Showing posts with label sự sụp đổ của vnch. Show all posts
Showing posts with label sự sụp đổ của vnch. Show all posts

Monday, September 8, 2025

 https://www.naturalreaders.com/online/?s=V37d7ffc7ca4624d36b33ccaf22d4b300f.txt&t=Shared%20Text%20File%202025-09-08T21%3A59%3A15.668Z

https://www.naturalreaders.com/online/?

Sunday, April 28, 2019

SỰ SỤP ĐỔ CỦA VNCH ĐÃ ĐƯỢC SẮP XẾP CỦA TRỜI ĐẤT .
KHI cụ Trần văn Hương đã giao quyền lực cho một người có một tiền định rất xấu (fatality) là tướng Dương văn Minh .
Ông sanh ngày 16/2/1916 (sic) .
Dựa vào Numerology tôi phân tách .
DƯƠNG = 4 6 7 5 3 = 25 = 7
VĂN = 6 1 5 = 12 = 3
MINH = 4 1 5 5 = 15 = 6
Tổng cộng : 7 3 6 = 16 .
Như vậy ông Minh bị số 16 tác động HAI lần . Đây là một số RẤT XẤU (số của TAI HỌA TIỀN ĐỊNH LẠ LÙNG/strange fatality) mà ví dụ điển hình là cố TT Mỹ Abraham Lincoln : ông này có tên cộng lại bằng 16 và cũng là TT thứ 16 của Mỹ !.
Ý Nghĩa Của Số 16 : The Shattered Citadel (Thành Quách Tan Vỡ)
(dựa theo sách Linda Goodman's Star Signs)
Theo nguời Chaldeans cổ đại thì số 16 đuợc biểu tuợng bởi hình ảnh “ một Tòa Tháp bị Sét đánh , từ đó một nguời đang rơi xuống , với một Vuơng miện trên đầu ” (a Tower struck by Lightning , from which a man is falling , which a Crown on his head”) . Số này cảnh báo về một tai họa tiền định lạ lùng (strange fatality) , cũng như sự nguy hiểm của các tai nạn và sự thất bại của những kế hoạch của nguời mang số đó . Nếu tên bằng 16 , điều dĩ nhiên là khôn ngoan đổi tên để tránh tác động của nó . Nếu ngày sanh là ngày 16 của bất cứ tháng nào , sự thử thách của số 16 phải đuợc cẩn thận đón nhận/đáp ứng, để cho tác động/ảnh huởng có thể giảm nhẹ tới một mức không khắc nghiệt lắm (the challenge of the 16 must be met, so that its effect may be diluted to a milder vibration) . Để tránh khuynh huớng tiền định đầy khắc nghiệt này (the fatalistic tendency) của ngày sanh là số 16 , nguời (có ngày sanh là 16) này phải cố gắng lập kế hoạch truớc khi làm bất cứ việc gì (one must endeavor to make all plans in advance) , để chắc chắn rằng mọi khả năng của thất bại phải đuợc tiên liệu/biết truớc (making certain that any possibility of failure is anticipated) và phải đuợc né tránh/đi vòng quanh /đổi huớng (circumvented) bằng cách chú ý cẩn thận từng chi tiết . Số 16 cũng mang đến cùng với nó sự bắt buộc và trách nhiệm phải nghe theo tiếng nói từ bên trong của số 7 , tiếng nói này sẽ luôn luôn cảnh báo về nguy hiểm thông qua những giấc mơ hoặc trực giác để tránh kịp thời (intuition in time to avoid it) . Không nên coi thuờng tiếng nói từ bên trong . Như tôi (tức bà Linda Goodman – TTT) truớc đây đã giải thích phần nào về sự kiện rằng tên “Abraham Lincoln” bằng số 16 , rằng ông Lincoln đã đuợc cảnh báo nhiều lần về việc ám sát ông là tiềm tàng/có thể xảy ra thông qua những giấc mơ của ông (was warned repeatedly of his potential assassination by his dreams) . . . và cũng như bởi vài ông đồng bà bóng (“sensitives” or “mediums”) đuợc đưa vào Tòa Nhà Trắng bởi bà Mary Todd Lincoln . Ông đã coi thuờng/không nghe theo những cảnh báo rõ ràng này , và đã từ chối thực hiện những biện pháp phòng ngừa (precautions) cần thiết , vì vậy , đã không thể tránh khỏi tai họa tiền định này (was unable to avoid his fate) .Nhưng điều này đã có thể tránh đuợc (but it could have been) , và đây là điều quan trọng mà nguời có ngày sanh là 16 phải nhớ . Để tìm kiếm hạnh phúc bằng những cách khác hơn là làm lãnh đạo cấp cao (leadership at the top)(Tòa Tháp và Vuơng Miện) – thì nên từ bỏ sự nổi tiếng/tiếng tăm và danh vọng (to renounce fame and celebrity) – đây chính là cách để giảm nhẹ khía cạnh/mặt tiêu cực (negative aspect) của số 16 .
Lincoln đã không làm như vậy , vì nghĩ rằng điều quan trọng là phải cố gắng thống nhứt đất nuớc (feeling it was more important to attempt to keep the nation united) hơn là hưởng thụ hạnh phúc (fulfillment) của một cuộc sống riêng tư , mặc dù ông đã nhận chức Tổng thống với nhiều miễn cưỡng và nỗi buồn sâu thẳm (with much reluctance and a profound sadness) .
( Dịch từ trang 254-255 của sách đã dẫn của bà chiêm tinh gia nổi tiếng nguời Mỹ Linda Goodman) .
San Jose ngày thứ hai 15/03/2010 lúc 12:03 trưa .

Saturday, April 20, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3207195555960915&set=pcb.3207036182643519&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARDa4xRu6KXn6OQ-uJy5emuSjBWP6eRdSmIafEkpLKYGDAkMy6X1UJUAGTBUm1nbjaK2qHjzeowwQVnI

Wednesday, April 17, 2019

THẢM SÁT MAN RỢ Ở XUÂN LỘC: BAO GIỜ CÔNG KHAI XIN LỖI NẠN NHÂN, TRỪNG PHẠT KẺ GÂY TỘI ÁC?


