Friday, November 27, 2020

 TƯỞNG RẰNG BỊ UNG THƯ NÃO, CUỐI CÙNG LÀ DO SÁN DÂY TỪ THỊT HEO.

. . .

Sau nhiều xét nghiệm bằng MRI và loại trừ mọi khả năng, ung thư là giải thích thích hợp nhứt cho những triệu chứng ko bình thường mà Rachel Palma đã trải qua bắt đầu từ tháng Giêng 2018.

"Tôi đã có những cử động vô ý thức với tay phải, khiến tôi đã để rớt đồ vật," người cư dân của TP Middletown bang New York nói. "Những triệu chứng tệ hại nhứt là ảo giác (halluciation). Và tôi đã ko định hướng (orient) về thời gian và địa điểm."

Có một lần, Palma đã khóa mình trong nhà và lần khác, trong TK ngân hàng của mình.

"Tôi đã ko còn có thể xử lý thực tế là khóa dùng để mở cửa. Màn hình máy tính có vẻ hoàn toàn khác -- nó hoàn toàn xa lạ với tôi," ng phụ nữ nay đã 42 tuổi nói. "Điều mà tôi nhận thức đã khác với điều mà tôi đáp ứng -- nếu ai đó hỏi tôi một cây viết, tôi sẽ đưa họ, ví dụ, một chìa khóa."

Đôi khi cô có những ngày hạnh phúc (blissful), ko triệu chứng gì cả. Và không cảnh báo, việc rớt đồ đạc, ảo giác, ko định hướng lại trở lại.

Sau tháng Giêng, những triệu chứng của cô "tiến triển khá nhanh," cô nói, ước chừng cô đã đến phòng cấp cứu, gọi tắt là ER,  ít nhứt 10 lần. "Nhưng ngay khi họ ko cho là xuất huyết não, tôi đc xuất viện (I was discharged). Dù tôi có thể nguy hiểm cho bản thân và có thể cho người khác, họ vẫn cho tôi xuất viện," cô nói.

. . .

Cô hiểu tại sao, vì ko ai có thể nhận dạng điều gì xảy ra với cô. "Họ nói, nếu bạn thực sự ko xuất huyết não, đó thực sự ko phải là cấp cứu,' "cô nói. Một rối loạn về co giật (seizure) cũng đã được tìm hiểu và nhanh chóng bị loại bỏ (dismiss).

Trên một hình chụp não (bằng MRI), bác sĩ gia đình của Palma đã phát hiện một tổn thương (lesion) nhỏ trong thùy trái trước (left front lobe) của não và nhanh chóng gửi cô đến bs Jonathan Rasouli, thường trú trưởng của khoa ngoại thần kinh tại bv Mount Sina tại TP New York, và những đồng nghiệp của ông này. 

"Chúng tôi đã quyết định cách tốt nhứt cho cô ta là lấy một mẫu sinh thiết ở tổn thương này," Rasouli nói, dựa vào thực tế là cô này khỏe mạnh và trẻ và có những triệu chứng mà ông nghĩ có liên quan trực tiếp với vị trí (location) của tổn thương này. Hơn nửa, cô ta ko có các yếu tố nguy cơ cho điều gì khác có thể giải thích sự hiện diện của một tổn thương não. Rasouli đã giải thích căn kẻ những khả năng cho bịnh nhân. 

"Tôi đã đc nói rằng đó có thể là một u ác tính sẽ cần xạ trị và hóa trị ngay cả sau khi mổ," Palma nói.

Ca mổ này có thể nhiều rủi ro vì vị trí của "khối u" rất gần với vùng não điều khiển ngôn ngữ, xem hình.

Rasouli nói với đài CNN, "Hôn phu của cô vừa cầu hôn với cô và họ đang tính chuyện sẽ sống chung và rồi đột nhiên cô ta được chẫn đoán có u não. Bạn có thể tưởng tượng điều gì xảy ra?

Tuy nhiên Palma đã tin tưởng rằng phải nên mổ, vì các bs "đã nghĩ rằng đó là một u ác tính, nên tôi chấp nhận rủi ro."

Ca mổ đầu tiền, được gọi là mổ đò đường, thực hiện ngày 10/9/18. Ca mổ thứ hai để lấy khối u tình nghi thực hiện hai ngày sau. 

"Chúng ta lấy đi một miếng nhỏ của mô não và điều mà chúng tôi thấy là một tổn thương bọc rất kỷ có hình quả trứng (a very well encapsulated, firm lesion that was ovoid), Rasouli nói. "Nó giống như một trứng cút (quail egg): cùng cở, cùng hình dáng, và ko mềm nhủn (firm), xem hình.

"Chờ một giây, đây rõ ràng ko phải là một u não,"ông nhớ lại đã nói như vậy lúc đó.

Được hỏi một u não giống cái gì, ông cười: "Nó ko giống một trúng cút. Phần lớn u não rất mềm, như trái cây chín rục (mushy), nó ko dễ định hình, nó dễ xâm nhập (infiltrative).

Nhanh chóng, Rasouli đặt mẫu sinh thiết dưới một kính hiển vi và mở mẫu sinh thiết.

"Hóa ra là một con sán dây con (baby tapeworm)," ông nói.

Làm thế nào ông kết luận như vậy?

Neurocysticercosis là một thuật ngữ y khoa để chỉ một sán dây con của heo tìm đường lên não, Rasouli nói. " Nếu bạn sống tại Mỹ, điều này ít xảy ra."

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bịnh tật CDC ước lượng khoảng 1.000 nhập viện mỗi năm vì neurocysticercosis tại Mỹ.

Bịnh này gây ra khi một người nuốt trứng của sán dây tìm thấy trong phân (feces) của ai đó có sán dây trong ruột. Trứng của sán dây sẽ lan truyền trong thực phẩm, nước hay bề mặt đã bị nhiễm bẩn (contaminate). Người có sán dây có thể tự lây nhiễm (infect) cho mình và người khác với neurocysticercosis và trong vài trường hợp, sự lây nhiễm này lan tới não, như đã xảy ra với Palma.

"Hoàn toàn ko có lời giải thích làm thế nào tôi đã mắc bịnh này," Palma nói. Tôi ko bao giờ ra khỏi nước Mỹ và cũng ko ăn rau hay thịt sống, ít nhứt là ko cố ý, cô nói. 

"Nếu chúng tôi có bất cứ nghi ngờ nào rằng cô đã phơi nhiễm (expose) với sán dây của heo hay chúng tôi đã nghĩ rằng đây chắc chắn là một ký sinh trùng, chúng tôi sẽ nghĩ rằng tốt nhứt đối với cô là dùng trụ sinh hơn là mổ xẻ."

Ngày nay, Palma ko còn triệu chứng và cảm thấy khỏe mạnh. Cô cám ơn bs Rasouli và các bs ở bv Mount Sina đã cứu cô. Nếu con sán đây này ko đc lấy ra (hay diệt bằng trụ sinh), nó sẽ tạo ra TBMN hay làm cô chết.

Dich từ : https://www.cnn.com/2019/06/07/health/tapeworm-brain-trnd/index.html










Thursday, November 26, 2020

 Văn hóa Mỹ 

Khi nào dùng boyfriend, significant other, partner hay lover?

Giả dụ bạn sống chung ko cưới hỏi với một người đàn ông tên John ba năm. Nếu bạn giới thiệu y như sau với người quen hay bạn bè.

- Boyfriend (bạn trai): bạn có vẻ trẻ con (childish).

- Significant other (người có ý nghĩa/quan trọng khác): bạn đã dùng uyển ngữ hay mỹ từ pháp (euphemistic).

- Partner (đối tác): bạn có thể gây hiểu lầm là y là người hùn hạp làm ăn .

- Lover (người tình): bạn rất suồng sả vì quá khiêu dâm (steamy).

Đơn giản nhứt, bạn nên giới thiệu y với người khác bằng tên. Ví dụ mẹ bạn tên Debbie, bạn nói, "Debbie, I'd like you to meet John. John, this is Debbie" (Debbie, con xin muốn giới thiệu John. John , đây là Debbie).

Khi cuộc nói chuyện kéo dài, mọi người sẽ tìm hiểu nhau hơn nếu họ muốn.

Nguồn: Reader's Digest Dec 2017 .

Wednesday, November 25, 2020

LỮ ĐOÀN 3 DÙ CHỈ CÒN 1/4 QUÂN SỐ CHỈ SAU HAI NGÀY ÁC CHIẾN, CHỐNG LẠI BA TRUNG ĐOÀN CSBV CÓ PHÁO BINH VÀ XE TĂNG HỖ TRỢ

- Trong chiến tranh, tinh thần của quân sĩ bằng ba lần sức mạnh của đơn vị. Và ko có trung đoàn tồi mà chỉ có Đại Tá tồi.-- Hoàng đế Napoléon 

Lời nói đầu: Ngày 30.3.75, sđ 10 csbv đấu pháo với lữ đoàn 3 dù, ngày kế bao vây TĐ 5 Dù, gây thiệt hại 80/100. Ba pháo đội (18 khẫu 105 ly) của lữ đoàn 3 dù, rút về phía sau, về gần Buôn A Thi, đã khiến các đv tiền tiêu, ám chỉ của TĐ 5 Dù mất sự yểm trợ vì ngoài tầm đạn pháo binh. Sự sụp đổ của Dù diển ra nhanh chóng. Sau khi bỏ qua các vị trí của Dù trên đèo, sđ 3 csbv tấn công TĐ 6 Dù.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ sách From Ceasefire to Capitulation: 

"Cuộc phản công sư đoàn 23 VNCH từ Phước An đã thất bại khi tướng Dũng điều sđ 10 csbv từ tỉnh Quảng Đức. Tàn quân của sđ 23, ĐPQ và dân thường trốn thoát từ tỉnh Darlac đổ xô về hướng đông tràn qua cao nguyên dọc QL-21. Lính tráng tập hợp ở Khánh Dương, quận cuối cùng của Darlac trước khi xa lộ này uốn khúc vượt Đèo Cao hay Đèo M'Drak tới các đồi núi duyên hải và bình nguyên của tỉnh Khánh Hòa.

Đèo M'Drak dĩ nhiên là phòng tuyến để bảo vệ Nha Trang, nơi đặt BTL QK2, BCH Vùng 2 Duyên Hải và sđ 2 KQ. Nha Trang còn có trường HSQ, và gần đó là TTHL Lam Sơn. Ở bắc Nha Trang, QL-21 gặp QL-1 ở Ninh Hòa. Phía tây Ninh Hòa, giữa đường từ bờ biển và quận Khánh Dương, là TTHL BĐQ Dục Mỹ và Trường Pháo Binh. Do vậy, với tập trung về quân sự và dân số, khu vực Nha Trang - Ninh Hòa là cứ điểm quan trọng cuối cùng tại QK2. Nếu ko giữ được, việc tái chiếm cao nguyên là ko khả thi, và nếu giữ được, có thể ngăn các sđ CSBV theo QL-1 để tiến về Sài Gòn. 

