Showing posts with label trung đoàn 8 sư đoàn 5 bộ binh. Show all posts
Showing posts with label trung đoàn 8 sư đoàn 5 bộ binh. Show all posts

Tuesday, July 7, 2020

Vài Kỷ Niệm Về Sư Đoàn 5 Bộ Binh Và Tướng Lê Nguyên Vỹ.
19 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 122963)
TRIỆU VŨ
LTS. Triệu Vũ là một giáo chức, bị động viên vào khóa 19 Trừ bị Thủ Đức. "Cải tạo" trên 7 năm ở thượng du Bắc Việt, Ông cùng gia đình di dân qua Liên bang Mỹ năm 1990, và hiện ngụ tại Houston, Texas.Dù lịch sử đã sang trang từ lâu, bài ký ức về Tướng Lê Nguyên Vỹ, cố Tư lệnh SĐ 5 BB–người đã chọn chết theo thành, và không nỡ bắt "con em người ta gửi gấm cho mình" chết oan uổng ở những giờ phút tàn cuộc của chiến tranh Việt Nam–là một trong những tài liệu hiếm hoi, có giá trị sử liệu. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu tác giả Triệu Vũ với quí độc giả.
Tạp Chí Hợp Lưu
Đầu tháng 9-1965, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi về Bình Dương trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đây là một trong những đại đơn vị kỳ cựu của Quân lực VNCH, bao gồm các đơn vị thiểu số miền Bắc – mà đa số thuộc sắc dân Nùng thuộc vùng tự trị Móng Cáy của Đại tá Woòng A Sáng. Di cư vào Nam, được mang tên Sư Đoàn 3 Dã Chiến, sau đổi thành Sư đoàn 5 Bộ Binh, trấn giữ vùng đông bắc thủ đô Saigon và được coi như đơn vị tín cẩn nhất của chế độ.
Ngày ấy, Tướng Vỹ còn mang cấp bậc Thiếu Tá, giữ chức Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đồn trú tại Bến Cát, sau dời lên Chơn Thành, cách tỉnh lỵ Bình Dương khoảng 50 km về hướng Bắc. Từ Bộ Tư Lệnh SĐ ở Phú Lợi - Bình Dương, tôi đã nhiều lần lên đó, khi thì đi cùng phái đoàn Thanh Tra, khi thanh tra một mình, theo lệnh đơn vị trưởng, nên tôi có nhiều dịp tiếp xúc với Thiếu Tá Vỹ và các Sĩ Quan trong Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Nhờ vậy, cũng từ những ngày đó, tôi biết thêm nhiều về cuộc đời "người lính chiến thực sự" Lê Nguyên Vỹ.
Tướng Vỹ sinh năm 1933 tại Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Ông nguyên là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, thời Thiếu Tá Đỗ Cao Trí còn giữ chức Liên Đoàn Trưởng. Ông tham dự nhiều cuộc hành quân từ Bắc vào Nam. Năm 1955, sau cuộc tảo thanh Bình Xuyên ở Saigon - Chợ Lớn, ông được thăng cấp Đại Úy. Ít năm sau, rời Nhảy Dù, Ông ra phục vụ tại Sư Đoàn 5 BB. Ông được giao chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/9, rồi Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9BB năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá sau một thời gian làm Chi Khu Trưởng Chi Khu Bến Cát.
Những ai từng làm việc với ông, dù thượng cấp, hay quân sĩ dưới quyền, đều chung một nhận xét: Ông là vị chỉ huy rất nóng tánh – theo tôi phải nói là trực tánh mới đúng. Trong một đặc san của Sư Đoàn 5BB thuở đó, đã ghi như sau về Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 – tức Thiếu Tá Vỹ: "Có một lần Ông vung tay đập vỡ mấy cái mặt bàn". Nhưng nói gì thì nói, không ai có thể phủ nhận Ông là một sĩ quan chỉ huy hành quân tài giỏi, thủ cũng như công. Những phái đoàn thanh tra từ Tổng Tham Mưu, Quân Đoàn, Sư Đoàn khi đến quan sát nơi đóng quân của đơn vị Ông, đều hết lời khen ngợi. Bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 9 tại Chơn Thành là một căn cứ phòng thủ hình ngũ giác kiểu mẫu.
Đối với nhân viên thuộc Bộ Chỉ Huy, có lẽ Ban 2 vất vả hơn cả. Lý do đơn giản là Ông Trung Đoàn Trưởng luôn quan tâm đến tình hình địch, tình hình bạn. Nhờ vậy, đơn vị do Ông chỉ huy đã ghi hết chiến công này đến chiến công khác, trong cũng như ngoài Khu 32 Chiến Thuật. Những địa danh, những mật khu, những chiến khu từ Bến Súc, Bến Sỏi qua Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Hớn Quản, đến Đồng Xoài, Phước Long, Phước Quả rồi mênh mông Tam Giác Sắt, Chiến Khu C, Chiến Khu D v.v. nơi nào cũng in dấu gót giầy hành quân của các chiến sĩ Trung Đoàn 9.
Những năm 1965-1967, sau khi quân tác chiến Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, tình hình chiến trận cũng như chính trị có nhiều biến động. Trên mặt trận quân sự, CSBV công khai đưa các đơn vị chính qui vào vùng Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên, tức Mặt trận B-3) và Tây Bắc vùng Hỏa Tuyến (Mặt trận Trị-Thiên). Đồng thời, CSBV cũng thành lập Sư Đoàn 2 tại Quảng Ngãi và Sư Đoàn 3 "Sao Vàng" tại Bình Định (Quân khu 5 CS). Tại miền Đông Nam Phần (Quân Khu 7 CS), CSBV thành lập sư đoàn (Công trường) 9 tại Bình Long, 5 tại Bà Rịa (Căn cứ Mây Tầu) và 7 tại Phước Long.
Về chính trị, từ tháng 6-1965, chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu - Phan Huy Quát rút lui, trả lại quyền điều hành đất nước cho quân đội! Người ta được nghe những cụm từ như Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương v.v., hoặc Tổng Cục A, Tổng Cục B, Cục Y, Cục Z v.v. Vì Quân Đội điều hành việc nước, dĩ nhiên nhiều quân nhân được nắm giữ các chức vụ quan trọng tại các Bộ và nha, sở. Những cấp chỉ huy cao trong quân đội cứ thay đổi liên tục. Thực là đau lòng khi thấy phe này hạ bệ hoặc thanh toán phe kia, tôn giáo này kình chống tôn giáo nọ. Chắc không ai có thể quên vụ "bàn thờ ra đường" còn được gọi là vụ "Phật Giáo miền Trung" xẩy ra vào mùa Xuân 1966. Chính quyền Trung Ương tại Saigon năm ấy đã mang quân đội và cảnh sát ra Đà Nẵng và Huế thẳng tay dẹp bàn thờ và phong tỏa chùa chiền. Một số lớn quân nhân theo Phật giáo đã bị thuyên chuyển từ Vùng I vào Vùng III hoặc vùng IV Chiến Thuật. Dân gian thời đó thường truyền miệng "được làm vua, thua làm đại sứ" hoặc "được làm vua, thua đi chữa bệnh" v.v. Trường hợp các Ông Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Liễu v.v. là những chứng nhân rực lửa hận thù hoặc xót xa, tiếc nuối, ngậm ngùi tới cuối đời. (Xem hồi ký Nguyễn Chánh Thi, Đỗ Mậu, Phạm Văn Liễu, v.v.)
Thời gian này, Trung Đoàn 9 của Trung Tá Vỹ thường phối hợp hành quân với các đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ trong các chiến dịch tiến vào các mật khu Cộng Sản như Cedar Falls, Junction City v.v. Ông giữ vững lập trường một người lính chiến đấu, gắn bó với tiền tuyến, sát cánh cùng thuộc cấp giữ chắc tay súng truy cản địch quân ngoài mặt trận, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ mà không quan tâm đến nhiều rối loạn chính trị, nhiều tranh giành quyền lực tại hậu phương.
Sự tham chiến của binh đội Mỹ – nhất là việc đánh bom miền Bắc để áp lực Hà Nội ngưng xâm lược miền Nam, chấp nhận sự hiện hữu và biên giới của hai thể chế chính trị do các cường quốc ngấm ngầm chấp nhận – gặp sức phản kháng và chống đối trên toàn thế giới. Ngay tại Mỹ, phong trào phản chiến cũng ngày một dâng cao, khởi đi từ những cuộc biểu tình ngồi chống lệnh động viên trong các đại học, rồi đến những cuộc biểu tình ngoài đường phố. Bởi vậy, từ năm 1966-1967, chính phủ Tổng Thống Lyndon B. Johnson phải tìm cách tiếp xúc với Bắc Việt để tìm một giải pháp chính trị.
Trong khi đó, tại miền Nam, các phe phái, Tướng Tá vẫn không ngừng tranh chấp, thanh toán lẫn nhau. Tình huynh đệ chi binh và mục tiêu chiến lược bảo vệ miền Nam khỏi họa Cộng Sản không đủ ngăn chặn những mưu bá, đồ vương. Người ta cho rằng miền Nam sẽ ổn định nếu chấm dứt tình trạng quân đội nắm quyền và tổ chức bầu cử càng sớm càng tốt. Thế nhưng oái oăm thay, sau khi liên danh Nguyễn Văn Thiệu -Nguyễn Cao Kỳ thắng lợi trong cuộc tuyển cử tháng 9-1967 và dẹp yên được chống đối của phe Phật Giáo cùng sinh viên, học sinh, tình hình hậu phương bề ngoài yên tĩnh, thực ra có biết bao cột sóng ngầm cuồn cuộn. Sự kết hợp bất đắc dĩ của liên danh Thiệu - Kỳ có nguy cơ trở thành đối đầu và tiến đến thanh toán nhau trong những ngày tới.
Ngoài chiến trường, chỉ nói riêng khu 32 Chiến Thuật (gồm 3 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long), vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 BB, đã mở rất nhiều cuộc hành quân bình định, hành quân truy quét địch, cho nên tình hình an ninh tạm ổn. Lại thêm lúc này quân đội Mỹ vào miền Nam đã lên con số khá cao. Quốc lộ 13, còn có tên gọi là "Quốc lộ máu", đoạn Bình Dương - Bình Long đã ít bị phục kích hoặc gài mìn. Hoặc đoạn đường "gai lửa" Bình Dương - Phước Long trên Quốc lộ 14 cũng được khai thông.
Đặc biệt thời gian này, Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 9BB đã ghi một chiến công lớn. Nhờ tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết tâm kháng cự, lại được phi pháo yểm trợ, Tiểu đoàn đã bẻ gẫy một cuộc tấn công của địch vào Bộ chỉ huy, đóng tại Phước Quả, cách tỉnh lỵ Phước Long hơn 10 km về phía tây nam. Do chiến thắng trên, Tiểu Đoàn Trưởng 2/9 (Đại Úy T.) được thăng cấp Thiếu Tá, sau về làm Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 9 BB.
Như đã lược nhắc, từ năm 1967, phong trào phản chiến trên nước Mỹ dâng cao. Những vụ biểu tình đòi rút binh đội Mỹ khỏi Việt Nam không ôn hoà như trước mà có phần quá khích, có khi còn đốt cờ Mỹ hoặc xé thẻ trưng binh v.v. Chính phủ Johnson bối rối, hơn nữa lại sắp có tổng tuyển cử vào năm tới (1968). Đây là một thách thức lớn của Tổng Thống Johnson và Đảng Dân Chủ. Qua trung gian Tổng thư ký LHQ, Pháp, Vatican cùng một số nước khác, chính phủ Johnson tìm cách dò ý Hà Nội về một giải pháp chính trị. Trong khi đó, bộ máy chiến tranh tại Hà Nội, được Liên Sô và Trung Cộng cố vấn, đã bắt mạch được thế lúng túng của Hoa-Thạnh-Đốn, nên ra sức chuẩn bị một trận đánh lớn để chứng tỏ khả năng hiện diện và tiềm năng quân sự của họ tại chiến trường miền Nam, đồng thời làm chao đảo tinh thần nhân dân và Quốc Hội Mỹ cũng như tạo áp lực với chính phủ Johnson tiến tới bàn hội nghị.
Đúng vào những ngày Tết năm Mậu Thân 1968, Hà Nội đơn phương hủy bỏ thỏa thuận hưu chiến, mở cuộc Tổng Tấn Công vào Saigon và 44 tỉnh, thị xã của VNCH. Mặt trận tại Bình Dương và BTL/SĐ5 khởi diễn đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết (31-1-1968). Lúc này, quân số hiện diện tại các đơn vị thuộc BTL/SĐ, cũng như Tiểu Khu Bình Dương, trường Công Binh, Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh v.v. không tới 50%. Thế mà, dù cho địch có chuẩn bị thật kỹ, bảo mật tối đa và đặc biệt tấn công bất ngờ, chúng vẫn không làm chủ tình hình. Giao tranh dữ dội tại khu vực Lò Chén và trường Công Binh trong tỉnh lỵ. Địch cũng đặt những "chốt" chặn xung quanh thị xã và pháo kích vào Phú Lợi, cách Bình Dương 5km về hướng đông, nơi đặt Bộ Tư Lệnh SĐ5BB, mục đích cầm chân, không cho tiếp viện. Lập tức, Sư Đoàn điều động đơn vị của Trung đoàn 7BB giải toả từ phía nam lên và đặc biệt lệnh cho Trung Đoàn 8 của Đại Tá Vỹ ở Bến Cát (lúc này Ông đã thăng cấp Đại Tá, chỉ huy Trung Đoàn 8BB) đưa đơn vị về giải tỏa từ phía bắc và phía đông. Đại Tá Vỹ đặt Bộ chỉ huy Hành Quân tại Bưng Cải, khoảng giữa tỉnh lỵ và BTL/SĐ. Ông đích thân điều động cuộc hành quân đánh đuổi địch ra khỏi thị xã và các chi khu lân cận, đồng thời tiếp tục truy quét tàn quân địch.
Nhìn chung, cuộc tổng tấn công và tổng khởi nghĩa của Việt Cộng năm Mậu Thân đã thất bại nặng nề. Nhưng về chính trị, chúng đã đạt thắng lợi đáng kể. Trước áp lực từ nhiều phía, tháng 3-1968, Tổng Thống Johnson tuyên bố không tái tranh cử và hai tháng sau, Hoa-Thạnh-Đốn cùng Hà Nội cử phái đoàn tới Paris để thương nghị. Số phận VNCH đang nằm trên bàn cờ chính trị cũng như lịch sử VN sắp sang một trang mới.
Sau những đợt hành quân giải tỏa năm Mậu Thân, Đại Tá Vỹ trở về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn tại Bến Cát. Thế là, sau khi chỉ huy Trung Đoàn 9 trên 3 năm, rồi Trung Đoàn 8 trên 2 năm, Đại Tá Vỹ đã thực sự dẫn giắt và có công xây dựng thành 2 Trung Đoàn chủ lực hùng hậu của SĐ5BB. Chính Tướng Phạm-Quốc-Thuần, người đã nắm chức Tư Lệnh SĐ5 hơn 4 năm (có lẽ lâu hơn các vị Tư Lệnh khác) chắc rất hãnh diện và quý mến vị Trung Đoàn Trưởng này. Đổi lại, Đại Tá Vỹ được địch quân treo giá tính mạng rất cao. Để có thể chiêu dụ hoặc thanh toán Ông, địch đã dùng nhiều phương cách, kể cả ám sát và mỹ nhân kế v.v. Địch còn dùng thủ đoạn khác là lợi dụng tình cảm quan hệ gia đình từ miền Bắc gửi thư cho Ông. Nhưng chúng đã không thực hiện được một ý đồ nào. Ông và các quân sĩ thuộc quyền, tiếp tục truy lùng và diệt địch, tiếp tục lập chiến công. Những trận đánh tại Phú Hòa Đông, bên kia sông tỉnh lỵ Bình Dương, vòng lên Cầu Định, Bầu Bàng, Bầu Lòng, qua tận Phú Giáo, hoặc những vụ phục kích trên hành lang di chuyển của địch, bắt sống, hạ sát giao liên - kinh tài, tịch thu vũ khí - tài liệu v.v. khiến hoạt động quấy phá của địch trong vùng trách nhiệm suy giảm rõ rệt. Thời gian này, sự kiện đáng ghi nhớ là một lần nữa, SĐ5BB lại được tuyên dương công trạng trước Quân Đội. Và tất cả quân nhân từ binh sĩ tới cấp Tướng thuộc SĐ hãnh diện được đeo Dây Biểu Chương Bảo Quốc Huân Chương màu đỏ hoàn toàn.
Tuy nhiên, chiến thắng quân sự của VNCH và Đồng Minh năm 1968 không đủ làm nguội tham vọng chiếm miền Nam của Hồ Chí Minh - Lê Duẩn và Đảng CSVN. Tại Mỹ, việc TT Thiệu chưa chịu gửi phái đoàn qua Paris tham dự hòa đàm trước ngày bầu cử phần nào giúp liên danh Nixon đắc cử khít khao, nhưng chính sách giải kết của Mỹ đã là hòn đá tảng. Tổng thống Nixon gọi TT Thiệu qua Midway thông báo sẽ bắt đầu triệt thoái quân Mỹ và Đồng Minh, nhưng sẽ giúp VNCH tăng gia quân số cũng như trang bị vũ khí hiện đại hơn, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization). Đích thân TT Nixon, trong chuyến công du Á Châu, đã bí mật ghé Saigon vào hạ tuần tháng 7-1969, cho lệnh quân đội Mỹ triệt thoái nhanh hơn. Chính sách ngoại giao toàn cầu của Mỹ cũng thay đổi dần, từ "đối đầu" sang "hòa hoãn", "đối thoại". TT Nixon và Cố vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger bắt đầu sử dụng cả hai lá bài Nga Sô và Trung Cộng, để ép Hà Nội phải chấp nhận một giải pháp chính trị.
Đầu năm 1970, vì quân đội Đồng Minh đã một phần rút khỏi Việt Nam, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, BTL/SĐ5 di chuyển lên Lai Khê, cách quận lỵ Bến Cát khoảng 5km về hướng đông bắc, nằm trên Quốc lộ 13. Lai Khê xưa kia là nơi người Pháp xây dựng nhà máy, phòng thử nghiệm cao su và có trồng hàng trăm héc ta cao su làm mẫu. Lai Khê đã trở thành một căn cứ quân sự quan trọng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh một Lữ Đoàn của SĐ1BB Hoa Kỳ; và khi họ về nước, BTL/SĐ5BB tiếp nhận căn cứ trên. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 8 cùng đóng chung trong căn cứ.
Thời gian này, Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã thay Tướng Thuần làm Tư Lệnh. Đại Tá Vỹ làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 thêm một thời gian trước khi đi thụ huấn tại Hoa kỳ. Và Trung Đoàn này đặt dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan do Tướng Hiếu đưa từ miền Trung về. Tiếc thay vị Đại Tá Trung Đoàn Trưởng mới (Bùi Trạch D.) đã thân bại danh liệt trong trận Snoul (nằm giữa tỉnh Kratie và biên giới Việt - Campuchia), khiến cả một Trung Đoàn chủ lực của SĐ, với phù hiệu "Chúa Sơn Lâm" trên ngực áo trái, bị thảm bại, nay như người bệnh đang cần chữa trị, thuốc thang để mau có sức hồi phục – cả đơn vị chỉ còn khoảng 500 tay súng. Chính Tướng Hiếu cũng bị ảnh hưởng không tốt sau trận Snoul. Kể từ đây, con đường binh nghiệp của Tướng Hiếu đã rẽ sang một khúc quanh mới (và cuối cùng Ông đã tử nạn tại Văn Phòng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III với lý do "Bất cẩn khi lau chùi vũ khí?")
