Saturday, February 15, 2020

TỪ ĐỀN BÙ THIỆT HẠI CỦA DÂN DA ĐỎ ĐẾN TÍNH TỰ LẬP CỦA TRẺ CON MỸ .
1/Như bạn đã biết : tổ tiên người Mỹ , có thời gần như tận diệt người Da Đỏ (American-Indians) . . . đưa ng sống sót vào các khu tập trung (reservation ) ở nơi hẻo lánh . . .
Từ nhiều thập kỷ , để đền bù nhửng thiệt hại - mà ng DD đã gánh chịu , cũng như để sửa sai , chuộc lại tội lỗi của tổ tiên mình , CP Mỹ đã có những chính sách ƯU ĐẢI dân Da Đỏ trong các lãnh vực như y tế , GD , XH , v.v...
Ở mọi TP , đều có 1 Phòng phụ trách về người DĐ , ở đó họ được cung cấp nhiều dịch vụ và phúc lợi HƠN CẢ các dân tộc khác . (Trong khi các DT khác ko có 1 phòng như vậy) .
Các sắc dân khác đều biết điều đó nhưng ko ai phàn nàn vì mọi người đều biết họ chỉ là ng nhập cư (immigrant) (kể cả Mỹ trắng , con cháu của những ng Âu châu đầu tiên đến nước Mỹ) , còn chủ nhân thật sự của đất nước này chính là người DĐ .
Các sòng bạc lớn (không tính LAS VEGAS) với cả ngàn máy kéo (slot machine) , đều được lập tại lãnh địa của dân DĐ bên ngoài các đô thị . Lợi nhuận được chia theo tỉ lệ thỏa thuận giửa bộ lạc (làm chủ vùng đất đó) và nhà đầu tư . Phần bộ lạc hưởng được chia cho các người dân trong BL . Theo thống kê , mỗi ng DĐ tại Mỹ được chia khoảng trên dưới 100.000 đô /năm (sic) !
Đây là tiền lời từ sòng bạc , không ăn nhập đến lợi tức do công việc của cá nhân đó tạo ra . Do vậy , nếu có đi làm thì có 2 lợi tức .
Người da trắng hay các sắc dân khác có thể bị homeless , v.v... nhưng người DĐ thì ko bao giờ vì họ có Phòng phụ trách DĐ lo cho họ + tiền lời sòng bạc . Tóm lại , vì được xem như chủ nhân của đất nước (master of the nation) , nên dân DD được nhiều dịch vụ, phúc lợi hơn sắc dân còn lại nhưng về trách nhiệm/nghĩa vụ thì họ cũng như ng Mỹ khác .
2/ CP Mỹ quan niệm chuyện cờ bạc là tự do của con người , CP ko cấm , chỉ quản lý mà thôi . Còn ai mê đánh bạc đến nỗi treo cổ hay đi cướp nhà băng là do họ quyết định . CP ko dạy ai phải làm điều này , ko làm điều kia ; điều đó do chúng ta lựa chọn và quyết định .
CP MỸ KHÔNG SUY NGHĨ VÀ QUYẾT ĐỊNH GIÙM CHO NGƯỜI DÂN .
(Nếu họ có quyết định thế cho dân là do dân ỦY NHIỆM (mandate) qua bầu cử phổ thông , trực tiếp và kín . Chứ ko phải như ĐCSVN nói , chúng tôi có công đánh đuổi thực dân , v.v... rồi suy nghĩ và quyết định "giùm" cho chúng ta !).
VD : ở TP tôi ở có nhiều quán nhậu có vũ sexy 100/100 . Họ hoạt động hợp pháp , có bảng hiệu và đóng thuế đầy đũ . Ai thích thì vào chứ các tôn giáo ko thể yêu cầu CP cấm vì vi phạm niềm tin tôn giáo . Đó là quyền tự do của cá nhân .
3/ Từ lâu , tôi đã quan sát cách dạy con của ng Mỹ . Ngay từ lúc con còn nhỏ , họ chỉ tư vấn cho trẻ con chứ ko làm thay chúng . Ví dụ : nhà trường đã dạy HS biết cách xử dụng hay quản lý đồng tiền . Khi nghĩ rằng chúng đã đủ trí khôn , cha mẹ cho tiền , còn tiêu xài như thế nào là tự chúng : chúng đi siêu thị với cha mẹ , tự tay chọn hàng , tự tay trả tiền , ko để cho cha mẹ trả (dù đó là tiền cha mẹ cho) . Bởi vậy , có những đứa khoảng 10 tuổi đã dùng internet để lập FUND để cứu trợ bão lụt hay làm những gì mà chúng nghĩ có lợi cho cộng đồng , theo suy nghĩ thông thường (common sense) của chúng ; cha mẹ ko can thiệp vào việc làm của chúng . Các bạn ở VN sẽ lạ lẫm khi biết như vậy !
Tóm lại , ngay từ nhỏ , chúng đã học TỰ LẬP , không chịu để ng lớn quyết đinh thay chúng ; chúng cũng biết những quyền lợi và trách nhiệm của chúng đối với xã hội .
Theo 1 bài báo đăng trên 1 website lề phải ở VN , ngay từ mẫu giáo , trẻ con Mỹ đã học về Nhà nước Pháp quyền , cách phát biểu suy nghĩ của mình , lắng nghe ý kiến khác biệt , tôn trọng sự công bằng , giải quyết mọi tranh chấp bằng lời nói , lý lẽ , không dùng sức mạnh , v.v...
Ở một XH như vậy , làm sao mà tham nhũng và lạm quyền có thể phát triển đại trà , công khai và ngày càng tệ hại hơn (như VN hiện nay) . Tôi ko nói ở Mỹ hay các nhà nước pháp quyền khác ko có TN hay LQ , nhưng mức độ thấp và kín đáo . TT Hollande chỉ mới lén lút thăm thăm bồ mà báo chí làm ầm . . . Nhà bồ nhí - ko do ông sắm , cô ta có lợi tức do đóng phim . . .ko như các bà lớn VN chạy áp phe hay mua quan bán tước mạnh bạo . . . được đăng trên hoangtrunghaihuelua.blogspot.com - mà ng viết là đồng nghiệp hay từng làm ở cơ quan của ng bị tố cáo .
Trận Phước Long đầu năm 1975 - mở đường cho sự sụp đổ của VNCH .
TB. Tôi luôn nhớ ơn những quân dân cán chính VNCH đã chết, mất tích hay bị thương trong trận Phước Long kéo dài từ tháng 12/1974 đến 6/2/1975. Nhờ sự hy sinh của họ cũng như hy sinh sau đó của quân dân các tỉnh thành trong tháng 3 và 4/75 nên mấy triệu người mới có cơ may định cư ở các nước giàu có.
San Jose ngày 15/2/20
—————
Hai ảnh sau trên báo ĐCSVN:
Chiến sĩ QĐ 4 cắm cờ “Quyết chiến Quyết thắng” trên Dinh Tỉnh trưởng Phước Long lúc 10 giờ 30 phút ngày 6-1-1975. Ảnh: T.L

Xe tăng trong đội hình Đại đội Tăng 10 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thành chỉ huy cùng bộ binh tấn công vào Dinh tỉnh trưởng PL ngày 6-1-1975.     Ảnh: T.L
Tài Trần : Sau đây là bản tường trình khá đầy đủ về trận Phước Long , tương đối khách quan của phe thắng cuộc hay quân xâm lăng CSBV. Có những chi tiết rất nhiều người chưa biết (kể cả tôi vì lúc đó tôi chiến đấu ở sư đoàn 7 bộ binh VNCH) về sự chống trả rất anh dũng nhưng trong tuyệt vọng của các đơn vị cấp tiểu đoàn hay đại đội của sư đoàn 5 , 18 và 25 bộ binh , liên đoàn 81 BCD , không quân , pháo binh và thiết giáp M-113 thuộc QL VNCH.
"Chiến dịch đường 14-Phước Long là trận đụng độ quân sự lớn giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa diễn ra trên địa bàn tỉnh Phước Long trong chiến tranh Việt Nam, kết quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam] chiến thắng và chiếm được Phước Long. Tuy không nằm trong chiến dịch Tây Nguyên nhưng trận Phước Long (từ đêm 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975) có ý nghĩa như một trận đánh trinh sát chiến lược, thử sức đối với hai bên cũng như thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ để mở đầu cho những diễn biến tiếp theo của Chiến dịch Mùa Xuân 1975 đưa đến sự sụp đổ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Địa bàn tác chiến
Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt khu thủ đô Sài Gòn-Gia Định Ở cách Sài Gòn khoảng 120 km về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây cũng là địa bàn hoạt động của các lực lượng thuộc Mặt trận Đông Nam Bộ (B2) sau này được tập hợp thành Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Phước Long có vai trò chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Đông Nam Bộ. Giống như Bình Long với trung tâm phòng thủ là An Lộc, Phước Long gồm các chi khu quân sự Đôn Luân (Đồng Xoài), Bố Đức, Đức Phong, quận lỵ Phước Bình, thị xã Phước Long và căn cứ Bà Rá nằm trong tuyến phòng thủ từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa để bảo vệ Sài Gòn và các tỉnh đông dân trù phú ở Nam Bộ. Do có các giao lộ của đường số 2(cũ) nối với đường 14 qua ngã ba Đồng Xoài và của đường 311 nối với đường 14 qua ngã ba Liễu Đức; Phước Long là điểm án ngữ, ngăn chặn hành lang vận tải của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam qua Lào và Campuchia vào Đông Nam Bộ; đồng thời giữ vị trí chia cắt thế liên hoàn của các vùng do Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm lĩnh, cô lập vùng Lộc Ninh với các vùng Nam Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông khác.7
Binh lực các bên tham chiến
Bản đồ hành chính Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, Phước Long nằm tiếp giáp với Bình Long, Quảng Đức, Long Khánh, Lâm Đồng và Campuchia
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Các đơn vị chiến đấu
Nhiệm vụ mở trận đánh tại Phước Long được Bộ Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam giao cho Quân đoàn 4 (của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh kiêm chính ủy. Đây cũng là trận đánh lớn đầu tiên của đơn vị này từ ngày thành lập (20 tháng 7 năm 1974). Để chuẩn bị tác chiến tại khu vực Phước Long, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 đã rút ra từ các sư đoàn và trung đoàn trực thuộc một lực lượng xung kích mạnh gồm có:
Sư đoàn 3 (sau này là sư đoàn 302) chỉ có hai trung đoàn (271 và 201) được phối thuộc trung đoàn 165 (sư đoàn 7) là đơn vị chủ công của đợt 1, được tăng cường một đại đội xe tăng T-591 đại đội pháo hỗn hợp 105 mm và 85 mm, một tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 mm và 12,7 mm.