Phần lớn kẻ sống sót từ Darlac đã đi ngang Khánh Dương bằng đường bộ hay trực thăng, lính BDQ thì tới Dục Mỹ để tái tập hợp, sđ 23 tới Cam Ranh TTHL Lam Sơn. Một BTL tiền phương của sđ 23 đặt tại Khánh Dương để chỉ huy những lực lượng bảo vệ đèo này gồm: lữ đoàn (LĐ) 3 Dù, xuống tàu ở Nha Trang sau khi chỡ từ Đà Nẳng, và bch và hai TĐ của trung đoàn 40, sđ 22 bộ binh, đến từ tỉnh Bình Định.

Sau khi chiếm Phước An, sđ 10 csbv tiếp tục đuổi theo họ và tới gần Khánh Dương. Trung đoàn 40 VNCH từ Khánh Dương tiến về hướng tây để chận sđ 10 csbv. LĐ 3 chiếm các cao điểm trong đèo, sau lưng của trung đoàn 40. NGÀY 22 THÁNG 3, các TĐ dẫn đầu của sđ 10 csbv, với tăng hỗ trợ, tấn công Khánh Dương và hai TĐ của trung đoàn 40 buộc phải rút lui, xuyên qua phòng tuyến của Nhảy Dù.     

                                   



Một mạng lưới những đường xe chỡ gỗ (logging road) xuyên qua những khu rừng dầy đặt và dốc đứng của phía tây tỉnh Khánh Hòa. Nếu bị ngăn cản bởi LĐ 3 Dù trên đèo này, quân csbv có thể gửi một lực lượng lớn đi về phía nam, vòng quanh Nhảy Dù, và đến gần Nha Trang từ hướng tây qua quận Diên Khánh. Để ngăn ngừa đe dọa này, trung đoàn 40 rút về Dục Mỹ, rồi tiến về nam tới đông Diên Khánh để chuẩn bị các vị trí dọc hai bên tỉnh lộ (TL) 420, chạy về hướng đông tới Diên Khánh và vào Nha Trang. Trung đoàn 40 được tăng cường bởi một TĐ ĐPQ và một khẫu 155 ly và hai khẫu 105 ly.

Các toán viễn thám (VT) được gửi tới rừng phía nam của Khánh Dương để cố gắng phát hiện mọi lực lượng đáng kể của địch xuôi nam về Diên Khánh. Không phát hiện lực lượng nào hết dù vài dấu hiệu bất thường (ominous) về di chuyển tấp nập gần đây được báo cáo, nghĩa là trước đó có đông người di chuyển qua đó. 

Tại Đèo Cao hay Đèo M'Drak, với những vị trí tiền tiêu ở Núi Chu Kroa, một đỉnh núi nổi bật hơn 3.100 feet hay 945 mét, các chiến sĩ của LĐ 3 Dù trong các công sự chờ đợi sđ 10 csbv, mà trung đoàn 28 và xe tăng đã có mặt tại Khánh Dương. Một TĐ ĐPQ đóng trên đèo này và sau lưng LĐ 3 Dù. TĐ 34 BĐQ thuộc LĐ 7 BĐQ, vừa mở đường máu khi di tản trên QL-7B, được lịnh bảo vệ Đèo Cả ở phía bắc Ninh Hòa. 

Với Nhảy Dù vẫn còn cố thủ trên QL-21, tướng Phú đã thông báo NGÀY 29 THÁNG 3 các trách nhiệm mới về chỉ huy tại phần còn lại của QK 2. Tướng Niệm, chỉ huy sđ 22, từng trách nhiệm tỉnh Bình Định và Phú Yên. Nay Qui Nhơn, tỉnh lỵ của Bình Định, đã mất ngày 2 THÁNG TƯ. Ông cũng chỉ huy trong giai đoạn ngắn TĐ 96 BĐQ, thuộc LĐ 21, từng chiến đấu ở Ban Mê Thuột, nay tập hợp để chiến đấu ở Tuy Hòa Phú Yên.

Tỉnh Tuyên Đức và lâm Đồng thuộc trách nhiệm của thiếu tướng Lâm Quang Thơ, chỉ huy trường Võ bị Đà Lạt. Ngoài ĐPQ, tướng Thơ còn có tàn quân của LĐ 24 BĐQ đã di tản xuyên rừng sau khi mất Quảng Đức. 

Chuẩn tướng Lê văn Thân, TL phó của QK2, được gửi tới Cam Ranh. Ông sẽ bảo vệ đặc khu Cam Ranh, tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Ông cũng tái thành lập sđ 23 bộ binh từ 4.900 người tập hợp (muster) ở Cam Ranh. 

Nhiệm vụ quan trọng nhứt, bảo vệ tỉnh Khánh Hòa, thuộc về chuẩn tướng Trần văn Cẩm, khi ông chỉ huy LĐ 3 Nhảy Dù, trung đoàn 40 bộ binh, TĐ 34 BĐQ, và ĐPQ. Nhưng trước khi tướng Cẩm di chuyển từ tỉnh Phú Yên, nơi ông kiểm soát đầu phía đông của cuộc di tản trên LTL-7B, sđ 10 csbv đã tấn công LĐ 3 Dù tại Đèo M'Drak NGÀY 30 THÁNG BA. NGÀY 31 THÁNG BA, hỗ trợ bởi trung đoàn 40 pháo binh và hai đội đội xe tăng, các thành phần của trung đoàn 28 và 66 đã bao vây TĐ 5 Nhảy Dù, lúc đó chỉ còn 20/100 quân số

LĐ 3 Nhảy Dù đã triển khai theo chiều sâu từ Núi Chu Kroa và chiếm các cao điểm kéo dài khoảng 15 km dọc hai bên đèo. Pháo binh địch đã bắn cháy 5 trên 14 thiết vận xa M-113 tăng phái cho lữ đoàn, và ba pháo đội 105 ly (18 khẫu) đã rút về phía sau, đóng gần Buôn A Thi, và bất hạnh thay, họ không thể yểm trợ cho các tiền đồn của dù vì quá tầm. Sự sụp đổ của Nhày Dù đã diển ra nhanh chóng. (TRONG KHI ĐÓ, nhờ có phối hợp nhịp nhàng, trong vòng 25 NGÀY của tháng 3/75, ba trung đoàn 41, 42, và 47 của sđ 22 vnch, dù bị thiệt hại nặng, đã thay phiên nhau dành đi chiếm lại các cao điểm trên Đèo An Khê của QL-19 - đã bị sđ 3 csbv chiếm trước đó -- người dịch). Tại Buôn A Thi, các thành phần của sđ 10 csbv đã đi vòng các vị trí của Nhảy Dù trên QL-21 và tấn công TĐ 6 Dù. Dù lính Nhảy Dù bắn cháy ba T-54, họ ko thể giữ được. Lữ đoàn bị cắt làm hai ở Buôn A Thi và buộc phải rút lui nhanh chóng để bảo toàn lực lượng. 

Lữ đoàn 3 Dù, chỉ còn chưa tới 1/4 quân số, đi bộ ngang qua Dục Mỹ và Ninh Hòa và ngừng ở một đèo hẹp nơi QL-1 chạy dọc theo bãi biển dưới Núi Hòn Sơn, phía bắc Nha Trang.

SĐ 10 csbv bám sát phía sau. NGÀY 1 THÁNG 4, xe tăng csbv chạy ngang Dục Mỹ và Ninh Hòa và hướng về Nha Trang. Tổng lãnh sự Mỹ và nhân viên rời Nha Trang bằng máy bay về Sài Gòn, bộ tham mưu của QK2  chuyển bằng đường bộ về Phan Rang, tàn quân của dù, BĐQ, ĐPQ, và trung đoàn 40 đi theo. Không quân VNCH di tản khỏi sân bay Nha Trang lúc 1500 và các máy bay khả dụng đều cất cánh. NGÀY 2 THÁNG 4 xe tăng csbv vào thành phố. 

Mức tiến quân vũ bão của csbv đã khiến việc phòng thủ ở Cam Ranh là ko khả thi (feasible). Nhận thức được điều này, BTTM đã ra lịnh di tản lập tức mọi thành phần còn lại của QK 2 ra khỏi cảng này, và NGÀY 2 THÁNG 4, di tản toàn diện (full swing)". 

Dịch từ: trang 163-164 từ quyển From Ceasefire to Capitulation của ĐT Le Gro thuộc cơ quan DAO. 


Từ Hà Nội đến Sài Gòn: Từ Di Cư 1954 - Đến Di T

  • Từ Hà Nội đến Sài Gòn: Từ Di Cư 1954 - Đến Di Tản 1975






    Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

    Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

    Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

    Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.




    Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954


    Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

    Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

    Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.



    Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu”.

    Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

    Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

    Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

    Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

    Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

    Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

    Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

    Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp củHoa Kỳ thay thế người Pháp.

    Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

    Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

    Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

    Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

    Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

    Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

    Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.



    Một Trung Tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.


    Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

    Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

    Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.



    Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

    Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

    Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.



    Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

    Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

    Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

    Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

    Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.


    Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

    Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

    Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

    Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.


    Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư
    với hàng trăm căn lều.

    Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư.

    Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

    Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

    Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.


    Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

    Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

    Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

    Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.


    Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

    Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nambị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng”.


    Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

    Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

    Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.


    Lữ Tuấn

 CHẶT CÂY XANH TRONG THÀNH PHỐ : Trông người lại nghĩ tới ta .

Tài Trần: chỉ cần chặt MỘT cây óc chó (walnut tree) bị mối mọt  mà CQ thành phố Cupertino Cali fornia đã phải ra thông báo để dân biết và đóng góp ý kiến. Trong khi đó, ở Hà Nội và Sài Gòn, CQ đã chặt HÀNG NGÀN CÂY CÔ THỤ ĐANG TƯƠI TỐT mà chẳng cần hỏi ý kiến dân.

==

Sau đây là tạm dịch từ thông báo của TP Cupertino * trước khi chặt MỘT cây óc chó (walnut tree) trong công viên Blackberry Farm .


"TP Cupertino , California

Ban Công viên và giải trí

Tháng 3 2010

Thông báo chặt và tỉa cây tại CV Blackberry Farm .