Năm 1971, sau khi tốt nghiệp khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ, Đại Tá Vỹ được lệnh trở lại SĐ5BB, với chức vụ Tư Lệnh Phó SĐ. Đương kim Tư Lệnh là Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Vỹ ra sức chấn chỉnh việc phòng thủ căn cứ Lai Khê, nơi đặt bản doanh chính của Bộ Tư Lệnh SĐ. Căn cứ Lai Khê có vòng đai phòng thủ khá rộng. Các pháo đài, các vọng gác làm bằng gỗ thông và bao đựng cát che chắn, có tính dã chiến, tạm bợ, do quân đội Đồng Minh để lại, đã đến lúc phải tu bổ, sửa chữa nhiều. Đích thân Đại Tá Vỹ cùng các Đơn vị trưởng đến từng vọng gác, từng pháo đài quanh căn cứ để kiểm soát, đôn đốc, tái thiết lập hệ thống phòng thủ. Ông chỉ thị các đơn vị phải đào những hầm trú ẩn hình chữ "A" để giảm thiểu thiệt hại cho binh sĩ khi địch pháo kích v.v. Cũng nhờ vậy mà sau nhiều lần tấn công của đặc công Việt Cộng, khi thì vài toán nhỏ, khi cả tiểu đoàn, cũng không thể nào xâm nhập sâu trong căn cứ. Trái lại, bị lực lượng bố phòng phát hiện kịp thời và phản kích khiến chúng thiệt hại nặng. Có lần, sau một cuộc tấn công xâm nhập, tổng số tử thi đặc công đếm được ngay tại vòng đai trong cùng của căn cứ lên tới hơn 40 xác. Đây là con số khá lớn, vì căn bản, tấn công bằng đặc công là xử dụng những toán nhỏ, được huấn luyện rất thuần thục, nhằm gây tổn thất lớn về vật chất và tinh thần cho đối phương. Vả lại, phải mất một thời gian lâu dài, địch mới đào tạo bổ sung được hơn 40 đặc công.
Ngoài bản doanh chính tại căn cứ Lai Khê, Sư Đoàn 5 đặt Bộ Tư Lệnh Hành quân tại thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ Bình Long, nằm trên Quốc lộ 13, cách Saigon khoảng 100km về hướng bắc. Tướng Hưng và Đại tá Vỹ thường luân phiên có mặt tại An Lộc để kịp đáp ứng tình hình.
Thời gian này, kế hoạch "Việt Nam hóa" chiến tranh đã gần hoàn tất. Cả Mạc-Tư-Khoa lẫn Bắc Kinh đều áp lực Hà Nội sớm giải quyết chiến tranh. Lê Đức Thọ – nhân vật quyền lực thứ ba trong bộ Chính trị Đảng CSVN – nhiều lần mật đàm tại Paris cùng Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ Henry Kissinger, trong chiến lược "vừa đánh vừa đàm". Về phương diện quân sự, nhân thế thất bại chiến lược của quân lực VNCH tại Hạ Lào và Campuchia, Hà Nội quyết định mở một đợt tấn công mới trong mùa Xuân-Hè 1972, với miền Đông Nam Việt làm "điểm", và Quảng Trị cùng Cao nguyên Trung phần làm "diện", nhằm tiêu hao lực lượng VNCH và mở rộng lãnh thổ kiểm soát, chuẩn bị cho giải pháp "ngưng bắn da beo". Trên mặt trận ngoại giao, Hà Nội muốn lợi dụng năm tranh cử Tổng thống ở Mỹ để ép chính phủ Richard Nixon phải nhượng bộ ngưng yểm trợ chế độ VNCH của Tổng Thống Thiệu, hầu thành lập một chính phủ hòa hợp. Hà Nội còn muốn thành lập một thủ đô cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, dưới bảng hiệu mới Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Tuy nhiên, vào tháng 1-1972, do Tướng Abrams dự đoán được ý đồ của Hà Nội – đã gia tăng những cuộc oanh tạc B-52 khiến các trục tiếp vận chiến lược của CSBV bị thiệt hại nặng nề – cuối cùng Bộ Chính trị Đảng CSVN đổi ý, chọn Quảng Trị làm "điểm" [chủ yếu], mặt trận miền Đông và Cao nguyên chỉ còn là "diện" [hỗ trợ]. Hạ tuần tháng 3-1972, đích thân Văn Tiến Dũng mang hơn 1 quân đoàn với đầy đủ tăng pháo vượt qua giới tuyến Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị.
Khác với những đợt tấn công năm Mậu Thân (2/1968, 5/1968, 9/1968) mà các nhà nghiên cứu và bình luận gọi là cuộc "tấn công tự sát", lần này Hà Nội, với mục đích tạo ưu thế tại bàn hội nghị, đồng loạt mở 3 mặt trận lớn tại Quảng Trị, Kon Tum và Bình Long.
Những ngày đầu tháng 4-1972, đã có tin tình báo ghi nhận những cuộc chuyển quân của địch từ phía bên kia biên giới, theo hướng bắc và đông bắc tiến gần đến Lộc Ninh, một quận lỵ thuộc tỉnh Bình Long, cách thị trấn An Lộc khoảng 20km về phía tây bắc. Đây là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Chiến đoàn 9 (gồm Trung đoàn 9 BB, tiểu đoàn Biệt động quân, Chi đoàn Thiết giáp, tiểu đoàn Pháo binh v.v.). Thế rồi, rạng sáng ngày 6 tháng 4 năm 1972, vẫn với chiến thuật quen thuộc tiền pháo hậu xung, lực lượng địch với quân số đông gấp ba quân trú phòng, lại có chiến xa yểm trợ mở cuộc tấn công. Đại Tá Chiến đoàn trưởng Nguyễn Công V. cùng một số sĩ quan tham mưu bị bắt làm tù binh. Trong khi đó, thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ Bình Long, bị địch pháo kích từ mấy ngày trước, mở màn cho những trận mưa pháo ròng rã trên ba tháng trời. Người ta bàng hoàng, lo lắng được tin Lộc Ninh thất thủ. Tướng Hưng và Đại Tá Vỹ đều có mặt tại BTL Hành quân để điều động quân sĩ trong vùng được gọi là mặt trận Bình Long - An Lộc.
Ngày 13-4-1972, Việt Cộng tung 3 Sư đoàn bộ binh (Công trường 5, 7, 9), có pháo và chiến xa yểm trợ tấn công. Mở đầu là những trận mưa pháo rót vào thị xã từ nửa khuya. Đạn pháo nổ liên tục trải khắp thành phố, rung chuyển mặt đất. Người ta không thể ước tính được có bao nhiêu trái đạn pháo và cũng không định hướng được địch đã pháo từ phía nào. Không kể những vị trí quân sự như Bộ Tư Lệnh Hành Quân/SĐ5, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, Bộ Chỉ Huy TrĐ 8 v.v., bệnh viện, trường học, chợ, nhà dân, trung tâm tạm cư cho người di tản từ Lộc Ninh đều bị trúng pháo địch. Cả thành phố chìm trong lửa khói. Rồi bỗng nhiên địch ngừng pháo. Bên ngoài, trời vừa hừng sáng, những cột khói đen vươn lên cao. Người ta nghe được tiếng máy gầm gừ của đoàn cơ giới tiến vào thị xã. Không! Không thể lầm được! Chiến xa địch đang di chuyển, càng lúc càng gần Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Đây là lần đầu địch sử dụng chiến xa tại chiến trường miền Đông và cũng là lần đầu tiên, binh sĩ của ta phải đối phó, nên có phần nào hoảng hốt, bối rối.
Nhưng lạ thay, các họng súng đại bác trên chiến xa không thấy nhả đạn, địch hình như đang dò tìm mục tiêu, chúng đã mất phương hướng. Một chiếc T54 đang nghiến xích sắt trên mặt đường sát bên hông BTL/Hành Quân. Mọi người, từ binh sĩ tới Tư Lệnh chiến trường, đều nín thở như chờ đợi một thảm họa và hầu như phó mặc cho số phận. Bỗng Đại Tá Vỹ lao khỏi hầm, với nón sắt, áo giáp và đặc biệt khẩu súng chống chiến xa M72 trên tay, theo sau là Trung úy sĩ quan tùy viên. Tới bờ tường phòng thủ, vừa lúc chiến xa địch vượt qua khỏi cổng chính khoảng 20 mét, Ông quỳ người, giữ tư thế tác xạ, đưa M72 lên vai. Người sĩ quan tùy viên kế bên, khom người quan sát. Mọi người trong hầm chỉ huy hồi hộp phóng tầm nhìn qua lỗ châu mai. Một tiếng nổ. Và một luồng lửa đỏ tống về phía sau. Chiến xa địch bị trúng hỏa tiễn, bốc khói nhưng vẫn cố di động trước khi trở thành một khối sắt xám xịt vô dụng bên vệ đường.
Quân sĩ từ trong hầm chỉ huy đổ ra ngoài reo hò mừng rỡ. Bây giờ người ta mới thực sự tin M72 đã bắn hạ chiến xa địch mà suốt mấy năm qua, từ khi được trang bị, chưa có cơ hội tác xạ. Ai ngờ ngày hôm đó, trong cơn nguy khốn, vị Đại Tá Tư Lệnh Phó chiến trường lại làm nhiệm vụ một khinh binh, đích thân sử dụng M72 triệt hạ T54 của Bắc Việt. Câu chuyện Đại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa địch lan truyền, tinh thần quân sĩ trú phòng tại Bình Long - An Lộc lên cao. Đó đây có những báo cáo về Bộ Tư Lệnh, cho biết đã bắn hạ thêm nhiều chiếc khác. Hình như chiến xa địch bị vô hiệu hoá vì không có bộ binh phối hợp, có lẽ do hiệu quả những đợt B52 trải nhiều thảm bom suốt ngày đêm hôm trước.
Vì Hà Nội mở chiến dịch Xuân Hè 1972 khắp 3 vùng chiến thuật, lực lượng Tổng trừ bị VNCH (Dù và TQLC) bị phân tán mỏng. Sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu giữ TQLC ở vùng I, và đưa Nhảy Dù về vùng III và vùng II. Quân Đoàn III còn được tăng phái một số đơn vị của Quân Đoàn IV như SĐ21BB, SĐ9BB. Liên Đoàn Biệt Cách Dù cũng vào mặt trận hầu có thể sớm giải tỏa An Lộc. Nếu An Lộc thất thủ, Sàigòn tất nhiên bị đe doạ.
Trong khi các lực lượng giải tỏa gặp rất nhiều khó khăn tại các nút chặn quanh thị xã An Lộc, nhất là tại Xa Cam, khoảng 10km về phía nam, thì lực lượng tử thủ bên trong thị xã như sống trong hỏa ngục. Hàng ngày, cái thị trấn nhỏ bé nhận nhiều ngàn đạn pháo của địch, cộng thêm tiếng bom nổ của các phi cơ oanh kích chiến xa địch trên đường tiến gần thị xã, tiếng bom từ B52 trải xuống quanh vùng dội lại v.v. Liên lạc từ BTL Hành Quân đến các đơn vị bên ngoài bị gián đoạn. Tinh thần mọi người quá căng thẳng và rơi vào tình trạng khủng hoảng. Cũng có thể nhận xét của Tướng Hollingsworth, Cố vấn Quân Đoàn III, rằng Tướng Hưng, Tư Lệnh chiến trường, như người "mất hồn" và "không làm được việc gì cả" là quá khắt khe chăng?
An Lộc bị vây hãm càng lâu, tinh thần quân sĩ trú phòng càng xuống. Thiếu ngủ, thiếu dinh dưỡng, thiếu nước, v.v. lại thêm môi trường ô nhiễm vì xác tử thi đã thối rữa, bốc mùi v.v. thực không sao tả hết được nỗi kinh hoàng cùng cực của các chiến sĩ tử thủ An Lộc ba mươi sáu năm về trước (cũng vào THÁNG TƯ quái ác). Vì "tất cả cho chiến trường", cho nên kế hoạch tiếp tế, tản thương đã lập tức thực hiện song song với việc giải tỏa. Việc tiếp tế thả dù khởi đầu không được như ý. Phi cơ phải tránh phòng không địch, nên bay quá cao và có nhiều kiện hàng rơi không đúng nơi dự tính. Lại thêm địch tiếp tục pháo nên việc đón nhận các tiếp liệu phẩm gặp khó khăn. Đã có những quân nhân tử nạn vì bị kiện hàng rơi trúng, không kịp tránh, hoặc bị trúng đạn pháo trước khi chạm tay vào các vật phẩm tiếp tế.
Dẫu vậy, không như Cổ Thành Quảng Trị ở Vùng I hay Tân Cảnh (Dakto) ở Vùng II, thị trấn An Lộc đã đứng vững, chứng minh tinh thần anh dũng, quyết chiến của các chiến sĩ tử thủ cũng như giải tỏa, trong mặt trận Bình Long - An Lộc. Kết thúc trận chiến, sau này theo thống kê, cả hai bên đều thiệt hại nặng. VNCH vẫn kiểm soát được các tỉnh lỵ, huyện lỵ (trừ Lộc Ninh) và thị trấn trên Quốc lộ 13, đoạn Bình Dương - Bình Long, Việt Cộng kiểm soát vùng nông thôn và ven ranh. Di chuyển lên Bình Long, Phước Long, phải dùng phi cơ, không còn thênh thang đường bộ như năm trước.
Rời chiến trường Bình Long - An Lộc, một trận chiến làm rúng động thế giới, Đại Tá Vỹ về làm Phụ Tá Hành quân Tư Lệnh Quân Đoàn III rồi được chỉ định làm Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm (gồm liên đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh v.v.). Ngoài ra, Ông cùng một phái đoàn được đi du ngoạn Đài Loan gọi là để tưởng thưởng các chiến sĩ hữu công. Sư Đoàn 5BB cũng có một Tư Lệnh mới, Đại Tá Trần Quốc Lịch thay Tướng Hưng từ sau trận chiến An Lộc. Những cuộc giao tranh ác liệt không còn, thỉnh thoảng địch "đóng chốt" hoặc bắn xẻ.
Năm 1973, Đại Tá Vỹ thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, giữ chức Tư Lệnh Phó. Ít lâu sau, chính Tướng Hưng lại về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 một thời gian trước khi nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV. Rừng núi miền Đông Nam Phần khác với vùng sình lầy miền Tây. Hơn hai mươi năm trước, Thiếu Úy Vỹ đã cùng bao đồng đội, lao mình ra phỏi phi cơ ở độ cao mấy ngàn bộ, khi thì nhảy ngay trên đầu địch, khi thì nhảy xuống sau lưng địch, đánh bọc hậu, thì nay, dù Sư Đoàn 5 hay Sư Đoàn 21, dù Quân Đoàn III hay quân Đoàn IV, đời chiến binh đâu chẳng là nhà. Và nhiệm vụ nào thượng cấp đã giao, phải ra sức chu toàn. Với nhiệm vụ của một Tư Lệnh Phó, Đại Tá Vỹ thường bay thị sát trong vùng và không may, trong một phi vụ quan sát, máy bay gặp nạn, Ông bị văng ra khỏi phi cơ nhưng như có phép lạ, chỉ bị gẫy xương ống chân và xây xát, bầm tím trên mặt, trên thân thể. Còn sống sót khi máy bay gặp nạn là điều hiếm thấy và quân y viện đã săn sóc, bó bột chân; xong để Ông về nhà dưỡng thương ba tháng trước khi tháo băng bột.
Thời gian dưỡng thương, đi lại phải nhờ vào cặp nạng nhôm quân y viện cho mượn, sinh hoạt cần thiết hàng ngày đôi lúc phải nhờ người khác. Nhưng đây cũng là thời gian hiếm có trong đời để nhớ về những trận đánh, những chiến trường và những chiến công. Là một chiến sĩ từng xông pha ngoài trận tuyến, dày dạn chiến trường, mà nay chỉ làm bạn với chiếc máy thu thanh, thu hình, tin tức chỉ xoay quanh Việt Cộng vi phạm hiệp định bao nhiêu lần, đã đón nhận bao nhiêu tù binh, giành dân lấn đất ở đâu v.v., Ông thường tự hỏi chẳng lẽ mang danh chiến sĩ mà cứ loanh quanh trong căn phòng hơn 20 mét vuông với đôi nạng hay sao?....
Thoắt đã gần 3 tháng, còn 2 tuần nữa là tới ngày tháo bột. Những bằng hữu, chiến hữu lui tới thăm hỏi cũng thưa dần. Trong khi ấy, sau trận chiến An Lộc, Sư Đoàn 5 BB cần được bổ sung và chỉnh đốn về mọi mặt, từ quân số đến trang thiết bị. Đại Tá Trần Quốc Lịch, đã được thăng cấp Chuẩn Tướng. Bộ Tham Mưu/SĐ gồm Đại Tá Tham Mưu Trưởng Đ., Trưởng Phòng 1 H., Trưởng Phòng Tổng Quản Trị T.H., Trưởng Phòng 4, Tiểu Đoàn Tiếp Vận, Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn v.v. cộng với các Trung Đoàn Trưởng mới … tập họp thành một "…" (không biết dùng từ nào cho thích hợp), làm Sư Đoàn "tuột dốc" thê thảm. Nạn bè phái, chạy chọt chức vụ, cấp bậc, lo lót về đơn vị yểm trợ, lính ma, lính kiểng, ăn chơi, trụy lạc v.v. khiến Trung Ương không thể dung dưỡng được lâu. Và kết quả, Chuẩn Tướng Lịch bị cách chức Tư Lệnh, giáng cấp, chờ ngày ra toà (dịp này, Chuẩn Tướng Lê Văn Tư/SĐ25BB cũng bị cách chức và giáng cấp).
Vào một ngày đầu tháng 11-1973, Đại Tá Vỹ nhận lệnh về đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB với trọng trách chấn chỉnh, thanh lọc và lấy lại uy danh ngày xưa. Thời gian này, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần đã thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu III. Lệnh trên đã ban ra, buộc Đại Tá Vỹ phải yêu cầu các quân y sĩ tháo băng bột ở chân sớm hơn dự dịnh một tuần và ngày 7 tháng 11-1973, lễ bàn giao diễn ra tại Bộ Tư Lệnh/SĐ ở Căn Cứ Lai Khê.
Trở lại chiến trường miền Đông lần này, lại nhận một trọng trách lớn, Đai Tá Vỹ bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh, sắp xếp các sĩ quan ở Trung Đoàn và Bộ Tham Mưu. Ông rất hài lòng với ba Trung Đoàn Trưởng: Trung Tá Quế, từ đơn vị Biệt Cách Nhảy Dù chỉ huy Trung Đoàn 9; Trung Tá Hùng, thụ huấn tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu, về chỉ huy Trung Đoàn 8; và Trung Tá Vượng, Trung Đoàn 7. Trường hợp Trung Tá Vượng tưởng cũng nên mở dấu ngoặc để nói thêm: Ông từ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, về Sư Đoàn 5 làm ... sĩ quan Thanh Tra! Đại Tá Vỹ, không muốn phí phạm nhân lực và muốn tạo cơ hội tốt cho Trung Tá Vượng, nên đã trao Trung Đoàn 7 cho Ông. Đối với Bộ Tham Mưu Sư Đoàn, trải qua những kinh nghiệm chiến trường và những phúc trình đầy đủ, Đại Tá Vỹ muốn có một phụ tá biết xử dụng khả năng, sức mạnh của thiết giáp, kỵ binh nên Đại Tá Thoàn thuộc binh chủng Thiết Giáp đã về làm Tư Lệnh Phó/SĐ, và Trung Tá Đ.Đ.Chinh, một Sĩ Quan Tham Mưu nhiều năm kinh nghiệm thay Đại Tá Đăng trong chức vụ Tham Mưu Trưởng. Dĩ nhiên phần lớn các trưởng phòng thuộc Bộ Tham Mưu/SĐ cũng lần lượt ra đi. Thế là SĐ5BB bây giờ đã mang một bộ mặt mới và quân sĩ đã có niềm tin mới vào các cấp chỉ huy. Con đường trước mặt là phải ngăn chặn và giáng trả những vi phạm, phải giành lại những nơi mà địch lấn chiếm sau hiệp định tháng 1-1973, tới nay còn đóng "chốt" và cố thủ. Ngoài ra, việc phòng thủ các vị trí đóng quân cũng là mối quan tâm lớn của vị tân Tư Lệnh. Bài học đắt giá từ chiến trường An Lộc khiến các đơn vị đã tích cực hơn nhiều trong việc thiết lập hệ thống phòng thủ. Ngoài việc đào giao thông hào quanh đơn vị, lập hầm trú ẩn an toàn cho binh sĩ, mỗi đơn vị bắt buộc phải đào một giếng nước v.v. Riêng vòng đai phòng thủ căn cứ, ngoài hệ thống mìn bẫy dĩ nhiên phải có, Đại Tá Vỹ đặc biệt giao cho Tiểu Đoàn 5 Công Binh sản xuất thực nhiều chông nhỏ rải xung quanh các pháo đài quanh căn cứ. Loại chông này, lấy vật liệu từ kẽm gai, có hình dáng như 4 cái đinh, mỗi đinh dài khoảng 3cm, mũ của đinh tụ lại ở giữa, bốn đầu nhọn của đinh có ngạnh giống lưỡi câu, hướng ra ngoài. Khi chông rải ra, lúc nào cũng có một mũi nhọn hướng lên trời để chờ đợi những bàn chân "đi giải phóng". Đại Tá Vỹ muốn tạo niềm tin cho các quân sĩ, tin vào khả năng tác chiến, tin vào vũ khí và hỏa lực, tin vào hệ thống phòng thủ vững chắc và nhất là tin vào tinh thần quyết chiến của cấp chỉ huy cùng đồng đội, thì cho dù tiền pháo hậu xung, cho dù biển người, cho dù xe tăng T54, T56 v.v. cũng không làm sờn lòng chiến sĩ SĐ5.