Sư đoàn 7 bộ binh (chỉ còn hai trung đoàn 141 và 209) được phối thuộc trung đoàn 2 (sư đoàn 9) là lực lượng chủ công đợt 2. Các đơn vị này được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng gồm 14 chiếc, trung đoàn 210 pháo binh hỗn hợp các loại pháo 105 mm, 122 mm, 85 mm và súng cối các cỡ 120 mm, 160 mm; 1 tiểu đoàn phòng không hỗn hợp pháo cao xạ 37 mm và súng máy phòng không 14,5 mm.
Trung đoàn 429 đặc công;
Trung đoàn công binh 25;
Các đoàn hậu cần 210 và 235 (tương đương trung đoàn).
Sư đoàn 9 bộ binh gồm 3 trung đoàn bộ binh 1, 2 và 16.8
Phương án tác chiến
Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 dự kiến trận đánh sẽ diễn ra theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: tấn công đánh chiếm các cứ điểm phòng ngự vòng ngoài của QLVNCH xung quanh Phước Long gồm: Chi khu quân sự Bù Đăng, cứ điểm Bù Na, quận lỵ Bố Đức, chi khu quân sự Đức Phong, chi khu quân sự Đôn Luân (Đồng Xoài cũ); kiềm chế căn cứ quan sát của pháo binh tại núi Bà Rá.
Giai đoạn 2: đánh thẳng vào thị xã Phước Long, chi khu quân sự Phước Bình, và căn cứ Bà Rá, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.8
Trong cả hai giai đoạn của trận đánh, các đơn vị vòng ngoài tổ chức cắt đứt các đường giao thông đến Phước Long: đường số 14, liên tỉnh lộ 1, liên tỉnh lộ 12, đường 311 và đường số 2 (cũ), tổ chức các trận địa phục kích ngăn chặn các lực lượng của các sư đoàn 5, 25 và 18 của QLVNCH kéo đến ứng cứu cho Phước Long. Các đơn vị khác thuộc Bộ tư lệnh Miền tổ chức các trận đánh phối hợp để kìm giữ các đơn vị chủ lực của Quân đoàn III - QLVNCH tại các căn cứ, cản trở tối đa, không cho các đơn vị này rảnh rỗi để ứng cứu cho Phước Long.9
Với hai lý do: 1) để tiết kiệm đạn (đặc biệt là đạn pháo) sẽ dành cho các chiến dịch lớn hơn trong năm 1975, 2) vừa đánh vừa thăm dò phản ứng của đối phương để kịp thời ứng phó, Tổng Quân ủy yêu cầu B2 không được sử dụng pháo lớn (130 mm) và xe tăng trong đợt 1. Vì vậy, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 phải điều chỉnh lại kế hoạch: chuyển mục tiêu Đồng Xoài từ hướng chủ yếu thành hướng thứ yếu, hành động tác chiến chủ yếu là kiềm chế, bao vây đối phương. Hướng tấn công chủ yếu của giai đoạn 1 được nhằm vào Chi khu quân sự Bù Đăng. Không gian chiến dịch trong giai đoạn 1 được thu hẹp.9 Theo trung tướng Hoàng Văn Thái, lý do là Bù Đăng và Bù Na là những căn cứ nhỏ, dễ công kích hơn và lại có khả năng thu được nhiều đạn pháo và pháo lớn để tiếp tục đánh Đồng Xoài (Đôn Luân).10
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tại tiểu khu Phước Long
Khu phòng thủ Phước Long thực chất là tiền đồn phía Bắc trong tuyến phòng thủ miền Đông Nam Bộ của Quân đoàn III - Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhưng do vị trí nằm ở tuyến tiếp giáp giữa Quân khu II với Quân khu III và cách xa các trung tâm tác chiến quan trọng (Sài Gòn-Gia Định-Biên Hòa-Bến Cát-Chơn Thành) nên Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ bố trí ở tiểu khu Phước Long 5 tiểu đoàn bảo an và 48 trung đội dân vệ. Trong đó: Các tiểu đoàn 341 và 352 giữ Đồng Xoài và kiểm soát đoạn đường 14 từ Đồng Xoài đến cầu số 12; tiểu đoàn 363 giữ Bù Na và kiểm soát đường 14 từ cầu 11 đến ngã ba Liễu Đức; tiểu đoàn 362 giữ Vĩnh Thuận và kiểm soát đường 1 từ ngã ba Liễu Đức đến Bù Đăng; tiểu đoàn 340 là lực lượng dự bị cơ động đóng trong thị xã Phước Long. Tiểu khu Phước Long cũng có một tiểu đoàn pháo binh riêng với tám khẩu HM-2 105 mm và bốn khẩu HM-3 155 mm với trận địa chính bố trí trong trung tâm thị xã.11
Các đơn vị tuyến sau
Cũng như trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, các lực lượng mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong đội hình Quân đoàn III có thể tăng phái cho quân phòng thủ tại Phước Long gồm các sư đoàn bộ binh 5, 18 và 25 trong đó có lữ đoàn thiết giáp số 2 và 7 thiết đoàn khác được bố trí từ Long An đến Biên Hòa thành một vòng cung xung quanh Sài Gòn từ ba hướng Bắc, Đông và Tây. Giữ cửa ngõ vào tiểu khu Phước Long chỉ có Liên đoàn biệt động quân số 31 đóng tại Chơn Thành, cách Phước Bình hơn 70 km đường bộ. Đơn vị lớn hơn có khả năng tiếp cận giải tỏa cho Phước Long nhanh nhất khi bị tấn công là sư đoàn 18 đóng ở Biên Hòa. Gần hơn nữa có sư đoàn 5 ở Bến Cát trong đó có một chiến đoàn đóng tại An Lộc. Tuy nhiên, đơn vị này phải chịu trách nhiệm phòng thủ hướng đường 13 nên khả năng tăng viện cho Phước Long bị hạn chế. Ngoài ra, Quân đoàn III còn có Liên đoàn biệt kích dù 81 với hơn 100 máy bay trực thăng các loại HU-1A và CH-47 đóng tại Biên Hòa làm lực lượng dự bị cơ động cho các hướng khi bị tấn công. Các máy bay phản lực tiêm kích - oanh tạc của các sư đoàn không quân số 3 và số 5 tại các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa có thể yểm hộ cho các lực lượng phòng thủ ở Phước Long chỉ sau hơn chục phút bay.12
Diễn biến trận đánh
Trên các tuyến phòng thủ vòng ngoài
Ngày 12 tháng 12 năm 1974, tiểu đoàn 4 của trung đoàn 165 (sư đoàn 7) đánh chiếm một tiền đồn của QLVNCH tại cây số 19 - đường 14 do một đại đội bảo an đóng giữ. Đêm 12 tháng 12, chi khu quân sự Bù Đốp bị tiến công bởi 1 đại đội đặc công QGP thuộc tỉnh đội Phước Bình. Đến ngày 16 tháng 12, các lực lượng bảo an của QLVNCH chiếm lại chi khu này nhưng không giải toả được vị trí bị cắt đứt tại cây số 19. Ngày 13 tháng 12, đại tá Nguyễn Thống Thành 13 , tiểu khu trưởng Phước Long đã đến kiểm tra Bù Đăng và ra lệnh nâng mức báo động từ "vàng" lên "da cam" đối với tất cả các đồn bốt của QlVNCH trong tỉnh.11 Do mưa lớn ngập đường chuyển quân, giờ G và ngày N mà Bộ Tư lệnh quân đoàn 4 dự kiến vào ngày 13 phải lui lại một ngày. Yếu tố bí mật bất ngờ không còn.
