Showing posts with label sư đoàn 1 không kỵ. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 1 không kỵ. Show all posts

Tuesday, April 15, 2025

BÀI 1. MẺ CÁ LỚN Ở VÙNG LƯỞI CÂU - Lời khai của 6 tù binh CSBV đã cứu mạng hàng ngàn chiến sĩ Việt-Mỹ.

-Theo báo chí, ngày 9/8/1969, khoảng 50 máy bay B-52 ném bom vào một căn cứ địa csbv "dọc biên giới Cam bốt" ở 65 đến 75 dặm cách thủ đô SG. Một đv Mỹ được gửi đến để đánh giá kết quả ném bom, đã đụng độ với khoảng 100 bắc quân, giết chết 64 tên và bắt sống 6 tù binh.

Nhưng lúc đó ko ai nghĩ rằng việc bắt sống 6 tù binh tại khu vực Lưởi Câu này sẽ tiết kiệm rất nhiều xương máu của hàng ngàn quân nhân Việt-Mỹ vì tin tức tình báo thu lượm trong trận đánh này sau đó đã giúp các tướng lãnh Việt Mỹ biết trước rất nhiều về các trận tấn công xảy ra từ 12 đến 19/8/1969 của hai đến ba sđ csbv tại tỉnh Bình Long. Thật vậy, dù có tin tức từ sáu tù binh, tổn thất của quân đồng minh cũng rất cao: chỉ trong 24 g đầu, có 90 lính Mỹ chết và khoảng 500 bị thương. Quân VNCH có 170 chết và 371 bị thương.

Giữa 12/8 và 19/8, gần 4.000 quân CS bị giết -- 1.450 tên trong 24 giờ đầu, và 251 tên bị bắt. Vào cuối tuần thứ ba của tháng 8, kẻ thù đã thua và rút về Cam bốt. Quân csbv chưa bao giờ có thể tiến hành một tấn công qui mô như vậy lần thứ hai khi quân Mỹ còn hiện diện. 

====

Sau đây là phần chuyển ngữ.

"Một trong những khu vực nguy hiểm tại Đông Nam Á trong Chiến tranh Việt Nam là 1 khu vực ở phía đông tỉnh Kampong Chàm của Cam bốt, có tên Lưởi Câu. Khoảng 11 dặm hay 17.7 km tây của Quản Lợi (và bãi đáp Andy nằm trong làng này), nó có tên như vậy vì giống 1 lưởi câu trên bản đồ giữa 2 nước. Từ 1967, Trung ương Cục Miền Nam, viết tắt theo tiếng Anh là COSVN, đầu não của mọi hoạt động quân sự của CS tại miền Nam, đã lập những căn cứ địa và kho tiếp tế phức tạp (elaborate) tại Lưởi Câu để hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của vc và csbv. Cuộc tổng tấn công Tết 1968 đã được chỉ huy từ khu vực này. Vào năm 1969, khoảng từ 40 đến 60 ngàn bộ đội bảo vệ các căn cứ địa này và thực hiện các tấn công kiểu 'hit-and-run' xuyên biên giới.

                 


Trong năm 1969, tôi phục vụ tại trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, viết tắt theo tiếng Anh là ACR, với tư cách là một tiểu đội trưởng trong Trung đội Viễn thám Đường không hay ARP. Đơn vị này có nhiệm vụ phục kích, đột kích, tìm kiếm phi công lâm nạn và các sứ mạng tối mật. Dù thuộc thiết giáp, nhưng phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi giống như một đv xung kích của bộ binh, và phần lớn xuyên biên giới, nghĩa là trên đất Cam bốt. 

Ngày 29/7/1969, một cán binh vc tên Nguyễn Cẩn An, ra hồi chánh với một đơn vị ĐPQ Nam VN tại làng Bình Minh, 3 km tây của thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long.

Ngày 31/7, một toán tình báo của trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ phỏng vấn tên hồi chánh này và đã nghe 1 câu chuyện khó tin (cock-and-bull story). Y kể rằng bị buộc làm dân công cho sđ 9 VC. Phần lớn thông tin của y ko có gì mới. Nhưng y cũng nói sđ 9 vẫn hoạt động phía tây của An Lộc gần Lưởi Câu. Trước đây sđ này đã hoạt động ở đó, nhưng quân Mỹ nghĩ rằng hiện nay chúng ở xa hơn về phía nam trong khu vực "Cánh Thiên Thần" (Angel's Wing) ở biên giới Cam bốt, khoảng 85 km tây nam An Lộc.