Các nhà cây cảnh/chuyên gia trồng cây (arborist) - mà tp nhờ tư vấn - đã phát hiện vài vấn đề liên quan đến cây tại CV Blackberry Farm . Có MỘT cây tại khu vực picnic của CV này đã bị sâu phá nát ruột cây và đây là vấn đề an toàn nghiêm trọng . Các nhà cây cảnh đã khuyến cáo nên chặt ngay lập tức . . . Vài cành của các cây lân cận cũng đc họ đánh dấu để cưa hay tỉa vì lý do an toàn hay để bảo đảm sức khỏe của cây .

Cây phải chặt bỏ là cây óc chó (walnut tree) đen nằm ở khu đất thấp của sân picnic của CV . Cây dự trù sẽ chặt vào 11/2/2010 sau khi có kết quả khảo sát . . .

Cây óc chó ko nằm trong danh mục cây đc bảo vệ bởi tp và ko buộc phải thay thế bằng cây khác . Tuy nhiên , một cây thay thế sẽ đc trồng lại vào tháng tới ở bờ suối . Cây bị chặt bỏ sẽ đc dùng lại tại chổ để cổ võ cho mục tiêu bảo tồn thiên nhiên . Một số cành thích hợp sẽ đc dùng để tạo thêm môi trường sống cho cây cối (habitat) . Phần còn lại sẽ đc cắt vụn (chip) để làm mùn cây (mulch) cho CT bảo tồn cây cỏ . Rất tốt với môi trường khi dùng mùn cây có sẳn , hơn là nhập từ nơi khác có thể chứa mầm cỏ dại (weed seed) . Chúng tôi cũng cần thêm mùn cho CV này vào mùa xuân . Chúng tôi vui mừng đón nhận mùn cây từ các bạn .

Nếu bạn có câu hỏi nào về việc (chặt cây) này , xin vui lòng tiếp xúc :

Ông Tom Walters at 408-777-3110" . (Hết)


Nhận xét : TP Cupertino xử lý với cây đã bị sâu nặng như sau : Họ nhờ những chuyên viên về cây cảnh tư vấn trước khi chặt cây . Dù Ban Công viên và Giải trí của TP cũng có người chuyên về cây cảnh , họ cũng lấy ý kiến người khác/người ngoài (có thể gọi là phản biện) trước khi quyết định chặt cây . Cây đã chặt đc dùng lại : 1 số cành cây dùng trang trí trong CV , phần còn lại cắt vụn để làm mùn cây - làm cho êm đất ; một công đôi ba chuyện . Sở Xây dựng Hà Nội nên học tập kinh nghiệm này .

* Đây là một TP nhỏ kế cận San Jose và nơi đặt bản danh của hảng Apple - sản xuất iPhone , iPad , iPod , laptop Mac , v.v...

 TÌNH TRẠNG TRANH 'NHÁI' HAY BẮT CHƯỚC TẠI TRUNG QUỐC .

Van Gogh phải mất nhiều tháng cho bức tranh Hoa Hướng Dương của ông . Tại làng Dafen tại nam Trung quốc , một họa sĩ bắt chước giỏi có thể vẽ tranh này trong 1 hay 2 ngày ! Hàng ngàn họa sĩ tại làng này bắt chước các tranh quí cổ . Giá bắt đầu từ 4 đô tại địa phương và lên tới 100 đô hay hơn tại nước ngoài hay trên mạng . Xuất khẩu hàng năm , phần lớn sang Âu châu và Mỹ tổng cộng hàng chục triệu đô . . .

Đó là nghệ thuật à ? "Một nghệ sĩ phải sáng tạo , " Mu Jiashan , một ng chuyên vẽ phong cảnh xuất sắc của TQ nói . "Một nghệ sĩ tốt ko nên bắt chước 1 bức tranh để kiếm tiền . " Họa sĩ Wu Yangliang , 36 t , thừa nhận : " Tôi muốn bỏ việc bắt chước này để đeo đuổi những giấc mơ nghệ thuật của tôi . " 

Một số HS này tự học ; những ng khác tốt nghiệp trường nghệ thuật . 

Một HS có thể tạo 20 bức mỗi ngày .

Một HS loại này có thể kiếm 1.500 đến 4.500 đô một năm ; mức lương bình quân ở thành thị TQ là 2.500 đô .

Nhu cầu đang tăng cao đối với các bản sao của tranh TQ hiện đại .

Chỉ cần thêm 1 chút tiền , một HS sẽ vẽ mặt của mẹ bạn trên bức Mona Lisa .

Trong hình , một HS tại làng Dafen trình bày 1 bản sao ko hoàn chỉnh của Hoa Hướng Dương (Sunflower) của Van Gogh .

Nguồn : NAT GEO May 2008 .



Sunday, November 22, 2020

DO BỊ THIỆT HẠI NẶNG BỞI SĐ 101 NHẢY DÙ MỸ, QUÂN CSBV TRẢ THÙ BẰNG CÁCH DÙNG ĐẶC CÔNG TẤN CÔNG CĂN CỨ AIRBORNE CỦA SĐ NÀY

- Dù các lãnh đạo Mỹ đã bỏ rơi VNCH nhưng chúng ta cũng ko quên các người lính Mỹ đã hy sinh cho đất nước này.

Lời nói đầu: Trong đầu năm 1969, các đơn vị thuộc sđ 1 Không Kỵ (Air Cav) sđ 101 Dù Mỹ, trong đó có TĐ 3/187, đã hành quân trong vùng thung lũng A Shau ở bắc tỉnh Thừa Thiên, nhằm phá tan các căn cứ hậu cần của csbv nằm sát biên giới Lào-Việt. Bên kia biên giới cũng là những căn cứ hậu cần rất lớn và rất an toàn của CSBV vì quân Đồng minh ko thể vượt biên giới để tấn công. Thung lũng này có tỉnh lộ 548 có từ thời Pháp, chạy theo hướng bắc-nam và sau này là một nhánh của đường mòn HCM; từ thung lũng cũng có tỉnh lộ 547 chạy đến Huế (hai TL này thời chiến tranh bị bỏ hoang); thung lũng cũng là nơi xuất phát người và vũ khí để tấn công Huế năm Mậu Thân 1968. Các đơn vị Mỹ đã đụng độ ác liệt với quân csbv tại một ngọn núi cao có tên là Động Ngải và trước đó quân Mỹ đã lập căn cứ hỏa lực (CCHL) Airborne, xem bản đồ, để yểm trợ cho TĐ 3/187. Từ đó trở đi các TL Mỹ đã nhận định rằng, ko như các nơi khác, quân csbv thường né tránh đụng độ với lính Mỹ vì sợ phi pháo, ở đây Bắc quân đã bất chấp phi pháo, CHẤP NHẬN GIAO CHIẾN với Mỹ, nên thiệt hại của hai bên đều cao mà đỉnh điểm là trận đánh tại Động Ấp Bia - ác liệt đến độ sau này mang tên là Đồi Thịt Bầm (hamburger Hill) và còn được quay thành phim! Do thương vong cao, trận đánh ở nơi hẻo lánh này đã tác động đến dư luận và quốc hội Mỹ, đã khiến các TL Mỹ tại VN đã thay đổi cách đánh bằng cách hạn chế dùng bộ binh để giao chiến với địch nhằm giảm thương vong cho lính Mỹ.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

========

                      

...

"Trong khi quân sĩ của đại tá Honeycutt *TĐ trưởng của TĐ 3/187 trải qua một đêm ngủ ko ngon (uneasy), quân csbv tại phía bắc của trại LLĐB A Shau đang chuẩn bị để đi tấn công. Tuy nhiên, mục tiêu của họ, ko phải là những vị trí phòng thủ đêm, viết tắt là NDP (night defensive position), nằm rải rác dưới Động Ấp Bia (dân Quảng Trị hay Thừa Thiên gọi núi là động, do đó có thể gọi là Núi Ấp Bia - người dịch), nhưng lại là CCHL Airborne, một trong năm căn cứ pháo binh yểm trợ cho TĐ 3/187 Mỹ. Chỉ trong vài giờ nữa sẽ xảy ra một trong những tấn công bằng đặc công, đẫm máu nhứt, và đối với người Mỹ cũng là THÊ THẢM NHỨT, trong lịch sử chiến tranh VN. Cuộc tấn công này sẽ xác nhận sự nghi ngờ mà nhiều sq cao cấp của sđ này đã nghĩ rằng (entertain) rằng quân csbv giờ đây là có ý định chiến đấu, và chiến đấu dữ dội, để giữ phía bắc A Shau (vì khu vực Động Ấp Bia ở phía bắc của trại LLĐB A Shau -- người dịch), xem bản đồ.

Tuy nhiên, để hiểu những biến cố sắp tới tại Airborne, chúng ta cần trở lui 20 ngày trước. Trong những giờ đầu của sáng 22/4/1969, một máy bay quan sát, trong một phi vụ thám thính thường lệ trên phía bắc A Shau, đã thấy vài lều ở cao độ 2.000 m bên dưới của đỉnh của Động Ngải. Đây ko phải là khám phá đặc biệt (exceptional), vì nó đã ở trong một khu vực mà lính của sđ 101 dù Mỹ gọi là "khu vực nhà kho", một khu vực rộng 10 km2 của rừng núi ở phía đông của trại A Shau, nơi xuất phát một phần tiếp tế và đạn dược cho địch trong tỉnh Thừa Thiên.

Một lục soát kỹ lưỡng (thorough) khu vực này sẽ có thể tìm thấy hàng chục các túp lều bằng tre và nứa (bamboo and thatch) như vậy, đó có thể là một phần của một căn cứ địch đang hoạt động hay bỏ hoang lâu rồi.  

Dù sao đi nữa (either way), những túp lều này là những mục tiêu cho phép tấn công, và vài phút sau đó, các oanh tạc cơ đã bắt đầu ném các quả bom 250 và 500 cân Anh xuống khu vực chung quanh những lều này.  Đợt oanh kích đầu tiên của máy bay chỉ tạo những lổ hổng trong rừng rậm, nhưng từ đợt oanh kích thứ hai và ba, một loạt tiếng nổ PHỤ đã làm rung chuyển khu vực này giống như núi lửa đang phun. Những quả cầu lửa đã phun lên từ ngọn cây, và những tia chớp màu đỏ do bom nổ đã tạo nên những đợt sóng khắp khu vực núi rừng này. 

Lính csbv đang cố thủ trong những núi non bao quanh các lều này, và dù họ có thể dễ dàng bắn vào các máy bay này, họ ko làm như vậy. Họ đã quyết định chờ tình hình thuận lợi khi quân Mỹ tiến vào. 