Rạng ngày 14 tháng 12, trung đoàn 271 (thiếu) của sư đoàn 302 nổ súng tấn công tiểu đoàn bảo an 362 - QLVNCH đóng tại Bù Đăng. Quân lực Việt Nam cộng hòa chống trả ác liệt nhất tại khu cửa mở. Phải sau hơn 2 tiếng đồng hồ và bị thương vong gần hết đại đội 12 (chỉ còn 11 người sau trận đánh), Các đơn vị của trung đoàn 271 mới lọt được vào bên trong khu phòng thủ.14 . Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, các đơn vị của Trung đoàn 271 đã tràn ngập chi khu quân sự Bù Đăng. Cũng trong ngày 14 tháng 12, các trung đoàn 165 và 201 (sư đoàn 7) sau một ngày đêm bao vây, tạo thế đã đánh chiếm căn cứ Vĩnh Thiện và khu hành chính Bù Đăng sau gần 2 giờ công kích.15
Ngày 15 tháng 12, hai tiểu đoàn đặc công thuộc trung đoàn 429 (B2) tấn công yếu khu Bù Na do một đại đội của tiểu đoàn bảo an 363 QLVNCH và 1 trung đội pháo binh đóng chốt. Tiểu đoàn bảo an 363 với sự chi viện từ trên không của 32 phi vụ cường kích do sư đoàn 5 không quân ở Biên Hòa thực hiện đã chống trả quyết liệt từ sáng đến chiều 15 tháng 12 nhưng vẫn thất thủ vì không nhận được sự chi viện nào từ Phước Long và Đôn Luân do đường 14 bị cắt đứt và hai cứ điểm này cũng đang bị vây lỏng. Trong trận này, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được 2 khẩu trọng pháo.16 Ngày 16 tháng 12, tướng Dư Quốc Đống bay lên thị sát Phước Long và tăng phái cho khu phòng thủ này tiểu đoàn bộ binh số 2 rút từ trung đoàn 7 (sư đoàn 5). Cùng ngày, đại tá Đỗ Công Thành tổ chức phản kích khai thông đường 14 nối với Bố Đức nhưng đều bị các lực lượng mạnh hơn của QGP đẩy lùi.17
Ngày 22 tháng 12, chi khu quân sự và quận lỵ Bố Đức do tiểu đoàn bảo an 341 đóng giữ bị tấn công và đánh chiếm lần thứ hai trong chiến dịch bởi các đơn vị của trung đoàn 165, sư đoàn 7 (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam). Cùng ngày các đồn quan trọng trên đường 14 như Phước Tín, Phước Quả, Phước Lộc thất thủ. Đại tá Thành điều tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 7) mới được tăng cường và 2 đại đội thám báo phản kích nhưng bị tiểu đoàn 6 (trung đoàn 165 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đẩy lùi, phải rút về núi Bà Rá cùng với số quân còn lại từ các đồn kể trên.18 Ngày 24 tháng 12, Tướng Dư Quốc Đống dự định điều 1 chiến đoàn của sư đoàn 18 lên giữ Phước Long nhưng không được Nguyễn Văn Thiệu chuẩn y vì theo lệnh của ông ta, mọi sự điều động các đơn vị cấp trung đoàn phải do chính tổng thống quyết định.19 . Tướng Đống đành phải ra lệnh cho chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ dùng trực thăng đưa 1 tiểu đoàn và 1 đại đội bộ binh rút từ sư đoàn 5 đổ quân xuống Đồng Xoài nhưng đã quá muộn, toàn bộ chi khu quân sự Đôn Luân đã nằm trong tầm bắn thẳng của các loại pháo, cối và súng máy của đối phương. Mặc dù được 48 phi vụ cường kích từ sư đoàn 5 không quân yểm trợ nhưng QLVNCH chỉ đổ được 1 đại đội xuống Đồng Xoài. Tướng Lê Nguyên Vĩ phải ra lệnh cho các trực thăng quay lại.17
5 giờ 37 phút sáng 26 tháng 12, chi khu quân sự Đôn Luân với 11 lớp rào thép gai, nhiều bãi mìn và hơn 50 chốt phòng thủ kiên cố đã bị các đơn vị của trung đoàn 141 (sư đoàn 7) tấn công từ bốn hướng sau 15 phút bắn phá đường của 7 khẩu pháo các cỡ 85mm, 105mm, 122mm và 4 khẩu cối 120 mm. Pháo binh QLVNCH ở căn cứ Phước Vĩnh bị trung đoàn pháo binh 210 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chế áp, không chi viện được. Hoả lực phòng không mạnh của tiểu đoàn 20 súng máy cao xạ đã hạn chế tối đa khả năng chi viện từ trên không của các máy bay A-1 và A-37 của Không lực VNCH. Đến 10 giờ 30 phút, chi khu quân sự Đôn Luân thất thủ. Thiếu tá Đặng Vũ Khoái, chỉ huy căn cứ chi khu Đôn Luân và nhiều sĩ quan dưới quyền thuộc tiểu đoàn bảo an 352 bị bắt làm tù binh tại Suối Rạt. Chiều 26 tháng 12, các đơn vị thuộc trung đoàn 141 (sư đoàn 7 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) phối hợp với trung đoàn 201 tiếp tục đánh chiếm các đồn Tà Bế, Phước Thiện, Cầu số 2 và sân bay trực thăng.20
Chỉ trong hai tuần, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã mất 4 mục tiêu quan trọng trên tuyến phòng thủ từ xa tại địa bàn tại Quân khu III. Ở phía Nam, các trung đoàn 209 (sư đoàn 7), 201 (sư đoàn 302) và sư đoàn 9 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chốt chặn các con đường đến Phước Long: đường 14, đường 7 ngang, đường 311, các liên tỉnh lộ số 1 và số 2. Quận lỵ Phước Bình và thị xã Phước Long hoàn toàn bị cô lập trên bộ với các đơn vị khác của QLVNCH tại Quân khu III.21
Tại khu trung tâm phòng thủ
Để giải vây cho Phước Long, QLVNCH cần ít nhất 1 sư đoàn hỗn hợp bộ binh, kị binh thiết giáp và quân dù nhưng trong tình hình các đơn vị tổng trù bị đã bị giam chân tại Quân khu I và Bắc Tây Nguyên, không thể điều động được nếu không có quyết định của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhận thấy tình hình nguy ngập tại Phước Long, ngày 29 tháng 12, đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đề nghị tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phê duyệt gấp bản kế hoạch phòng thủ Phước Long đã được đệ trình từ tháng 10 năm 1974. Kết quả là đại tướng Cao Văn Viên nhận được mấy lời phê vắn tắt: "Báo trung tướng (chỉ tướng Dư Quốc Đống) điều nghiên, tùy nghi quyết định. Cần lưu ý động viên các chiến hữu tử thủ".21 22
Khi những lời phê trên đây được chuyển đến tay tướng Dư Quốc Đống thì cũng là lúc Phước Long bị tấn công ngày 31 tháng 12 năm 1974. Khu phòng thủ Phước Long của QLVNCH dựa vào ba cụm điểm tựa chính là thị xã Phước Long, quận lỵ Phước Bình và căn cứ Bà Rá thành thế chân vạc yểm trợ cho nhau. Theo thuyết trình phòng thủ quân sự của đại tá Đỗ Công Thành, tỉnh trưởng Phước Long, mặc dù chu vi phòng ngự đã bị thu hẹp nhưng để nối liên lạc giữa các cụm phòng thủ này, còn phải giữ được các tuyến ngăn chặn ở Thác Mơ, Phước Lộc, các đường 309, 310... Đây là những điểm yếu của khu phòng thủ Phước Long.23
Từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 12, các đơn vị của Quân đoàn 4 đã hành quân đến các tuyến xuất quanh Phước Long và Phước Bình. Đến chiều 30 tháng 12, trung đoàn 165 (sư đoàn 7) đã tập kết ở phía Đông và Đông Nam Phước Bình; trung đoàn 141 (sư đoàn 7) dùng ô tô cơ động theo đường 2 cũ đến phía Bắc và Tây Bắc Phước Bình; trung đoàn 271 (sư đoàn 3) chặn đường 309 ở Thác Mơ; trung đoàn 16 từ Tây Ninh về bắc Sông Bé chuẩn bị hợp vây; tiểu đoàn 78 đặc công đã tập trung dưới chân núi Bà Rá; trung đoàn 2 (sư đoàn 9) và trung đoàn 209 (sư đoàn 7) làm lực lượng dự bị. Trong đợt 2 của chiến dịch đường 14-Phước Long, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được Quân ủy Trung ương cho phép sử dụng một đại đội pháo 130 mm với 1/2 cơ số đạn và 2 đại đội xe tăng T-54 (14 chiếc). Các loại súng lớn khác yểm hộ mặt đất cho cuộc tấn công có 12 khẩu pháo 85 mm, 105 mm, 122 mm và 8 khẩu cối các cỡ 120, 160 mm. Nhiệm vụ yểm hộ phòng không được giao cho trung đoàn 210 gồm một tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm, hai tiểu đoàn súng máy 14,5 mm và 12,7 mm.24
Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, các trung đoàn 165 (thiếu), 141 và tiểu đoàn 3, bộ đội địa phương Phước Long nổ súng tấn công Phước Bình. Tuy nhiên, tiểu đoàn 78 đặc công và trung đoàn 271 khai trận chậm hơn nên QLVNCH đã dùng pháo binh trong thị xã Phước Long được hiệu chỉnh bằng trinh sát pháo trên núi Bà Rá bắn cản đường. Chỉ huy trưởng tiểu khu Phước Long được chiến đoàn 7 (sư đoàn 5 QLVNCH) điều tiểu đoàn 1 từ chân núi Bà Rá đánh vào sườn tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 (trung đoàn 165 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) đang tấn công qua cửa mở. Trong khi trung đoàn 165 ở hướng Đông Nam Phước Bình phải dừng lại đối phó với cánh quân phản kích thì trung đoàn 141 từ hướng Tây Bắc tràn xuống đánh vào trung tâm quận lỵ. 13 giờ chiều ngày 31 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều 4 xe tăng T-54 yểm hộ cuộc tiến công. Một chiếc bị trúng mìn khi đi qua ngã tư chi khu, 3 chiếc còn lại đã hỗ trợ bằng hỏa lực bắn thẳng cho các tiểu đoàn 3 và 5 (trung đoàn 141) đánh chiếm chốt Vạn Kiếp và sân bay Phước Bình. 15 giờ chiều cùng ngày, Phước Bình thất thủ. Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 7 QLVNCH) bị đẩy lùi về Suối Dung.25
Trong ngày 31, Không lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện hơn 50 phi vụ oanh tạc quanh chân núi Bà Rá, ngăn chặn được tiểu đoàn 78 đặc công Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tấn công căn cứ này. Phải đến nửa đêm, với sự chi viện của lựu pháo và pháo cao xạ 37 mm hạ nòng bắn thẳng, tiểu đoàn đặc công 78 mới chiếm được núi Bà Rá và tổ chức ngay một đài quan sát chỉ điểm cho pháo lớn bắn vào thị xã Phước Long sáng ngày 1 tháng 1 năm 1975. Quân lực Việt Nam cộng hòa bị mất 8 khẩu pháo 105 mm và 4 khẩu 155 mm tại trận địa pháo trung tâm thị xã do trúng đạn pháo của đối phương.26 Đến sáng ngày 2 tháng 1 năm 1975, tiểu khu Phước Long đã nằm trong tầm hỏa lực bắn thẳng bằng súng bộ binh của các trung đoàn 16, 141, 165, 201 và 207.27