Lúc đầu chuyên viên tình báo Mỹ ko tin y, nhưng vài ngày sau, tên hồi chánh này đã nói sự thật: y là một trung đội trưởng của đại đội Đặc công Trinh sát H-21 của trung đoàn 272, thuộc sđ 9 VC. (Dù trên danh nghĩa một sđ VC, nhưng thực tế 90/100 là lính CSBV). 

Y nói sẽ có đánh lớn và nỗ lực chính nhắm vào tỉnh Bình Long. Y nói sđ 9 sẽ gửi trung đoàn 271 và 272 để giúp TĐ D-368 địa phương tấn công các căn cứ QLVNCH và Mỹ trong khu vực An Lộc. Y cũng nói sđ 9 cũng gửi trung đoàn 209 tấn công Quản Lợi, nơi đặt BCH của trung đoàn 11 thiết giáp và lữ đoàn 3 của sđ 1 Không kỵ. (NÓI THÊM: An Lộc là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long, trong khi làng Quản Lợi, ở đông bắc của An Lộc, trước khi quân Mỹ trú đóng vào 1965, là nơi đặt trụ sở và nhà máy chế biến của Đồn điền Cao su Đất đỏ của Pháp. Do vậy có hồ bơi rất lớn, xem hình, trường học, bịnh viện cho nhân viên đồn điền. Tôi đã ra đời ở làng này năm 1947 -- ND). Chúng cũng tấn công quận lỵ Bố Đức hay Bù Đốp, tây bắc của An Lộc, thuộc tỉnh Phước Long. SĐ 1 csbv sẽ chận QL-15 ở gần quận lỵ Chơn Thành, phía nam Quản Lợi. Y cũng nói trung đội y đã điều nghiên các mục tiêu của trung đoàn 272, và cuộc tấn công phối hợp này sẽ diễn ra đầu tháng 8/1969.                          

HAI HỒ BƠI VÀ HAI SÂN TENNIS








Trung đoàn 11 thiết giáp thu lượm thêm tin tức khi các xác VC trong 1 trận đánh nam An Lộc lại thuộc trung đoàn 271. Ngày 1/8, một tù binh csbv bị bắt phía đông Lộc Ninh, đã khai sđ 7 CSBV sắp đánh Quản Lợi. Ngày kế, một hồi chánh viên VC đã khai hai đại đội của sđ 9 VC đang thám sát khu vực tây của An Lộc. Y cũng nói 40 bộ đội của TĐ D-368 đã có mặt ở khu vực này ngày 31/7.

Với thông tin này, ĐT Leach, chỉ huy trung đoàn 11 thiết giáp đã kết luận địch sẽ đánh lớn ở khu vực này. Ông lập tức gửi chuyên viên tình báo tới Phước Vĩnh, nơi đặt BTL của sđ 1 Không kỵ, mà trung đoàn 11 thiết giáp tăng phái. 

Ngày 7/8/1969, tướng Creighton Abrams thăm BTL của 1 Không kỵ và được báo cáo tình hình này. Ông hứa sẽ gửi thêm quân và gia tăng các phi vụ B-52 nhắm vào các đường tiến sát tới các căn cứ này trong tỉnh Bình Long. Ông cũng sẽ gia tăng (ratchet up) các phi vụ bí mật của B-52 ở vùng Lưởi Câu, tây của Quản Lợi. Tuy nhiên quân đồng mình nay cần có thêm tin tức chính xác hơn về kế hoạch, qui mô và ý định của lực lượng CS.

Chỉ 1 thời gian ngắn sau 9 giờ sáng của ngày thứ bảy 9/8, các máy bay trực thăng và thám thính của chi đội B, chi đoàn 1/9 thiết kỵ (1-9th Cav) của sđ 1 không kỵ và trung đoàn 11 thiết giáp, đã bay vào khu vực Lưởi Câu ở khoảng 15 dặm Anh hay 24,14 km tây của Quản Lợi. Chi đội B trên đây đã thấy địch gần Lưởi Câu và giết 24 quân csbv khi bọn này bất ngờ bị máy bay tấn công trong lúc di chuyển giữa đồng trống. Những tên sống sót đã trốn thoát và ko để lại bất cứ thông tin nào về đv của chúng. Trận đánh xảy ra khoảng 10 g sáng.