Ngày kế, B-52 đã tấn công mạnh hơn, với hàng trăm tấn bom loại 1000 cân anh. Lần nửa, những tiếng nổ phụ lớn lao, là bằng chứng thuyết phục đối với tình báo Mỹ rằng địch đã dùng phần lớn khu vực tây nam của Động Ngải để chứa vũ khí đạn dược. 

Để khai thác mục tiêu và xem kho đạn lớn cở nào, một trung đội xung kích đường không (aerial rifle platoon) của TĐ 2/17 thuộc sđ 1 không kỵ Mỹ được đưa vào. Cả tr.đội đi trên một CH-47 Chinook. Trong khi chiếc trực thăng khổng lồ đang đung đưa trên một hố bom, để cho bs xuống bằng thang dây qua một lổ nhỏ của rừng cây dầy đặc, tàu bay bị bắn trúng bởi hỏa lực dữ dội từ dưới đất khiến nó rơi xuống những ngọn cây cao 30m. Bảy người chết tại chỗ và hai bị thương nặng. Những kẻ sống sót, bị sốc dữ dội, chỉ đủ thời gian để lập một chu vi phòng thủ trước một lực lượng địch cở tr.đội từ núi tràn xuống và cố gắng tràn ngập. Lính Mỹ đã giết hay làm bị thương khoảng 1/2 của lực lượng địch, nhưng mất thêm 5 người và khẩn cấp gọi cứu viện.

Hai tr.đội khác của TĐ 2/17 không kỵ đc trực thăng vận tới đó để phản công, nhưng họ tưởng như đã lạc vào cơn bão lửa (fire storm). Họ cố gắng đáp xuống đất nhưng rớt thêm hai chiếc và bị thương 10 người. Viện quân này có thể mở rộng chu vi, nhưng chẳng bao lâu bị tấn công dữ dội bởi những nhóm nhỏ quân CSBV. 

Sợ rằng TĐ 2/17 không kỵ có nguy cơ bị tràn ngập, tướng Zais, TL sđ 101 Dù Mỹ, gọi ĐT Honeycutt đến trại Eagle ở gần Phú Bài Huế. Trong cuộc gặp vội vả, tướng Zais nói với Honeycutt rằng tình hình tại Động Ngải nghiêm trọng và TĐ 2/17 không kỵ bị thiệt hại nên cần được thay quân (relieve) lập tức. Sau khi thay thế 2/17 không kỵ, Honeycutt được lịnh phải tấn công Động Ngải và dọn sạch những hầm hố và giao thông hào trên núi này. 

Dù cho bị rơi hai trực thăng quan sát và một trực thăng Cobra vì hỏa lực địch, tđ 2/17 không kỵ đã cố thủ trong đêm đó. Vào sáng sớm NGÀY 25 THÁNG 4, Honeycutt đã đưa đ.đ. Bravo tới CCHL Blaze, nơi họ nhanh chóng chuẩn bị mở cuộc tấn công lên núi này, ám chỉ Động Ngải. (QĐ Mỹ dùng các chữ Alpha, Bravo, Charlie, và Delta để thay thế chữ A, B, C, và D trong danh xưng các đại đội - có lẽ để tránh nhầm lẩn -- người dịch). 

CCHL Blaze, đ.u. Robinson, chỉ huy đ.đ. Bravo, sẽ được thay thế trong vài ngày tới bởi đ.u. Littnan, tập hợp các tr.đ. trưởng và thuyết trình về tình hình Động Ngải. Các tr.úy (lieutenant)  Boccia, Eward, Dickey, và Denholm đứng im lặng khi đ.u. nói. "2/17 Thiết kỵ đã bị thiệt hại," ông nói vắn tắt. "Kể từ sáng hôm qua, họ mất hơn 40 người, và nếu chúng ta ko tới đó để giúp họ, họ sẽ bị quét sạch (wiped out). Rất xấu ở đó, và tôi lập lại rất xấu!"

Con số thương vong này đã gây kinh ngạc các sq hiện diện, dù họ đã nghe tin này rồi. Trong khi 4 trung úy chuẩn bị người cho phản công, đ.u. Robinson nhận lịnh mới từ TĐ trưởng Honeycutt về thay đổi kế hoạch. Chỉ trong GIỜ QUA, TĐ 2/17 không kỵ này đã mất thêm 40 NGƯỜI khi đẩy lui một tấn công dữ dội (savage) của bộ binh địch. Chu vi phòng thủ của họ bị chọc thủng (beleaguered) đến nỗi Honeycutt nghĩ rằng sẽ ko an toàn nếu đưa quân đến phản công. Ông đã quyết định thả đ.đ. Bravo và Delta xuống đỉnh của Động Ngải và từ đó đánh xuống hướng về phía TĐ 2/17, tạo gọng kềm để từ từ siết chặc địch. 

Không quân (KQ) đã dọn một BÃI ĐÁP (LZ) khoảng 200 MÉT TỪ ĐỈNH của Động Ngải, và ông nói đ.u. Robinson sẽ dùng nó cho cuộc tấn công đầu tiên. Một khi toàn đ.đ. Bravo đã xuống và chiếm đỉnh núi, đ.đ. Delta sẽ trực thăng vận (to CA) vào.

Kế hoạch có vẻ tốt đẹp trên giấy, nhưng khi tr.úy Boccia nghe rằng tr.đội của y sẽ vào trước, ông phải cố gắng để tránh hoảng loạn (had to fight off a feeling of panic). Nếu bắc quân có phòng không ở những dốc núi (slope) thấp của Động Ngải, chúng cũng sẽ có phòng không ở gần đỉnh, và Boccia hình như chắc chắn rằng đ.đ. Bravo sẽ được thả xuống một bãi đáp (LZ) NÓNG. 

Bỏ qua điềm báo trước, Boccia nhanh chóng đưa lính lên sáu trực thăng, và lúc 1530 họ cất cánh đi về bắc của A Shau, tiếp sau đó là những chiếc chỡ phần còn lại của đ.đ. Bravo. Boccia đi trong chiếc đầu, cùng với các chuyên viên bậc 4 như Helms, Logan, Hyde, Walton, và Onge. Trực thăng phải bay gần 10 phút trong khoảng cách 13 km từ CCHL Blaze tới Động Ngải. Khi họ tới, toàn đội hình đã bay chậm (hover) trên thung lũng trong khi hai oanh tạc cơ ném các bom 500 cân Anh xuống khu vực chung quanh bãi đáp.

Lúc 1600, sau khi dọn bãi lần cuối (final prep) bởi trực thăng võ trang, chiếc trực thăng dẫn đầu bay vào bãi đáp. Điềm báo trước của Boccia đã đúng. Khi trực thăng còn cách bãi đáp khoảng 1.000 m, xạ thủ ở phía trái, binh nhứt (Pfc) Fleagane, đã phát hiện những họng súng (muzzle) khạc đạn từ những cây ở bên phải của bãi đáp. Y đếm từ 5 đến 6 họng súng, nhưng khi trực thăng chỉ còn 500 m, số này gấp đôi. Khi trực thăng còn 250 m, phi công phụ nói vào máy bộ đàm, "Nổ súng ngay lập tức!"

Fleagane ko cần ai ra lịnh. Trước khi đ.u. này nói hết câu, viên binh nhứt trẻ tuổi đã bóp cò khẩu M-60 và ria đạn vào hàng cây bên dưới. Trưởng phi cơ cũng nổ khẩu M-60. 

Fleagane lúc đầu giữ cò súng trong 30 giây, sau đó giữ trong 20 giây. Nhưng y thấy ko đủ. Mọi nơi trên bãi đáp đều có thêm nhiều họng súng của địch đang nhả đạn. Y tiếp tục bắn vào sườn núi. 

Khi trực thăng chỉ còn cách bãi đáp khoảng 100 m, y bắt đầu thấy những hầm trú ẩn và hố chiến đấu cá nhân (spider hole) ở khắp nơi trên sườn núi và y cũng thấy vài thang tre mà những tên bắn sẻ dùng để leo lên ngọn cây. Y bắn vài loạt vào những ngọn cây này nơi mà y nghĩ có lính bắn sẻ, nhưng quá nhiều mục tiêu cho khẩu súng của y.

Ở khoảng cách 60 m, trực thăng bị trúng một loạt đạn. Fleagane và trưởng phi cơ tiếp tục bắn, ria đạn chung quanh bãi đáp, trong khi thiếu tá Daugherty trưởng phi cơ cho máy bay đáp xuống.  

Bãi đáp chật chội và đầy những mảnh vụn của cây, và Daugherty chỉ còn khoảng một mét là cánh quạt đụng cây hai bên. Với đạn tiếp tục bắn vào máy bay, Daugherty cho máy bay chòng chềnh cách mặt đất khoảng 3m. Nhanh như chớp, Logan, Onge, Helms, Hyde, và Walton nhảy ra khỏi máy bay và chạy nhanh vào rừng chung quanh. Khi tới phiên trung úy Boccia, túi đeo mặt nạ hơi cay của ông bị vướn vào một móc trên sàn máy bay và ông ko thể cử động. Với máy bay đang trúng đạn, đ.u. Watson nhìn quanh và hét lớn với Fleagane, "Đẩy ông ta ra."

Ngay khi Fleagane bắt đầu đẩy Boccia, máy bay đột nhiên bay lệch khoảng một thước khỏi đường đỉnh của núi khiến Boccia rơi vào khoảng không thay vì rớt xuống đất. Trung úy Boccia rơi vào một khúc gỗ, rồi lăn thêm (tumble) gần 5 mét xuống hố trước khi ngừng lại. 

Ở bên trên, thiếu tá Daugherty cho máy bay bốc lên cao, và Fleagane nhào tới khẩu M-60. Ở bên trái của y, ko xa hơn 20 m, y thấy hai lính BV núp sau một khúc gỗ. Y quay súng về họ và bắt đầu bóp cò nhưng một quả B-40 trúng ngay dưới ghế ngồi của phi công. Fleagane nghe một tiếng nổ ở sàn máy bay giống như một cây búa khổng lồ vừa đập vào. Y nhìn vào phòng lái thấy tiếng nổ đã thổi bay cánh tay trái của đ.u. Watson và phòng lái tung tóe máu.

Trực thăng đã rớt như viên đá, cánh quạt chặt cây trước khi sút ra và rớt (careen) xuống rừng. Máy bay đã đụng đất với một lực mạnh đến nỗi càng của nó kẹt cứng vào mặt đất và bộ phận truyền động của máy bay phá nát tay trái của Fleagane.