Tuy rất bận rộn với công vụ, Đại Tá Vỹ thường dành vài giờ mỗi tháng để nhắn nhủ hoặc tâm tình cùng quân sĩ tại võ đường của SĐ. Đặc biệt, rút kinh nghiệm chiến trường An Lộc, Ông đã chỉ thị Trung Đoàn 8 cho tác xạ biểu diễn hoả tiễn TOW (được trang bị từ cuối năm 1972), một loại hoả tiễn tối tân có thể điều khiển tìm mục tiêu, để quân sĩ trú phòng vững tin hơn. Thời gian này, Sư Đoàn lại được bổ sung hai Sĩ Quan nhiều kinh nghiệm tham mưu và chiến trận: Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường và Đại Tá Từ Vấn. Đại Tá Tường xuất thân binh chủng Nhảy Dù, trước khi về SĐ là Tiểu Khu Phó TK/Bình Định; Đại Tá Vấn nguyên là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân.
Về an ninh diện địa, trong vùng trách nhiệm của SĐ5BB, Việt Cộng vi phạm Hiệp Định ngừng bắn nhiều lần, nhưng chỉ lẻ tẻ và ở mức độ thấp. Đơn vị tác chiến của SĐ đã trực tiếp giáng trả hoặc hỗ trợ các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân giành lại thôn, ấp xa xôi do địch tạm chiếm. Tuy nhiên vào khoảng gần cuối năm 1974, cách quận lỵ Bến Cát hơn 10km về phía tây nam, đồn Rạch Bắp bị địch tràn ngập. Đây là một trọng điểm kiểm soát hành lang di chuyển của địch. Lực lượng đồn trú bị tổn thất nhẹ và đã rút ra ngoài an toàn. Bộ Tư Lệnh chỉ thị Trung Đoàn 9 phải đưa một đơn vị hành quân giải tỏa. Địch đã rút lui về vùng Tam Giác Sắt chỉ để lại chừng một trung đội cố thủ tại đây. Trải qua mấy ngày đầu, lực lượng tái chiếm vẫn dậm chân tại chỗ. Địch núp dưới giao thông địa đạo tránh bom và pháo. Khi ta xung phong lại gặp hỏa lực dữ dội của địch. Cho nên đơn vị của TrĐ 9 đến giải tỏa, thay đổi chiến thuật. Trong khi cả tiểu đoàn vây hãm vòng ngoài, có những toán nhỏ với vũ khí nhẹ và lựu đạn, xâm nhập và tiêu diệt từng ổ kháng cự. Thế là cũng với quân số tương đương, ta chiếm lại được Rạch Bắp. Niềm vui chiến thắng kéo dài tới ngày Quốc Khánh 1-11-1974, ngày Đại Tá Lê Nguyên Vỹ được vinh thăng Chuẩn Tướng. Một số các quân nhân khác cũng được tưởng thưởng và thăng cấp trong dịp lễ kỷ niệm này. Đặc biệt sắc lệnh thăng thưởng cấp Tướng chỉ có hai vị: H.V.Lạc lên Chuẩn Tướng thực thụ, và Lê Nguyên Vỹ nhiệm chức.
Khoảng trung tuần tháng 12-1974, từ phía đông bắc căn cứ Lai Khê, tin dữ đưa về: Việt Cộng tấn công một số chi khu của tỉnh Phước Long như Đôn Luân, Đức Phong và đang uy hiếp tỉnh lỵ. Mọi liên lạc tiếp viện, yểm trợ không thể dùng đường bộ, chỉ hoàn toàn trông vào không lực VNCH. Trong khi phi trường Biên Hòa, phi trường Phước Long, và BTL/SĐ5 bị pháo liên tục thì Sư đoàn 7 của địch, có tăng và pháo yểm trợ mỗi ngày một xiết chặt vòng vây quanh Phước Long. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đã không vận tăng cường đến Phước Long lực lượng Biệt Cách Dù, một tiểu đoàn bộ binh và 3 đại đội trinh sát. Ngoài ra rất nhiều phi tuần đánh bom quanh tỉnh lỵ. Nhưng vì đánh giặc theo kiểu "con nhà nghèo", bắn một viên đạn, thả một trái bom đều phải tính thành tiền, vả lại làm gì còn B52 trải bom thảm theo yêu cầu nữa, lại không còn một lực lượng Tổng Trừ Bị nào tăng phái cho Quân Đoàn, vì thế Phước Long chỉ cầm cự được thêm ít lâu và thất thủ vào ngày 6-1-1974. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên của VNCH bị địch lấn chiếm trong chiến dịch "tầm ăn dâu" hay là "giành dân lấn đất".
Không biết do áp lực nào, Tổng Thống Thiệu đưa Tướng Dư Quốc Đống về thay Tướng Thuần. Hình như Tướng Đống cũng lập kế hoạch giải tỏa và cần tăng viện một sư đoàn, nhưng không được đáp ứng vì không đủ quân, nên có ý xin từ chức. Rồi vài tháng sau, Tướng Nguyễn Văn Toàn thay Tướng Đống. Tướng Thuần, Đống hoặc Toàn làm tư lệnh, Phước Long vẫn nằm trong tay Việt Cộng và hình như Phủ Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu đã quay mặt với lý do nơi đây không phải là vị trí chiến lược quan trọng. Chỉ trong vòng 3 tháng mà hai lần thay Tư Lệnh quân đoàn bảo vệ Saigon. Rồi lại một tin không vui từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III truyền đi: Tướng Hiếu đã tử nạn!!! Nghe tin này, người ta thực hoang mang và xúc động.
Trong khi đó, sau khi chiếm được Phước Long, Việt Cộng tảng lờ những chống đối, lên án, tại Ủy ban kiểm soát đình chiến, tại Ban liên hợp quân sự v.v. cứ khăng khăng "chỉ đánh trả lại những vi phạm Hiệp định Paris" của VNCH. Quan trọng hơn hết, Hoa Kỳ không có phản ứng, hoặc phản ứng lấy lệ. Dĩ nhiên, đối với Hoa Kỳ, chiến tranh VN đã là dĩ vãng. Kể từ năm 1967, họ đã từng bước lập kế hoạch, nào là thư từ qua lại, nào là đi đêm, hoạt động con thoi, nào là qua trung gian các cường quốc rồi chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, rồi leo thang, rồi ném bom Hà Nội v.v. Cuối cùng, gần 6 năm sau, đúng nửa đêm ngày 27 rạng 28-1-1973 giờ quốc tế, có một bản văn được ký kết tại Hội nghị Paris với tên gọi "Hiệp Định về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam" theo nhu cầu và quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Hơn 60,000 lính tác chiến Mỹ còn lại đã triệt thoái. Hầu hết tù binh Mỹ được phóng thích, kể cả Đại tá Không quân John McCain – đương kim ứng cử viên Tổng thống Mỹ – sau hơn 5 năm đủ mùi vị đầy đọa, hạ nhục tại Hỏa Lò Hà Nội. Dù chẳng phải không tiên liệu được tham tâm nhất thống miền Nam của Lê Duẩn và Đảng Lao Động Việt Nam, nhưng TT Nixon và Ngoại trưởng Kissinger không có một lựa chọn nào khác, đành vui hưởng cái gọi là "hòa bình trong danh dự" [peace with honor] từ mùa Xuân 1973. (Không biết đây có phải là Mỹ đã "thua" và phải "tháo chạy" như có người đã nhận xét?).
Tại Bộ Tư Lệnh SĐ5BB, đầu năm 1975, Đại Tá Từ Vấn giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng thay Đại Tá Chinh xin thuyên chuyển về trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang. Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường, theo trên cho biết, có liên hệ đến vụ đảo chánh 11-11-1960, nên không được chấp thuận chức vụ Tham Mưu Trưởng. Tướng Vỹ chỉ định Ông làm Phụ Tá Hành Quân.
Nhìn chung Quân đội VNCH giai đoạn này, đã ở thế thủ. Viện trợ quân sự bị cắt giảm nhiều, không đủ lực mở những cuộc hành quân quy mô, có tăng, có pháo và phi cơ yểm trợ đầy đủ như trước. Tướng Vỹ cho biết, trong tình hình xấu nhất, Ông có thể cầm cự 6 tháng không cần tiếp tế.
Nhưng Hà Nội bắt đầu phát động chiến dịch Xuân-Hè 1975, với hy vọng làm ăn ở miền Tây nguyên. Ba sư đoàn Bắc quân, được tăng pháo và đặc công yểm trợ, tấn công và chiếm được thị xã Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB vào thượng tuần tháng 3-1975. Tư lệnh Quân đoàn II và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị bất ngờ. Giữa lúc các lực lượng cơ hữu của QĐ II đang lo tái chiếm Ban Mê Thuột, TT Thiệu triệu tập một phiên họp mật với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên và Trung Tướng Đặng Văn Quang tại hành lang Dinh Độc Lập, tiết lộ đã quyết định triệt thoái khỏi Pleiku và Vùng I chiến thuật, rút về lập tuyến phòng thủ Phan Rang - Ban Mê Thuột. Lý do chính là phái đoàn Nghị sĩ mới từ Mỹ về cho biết viện trợ tài khóa 1975-1976 lại bị cắt giảm. TT Thiệu đành phải thực hiện chiến lược "đầu bé, đít to" – cắt nhỏ dần lãnh thổ kiểm soát, cốt sao giữ được Vùng III và Vùng IV. Quyết định này được thông báo cho Tướng Trưởng ngày 12-3-1975: Hoàn trả Nhảy Dù về Sài Gòn; nếu cần, triệt thoái Huế, về giữ Đà Nẵng. Hai ngày sau, TT Thiệu cùng các Tướng Khiêm, Viên và Quang bay ra Cam Ranh, họp mật với Tướng Phạm Văn Phú, và cho lệnh triệt thoái Kontum - Pleiku. Tướng Phú đề nghị cho hành quân cấp Quân Đoàn dài theo Quốc lộ 7-B – từ ngã ba Thuần Mẫn trên lộ 14, xuống Cheo Reo (Phú Bổn), Củng Sơn, rồi Tuy Hòa. Vì lý do "bảo mật", ngay ngày 16-3, toàn bộ lực lượng QĐ II bắt đầu rút khỏi Pleiku. Các lực lượng Cảnh sát, Địa Phương Quân và Nghĩa quân đều bị bỏ lại. Ngay trong đêm 16-3, hỗn lọan đã bùng nổ ở Pleiku, khi Sư Đoàn 6 Không Quân di tản gia đình và thân nhân. Hàng chục ngàn dân chúng Pleiku thu góp tài sản đổ về đường 7-B. Văn Tiến Dũng, dù bất ngờ, cũng sai quân đuổi theo truy kích. Đoàn di tản bị kẹt đọng lại ở Cheo Reo, và rồi Củng Sơn. Quốc lộ 7-B trở thành địa ngục trần gian cho những quân nhân QĐ II di tản. Toàn bộ xe tăng, thiết giáp và pháo bị lọt vào tay CSBV. Chưa đầy 5000 người di tản tìm được về Tuy Hòa. Tư lệnh lực lượng bảo vệ, Chuẩn Tướng Tất, bị bắt sống. Trực thăng cứu thoát được Chuẩn Tướng Cẩm, Tư lệnh phó QĐ II, về Tuy Hòa, nhưng sau này vẫn lọt vào tay CS.
Lý do TT Thiệu ra lệnh triệt thoái, tới nay vẫn còn là dấu hỏi lớn, vì đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của miền Nam Việt Nam. Người ta nghĩ rằng trước khi trở thành Tổng Thống, Ông đã là một Trung Tướng, đã là Bộ Trưởng Quốc Phòng, vậy thì đằng sau quyết định đó, có ẩn ý gì? ... Chỉ chắc một điều là quyết định này không do Mỹ chỉ thị để có thể "tháo chạy". Đại tướng Khiêm và Trung tướng Quang đã khiến các nhân viên Mỹ cực kỳ bực dọc vì không thông báo cho Mỹ biết việc này, khiến các nhân viên Mỹ ở vùng II và Vùng I thất điên bát đảo.
Hạ tuần tháng 3-1975, sau khi cuộc triệt thoái cao nguyên trở thành thảm bại, TT Thiệu cho lệnh Tướng Trưởng bỏ ngỏ các tỉnh Quân khu I, rút về tử thủ Đà Nẵng. Nhưng ngày 29-3, Đà Nẵng bị bỏ ngỏ. Các tỉnh duyên hải miền Trung cũng lần lượt sụp đổ như lâu đài trên bãi cát. Ngay đến Phan Rang, quê hương của TT Thiệu, cũng di tản từ ngày 2-4-1975.
Lữ Đoàn 3 Dù đang trên tàu về Sài Gòn, được lệnh đổ bộ xuống Nha Trang, rồi từ đây kéo lên Khánh Dương, chốt chặn mức tiến của SĐ 10 CSBV. Một Lữ đoàn Dù khác, cùng tàn quân SĐ 2 BB và SĐ 6 KQ, được điều ra Phan Rang lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III. Nhưng chốt phòng thủ chiến lược này bị cánh quân miền Đông của Lê Trọng Tấn, với quân số hơn 1 quân đoàn, diệt gọn trong hai ngày 16/17-4-1975.
Ngày 18-4-1975, Long Khánh bỏ ngỏ. Tướng Toàn phải di tản Không quân xuống Cần Thơ. Mặc dù hai Sư Đoàn 25 BB và 5 BB còn trấn giữ phía Tây Bắc và Bắc Sài Gòn, tình thế đã tuyệt vọng. Bắc quân lên tới hơn 3 quân đoàn, với tăng, pháo hợp đồng.
Tối 21-4-1975, TT Thiệu bàn giao cho Phó TT Trần Văn Hương, để "trở lại chiến đấu bên các chiến hữu". Nhưng bốn ngày sau, hai ông Thiệu, Khiêm bí mật rời Sài Gòn bằng phi cơ Mỹ. TT Hương cũng chỉ ở Dinh Độc Lập được một tuần lễ, rồi ủy quyền cho Quốc Hội. Chiều ngày Thứ Hai, 28-4-1975, Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống – với hy vọng đạt một giải pháp màu hồng với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Điều Tướng Minh và nhiều chuyên gia ngoại quốc không biết là vai trò MTDT/GPMN đã hầu như chấm dứt. Lê Duẩn – người không ngừng cổ võ "cách mạng là tấn công" – cho lệnh phải giải quyết càng sớm càng tốt, nếu có thể trước năm 1976 như dự định.
Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu không chọn đường tử thủ. Sáng ngày 29-4-1975, Thủ Tướng Mẫu chính thức yêu cầu người Mỹ rút khỏi VN, đóng cửa văn phòng tùy viên quân sự (DAO) – một bước ngoại giao có tính toán giúp Mỹ rảnh tay ra đi.
Cũng ngày 29-4-1975 này, Tướng Toàn và Bộ Tư Lệnh QĐ III từ Biên Hòa di chuyển về Gò Vấp, 5km bắc Thủ đô Sài Gòn. Riêng Sư Đoàn 5, lực lượng vẫn bảo toàn nguyên vẹn. Theo Tướng Vỹ, có thể địch tránh không muốn đụng SĐ5, nên chúng pháo cầm chân và tiến quân về Sàigòn theo hai hướng đông và tây của Lai Khê, đồng thời đặt các nút chặn phía nam của Lai Khê, Bình Dương. Sư Đoàn 5 cũng được lệnh chuẩn bị di chuyển về phía nam để tái phối trí. Sáng 30 tháng 4-1975, sau buổi họp Tham Mưu thường lệ chừng một tiếng đồng hồ, người ta bàng hoàng nghe tin TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Ông còn nhân danh Tổng Tư Lệnh Quân Đội ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng, chờ bàn giao! Đúng là sét đánh ngang tai!
Tướng Vỹ lúc đó ưu tư nhiều, vẻ mặt trầm lặng, khác với bản tánh thường ngày. Ông tâm sự với một số sĩ quan tham mưu thu hẹp bên cạnh, với nét mặt bình thản khác thường: "Lệnh trên đã ban ra, phải thi hành. Hơn nữa, con em người ta giao cho mình, không lẽ đem nướng vào giờ thứ 25 sao? Đối với các anh em thì tùy ý quyết định". Xong Ông đi về phía trailer [phòng lưu động của quân đội] dùng làm phòng ngủ riêng cho Tư Lệnh.
Ít phút sau, hai tiếng nổ khô khan vọng ra. Mọi người hốt hoảng chạy tới. Tướng Vỹ đã dùng khẩu súng ngắn của Ông để tự sát. Vết đạn xuyên từ phía dưới cằm lên đầu. Các Sĩ Quan hiện diện kính cẩn nghiêng mình, không cầm được nước mắt. Lúc ấy là 12 giờ rưỡi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Trong khi mọi người vội vã đưa thi hài Tướng Vỹ an táng tạm trong vòng đai căn cứ thì phía ngoài hàng rào, Việt Cộng dùng loa phóng thanh, âm lượng thật lớn kêu gọi mọi người bên trong đầu hàng. Khoảng 3 giờ chiều, Bộ Tham Mưu và các đơn vị mới tự động rời khỏi căn cứ, không có súng nổ. Nhưng mới qua khỏi quận lỵ Bến Cát, bị địch chận lại, tịch thu tất cả vũ khí, quân trang dụng. Hạ sĩ quan trở xuống cho tự túc về điạ phương, sĩ quan giữ lại, phân theo cấp bậc để đưa đi tù. Trang quân sử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh chấm dứt ở thời điểm này.
* * *
Từ lâu, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, rồi sau những năm tháng bị Việt Cộng giam cầm, hành hạ, tôi đã có ý định ghi lại vài kỷ niệm về Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Tướng Lê Nguyên Vỹ. Đã gần 33 năm trôi qua, tôi chưa thực hiện được ý nguyện này. Khi còn ở trong nước cũng như kể từ khi định cư tại Mỹ mười mấy năm trước, biết bao nhiêu câu hỏi của bằng hữu, của đồng đội, của người thân xoáy sâu mãi trong tâm trí tôi. Ai cũng yêu cầu tôi nói đôi điều về Tướng Vỹ. Tôi biết ở đâu đó, rải rác một vài dòng trên báo chí, hay vài phút trong một chương trình phát thanh tiếng Việt, không đủ thỏa mãn người đọc, người nghe. Lại nữa, tôi là một sĩ quan của Sư Đoàn 5BB, suốt 10 năm rưỡi trong quân ngũ, 2 năm dành cho quân trường và một đơn vị ngoài SĐ, 8 năm rưỡi còn lại dành cho Sư Đoàn 5 và tôi đã khoác quân phục mang phù hiệu SĐ5 tới ngày cuối cùng. Ai mà không hãnh diện khi có dịp nhắc đến đơn vị của mình, lại còn hãnh diện hơn nữa khi nhắc đến cấp chỉ huy đơn vị đã anh dũng, can đảm tuẫn tiết, quyết không chấp nhận đầu hàng địch. Ngày nào chưa ghi được đôi dòng, dù là không đầy đủ lắm về Tướng Lê Nguyên Vỹ, tôi còn rất áy náy, như gánh nặng chưa trút xuống được và thấy mình mắc một món nợ chưa kịp trả. Món nợ ấy là niềm hãnh diện mà Tướng Vỹ đem lại cho SĐ5 BB nói riêng và Quân lực VNCH nói chung. Tướng Vỹ là người lính chiến đấu ngoài mặt trận với đầy đủ cái OAI cái DŨNG của nhà Tướng. Tôi cũng muốn nhắc nhở một sự thực mà người ta muốn chối bỏ là Miền Nam có nhiều dũng tướng, thành mất, Tướng phải chết theo thành, như Tướng Lê Nguyên Vỹ đã làm.
30 tháng 4-1975, ngày tang lớn. Những bàng hoàng, xúc động sau 33 năm, nay đã lắng dịu phần nào. Cuộc sống nơi xứ người và tuổi 70 khiến tâm trí tôi bình thản hơn. Đôi dòng đơn sơ trên là những sự thực về Tướng Vỹ mà tôi biết, dĩ nhiên chưa phải là tất cả. Dẫu sao, đây là những dòng tâm thành, thay nén nhang dâng lên tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Lê Nguyên Vỹ nhân ngày giỗ thứ 33 của người.
Triệu Vũ,
Tháng 4-2008.
TrướcSau
In Trang
Ý kiến bạn đọc
18 Tháng Sáu 201711:35 CHVũ Ngọc LinhKhách
Mình muốn liên lạc với anh Bùi Minh Quân, ĐĐ trinh sát 9 SĐ5BB. Tôi là Vũ Ngọc Linh, từng chung đơn vị với TS Quân
06 Tháng Sáu 20178:28 SANguyễn Tường VănKhách
Có Bác nào biết Đại Úy Nguyễn Tường Loan ko ạh