Khoảng cùng thời gian chi đội B 1/9 gặp địch, một số máy bay Mỹ đang thám sát một khu có tên Căn cứ địa 352, ở điểm xa nhứt về phía nam của Lưởi Câu. Khu vực này đã là mục tiêu của khoảng 50 phi vụ B-52 đêm trước đó. Một phi công Mỹ đã thấy 1 tên VC lang thang trong khu vực vừa bị thả bom, và 1 gunship nhào xuống bắt y. Các gunship cũng thấy nhiều VC khi họ tác xạ vào khu vực này. Kinh nghiệm cho thấy lính VC vẫn còn bị choáng váng (daze) sau khi bị B-52 ném bom. 

Vì ko có chỗ trống để trực thăng UH-1 đáp xuống, quân Mỹ quyết định dùng OH-6A thả xuống 8 người. Trung úy Douglas Rich, chỉ huy trung đội viễn thám đường không, viết tắt là ARP (Aero Rifle Platoon) của trung đoàn 11 thiết giáp chỉ cần 8 người tình nguyện, nhưng cả trung đội 18 người dơ tay. Ông chọn 7 người.

Họ đi trên hai chiếc OH-6A có sự yểm trợ của gunship Cobra AG-1. Khi hướng tới mục tiêu, do bị trục trặc máy móc, một OH-6 tiếp đất quá sớm (land short), nên đã đụng cây và chúi đầu vào một bunker. 

8 lính Mỹ đã nhanh chóng âm thầm xâm nhập vào căn cứ địa này và nhận thấy nhiều VC hình như vẫn còn choáng váng từ trận ném bom của B-52. 

Tiến sâu hơn vào căn cứ địa, họ bắt sống 3 cán binh, chúng khai rằng nhiều đồng chí của chúng đang lẩn trốn. "Chúng tôi nhìn vào 1 bụi tre và thấy 1 đại đội trưởng của chúng và 1 kẻ khác giả chết," chuyên viên bậc 4 John Montgomery nói. Họ đã thấy một lính CSBV ở bunker kế cận, một kho gạo hơn 4 tấn và một số nhỏ đạn dược. Họ đã hạ hai Bắc quân ở kho gạo. Khi rút khỏi kho gạo, họ hướng dẫn Cobra đốt cháy kho gạo.

Đám cháy này đã khiến nhiều lính csbv rời chỗ núp và ít nhứt 34 tên đã chết vì rocket và đạn minigun 7.62 ly của trực thăng Cobra. Máy bay của không quân đang ứng chiến (on station) giết thêm 2 tên. Giờ đây quân Mỹ đã nhận dạng được kẻ thù. Các xác này thuộc trung đoàn 271 của sđ 9 vc và trung đoàn 101-D của sđ 1 csbv. Một tù binh csbv, có tên Văn Nghĩa, cho biết thuộc TĐ 1 trung đoàn 101-D và căn cứ của y đã trúng bom B-52. Y đã ở trong bunker suốt đêm và khi sáng dậy phát hiện chỉ có 5 người trong đv sống sót.

Dưới sự yểm trợ của các Cobra và OH-6, trung đội và các tù binh đã được triệt xuất bằng trực thăng. Nhìn ánh mắt của các tên này khi triệt xuất, tôi đã thấy họ rất hài lòng vì đã rời địa ngục trần gian này.

Ngay khi đáp xuống Quản Lợi, các tù binh này đã được lập tức thẩm vấn vì ảnh hưởng đến sinh mạng hàng ngàn quân nhân Việt Mỹ. Chiều hôm đó, các máy bay Cobra đã thấy nhiều VC di chuyển vào khu vực khác ở 15 dặm tây bắc An Lộc và giết 25 tên. 

Ngày 11/8/1969, các viên chức Mỹ tại SG tiết lộ rằng tài liệu tịch thu hay tin tức do tù binh khai báo đã cho thấy đối phương đang chuẩn bị chiến dịch hè thu. Các căn cứ ở tỉnh Bình Long báo động 100/100. Nhưng khu vực này đã phần lớn yên ổn trừ 1 đụng độ tại CCHL Becky của sđ 1 không kỵ. 

Tin tức do tù binh cung cấp đã chứng tỏ chính xác khi khoảng 1:20 g sáng ngày 12.8, Trung ương Cục Miền Nam hay COSVN đã tung ra hai hay có thể ba sđ vào quân đồng minh tại tỉnh này. Trong một số cuộc giao tranh dữ dội nhấtchúng tôi từng thấy trong nhiều tháng, họ đã tấn công ít nhất 150 thành phố, thị trấn căn cứ.