Posted by adminbasam trên 05/06/2016
Đôi lời: Nhân sự kiện Bob Kerry, xin được đăng lại một bài viết cũ… mà không cũ.  Facebooker Tuấn Khanhbình luận: “Các loại gọi là trí thức XHCN vẫn thích đập đùi bôm bốp đòi người khác xin lỗi mình, trong khi mắt liếc xem trên cao có lưu tâm phận nô tài báo công của mình không. Thực tế và lịch sử vẫn có những thứ cần phải dập đầu xin lỗi thì họ làm ngơ. Sự đê tiện ấy không sao gột rửa sạch, dù đó là công thần chế độ, quan lại hay chỉ là thứ dân đen tập tành sống đời điếm nhục. Hèn hạ, ghê tởm không kể xiết!
____
30-9-2015
Ngày 27-9-2015, hơn 40 năm sau vụ thảm sát đẫm máu sáng 21-4-1975 (9 ngày trước khi Sài Gòn thất thủ) tại ấp Phú Mỹ, xã Tân Lập, huyện Xuân Lộc (nay là ấp Phú Mỹ, xã Xuân Lập, thị xã Long Khánh), làm hơn hai trăm thường dân thiệt mạng oan khốc, nhà thơ cựu tù nhân lương tâm Trần Đức Thạch (Diễn Châu, Nghệ An; cựu phân đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 QĐNDVN) mới có cơ hội thăm lại người xưa, cảnh cũ, thắp nén nhang tạ tội cùng đồng bào.
Rưng rưng lệ, nghẹn ngào, cựu chiến binh Trần Đức Thạch cùng nhân chứng sống là ông Đàn, hiện là Ấp trưởng Phú Mỹ (kiêm Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong xã Xuân Lập, 34 tuổi đảng) hồi tưởng vụ thảm sát kinh hoàng. Vụ việc kinh hoàng hiện về như mới xảy ra hôm qua. Ngày ấy, ông Đàn 18 tuổi, cũng suýt thiệt mạng oan uổng.
Vụ thảm sát xảy ra trong bối cảnh Sư đoàn bộ binh số 18 QLVNCH vừa rút khỏi Phú Mỹ, đơn vị ông Thạch tràn vô ấp làm nhiệm vụ chốt chặn đối phương. Trước đó, trong một cuộc giao tranh khốc liệt tại Xuân Lộc, Trung đoàn 266 có hơn hai trăm rưỡi bộ đội tử trận. Cấp trên tuyên truyền: dân chúng vùng Xuân Lộc, Long Khánh, Hố Nai, Biên Hòa… đa số là công giáo di cư, chống cộng khét tiếng (thực tế tuyệt đại bộ phận dân Phú Mỹ theo đạo Phật)… Trên đường vô ấp, một bộ đội bị tàn quân phía VNCH (địa phương quân) bắn chết. Lập tức, bộ đội lùa dân chúng già trẻ, trai gái trong các nhà dân hai bên đường ra mặt đường, điên cuồng xả súng.
Từ bìa rừng cao su, nghe tiếng súng nổ, nhanh chóng tiếp cận hiện trường, trinh sát Thạch phát hiện vô số thường dân bị giết hại, máu chảy như suối ven đường, người bị thương, người còn sống rên la thảm thiết… lập tức yêu cầu đồng đội dừng bắn và chỉ huy dân ấp chở người bị thương ra Bệnh viện Suối Tre cấp cứu; di tản phụ nữ và trẻ em vô rừng để tránh bị sốc do hiện trường rùng rợn khủng khiếp; đàn ông 18-45 tuổi trong ấp tập trung đào hố chôn các tử thi ngay chiều cùng ngày (đào hố và chuyển tử thi ra hố trong chiều 21-4, trưa 22-4 lấp hố), dọn dẹp hiện trường. Không có máy đào máy xúc, phải dùng máy xới và người dùng xẻng đào chiếc hố sâu cỡ 0,7m để chôn lấp tập thể các nạn nhân. Trừ hơn một chục tử thi được người nhà sống sót nhận diện và mai táng riêng biệt ở chỗ khác, còn lại đều lấp trong hố này.
Ông Đàn nghẹn ngào kể, dân ấp có khoảng hơn một trăm rưỡi người thiệt mạng, còn lại là đồng bào chạy giặc từ thị xã Long Khánh, Sài Gòn… Có gia đình bị giết gần hết, chỉ may mắn sống sót duy nhất bé gái 3 tháng tuổi (hiện sống ở Sài Gòn). Có 3 gia đình 6-7 người/hộ, bị giết 4-5 người/hộ. Có gia đình đang núp trong hầm tránh đạn lạc tên bay, bộ đội kêu ra, chưa kịp ra thì bị quăng lựu đạn vô hầm. Sư cô già trụ trì ngôi chùa trước nhà ông Đàn chỉ vì xưng hô, gọi bộ đội là “ngài”, bị bắn xuyên từ ngực trái ra ngực phải. Một người đàn ông trên 50 tuổi, đang quỳ lạy van xin, vẫn bị kê AK bắn giữa trán. Một bé gái sát bên nhà ông Đàn, chừng hơn một chục tuổi, hoảng hốt kêu la thất thanh, bị bắn vỡ hàm (hiện ở Phú Mỹ). Anh du kích tên Nghê (hiện ở rẫy cách nhà ông Đàn 3km), đưa bộ đội về “giải phóng” quê hương, rụng rời khi biết cha đẻ cũng vừa bị sát hại. Có bà mẹ đang cho con bú, bị bắn chết, bé rơi từ ngực mẹ…
Trong cuộc hàn huyên cùng ông Đàn sáng 27-9-2015, ông Thạch nhờ ông Đàn điện mời ông Nghê đến nhà ông Đàn hội ngộ sau hơn 40 năm (sau vụ thảm sát, ông Nghê có cùng ông Thạch tổ chức khắc phục hậu quả và đưa ông Thạch về nhà nấu cơm ăn. Nhưng họ không còn tâm trí đâu để ăn), nhưng ông Nghê nói mắc đi đám cưới, cũng không đề nghị ông Thạch ở lại chờ hàn huyên.
Ông Đàn cho biết thêm, khi ông chạy đến ngã tư trong ấp, nơi xác người chất thành từng đống, cha Nghê chưa tắt thở. Liền đó, xã đội lệnh Nghê nộp lại súng, vì sợ Nghê trả thù.
Trong hồi ký “Hố chôn người ám ảnh” (viết 2008), cũng như trong cuộc hàn huyên với ông Đàn, ông Thạch đều bộc bạch: lúc ấy, ngoài mục đích chôn lấp để tránh sốc tâm lý và ô nhiễm, còn có ý phi tang nhanh để bảo vệ danh dự “Bộ đội cụ Hồ”.
Hơn 40 năm đã qua kể từ buổi sáng kinh hoàng đẫm máu ấy, dân ấp chưa nhận được một lời xin lỗi, bồi thường từ phía quân đội cũng như nhà nước. Họ cũng chẳng biết (và chẳng dám) kêu oan ở đâu. Đặt vấn đề hỏi chuyện tổn thất của gia đình, họ sợ hãi lảng tránh…
Thảm sát tàn ác là điều khó tránh trong chiến tranh ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, tội ác quân đội Đức, Nhật, Liên Xô trong Thế chiến 2 đều đã được nguyên thủ các nước nọ lên tiếng thừa nhận và nói lời xin lỗi nạn nhân cùng hậu duệ họ. Một trong những kẻ trực tiếp chỉ huy vụ thảm sát thường dân ở Mỹ Lai (Sơn Mỹ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) đã bị tòa án Mỹ kết án.
Hơn 40 năm qua, vụ thảm sát đẫm máu man rợ ở Phú Mỹ vẫn trong bóng tối. Bao giờ hơn 200 oan hồn thường dân vô tội mới siêu thoát?
H1Cựu chiến binh Trần Đức Thạch. Ảnh: FB Võ Văn Tạo
H1Từ trái sang: nhà báo CCB Võ Văn Tạo; nhà thơ CCB -cựu TNLT Trần Đức Thạch; Ấp trưởng Đàn. Ảnh: FB Võ Văn Tạo
H1Bia (trùng tu 2013) tại hố chôn ở Phú Mỹ. Ảnh: FB Võ Văn Tạo
https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/3192660554081082?notif_id=1555220552882353&notif_t=feedback_reaction_generic

Monday, April 15, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3196435480370256&set=a.197514143595753&type=3&eid=ARDcWHw1sGrRaeyMZ3679JU9P7qNgL0y207cCBmgZM0JWmVvMdzVSD8UQGGFUoT9kzprj2Kl2s0aiqQB
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3196432390370565&set=a.197514143595753&type=3&eid=ARCteLicPfvG_NfdxmPoHowrOGMMy1CHwnHY6BSGA0fR5RqrYkLZ4H-WxjNDWlYzdnmy_CFkvpM1dGCy

Sunday, April 14, 2019

NỔI OAN CỦA TỔNG THỐNG THIỆU
- Thông tin MỚI (vì nhiều người chưa biết) về giải pháp cắt đất của tướng Ted Serong hay sức cùng lực kiệt của TT Thiệu. Đọc để biết vì sao chúng ta đã có mặt ở Mỹ.
- Tính già hóa non hay người tính không bằng Trời tính. 
Một nhóm các tướng lãnh đã đe dọa TT Thiệu rằng nếu ông ấy không nhanh chóng ra lịnh việc thực hiện kế hoạch bỏ Quân Khu 1 và Quân khu 2 (miền Trung và Cao Nguyên), họ sẽ lật đổ (remove) ông*. Ông ta đã tuân thủ điều đó, với một nhanh chóng đầy tai họa (disastrous alacrity)".
- Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước (well aware) những hậu quả chính trị gây chấn thương (traumatic political consequences) khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.
Sau đây là phần chuyển ngữ.
                          