Người xạ thủ này, choáng váng, ngồi trên sàn trực thăng một lúc, và đã thấy điều gì đó sẽ ám ảnh y suốt đời. Dù chảy máu nhiều (profusely), đ.u. Watson rút một dao rựa từ dưới ghế, rời ghế và lao lên núi tới vị trí của địch. Ông chưa chạy được 15 m và chỉ cách Onge chưa tới một m, đang đứng núp một cây, thì một quả B-40 trúng vào ngực của đ.u. Tiếng nổ đã tung xác ông và Onge thành từng mảnh rơi lả chả xuống đất. 

Fleagane bò qua cửa bên kia của trực thăng và bắt đầu kéo Daugherty khỏi ghế. Một tên bắn sẻ nổ súng và trúng đầu gối của thiếu tá Daugherty. Fleagane đã đưa thiếu tá đến sau một khúc gỗ, nhưng một giây sau, tên bắn sẽ này đã bắn trúng lưng thiếu tá. 

May mắn cho thiếu tá và Fleagane vì Boccia và đồng đội đã lập một chu vi chung quanh chiếc trực thăng rơi, và giúp đưa 2 người tới một hố bom. Trong khi đồng đội nằm sát đất để tránh hỏa lực địch từ các vị trí trên cao, Boccia gọi trực thăng Cobra. Trong khi Cobra bắn vào khu vực đó, Boccia gọi trực thăng cứu thương vào để bốc Fleagane và thiếu tá Daugherty. 

Vài phút sau đó, TĐ trưởng Honeycutt bay bên trên và điều khiển một đợt gồm 7 chiếc chuẩn bị đáp xuống phía tây của núi. Ông đối diện một khó khăn. Nếu ông ko tăng viện cho vị trí của Boccia, họ sẽ bị tràn ngập. Nhưng gửi thêm viện quân vào một bãi đáp nóng như vầy sẽ có thêm thương vong. Ông đã quyết định tăng viện. Mặc dù bị bắn dữ dội, chiếc đầu tiên thả xuống sáu người và bay đi. Tuy nhiên phi công của chiếc thứ hai đã hoảng loạn khi máy bay bắt đầu trúng đạn và máy bay rơi xuống một cái cây. Máy bay nghiêng qua một bên và rớt xuống rừng bên trái của bãi đáp. Chiếc thứ ba thả xuống thêm sáu người, nhưng phi công của chiếc thứ tư, có lẽ mất tinh thần (unnerved) do hỏa lực dầy đặc của địch bắn vào máy bay, đã bay thụt lui khiến cánh quạt đuôi đụng cây và rớt xuống rừng ở bên phải của bãi đáp. Chiếc thứ năm, dù ko trúng đạn, nhưng mất sức quay (torque) trong khi lơ lửng trên cây để thả lính và rớt ngay xuống bãi đáp, khiến bãi đáp ko thể dùng được nữa. 

Boccia buộc lòng phải hủy bỏ mọi tăng viện. Với buổi tối sắp đến, y ra lịnh tháo các đại liên trên bốn máy bay rơi và lập một chu vi với 7 người bị thương nằm ở giữa. Sau đó một chút, một trung đội địch quân bắt đầu thăm dò chu vi phòng thủ. Quân của ông đẩy lui nhưng chúng tiếp tục thăm dò suốt đêm. 

Vào buổi sáng hôm sau, TĐ trưởng Honeycutt đã nhanh chóng trực thăng vận phần còn lại của đ.đ. Bravo và hai tr.đ. của đ.đ. Alpha vào bãi đáp DƯỚI. Sau khi lập chu vi phòng thủ và giúp TĐ 2/7 thiết kỵ tải thương và mang đi người chết, cả hai đ.đ. bắt đầu gửi những toán tuần tiểu cấp tiểu đội đi ngược lên núi để thăm dò vị trí địch. 

Với bãi đáp dưới đã an ninh , TĐ trưởng gọi oanh tạc cơ và trực thăng võ trang tấn công vị trí địch ở phía trên chu vi của Boccia. Kế đó, sau khi chờ các phi công của chiếc máy bay rơi sửa chữa và dọn sạch bãi đáp, ông ra lịnh cho đ.u. Sanders trực thăng vận đ.đ. Delta vào tăng viện cho Boccia. Năm chiếc đầu tiên chỡ đ.đ. Delta đã thả lính xuống an toàn nhưng hai chiếc kế bị bắn rơi, và bãi đáp lần nữa ko xử dụng. 

Lúc 1540, TĐ trưởng đích thân đáp xuống bãi đáp DƯỚI và chỉ huy trực tiếp. Ông vừa lập xong bch TĐ thì cả vị trí bị pháo dữ dội bằng cối. Pháo cối kéo dài hơn một giờ. Một đ.đ. địch trang bị AK47 tấn công chu vi từ hai hướng khác nhau. Các xạ thủ M-79 và súng không giựt phản công bằng đạn chống biển người (flechette) và bẻ gẫy đợt tấn công. 30 phút sau đó, địch tập hợp tấn công lần nữa. Có một lúc, địch đã chọc thủng phía bắc chu vi và hình như bắt đầu tràn ngập, nhưng TĐ trưởng đã gọi máy bay dùng bom napalm thả xuống cách vị trí quân Mỹ chưa tới 50 m. Một quả bom đã đốt cháy một tiểu đội địch khi họ chuẩn bị tấn công. Lúc gần tối, địch bắt đầu rút lui về phía núi cao, để lại 10 xác chết. 

VÀO BUỔI SÁNG NGÀY 26/4, ĐT Honeycutt ra lịnh cho TĐ 3/187 tấn công. Đ.u. Harkins, chỉ huy đ.đ. Alpha, ngay từ sáng sớm sẽ dùng trực thăng xuống bãi đáp TRÊN và chỉ huy đám tàn quân ô hợp (hodgepodge) ở đó. Ngay khi tới nơi, ông họp với các sq của ông, "Tôi ko thể nhớ đã thấy được một hổn độn như vầy, " Harkins nói vừa chỉ tay vào bãi đáp với những trực thăng nằm rải rác. "Nó giống như một phim Keystone Kops tồi."

Harkins liền nhanh chóng tổ chức họ thành các trung đội và lập tức mở cuộc tấn công. Sau khi kiểm soát các vị trí cao chung quanh bãi đáp, ông mở rộng chu vi, rồi ra lịnh cho trung úy Boccia và trung đội 3 của trung úy Bresnahan, bắt đầu tấn công xuống núi. 

Với bãi đáp trên đã an ninh, TĐ trưởng Honeycutt ra lịnh mỗi đ.đ. Bravo, Alpha và Delta, cử một tr.đội từ bãi đáp dưới tấn công ngược lên núi. Trước đó Honeycutt đã cho ném bom ồ ạt, với nhiều tiếng nổ phụ, do đạn pháo của địch bị nổ. Sau khi oanh kích, trung đội của đ.đ. Delta đã chiếm một kho vũ khí địch chỉ cách bãi đáp DƯỚI chưa tới 200 m. Trong đó có hơn 10.000 LỰU ĐẠN TRUNG CỘNG và 20.000 ĐẠN SÚNG NHỎ. 

Gần đó, trung đội 4 của đ.đ. Bravo, chỉ huy bởi trung úy Denholm, đã chiếm một kho vũ khí cũng lớn như vậy. Tuy nhiên, sau đó một chút họ đã ngừng tiến quân lên núi vì bị chặn bởi một trung đội tăng cường của CSBV núp trong khoảng 15 công sự. Denholm gọi máy bay nhưng bom ko hiệu quả mấy. Sau khi dọn đường kỹ lưởng bởi pháo binh, Delholm và đồng đội đã tấn công phòng tuyến này. Dùng súng không giựt 90 ly, họ đã phá hủy phần lớn các công sự trong chưa tới một giờ và giết 15 địch quân.

Ở phía đông, cùng tiến song song với họ, tr.đội 2 của đ.đ. Alpha, chỉ huy bởi trung úy Bennitt, cũng chiếm 10 công sự địch, giết 7 tên và khám phá một kho lớn súng đạn địch. 

Ba trung đội này nghỉ qua đêm ở khoảng 200 m từ bãi đáp trên. Vào sáng sớm ngày 28, sau một giờ oanh kích dọn bãi, họ lần nữa tấn công ngược lên núi. Cùng lúc, một trung đội thuộc đ.đ. Alpha và Bravo bắt đầu tấn công xuống núi. Khoảng 30 tới 40 lính CSBV bị kẹt giữa hai lực lượng này và bị giết. Hai lực lượng này đã bắt tay sau đó vào buổi chiều, và khu vực từ 200 đến 300 m chung quanh bãi đáp trên đã an ninh. 

Khi việc này hoàn tất, TĐ trưởng Honeycutt ra lịnh cho công binh bắt đầu xây dựng CCHL Airborne gần địa điểm của bãi đáp trên. CCHL này cần để yểm trợ cho việc dọn sạch (mop-up) địch quân cuối cùng ở Động Ngải. Các công binh  đã làm suốt đêm 28 để dọn sạch rừng trên núi và chiều ngày 29 - dù các vị trí vẫn chưa xong - ba khẩu đại bác đã đưa đến. 

Với đ.đ. Alpha bảo vệ CCHL này, hai đ.đ. Bravo và Delta bắt đầu hành quân để dẹp sạch đến người lính địch cuối cùng trên núi này, ý nói Động Ngải. Không có đ.đ. nào chạm súng đáng kể với địch. Nhưng vào chiều ngày 30, sau một chạm súng ác liệt với một trung đội địch trong công sự, khi chúng tháo chạy (rout), đ.đ. đã khám phá một kho chứa hơn HAI CHỤC TẤN GẠO và HÀNG TRĂM hỏa tiển 122 ly và đạn B-40. 

Bốn ngày kế đó, đ.đ. Delta tiếp tục khám phá những kho nhỏ hơn trong khi đụng độ với những nhóm nhỏ lính bắn sẻ CSBV. VÀO SÁNG 4/5, khi đ.đ. này lục soát phía đông bắc hướng về đỉnh của Đông Ngải, họ đã đụng đầu với một đ.đ. địch có vũ khí nặng trong các công sự. 

Lính của Sanders đã chiếm một số công sự bằng súng không giựt, nhưng  ba lần xung phong đều bị đẩy lui. Sau lần xung phong thứ ba bị thất bại, Sanders đã gọi súng cối, trực thăng võ trang hay gunship, và cuối cùng, máy bay ném bom các công sự này. Cối và gunship tác dụng ít với công sự đào sâu nhưng oanh kích có kết quả. Dùng kỹ thuật ném bom chính xác (pinpoint bombing), máy bay đã đốt cháy các công sự này với gần 30 quả napalm và biến nó thành quả cầu lửa. 