Dù có tin tức từ sáu tù binh này, tổn thất của quân đồng minh rất cao: chỉ trong 24 g đầu, có 90 lính Mỹ chết và khoảng 500 bị thương. Quân VNCH có 170 chết và 371 bị thương.

Giữa 12/8 và 19/8, gần 4.000 quân CS bị giết -- 1.450 tên trong 24 giờ đầu, và 251 tên bị bắt. Vào cuối tuần thứ ba của tháng 8, kẻ thù đã thua và rút về Cam bốt. Quân csbv chưa bao giờ có thể tiến hành một tấn công qui mô như vậy lần thứ hai khi quân Mỹ còn hiện diện. 

Dịch từ: Big Catch in the Fishhook.

Big Catch in the Fishhook

====

BÀI 2. HÀNH QUÂN KENTUCKY COUGAR NGÀY 12/8/1969 TẠI TỈNH BÌNH LONG.

Từ đầu tháng 8/1969, sđ 1 bộ binh đã xác định rằng kẻ cựu thù (nemesis) của họ, sđ 9 quân đội giải phóng nhân dân, viết tắt theo tiếng Anh là PLAF, đang chuẩn bị một cuộc tấn công mới trong tỉnh Bình Long. Vào lúc này, sđ 9 đã được tái tổ chức như một sđ csbv. Vì sau tổn thất lớn lao trong những trận đánh dữ dội năm 1966 và 1967, và đặc biệt là thất bại thảm hại của sđ trong Tổng Tấn công Tết 1968, phần lớn những chiến binh VC đã chết và được thay thế hoàn toàn từ dân bắc. Những chỉ dấu tình báo cho thấy sđ có thể tấn công khu vực dọc theo QL-13 giữa An Lộc và Quản Lợi từ các căn cứ bên kia biên giới. Khu vực này giờ đây là khu vực trách nhiệm hay AO của lữ đoàn 3 sđ 1 không kỵ, vì sđ này chịu trách nhiệm tỉnh Bình Long.

Trong lúc có sự chuyển dịch khu vực trách nhiệm này, trung đoàn 11 thiết giáp đặt dưới quyền điều động của sđ 1 không kỵ. Để đối phó với sđ 9 csbv nhắm vào An Lộc, thiếu tướng Elvy Roberts, TL của 1 không kỵ, đã phát động hành quân (HQ) Kentucky Cougar với trung đoàn 11 thiết giáp tăng phái. Cuối tháng 7, sđ 1 bộ binh đặt TĐ 1/16, có biệt danh Iron Rangers dưới quyền của trung đoàn 11 thiết giáp để cung cấp khả năng bộ binh cho đv này. Theo lịnh, TĐ này từ Lai Khê tiến về phía bắc dọc QL13 để giúp thiết kỵ chận đường tiến về phía đông của trung đoàn 272 và 273. 

Trong 30 ngày kế, TĐ 1/16 đã đánh 2 trận lớn và nhiều trận nhỏ. Trận đầu tiên xảy ra 5 km tây bắc An Lộc vào 12/8. Trong 5 ngày trước trận này, TĐ 1/16 với đại đội (đ.đ.) chỉ huy và đ.đ. A và C, được dùng để bảo vệ các CCHL trong khu vực giữa an Lộc và Quản Lợi. Vào buổi chiều ngày 11/8, TĐ này, trừ đ.đ. A, tập hợp tại CCHL Allons, khoảng 8 km bắc của An Lộc, như là lực lượng phản ứng nhanh hay RRF của trung đoàn 11 thiết giáp. Vì thấy quân số của TĐ quá ít cho nhiệm vụ này, trưa hôm đó, lữ đoàn 3 của 1 không kỵ, đã tăng phát đ.đ. D của TĐ 5/7 không kỵ để gia tăng hỏa lực và khả năng lục soát của bộ binh. Dù có thêm 1 đ.đ. bộ binh tăng phái, trung tá Kenneth Cassels, vẫn chỉ có hơn 300 tay súng dưới quyền.

Vào sáng ngày 12/8, Cassels được lịnh tập trung binh sĩ ở kế gần CCHL Eagle II để phản công 1 lực lượng cs vừa tấn công CC này vài giờ trước đó.

