn u minh mờ mịt, ông mơ hồ cảm nhận được trong con người ông “thiếu vắng một cái gì rất cơ bản mà ông không sao xác định nổi.” Ông run rẩy vì “chợt có lúc thoáng thấy nỗi sợ hãi của phi nhân…” Ông vẫn yêu thương cuộc đời, vẫn yêu hình ảnh con sông Đuống mộng mơ của bạn ông, hay những dãy phố cổ nghiêng nghiêng trong tranh người bạn khác, nhưng ông muốn “vươn khỏi cái hạn hẹp để hành trình đến cái đích thực nhân đạo.” Mơ hồ nhưng day dứt, ông bị điều ấy hành hạ ngày đêm ».
Trong chương trình kỳ tới, RFI Việt ngữ xin được tiếp tục nói chuyện với nhà thơ Trịnh Y Thư về Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh, để tiếp tục khám phá thêm những ẩn dụ khác từ « chuồng lợn » lan ra xã hội bên ngoài.


Phần 2 .
Trịnh Y Thư : "Cái chuồng lợn nhà ông Hoàng không khác cuộc đời ngoài kia bao nhiêu, nó là sân khấu chính trị, với tất cả những đấu tranh hận thù tàn bạo mà kẻ mạnh có toàn quyền “cắt tiết” những kẻ yếu hơn (…). Qua những trang viết rời từ cuốn Bách khoa lợn, ông Hoàng nghiệm ra ý nghĩa khiếp hãi của vai trò người nắm quyền lực trong tay".
Kỳ trước chúng ta đã bắt đầu câu chuyện với nhà thơ Trịnh Y Thư về tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, nhà xuất bản Nhã Nam, phát hành tháng 10/2016. Như đã giới thiệu Chuyện ngõ nghèo được viết trong cái thờ kỳ mà cả Hà Nội đang “lên cơn sốt nuôi lợn”, khi mà nhân vật Hoàng “mê sảng đi vì lo tiền”.
“Giá cả hàng hóa của Hà Nội leo thang vùn vụt. Tôi ghi chép lại đây những con số đầy ý nghĩa với cuộc sống gia đình tôi : Su hào, một đồng một củ - Khoai lang, 22 đồng một yến (...) - Rau muống lợn 1 đồng 5 hào một mớ (...) Ôi chao toàn tiền là tiền. Tiền tiêu như rác, một nắm bèo cũng có giá. Trong khi đó, lương tôi được hơn 60 đồng, lương vợ tôi 70 đồng. (...) Chỉ những con số ấy cũng đủ biện hộ cho công việc nuôi lợn, mê say lợn của tôi. Cơn lợn của tôi là tất yếu, là con đường cứu sống gia đình tôi”.
Nhưng Chuyện ngõ nghèo không chỉ là một tác phẩm nói về Hà Nội thời bao cấp mà đó là một sáng tác với nhiều ẩn dụ từ chuồng lợn của gia đình ông Hoàng, lan tỏa ra xã hội bên ngoài.
RFI tiếng Việt rất hân hạnh được gặp lại nhà thơ Trịnh Y Thư để cùng tìm hiểu thêm về những chiều kích khác của một tác phẩm mà ở đó, “bản tính người” trong mỗi chúng ta liên tục bị đe dọa.
Trịnh Y Thư : Ngoài chuyện vật vã với cuộc sống cùng cực, ông Hoàng còn bị thường xuyên gọi lên “làm việc” với an ninh. Người ta vẫn không để yên cho ông. Chỉ vì một câu nói “Que faire?” cách đấy mươi năm người ta quy kết lên đầu ông tội “chống tổ chức”, một cái tội mơ hồ không bằng cớ, không nhân chứng, không luật sư biện hộ, không thẩm phán, không bồi thẩm đoàn. Một tòa án cũng không mà chỉ là gian phòng thẩm vấn hỏi cung lạnh lẽo trơ trịa một chiếc bàn xấu xí.
Có lần ông Hoàng bị mời lên an ninh làm việc, và người làm việc với ông là một cán bộ đứng tuổi, giọng nói ấm áp, gương mặt đôn hậu có thiện cảm. Nhân thế ông không ngần ngại trút ra những suy nghĩ của mình:
“…Đất nước chúng ta đang rơi vào một chủ nghĩa hư vô. Người ta đã dè bỉu, rồi xóa bỏ tất cả những cái nhân đạo xưa, để thay thế vào đó bằng một thứ chủ nghĩa nhân đạo mới, ở đó bóng dáng con người mờ nhạt. Người ta vẫn rao giảng một cái gì đó quá ư khoa trương, đẹp như một ống kính vạn hoa, để rồi con người soi mình vào đó và không thấy khuôn mặt mình ở đâu cả. Cái áo quá đẹp ấy không hợp với kích cỡ con người. Chúng tôi chán ngấy sự ồn ào mĩ miều và chỉ thèm khát một tấm áo giản dị nhưng vừa vặn. Chúng tôi chỉ thèm một thứ nhân đạo đích thực, ở đó người nào nhìn vào cũng thấy khuôn mặt của mình.”