Ngay khi oanh kích chấm dứt, lính cuả đ.đ. Delta tấn công lên núi và lục soát các vị trí CS. Họ ko gặp hỏa lực địch nhưng chỉ gặp mùi nôn mửa của thịt cháy. Trong các hầm hố và giao thông hào, họ khám phá xác 15 địch quân, nhiều tên vẫn còn cháy. Đ.đ. di chuyển nhanh để đuổi theo phần còn lại của đ.đ. này, nhưng hầu hết họ trốn thoát, mang theo họ với các người chết cột vào cây sào tre. Trận đánh này là trận cuối cùng mà quân CSBV cố thủ ở Động Ngải. Sau đó, phần lớn những đv địch trong khu vực đã bỏ vị trí và di chuyển xa hơn về phía tây bắc để đến các nơi đóng quân mới (bivouac). 

TĐ 3/187 của ĐT Honeycutt chỉ CHẾT NĂM NGƯỜI và 54 bị thương trong cuộc chiến 15 ngày tại núi này; nhưng thiệt hại của quân CSBV thì nặng hơn nhiều. Họ ko những chỉ CHẾT HƠN 100 và mất hàng trăm tấn tiếp liệu, họ còn mất sạch một trong những căn cứ tiếp liệu lớn tại A Shau. Tuy nhiên, ngay cả lực lượng họ rút khỏi núi này, các cán bộ của trung đoàn 6 csbv đã sẵn sàng kế hoạch phục thù. 

Các người lính của tiểu đoàn 3/187 này của sđ 101 Dù sau đó sẽ được trao tặng Biểu Chương Đơn Vị Dũng Cảm vì hoạt động của họ tại Động Ngải, nhưng lúc này họ ko có thì giờ để hả hê (gloat) trên chiến thắng. NGÀY 8 THÁNG 5, ko có một chút nghỉ ngơi, cả TĐ được trực thăng chỡ về Trại Evans, căn cứ của Lữ đoàn 3, để họ có thể sẵn sàng cho hành quân (HQ) Apache Snow hai ngày sau đó. Họ được thay thế ở CCHL Airborne bởi đ.đ. Alpha của tđ 2/501, cũng thuộc sđ 101 dù, của đ.u. Johnson. Ba đại đội khác của tđ 2/501 này, cũng được chỉ định tham dự HQ Apache Snow, cũng được chỡ về Trại Evans và từ đó tới CCHL Blaze.  

Honeycutt có mặt tại CCHL Airborne khi đ.đ. Alpha của 2/501 tới nhận căn cứ, và ông ko thích những gì ông thấy. Lính tráng hình như quá ngưỡng mộ ông, và sau khi nói chuyện với vài người, ông đã biết tại sao. Họ đã có cảm tưởng rằng trận chiến ở Động Ngải đã xong, núi này đã an toàn, và họ ở đó để nghỉ ngơi và canh gác một CCHL.

Trước khi rời CCHL này, ĐT đã nói với hai trung úy trẻ và chỉ giáo, "Nên đào công sự kỹ lưỡng, căng nhiều mìn hơn, đi tuần nhiều hơn, và nên bắt đầu tích cực phòng thủ nơi này. Chúng tôi chỉ mới đá đít bọn khốn kiếp ra khỏi đây, và chúng sẽ trở lại để trả thù. "

Honeycutt ko biết các sq này có nghe lời ông ko, nhưng ông ko có thời gian để quan tâm điều đó. Lúc này, ông quan tâm về HQ Apache Snow. 

Vị trí mà đ.đ. Alpha của TĐ 2/510 Dù ko được lý tưởng lắm. Các công binh đã xây dựng CCHL này trên đầu phía bắc của một ngọn núi song song với thung lũng. Vị trí chánh dài 200 mét và rộng 25 mét, với một pháo đội đại bác 105 ở giữa và hai pháo đội ở hai đầu của CCHL. Ở một đồi (knoll) nhỏ gần đó, khoảng 50 mét cao hơn căn cứ, họ đã dọn quang và cho một trung đội cối 81 với 2 khẩu trấn giữ. Căn cứ chánh nối với ngọn đồi bằng một yên ngựa và cả hai đều bao quanh bởi các hố cá nhân và một vòng dây thép gai. 

Ở vùng đồng bằng một vị trí như vậy sẽ dễ dàng phòng thủ nhưng ở trung tâm một núi đầy rừng rậm như Động Ngải, nó đầy (be fraught) nguy hiểm. Trong khi phía tây và tây bắc của vị trí, sườn núi dốc đứng và có thể dễ dàng phòng thủ, nhưng mặt đông bắc và nam có dốc núi thoai thoải (gradual) và cung cấp cho kẻ tấn công một đường tiến sát dễ dàng tới trung tâm của CCHL. Nguy hiểm hơn nữa, một khu rừng dầy đặc ở cách hàng rào khoảng một mét. Trong khi các lính công binh có thể dọn sạch rừng rậm chung quanh khu vực sát căn cứ, nhưng họ chỉ có thời giờ dọn sạch khoảng một mét rừng kể từ hàng rào. Ngay khi đ.đ. Alpha chiếm giữ vị trí này, họ lập tức cố gắng cải thiện nó. Để củng cố chu vi, họ đào một số hố cá nhân, và những hố mới và hố có sẵn đều có nắp che. Để cung cấp tốt xạ trường, rừng được chặt sạch khoảng 5 mét, và hai hàng kẻm gai, kèm theo lựu đạn chiếu sáng được lập thêm.

Để bảo vệ gần 450 mét của chu vi, đ.u. Johnson chỉ định mỗi trung đội trách nhiệm một khu vực. Ở phía bắc và đông bắc, ông giao cho tr.đội 2 của thiếu úy Pitt; ở phía tây và tây bắc, là tr.đội của thiếu úy Cushing; và ở phía nam, tr.đội 3 của thiếu úy Sanders. Ông cũng có trách nhiệm bảo vệ cho 2 khẩu cối trên đồi nhỏ. 

Nếu người Mỹ biết được khuyết điểm của hệ thống phòng thủ của CCHL Airborne thì các cấp chỉ huy của trung đoàn 6 csbv đang đóng trong hang sâu ở núi Đồi Thông, cách đó 2.5 km cũng biết. Một năm trước đó, trong công kích Tết 1968, tr.đoàn 6 là một trong những đv đã chiếm cố đô Huế, 

rồi hơn một tháng chiến đấu dữ dội chống lại lực lượng TQLC Mỹ và VNCH cố gắng tái chiếm TP này. Trong trận đánh này, họ chịu tổn thất gần 50/100 và cuối cùng buộc phải rút lui trở về rừng núi. Tuy nhiên, trong năm qua, họ đã bổ sung quân số (rebuilt their depleted ranks) từ nguồn thay thế vững chắc từ đường mòn HCM gần đó và nay sẵn sàng trở lại để tấn công.

Nhờ tù binh CSBV bị bắt sau đó khai báo, khoảng 8 hay 9 THÁNG NĂM ban tham mưu của trung đoàn (tr.đ.) 6 đã lên kế hoạch (draw up) để tràn ngập toàn bộ CCHL Airborne và giết mọi người trong đó. Kế hoạch rất chi tiết và ghi rõ những nhiệm vụ riêng biệt cho từng đv tham chiến. Mủi nhọn (spearhead) của tấn công này là 46 người của TĐ đặc công K12, một đv đã từng chiến đấu ở Huế, và bộ binh thuộc đ.đ. 3 và 4 của TĐ 806. Hỗ trợ cho tấn công là một pháo đội cối 82 ly.

Hướng dẫn bởi một đv trinh sát, lực lượng tấn công rời nơi đóng quân tại Núi Đồi Thông khoảng 17:00 ngày 12 THÁNG NĂM và khi tối xuống, vị trí tấn công của họ chỉ cách hàng rào của CCHL chưa tới 30 MÉT. Dự trù tấn công lúc 01:00 sáng, nhưng do trở ngại về tiếp vận nên hoản lại 2 giờ 30 phút.

Lúc 02:00 sáng các đặc công rời vị trí và bắt đầu bò chậm về hàng rào. Phần lớn họ ko mặc gì trừ quần cụt, nhưng một số thì trần truồng. Họ đều có đôi mắt sắc như thép lạnh và thành thạo công việc. Họ tiến gần tới vị trí chánh của CCHL từ hướng bắc và đông bắc và ở khu đồi nhỏ thì từ hướng bắc, đông và tây bắc. (Xin nhắc lại: căn cứ hỏa lực có căn cứ chánh trên một ngọn núi và căn cứ phụ trên một ngọn đồi tuy nhỏ nhưng cao hơn căn cứ chánh. Căn cứ chánh và phụ nối nhau qua một yên ngựa). 

Một số đặc công đi đầu có nhiệm vụ mở rào, và theo sau họ là các đặc công khác mang các túi chất nổ (satchel charge) và AK-47 và cuối cùng là bộ binh mang AK và B-40, B-41.

Những đặc công mở rào là những người khỏe mạnh (well-built), có sức lực (husky), được chọn lựa đặc biệt cho công tác này do lanh lẹ (agility) - và di chuyển như mèo. Mỗi tên ko mang gì hết ngoài một kéo cắt kẽm gai và vài que tre rất nhỏ (thin strand of bamboo). Mỗi tên đặc công bò tới gần hàng rào kẽm gai, bằng cách trườn tới trước (slither forward) ko tiếng động như con rắn, mắt và tai theo sát cử động hay âm thanh nhỏ nhứt. Với thân thể uốn lượn, y chuyển động qua một số kẽm gai hay bên dưới các kẽm gai, luôn luôn cảm nhận trước mọi lựu đạn hay mìn chiếu sáng. Khi y tìm thấy một mìn chiếu sáng, y lấy một que tre nhỏ từ miệng và cột lại cái chốt (striker). Khi mỗi tên đã vô hiệu hóa tất cả mìn chiếu sáng trong khu vực của y, y lại trở ra, cắt kẽm gai để tạo lối đi xuyên qua ba lớp hàng rào. Vào lúc 03:00 sáng - các đặc công đã mở những cửa (gap) trong sáu khu vực của căn cứ này - mà ko bị lính Mỹ phát hiện. (Nói thêm: Khoảng năm 1969-70, tôi đã xem đặc công VC biểu diển tại một doanh trại VNCH với nhiều lớp kẽm gai bao bọc, có cỏ cao chừng vài tấc. Anh đặc công hồi chánh viên, đứng ngoài các lớp hàng rào cho chúng tôi thấy rồi bắt đầu bò. Từ đó chúng tôi ko thấy anh ta dù đó là BAN NGÀY. Khi anh vào sát hàng rào cuối cùng, nơi chúng tôi đứng, chúng tôi mới thấy: anh ta cho biết chỉ sợ kẽm gai THẢ RỐI và lựu đạn hay mìn CHIẾU SÁNG. Họ ko sợ chó vì họ dùng BẢ CHÓ (thịt bò có tẩm thuốc độc) nhưng rất sợ NGỖNG vì loại này gặp người thì kêu quang quác.)