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đại tá Đỗ Công Thành gấp rút tái phối trí lại lực lượng. Sở chỉ huy nhẹ của tiểu khu Phước Long được chuyển về trại Lê Lợi. Tiểu đoàn bảo an 340 và đại đội thám báo số 5 giữ cầu Suối Dung và chốt Vân Kiều. Tiểu đoàn 2 (chiến đoàn 7 - sư đoàn 5 tăng phái giữ các ngã ba Tư Hiền 1 và Tư Hiền 2. Đại tá Thành cũng yêu cầu chi viện nhưng chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ đã không thi hành lệnh của trung tướng tư lệnh Quân đoàn III Dư Quốc Đống với lý do sợ "mắc bẫy dương Đông kích Tây của Cộng quân"28 . Trong ngày 1 tháng 1 năm 1975, Không lực Việt Nam cộng hòa đã tổ chức 53 phi vụ oanh tạc vào tuyến tấn công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở khu vực nghĩa trang thị xã, tạm thời chặn được mũi tiến công của tiểu đoàn 4 (trung đoàn 165), phá hủy một khẩu đội cao xạ 37 mm.29 QLVNCH báo cáo lên cấp trên là họ đã bắn cháy 15 xe tăng của đối phương . 30
Các trận đánh phòng ngự của QLVNCH tại vùng phụ cận thị xã chỉ làm chậm tốc độ tiến quân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thêm 24 giờ. Sáng ngày 2 tháng 1, một trận pháo kích kéo dài gần 1 giờ từ sáu khẩu 130 mm, sáu khẩu 105 mm, bốn khẩu 85 mm đã mở đường cho đợt tấn công tiếp theo của các trung đoàn 165, 141 và 271. Ở phía Nam, trung đoàn 165 chiếm trại Đoàn Văn Kiều. Ở hướng Tây, trung đoàn 141 giằng co với tiểu đoàn 1 (chiến đoàn 9 QLVNCH) ở bắc Hồ Long Thủy và khu gia binh. Hai bên đều tổn thất nặng. Ở hướng Đông Nam, trung đoàn 271 chiếm được ngã ba Tư Hiền và bãi xe. Sáng ngày 3 tháng 1, các đơn vị đi đầu của trung đoàn 141 (4 đại đội) đã lọt vào thị xã nhưng bị cô lập. Tư lệnh quân đoàn điều động trung đoàn 201 (thiếu 1 tiểu đoàn) từ tuyến 2 lên tăng cường cho trung đoàn 141.31 . Trưa ngày 3 tháng 1, tướng Dư Quốc Đống điều động chiến đoàn 8 (sư đoàn 5 QLVNCH) sử dụng trực thăng định đổ bộ xuống thị xã nhưng vấp phải lưới lửa phòng không của trung đoàn 210 và pháo binh bắn chặn trên mặt đất, các trực thăng của QLVNCH không dám hạ cánh đổ quân. Không quân vận tải của QLVNCH thả dù tiếp tế 20 tấn đạn pháo xuống phía Bắc thị xã nhưng do bị pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắn chặn, các đơn vị phòng thủ Phước Long không thu hồi được số hàng này sau đó để rơi vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.32 Cũng trong ngày 3 tháng 1 (tức ngày 4 tháng 1 theo lịch VNCH), Sở chỉ huy tiểu khu Phước Long bị pháo kích gây tổn thất nặng, phó chỉ huy trưởng tiểu khu tử thương, chỉ huy trưởng chi khu Phước Bình bị thương nặng.33
Ngày 4 tháng 1, không lực VNCH tiếp tục oanh kích các tuyến tấn công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, buộc các đơn vị này phải dừng lại đào công sự phòng tránh. 10 giờ ngày 4 tháng 1, trong nỗ lực cuối cùng để ứng cứu Phước Long, tướng Dư Quốc Đống điều động liên đoàn biệt kích dù số 81 bằng không vận lên Phước Long. Sau đợt đổ bộ đầu tiên xuống đồi Đắc Song, 2 đại đội biệt kích dù bị pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắn chặn và bị tổn thất 2 tiểu đội. Ngay lập tức, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam điều trung đoàn 16 (đang làm dự bị tuyến 2) chiếm lĩnh bãi đổ quân tại đồi Đắc Song và bên cầu Đắc Lung; dùng một bộ phận lực lượng truy đuổi số quân dù đã đổ bộ, làm các đơn vị dù tổn thất thêm một phần ba quân số và buộc họ phải chia thành từng toán nhỏ để liên lạc và hội quân với các lực lượng đang phòng thủ trong thị xã.34 Tuy nhiên, tình hình đã quá muộn để giải cứu cho Phước Long. Hai phần ba thị xã đã rơi vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Khu phòng thủ Phước Long bị thu hẹp tối đa ở Đông Bắc thị xã, chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng, khu hành chính tỉnh và khu chợ.35
Ngày 5 tháng 1, các đơn vị của trung đoàn 201 (mới tăng cường) và trung đoàn 165 tiếp tục vây ép các lực lượng phòng thủ còn lại của QLVNCH trong khu hành chính tỉnh kết hợp với pháo binh bắn phá liên tục các mục tiêu. Sáng sớm ngày 6 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều thêm Trung đoàn 2 (sư đoàn 9) và 10 xe tăng đến tăng cường cho các đơn vị đang tham chiến và mở đợt tổng công kích đánh chiếm thị xã. Lần lượt các chốt cuối cùng của QLVNCH tại đường Cách mạng, đường Đinh Tiên Hoàng, khu Tâm lý chiến vị tràn ngập. 10 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 1, dinh tỉnh trưởng Phước Long bị các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thuộc trung đoàn 141 (sư đoàn 7) và trung đoàn 2 (sư đoàn 9) đánh chiếm. 19 giờ ngày 6 tháng 1, điểm cố thủ cuối cùng của lính biệt kích dù QLVNCH dưới hầm ngầm dinh tỉnh trưởng bị chiếm.36 Số quân còn lại của hai Biệt đội 1 và 4 biệt kích dù rút khỏi thị xã dưới quyền chỉ huy của trung tá Thông. Một số bị bắt, một số bị hoả lực bộ binh bắn gục tại Suối Dung. Không lực Việt Nam Cộng hòa ném bom hủy diệt xuống thị xã Phước Long.37 Trong số 5400 sĩ quan và binh sĩ QLVNCH phòng thủ Phước Long, chỉ có 850 thoát được về trình diện tại Quân đoàn III. 38 . Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho biết họ bắt được 2444 tù binh, trong đó có 26 sĩ quan cấp tá và cấp uý, thu hơn 5000 vũ khí các loại và một kho đạn đại bác trên 10.000 viên . 39
Phản ứng của các bên và của quốc tế
Tại Quân đoàn III và Sài Gòn
Quân đoàn III - Quân lực Việt Nam Cộng hòa là đơn vị chỉ đạo lực lượng phòng thủ Phước Long và tất các đơn vị có khả năng tăng viện cho nó. Ngay từ khi các chi khu quân sự Đức Phong, Bố Đức, Đôn Luân (Đồng Xoài) bị đánh chiếm, tướng Dư Quốc Đống đã thỉnh cầu Bộ Tổng tham mưu cho rút sư đoàn dù (đang đóng tại Quân khu I) về giải vây cho Phước Long nhưng không được chấp nhận. Ngày 3 tháng 1, khi tình hình tại Phước Long đã trở nên nguy ngập, đề tài tăng viện cho Phước Long lại được bàn tại cuộc họp tại Dinh Độc Lập do giữa đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chủ toạ. Tướng Dư Quốc Đống nhắc lại đề nghị của mình và đề nghị nếu không tăng phái quân dù thì tăng phái một sư đoàn bộ binh cũng được. Vì một lần nữa không được Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận, tướng Đống xin từ chức sau ba tháng chỉ huy Quân đoàn III nhưng cũng bị tổng thống bác bỏ. Kết quả là Quân đoàn III phải tự lực xoay xở việc giải tỏa Phước Long với Liên đoàn 81 Biệt kích dù, đơn vị dự bị cuối cùng của Quân đoàn. Do không có lực lượng trên bộ phối hợp nên cuộc giải vây Phước Long của biệt kích dù chỉ thực hiện được một phần và thất bại.40
Sau cuộc họp ngày 3 tháng 1, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn III gửi một bức điện đến tiểu khu Phước Long; có đoạn viết: "Tổng thống đã họp nội các phiên đặc biệt ngày 3 tháng 1 để cứu xét tình hình quý tiểu khu. Rất thông cảm. Tổng thống và quân lực Việt Nam Cộng hòa ưu ái gởi tặng các chiến hữu 3,2 triệu đồng tiền thưởng, khen ngợi và mong các chiến hữu cố gắng tử thủ".39 Trong khi chưa thực hiện được phần thưởng nói trên thì Phước Long Thất thủ ngày 6 tháng 1. Ngay trong đêm 6 tháng 1, Hội đồng an ninh quốc gia VNCH đã họp khẩn cấp để cứu xét tình hình. Ngày 10 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh: "Toàn quốc dành ba ngày truy điệu, cầu nguyện cho Phước Long" và kêu gọi "kiên quyết lấy lại Phước Long".39 . Ngày 11 tháng 2 năm 1975, trong thông điệp đầu năm đọc trên đài phát thanh, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu toàn quốc cần thực hiện ba nỗ lực chính trong năm 1975:
Hỗ trợ tối đa tiền tuyến,
Ổn định tối đa hậu phương
Tích cực tăng gia sản xuất 21
Hoa Kỳ
Ngày 10 tháng 1 năm 1975, người phát ngôn Nhà Trắng tuyên bố: "Tổng thống Gerald Ford đã và đang theo dõi cuộc chiến ở Việt Nam Cộng hòa nhưng không có ý vi phạm sự cấm chỉ việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam". Người phát ngôn Lầu năm góc, ông William Betche cho rằng Hoa Kỳ vẫn tin chắc vào sự lượng định cách đây một tháng về tình hình ở Việt Nam, mặc dù có những biến động mới mà theo đó, Lầu Năm Góc đã không trù liệu một cuộc tổng tiến công của cộng sản trên toàn Việt Nam Cộng hoà. Bị ràng buộc bởi đạo luật "War power act" do Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1973 cấm tổng thống Hoa Kỳ sử dụng quân đội nếu không được sự chấp thuận của Quốc hội trước 6 tháng. Hoa Kỳ chỉ có thể hành động hạn chế.41 Bộ Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương điều động một lực lượng hải quân đặc nhiệm gồm tàu sân bay Enterprise, tuần dương hạm Long Beach, hai tàu khu trục và một số tàu hậu cần rời cảng Subic tiến vào Biển Đông. Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3 của Hải quân Hoa Kỳ đóng tại Okinawa cũng được đưa vào tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu.42
Tuy nhiên, tất cả chỉ có vậy. Khi Hoa Kỳ chỉ chấp nhận chiến đấu ở miền Nam Việt Nam bằng lời nói chứ không phải bằng súng đạn thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội. Ký giả Hoa Kỳ Alan Dawson nhận xét: "Nó chính lại là một trong những chiếc đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của quân đội Sài Gòn".43
Dư luận quốc tế
Khác với các hoạt động quân sự năm 1968 và 1972, chiến dịch đường 14-Phước Long không gây ra những phản ứng sôi động của dư luận quốc tế; ngay cả khi Phước Long thất thủ ngày 6 tháng 1. Điều này đặc biệt hiếm có trong chiến tranh Việt Nam. Ngoại trừ các tin tức được đưa ra từ Hà Nội, Sài Gòn và Washington, Phước Long không phải là chủ đề nổi bật của dư luận thế giới (kể cả phía ủng hộ bên này hay bên kia) vào thời điểm đó.