Sách Certain Victory (Chắc chắn thắng lợi) của Dennis Warner

Đại tá Ted Serong

PHẦN MỘT.
. . .
"Một số người ngày càng gia tăng, bao gồm thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đã sẵn sàng một điều gì giống như giải pháp Lào (nghĩa là trung lập hóa -- người dịch), hay giải pháp tương tự cho Việt Nam.
Bên trong một biệt thự sơn trắng không xa phủ tổng thống VNCH với hồ tắm trong vắt như thủy tinh, giải pháp dự phòng (contingency solution) này đã được nghiên cứu trước đó vài tháng. Tác giả của nó là một trong những  người đặc biệt (remarkable) đã từng sống trong bóng của chiến tranh Việt Nam - đó là Ted Serong, xem hình, một chuẩn tướng (brigadier) hồi hưu, một thời từng là chỉ huy Toán Huấn Luyện Lục Quân Úc tại VN, sau đó được Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) thuê để thành lập lực lượng cảnh sát dã chiến (police field force) VNCH, sau đó là tư vấn cho RAND. (NÓI THÊM: đây một định chế phi lợi nhuận của Mỹ nhằm giúp các lãnh đạo trên thế giới quyết định chánh sách bằng cách thông qua khảo sát và phân tích với 1950 chuyên viên mà 54/100 có học vị tiến sĩ (doctorate), hoạt động tại 50 quốc gia, nói được 75 ngôn ngữ -- người dịch). Và Serong bây giờ là một cố vấn độc lập cho chính phủ VN. Ông đã họp với một nhóm nhỏ các viên chức cao cấp của VN để nghĩ điều không ai nghĩ tới (unthinkable). Điều mà họ đã nghĩ là Nam VN nên bỏ (abandon) vùng Cao Nguyên (Highlands) và miền Trung (Central Vietnam) trong một cố gắng, tốt nhứt (preferably) bằng thương thuyết, nhưng, nếu không được, sẽ bằng lực lượng quân sự (force of arms), để bảo vệ phần còn lại. Serong là một người can đảm, sáng chói, tự cao tự đại (patronizing) và được thông tin đầy đủ (well informed), với một cái tôi phù hợp (matching ego). Tường trình mới nhứt của ông đã gửi đến chính phủ. "Tôi đã đề nghị", ông viết, "rằng VN nên tự lập một hạn chót (deadline) để dựa vào ngày đó mà ra một quyết định chiến lược quan trọng - 14 tháng Hai 1975, hai tuần lễ kể từ hôm nay. Nếu vào ngày đó 300 triệu đô* không được giải ngân (granted), hay nếu chỉ giải ngân một phần, hay nếu bị trói buộc bởi những điều kiện không khả thi (tied to unworkable strings), chúng ta sẽ triển khai quyết định cắt bỏ (ampute) Quân khu 1". (Số tiền này đã được Quốc hội Mỹ đồng ý nhưng chưa chuyển giao cho VN để dùng.)
Ông Serong đã khuyến cáo rằng nên bỏ Huế và Đà Nẳng và những vùng khác, bao gồm phần lớn Cao Nguyên Trung Phần (Central Highlands). Ông đã dự kiến rằng quyết định này vừa là một chiến dịch quân sự để thu hẹp tuyến phòng thủ (shorten lines) và cũng là cơ sở để cho các thương thuyết mới. Bảy sư đoàn của 13 sư đoàn chánh qui của chánh phủ VNCH chỉ bảo vệ 1/6 dân số, và kinh tế vùng này chỉ bằng 1/6 của cả nước. Sức mạnh của quân CSBV, tại hai quân khu này, hay tại Lào, hay tại Bắc VN, khiến chúng ta khó bảo vệ các quân khu này trừ phi việc tiếp liệu đạn dược đầy đủ được bảo đảm nhưng chúng ta đã không bảo đảm được điều đó.
Những thương thuyết cho biên giới mới này, ông đã tin rằng, nên dựa vào đề nghị đầu tiên của chánh phủ VNCH là chọn vĩ tuyến thứ 15, ngay phía nam thành phố Quảng Ngải. Nếu điều này không được đối phương chấp nhận, và dễ thấy điều này sẽ xảy ra, chính phủ nên chuẩn bị thương thuyết lại và chọn vĩ tuyến 13, ngay phía bắc Ban Mê Thuột, một đường sẽ cắt Nam VN làm hai phần gần bằng nhau. 
                               
Bản đồ dự kiến 5 tuyến trì hoãn chiến tại Phòng Tình hình-Dinh Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1975. (nguồn: wiki)

                            
Phòng tuyến dự trù của VNCH, tính tới cuối tháng 3/1975. Nguồn: Decent Intervals của Frank Snepp.

Hấp dẫn, và cực kỳ quan trọng, một phần của kế hoạch của ông là cuộc thương thuyết để cắt đất nên thực hiện với Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam VN, gọi tắt theo tiếng Anh là PRG, chứ không phải với Hà Nội, một quan điểm đã chấm dứt một cách trớ triu (ironically) mọi cơ may mà Nam VN có thể có trong giai đoạn hoàng hôn (twilight) của sự tồn tại của họ trước khi bị Bắc VN xóa bỏ. Một trong những lý do khiến Hà Nội đẩy mạnh (accelerated) cuộc tấn công sau khi vùng Cao Nguyên bị sụp đổ là để tránh dính dáng với các thương thuyết -- có thể dẫn đến một vai trò nào đó cho Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam VN.
Trước ngày 5/2/1975 khá lâu, CP Sài Gòn đã nghiên cứu nhiều kế hoạch dự phòng để bỏ Quân khu 1 và 2, bao gồm miền Trung và Cao Nguyên, nhưng thời điểm và phương pháp chưa được giải quyết. Ông Thiệu thì giữ chặt mọi điều động quân sự, và bộ TTM đã thấy rõ (emasculate) rằng họ thiếu khả năng hay phương tiện (machinery) để đảm nhận một loại kế hoạch như thế và cũng không nhận một chỉ thị nào từ ông Thiệu để thực hiện điều này. Cũng có một miễn cưỡng (reluctance) tự nhiên từ ông Thiệu khi để cho Chánh phủ Cách mạng Lâm thời, không tính tới Bắc VN, một cái gì mà ông không được cái gì đó từ đối phương. Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước (well aware) những hậu quả chính trị gây chấn thương (traumatic political consequences) khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.
. . .
Sài Gòn hiện nay đã nhận dạng bốn sư đoàn CSBV tại Cao Nguyên. Họ được bảo vệ mạnh mẽ bởi súng phòng không, nhưng trong sự vội vã để khai thác chiến thắng ban đầu tại Ban Mê Thuột,  họ không cần ngụy trang (concealment) nữa. Hàng đoàn xe tăng và xe tải trên các con đường mới, họ là mục tiêu lý tưởng cho B-52. Nhiều kẻ trong bọn họ từng nghĩ rằng B-52 sẽ đến.
Tuy nhiên, vào ngày 13/3, Sài Gòn thấy rõ rằng mọi mưu toan tái chiếm Ban Mê Thuột đã thất bại (failed). "Thông tin này đã gây sốc tức thời cho Sài Gòn", theo chuẩn tướng Serong, người với tất cả các ý định mục đích đã trở thành một thành viên trong hệ thống quân giai này. "Một nhóm các tướng đã đe dọa (threatened) Thiệu rằng nếu ông ấy không nhanh chóng ra lịnh việc thực hiện kế hoạch bỏ QK 1 và QK 2 (miền Trung và Cao Nguyên) họ sẽ lật đổ (remove) ông*. Ông ta đã tuân thủ, với một nhanh chóng đầy tai họa (disastrous alacrity)". Xem ảnh dưới đây, chụp trang 38 của sách đã dẫn.
                                 

Vào ngày 13/3 ông Thiệu đã gặp bốn tư lịnh QK tại Sài Gòn. Họ đều ngạc nhiên với tính cơ động (mobility) của bắc VN, nó lớn hơn nhiều so với mong đợi. Trong cuộc họp ông Thiệu không đưa ra cảnh báo trực tiếp rằng ông đã có ý bỏ Cao Nguyên, nhưng ông nói với tướng Trưởng, tư lịnh QK 1, rằng ông muốn rút sư đoàn Dù (đang ở bên ngoài Đà Nẳng), để sư đoàn TQLC từ Quảng Trị vào đó trám chỗ. Trước ý kiến này, Trưởng cũng như các tư lịnh khác, rất bi quan về tình hình của QK mình.
. . .
* Diễn giải (version) của Serong đã gây ngạc nhiên cho một cựu thành viên của bộ TTM khi ông này đọc nó. Thành viên này chẳng những không biết gì về một đe dọa đảo chánh nhưng, tính tới 12/3, đã làm việc theo lịnh của ông Thiệu để mở cuộc phản công."
...
Chuyển ngữ từ trang 13, 14, và 38 của quyển CERTAIN VICTORY: How Hanoi Won the War của Dennis Warner (Chắc chắn thành công: Làm thế nào Hà Nội đã thắng trận). Ông này được tuần báo TIME xếp vào một trong hai phóng viên uy tín nhất (most respected) về Việt Nam. 
SJ ngày 5 tháng 2 năm 2024, viết lại ngày 18/4/2025.