Saturday, June 23, 2018

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA - Trần Văn Thưởng
Thiếu khách quan và thiếu phưong pháp phân tích rồi tổng hợp một cách khoa học, đa số giới truyền thông và sử gia ngoại quốc đã lượng giá sai lầm về QLVNCH, chỉ là một quân đội phục vụ cho chính sách của thực dân Pháp

Sự Cần Thiết Của Một Ðịnh Ðề Chính Nghĩa Cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Thiếu khách quan và thiếu phưong pháp phân tích rồi tổng hợp một cách khoa học, đa số giới truyền thông và sử gia ngoại quốc đã lượng giá sai lầm về QLVNCH, chỉ là một quân đội phục vụ cho chính sách của thực dân Pháp rồi phục vụ cho chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam, trên phương diện nguyên tắc theo quan điểm chiến lược quốc tế, mà quên đi phần thực tế và sự biến thể bên trong của QLVNCH và các sự kiện lịch sử theo thời gian. Bằng cấp khoa bảng và hệ thống truyền thông tuyệt hảo của thế giới tự do đã lầm lạc bộ óc trung bình của công luận, ngay cả những người khoa bảng tầm thường. Riêng CSVN đã dùng việc lượng giá sai lầm nầy như là lý do hợp pháp để bỏ tù và hành hạ hàng trăm ngàn quân chính của VNCH sau khi họ cưỡng chiếm miền Nam VN, cũng như hàng trăm ngàn người VN vô tội bỏ mình trên biển cả trong khi họ vượt biển cả đi tìm tự do. Ít nhất thế giới tự do, gồm Hoa Kỳ, cũng còn có trách nhiệm lương tâm để đón tiếp những nạn nhân của chế độ CSVN.