Kết quả trận đánh
Về quân sự
Chiến thắng Đường 14 - Phước Long là sự đóng góp, hy sinh rất lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhân dân tỉnh Bình Phước. Đây là sự đóng góp to lớn về sức người, vật chất của các tầng lớp công nhân cao su và đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, đã tích cực tham gia Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, giải phóng toàn tỉnh. Nhờ có chiến thắng này Quân Giải phóng đã bước đầu đánh giá được thực lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước khi tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giữ vững bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.44
Chiến thắng Phước Long đã giúp Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở thông được hành lang chiến lược (Đường Hồ Chí Minh) từ Vĩnh Linh vào đến Bù Gia Mập, nối liền với Lộc Ninh và các căn cứ khác tại miền Đông Nam Bộ; nối liền các vùng chiếm đóng của họ với các căn cứ của Khu 6 trước đây từng bị cô lập ở Long Khánh, Bình Thuận. Với tuyến hành lang chiến lược từ Tây Trị-Thiên xuyên qua phía Tây cao nguyên Trung phần đến Đông Nam Bộ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã căng kéo tối đa các lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên ba Quân khu I, II và III trong khi Quân khu IV không thể đưa quân ứng cứu do phải bảo vệ phía sau lưng Biệt khu Thủ đô và là vùng phòng thủ cuối cùng trong trường hợp mất Sài Gòn. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể tự do di chuyển lực lượng dọc theo tuyến mặt trận này và tấn công Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại bất cứ địa bàn quân khu nào mà họ chọn.45
Sau giai đoạn đầu, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chiếm được nguyên vẹn 4 khẩu lựu pháo 105 mm và 7.000 viên đạn pháo. Vào ngày 6 tháng 1, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hoàn tất việc chiếm tỉnh Phước Long và thu được thêm 10.000 viên đạn pháo. Chiến lợi phẩm ngoài dự tính này làm các nhà chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất vui mừng: 17.000 viên đạn pháo còn nhiều hơn tổng số đạn mà Bộ Tổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trong suốt năm 1975. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí còn nhiều đạn dược hơn ở các căn cứ lớn hơn. Do vậy, kế hoạch tấn công năm 1975 đã được điều chỉnh theo hướng tăng thêm cường độ và tốc độ tiến công (kế hoạch ban đầu dự tính sẽ giành thắng lợi trong 2 năm 1975-1976, nay được điều chỉnh là chỉ cần trong năm 1975 nếu thời cơ thuận lợi). Trong các chiến dịch sau đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất tích cực sử dụng chiến lợi phẩm để khắc phục tình trạng thiếu đạn pháo của mình.46
Về chính trị
Việc để mất Phước Long đã gây ra những suy sụp về tinh thần trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đại tá Phạm Bá Hoa, phụ tá hành quân của đại tướng Cao Văn Viên nhận xét:
“ Có thể nói tất cả chúng tôi đều bàng hoàng. Không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mọi người. Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Chỉ mới bị đánh một điểm mà đã không còn lực lượng để đối phó, hỏi bị đánh mạnh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Tình hình đó đã dồn chúng tôi đến sự hoang mang, bi quan. ”
— đại tá Phạm Bá Hoa, 39
Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trận Phước Long đã củng cố niềm tin rằng họ có thể thắng trong cuộc chiến tranh này do phía Hoa Kỳ không có phản ứng gì hơn là điều một hạm đội vừa phải đến Biển Đông với những mục tiêu không rõ ràng là đe dọa hay thực sự tham chiến trở lại. Mục đích đó được giải đáp trong lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James R. Schlesinger trước báo chí: "Đây chưa phải là một cuộc tiến công ồ ạt của Bắc Việt Nam" và thông báo của Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn Graham Martin với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Việc yểm trợ của Hoa Kỳ lúc này là chưa được phép"47
Ngay sau thất bại Phước Long, cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu trước về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn sẽ diễn ra trong nay mai. Ông viết:
Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là “thủ đô tiêu dùng” nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...48
Chú thích
http://baobinhduong.vn/quan-doan-4-qua-dam-thep-phia-nam-ph…
^ a ă Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 79
^ a ă Vương Hồng Anh. Trận Phước Long. Dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 133
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 77
^ a ă George C. Herring. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1998. trang 340
^ Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 200.
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980. trang 137
^ a ă Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ a ă Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. (Hồi ức do Nhật Tiến ghi). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Hoàng Văn Thái. Những năm tháng quyết định. (Hồi ký). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1985
^ a ă Vương Hồng Anh. Trận Phước Long. Vantuyen.net
^ Cao Van Vien, The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1983
^ trong Tài liệu "Trận Phước Long" của Vương Hồng Anh (vantuyen.net) ghi là đại tá Đỗ Văn Thành
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ a ă Cao Văn Viên. The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History. 1983.
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Cao Văn Viên. The Final Collapse. Washington DC: U.S. Army Center of Military History. 1983
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004
^ a ă â Cao Văn Viên. The final collapse.
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.1980
^ Bản thuyết trình quân sự của đại tá tỉnh trưởng Phước Long. Dẫn theo Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.1980
^ Hoàng Cầm. Chặng đường mười nghìn ngày. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 7 (1966-2006). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen,net
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen. net
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen. net
^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội.2004
^ Lời kể của Đàm Hữu Phước, sĩ quan quân y Liên đoàn 81 biệt kích dù. Dẫn theo Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003
^ Trần Đông Phong. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. (Trích dẫn: Trần Văn Hương. Kẻ sĩ cuối cùng). Vantuyen.net
^ a ă â b Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980.
^ Vương Hồng Anh. Trận chiến Phước Long. Vantuyen.net
^ Trần Đông Phong. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Vantuyn.net
^ Tin tức UPI ngày 7 tháng 1 năm 1975. Dẫn theo: Dương Hảo. Một chương bi thảm. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980.
^ Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội 1990.
http://www.mod.gov.vn/…/vZTZju…/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/
^ Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2003.
^ Tổng Tiến công Mùa Xuân 1975: đấu pháp chiến lược kết thúc chiến tranh có một không hai. Tác giả Merle L. Pribbenow, đăng trên tạp chí Parameters, số mùa đông 1999 - 2000
^ Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa Xuân. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1976
Nguồn : http://nguoikesu.com/…/chien-dich-duong-14-phuoc-long-nam-1…

Friday, February 14, 2020

PHẦN 2: BIỆT ĐỘNG QUÂN VÀ TUYẾN ÁN NGỮ PHÍA TÂY QUẢNG TRỊ THÁNG 4/1972.
Ngày 3/4, Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho mặt trận Quảng Trị:
1. Liên Đoàn 5 BĐQ với ba Tiểu Đoàn 30, 33, 38. Liên đoàn này đang hành quân ở hướng Tây Bắc tỉnh Tây Ninh thì nhận lệnh khẩn cấp tập trung về căn cứ Trảng Lớn trong vòng ba giờ. Sau đó toàn liên đoàn được Sư Đoàn 3 Không Quân không vận ra phi trường Phú Bài khoảng 7 giờ tối trong ngày. Suốt đêm 3/4, Liên Đoàn 5 BĐQ được xe Quân Vận, thuộc BCH 1Tiếp Vận, đưa đến căn cứ Hòa Mỹ (tên cũ Camp Evans) nằm sát bên trái QL 1, phía Bắc thành phố Huế khoảng 24 km để được trang bị bổ xung tối đa.
2. Liên Đoàn 4 BĐQ với hai Tiểu Đoàn 43 và 44 với Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Lê Hưng Phê; Thiếu Tá Liên Đoàn Phó Nguyễn Hạnh Phúc. Liên Đoàn 4 cũng đang hành quân nơi hướng cực Bắc tỉnh Prey Veng, Kampuchia thì được lệnh vượt biên giới về tập trung tại Thiện Ngôn (nơi gần nhất ở vị trí hành quân). Từ đây xe Quân Vận đưa đoàn quân này đến phi trường Trảng Lớn, cùng họp chung với BCH LĐ 5, nhận đặc lệnh hành quân và bản đồ tỉnh Quảng Trị. Suốt đêm 3/4, máy bay vận tải C 130 của Sư Đoàn 3 Không Quân đã đưa Tiểu Đoàn 43 và 44 và BCH/ LĐ 4 BĐQ đến Phú Bài.
(Riêng TĐ 42 thuộc LĐ 4 của Thiếu Tá Đặng Hữu Lộc làm TĐT, Đại Úy Giang Văn Xẻn làm TĐP thì ở lại Kampuchia vì đang bảo vệ bến phà Neak Loeung ở cực Nam tỉnh Prey Veng).
Sáng sớm ngày 4/4, TĐ 43 BĐQ tạm thời chuyển quân tới đóng dọc bờ sông Hương ở khúc thôn Vỹ Dạ, hướng Đông thành phố Huế khoảng 2 km. TĐ 44 và BCH/ LĐ 4 BĐQ tạm thời vào Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa gần Phú Bài, khoảng 16 km phía Nam Huế và cách Đông Hà khoảng 76 km.
3. Ngày 4/4, Liên Đoàn 6 BĐQ với ba Tiểu Đoàn 34, 35, 51 do Trung Tá Trịnh Văn Bé làm LĐT; Thiếu Tá Đào Trọng Vượng làm LĐP; Đại Úy Phùng Thanh Sơn làm Trưởng Ban 3. Liên đoàn này được không vận cùng một ngày với Thiết Đoàn 18, thuộc Lữ Đoàn III KB từ phi trường Biên Hòa. Lực lượng của LĐ 6 đến Phú Bài khoảng 3 giờ chiều và cũng tạm đóng quân trong Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa.
– Tiểu Đoàn 34 BĐQ với Th/T TĐT Đỗ Văn Mười, Đại Úy Tiểu Đoàn Phó Trịnh Trân.