====

PHẦN HAI. TIÊN TRI CỦA TƯỚNG MURRAY, CỰU TÙY VIÊN QUÂN SỰ TĐS MỸ TẠI VIỆT NAM (cập nhật ngày 28.4.25).
...
Vào cuối tháng 8/1974, Murray đã viết "nếu ko có yểm trợ thích hợp QLVNCH sẽ thua, có thể ko phải tuần tới hay tháng tới, nhưng sau năm này (ý nói 1974), họ sẽ thua". (In late August 1974, Murray wrote that “without proper support the RVNAF (Republic of Vietnam Armed Forces) are going lose, maybe not next week, or next month, but after the year they are going to).
Trước đó, trong một buổi trả lời phỏng vấn các nhà báo (không được cấp trên cho phép), Murray khẳng định rằng Việt Nam buộc phải thay đạn dược bằng "tính mạng, xương và máu” và ông gọi những người chịu trách nhiệm về ngân sách (ở Mỹ) là những con "rệp ngân khố".
Ngày 16 tháng 8 năm 1974 trong buổi họp cuối cùng (trước khi về Mỹ) với bộ chỉ huy tối cao của Nam Việt Nam, Murray và một số sĩ quan Mỹ khác đề nghị phía VN nên bỏ một số đất đai và thực hiện chiến thuật củng cố để tiết kiệm dự trữ. Tướng Cao Văn Viên và những viên phụ tá của ông trả lời rằng ý kiến ấy tốt về mặt quân sự, nhưng về mặt chính trị, không thể thực hiện được.
. . .
Nguồn: Trích từ sách Decent Intervals (Khoảng cách vừa phải) của Frank Snepp, trưởng nhóm phân tích chiến lược của CIA tại VN.
======================

Bản đồ sau đây lấy từ sách đã dẫn.


Bản đồ nhỏ ở phía trên trái của ảnh là các quân khu của VC, từ trên xuống dưới là: quân khu Trị - Thiên - Huế, quân khu 5 (bờ biển miền Trung), mặt trận B-3 (Tây Nguyên), và Trung Ương Cục Miền Nam (còn gọi là Cục R hay COSVN theo tiếng Anh).
==

BÀI BA. TẠI SAO VNCH PHẢI SỤP ĐỔ VÀO NĂM 1975? (Cập nhật ngày 28.4.2025). 

                           

               
Cảnh đồng bào miền Nam leo lên một xà lan ở Khánh Hội chiều ngày 29 tháng 4, 1975 di tản khỏi Việt Nam. Các ông Joe Gettier, Mel Chatman và Bill Egan, nhân viên tòa Đại sứ Mỹ bất tuân lệnh của Đại sứ Martin, đã dùng tàu kéo xà lan chở người Việt Nam đi tị nạn.

Sau khi qua Mỹ năm 1994, tôi đã nghiên cứu về Numerology hay Lý thuyết Số. Nhờ đó,  tôi đã biết rằng trong cuộc họp lịch sử ngày 14.3.75 tại Cam Ranh với năm người tham dự, dẫn đến sự sụp đổ của VNCH, có ba người đều có tên bằng số 13 và 1 người có tên bằng 22. (Đây là các số rất xấu theo Lý thuyết Số vì thuộc Nhóm trả nợ dồn gồm các số 4 8 13 17 22 và 26). Đó là Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, thủ tướng Trần thiện Khiêm, thiếu tướng Phạm văn Phú tư lịnh quân khu 2 đều có tên bằng 13; riêng đại tướng Cao văn Viên có tên bằng 22. (Riêng trung tướng Ngô quang Trưởng, TL của quân khu 1, gặp TT Thiệu ngày 13.3.75 cũng có ngày sanh là 13).  

Theo LTS, tên của 1 người, 1 cuốn phim, 1 cuốn sách, 1 công ty, hay 1 nước, v.v... đều là một THỰC THỂ (entity). Cũng như vậy là ngày sinh, năm sinh. Nay ta phân tách năm 1975 bằng cách cộng 4 số này: 1 + 9 + 7 + 5, ta thấy bằng 22. Sau đây là ý nghĩa của số này.

Sự thần phục - Sự cảnh giác (Submission and Caution)

Số 22 được tượng trưng bởi hình ảnh một Người Tốt (Good Man) bị mờ mắt vì sự ngu dốt (folly) của những kẻ khác, với một túi đeo lưng, đầy những sai lầm. Trên hình vẽ cho thấy người này có vẻ không phòng thủ gì trước một con cọp dữ đang bắt đầu tấn công hắn. Số này cũng cảnh báo về ảo tưởng và lừa dối. Nó cho thấy một người tốt (hoặc thực thể) đang sống trong hạnh phúc và thỏa mãn, và tin tưởng không có vấn đề gì xảy ra, nhưng thực tế thì không phải vậy. Nó cho thấy một người đang nằm mơ, chỉ thức dậy khi nguy hiểm bao quanh hắn, nhưng lúc đó thì quá muộn. Nó cảnh báo về những sai lầm trong phán đoán, khi đặt lòng tin vào những kẻ không đáng tin cậy..." Nếu 22 là ngày sanh, người này nên cẩn thận và luôn cảnh giác hay canh chừng (caution and watchfulness) trong những vấn đề về nghề nghiệp và cá nhân. Điều bắt buộc (karmic obligation) đối với người này phải tỉnh táo hơn, phải kiềm chế (curb) sự lười biếng về tâm linh, và phát triển hơn sự năng nổ về tâm linh – để thực hiện khả năng riêng (của mình) nhằm thay đổi sự việc, cũng như để ngăn ngừa sự thất bại bằng cách quyết tâm đạt được sự thành công (by simply ordaining success). Khi trách nhiệm cá nhân này được nhìn nhận, thực hành và cuối cùng  được nắm vững, người mang số 22 sẽ làm chủ mọi sự kiện, không còn bị mờ mắt bởi sự ngu dốt của kẻ khác, và sẽ thấy ý tưởng và niềm mơ ước của mình được thực hiện. Bất cứ ai sanh ngày 22 cần phải đọc đoạn nói về số 4 và 8, bắt đầu ở trang 269.

(Dịch từ trang 258-259 của sách Linda Goodman's Star Signs*). 

NHẬN XÉT: Nếu bạn thay thế chữ "Người Tốt' bằng VNCH thì sẽ thấy sự trùng hợp CHÍNH XÁC với những gì xảy ra năm 1975 tại VN; nghĩa là mọi việc đã xảy ra trong năm 1975 là do TRỜI ĐẤT SẮP ĐẶT. Hơn nữa 22 = 2 + 2 = 4 (TRẢ NỢ DỒN). 

* Bà Linda Goodman là một chiêm tinh gia nổi tiếng của Mỹ, tác giả của nhiều sách trong đó có quyển Linda Goodman's Star Signs mà tôi dùng để viết về Lý thuyết Số.

SJ ngày 27/3/2025, cập nhật ngày 28/4/2025.