Gần đây các hiện tượng cờ vàng VNCH bay lượn khắp thế giới tự do, nghi lễ cử hành bởi quân lực Hoa Kỳ để mai táng một số quân nhân VNCH tại nghĩa trang Arlington, các tượng đài xây dựng để tưởng nhớ các chiến sĩ Mỹ-Việt cũng như các cuộc hội thảo vai trò và chính nghĩa của QLVNCH là khởi điểm cho một cuộc vinh danh chính thức và đủ pháp lý cho QLVNCH trong một ngày rất gần đây. Hậu quả của việc vinh danh nầy là QLVNCH còn lại sẽ có đủ pháp lý và chính nghĩa để giải phóng toàn thể VN hay yểm trợ các cuộc cách mạng của người dân quốc nội khỏi chế độ độc tài đảng trị của CS trong tương lai trên nguyên tắc, mặc dù QLVNCH không còn tồn tại trên thực tế. Ngoài ra vì trách nhiệm lương tâm, khối tự do sẽ hậu thuẫn tổ chức QLVNCH còn lại trong công cuộc phục hưng nền tự do cho VN bởi vì họ đã bỏ rơi ngưòi bạn đồng minh trong năm 1975. Hơn nữa trước công luận thế giới, CSVN trở thành một tội phạm chiến tranh trong việc bỏ tù và hành hạ hay tàn sát các tù nhân.

Sự vinh danh QLVNCH trong tương lai có thể bị ngộ nhận hay bị chỉ trích bởi khối CS, bởi vì họ có thể ngụy biện rằng đây chỉ là một chính sách giai đoạn của khối tự do. Vì thế sự vinh danh chính nghĩa QLVNCH phải được chứng minh và lượng giá khách quan bởi các sử gia thế giới. Bài kể chuyện của người lính VNCH nầy không có tham vọng để chứng minh môt định đề trên, mà chỉ cung cấp những dữ kiện trung thực và sống động liên quan đến định đề nầy. Các sử gia sẽ tìm thấy hàng ngàn bài kể chuyện như thế trong ba thập niên nay, để phân tích và tổng hợp một cách khách quan và khoa học cho một định đề chính nghĩa của QLVNCH. Có như vậy thì sự vinh danh chính nghĩa mới được quang minh chính đại trong tương lai. Ngoài ra, những hồi ký của các cán bộ CSVN, các tài liệu mới giải mật từ Hoa kỳ, Trung cộng và Nga sô, cũng như phong trào đòi tự do dân chủ của người Việt trong nước hiện nay là những kho tàng giá trị cho các sử gia để đối chiếu, so sánh và lượng giá chính nghĩa của QLVNCH.

Chuẩn Úy Bùi Thương
Tôi được hân hạnh biết Chuẩn úy Bùi Thương khi ông đựơc bổ nhiệm về làm đại đội phó cho đại đội thám kích thuộc Trung đoàn 46 bộ binh, vào khỏang tháng 9 năm 1963.
Ông là người tu xuất của Thiên chúa giáo, tình nguyện đầu quân để cho con cháu ông và người VN được tự do tín ngưỡng theo niềm tin của họ, chứ không phải để làm nô lệ cho người Pháp, sau khi nghe tin cha ông bị CSVN giết ở Quảng bình chỉ vì một cái tội tín ngưỡng tôn giáo, theo đạo Thiên chúa giáo. Trong thời gian phục vụ quân đội Pháp, ông đã thấy rõ nhiều khuynh hướng khác nhau của binh sĩ người VN; có người đi lính chỉ vì kế sinh nhai hay xin làm nô lệ cho người Pháp; có người cũng như hoàn cảnh của ông; có kẻ yêu nước chống Pháp phải tách ly khỏi hàng ngũ CSVN bởi vì họ bị CS thanh trừng vì không chịu vào đảng CS; có kẻ yêu nước, thấy rõ chủ nghĩa CS không thích hợp với văn hóa cổ truyền của người VN, nên họ phải dựa vào thế lực của Pháp để chống Cộng trong giai đoạn sơ khởi, sau đó khi đã có đủ sức mạnh võ trang, họ sẽ đòi hỏi nước Pháp trả lại chủ quyền cho nước VN. Sau năm 1950, ông thấy khuynh hướng quốc gia yêu nước đã chiếm đại đa số trong hàng ngũ, và khuynh hướng xin làm nô lệ cho Pháp đã gần như không còn tồn tại nữa. Ðến năm 1956, ông thấy QLVNCH đã biến thể hoàn toàn, từ một quân đội hỗn tạp trên phương diện ý thức hệ đến một QLVNCH với một lý tưởng quốc gia độc lập. Ông đã xin ra khỏi đảng Cần lao, từ giã vợ và sáu người con để tình nguyện ra đơn vị tác chiến, Trung đòan 46 BB vào tháng chín năm 1963, nhưng ông không bao giờ tiết lộ lý do. Ngoài nhiệm vụ hành quân viễn thám trong Tiểu khu Hậu Nghĩa, Ðại đội Thám kích 46 BB lúc bấy giờ còn có trách nhiệm xây dựng Áp Chiến Lược, nên ông đã có cơ hội biểu dương lòng yêu nước, tài lãnh đạo, cũng như công tác dân vận của ông. Ông thường viếng thăm, tâm sự với binh sĩ, rồi tác động tinh thần yêu nước của họ, bằng cách chỉ dẫn cho họ thấy rõ cái chính nghĩa của QLVNCH. Ðặc biệt công tác dân vận của ông là một bài học quí giá cho tôi. Ông thường tổ chức những buổi nói chuyện chính trị rất giản dị với dân làng, tuy nhiên việc sắp xếp chỗ ngồi lại rất nghi lễ; người chủ tọa luôn luôn là ông Ấp trưởng ở hàng ghế đầu cùng với các vị bô lão; các hàng đàng sau gồm các thành phần trẻ, và hàng cuối cùng là ÐÐT/ÐÐTK 46. Ông nói rất ít mà chỉ chú trọng vào nguyện vọng và các thắc mắc của dân làng. Những câu trả lời của ông khẳng định lập trường chính trị của ông; Tổ quốc phải trên Tôn giáo, và Tôn giáo không được xen vào đường lối Chính trị Quốc gia; mọi Tôn giáo phải đựơc đối xử bình đẳng; Tự do tín ngưỡng của người dân là một căn bản pháp lý của chính thể VNCH; Quân đội có nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi miền Nam tự do và bảo vệ dân chúng miền Nam khỏi sự đe dọa hay tàn sát của CSVN; VNCH không chấp nhận tổng tuyển cử theo hiệp định Geneva, bởi vì Tổng thống Ngô Ðình Diệm không tham gia và ký vào hiệp định nầy, và VNCH là một chính phủ đủ pháp lý do dân bầu sau hiệp định Geneva với chủ thuyết dân chủ tự do; Chế độ CSVN miền Bắc là một chế độ bất hợp pháp bởi vì miền Bắc chưa bao giờ tổ chức bầu cử tự do để chọn chủ thuyết CS hay tự do dân chủ, hay bầu cử Hồ Chí Minh là người lãnh đạo miền Bắc; CSVN đã đánh lừa lòng ái quốc của người VN để chống Pháp cứu nước, bởi vì trong thực tế đảng CSVN là một công cụ để bành trướng thế giới hóa chủ nghĩa CS, lãnh đạo bởi CS Nga sô và Trung cộng ...
Sau hơn một tháng xây dựng ấp chiến lược, đại đội trở lại nhiệm vụ hành quân viễn thám biệt lập. Hình ảnh những cặp mắt trừu mến của dân làng trong buổi tiễn đưa cũng như con số đào ngũ giảm tới con số không, trong khi số lượng VC bị giết hay bắt sống lại tăng lên trong vòng một tháng của đại đội đã chứng minh được tài lãnh đạo và vận động quần chúng của Chuẩn úy Bùi Thương.

Ông lại biểu dương kinh nghiệm chiến trường, lòng can đảm và nhân hậu của ông trong thời gian đại đội hành quân viễn thám biệt lập. Ông luôn luôn tình nguyện theo trung đội đi đầu để có dịp truyền đạt các kinh nghiệm chiến trường của ông cho các trung đội trưởng còn trẻ. Mỗi lần thấy tôi và binh sĩ vỗ tay thích thú các quả đạn pháo binh trúng đích mục tiêu là ông nhìn tôi với cặp mắt lo ngại và nghi ngờ. Ông phàn nàn là không biết địch có chết không, mà chỉ thấy lo cho dân lành hay súc vật bị trúng đạn. Ðến đêm là lúc ông bắt đầu tranh luận về những quả đạn pháo binh có thể làm thiệt hại đến chính nghĩa của QLVNCH, vì ông đã chứng kiến việc bắn pháo binh bừa bãi lên dân lành hay việc cưỡng bóc của quân đội Pháp. Nếu không có dấu tích của thiệt hại địch vì đạn pháo binh, thế nào đêm hôm đó, tôi lại được nghe một bài giáo huấn đạo đức cũng như nỗi quan tâm của ông đối với dân lành, rồi ông trách tôi thích phô diễn cái sở trường về xử dụng pháo binh. Những đêm như vậy tôi lại nhớ đến tiếng ru ngủ bằng những lời giáo huấn của mẹ tôi về tội chơi bời lêu lổng với mấy đứa bạn cùng xóm. Thế là tôi ngáy khò khò trong khi ông vẫn còn hăng say giáo huấn tôi. Sáng dậy là ông lại phê bình tôi vì cái tật ngáy ngủ trong khi ông chưa đủ trút hết nỗi niềm tâm sự của ông trong đêm qua. Thấy tôi cười xòa ông lại cười to hơn tôi vì ông bỗng so sánh khuôn mặt còn non sữa của tôi với mấy đứa con của ông lúc ông còn ở Sàigòn; chúng thường ngáy ngủ như tôi mỗi lần ông giảng đạo lý với chúng về ban đêm. Bỗng nhiên ông lại đổi thái độ nghiêm chỉnh để bênh vực cho tôi, rằng việc bắn pháo binh vào các mục tiêu trước khi đại đội tiến chiếm có thể tiết kiệm sinh mạng của binh sĩ, nhất là đại đội phải hoạt động lẻ loi thì mình cần có bạn pháo binh hay không quân để che chở và làm yên lòng binh sĩ. Thôi thì ông nói sao cũng nghe hay và có lý đối với ông! Ông cứ nói và tôi cứ làm theo ý tôi!

Trong một cuộc hành quân viễn thám dọc theo bờ sông Vàm Cỏ Ðông, Ðại đội Thám kích không gặp sự kháng cự của địch khi tiến chiếm các mục tiêu suốt buổi sáng. C/U Thương đâm ra lo ngại địch có thể phục kích mục tiêu cuối cùng nên cho quân bố trí nghe ngóng ngoài ruộng trống trước khi cho trung đội đi đầu xung phong vào đám rừng rậm rạp. Sau một giờ pháo binh liên tục bắn phá mục tiêu cuối cùng nầy, ÐÐTK tiến chiếm bờ rừng sau khi vượt qua bãi trống của cánh đồng ruộng lúa mà không gặp phải sức kháng cự nào của địch, tuy nhiên ông bắt đầu cằn nhằn khi thấy hai con bò bị chết phanh thây vì đạn pháo binh nằm sát bìa rừng; ông cứ tiếp tục hỏi tôi làm sao bồi thường cho chủ nhân nghèo khổ của hai con bò trên, rồi ông lại trách tôi vì đòi hỏi pháo binh bắn tập trung. Bỗng nhiên khuôn mặt ông thay đổi rất nhanh, từ buồn thảm đến sắt đá của một võ sĩ nhà nghề, khi ông thấy hai binh sĩ đem đến cho ông một cây súng còn ướt máu của địch quân. Ông nhanh nhẹn tiến lên với trung đội dẫn đầu để truy kích địch đang bỏ chạy vì chúng bị thiệt hại nặng do pháo binh ta. Tôi lại ngạc nhiên thấy sắc mặt ông lại thay đổi một lần nữa, từ hùng hổ như một dũng sĩ đến hiền từ như một vị thánh, khi ông thấy một binh sĩ địch đang hấp hối vì hỏa lực của pháo binh ta. Ông ra lệnh cho người y tá đại đội băng bó vết thương trên đầu của người thương binh CS bị đồng đội bỏ lại, rồi ông quì gối bên người thương binh địch để hỏi xem những gì ông có thể làm trong giây phút cuối cùng của y. Chỉ một ít giọt nước đã giúp anh thương binh địch ra đi không đau đớn và không hận thù, sau một cái ngắt hơi dài của y. Ông vội vuốt mặt người địch thủ và cầu kinh siêu thoát cho y. Ðây là lần đầu tiên binh sĩ thấy rõ khuôn mặt thánh thiện của ông. Buổi tối ông tò mò hỏi tôi lý do tôi không đọc kinh Phật cầu nguyện cho y bởi ông biết tôi là một Phật tử xứ Huế.

Mấy tuần lễ sau, ÐÐTK tham dự hành quân cấp trung đoàn để tiến sâu vào mật khu VC gần biên giới Việt-Miên trong quận Ðức Huệ. Tìểu đoàn bạn chẳng may bị phục kích và đụng độ nặng với địch tại mục tiêu cuối cùng. Ðược lệnh từ BCH/TRÐ 46 đánh bọc hậu từ cánh trái của tiểu đoàn bạn, C/U Thương tình nguyện theo hai trung đội đi đầu với tôi vì ông biết rõ tôi đang nóng lòng tiếp cứu người bạn cùng khóa đang bị thưong, Võ Tình, trong khi anh chỉ huy đại đội của anh phản công địch. Lúc bấy giờ địch và ta đã quá gần nên pháo binh không còn hiệu quả nữa. Chuẩn uý Thương và tôi cùng hai trung đội xung phong vào địch sau mấy trái lựu đạn khói ngụy trang. C/U Thương thấy tôi xung phong với khẩu súng lục nhỏ bé nên ông vội chạy nhanh trước mặt tôi với khẩu tiểu liên để che chở cho tôi. Không may ông đã gục ngã trước họng súng của địch không đầy 10 thước. Hai quả lựu đạn của người lính thám báo bên cánh phải của tôi đã thanh toán bốn tên địch, để tôi có cơ hội quỳ xuống bên ông. Ông đã chết quá nhanh chóng và không một chút đau đớn với hai cặp mắt vẫn còn mở lớn như muốn nhìn địch quân. Tôi vuốt mắt ông rồi ôm xác ông mà khóc như một đứa bé. Anh Thương ơi, tại sao anh lại chết thay tôi trong khi Tổ quốc cần anh hơn tôi! Anh vuốt mắt địch nhưng địch đâu có vuốt mắt anh đâu! Anh đọc kinh cầu nguyện cho địch nhưng địch có đọc kinh cầu nguyện cho anh đâu! Riêng tôi thì tôi đâu dám đọc kinh Phật để cầu nguyện cho anh vì tôi biết anh là một vị Thánh của Thiên chúa giáo.