Khoảng 03:10 sáng, binh nhứt (pfc) Weston, một xạ thủ cối 81 ly đang canh gác trong một hầm trú ẩn ở phía tây của ngọn đồi, đã nghĩ rằng nghe tiếng động dưới y trong hàng rào. Dù đang điều khiển khẩu M-60, y đã nhận lịnh rằng ko dùng súng này trừ phi bị tấn công trực tiếp. Thay vào đó, y đã ném lựu đạn vào tiếng động này. Lựu đạn nổ khoảng một thước bên ngoài hàng rào, và trong tích tắc sau khi nổ, y nghe một tiếng rên rĩ của kẻ sắp chết. Nghe tiếng nổ này, trung sĩ nhứt Parker của trung đội súng cối, chạy nhanh tới hầm nơi binh nhứt Weston đứng gác. Trong năm phút kế, ông và Weston nhìn rất kỹ qua hàng rào nhưng ko thấy gì hết.

Chuyên viên bậc 4 (sp.4) Bucknor, một lính bộ binh của tr.đội 3, đứng gác trong hố cá nhân ở phía đông của đồi, dù trong HAI GIỜ dán mắt (eyes glued) vào hàng rào, và dù đặc công di chuyển chung quanh, y cũng ko nghe hay thấy gì hết. Nhưng y đã có thể thấy điều khác. Trời đêm đó rất trong và đầy sao, và y đã thấy đạn đánh dấu (tracer) màu xanh và đỏ đầy trời chung quanh Động Ấp Bia, cách nơi y đứng chưa tới bảy km. Và bên dưới, trong trung tâm của thung lũng này, y có thể thấy đèn pha của một đoàn xe tải CSBV di chuyển chậm chạp xuôi nam trên xa lộ (highway) 548 hay một trong những nhánh của nó.

Đồng hồ của Bucknor vào khoảng 03:15 sáng, và y đã đánh thức người gác kế, chuyên viên bậc 4 Williams, đang ngủ phía sau hố. Khi Williams đã đứng vào vị trí gác, Bucknor cuộn tròn người trong cái mền poncho chống lại không khí mát lạnh của núi và lập tức ngủ mê.

Tuy nhiên, vài phút sau, y bị lắc mạnh bởi ai đó. Y nhìn lên và thấy Williams đang quì bên cạnh y, la to, "Dậy! Dậy! Chúng ta bị tấn công!"

Bucknor nhảy ngay vào hố chiến đấu bên cạnh Williams, đang có một đống lựu đạn trước mặt y và đang liên tục ném vào hàng rào kẽm gai. Bucknor nhìn xuống vào vị trí chánh (vì đồi nhỏ cao hơn căn cứ chánh) và thấy đạn cối nổ khắp nơi. Một viên đã trúng kho đạn nằm ở trung tâm của căn cứ, và y thấy trong kinh hoàng (horror) hai lính Mỹ bị tung lên trời, tay và chân văng ra mọi phía. Sau khoảng 2 tới 3 phút pháo kích, các xạ thủ CSBV đã bắt đầu pháo khắp căn cứ chánh. Qua tia chớp của tiếng nổ, Weston có thể thấy các lính của các khẩu đại bác bị đốn ngả.

Vài giây sau, các xạ thủ địch cũng nổ súng vào đồi nhỏ. Trong 30 giây, 20 tới 30 đạn cối rới xuống đồi. Và sau đạn cối là hàng loạt đạn B-40 và B-41 bắn từ các vị trí chung quanh căn cứ hỏa lực.

Lính Mỹ từ căn cứ chánh và đồi đã nhảy xuống hầm trú ẩn (bunker), và hố cá nhân để tránh miểng pháo. Trong khi đạn cối rơi xuống và lính Mỹ nằm rúc dưới hầm có nắp để tránh đạn (huddle under cover), các đặc công đã ko tiếng động, trườn qua các lổ trên hàng rào và xuất hiện rải rác khắp căn cứ.

Sau khi di chuyển qua hàng rào ở phía bắc của căn cứ chánh, các đặc công đã ném các túi chất nổ vào 5 hay 6 hầm trú ẩn, và lạnh lùng bắn các lính Mỹ trong hầm đang rên la vì trúng miểng của chất nổ. Một toán khác tấn công vào hai pháo đội 105 ly ở gần phía bắc của căn cứ, phá hủy năm khẩu với chất nổ và bắn gục 15 lính pháo binh. Một đặc công bắn một quả B-40 vào một thùng Conex - được dùng làm trung tâm điều khiển pháo binh của một pháo đội. Khi hai lính Mỹ trong thùng này bắt đầu la hét vì đau đớn, hai đặc công khác đứng bên ngoài ria đạn vào thùng. Đại úy Freeman, chỉ huy của pháo đội này (thông thường một pháo đội có sáu khẩu -- người dịch), đã cố gắng tổ chức một chu vi phòng thủ chung quanh một trong những hố chứa đại bác, nhưng bị bắn gục. 

Những đặc công khác, huấn luyện đặc biệt để xâm nhập sâu, đã tiến vào trung tâm của căn cứ chánh. Vài người ko mang gì ngoài các túi chất nổ, và họ đã ném chúng vào bất cứ mục tiêu gì họ gặp trên đường đi. Một số đặc công khác theo sau với súng AK47 bắn vào lính Mỹ đang bị rối loạn (confusion). Họ di chuyển rất nhanh, như những bóng ma, trong bóng tối. Trong lúc rối loạn, lính Mỹ bắn vào các bóng ma này và đôi khi bắn vào nhau!

Các đặc công cũng xâm nhập hàng rào tại nhiều chỗ ở phía đông bắc của đồi nhỏ và khoảng trống giữa đồi nhỏ và căn cứ chánh. Một khi đã vào căn cứ, họ chia nhau ném chất nổ vào chu vi phòng thủ.

Binh nhứt Weston, người đã ném quả lựu đạn đầu tiên ở đồi nhỏ, giờ đang bò rất thấp về vị trí súng cối của y, nhưng một túi chất nổ rơi kế bên y, gây thương tích cho chân phải và mông của y.  Y kêu y tá, nhưng y tá Kreiger lúc đó cũng bị trúng pháo, miểng văng đầy đầu và tay và gây thương tích nặng cho chân trái. 

Trung sĩ nhứt Parker, đang ngồi trong hầm chỉ huy gần hai khúc gỗ trong trung tâm của ngọn đồi, lao nhanh về các khẩu cối của y lúc bắt đầu cuộc tấn công. Trên đường đi, y đã ngả xuống ba lần vì đạn nổ. Khi tới được vị trí đặt cối, y cùng trung sĩ Branco và ba hay bốn người khác nhanh chóng chỉnh hai khẩu cối để bắn đạn chiếu sáng. Tuy nhiên, trước khi họ bỏ quả đầu tiên vào nòng, hai túi chất nổ đã rơi trước các khẩu này. Sức nổ đã làm ba người bị thương và khiến Parker bất tỉnh. Y ko biết bất tỉnh bao lâu nhưng khi tỉnh dậy thì ko thể đứng dậy. Đầu y mờ mịt và chân rất yếu. Y muốn nằm xuống và nghĩ một phút, nhưng có một giọng nói vô hình từ trong đầu "Mầy phải trở lại khẩu súng để bắn đạn chiếu sáng căn cứ, vì nếu mầy ko thấy bọn khốn kiếp này, chúng sẽ tràn ngập nơi này và giết mọi người."

Ý tưởng này đã khiến Parker trở lại vị trí súng. Với Branco, họ đã cố gắng dựng hai khẩu cối lên, nhưng khám phá rằng chân súng bị bắn cong. Parker nhanh nhẹn, để một nòng súng vào vai trong khi Branco bỏ quả chiếu sáng đầu tiên. Đạn nổ sáng tỏ trên đầu họ, đong đưa nhờ cái dù, và từ từ hạ xuống và chiếu sáng toàn căn cứ hỏa lực. Branco đang chuẩn bị bỏ thêm quả khác thì hai hay ba túi chất nổ rớt ngay trước khẩu cối của họ. Tiếng nổ làm hai người ngả xuống và đốt những túi thuốc bồi (dùng để tống đạn cối đi -- Người dịch) trong ổ súng cối.

"Tôi cần người giúp tôi," Parker la lên.

Bucknor nhảy khỏi ổ chiến đấu mà y đang chia sẻ với Williams và chạy nhanh đến Parker. "Ông muốn tôi làm gì?"

"Hạ những tên này ngay," Parker nói, vừa chỉ xuống một chỗ mà các túi chất nổ được ném đi.

Trong khi đó, Branco chạy xuống một hố bom, nơi chứa đạn cối, tách các túi thuốc bồi khỏi viên đạn (Có lẽ muốn đạn nổ sau khi rời nòng, nên ko cần thuốc bồi -- người dịch). Các giây sau, họ đã bắn quả chiếu sáng THỨ HAI. Khi vài đặc công cố gắng tiến về phía trước và ném chất nổ, Bucknor đã dùng súng trường bắn và đẩy lui chúng. 

Cuộc tấn công vào đồi nhỏ có vẻ ngừng trong vài phút, nhưng sau đó bùng nổ trở lại. Xuyên qua hàng rào kẽm gai ở đông bắc của đồi, một nhóm khoảng 5 hay 6 đặc công, theo sau bởi bộ binh, xung phong lên triền đồi thoai thoải, vừa chạy vừa ném chất nổ và lựu đạn vào trước mặt.