Tài Trần



Sunday, April 22, 2018

Thần may mắn đã về phía CSVN năm 1975 khi Nixon bị mất chức và vua Faisal của Saudi Arabia bị ám sát , bài 2 .
QUỐC VƯƠNG FAISAL Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng Hòa
. . .
"Tuy nhiên lúc đó lại có một tia sáng hy vọng mong manh đối với vấn đề trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam phát xuất từ vùng sa mạc Trung Đông.
Theo Frank Snepp thì trong những cuộc thương thuyết con thoi giữa các nước Trung Đông nhằm giải quyết hòa bình giữa các nước Ả Rập và Do Thái, vào ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger ghé thăm nước Ả Rập Saudi (Saudi Arabia,) quốc gia sản xuất dầu hỏa hàng đầu của thế giới. Ngày 23 tháng 3 trước khi rời Riyad, Thủ Đô Saudi Arabia, Ngoại Trưởng Kissinger vô cùng ngạc nhiên khi Quốc Vương Faisal, vốn là một người rất mến phục và ủng hộ Tiến Sĩ Kissinger, đã nói riêng với ông là Quốc Vương muốn dành cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ một ân huệ cá nhân.
Quốc Vương Faisal nói rằng ông rất kính phục lòng can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do cho chính họ. Vua Faisal nói rằng vì cảm tình đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam và một phần cũng vì cảm tình với Ngoại Trưởng Kissinger, nhà vua và chính phủ Ả-Rập Saudi sẵn sàng bảo đảm cho việc viện trợ cho vay một số tài khoản “vĩ đại” (a huge grant-in-aid) cho chính phủ Saigon nhằm bù đắp cho việc viện trợ của Hoa Kỳ bị cắt giảm. Ngoại Trưởng Kissinger ngạc nhiên và vui mừng cho đến độ sững sờ vì đây là một “phép lạ trên sân khấu” (deus ex machina) mà ông hằng mong đợi sẽ xảy ra để giúp cho ông ta thực hiện được chiến lược về ngoại giao của ông tại Đông Dương.
Nhưng bất hạnh thay, đề nghị viện trợ của Ả Rập Saudi cũng trở thành vắn số và phù du như những môn thuốc giải độc khác trước đây nhằm chữa chạy cho cuộc chiến tranh Đông Dương trong gần 30 năm. Chỉ có ba ngày sau khi đưa ra đề nghị này với Kissinger, Quốc Vương Faisal lại bị một người cháu giết chết vì ganh tức và hy vọng viện trợ cho Việt Nam cũng bị chôn vùi cùng với cái chết của Vua Faisal nước Ả Rập Saudi.
Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng trong khi tiếp xúc với Ngoại Trưởng Kissinger mấy tuần trước đó, chính Đại Sứ Martin đã đưa ra ý kiến nên tìm cách vận động yêu cầu xin viện trợ từ nước Ả Rập Saudi. Tuy nhiên sau cùng thì chính Quốc Vương Faisal là người đã xúc tiến dự án đề nghị này. Ngay cả sau khi Quốc Vương Faisal từ trần, Đại Sứ Martin vẫn còn thúc đẩy Ngoại Trưởng Kissinger tiếp tục vận động cho kế hoạch viện trợ này nhưng chẳng có đi đến đâu vì người kế vị còn phải chú trọng đến những vấn đề khác. Frank Snepp: Sách đã dẫn. Trang 216.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Phát Triển trong những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa cũng có cho biết thêm về chuyện này như sau:
“Cuộc viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 năm 1975 đã cho thấy sự thật hiển nhiên là sự viện trợ của Hoa Kỳ đang đỗ vỡ và sau đó lại còn có thêm nhiều diềm xấu tiếp diễn: Những thất bại tại Cao Nguyên, sự thất thủ của các Tỉnh Miền Trung cùng Đà Nẵng và việc Hoa Kỳ cúp viện trợ là những dấu hiệu tồi tệ nhất.
Thêm vào đó lại còn có vụ Quốc Vương Saud al Faisal của nước Ả Rập Saudi bị ám sát ngày 25 tháng 3 năm 1975. Vua Faisal đã bày tỏ cảm tình và niềm ngưỡng phục về công cuộc chiến đấu chống cộng sản của nhân dân Miền Nam Việt Nam và ông đã đề nghị trợ giúp cho Việt Nam. Vào đầu năm 1975, Quốc Vương Faisal đã chấp thuận trên nguyên tắc sẽ cho Việt Nam vay một số ngân khoản “nhiều trăm triệu” Mỹ kim. Số tiền này sẽ được sử dụng nhằm đẩy mạnh nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam và đồng thời cho phép Tổng Thống Thiệu mua nhiên liệu và vũ khí đạn dược của bất cứ quốc gia nào muốn bán cho Việt Nam. Một giải pháp khác được đề nghị cho kế hoạch cho vay này của Quốc Vương Faisal là Ả Rập Saudi sẽ bảo đảm cho việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nghiêng về phía bảo đảm cho vay hơn là vì điều này sẽ loại trừ được những vấn đề khó khăn có thể xảy ra nếu phải mua những vũ khí chiến cụ của Mỹ ở ngoài thị trường Hoa Kỳ. Sự thật là toàn bộ guồng máy những vũ khí trong chiến tranh Việt Nam đều được sản xuất tại Hoa Kỳ (made in USA) do dó mà không thể nào mua sắm vũ khí đạn dược từ một nước ngoại quốc nào khác.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại rằng “Có lẽ dường như là một điều kỳ cục nếu liên kết dầu hỏa của Ả Rập Saudi với sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong nỗ lực tìm kíếm viện trợ về quân sự, tuy nhiên trong những ngày đen tối nhất của tháng 4 năm 1975 thì chẳng có chuyện gì là kỳ cục cả. Khi người ta đang sắp sửa bị chết trôi thì ai cũng đều cố gắng nắm vào cái gì đang nổi trên mặt nước”.
Người Việt Nam tin rằng số phận của họ đã đến chỗ tuyệt cùng: Khi mà kế hoạch của Quốc Vương Faisal sắp sửa được thực hiện thì nhà vua lại bị một người cháu giết chết. Tổng Thống Thiệu đã gửi một bức công điện phân ưu đến Hoàng Gia Ả Rập Saudi và đồng thời khẩn nài chính phủ Ả Rập tiếp tục kế hoạch viện trợ của cố Quốc Vương Faisal. Chính phủ Ả Rập Saudi trả lời rằng họ sẽ cứu xét đề nghị này và Tổng Thống Thiệu đã gửi Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc sang thăm viếng Ả Rập Saudi. Người Việt Nam tự than thở rằng chính số của họ là sẽ bị bỏ rơi.” Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter: Sách đã dẫn, trang 306.
Trong một cuốn sách mới xuất bản vào năm 2005, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nói thêm về việc này và cho đăng nguyên văn bức điện văn của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phúc trình về việc này như sau:
“Vừa vào phòng, ông Thiệu đưa cho tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 năm l975 do Ngoại Trưởng Bắc gửi từ Luân Đôn về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi Luân Đôn. Chuyến đi của ông có mục đích xin Quốc Vương Haled Crown (tiếng Anh là Khalid), vừa kế vị Quốc Vương Faisal, đồng ý cho Việt Nam Cộng Hòa vay tiền như phụ vương của ông đã bị ám sát.
Luân Đôn ngày 14 tháng 3 năm 1975
Công tác tôi đi Saudi Arabia đã được kết thúc thành công. Tôi được tiếp kiến Vua Haled Crown, Hoàng Tử Rabed và Hoàng Tử Abdullab (cũng là Thủ Tướng) Đệ Nhất và Đệ Nhị Phó Thủ Tướng. Tất cả, đặc biệt là Vua Haled đã cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã thảo luận kỹ càng với Hoàng Tử Rudal Faisal (Bộ Trưởng Ngoại Giao,) Hoàng Tử Massoud (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và ông Amant (Tổng Trưởng Dầu Lửa và Tài Chánh).
Về viện trợ sắp tới tôi đã cung cấp cho chính phủ Saudi một bản giác thư trình bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và tình hình tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được chính phủ Saudi cứu xét sớm” [Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Cơ sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, Califoria, 2005, trang 310-311].