Hạ sĩ Trần Tấn
Tôi được hân hạnh biết được anh khi anh được bổ nhiệm đến Ðại Ðội 2 của TÐ1/8 với cấp bực binh nhì. Thấy anh ốm yếu nên tôi chỉ định anh làm hỏa thực cho ban chỉ huy đại đội. Anh tỏ ra không vui với chức vụ nầy và xin về tiểu đội thám báo của ÐÐ 2. Tôi đã từ chối lời yêu cầu của anh bởi vì đây là một tổ chức ngoài bảng cấp số của một đại đội bộ binh, gồm binh sĩ tình nguyện và nhiều kinh nghiệm chiến trường. Anh đã trổ tài nấu bếp của anh sau hai tuần lễ, đồng thời anh bắt đầu lân la nói chuyện với tôi vì anh thấy tôi và anh cùng nói giọng Huế. Anh bắt đầu tiết lộ hoàn cảnh gia đình của anh; cha anh đã bị VC giết vì tội theo đảng Ðại Việt để chống Pháp và chống cả VC; anh cũng là một đảng viên của đảng Ðại Việt, nên anh phải trốn khỏi quê nội để lên ẩn náu tại nhà của một người bà con trong thành nội Huế, tuy nhiên xứ Huế quá chật hẹp để che dấu chân tướng của anh, nên anh đã dẫn vợ và hai con vào Sài Gòn buôn bán; Tháng bảy năm 1964, anh thấy tình hình quân sự quá trầm trọng nên anh quyết định đầu quân để có cơ hội giúp nước. Anh thường quan sát tiểu đội thám báo tập dượt cận chiến với tôi mỗi ngày, nên anh đã đánh bạo xin thử sức với tôi trong khi tôi đang tập song đấu với người tiểu đội trưởng. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh nhanh nhẹn chống đỡ các đòn cước của tôi một cách dễ dàng. Như một tia chớp anh tiến sát từ đàng sau lưng tôi và khóa chặt tôi. Tôi cố phá vỡ thế khóa của anh nhưng đều vô hiệu. Bỗng nhiên anh nới lỏng để tôi có dịp phản thế một cách dễ dàng. Binh sĩ vỗ tay tán thưởng tôi trong khi tôi quá ngượng ngùng bởi vì tôi đang gặp một tay cao thủ võ lâm. Tôi cúi đầu trước anh và tôn anh là bậc thầy của tôi. Trong khi các binh sĩ ngạc nhiên vì thái độ của tôi, anh nhỏ nhẹ xin tôi được gia nhập hàng ngũ tiểu đội thám báo. Anh trở thành người lính thám báo và cũng là huấn luyện viên môn cận chiến cho tiểu đội kể từ giây phút đó. Anh thường dí cho tôi một cục kẹo gừng mỗi lần tôi đi theo tiểu đội thám báo phục kích đêm. Hương vị ngọt của của chút đường pha lẫn chút gừng cay cay làm tinh thần tôi quá sảng khoái để chờ địch. Cứ mỗi lần như vậy là tôi nghe tiếng cười khúc khích của anh em thám báo nằm cạnh tôi; họ bảo với nhau là Tấn lại hối lộ tôi cục kẹo đường để tôi đi theo phục kích với tiểu đội thám báo. Sự thật các anh em thám báo cũng được hưởng ân huệ như tôi khi anh thấy họ quá mệt mỏi hay nổi quạu với nhau. Từ đó anh có cái biệt hiệu người lính “biệt kích kẹo”. Chữ kẹo thật đúng nghĩa với anh bởi vì anh không rượu chè cờ bạc và rất kẹo trong việc chi tiêu của anh. Vợ anh luôn luôn hầu như nhận gần đủ số lương của anh, ngoại trừ một ít tiền để mua gừng để làm món kẹo gừng pha với ít đường có sẵn trong khẩu phần của anh hàng tháng.
Tôi có một kỷ niệm không thể quên được khi đại đội hoạt động tại ấp Tân Thạnh Ðông thuộc tiểu khu Bình Dương. Một buổi chiều anh hỏi tôi có muốn bắt sống một tên cán bộ kinh tài CS trong đêm hôm đó hay không. Tôi ngạc nhiên hỏi anh về cái tin tình báo nầy, mới biết rằng anh đã tổ chức được một hệ thống tình báo nhân dân sau ba tuần lễ hoạt động ở đây. Bán tin bán nghi, tôi quyết định đi theo TÐTB để biết rõ sự thật. Tấn dẫn đầu tiểu đội và tôi theo sau chân anh trong đêm tối. TÐTB bò vào cửa một căn nhà còn ánh sáng, tôi thấy tên cán bộ kinh tài đang thoải mái ngồi đếm bạc nên phóng nhanh vào y để bắt sống, trong khi tôi nghe một tràng đạn nổ ngược về phía tôi về hướng nhà bếp. Chính người đảng viên nhanh nhẹn của đảng Ðại việt, binh nhất Tấn, đã cứu mạng tôi khi tôi thấy hai thây địch với hai cây tiểu liên trên mặt đất. Anh đã được thăng cấp hạ sĩ cho cuộc đột kích nầy.

Ngày 8 tháng 5 năm 1965, TÐ1/8 được tăng phái cho Trung đoàn 9 trong cuộc hành quân Lôi Phong tại mật khu An Nhơn Tây của VC. Toàn thể Trung đoàn 9 và TÐ1/8 đã bị lọt vào ổ phục kích của địch khoảng một giờ trưa, Trung đoàn 9 và TÐ1/8 đã anh dũng đẩy lui nhiều đợt xung phong cho đến khi đã hết đạn dược, tuy nhiên không có phi pháo yểm trợ trong vòng ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng, vị trung đoàn trưởng phải ra lệnh rút ra cánh đồng ruộng trống để chuyển quân về hướng quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. TÐ1/8 bao chót và ÐÐ2 lại bao chót TÐ1/8 trong cuộc lui binh không có phi pháo yểm trợ nầy. Ðịch đã biết ý định lui binh của quân ta nên chúng tiếp tục xung phong vào TÐ1/8 và bắn xối xả vào các tiểu đoàn của TRÐ 9 đang chạy trên cánh đồng ruộng lúa trống trải. Tôi đã chứng kiến hàng trăm binh sĩ với khăn vàng ở cổ đã nằm chết thê thảm trên cánh đồng ruộng lúa trống. Tiếp theo sau là cánh quân khăn đỏ của hai đại đội và BCH của Ðại uý Của cũng bị gục ngã hàng trăm binh sĩ trong khi ÐÐ2 đang đẩy lui hai đợt xung phong của địch đang nằm chặng hậu cho Ð/U Của. rút lui. Tôi đã chứng kiến Tấn giết nhiều tên địch bằng lưỡi lê và tay không trong đợt cận chiến cuối cùng, trước khi đại đội vượt gấp theo sau BCH/TÐ1/8 bởi vì Ð/U Của không còn kiểm soát được hai đại đội của ông vì họ đã chạy đàng trước ông. Khi tiểu đội thám báo phá vỡ vòng vây của địch để thoát ra đựơc cánh đồng trống, không ai còn đạn dược để bắn yểm trợ cho toán quân đằng sau, nên Tấn đã có sáng kiến bò đến một cây đại liên của một xạ thủ khăn vàng đã gục chết từ lâu, xử dụng cây súng cứu tinh nầy để bắn xối xả vào địch đang rượt theo toán quân cưối cùng của ÐÐ2. Không ngờ bốn trực thăng vừa xuất hiện đang quần thảo trên mục tiêu để yểm trợ cho toán quân cuối cùng vừa ra khỏi vòng vây địch để tiến ra cánh đồng trống. Anh bỏ cây đại liên vì đã hết đạn với nòng súng còn nóng đỏ để chạy ngược trở lại về phía sau, chụp ngay khẩu trung liên của anh lính khăn vàng đã tử trận để ôm lấy và bắn liên tục theo thế bắn thẳng vào khoảng trên 30 tên địch vừa ló dạng từ trong ven rừng. Tôi đã chứng kiến những thây gục ngã với hai băng đạn còn lại trên tay anh. Bỗng nhiên tôi thấy Tấn gục ngã với cây trung liên. Tôi bò nhanh đến chụp tay anh vừa lúc anh trút hơi thở cuối cùng. Tôi vuốt mắt anh rồi để cho 4 người thám báo còn sống sót thay phiên nhau đem xác anh theo đại đội để bắt kịp với Ð/U Của đang chờ. Ông đã ôm chầm lấy tôi để cùng khóc với những giòng lệ chân thành của người lính ở trận mạc. Ở nơi chốn vĩnh cửu chắc anh đã biết rằng anh là người độc nhất của toàn thể binh sĩ tham dự cuộc hành quân này được khiêng xác về đến quận Củ Chi trong đêm đó, bởi vì ÐÐ2 và một tiểu đoàn của TRÐ9 đã phải ở lại trong ngày hôm sau để theo sau quân tiếp viện với nhiệm vụ lượm xác bạn ngày hôm sau.
Hai ngày sau, tôi đến thăm gia đình tử sĩ tại trại gia binh sau khi rời khỏi văn phòng Tuớng Trần Thanh Phong. Chị Tấn và hai đứa con trong bộ áo tang đang ngồi khóc bên quan tài anh với khói hương nghi ngút. Tôi quì xuống trước anh với bó hương để tỏ lòng tri ân cho vị võ sư tài ba, một đảng viên yêu nước của đảng Ðại Việt và một chiến sĩ anh dũng của QLVNCH. Tôi kính cẩn trao lại chị cái bóp của anh cùng cái bì thư đựng ít tiền của anh em ÐÐ2. Chị ôm lấy cái bóp như một kỷ vật cuối cùng của anh dành cho chị, rồi bỗng nhiên chị bật khóc lớn “ Anh ơi! Sao anh lại ra đi trong khi mộng ước vẫn chưa thành?! Thôi anh hãy yên nghỉ để em sẽ cố gắng nuôi các con ăn học nên người.”

Bây giờ tôi không biết chị và hai cháu đang trôi dạt ở chốn phương trời nào, không biết hai cháu có ăn học nên người hay không, không biết có được tự do theo đảng phái theo ý muốn hay lại bị đầu độc chủ nghĩa cộng sản, không biết hai cháu có biết và hãnh diện cho cha của hai cháu là một vị anh hùng yêu nước của QLVNCH hay không. Riêng tôi thì cứ vào ngày 8 tháng 5 mỗi năm lại thắp ít nhang với miếng kẹo gừng để tưởng nhớ một người đã cứu mạng tôi, một vị thầy võ thuật và một chiến sĩ can trường của QLVNCH.

Ðại tá Nguyễn Văn Của
Tôi được hân hạnh biết ông khi ông về làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ1/8 với cấp bậc đại úy. Ông đã biểu lộ tư cách hào hiệp của một đàn anh để bênh vực cho đàn em trước vị tư lệnh sư đoàn hống hách. Khi ÐÐ2 vừa xuống xe tại bãi đậu xe BTL/SÐ5BB ngày 10 tháng 5, Ð/U Của và hai đại đội trưởng trong quân phục láng bóng đã vẫy tay để báo cho tôi theo họ vào trình diện vị tư lệnh. Vừa bước vào văn phòng tôi đã thấy hai cặp mắt cú vọ của Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong đang bám chặt vào quân phục còn dính máu và hôi hám của tôi. Bỗng nhiên ông nổi giận đập bàn, “Sĩ quan gì mà lại ăn mặc như ăn mày!” Ðang bực mình vì cái chết anh hùng của anh Tấn và các binh sĩ của đại đội, tôi trở thành kẻ bất cần đời, cứ tha hồ chỉ trích vị tư lệnh về sự chậm trễ của phi pháo và tiếp tế đạn dược cũng như sự vắng mặt của ông trên chiến trường. Ông xé bỏ cả hồ sơ đề nghị thăng thưởng cho TÐ1/8, rồi bấm chuông gọi quân cảnh bắt nhốt tôi. Ð/U Của điềm nhiên đứng dậy để xin cùng vào tù với tôi, rồi hai ÐÐT cũng xin theo vị TÐT để cùng chung số phận. Khi Ð/U Hoàng, K.15 TVBQGVN, dẫn hai quân cảnh vào trình diện Tướng Phong, Ð/U Của cũng vừa kể xong chuyện chiến trường tại An Nhơn Tây, nên Tướng Phong bảo hai người quân cảnh ra ngoài rồi ông xin lỗi việc nóng giận vô lý của ông.

Mấy ngày sau, Ð/U Của đã đến ăn cơm chiều với tôi rồi ngủ đêm với ÐÐ2. Ðêm đó Ð/U Của đã tâm sự cái mộng yêu nước của ông; ông ghê tởm việc Cộng Sản tàn sát các nhà ái quốc chống Pháp cũng như các vị lãnh đạo yêu nước Cao Ðài và Hòa Hảo vì tội không chịu theo chủ nghĩa cộng sản; vì vậy ông đã thấy rõ cái hiểm họa của chủ nghĩa CS nên quyết gia nhập quân đội để chống cộng trước rồi chống Pháp sau để dành độc lập cho Việt Nam.

Khoảng hai tuần lễ sau, ÐÐ2 đã được dịp phục hận cho anh Tấn và các tử sĩ của ÐÐ2 trong trận đánh An Nhơn Tây. Trong cuộc hành quân mở đường dọc theo QL 13 từ Ấp Bưng Cầu đến Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, toàn bộ TÐ1/8 ngoại trừ ÐÐ2 bị lọt ổ phục kích của một tiểu đoàn địch. ÐÐ3 đã bị lọt phục kích về phía nam của Bến Cát nên bị thiệt hại nặng, đã phải rút về BCH/TRÐ 8 tại Chi khu Bến Cát. BCH/TÐ1/8 và ÐÐ1 lại bị địch phục kích và bao vây tại Ấp Bưng Ðĩa. Ð/U Của và ÐÐ1 đã chiến đấu anh dũng, đẩy lui ba đợt xung phong của địch trong khi ra lệnh cho ÐÐ2 đang mở đường ở Bưng Cầu, trở lại tiếp cứu gấp tiểu đoàn. Tướng Phong đã bay trên đầu BCH/TÐ để chỉ huy trực tiếp cuộc phản công và cầm cự của TÐ 1/8. Tinh thần lên cao vì có sự hiện diện của vị tư lệnh, ÐÐ2 gom quân lại rồi đánh bọc hậu từ hướng nam để chọc thủng vào BCH của tiểu đoàn địch, làm địch bỏ chạy tán loạn. Khi Tướng Phong đáp trực thăng để xem chiến lợi phẩm và xác địch, ông đã chứng kiến Ð/U Của và ÐÐT/ ÐÐ1 vẫn còn nắm hai trái lựu đạn để thề sống chết với địch. Tướng Phong đã đề nghị thăng cấp tại mặt trận cho Ð/U Của và hai đại đội trưởng. Ngày nhận cấp bậc thiếu tá, Ð/U Của không vui bởi vì hai ÐÐT đã lọt sổ thăng cấp. Ông đã an ủi tôi bằng cách can thiệp với vị tư lệnh mới để cho tôi được theo học khóa 7 Tiểu Ðoàn Trưởng tại Ðà Lạt, để trở về làm Tiểu Ðoàn Phó TÐ1/8 cho một vị TÐT mới, Ð/U Nguyễn Văn Vỹ, mở đầu cho một giai đọan thân bại danh liệt trong ba năm của tôi.

Khi tôi nhận lệnh thuyên chuyển về làm TÐP/TÐ1/9, Thiếu tá Của đã mời tôi bữa cơm chiều tại tư gia, để hỏi chuyện lý do tôi ra lệnh cho một người Tàu dân sự không được đem gái Việt cho Mỹ chơi tại Lai Khê. Tôi chỉ trả lời vì thấy nhục quốc thể. Ông đã mỉa mai tôi vì cái quan niệm nhỏ nhoi và kỳ thị nầy, rồi ông cố điều tra để biết ai là kẻ ra lệnh cho tôi đi làm cái việc ngoài bảng cấp số nầy. Tôi đâm ra ở trong thế hỏa mù, bởi vì hai khuynh hướng đối nghịch của hai vị sĩ quan đàn anh của tôi, tuy nhiên tôi không muốn Ð/U Vỹ chịu trách nhiệm vì cái lệnh của ông bởi vì tôi đã hứa với ông trước khi thi hành một nhiệm vụ ngoài bảng cấp số nầy, nên tôi đã từ chối nói sự thật với T/T Của, để chấp nhận lãnh đủ hậu quả của việc làm nông nổi của tôi. Về sau tôi mới biết vị tư lệnh mới của tôi cũng là một tướng lãnh tài ba; ông đã đem một sinh khí mới cho SÐ5 bằng cách bổ nhiệm nhiều sĩ quan trẻ xuất thân từ TVBQGVN vào các chức vụ chỉ huy trưởng như cố Trung Tá Châu Minh Kiến, một anh hùng của QLVNCH và một vị tiểu đoàn trưởng ngoại hạng thuộc K.19 TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ1/8, Ð/U Thiều, K.19 TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ4/8, Ð/U Nguyễn Kỳ Sương vào chức vụ TÐT/TÐ2/8, Ð/U Lê Sỹ Hùng vào nhiệm vụ ÐÐT/ÐÐ5TS; ngoài ra vị tư lệnh mới của tôi cũng rất mã thượng khi ông chấp thuận cho tôi đựơc thuyên chuyển về TVBQGVN theo ý nguyện của tôi vào đầu năm 1969, đồng thời ông cũng chấp thuận cho tôi được đi tu nghiệp ở Mỹ trước khi về trường VBQGVN. Chính Trung Tá Của đã đề nghị với Tướng Hiếu hủy bỏ lệnh thuyên chuyển về trường võ bị của tôi sau khi tôi về nước, để về làm TÐT/TÐ1/8 cuối năm 1969.