– TĐ 35 BĐQ với Th/T Huỳnh Thiên Mạng TĐT; Đại Úy Lê Văn Đễ TĐP.
– TĐ 51 BĐQ do Th/T Hoàng Vĩnh Thái l m TĐT; Đại Úy Đinh Trọng Cường làm TĐP.
(Ba ngày sau, toàn bộ LĐ 6 BĐQ được đưa ra phía Nam căn cứ Hòa Mỹ khoảng 1 km. Riêng TĐ 51 thì tăng phái cho Sư Đoàn 1 BB, được đưa tới căn cứ Hoàng Đế. (Tên cũ căn cứ hỏa lực King), Tây Bắc Huế khoảng 25 km thay thế một tiểu đoàn cuả Trung Đoàn 1/ SĐ 1 BB. Trong bốn ngày ở căn cứ này, TĐ 51 BĐQ đã hứng chịu những đợt pháo kích nặng nề của địch. Ngày 12/4, toàn bộ LĐ 6 BĐQ cùng ba TĐ 34, 35, 51 trở lại Phú Bài và được không vận đến Pleiku, tăng cường cho chiến trường Cao Nguyên ở Quân Khu II.)
4. Cũng trong ngày 4/4, Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh, thuộc Lữ Đoàn 3 KB) do Tr/T Bùi Văn Lộc làm Thiết Đoàn Trưởng cũng được không vận từ Biên Hòa đến Phú Bài, đơn vị kỵ binh M 113 này cũng tạm phòng thủ trong Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa với BĐQ.
(TĐ 18 Kỵ Binh do được điều động khẩn cấp nên để lại một chi đoàn ở mặt trận An Lộc. Thay vào đó, một chi đoàn M 41 của Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh được tăng cường cho Thiết Đoàn 18 để cùng ra Quảng Trị.)
Ngày 5/4, Liên Đoàn 1 BĐQ do Trung Tá Lê Phú Đào làm LĐT đang hành quân ở Quảng Ngãi cũng được lệnh khẩn cấp ra QL 1. Quân Vận cuả SĐ 2/ BB được huy động để chở hai Tiểu Đoàn 21 và 37 BĐQ ra quận Mai Lĩnh nhận trách nhiệm bảo vệ hướng Tây – Tây Nam thị xã Quảng Trị.
(Riêng Tiểu Đoàn 39 BĐQ của Th/T Lại Thế Thiết (Tây Thi) thì được giữ lại bảo vệ Bộ Tư Lệnh/ Quân Đoàn I (Trại Nguyễn Tri Phương) ở ngoại ô phía Nam thành phố Đà Nẵng. LĐ 1 BĐQ ra Quảng Trị lần này chỉ có LĐT, chức LĐP còn để trống. Hai vị tiền nhiệm trước đó là Tr/T Lê Bảo Toàn LĐT; Th/T Nguyễn Hiệp LĐP thuyên chuyển về Quân Khu III cùng một lần, Tr/T Lê Phú Đào nhận chức không lâu thì đơn vị ra Quảng Trị.)
5. Ngày 6/4, Đại Tá Trần Công Liễu, Chỉ Huy Trưởng/ Bộ Chỉ Huy Trung Ương Biệt Động Quân nhận lệnh ra Huế lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Biệt Động Quân. Tuy nhiên, quyết định này từ Bộ Tổng Tham Mưu chỉ có tính cách tượng trưng hơn là vì nhu cầu thực tế của chiến trường. Từ ngày 12/4, ĐT Trần Công Liễu theo LĐ 6 BĐQ lên Pleiku rồi ông về Sài Gòn. Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5, ĐT Trần Công Liễu đã trở ra Huế để đi thăm và khích lệ tinh thần các đơn vị BĐQ tại Quân Khu I.
x X x
Sáng ngày 4/4, Liên Đoàn 5 BĐQ cùng Thiết Đoàn 17 KB từ căn cứ Hòa Mỹ bắt đầu tiến quân ra Đông Hà tăng phái cho Lữ Đoàn 1 KB của ĐT Nguyễn Trọng Luật. Ngày 6/4, Liên Đoàn 4 BĐQ và Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh cũng từ Đống Đa, Phú Bài ra phía Nam Đông Hà để tăng phái cho Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh. Hai Liên Đoàn 4 và 5 BĐQ phối hợp với hai Thiết Đoàn 17 và 18 Kỵ Binh thay thế TQLC và Tr Đ 5/ BB ở tuyến đầu. Vào lúc này, bên kia bờ Bắc sông Miếu Giang có 11 căn cứ đã rút bỏ, 53 súng đại bác các loại đã phá huỷ trước khi bỏ lại cho quân địch.
*Bộ Chỉ Huy LĐ 5 BĐQ do Tr/T Ngô Minh Hồng (78) làm LĐT; Tr/T Lê Văn Hòa làm Liên Đoàn Phó (không lâu sau đó ông tử trận trên trực thăng ở Sầm Giang); Thiếu Tá Steel cố vấn trưởng và một Đại Úy là cố vấn phó cho liên đoàn.
*Đơn vị đi đầu của LĐ 5 là TĐ 30 BĐQ do ThT Võ Mộng Thúy (Thủy Tiên) làm TĐT; Đại Úy Nguyễn Văn Nam (Hoàng Sa) là TĐP
(TĐ 30 BĐQ trong năm 1971 là đơn vị chiếm giải đầu cuả cấp tiểu đoàn xuất sắc nhất toàn quân).
Lúc tới thị trấn Đông Hà, TĐ 30 BĐQ cùng Chi Đoàn 1 (15 chiếc M- 48) thuộc Thiết Đoàn 20 Chiến Xa, do Đại Úy Đặng Hữu Xứng làm Chi Đoàn Trưởng, rời QL 1 tiến về hướng Tây. Trục tiến quân của đơn vị này nằm phía Nam QL 9 khoảng 2 km. Khi tới gần Hương Lộ 559, cách Đông Hà khoảng 6 km về hướng Tây, TĐ 30 BĐQ và CĐ 1 Chiến Xa dàn quân trên những đồi sim theo trục Bắc – Nam. Ba đại đội cùng hai chi đội chia nhau trấn giữ các ngọn đồi, vị trí xa nhất từ BCH khoảng hơn 1 km. Đại đội còn lại và một chi đội thì bảo vệ BCH/ TĐ 30 BĐQ và BCH/ CĐ 1 trên đồi Quai Vạc, ngọn đồi cao nhất ở vùng Động Lôn. Phòng tuyến này nằm về phía Đông Nam Cam Lộ khoảng 4 km và hướng Nam QL 9 khoảng 2 km, kéo dài đến thượng nguồn sông Vĩnh Phước ở phiá Nam. Phòng tuyến do BĐQ trấn đóng
*Tiểu Đoàn 38 BĐQ do ThT Vũ Đình Khang (Alpha) làm TĐT; TĐP Đại Úy Vũ Ngọc Chiêu (?), cùng Chi Đoàn 2 (M- 113; TĐ 18/ KB) của Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích (Bắc Đẩu) phòng thủ ở phía Nam TĐ 30, tính từ bờ Nam thượng nguồn sông Vĩnh Phước. (Sông này chảy qua cầu Vĩnh Phước trên QL1, nằm giữa Đông Hà và Ái Tử trước khi nhập với sông Thạch Hãn ở hướng Đông.)
*TĐ 33 BĐQ do ThT Hà Kỳ Danh làm TĐT; Đại Úy Nguyễn Hồng Quang làm TĐP được giao trách nhiệm bảo vệ thị trấn Đông Hà. Phòng tuyến TĐ trải dài về hướng Tây thị trấn này khoảng 2 km, Chi Đoàn 3 M- 48 của TĐ 20 Chiến Xa do Đại Úy Đoàn Chí Sanh làm CĐT được tăng cường cho TĐ 33 BĐQ. (Riêng Đại Đội Trinh Sát 5 thì bảo vệ BCH/ LĐ 5 BĐQ và BCH Thiết Đoàn 20/ CX ở hướng Tây Nam Đông Hà khoảng 3 km. Hai chi đoàn chiến xa của TĐ 20 cùng phòng thủ chung với LĐ 5 BĐQ ở khu vực quanh Đông Hà được ThT Hoàng Kiều chỉ huy tổng quát.
Thiết Đoàn Phó TĐ 20 KB (Chi Đoàn 2/ TĐ 20 Chiến Xa của Đại Úy Phạm Quang Anh làm CĐT, Đại Úy Hà Mai Khuê là CĐP thì trấn giữ quanh khu vực căn cứ Ái Tử, nơi đặt BCH/ LĐ 1/KB; BCH LĐ 258 TQLC của ĐT Ngô Văn Định LĐT và TrT Đỗ Đình Vượng LĐP. Trước đó một ngày (3 tháng 4), Đại Úy Phạm Quang Anh bị tử trận, Đại Úy Hà Mai Khuê lên làm CĐT/ Chi Đoàn 2 Chiến Xa). Vào lúc này, BCH Tiền Phương SĐ 3 đã rời Ái Tử cùng với các cố vấn của sư đoàn. Tuy nhiên tại Trung Tâm Hành Quân trong Ái Tử vẫn còn những cố vấn (Team 155) cấp quân đoàn như Th/T David Brookbank (cựu phi công B- 52 lo về Không Trợ); Th/T Joel Eisentein (Hải Pháo); Th/T J. F. Neary (Truyền Tin Yểm Trợ), và Th/T Jon Easley cố vấn cho LĐ 258 TQLC.)
*Ngày 6/4, Liên Đoàn 4 BĐQ với hai Tiểu Đoàn 43 và 44 do Tr/T Lê Hưng Phê làm LĐT; ThTá Nguyễn Hạnh Phúc làm LĐP, được Thiết Đoàn 18 KB của Tr/T Bùi Văn Lộc (Đại Lộc) đưa ra rải quân lập phòng tuyến ở hướng Nam TĐ 38 thuộc LĐ 5 khoảng 4 km. Bộ Chỉ Huy LĐ/ 4 BĐQ và BCH TĐ 18 KB đặt ở bờ Bắc cầu Vĩnh Phước trên QL1.