Bức điện văn này đề ngày 14 tháng 4 năm l975 và chỉ một tuần sau đó thì Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu từ chức, nửa tháng sau đó thì Miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên vào những ngày tháng 4 năm 1975, việc nước Ả Rập Saudi hứa sẽ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Hòa cũng phải được xem như là một “phép lạ”, dù rằng đó chỉ là một phép lạ trong ảo tưởng mà thôi.
Sau 1975, người viết có cơ hội làm việc tại Jeddha, nước Ả Rập Saudi, trong một thời gian và có nghe nói đến việc nầy. Một vài người Ả Rập của người viết cho biết rằng vào khoảng cuối năm 1974, Việt Nam Cộng Hòa có tham dự một cuộc triển lãm quốc tế tại Thành Phố Hải Cảng Jeddha, lúc bấy giờ là Thủ Đô thương mại và ngoại giao của Vương Quốc Ả Rập Saudi. Trong cuộc triển lãm nầy, Việt Nam đã gởi sang trưng bày những bức tranh cũng như là một sô bàn ghế sơn mài, đa số là của công ty Thành Lễ và những sản phẩm này đã được dân chúng, nhất là giới thương lưu giàu có trong Hoàng Gia nhiệt liệt tán thưởng, nhờ đó mà họ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa. Quốc Vương Faisal là một trong những người đó. Họ cũng xác nhận chuyện Vua Faisal có ý định viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa tuy nhiên vì phía
Việt Nam quá chậm chạp trong việc xúc tiến kế hoạch này cho nên sau khi Nhà Vua bị ám sát thì vị Hoàng Thái Tử (crown prince) là Kbalid ibn Abdulaziz lên nối ngôi không biết gì nhiều về việc này, do đó mà kế hoạch đã không được xúc tiến và bất thành.
Dường như đó cũng là vận nước cho nên Miền Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội có một không hai này. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa cũng gặp nhiều sự không may vì Quốc Vương Khalid (1975-l982) là người có đầu óc bảo thủ, không chú trọng nhiều đến những vấn đề bên ngoài thế giới Ả Rập cho nên ông ta không để ý đến việc Quốc Vương Faisal đã có quyết định trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Quốc Vương Khalid lại chọn Hoàng Tử Fabd ibn Adulaziz làm Hoàng Thái Tử kế vị thì ông này lại là người không những am tường về các vấn đề quốc tế mà lại còn là người chống cộng sản rất tích cực. Sau khi Vua Khalid băng hà vào năm 1982, Hoàng Tử Fadb ibn Abdulaziz trở thành Quốc Vương trị vì nước Ả Rập Saudi từ năm 1982 cho đến đầu tháng 8 năm 2005. Trong thời gian trị vì, Vua Fadh đã viện trợ vô cùng tích cực cho phong trào kháng chiến A- Phú-Hãn chống lại cộng sản Liên Xô trong mấy thập niên và sau cùng thì Liên Xô phải triệt thoái ra khỏi A-Phú-Hãn.
Nếu Quốc Vương Fahd lên ngôi thay cho Quốc Vương Faisal ngay từ năm 1975 thì biết đâu tình hình Việt Nam lại chẳng có thể một vài thay đổi ?
(còn tiếp)
No photo description available.
VNCH 10 Ngày Cuối Cùng (Trần Đông Phong):Bối cảnh trước tháng 4-1975 (P7) TỪ WASHINGTON - QUỐC VƯƠNG FAISAL Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng Hòa
Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau khi những Tỉnh thuộc Vùng I và II lần lượt bị cộng sản Bắc Việt thôn tính, trong khi tình hình ngày càng trở nên nguy kịch và đầy tuyệt vọng thì theo Đại Tướng Cao Văn Viên “với tất cả biến động nguy ngập xảy ra, Miền Nam vẫn còn trông đợi, hy vọng một phép nhiệm mầu nào đó sẽ xảy ra để có thể cứu vãn được tình hình”
Người Miền Nam và nhất là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó dường như ai nấy cũng đều đặt hết hy vọng vào một phép lạ nào đó, vào một sự thay đổi chính sách nào đó hay vào những sự hứa hẹn hoặc cam kết nào đó từ phía Hoa Kỳ từ phía Hoa Thịnh Đốn.
Trước việc Việt Nam Cộng Hòa bị mất 4 Tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum rồi ngay đến Vùng I Chiến Thuật và những Tỉnh ở miền Trung sau đó, Hoa Kỳ không hề có một sự phản đối nào. Ngoại Trưởng Kissinger đang bù đầu về vấn đề Trung Đông, Tổng Thống Gerald Ford họp với Bộ Tham Mưu của ông để nghiên cứu xem Tổng Thống Hoa Kỳ có thể làm được những điều gì có thể giúp cho Việt Nam Cộng Hòa mà không vi phạm Đạo Luật War Powers Act. Tòa Bạch Ốc được Bộ Tham Mưu này phúc trình cho biết rằng Hoa Kỳ không thể làm được bất cứ điều gì để can thiệp tại Việt Nam, không thể dùng phi cơ của Không Lực để can thiệp nhằm yểm trợ và cứu một số Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, trong Đạo Luật War Powers Act lại có những “khe hở” (loopholes) và nhờ đó mà chính phủ Hoa Kỳ có thể được phép thuê mướn một số thương thuyền và phi cơ dân sự để di chuyển Quân Đội và chiến cụ cho Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi những vùng nguy hiểm cũng như là cứu người tỵ nạn ở ngoài hải phận quốc tế mà thôi.
Đối với tình hình Việt Nam vào tháng 3 năm 1975, không phải là Washington không biết gì về tình hình đang nguy ngập, một số tài liệu được giải mật sau này cho thấy ngược lại là đằng khác.
Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở Việt Nam
Hai ngày sau khi cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột, vào ngày 12 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Kissinger đã nhận được một bản phúc trình đặc biệt về Việt Nam do Hội Đồng An Ninh Quốc Gia soạn thảo. Bản phúc trình này mang số 1509 của National Security Council với đề mục “Ominous Developments in Vietnam” (Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở Việt Nam) do ông William L. Stearman ký tên đã phúc trình với Ngoại Trưởng Kissinger một số điểm như sau:
“Một số diễn tiến quân sự và chính trị quan trọng ở Việt Nam gần đây đã cho thấy một điềm rất xấu về chiến lựơc và ý đồ của Bắc Việt trong những tháng sắp tới. Những gia tăng về các hoạt động quân sự của Bắc Việt từ ngày 10 tháng 3 năm 1975 đã chứng tỏ rằng quan điểm nầy là đúng.
Những diễn tiến mới này là:
– Vào tháng 12 năm 1974 Đại hội khoáng đại Kỳ Thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam đã thông qua một bản nghị quyết mang tên là Nghị Quyết số 23. Nghị quyết này có thể là quyết định về một chính sách mới đối với Miền Nam.
– Vào cuối tháng hai và đầu tháng 3 năm 1975, có nhiều phái đoàn cao cấp của Liên Xô và Trung Cộng đã lần lượt đến viếng thăm Hà Nội. Thứ Trưởng Ngoại Giao Liên Xô là Nicolay Firyubin là người cầm đầu phái đoàn Xô Viết. Sự hiện diện của phái đoàn Trung Cộng cùng với phái đoàn Fiyubin tại Hà Nội có thể là hậu quả của một sự thay đổi về chính sách rất quan trọng của Bắc Việt đối với cuộc chiến tranh tại Miền Nam Việt Nam.
Các nguồn tin tình báo viễn thông (communications in telligence) cho biết kể từ ngày 10 tháng 3 năm 1975, dường như Bắc Việt đã cho phối trí một phần lớn lực lượng mà danh tính cũng như là câp số của đơn vị này chúng ta chưa được biết. Đó là chưa kể đến sự xâm nhập của sư đoàn 341 của Bắc Việt từ Quảng Bình ở Bắc Việt tiến qua vùng Phi Quân Sự vào Tỉnh Quảng Trị và Sư Đoàn 968 từ Lào vào vùng Cao Nguyên Trung Phần.
Những đơn vị tiền phương của Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) đã gia tăng các liên lạc vô tuyến và ít nhất là đã liên lạc thường xuyên với 3 sư đoàn cùng một số đơn vị biệt lập trong vùng Tây Ninh-Mỏ Vẹt. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương này có lẽ sẽ trở thành một Bộ Tham Mưu cao cấp trong việc chỉ huy và phối hợp các tấn công trong Vùng III Chiến Thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Sự hiện diện của những dợn vị nói trên là bằng chứng hiển nhiên về dự định tấn công với lực lượng gồm nhiều trung đoàn của cộng sản trong vùng này.