Mỗi lần tôi đến thăm ông khi ông làm Tỉnh Trưởng Bình Dương là ông biểu lộ nỗi băn khoăn và lo lắng về đời sống và an ninh của người dân, làm tôi nhớ đến C/U Bùi Thương, người chiến sĩ thám kích anh hùng mấy năm về trước. Cũng vì quá thương dân, ông đã bị cầm chân chức vụ tỉnh trưởng hơn 5 năm cho đến ngày mất nước, mặc dù ông đã xin ra cầm quân đánh giặc nhiều lần. Ðầu tháng tư năm 1975, ông đã khẳng định với tôi trên đường giây viễn liên quốc tế rằng ông sẽ ở lại chiến đấu với quân dân, chứ không bỏ chạy ra khỏi nước. Ông đã giữ trọn lời thề để chết trong ngục tù của CSVN, theo nguồn tin của một người bạn cùng khóa với tôi, anh Nguyễn Văn Hiệp.

Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong
Khi Ð/U Của và ba ÐÐT vừa ra khỏi phòng của Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong, Ð/U Hoàng, K.15 TVBQGVN, níu vai tôi để nói nhỏ với tôi, “Mặt Trời rất chịu chơi, chú mầy đừng có lôi thôi hay hỗn láo!” Tôi liền đổ tội cho anh, “Tại Niên trưởng đã dạy tôi phải ăn ngay nói thẳng đó mà!” Anh nhìn tôi với cặp mắt thương hại, “Thôi để tao chịu tội với Mặt Trời vì tao đã dạy dỗ mầy như vậy.” Tôi không hiểu anh Hoàng đã thuyết phục Tướng Phong như thế nào, nhưng kể từ đó tôi đã thấy vị tướng nầy đã hoàn toàn thay đổi thái độ lãnh đạo của ông, từ hống hách đến thân tình, từ chỉ huy mặt trận trong văn phòng đến xông xáo bất chấp mọi hiểm nguy với binh sĩ ở chiến trường. Tiếc thay ông đã rời SÐ5 quá sớm nên ông đã mất cơ hội để thi thố tài ba của ông sau khi ông đã hoàn toàn biến thể.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Ông là người thông hiểu hoàn cảnh thân bại danh liệt của tôi khi ông còn là Trung Ðoàn Trưởng TRÐ9. Mỗi lần thăm viếng tiểu đoàn, ông đều nói với tôi về việc thuyên chuyển tôi từ tiểu đoàn nầy đến tiểu đoàn khác là ngoài thẩm quyền của ông. Nhiều khi vui miệng ông lại khuyên tôi nên về trình diện vị “Thẩm Quyền” để trình bày sự thật vì Ðại uý Nguyễn Văn Vỹ, vị cựu Tiểu Ðoàn Trưởng 1/8 của tôi, cũng đã giải ngũ. Thấy không thể thuyết phục được tôi gần ba năm, ông khuyên tôi nên đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và xin thuyên chuyển về trường VBQGVN để phục vụ đắc lực hơn. Trong thời gian chờ đợi đi học, ông kéo tôi về ở BCH/TRÐ để đánh cờ ban đêm với ông và để nghe ông tâm sự cuộc đời binh nghiệp của ông. Lý do ông gia nhập quân đội cũng tương tợ như lý do của Ðại tá Của, tuy nhiên ông có cái nhìn chiến lược sâu rộng hơn Ðại tá Của; ông thường lo lắng phong trào phản chiến ở Mỹ sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong tương lai; ông cố tìm một chiến lược “Tự Cường Tự Lập” cho QLVNCH nếu người Mỹ bỏ cuộc ở VN. Thời gian hai tháng sống bên ông đã cho tôi thấy ông là một người yêu nước chân tình và một lý tưởng chống cộng đến hơi thở cuối cùng.
Khi trở về nước tôi biết ngay tôi còn nặng nợ với SÐ5BB khi tôi biết lệnh thuyên chuyển về trường VBQGVN của tôi đã bị hủy bỏ. Khi gặp lại tôi, ông vui mừng báo cho tôi biết là nghiệp chướng của tôi đã được giải tỏa bởi vị minh quân, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu. Trong thời gian chờ đợi lệnh bổ nhiệm về TÐ1/8, tôi lại nghe ông say sưa với bài toán tự lực tự cường, mặc dầu ông vẫn không tìm ra đáp số. Ông cũng không thỏa mãn sự hiểu biết của tôi về phong trào phản chiến ở Mỹ, nên ông quyết xin đi tu nghiệp ở Mỹ để hiểu rõ thêm. Vài ngày trước khi tôi về TÐ1/8, ông hãnh diện nhắc lại những chiến công oanh liệt của TÐ1/8 dưới thời cố Trung Tá Châu Minh Kiến, K.19 TVBQGVN, rồi nỗi đau lòng của ông khi thấy TÐ1/8 đã suy sụp và chiến bại tại khu Tam Giác Sắt sau khi cố Trung Tá Kiến tử trận. Ông cũng tự thấy hổ thẹn khi thấy thành quả của TÐ1/8 đã thua xa tiểu đoàn Mỹ trong chiến dịch Việt Nam Hóa sau khi cố Trung Tá Kiến tử trận, rồi ông bảo tôi đây là cơ hội cho tôi hiểu rõ thế nào là nhục quốc thể nếu TÐ1/8 thua kém quân đội đồng minh.

Một tháng sau, ông rất khoái chí thấy rõ thành quả của TÐ1/8 đã vượt hơn 4 lần tiểu đoàn đồng minh (xem Lượng giá Sư Đoàn 5 Bộ Binh). Ông thích nhất là lối đánh “Thả, Di, Mìn, Kích, Bốc” trong khu vực Tam Giác Sắt. Trước khi từ giã TRÐ8 để du học, ông đã hãnh diện và vui mừng như một đứa trẻ khi chứng kiến anh Trung Ðội Trưởng của trung đội thám báo TÐ1/8 đang huấn luyện trung đội thám báo của anh và của Hoa Kỳ về lối đánh mới lạ nầy, nhất là cách biến chế mìn điều khiển Claymore thành mìn tự động, hay đạn pháo binh thành mìn tự động hay điều khiển.

Ðầu năm 1974, ông đã gọi máy hỏi thăm sức khỏe tôi cũng như hỏi tôi có muốn trở lại SÐ5 hay không. Tôi đã thành thật báo cho ông biết là tôi được lệnh Tướng Thơ để sắp đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Giữa tháng 4/1974 ông cho người về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông để nhắn tôi lên Lai Khê gặp ông trước khi đi Mỹ. Vị Ðại Tá Tư lệnh bây giờ trông già và uy nghi hơn bốn năm về trước, tuy nhiên ông vẫn còn hăng hái như ngày xưa. Ông hỏi tôi lý do phải đi học trong tình trạng khẩn trương của đất nước hiện nay. Tôi đã chân thành báo cho ông biết con đường hoạt động mới của tôi để chống lại phong trào phản chiến và báo chí thiên tả, cũng như ý định xin giải ngũ khi tôi đang du học. Ông vội lôi cuốn sổ tay nhỏ để sao chép tên tuổi và địa chỉ một số sinh viên du học và những người Mỹ mà ông đã tìm cách kết hợp trong một năm du học để giao cho tôi. Tôi hỏi ông nghĩ sao về hiệp định Ba Lê. Ông liền nhắc lại những tiên đoán của ông khi ông đánh cờ với tôi năm 1969, tuy nhiên ông khẳng định với tôi là ông sẽ chiến đấu cuối cùng với binh sĩ cho đến hơi thở cuối cùng. Cuối cùng ông khuyên tôi đến thăm Tướng Hiếu trước khi tôi đi học. Thấy tôi ngần ngại lên Biên Hòa, ông bảo tôi ra nói chuyện chơi với anh Sương, K.16 TVBQGVN để chờ ông. Khoảng 15 phút sau ông gọi tôi vào để báo cho tôi biết Tướng Hiếu sẽ ăn cơm trưa đúng một tuần lễ sau tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông và ông muốn gặp tôi ở đó. Tôi vội đứng nghiêm kính cẩn chào người hiệp sĩ “Samurai” của thế kỷ 20.

Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ và Bộ Tham Mưu. Một tháng làm việc ở Phòng Tổ Chức thuộc trường VBQGVN đã cho tôi thấy những phức tạp và khó khăn của một sĩ quan tham mưu. Trong quá khứ, đặc công VC đã xâm nhập và tấn công hai lần TVBQGV: một lần địch đã vào bắn phá ngay tại phòng làm việc của vị chỉ huy trưởng; lần khác, vụ ám sát vị quân sự vụ trưởng, một sĩ quan thanh liêm và gương mẫu, đang ngủ trong phòng của ông tại Trung Ðoàn SVSQ. Bảng Cấp Số Mới TVBQGVN từ hai vị tiền nhiệm Trưởng phòng Tổ Chức của tôi vẫn bị BTTM từ chối nhiều lần…Tuy nhiên tôi vẫn thoải mái làm việc theo nguyên tắc của một sĩ quan tham mưu với Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ cho đến khi một biến cố xẩy ra trong ngày mãn khóa SVSQ K.25 cuối năm 1972. Sau biến cố nầy tôi đã sống trên đống lửa khi phải đảm nhiệm những công tác ngoài bảng cấp số của một trưởng phòng tổ chức do Tướng Thơ giao phó, ngoài nhiệm vụ thông thường của một sĩ quan tham mưu.

Theo bảng cấp số, Phòng Tổ Chức có nhiệm vụ tổ chức hành quân, huấn luyện tham mưu cho SVSQ, tổ chức an ninh phòng thủ và tổ chức lễ mản khóa cho SVSQ. Trong Lễ Mản Khóa 25 SVSQ, người SQ Tùy Viên của Ðại Tướng Cao Văn Viên đã thông báo lầm giờ khởi hành cho Ð/T Viên nên Ð/T Viên vẫn tà tà ngồi ăn điểm tâm trong khi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, vị chủ tọa buổi lể mãn khóa, đã khởi hành đúng giờ giấc ấn định. Vừa được biết rõ sự việc và không đủ thì giờ để trình Tướng Thơ, tôi thừa lệnh đại Tướng Thơ ra lệnh cho anh Tùy Viên của Ð/T Khiêm cho xe ngừng tại bên Hồ Xuân Hương để ngắm cảnh Ðà Lạt, rồi tôi ra lệnh cho anh Tùy Viên của Ð/T Viên hối thúc Ð/T Viên bỏ ăn sáng và lên xe chạy hết tốc lực đến vị trí hành lễ trước Ð/T Khiêm. Tướng Thơ đứng cách tôi không đầy 10 thước, thấy rõ toán An Ninh Phủ Thủ Tướng chĩa súng vào tôi trong khi tôi thản nhiên ra lệnh đại, không được sự chấp thuận của Tướng Thơ. Ngày nay tôi xin lỗi nhị vị Ðại Tướng và cũng xin kính phục lòng độ lượng và bản tính quân tử của nhị vị bằng cách không quở trách tôi cái tội quấy rầy nhị vị trong ngày mãn khóa 25 SVSQVB năm 1972. Ðặc biệt Ð/T Viên đã chấp thuận việc thăng cấp Trung Tá cho tôi cũng như chọn tôi được phép đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ năm 1974. Dù tôi đã làm việc phi nguyên tắc tham mưu, buổi lễ đã thành công và tôi được Tướng Thơ đề nghị thăng cấp Trung Tá nhiệm chức, để rồi Tướng Thơ đã chỉ thị cho tôi làm nhiều công tác phi nguyên tắc tham mưu từ đó cho đến ngày tôi đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ năm 1974.

Khi ở đơn vị chiến đấu cấp đại đội và cấp tiểu đoàn, tôi không bao giờ thấy quyền lực của MACV ở Sài Gòn, tuy nhiên tôi đã thấy cái quyền lực nầy khi đảm trách soạn thảo Bảng Cấp Số Mới cho TVBQGVN. Cũng như hai vị tiền nhiệm Trưỏng Phòng Tổ Chức, BCSM vẫn bị BTTM sửa tới sửa lui khi tôi đã tu chỉnh hai lần. Bí quá tôi phải trình với Tướng Thơ rồi được ông chỉ cho bí quyết. Thế là tôi đã vượt hệ thống quân giai, về Sài Gòn nói chuyện thẳng với MACV. Thế là xong! Nhờ BCSM được ra đời, các sĩ quan tham mưu cũng như cán bộ đã có dịp được thăng cấp chức vụ như ở đơn vị tác chiến. Tướng Thơ đã đánh giá các sĩ quan phục vụ tại trường rất cao nên ông rất hài lòng với BCSM nầy bởi vì bảng mới đã cho ông có cơ hội để đề nghị thăng cấp chức vụ cho các sĩ quan tham mưu, huấn luyện viên và cán bộ TRÐSVSQ.

Ðể đề phòng nội tuyến, Tướng Thơ chỉ thị mật cho tôi phải tự soạn thảo kế hoạch phản công, khác hẳn với lệnh phòng thủ chính thức đã phổ biến cho các cứ điểm trưởng, trình riêng một mình ông mà thôi để được ông thẩm duyệt. Ông ra lệnh cho tôi rằng chỉ có ông và tôi biết kế hoạch nầy mà thôi, cũng như tôi được quyền thừa lệnh ông nếu ông không có mặt khi hữu sự. Tôi hoảng sợ cho cái lệnh phi nguyên tắc nầy nên đề nghị phổ biến cho vị TMT để tôi tránh khỏi phải thân bại danh liệt như hồi ở TÐ1/8. Ông lại cho tôi thêm một tin tức động trời nữa về vị TMT của tôi: An Ninh Quân Ðội theo dõi vị TMT của tôi đã từ lâu nên vấn đề sinh mạng của SVSQ không thể giao phó cho vị TMT của tôi. Tôi lại còn hoảng sợ hơn khi phải làm việc với vị TMT như thế, nên hỏi ông lý do ANQÐ không bắt giữ đương sự. Ông nhỏ nhẹ cho tôi biết rằng đây là vấn đề câu cá nghề nghiệp phản gián. Hơn nữa đây cũng là cái đẹp của chủ nghĩa tự do dân chủ, khác hẳn với chính sách “Giết Lầm Không Bỏ Sót” của CS; họ giết người họ nghi, còn mình chỉ kết tội người mình khi có bằng cớ.

Mấy tuần sau, ông lại cho tôi thêm một trò chơi ngoài bảng cấp số của PTC. Ông chỉ thị cho tôi phải tổ chức bí mật hệ thống tình báo nhân dân quanh khu vực Ấp Thái Phiên và Khu Chi Lăng. Tôi vội từ chối bằng cách viện lý rằng tôi chưa bao giờ được huấn luyện nghề tình báo, cũng như trình với ông rằng tôi không thích cái trò dòm ngó hay đi cửa hậu. Ông chỉ nhỏ nhẹ bảo tôi “Thì mình là Võ Bị mà!”