*Tiểu Đoàn 43 BĐQ do ThT Kăng Tum Sơn làm TĐT; Đại Úy Trần Hữu Danh TĐP; Đại Úy Sơn Đos Trưởng Ban 3 vào lập tuyến phía Đông Nam căn cứ Tân Lâm khoảng 4 km (Tây Bắc Ái Tử khoảng 6 km). Vị trí này không có thiết giáp yểm trợ, thay vào đó Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh tăng cường một toán cố vấn về hải pháo và không trợ.
*Nối tiếp là TĐ 44 BĐQ của Th/T Vũ Văn Thi cùng một chi đoàn M113 của TĐ 18 KB đến trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng, thế TĐ 1 TQLC của Th/T Nguyễn Đằng Tống; Th/T Đoàn Đức Nghi TĐP, cố vấn Đại Úy Lawrence H. Livingston
(Phượng Hoàng là một căn cứ có vị trí quan trọng, ở đây kiểm soát và ngăn chận đường vào thị xã Quảng Trị và căn cứ Ái Tử từ hướng Tây. Đến ngày 8/4, TĐ 44 BĐQ được lệnh rời căn cứ Phượng Hoàng để ra vị trí mới ở phía Tây cầu Vĩnh Phước. Căn cứ Phượng Hoàng sẽ được TĐ 33 BĐQ đến thay thế. Tuy nhiên, lúc TĐ 33 BĐQ còn cách căn cứ Phượng Hoàng khoảng 2 km thì được lệnh trở ra Đông Hà. TĐ 6 TQLC sẽ là đơn vị đến phòng thủ căn cứ này. TĐT/ TĐ 6 TQLC do Th/T Đỗ Hữu Tùng là TĐT; Đại Úy Nguyễn Văn Sử TĐP, cố vấn là Th/T William Warren và Đại Úy William Wischmeyer.)
*Liên Đoàn 1 BĐQ từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị tăng phái cho Bộ Tư Lệnh SĐ 3 BB với hai TĐ 21 và 37. Sau khi nhận hàng trăm quả mìn chống chiến xa ở chi khu Mai Lĩnh, liên đoàn này có trách nhiệm bảo vệ hướng Tây- Tây Nam thị xã Quảng Trị, dọc theo bờ Nam sông Thạch Hãn. BCH/ Liên Đoàn 1 BĐQ đặt tại nhà thờ La Vang với Tr/T Lê Phú Đào LĐT; Trưởng Ban 3 Đại Úy Hồ Dzơn.
*Tiểu Đoàn 21 BĐQ do Th/T Quách Thưởng (Trùng Dương) làm TĐT; Đại Úy Nguyễn Văn Gio (Giang Sơn) TĐP; Trung Úy Trần Văn Quy (Bạch Mã) Trưởng Ban 3. Tiểu đoàn này đóng quân về hướng Nam Hương Lộ 556, phía Tây nhà thờ La Vang khoảng hơn 3 km, từ đây các đại đội lập tuyến phòng thủ kéo dài vào dãy đồi của Động Ông Đô.
*Tiểu Đoàn 37 BĐQ do ThT Võ Nhơn (Nam Hải) làm TĐT; Đại Úy Nguyễn Cảnh Nguyên (Nam Tà) làm TĐP; Đại Úy Phạm Thuận (Tam Phong) làm Trưởng Ban 3. TĐ lập phòng tuyến yểm trợ phía Nam TĐ 21 khoảng hơn 1 km, kéo dài đến hướng Bắc căn cứ Barbara.
(*Động Ông Đô là một dãy đồi thấp nằm theo trục Tây Bắc – Đông Nam, ở về hướng Tây Nam thị xã Quảng Trị khoảng 10 km. Khu vực đồi nhỏ nhấp nhô này xen lẫn các khe, suối nhỏ và có rất nhiều các lùm cây thấp như sim, trâm, dẻ, bụi dây tơ hồng,… mọc rải rác trên các đồi. Ngọn đồi trọc “trụi lủi” duy nhất và cao nhất ở đây là căn cứ hỏa lực Anne ở hướng Nam phòng tuyến TĐ 21 BĐQ, cao khoảng 275 thước. Căn cứ Anne vào lúc đó không có đơn vị nào phòng thủ, quân CSBV vẫn chưa chiếm).
Sau khi cầu Đông Hà bị phá sập CSBV quay vô hướng Tây, chiếm cầu Cam Lộ trên QL 9 với toan tính xuống đánh cắt ngang tuyến phòng thủ cuả Thiết Giáp, BĐQ, TQLC. Để phá vỡ phòng tuyến này, quân địch đã huy động năm trung đoàn bộ binh của hai SĐ 304 và 324, hai trung đoàn chiến xa 203 và 204, hai trung đoàn pháo binh 38 và 48… chia ra làm năm mũi tấn công vào vị trí TĐ 30, TĐ 38, TĐ 43 (BĐQ), TĐ 6 (TQLC), TĐ 21 (BĐQ). (Tính theo trục từ Bắc xuống Nam.)
Lúc 7 giờ sáng ngày 9/4, sau đợt pháo kích kéo dài suốt đêm, một đoàn xe tăng khoảng 25 chiếc và khoảng hai tiểu đoàn bộ binh từ QL 9 tràn xuống tấn công vào vị trí TĐ 30 BĐQ ở Đồi Quai Vạc. Đơn vị của địch là TrĐ 88/ SĐ 308 BB và TrĐ 202 Chiến Xa. Dù được sương mù bao phủ, quân địch tuy ẩn hiện với đủ thứ “hoa lá cành” trên những đồi sim nhưng quân ta vẫn thấy rõ chiến xa địch dẫn đầu với khói xăng phun ra đen nghịt, bộ binh lúp xúp chạy theo sau. Th/T Võ Mộng Thuý và Đại Úy Nguyễn Văn Nam cho lệnh các đại đội vòng ngoài giữ vững vị trí phòng thủ, tập trung hỏa lực nhắm vào bộ binh địch, không được xung phong cận chiến để nhường xạ trường cho M 48 đối phó với T 54 của CS.
Ngay phát súng thứ nhất ở khoảng cách hơn 1.500 thước, viên đạn 90 ly từ nòng súng M 48 làm một chiếc T 54 bay pháo tháp và lăn xuống chân đồi, Chi Đoàn 1 Chiến Xa của Đại Úy Đặng Hữu Xứng đã làm địch sững sờ mất vài giây sau phát súng mở màn. Quân địch bắt đầu hò hét om xòm và ôm súng chạy “khơi khơi” lên vị trí của BĐQ trên những ngọn đồi. Suốt bốn giờ liền, các tay súng BĐQ của TĐ 30 với hoả lực cá nhân hùng hậu đã đè bẹp các đợt xung phong của địch. Trong khi đó, những chiếc M 48 quanh khu vực Đồi Quai Vạc thong thả bắn tỉa từng chiếc T 54 đang chạy tới từ phía xa.
Khoảng 9 giờ sáng trên bầu trời bỗng có thêm ba chiếc phản lực A 37 đến trợ chiến đúng lúc. Khoảng 11 giờ trưa, tiếng gào thét từ quân cộng sản không còn nghe nữa nhưng khói lửa từ 11 chiếc xe tăng T 54 đang bốc cháy thì thấy rất rõ. Chưa kể 4 chiếc khác trên đường chạy trốn đã phản lực A 37 của Không Quân bắn cháy. Khoảng 12 giờ trưa, đang lúc BĐQ và TG lo củng cố vị trí phòng ngự thì có ba chiếc xe tăng của địch bất ngờ từ dưới một khe suối rậm rạp phóng lên chạy vào phòng tuyến.
Đây là ba chiếc T 54 bỏ trốn tìm chỗ nấp vào buổi sáng lúc những chiếc khác bị bắn cháy. Đợi tới khi không còn tiếng súng, ba chiếc này tìm cách tẩu thoát nhưng vì mất phương hướng nên chạy vô ngay BCH/ TĐ 30 BĐQ. Trong vòng năm phút, hai chiếc bị BĐQ bắn hạ bằng M 72, trong khi chiếc thứ ba vì sợ quá nên địch quân nhảy xuống xe chạy trốn, bỏ lại xe còn nổ máy. Ngay sau đó, chiếc T 54 mới toanh cuả Nga Sô được anh em Thiết Giáp lái đưa về Huế trưng bày ở Phú Văn Lâu. Đây là chiếc xe tăng T 54 thứ nhất do TĐ 30 thuộc LĐ 5 BĐQ tịch thu được ở chiến trường Quảng Trị.
(Khi đưa về Phú Văn Lâu, vì LĐ 5 BĐQ là đơn vị tăng phái nên tấm bảng phía trước chiếc T54 này ghi là của SĐ 3/ BB tịch thu ở Cam Lộ.)
Khoảng 2 giờ chiều ngày 9/4, quân CS quay lại hò hét, xung phong lần thứ hai bằng biển người nhưng địch vẫn bị hỏa lực của BĐQ và TG đẩy lui. Tổng kết chiến trưòng lúc 5 giờ chiều trong ngày: TĐ 30/ BĐQ và CĐ 1 Chiến Xa có hơn 30 người tử trận, bị thương khoảng 50 người, 15 chiếc M 48 đều vô sự. Phía địch tổn thất gần 300 quân nằm quanh đồi Quai Vạc, bắt sống 3 tù binh tuổi thiếu niên (khoảng 15 – 16), 11 chiếc T 54 bị M 48 bắn cháy, 4 chiếc khác do Không Quân bắn cháy, 2 chiếc bị BĐQ trực tiếp triệt hạ và 1 bị BĐQ tịch thu. Vũ khí các loại thu được 227 súng cá nhân và cộng đồng gồm AK 47, B 40, B 41, mười súng “thượng liên” 12 ly 7 (tương đương đại liên 50 ly), 8 đại bác không giật 82 ly. (Đại bác ”sơn pháo” của Nga Sô.)
Cũng trong ngày 9/4, khoảng 7 giờ 30 sáng địch tấn công vào vị trí TĐ 38 BĐQ sau khi pháo kích suốt đêm. Tại hướng này, quân CS không có chiến xa yểm trợ nhưng bộ binh đông khoảng ba tiểu đoàn của TrĐ 24/ SĐ 304. Tuy nhiên địch không ngờ Th/T Vũ Đình Khang và Đại Úy Vũ Ngự Chiêu đã chia quân phòng thủ trên ba ngọn đồi liền, lập tuyến hình tam giác để có thể yểm trợ lẫn nhau. Tại mỗi vị trí đều được tăng cường một chi đội M 113 thuộc Chi Đoàn 2 thuộc TĐ 18 KB của Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích.