– Mức độ xâm nhập của Bắc Việt trong mùa khô năm nay đã gia tăng gấp đôi so với mức xâm nhập nầy trong mùa khô 1973-1974. Nếu mức xâm nhập nầy được tiếp tục với mức độ như hiện nay thì sự xâm nhập vào năm nay sẽ tương đương với mức độ cao nhất hồi năm 1968. (Năm 1975: 125.900 người, năm 1968: 130.300 người).
– Một chương trình tổng động viên đang được thực hiện tại Bắc Việt và chương trình huấn luyện tân binh được rút ngắn từ 4 đến 6 tháng chỉ còn lại khoảng 1 tháng mà thôi. Chương trình huấn luyện rút ngắn này đã giúp cho quân đội Bắc Việt có thể động viên, huấn luyện và gửi vào Miền Nam chỉ trong vòng 1 tháng. Các tân binh được huấn luyện vào tháng Hai thì đến tháng Ba đã lên đường xâm nhập vào Nam Việt Nam.
– Quân đội cộng sản Bắc Việt tiếp tục chuyên chở một số lượng vô cùng lớn lao về vũ khí và đạn dược vào vùng cán chảo Bắc Việt (Vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) trong số đó có rất nhiều đại bác 130 ly. Những vũ khí này sẽ được gửi đi đâu thì chưa được biết nhưng mà gần như chắc chắn rằng những vũ khí đó đang trên đường được đưa vào Miền Nam.
– Các chiến đấu cơ phản lực MIG đã được di chuyển trở lại về vùng phía Nam của Bắc Việt. Các loại chiến đấu cơ phản lực MIG-17 hiện đang được bố trí tại Phi Trường Đồng Hới và các loại MIG-21 tối tân hơn thì được bổ trí tại Vinh. Các lực lượng phi cơ MIG nầy về bản chất thì chỉ được sử dụng với mục đích tự vệ, tuy nhiên loại MIG-17 thì có thể được dùng để tấn công các lực lượng bộ binh trong khi loại MIG-21 thì có thể được dùng để bảo vệ trên không.
– Các binh sĩ của cộng sản Bắc Việt đã được học tập một cách rất tích cực mà trọng tâm của sự học tập nầy là nhắm vào mục tiêu chuẩn bị tinh thần cho việc chiến đấu trong năm 1975 sẽ vô cùng nguy hiểm. Những khẩu hiệu mà đảng cộng sản đang sử dụng để động viên tinh thần binh sĩ là:
– Tái diễn 1968.
– Tấn công như năm 1972.
– Đạt cho đựợc thắng lợi như là Điện Biên Phủ
Tóm lại, nếu tổng kết tất cả những diễn tiến nói trên thì đó là những dấu hiệu cho thấy cuộc tổng tấn công vào mùa Xuân năm 1975 của cộng sản Bắc việt là cực kỳ nghiêm trọng và có lẽ nhắm vào mục đích làm thay đổi hoàn toàn cán cân lực lượng tại Miền Nam Việt Nam. Nhiều nhà phân tích tình báo cho rằng cuộc tổng tấn công này là những bước mở màn cho những sự thương thuyết nhằm thực thi Hiệp Định Paris theo những điều kiện mà cộng sản Bắc Việt đưa ra.
Có lẽ chiến lược của cộng sản Bắc Việt là chiếm được nhiều lãnh thổ trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân và mùa Hè năm 1975 rồi sẽ đề nghị một cuộc ngưng bắn trước khi mà Việt Nam Cộng Hòa có đủ thì giờ để tái phối trí những lực lượng đã mất. Lúc đó thì sẽ có những áp lực rất mạnh từ phía Quốc Hội Hoa Kỳ đòi phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Việt đưa ra tại vì phía Quốc Hội sẽ xem như đó là một cơ hội nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh và giảm thiểu viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Gần như chắc chắn rằng Miền Nam Việt Nam sẽ không sẵn sàng chấp nhận những đề nghị của Bắc Việt, tuy nhiên Hà Nội sẽ làm áp lực với chúng ta qua Quốc Hội Hoa Kỳ để nhằm ép buộc Tổng Thống Thiệu phải nhượng bộ.
Do đó, rất có thể chúng ta sẽ phải đương đầu với một tình thế mà có rất nhiều áp lực nặng nề đối với ngành Hành Pháp để buộc Tổng Thống Gerald Ford phải chấp nhận những đề nghị của Hà Nội. Có lẽ những đề nghị này sẽ nhắm vào việc thành lập một Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc với nhiều quyền hạn như là một chính phủ và sẽ cho phép cộng sản được hoàn toàn can thiệp vào số dân chúng đang sống trong vùng do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. [National Security Council: Ominous Developments in Vietnam, March 12.1975. Hồ Sơ Tối Mật được giải mật ngày 6 tháng 1 năm 2000. Hồ sơ này đang được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Gerald Ford, Folder-7501-509.]
Như vậy thì từ tháng 3 năm 1975, trước khi cộng sản Bắc Việt khởi động các cuộc tổng tấn công tại miền Cao Nguyên và vùng Bắc Trung Phần, chính phủ của Tổng Thống Ford đã biết rằng tình hình Việt Nam đã trở thành vô vọng vì Hành Pháp Hoa Kỳ đã bị bó tay bởi Đạo Luật War Powers Act và Quốc Hội thì đã dứt khoát không cứu xét đề nghị viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa nữa. Tuy nhiên lúc đó lại có một tia sáng hy vọng mong manh đối với vấn đề trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam phát xuất từ vùng sa mạc Trung Đông.
QUỐC VƯƠNG FAISAL
Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng Hòa
Theo Frank Snepp thì trong những cuộc thương thuyết con thoi giữa các nước Trung Đông nhằm giải quyết hòa bình giữa các nước Ả Rập và Do Thái, vào ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger ghé thăm nước Ả Rập Saudi (Saudi Arabia,) quốc gia sản xuất dầu hỏa hàng đầu của thế giới. Ngày 23 tháng 3 trước khi rời Riyad, Thủ Đô Saudi Arabia, Ngoại Trưởng Kissinger vô cùng ngạc nhiên khi Quốc Vương Faisal, vốn là một người rất mến phục và ủng hộ Tiến Sĩ Kissinger, đã nói riêng với ông là Quốc Vương muốn dành cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ một ân huệ cá nhân.
Quốc Vương Faisal nói rằng ông rất kính phục lòng can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do cho chính họ. Vua Faisal nói rằng vì cảm tình đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam và một phần cũng vì cảm tình với Ngoại Trưởng Kissinger, nhà vua và chính phủ Ả-Rập Saudi sẵn sàng bảo đảm cho việc viện trợ cho vay một số tài khoản “vĩ đại” (a huge grant-in-aid) cho chính phủ Saigon nhằm bù đắp cho việc viện trợ của Hoa Kỳ bị cắt giảm. Ngoại Trưởng Kissinger ngạc nhiên và vui mừng cho đến độ sững sờ vì đây là một “phép lạ trên sân khấu” (deus ex machina) mà ông hằng mong đợi sẽ xảy ra để giúp cho ông ta thực hiện được chiến lược về ngoại giao của ông tại Đông Dương.
Nhưng bất hạnh thay, đề nghị viện trợ của Ả Rập Saudi cũng trở thành vắn số và phù du như những môn thuốc giải độc khác trước đây nhằm chữa chạy cho cuộc chiến tranh Đông Dương trong gần 30 năm. Chỉ có ba ngày sau khi đưa ra đề nghị này với Kissinger, Quốc Vương Faisal lại bị một người cháu giết chết vì ganh tức và hy vọng viện trợ cho Việt Nam cũng bị chôn vùi cùng với cái chết của Vua Faisal nước Ả Rập Saudi.
Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng trong khi tiếp xúc với Ngoại Trưởng Kissinger mấy tuần trước đó, chính Đại Sứ Martin đã đưa ra ý kiến nên tìm cách vận động yêu cầu xin viện trợ từ nước Ả Rập Saudi. Tuy nhiên sau cùng thì chính Quốc Vương Faisal là người đã xúc tiến dự án đề nghị này. Ngay cả sau khi Quốc Vương Faisal từ trần, Đại Sứ Martin vẫn còn thúc đẩy Ngoại Trưởng Kissinger tiếp tục vận động cho kế hoạch viện trợ này nhưng chẳng có đi đến đâu vì người kế vị còn phải chú trọng đến những vấn đề khác. Frank Snepp: Sách đã dẫn. Trang 216.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Phát Triển trong những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa cũng có cho biết thêm về chuyện này như sau:
“Cuộc viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 năm 1975 đã cho thấy sự thật hiển nhiên là sự viện trợ của Hoa Kỳ đang đỗ vỡ và sau đó lại còn có thêm nhiều diềm xấu tiếp diễn: Những thất bại tại Cao Nguyên, sự thất thủ của các Tỉnh Miền Trung cùng Đà Nẵng và việc Hoa Kỳ cúp viện trợ là những dấu hiệu tồi tệ nhất.
Thêm vào đó lại còn có vụ Quốc Vương Saud al Faisal của nước Ả Rập Saudi bị ám sát ngày 25 tháng 3 năm 1975. Vua Faisal đã bày tỏ cảm tình và niềm ngưỡng phục về công cuộc chiến đấu chống cộng sản của nhân dân Miền Nam Việt Nam và ông đã đề nghị trợ giúp cho Việt Nam. Vào đầu năm 1975, Quốc Vương Faisal đã chấp thuận trên nguyên tắc sẽ cho Việt Nam vay một số ngân khoản “nhiều trăm triệu” Mỹ kim. Số tiền này sẽ được sử dụng nhằm đẩy mạnh nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam và đồng thời cho phép Tổng Thống Thiệu mua nhiên liệu và vũ khí đạn dược của bất cứ quốc gia nào muốn bán cho Việt Nam. Một giải pháp khác được đề nghị cho kế hoạch cho vay này của Quốc Vương Faisal là Ả Rập Saudi sẽ bảo đảm cho việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nghiêng về phía bảo đảm cho vay hơn là vì điều này sẽ loại trừ được những vấn đề khó khăn có thể xảy ra nếu phải mua những vũ khí chiến cụ của Mỹ ở ngoài thị trường Hoa Kỳ. Sự thật là toàn bộ guồng máy những vũ khí trong chiến tranh Việt Nam đều được sản xuất tại Hoa Kỳ (made in USA) do dó mà không thể nào mua sắm vũ khí đạn dược từ một nước ngoại quốc nào khác.
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại rằng “Có lẽ dường như là một điều kỳ cục nếu liên kết dầu hỏa của Ả Rập Saudi với sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong nỗ lực tìm kíếm viện trợ về quân sự, tuy nhiên trong những ngày đen tối nhất của tháng 4 năm 1975 thì chẳng có chuyện gì là kỳ cục cả. Khi người ta đang sắp sửa bị chết trôi thì ai cũng đều cố gắng nắm vào cái gì đang nổi trên mặt nước”.
Người Việt Nam tin rằng số phận của họ đã đến chỗ tuyệt cùng: Khi mà kế hoạch của Quốc Vương Faisal sắp sửa được thực hiện thì nhà vua lại bị một người cháu giết chết. Tổng Thống Thiệu đã gửi một bức công điện phân ưu đến Hoàng Gia Ả Rập Saudi và đồng thời khẩn nài chính phủ Ả Rập tiếp tục kế hoạch viện trợ của cố Quốc Vương Faisal. Chính phủ Ả Rập Saudi trả lời rằng họ sẽ cứu xét đề nghị này và Tổng Thống Thiệu đã gửi Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc sang thăm viếng Ả Rập Saudi. Người Việt Nam tự than thở rằng chính số của họ là sẽ bị bỏ rơi.” Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter: Sách đã dẫn, trang 306.
Trong một cuốn sách mới xuất bản vào năm 2005, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nói thêm về việc này và cho đăng nguyên văn bức điện văn của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phúc trình về việc này như sau:
“Vừa vào phòng, ông Thiệu đưa cho tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 năm l975 do Ngoại Trưởng Bắc gửi từ Luân Đôn về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi Luân Đôn. Chuyến đi của ông có mục đích xin Quốc Vương Haled Crown (tiếng Anh là Khalid), vừa kế vị Quốc Vương Faisal, đồng ý cho Việt Nam Cộng Hòa vay tiền như phụ vương của ông đã bị ám sát.
Luân Đôn ngày 14 tháng 3 năm 1975
Công tác tôi đi Saudi Arabia đã được kết thúc thành công. Tôi được tiếp kiến Vua Haled Crown, Hoàng Tử Rabed và Hoàng Tử Abdullab (cũng là Thủ Tướng) Đệ Nhất và Đệ Nhị Phó Thủ Tướng. Tất cả, đặc biệt là Vua Haled đã cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã thảo luận kỹ càng với Hoàng Tử Rudal Faisal (Bộ Trưởng Ngoại Giao,) Hoàng Tử Massoud (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và ông Amant (Tổng Trưởng Dầu Lửa và Tài Chánh).
Về viện trợ sắp tới tôi đã cung cấp cho chính phủ Saudi một bản giác thư trình bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và tình hình tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được chính phủ Saudi cứu xét sớm” [Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Cơ sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, Califoria, 2005, trang 310-311].
Bức điện văn này đề ngày 14 tháng 4 năm l975 và chỉ một tuần sau đó thì Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu từ chức, nửa tháng sau đó thì Miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên vào những ngày tháng 4 năm 1975, việc nước Ả Rập Saudi hứa sẽ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Hòa cũng phải được xem như là một “phép lạ”, dù rằng đó chỉ là một phép lạ trong ảo tưởng mà thôi.
Sau 1975, người viết có cơ hội làm việc tại Jeddha, nước Ả Rập Saudi, trong một thời gian và có nghe nói đến việc nầy. Một vài người Ả Rập của người viết cho biết rằng vào khoảng cuối năm 1974, Việt Nam Cộng Hòa có tham dự một cuộc triển lãm quốc tế tại Thành Phố Hải Cảng Jeddha, lúc bấy giờ là Thủ Đô thương mại và ngoại giao của Vương Quốc Ả Rập Saudi. Trong cuộc triển lãm nầy, Việt Nam đã gởi sang trưng bày những bức tranh cũng như là một sô bàn ghế sơn mài, đa số là của công ty Thành Lễ và những sản phẩm này đã được dân chúng, nhất là giới thương lưu giàu có trong Hoàng Gia nhiệt liệt tán thưởng, nhờ đó mà họ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa. Quốc Vương Faisal là một trong những người đó. Họ cũng xác nhận chuyện Vua Faisal có ý định viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa tuy nhiên vì phía
Việt Nam quá chậm chạp trong việc xúc tiến kế hoạch này cho nên sau khi Nhà Vua bị ám sát thì vị Hoàng Thái Tử (crown prince) là Kbalid ibn Abdulaziz lên nối ngôi không biết gì nhiều về việc này, do đó mà kế hoạch đã không được xúc tiến và bất thành.
Dường như đó cũng là vận nước cho nên Miền Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội có một không hai này. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa cũng gặp nhiều sự không may vì Quốc Vương Khalid (1975-l982) là người có đầu óc bảo thủ, không chú trọng nhiều đến những vấn đề bên ngoài thế giới Ả Rập cho nên ông ta không để ý đến việc Quốc Vương Faisal đã có quyết định trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Quốc Vương Khalid lại chọn Hoàng Tử Fabd ibn Adulaziz làm Hoàng Thái Tử kế vị thì ông này lại là người không những am tường về các vấn đề quốc tế mà lại còn là người chống cộng sản rất tích cực. Sau khi Vua Khalid băng hà vào năm 1982, Hoàng Tử Fadb ibn Abdulaziz trở thành Quốc Vương trị vì nước Ả Rập Saudi từ năm 1982 cho đến đầu tháng 8 năm 2005. Trong thời gian trị vì, Vua Fadh đã viện trợ vô cùng tích cực cho phong trào kháng chiến A- Phú-Hãn chống lại cộng sản Liên Xô trong mấy thập niên và sau cùng thì Liên Xô phải triệt thoái ra khỏi A-Phú-Hãn.
Nếu Quốc Vương Fahd lên ngôi thay cho Quốc Vương Faisal ngay từ năm 1975 thì biết đâu tình hình Việt Nam lại chẳng có thể một vài thay đổi ?
(còn tiếp)
Bảo vệ Cờ Vàng