Chuyên viên bậc 4 Powel, một xạ thủ súng cối đứng trên một hầm trú ẩn ở phía đông bắc của đồi nhỏ, hướng khẩu M-16 về phía những kẻ đang xung phong và bắn hết một hộp đạn. Hai bên của y, các lính Mỹ khác, như những kẻ điên, bắn, la hét và ném lựu đạn. Hai hay ba đặc công bị bắn hạ, nhưng hai hay ba tên khác đã đến gần chu vi đến độ chất nổ rơi trong chu vi này. Chỉ trong vài giây, hàng chục tiếng nổ đinh tai nhức óc. Powel bị bất tỉnh, và khi tỉnh lại sau đó y thấy ngoài binh nhứt (Pfc) Burnette đang điều khiển khẩu M60 ở bên phải y, mọi người trong khu vực này của chu vi phòng thủ đều chết hay bị thương. Powel dùng M16 bắn tiếp, nhưng vài giây sau bị tung lên không và rớt gần đáy của yên ngựa giữa đồi nhỏ và căn cứ chánh. Y biết rằng mình bị thương nặng, nhưng sợ hãi và hăng máu (adrenaline) đã khiến y ko biết đau. Y nhìn quanh: trên đồi nhỏ này, Burnette là người duy nhứt còn cầm súng. Với khẩu M60, y bắn từng loạt vào đặc công và bộ binh địch đang tràn lên đồi. Y đã bắn trúng vài tên, nhưng các tên khác tránh được và biến mất trong trung tâm của căn cứ.

Trong khi xem Brunette bắn, Powel cảm thấy có gì sau y. Y nhẹ nhàng quay đầu và thấy một đặc công trần truồng lao vào y từ phía tây của đồi nhỏ. Sau tên này là ba lính bộ binh mang nón sắt (steel helmet) của Nga, và AK47 ở hông. Powel giả chết, và vài giây sau đó, một toán nhỏ khác, cũng đội nón sắt chạy qua.

Trên đồi nhỏ, Burnettte đã thấy bọn này và hướng đại liên M60 về chúng. Y hạ hai tên, nhưng một tên đặc công, với túi chất nổ, phóng tới y trước khi rớt xuống. Tiếng nổ đã cắt chân trái của Burnette ngay trên đầu gối và khiến y bất tỉnh. Thay vì giết y, quân CSBV chạy qua y, vừa bắn về mọi hướng. Họ đã giết hai lính Mỹ và làm bị thương một số khác, và ngừng một lát ở giữa đồi nhỏ. Vì thấy vị trí cối này, chúng bắt đầu tràn tới. Tuy nhiên, bốn hay năm lính Mỹ, đã tạo một chu vi ở mặt sau của vị trí để bảo vệ các súng cối này (trên đồi nhỏ chỉ có súng cối -- người dịch). Với M16, họ đã giết hay làm bị thương những tên CSBV này.

Ở phía tây bắc của đồi nhỏ, một y tá đã thấy Burnette nên cột ga-rô quanh đùi trên để cầm máu. Y cố gắng kéo Burnette xa chu vi, nhưng y từ chối rời vị trí. Bằng một chân, y bò trở lại hầm trú ẩn và lại bắt đầu nả súng liên thanh. Khoảng 3 hay 4 lính bộ binh CS chạy nhanh tới vị trí này, nhưng bị bắn hạ. Trong lúc hỗn loạn, một địch quân đã bò bên dưới hầm mà Burnette ko thấy. Đột nhiên, y nhảy lên và giựt súng M-60 khỏi tay Burnette, và chạy nhanh xuống triền đồi với súng. Không sợ hãi (undaunted), Burnette chụp một M-16 gần đó và một dây đeo đạn (bandoleer) và lại bắn. Vẫn còn nằm ở đáy của yên ngựa, Powel đã thấy tên CS giựt súng của Burnette. Với khẩu súng M16 nằm gần đó, Powel gượng dậy và bắn tên này. Và khi thấy một toán 4 tên CSBV tiến lên, y bỏ súng xuống và lại giả chết. 

Hai tên lính BV vừa chạy vừa bắn lên đồi, nhưng 2 tên khác ngừng lại vì thấy Powel. Lúc ấy tim Powel đập mạnh, nghĩ rằng phút cuối của mình. Hai tên này, đứng kế bên y, nói chuyện đầy kích động.  Y đang chờ lưởi lê hay một phát súng vào lưng, nhưng ko thể giải thích được, hai tên chạy nhanh lên đồi. Trong những giây sau đó, những gì mà Powel có thể làm là nằm đó và thở hổn hển (gasp), tim đập loạn xạ (heart flutter wildly).  

Căn cứ chánh vẫn còn trong cảnh hỗn loạn, với đặc công chạy khắp căn cứ. Vài tên đã chiếm những hầm trú ẩn ở phía bắc của chu vi phòng thủ và dùng súng liên thanh có sẵn tại đó. Với những súng này, chúng bắn liên tục vào trung tâm của căn cứ. Trong khi chúng bắn, những tên khác cố gắng vượt qua hàng rào kẽm gai để chuẩn bị dứt điểm căn cứ. Dù lính Mỹ đã bắn gục một số đặc công, năm hay sáu tên, đeo đầy chất nổ, vẫn ẩn núp chung quanh vị trí này để gây hỗn loạn và chết chóc.

Tuy nhiên, lính Mỹ, đã từ từ hồi phục sau cơn sốc khủng khiếp của trận tấn công này và bắt đầu phản công. Khi thiếu úy Cushing, chỉ huy trung đội 1, bị thương nặng vì B-40, các trung sĩ Counts và Barski, chỉ huy tiểu đội 1 và 2, đã tổ chức một phòng tuyến ở phía tây bắc của chu vi phòng thủ và bắt đầu bắn vào bộ binh địch đang vượt kẽm gai để tăng cường cho các đồng chí của họ. Có một số tàn quân (straggler) Mỹ mất tinh thần quanh các khẩu 105 ly đã bị phá hủy và hai trung sĩ này tập hợp và chỉ huy họ.

Trong khi họ tìm cách đẩy lui địch ở phía bắc của vị trí chánh, địch đã mở tấn công khác nhắm vào hàng rào kẽm gai của trung đội 2 ở đông bắc. Từ khoảng cách hai tới ba chục mét, chúng bắn vào các hầm của trung đội 2 khoảng 30 đạn B-40. Ba viên trúng các hầm. Với tiếng kêu la của lính Mỹ bị thương hay sắp chết, các lính BV xung phong qua 4 lổ cắt của hàng rào. Nhưng hơn 30 lính Mỹ bảo vệ khu vực này của chu vi nả đạn súng nhỏ và liên thanh vào bắc quân. Nhờ ánh sáng của đạn cối chiếu sáng, lính Mỹ đã hạ từng lúc 2 hay 3 tên trong lúc chúng vượt qua ba lớp kẽm gai. Chẳng bao lâu, hàng rào này đầy xác đặc công, và lính CSBV đang chờ bên ngoài bắt đầu rút quân.

Với đe dọa của trung đội 2 ko còn, thiếu úy Pitts lấy bảy người lính của ông và sau đó kết hợp với đám tàn quân của trung sĩ Counts và Barski. Họ đã cùng nhau bắt đầu phản công, đẩy lui địch quân ra khỏi vị trí cố thủ của chúng ở chu vi phía bắc. 

Lúc 0400, một Hỏa Long C-47 đã tới căn cứ. Ở căn cứ chánh và đồi nhỏ, hỏa châu đã soi sáng chu vi phòng thủ. Điều khiển bởi đ.u. Garaney, sĩ quan về không kỵ của TĐ, chiếc này bay vòng quanh chu vi, bắn xuống đất bằng sáu khẩu minigun.

Hỏa lực của chiếc này đã chận quân csbv đưa thêm quân vào phía bắc của chu vi, và những kẻ bên trong đã bắt đầu chạy qua hàng rào để vào rừng. Họ đã bị lính Mỹ theo dõi sát sao. Trên đồi nhỏ, tình hình cũng như vậy, địch quân cũng rút lui. Cuộc chiến vẩn nổ ra từng chập trong giờ kế, nhưng khi hừng đông vừa ló dạng, trừ vài vụ chạm súng rời rạc ở phía nam của căn cứ chánh, nơi lính Mỹ đang chạm súng với các cán binh csbv đang cố thủ trong các hầm hố, còn lại đã yên. Lúc 0600, các phản lực cơ Phantom đã tới và tấn công các đường mòn nơi quân csbv rút chạy với bom 500-cân Anh, napal và đạn đại bác.

Khi trời sáng tỏ, phong cảnh thật là kinh dị. Từ đầu đến cuối căn cứ đầy xác lính Bắc Việt và Mỹ. Mười hai đặc công, mặt bị cháy đen, thân thể lổ chổ đạn, dính trên hàng rào kẽm gai ở phía đông bắc của căn cứ chánh. Một tên tay còn nắm chặt kéo cắt kẽm gai, một tên khác tay còn cầm súng lục. Bảy lính Mỹ nằm chết sóng sượt chung quanh những hố súng đại bác. Hai người khác nằm chết co quắp trong thùng Conex, xác đầy lổ đạn. Một số khác lính Mỹ chết trong hầm trú ẩn của họ. Nhiều người đã chết mà ko biết họ đang bị tấn công. Và mọi nơi đầy mảnh vở, các súng trường, túi chất nổ, và lựu đạn; các đạn B-40 và cối ko nổ; các túi thuốc bồi; các dây đạn liên thanh, đạn M-16 và các đống băng cứu thương đẫm máu. 

Sau khi dọn dẹp kỹ lưỡng, đã thấy 39 xác địch. Hai đặc công bị thương nặng nằm co quắp bên ngoài hàng rào. Một chết sau đó vì vết thương, nhưng tên kia đã sống để kể lại cho sq tình báo của lữ đoàn câu chuyện của trận này theo cái nhìn của y. Không nghi ngờ gì, nhiều địch quân chết và bị thương, được chỉ dấu bởi nhiều vết máu ở khu vực chung quang căn cứ hỏa lực này, nhưng con số bao nhiêu thì ko ai biết. 

Phía Mỹ có 26 chết và 62 bị thương trong trận đánh một giờ rưởi này. Nếu chỉ tính số người chết thì Mỹ thắng, đúng như phát ngôn viên của sđ 101 Dù nói với báo chí. 

Thực tế, phần lớn những sq cao cấp trong sđ bị sốc bởi kết cục của trận đánh. Trong khi ko ai bày tỏ ý kiến này một cách công khai, trong chỗ riêng tư họ nhìn nhận với nhau rằng trận đánh này là một thất bại (debacle). "Chúng tôi đã giữ căn cứ hỏa lực này," ĐT Conmy, TL của lữ đoàn 3, đã nói trong một phỏng vấn sau chiến tranh, "nhưng đó là kết quả tồi tệ nhứt từ một tấn công đặc công mà tôi đã thấy."

Dịch từ trang 107-124 của quyển Hamburger Hill (Đồi Thịt Bầm) của tác giả Samuel Zaffiri.    

San Jose ngày 21 Nov 2020.