Và ông Hoàng nói thêm:
Sự tham vọng quá lớn, định làm những điều quá to tát, không hợp kích cỡ ở thế gian này, đã đẩy chúng ta vào ngõ cụt. Đất nước đang gặp thất bại và sẽ còn khó khăn. Nhưng cho dù, về mặt vật chất, dù có thành công chăng nữa thì tôi cũng xin nói rằng: Cách mạng sẽ chỉ đẹp đẽ và hấp dẫn khi nó nhân đạo hơn, dân chủ hơn, vừa tầm vóc con người hơn mọi lí tưởng khác.”
Khi phi lí  trở thành chân lí
RFI : Liệu cuộc “trao đổi” giữa ông Hoàng và người cán bộ già ấy có đem lại kết quả thực tiễn nào không, ít nhất về mặt lí luận?
Trịnh Y Thư : Dĩ nhiên là không. Tôi có cảm tưởng hai người tuy nói cùng ngôn ngữ nhưng không ai hiểu ai, mỗi người như có một hệ cơ số riêng, và không hề có sự đả thông tư tưởng. Lỗi ở ông Hoàng ngây thơ, hay ông còn chút hi vọng vào lẽ phải và sự hợp lí?
Cũng như nhân vật K. trong cuốn tiểu thuyết Vụ xử án của Franz Kafka, ông Hoàng tin vào sự hợp lí, tin hợp lí sẽ chiến thắng phi lí, nhưng vô cùng khốn nạn cho hai người, ở đây cái phi lí mới được tôn sùng, nó là chân lí tuyệt đối, là lẽ sống, là lí tưởng cho mọi người noi theo.
Trong cuốn tiểu thuyết 1984 của nhà văn người Anh, George Orwell, viết năm 1948, ba khẩu hiệu của Đảng được phổ biến khắp nơi, bắt cư dân ghi nhớ: Chiến tranh là hòa bìnhTự do là nô lệNgu dốt là sức mạnh. Nghe phi lí quá, phải không, thưa chị? Khẩu hiệu gì mà nghe trái với đạo lí, luân lí thông thường thế.
Điều nguy hiểm chết người nằm ở đấy. Một hôm, cái phi lí biến thành hợp lí, cái phi lí nghe thuận tai, cái phi lí trở nên chân lí.
Sự thật được hiểu bằng doublethink (từ do Orwell sáng chế ra), tư duy hai chiều, chiều nào cũng đúng, bởi Sự Thật không nằm trong tủ chè hay kệ sách nhà bạn mà nằm dưới tầng ý thức, dưới cả tầng tiềm thức, thậm chí có thể là tầng vô thức trong não bộ của bạn.
Lúc điều phi lí nghe thuận tai là lúc Đảng chiến thắng toàn diện, Đảng trên hết, Đảng là chúa “tể”, và con người vĩnh viễn nằm trong quỹ đạo của Đảng. Đó là số phận của K., của anh chàng Winston Smith và của ông Hoàng.
"Tố chất Lợn"
RFI : Qua chuyện tất cả những bộ sách của những tác giả được ông Hoàng kính trọng nhất, đều lọt cả vào bụng của con Lợn Bò, phải chăng đằng sau những câu chuyện cười ra nước mắt của các ông Hoàng, Lân hay Tám, là lời cảnh cáo về "tố chất Lợn" trong mỗi con người ?
Trịnh Y Thư : Con Lợn Bò đặc biệt thích ăn bằng tiền bán bộ truyện kiệt tác Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky. Đây là một ẩn dụ khác tuy buồn cười nhưng hết sức chua xót. Dostoyevsky - người nói câu “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” - có lẽ là nhà văn được ông Hoàng kính trọng nhất. Đối với ông, Dostoyevsky là biểu tượng của Chủ nghĩa nhân đạo đích thực và ông tận mắt nhìn thấy cái chủ nghĩa ấy đang bị con Lợn Bò nuốt chửng.