Tôi hoàn toàn không thích việc làm qua mặt vị TMT vì tôi biết thế nào tôi cũng gây nên sóng gió giữa tôi và ông, để rồi thuộc cấp vô tội của tôi phải lãnh đủ những điều bất lợi cho họ, nên tôi không bao giờ xử dụng họ trong công tác phi nguyên tắc nầy. Việc Tướng Thơ chỉ thị thẳng cho Phòng Tổng Quản Trị/TVBQGVN đề nghị thăng cấp cho một mình tôi sau lễ mãn khóa 25 khởi điểm cho cơn sóng nhỏ giữa vị TMT và tôi, bởi vì vị TMT của tôi bắt đầu nghi ngờ tôi đã qua mặt ông để xin xỏ Tướng Thơ. Ba tháng sau, tôi đã được thăng cấp thường niên với cấp bậc Trung Tá thực thụ nên vị TMT lại càng nghi ngờ tôi hơn. Mở đầu cho cơn sóng gió là vị TMT từ chối việc đề nghị thăng cấp đặc cách chức vụ cho hai SQ trưởng ban của tôi, cũng như bằng Tưởng Lục sau các buổi mãn khóa trong khi các SQ của các phòng khác lại được thưởng bằng Tưởng lục thường xuyên. Vị TMT chiếm lấy phòng làm việc của tôi, rồi di chuyển phòng làm việc của tôi từ phòng nầy đến phòng nọ khoảng ba hay bốn lần. Vị TMT lại chỉ định SQ Trưởng Ban An Ninh Phòng Thủ của PTC đi theo SVSQ công tác ở miền Trung, mặc dù tôi đã trình cho ông biết việc đi theo SVSQ nầy không cần thiết và không đúng với nhiệm vụ của anh trong bảng cấp số của PTC trong khi PTC cần sự hiện diện của anh trong công tác phòng thủ và huấn luyện tham mưu cho SVSQ. Vị TMT lại gây xáo trộn nội bộ của PTC bằng cách xúi dục SQ Hành Quân của Trung Tâm Hành Quân của tôi bất tuân lệnh của tôi. Một đêm tôi đến phòng hành quân để kiểm soát các vị trí phục kích của Trung Ðội Thám Kích. Tôi ngạc nhiên khi thấy rằng một vị trí chủ yếu để phục kích trạm giao liên của địch tại Ấp Thái Phiên đã bị vị TMT cho lệnh SQ Hành Quân di chuyển đến một vị trí khác, không lợi ích trên nguyên tắc chiến thuật, nên tôi dùng cơ hội để tìm hiểu vị TMT bằng cách bảo anh phải ra lệnh cho toán phục kích phải trở lại vị trí cũ. Vị SQHQ không chịu nghe lệnh của tôi, gọi máy cho TMT để báo cáo với ông về lệnh của tôi để chờ lệnh mới. Vị TMT cho lệnh thi hành theo ý muốn của tôi. Tôi thấy đã đến lúc phải tỏ ý bất đồng với vị TMT về việc ông xâm phạm nguyên tắc tham mưu, bởi vì theo nguyên tắc TTHQ trực thuộc PTC, tình trạng an ninh cá nhân của vị TMT chưa được sáng tỏ và vấn đề sinh mạng của SVSQ. Tôi phạt vị SQHQ 15 ngày trọng cấm vì tội bất tuân lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp và tội báo cáo vượt hệ thống quân giai, để xem phản ứng của vị TMT. Vị TMT rất khôn ngoan bằng cách đồng ý với tôi không bao giờ xen vào nội bộ của PTC, tuy nhiên tình trạng giao hảo giữa TMT và tôi bắt đầu căng thẳng kể từ đó.

Tôi bắt đầu chán nản cái trò chơi rình rập của mèo và chuột nầy nên học toán để giải trí. Tướng Thơ đã hiểu rõ những cái khó khăn của tôi nên ông khuyên tôi nên học báo chí rồi ông sẽ đề cử tôi đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Tôi nghe lời ông ghi danh học năm thứ hai báo chí tại Ðại Học Vạn Hạnh ở Sài Gòn. Người bạn cùng Khóa 17 SVSQ đã giúp tôi lấy bài từ Sài Gòn nên việc học và đỗ đạt không có gì là khó khăn. Ðầu năm 1974, Tướng Thơ báo cho tôi biết tôi được đề cử theo học khóa CHTM tại Hoa Kỳ. Ðây là thời điểm tôi biết rõ tư cách và tài ba của Tướng Thơ. Ông đã phàn nàn về phẩm chất ẩm thực của SVSQ bị giảm dần theo thời gian vì vật giá quá đắt đỏ, mặc dù ông đã có một hệ thống kiểm soát việc cân lượng và mất mát rất chặt chẽ. Ông yên tâm về vấn đề phòng thủ bởi vì ông vừa biết được việc giải ngũ của vị TMT sắp đến vì lý do an ninh cá nhân, cũng như ông đã nắm vững hệ thống tình báo nhân dân. Ông đã thấy sự cần thiết của chiến trường truyền thông và phản địch vận tại Hoa Kỳ…Những lý luận sắc bén của ông đã giúp tôi tự biến thể từ một người lính chuyên nghiệp với binh sĩ đến kẻ độc hành trên đất khách quê người. Tháng 2 năm 1975, Tướng Thơ đã báo cho tôi biết rằng tôi sẽ được giải ngũ như ý nguyện của tôi để tự do theo đuổi con đường mới của tôi.

Sau năm 1975, tôi được biết vị TMT là một gián điệp của MTGPMN, nên tôi lại càng thán phục Tướng Thơ nhiều hơn, cũng như tôi không còn hối tiếc những việc tôi đã làm phi nguyên tắc tham mưu trong thời gian tôi phục vụ dưới quyền vị tướng lãnh tài ba, Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là người đã thay đổi tôi từ thân bại danh liệt đến thời kỳ vẫy vùng và thử lửa cho thỏa chí của một người lính. Ông đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ không vụ lợi cá nhân mà chỉ căn cứ vào hồ sơ quân bạ của tôi và lời đề nghị của hai Ðại Tá, Nguyễn Văn Của và Lê Nguyên Vỹ. Ông đã vô tình cứu mạng tôi khi ông đã bay trực thăng chỉ huy trên đầu tôi trong một cuộc phản kích chớp nhoáng vào trung đội đặc công đi đầu của một tiểu đoàn VC trong âm mưu tấn công BTL/SÐ5BB tại Lai Khê đầu năm 1970. Ông đã biểu dương tinh thần trách nhiệm, lương tâm, can đảm, mưu lược và tài ba của một tướng lãnh biên cương, khi ông vào sinh ra tử với Chiến Ðoàn 8 trong cuộc Hành Quân Snoul năm 1971. Ngoài ra ông là một tướng lãnh trong sạch, đạo đức, có tầm mắt rộng lớn để nhìn thấy hậu trường chính trị và chiến lược trên phương diện quốc gia và quốc tế. Ông xứng đáng là một một minh quân của nước VNCH mà VN đã thiếu vắng hơn một thế kỷ, tuy nhiên thời cơ quá muộn đã không cho phép ông thi thố tài năng. Cuối năm 1972 ông đã cho tôi thấy tấm lòng yêu nước chống Cộng của ông cũng như những tiên đoán chính sách đổi mới của chính sách Hoa Kỳ sau chuyến viếng thăm Trung Cộng của Tổng Thống Nixon.

Chỉ hơn một giờ ngồi ăn cơm trưa với ông tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông cuối tháng tư năm 1974, tôi đã thấy ông là một chiến lược gia quốc tế ngoài cái đức tính văn võ kiêm toàn của ông. Ông đã thấy rõ cái nguy cơ mất nước sau Hiệp Ðịnh Ba Lê, phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ, vụ Watergate của Tổng Thống Nixon và sắc luật hạn chế quyền hạn chiến tranh của T/T Hoa Kỳ. Tuy nhiên ông không sờn chí với chính sách “Còn Nước Còn Tát”, “Không Bỏ Cuộc Dù Ðồng Minh Bỏ Cuộc”, “Quyết Sinh Tử Với Ðịch” …Ông đã có môt kế hoạch “Trì Hoãn Chiến” bằng đường lối ngoại giao trên phương diện quốc tế, tuy nhiên “Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên” nên thiên thời đã không cho phép ông gỡ thế cờ bí của VNCH.
Khi tiễn đưa ông ra bãi đậu xe, tôi mới biết một nhiệm vụ mới ngoài bảng cấp số đang chờ đợi tôi khi Tướng Hiếu nhỏ nhẹ bảo tôi về bức thư hứa hẹn của Tổng Thống Nixon cam kết can thiệp vào chiến cuộc VN với Tổng Thống Thiệu nếu VC vi phạm trầm trọng hiệp ước. Tôi đứng nghiêm kính cẩn chào vị lãnh đạo anh minh, một hiệp sĩ “Samurai” của thế kỷ 20.
Tháng 7 năm 1975 tôi tung tin bừa về cái bức thư hứa hẹn nầy mặc dù tôi đã thất bại không tìm được bản sao của bức thư nầy trong thời gian gần một năm ở Hoa Kỳ. Nhờ thế tôi lại được Tòa Bạch Ốc gởi giấy giới thiệu lên Nữu Ước gặp phái đoàn Quan Sát Viên Liên Hiệp Quốc của VC. Sau hơn ba giờ hết nước miếng để trình bày cái di chúc của Tướng Hiếu trong căn phòng nhỏ hẹp gần thượng từng của một cao ốc, tôi ra về với một niềm hy vọng ở canh bài cuối cùng của cuộc chiến. Tuy nhiên tôi đã thất bại khi biết tin quân cán miền Nam vẫn còn bị tù đày cũng như cái chết bí ẩn ở Phan Thiết của người đã nghe những lời chân thành của tôi, ông Ðinh Bá Thi. Tôi hiểu ngay ông Lê Duẫn cũng như Ðảng CS đã vất bỏ cái di chúc chân thành yêu nước của Tướng Hiếu. Rồi thời gian biến chuyển của lịch sử đã cho tôi thấy những hậu quả khốc hại của đất nước khi ông Lê Duẫn vất bỏ cái di chúc của Tướng Hiếu: chiến tranh Việt-Trung, sự nhượng bộ đất đai và hải phận cho Trung Cộng, sự thiếu cân bằng chiến lược quốc tế cho nước VN hiện nay…

Tâm Tư Một Người Lính VNCH
Chiến tranh VN bắt nguồn từ cuối thế kỷ 18, từ khi Nguyễn Ánh cầu xin quân đội ngoại bang để lật đổ vị anh hùng dân tộc, Vua Quang Trung. Tiếp theo là làn sóng của chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng kinh tế, và văn hóa Châu Âu áp đảo lên các nhược tiểu ở Á Châu, rồi đến chủ nghĩa “Ngăn Chận” của Hoa Kỳ ở Ðông Nam Á. Trước sức mạnh kinh khủng của những áp lực nầy, có nước đứng vững để được độc lập và bảo tồn được nền văn hóa cổ truyền như nước Thái Lan, trong khi VN đã bị tàn phá, bị đô hộ và bị tàn phá. Lịch sử đã cho thấy chính sách ngoại giao và bản tính của dân tộc Thái Lan đã giúp họ thoát khỏi bàn cờ sách lược của ngoại bang, trong khi chính sách sai lầm của các Vua nhà Nguyễn và bản chất khác biệt của người VN đối với người Thái Lan đã đóng góp VN vào vòng quĩ đạo của các tay cờ ngoại bang. Ðây là đề tài khẩn thiết cho các nhà nhân chủng học để tìm hiểu sự khác biệt cá tính giữa hai dân tộc Thái Lan và Việt Nam, để giúp ích cho sự biến thể cần thiết của người VN trong việc chấm dứt bàn cờ chìến tranh VN đang canh tàn.

Tôi lớn lên rồi trở thành người lính của QLVNCH, nên chỉ viết theo quan điểm của một con cờ bé nhỏ trên bàn cờ quốc tế mà các tay chơi cờ là các ngoại bang. QLVNCH đã thất bại bảo vệ dân chúng miền Nam yêu chuộng một chủ nghĩa dân chủ tự do, là do hậu quả của kẻ chơi cờ bỏ cuộc. Tuy nhiên QLVNCH là một quân đội có chính nghĩa và có niềm hãnh diện riêng. Người lính QLVNCH biết rõ chủ đích chiến đấu chống Cộng để bảo vệ miền Nam tự do trong khi người lính miền Bắc bị cưỡng bách và đầu độc sai lầm về lý do họ phải chiến đấu ở miền Nam là chống Mỹ cứu nước, tuy nhiên trong thực tế họ là những công cụ cho sự bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản ở Việt Nam, mà họ không hề hay biết cũng như không muốn có chủ nghĩa CS vô thần, trái với phong tục tập quán cổ truyền của người VN. Người lính QLVNCH cũng như chính phủ VNCH phải chấp nhận quân viện từ người bạn đồng minh, chứ không bao giờ chịu làm nô lệ cho bất cứ một nước ngoại bang nào, trong khi CSVN cũng phải chấp nhận quân viện từ khối CS quốc tế, tuy nhiên CSVN lại làm nô lệ cho CS quốc tế, như việc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, áp lực của Nga Sô trong việc cưỡng chiếm miền Nam năm 1975…QLVNCH cũng không may mắn cho sự khủng hoảng cấp lãnh đạo quốc gia trong khi CSVN có được một tay lãnh đạo xảo quyệt và gian ác, Hồ Chí Minh, trong việc đánh lừa chiêu bài chống Pháp rồi chống Mỹ để giữ nước. QLVNCH và chính phủ VNCH rất nhân đạo trong việc cải cách ruộng đất không hề đổ máu, như chính sách rộng lượng và quân tử đối với CS ─ chính sách chiêu hồi và tù binh ─ trong khi CSVN đối xử tàn bạo và vô nhân đạo với những người quân cán miền Nam khi họ đã đồng ý bỏ súng để tránh đổ máu không cần thiết cho một cuộc chiến đã đến hồi canh tàn. Theo thời gian của lịch sử, các thỏa hiệp bí mật với Trung Cộng để nhượng đất và hải phận cho ngoại bang, những hành động tham nhũng và sự chống đối lẫn nhau trong hàng ngũ CS, cũng như một xã hội VN nghèo nàn và hỗn độn đã chứng minh những lỗi lầm trầm trọng của đảng CSVN, cũng như cái vô chính nghĩa của CSVN trước công luận thế giới và lịch sử chiến tranh VN. Ngày nay những hành động nham nhở của một số ít người Việt ở hải ngoại khi họ về nước, những hiện tượng chống Cộng quá khích của một số người Việt ở hải ngoại, những hiện tượng hám danh đầu cơ chính trị, hay van xin làm nô lệ cho ngoại bang, là do chính sách sai lầm, lừa gạt và tiểu xảo của CSVN.

Một cuộc xung đột chỉ được kết thúc trong hòa bình vĩnh viễn và hai phe cùng nhau xây dựng đất nước nếu họ biếttương kính lẫn nhau cũng như thông cảm hoàn cảnh của hai phe. CSVN đang ở thế thượng phong, nên họ có trách nhiệm sự kết thúc vĩnh viễn của một canh bài, miễn là họ có can đảm và lòng yêu nước để từ bỏ các quyền lực bấp bênh và thiếu căn bản pháp lý của họ hiện nay. Có như thế, may ra VN sẽ thoát được hai tay cờ hiện nay đang ở thế tiên khởi của một bàn cờ mới ở Việt Nam yêu quí. Chờ xem!

Trần Văn Thưởng
19 tháng 06 năm 2006
Ngày Quân Lực 2006
Một Ít Dữ Kiện Lịch Sử VN
Thức Tỉnh
Tướng Hiếu, Một Thiên Tài Quân Sự?
Các Tướng Lãnh QLVNCH
generalhieu.com
Tân Sơn Hòa chuyển