Dù ở vào vị trí bất lợi là từ chân đồi chạy lên tấn công, quân CS vẫn điên cuồng xua quân tràn tới, dĩ nhiên địch bị đốn ngã dễ dàng từ hỏa lực cá nhân của BĐQ và đại liên 50 ly của M 113. Sau ba lần xung phong bằng biển người nhưng vẫn bị đẩy lui, khoảng 2 giờ chiều quân địch phải bỏ chạy lúc lực lượng phòng thủ tung ra một cuộc phản công truy diệt. Quanh khu vực TĐ 38 BĐQ đầy những xác người của địch bỏ lại. Có khoảng 200 thiếu niên (tuổi từ 15 tới 17) miền Bắc đã bỏ mạng tại đây vì mệnh lệnh sắt máu của các cấp chỉ huy điên dại CSBV. TĐ 38 BĐQ và CĐ 2 KB tịch thu khoảng hơn 150 súng các loại, trong đó có 3 súng cối 82 ly, 8 đại bác không giật 75 và 82 ly, 9 đại liên 12.7,… Phía bạn tử trận 20 người, bị thương khoảng 50 người mà phần đông là do bị đạn pháo binh của địch.
Lúc 7 giờ sáng ngày 9/4, sau một đêm bị pháo kích nặng nề như những nơi khác, TĐ 43 BĐQ bị địch tấn công cũng bằng chiến thuật biển người.
(Vào tháng này, tuy ít mưa lớn nhưng hầu như vùng đất gần chân núi phía Đông dãy Trường Sơn ở tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên thường có sương mù dày đặc, bao phủ sát đất từ khoảng 5 giờ chiều đến 7- 8 giờ sáng hôm sau. Sau giờ này sương mù có thể tan loãng ở gần mặt đất, nhưng trên cao lại tụ những lớp mây thấp u ám nặng nề cùng với các cơn mưa phùn lạnh buốt cả người). Chờ tải thương
Cánh quân B với hai đại đội do TĐP Trần Hữu Danh chỉ huy là nơi bị tấn công trước. Dù quân địch nhiều lần cố tràn lên chiếm nơi đây nhưng liên tiếp bị đè bẹp trước sự gan lỳ của chiến sĩ TĐ 43 BĐQ. Khoảng 8 giờ sáng địch tung quân đánh luôn vào cánh quân A do TĐT Kâng Tum Sơn chỉ huy. Sau vài lần xung phong thảm bại, phía CS lùi quân xa khỏi tầm đạn để pháo binh bắn phủ đầu chừng nửa giờ vào quân bạn. Nhưng địch không ngờ, lúc buổi sáng do hai bên quá gần nên hải pháo của ta không bắn được. Lần này do chạy lui hơi xa để tập trung quân, chờ xung phong lần nữa, thì cũng là lúc toán cố vấn yểm trợ hỏa lực đã điều chỉnh xong tọa độ cho hải pháo sẵn sàng.
Khi vừa chấm dứt đợt pháo kích, địch đã gào thét hô xung phong vang dậy rồi đầy những bóng nguời từ phía Tây chạy tới…. chỗ chết. Khi tiếng la hét xung phong của địch còn chưa ngưng thì đạn đại bác từ ngoài khơi bắn vào đã nổ vang khắp các nơi, và toàn loại đạn nổ chụp từ trên cao. Chỉ trong vòng 10 phút ngắn ngủi, bãi chiến trường nơi đây không còn nghe tiếng la hét, chỉ còn thấy xa xa thưa thớt những bóng người chạy lảo đảo về phía Tây. Hải pháo cũng ngưng bắn lúc quân phòng thủ cho các toán quân nhỏ ra “thu dọn” chiến trường. Một viên Thượng Sĩ của địch chấp nhận đứng lại đầu hàng vì quá sợ hãi không chạy nổi.
Ngày hôm sau và hôm sau nữa, quân địch quay lại tấn công tiếp nhưng bị tổn thất nặng trước sự kiên cường của BĐQ và sự yểm trợ của hải pháo. Tuyến phòng ngự của TĐ 43 BĐQ từ ngày 14/4 về sau không còn bị bộ binh địch tấn công, nhưng vẫn bị những cơn mưa pháo dai dẳng của đối phương đổ vào đây như muốn trả hận cho TrĐ 29/ SĐ 304.
(Kể từ phần này, chúng tôi sẽ hạn chế không ghi tổn thất của hai bên thêm. Qua con số đã kể về hai TĐ 30 và 38 BĐQ sau trận đánh, người đọc có thể hình dung, phỏng đoán số quân bị tổn thất của địch qua lối đánh “lấy thịt đè người” thật man rợ của CS.
Số xác chết của lính CSBV bỏ lại quanh khu vực như đã kể, sau vài ngày đã được BĐQ đào hố chôn lấp vì mùi thối nồng nặc khắp vùng. Riêng vũ khí tịch thu của địch, vài ngày đầu còn tập trung cho xe chở về Ái Tử nhưng sau đó chỉ gom lại phá hủy tại chỗ, vì quá nhiều và cũng không có thì giờ cho việc đó trong lúc địch không ngưng pháo kích).
(còn tiếp)

A . Căn bản về camera của phone HTC P139100 (TITAN) .
Nhấp mủi tên , chọn Camera hay bấm nút Camera ở hông phải của phone .


Ngay cả màn hình tối đen , bạn vẫn chụp đc bằng cách bấm nút Camera .
1/ Ý nghĩa của 1 số icon/hình tượng , xem hình .
Máy quay phim : thay đổi giửa chụp và quay .
Người : thay đổi giửa camera trước và sau .
Dấu + và - : phóng lớn, thu nhỏ .
Bánh xe : settings/cài đặt .
Mủi tên : trở lại .
2/ Trước khi chụp hay quay fim , bạn có thể phóng to thu nhỏ bằng cách nhấp + hay - .
a/ Nhấp hình bánh xe để chọn : flash mode , độ phân giải , hiệu ứng , hay thứ khác .
2/ Để lưu các chọn lựa này , nhấp Save settings . Nếu ko , camera sẽ trở lại cài đặt mặc định cho lần dùng tới .
Mẹo : Bạn có thể vào Start > Settings > Applications > pictures + camera , để thay đổi cách cài đặt cho nút Camera .
B/ Chụp hình .
1/ Mở Camera .
2/ Nhấp hình bánh xe hay Settings .
- Nhấp 1 trong các flash icon để chọn auto flash , mở hay tắt đèn flash .
- Chọn độ phân giải và các cài đặt khác - mà bạn muốn dùng .
3/ Cầm chắc phone , hoặc đứng (ảnh chân dung) hay ngang ( ảnh phong cảnh) .
Nếu bạn chụp 1 số ng , camera sẽ tự động nhận dạng mặt và điều chỉnh tiêu điểm (focus) . Bạn sẽ thấy các hộp (box) ở mặt ng .
4/ Trước khi chụp , bạn có thể phóng to hay thu nhỏ chủ thể/subject .
5/ Để chụp , bạn có thể :
- Bấm nhẹ nút camera để chỉnh hình , và bấm mạnh nút này để chụp . Camera sẽ tự nhắm vào/auto focus vào giửa hình và chụp .
- Hay nhấp vào nơi nào trên màn hình để nhắm vào và chụp . Camera sẽ tự nhắm vào và áp dụng tự động phơi sáng (auto exposure) trên nơi mà bạn nhấp .
Ảnh sẽ đc lưu tại Camera Roll của Picture hub .
C/ Quay phim .
Để quay đẹp , cách tốt nhứt là chọn landscape .
1/ Mở Camera .
2/ Nhấp icon máy quay để chuyển qua video : sẽ thấy máy quay phim trên màn hình .
3/ Nhấp icon bánh xe :
- Nhấp 1 trong các icon bóng đèn để cho đèn của camera tắt hay sáng lúc quay .
- Chọn độ phân giải và các cài đặt khác mà bạn muốn .
4/ Trước khi quay , bạn có thể phóng to hay thu nhỏ chủ thể .
5/ Bấm nút camera để bắt đầu quay . Trong lúc quay , camera sẽ luôn luôn tự nhắm vào phần giửa của màn hình nếu bạn đã chọn continuous focus lúc cài đặt .
6/ Để ngừng quay , bấm nút camera . Phim này sẽ lưu ở camera roll .
Mẹo vặt : đèn flash của camera ko mở ?
Để tiết kiệm pin , camera sẽ vô hiệu hóa đèn flah , ngay cả bạn đã chọn auto flash hay flash on , trong trường hợp sau :
- Bạn đang gọi phone . Sau khi hết gọi , bạn có thể dùng flash .
- Mức pin đạt 20/100 hay thấp hơn . Nạp điện cho pin để camera có đủ pin hầu xài flash .
- Trời lạnh ảnh hưởng đèn flash . Để đũ pin chạy flash , giử phone ấm áp . Khi ko dùng phone , để phone trong áo khoác để giử ấm , và cố gắng tránh thay đổi đột ngột có thể ảnh hưởng hiệu suất của pin .
D/ Sau khi quay .
Sau khi chụp hay quay , bạn có thể xem lại . Bạn có thể chọn phải làm gì với hình và video nay , như tải lên mạng hay gửi đi .
1/ Khi còn ở màn hình viewfinder , nhấp mủi tên . Hay trượt ngón tay trên màn hình : sẽ thấy ảnh hay video mới chụp .
2/ Nếu là ảnh , bạn nhấp nhẹ 2 lần hay dùng 2 ngón tay để mở ra hay thu nhỏ . Nếu là video , nhấp icon Play để xem .
3/ Nhấp ba dấu chấm để xem các chọn lựa như xóa , tải lên Facebook hay Skydrive , v.v...
4/ Dùng 2 ngón tay để xem cả cuộn phim/filmstrip . Bạn có thể kéo về phải hay trái để lướt qua các hình và video .
5/ Để tiếp tục quay , kéo nhẹ tay về trái nếu bạn cầm phone ngang hay kéo lên trên nếu cầm phone đứng cho tới khi bạn trở lại màn hình Viewfinder .
Dịch từ : HTC P139100 Manual .