Dostoyevsky nói câu nói ấy thường dễ trên trăm năm rồi, nhưng thế giới đã được cái đẹp cứu rỗi chưa, con người đã được giải phóng chưa hay vẫn đắm chìm trong cái xấu xa, con Lợn Bò vẫn ngự trị, sự bẩn thỉu tràn lan, để đi đến hậu quả con người dần dà đánh mất hết phẩm giá và đức hạnh ».
RFI : Phần 2 của tác phẩm, tác giả gọi là Hành trình vào Hỗn mang, là những giấc mơ của ông Hoàng trong cơn ốm đau mê sảng, nhưng đan xen vào những giấc mơ lại là những hồi đoạn rất thật.
Trịnh Y Thư : Có thể xem đấy là những truyện ngắn đứng riêng lẻ, nhưng lồng vào tổng thể cuốn tiểu thuyết, chúng tạo thành thế hỗ tương chặt chẽ bởi chủ đề của những truyện ngắn tưởng như độc lập ấy không đi chệch ra khỏi chính truyện bao nhiêu: Cái tính thèm nhìn máu đổ, dù là máu lợn, của người dân làng trong Hội làng; cái chất “đồ tể” nguyên thủy nơi con người ông Tí Giò trong Bãi chết; phẩm chất cách mạng chân chính của người bạn tên Vinh trong Người khổng lồ vác nặng.
Giữa ông Tí Giò và ông Vinh là một đại dương khác biệt, hai con người tượng trưng cho hai thái cực nhân cách, như trắng và đen, như ngày và đêm. Nhưng thực tại cuộc sống cho thấy đa phần con người chúng ta không trắng đen rành rọt mà xám, và phải chăng chính cái màu xám bi đát đó đã khiến chúng ta vĩnh viễn thất lạc trong cõi Hỗn mang?
Ông Tí Giò có đứng xa cả trăm thước thì đứa trẻ con lên ba cũng biết và khóc ré lên vì khiếp sợ (thật ra ông Tí Giò là kẻ đáng thương hơn đáng ghét), còn những con lợn-người thì mặc những bộ áo xống đẹp đẽ lịch sự nhất, khoác những cái mặt nạ hiền hòa nhân hậu nhất, nói to vào máy vi âm những lời lẽ nhân đạo nhất cho mọi người cùng nghe, và chúng ta đứng dưới vỗ tay thật to tán thưởng.
Cái thâm độc nhất của lợn-người là biết khai thác một cách đầy hiệu quả chất lợn của lợn thật (ông Tí Giò chẳng hạn), và bởi Lịch sử được viết theo góc nhìn của lợn-người nên sự quang vinh của lợn-người sẽ được muôn đời ca tụng. Sự thật không hề hiện hữu trong thế giới lợn-người.
RFI : Cái tố chất lợn-người ấy, nó còn hiện hữu ở nơi đâu ?
Trịnh Y Thư Nhân thuật chuyện ông Tí Giò, tác giả có tạt qua việc Cải cách ruộng đất hồi đầu thập niên 50 ở miền Bắc. Sách vở về chuyện này đã có nhiều, hư cấu cũng như phi hư cấu, nhưng không mấy ai nêu lên luận điểm chìa khóa mà Nguyễn Xuân Khánh nói đến ở phần này của cuốn tiểu thuyết, dù chỉ thoáng qua.
Qua suy nghĩ của Thái lúc trước khi bị đem ra xử bắn “Anh cảm thấy thương hại sự vô ơn của những con người ấy. Chính vì những con người ấy mà bao năm nay anh lăn lộn xả thân...” hiển lộ một trong những thuộc tính cơ bản nhưng thường được khéo léo che giấu của con người. Những người nông dân ngày thường thật thà chất phác ấy, ai ngờ lúc lâm sự có thể đẩy kẻ vô tội vào chỗ chết, và họ khoái trá, thậm chí cuồng điên sôi máu khi chứng kiến kẻ xấu số lãnh nhận cái chết đau đớn oan khiên. Họ chen nhau vào pháp trường, kể cả những đứa trẻ, để mục kích cảnh tượng khiếp hãi ấy.
RFI : Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có thể đem so với những tác phẩm văn học quốc tế nào cùng thể loại?
Trịnh Y Thư : Cuộc Hành trình vào Hỗn mang đưa ông Hoàng vào một xứ lạ có tên gọi là Cực Thiên Thai. Đọc đoạn văn này của Nguyễn Xuân Khánh, tôi có cảm tưởng nó là tổng hợp của ba cuốn tiểu thuyết kinh điển của phương Tây về thể loại này: cuốn Chúng ta của nhà văn Nga Yevgeny Zamyatin, cuốn Thế giới mới dũng cảm của Aldous Huxley, và cuốn 1984 của George Orwell.
Cả ba đều gay gắt phê phán một thế giới thuần nhất, trong đó con người là những cỗ máy, tên tuổi chỉ là những mã số được chỉ định từ lúc lọt lòng mẹ, không có tình yêu hay gia đình mà chỉ biết ăn, thở và lao động.
Nguyễn Xuân Khánh cũng không chấp nhận một thế giới như vậy, một thế giới con người đóng vai Thượng đế, cho dù chỉ có tiếng cười và niềm vui. Một thế giới không nước mắt là một thế giới phi nhân, nơi đó con người là phi-chân-diện-mục. Một thế giới trong đó xã hội là một hệ thống quan liêu với mục tiêu tối thượng là bắt con người trở nên vô cảm, không có tâm hồn, mất hết mọi ý niệm cá nhân chủ nghĩa. Một thế giới trong đó giới lãnh đạo là những kẻ chỉ biết quyền lực, đối với họ quyền lực không phải phương tiện mà là cứu cánh.
RFI : Thông điệp của Chuyện ngõ nghèo là gì?
Trịnh Y Thư : Đoạn kết cuốn sách, cũng là phần kết Nhật kí lợn, chúng ta thấy chuyện nuôi lợn của gia đình ông Hoàng phải chấm dứt, một kinh nghiệm kinh doanh thảm bại, và cậu Linh quyết định giết con Lợn Bò bán thịt để lấy tiền thuốc thang cho bố. Tôi rất thèm được nghĩ chuyện cậu Linh giết con Lợn Bò là một ẩn dụ Nguyễn Xuân Khánh muốn gửi gắm vào thế hệ tương lai, cái độc tố Trư cuồng ấy phải chấm dứt, chỉ có cách giết chết nó mới làm đẹp xã hội loài người được, và chỉ có thế hệ tương lai mới làm được chuyện đó.
Cũng như các tác phẩm văn học quan trọng khác, cuốn tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh mang nhiều chiều kích. Ngoài chiều kích lịch sử, xã hội, chính trị, nó còn hàm ẩn chiều kích tiên tri.
Từ 35 năm trước, lúc nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hoàn tất cuốn sách hay bây giờ cũng thế, Trư cuồng là một lời cảnh báo của tác giả đến chúng ta, một lời cảnh báo cực kì cấp bách. Nếu lịch sử không thay đổi đường đi của nó thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ mất hết những phẩm chất con người, biến thành những cỗ máy vô hồn mà chính chúng ta hoàn toàn không nhận biết.
Nguyễn Xuân Khánh đã can đảm lột trần cái xấu xa nhất của con người: cái bản ngã lợn. Trong mắt nhìn của ông thì đấy là căn nguyên của những vấn nạn gai góc chúng ta đang trực diện trong cuộc sống con người.
Phải chăng ông là người theo lí tưởng chủ nghĩa bởi, với tất cả những bằng chứng lịch sử từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay, con người vốn ác. Nhưng lí tưởng của Nguyễn Xuân Khánh còn là một lí tưởng nhân đạo đích thực và chính cái lí tưởng ấy đã giúp ông tiếp tục chiến đấu trong những điều kiện khó khăn, ngặt nghèo nhất.
Vì lí tưởng có lúc ông như lên đồng không phân biệt được đâu là thật đâu là giả. Vì lí tưởng ông đã bị quẳng vào đáy sâu của ngục tù. Song, thể xác ông có thể bầm dập vì bạo lực, cường quyền, nhưng lí tưởng đã giúp ông bền bỉ vác thập tự giá bước đều trên con đường thánh ông tự định hướng cho mình.

Nguyễn Xuân Khánh không thể bỏ cuộc khi chính cái lí tưởng của ông bị đe dọa và vi phạm. Có thể con đường thánh đó không bao giờ đưa ông đến điểm cuối, điểm hẹn của những linh hồn thánh hóa, nhưng điều đó không quan hệ.
Đinh La Thăng sanh ngày 10.4.160 . 
ĐINH = 4 1 5 5 = 15 = 6
LA = 3 1 = 4
THĂNG = 4 5 1 5 3 = 18 = 9 
Tổng cộng : 6 + 4 + 9 = 19 .
Ý NGHĩA CỦA SỐ 1 9
VUA CỦA THIÊN ĐÌNH (THE PRINCE OF HEAVEN)
19 là một trong những số rất may mắn và thuận lợi (favorable) . Số này được tượng trưng bởi Mặt Trời ,và còn được gọi là Vua của Thiên Đình bởi vì nó chỉ ra sự thắng lợi trên tất cả những thất bại và thất vọng (disappointment) tạm thời . Số này ban cho người và thực thể (entity) mang số này với tất cả quyền lực của số 10 , mà không chịu sự nguy hiểm của lạm dụng vốn có trong số 10 . Số này sẽ hứa hẹn hạnh phúc và thành đạt (fulfillment) – là thành công trong mọi việc kinh doanh/mạo hiểm (ventures) cũng như trong cuộc sống cá nhân . Dỉ nhiên , nếu tên của bạn bằng 19 , số này phải được xem xét cùng với ngày sanh , có thể là một số không may mắn . Không có gì là hoàn hảo trên đời này , nhưng dù cho con số kia có ảnh hưởng tiêu cực đi nữa , số 19 sẽ giúp mọi việc của bạn trở nên dễ dàng và hóa giải tối đa bất cứ tác động tiêu cực nào - do con số kia mang lại , mà bạn sẽ gặp trên đường đời .
II/ Do ông có ngày sanh là 10/4 nên ông chịu tác động của số 10 mà nội dung chánh là "lên voi xuống chó" .
Ý NGHĩA CỦA SỐ 10
BÁNH XE ĐỊNH MẠNG
(THE WHEEL OF FORTUNE)
Số 10 được tượng trưng bởi Isis và Osiris . Số của thăng trầm , tùy theo ước muốn cá nhân . Sự việc có thể tốt hay xấu , tùy theo hành động đã chọn . Số 10 có thể kích thích (arousing) những đáp ứng (responses) quá mức trong tình yêu hoặc thù hận – kính trọng hay sợ hãi . Không có biên giới rõ rệt giửa danh dự và tủi nhục . 10 là tượng trưng của Tình yêu và Ánh sáng , có thể tạo ra tất cả những gì bạn có thể tưởng tượng hoặc hình dung (imagined) . Hãy tưởng tượng (image) một điều gì đó và ra lịnh/quyết định (ordain) , nó sẽ thành hiện thực (materialize) . Quyền lực để bày tỏ những quan niệm có tính sáng tạo ( creative concepts ) trở thành thực tế là cố hửu ( inherent ) , nhưng quyền lực này phải được dùng với sự khôn ngoan , bởi vì quyền lực của sự sáng tạo tuyệt đối này cũng chứa đựng quyền lực đối nghịch ( polarity power) của sự hủy diệt tuyệt đối . Tự làm chủ mình (self-discipline) và lòng thương người vô hạn (infinite compassion) phải đi kèm quyền lực thứ nhứt để tránh thảm kịch của quyền lực thứ hai . Kỷ luật (Discipline) phải đi trước Thực thi quyền hành (Dominion) . Bất hạnh thay , một số người thuộc nhóm 10 đã không thực hiện được quyền lực đầy tiềm năng này , và kết quả là đã ấp ủ (harbor) những cảm xúc thất vọng khó lay chuyển (deep-seated) , đã làm cho họ cảm thấy không thỏa mản (unfulfilled) , và thỉnh thoảng đã bày tỏa sự hơi hảnh diện và kiêu căng để che dấu những cảm giác tự ty không cần thiết . / .
THƯ NGỎ GỬI CÁC QUAN THAM CSVN và gđ của họ đang sống tại Mỹ (trong đó có San Jose) , Úc , Canada và các nước khác .
HẢY CẢNH TỈNH TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN .
Con người (từ dân đến vua) , khi chết đi , không mang theo được gì sang thế giới bên kia ; họ sẽ bỏ lại tất cả : vợ/chồng , con cháu , tài sản , v.v... Cái mà họ để lại trên trần gian , chính là TIẾNG TỐT hay XẤU , hậu quả của VIỆC LÀM TỐT hay XẤU trong hiện tại .
Các ông/bà phải nhớ câu nói của người xưa : LƯU DANH THIÊN CỔ , LƯU XÚ VẠN NIÊN (tiếng tốt thì lưu ngàn năm , tiếng xấu thì 10 ngàn năm) hay câu :
Trăm năm bia đá thì mòn ,
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ .
Hãy cảnh tỉnh trước khi quá muộn .
Các ông/bà hãy đọc về sự tích Nhà Bè : nói về 1 ng sau khi biết mình quá nhiều tội lỗi , đã bỏ công sức giúp đở để giúp đở ng khác , trong đó có việc xây dựng Nhà Bè :