Di chuyển trong bóng tối, các thành phần của TĐ đã bắt tay ở Eagle II khoảng rạng đông mà ko gặp kháng cự. Cassels quyết định di chuyển dọc con đường mà ông nghĩ VC sẽ dùng để rút lui về phía đông nam. Với đ.đ. A dẫn đầu, đ.đ. C đi kế, và lính của 7 Thiết kỵ đi trên chiến xa của đ.đ. C. 

                           


Khi gặp một chỗ vượt suối khá nông nhưng đáng nghi, đ.đ. A đã thám sát kỹ trước khi vượt suối. Cassels, vì thấy chậm trễ, đã lên tuyến đầu để tìm hiểu. Xe của Cassels chỉ cách chiếc đầu tiên 5 chiếc. Đoàn xe đi thêm khoảng 4 km, những thành phần đi đầu đã bị tấn công bằng B40 và súng tự động lúc 0705 g. Chiếc đi đầu, có trung đội trưởng, bị trúng 1 phát B-40, và vài giây sau, trúng 1 phát 57 ly không giật khiến tài xế chết và xe cháy. Trung đội trưởng văng khỏi xe, nhưng chỉ choáng váng nhẹ. Chỉ trong giây phút, lính của TĐ 1/16 đã đụng với 1 TĐ 600-quân của trung đoàn 272. 

Cassels đã tấn công theo tây bắc-đông nam, với đ.đ. C bên phải, đ.đ. A bên trái, và BCH tiểu đoàn ở giữa. Hỏa lực của đại liên 12.7 ly đã áp đảo, trong khi lính bộ binh của đ.đ. D từ xe nhảy xuống đất để chiến đấu. Lính bộ binh của đ.đ. A và C cũng được triển khai, nhưng đối phương vẫn chống trả mãnh liệt khiến TĐ dừng lại. Cassels gọi phi pháo. Sau khoảng 40 phút, xe của Cassels và của chỉ huy đ.đ. C đều bị trúng đạn khiến họ phải bỏ xe và dùng xe khác. Chẳng bao lâu, đối phương định đánh bọc sườn của TĐ, nhưng quân Mỹ phản công và bắt đầu đẩy địch quân ra đồng trống để trực thăng của TĐ 2/20 không kỵ tấn công chúng. Tới trưa, thêm ba M-113 bị trúng B40 trong khi địch tiếp tục chiến đấu. Trận đánh kéo dài tới 1600 khi lữ đoàn 3 ra lịnh Cassels đoạn chiến. Những lục soát sau đó tìm thấy 29 xác của trung đoàn 272 và nhiều súng và đạn. TĐ 1/6 có 2 chết, 27 bị thương, và 5 xe M113 bị phá hủy.

Dịch từ: Operation Kentucky Cougar 1969.

Battle of Binh Long Province (KENTUCKY COUGAR) 12 August 1969 | 16th Infantry Regiment Association

SJ ngày 17/4/2025.

Tài Trần


Wednesday, February 16, 2022

 

Reproduced from VFW Magazine, March 2006 issue, article by Tim Dyhouse

In November 1967, the 173rd Airborne Brigade and the 4th Infantry Division’s 1st Brigade slugged it out with four NVA regiments in the Central Highlands. The centerpiece of the battle was the 110-hour fight for Hill 875.

Download printable copy of the article

In November 1967, North Vietnamese Army (NVA) units were determined to rid the Central Highlands of American forces. The NVA poured thousands of troops into an area where the borders of Cambodia, Laos and South Vietnam meet.

Specifically, they sought to destroy Special Forces camps at Ben Het, about five miles east of the Cambodian border, and at Dak To, some 10 miles east  of Ben Het. The U.S. camps represented a major roadblock at the southern end of the Ho Chi Minh Trail.

The Americans reacted to the NVA buildup by launching Operation Mac-Arthur, with the 4th Infantry Division assuming operational control over the 173rd Airborne Brigade.

The 4th Infantry Division’s 1st Brigade included the 1st2nd and 3rd battalions of the 8th InfRegt.; 1st and 3rd battalions of the 12th InfRegt.; and the attached 2nd Sqdn., 1st Cav Regt.

The 173rd Airborne Brigade fielded the 1st2nd and 4th battalions of the 503rd InfRegt., and supporting units such as the 335th Aviation Company.

Some 15 Army artillery batteries along with tactical air support provided immense firepower.

1st Cavalry Division units—1st Bn., 12th Cav Regt., and 2nd Bn., 8th Cavalry—also played a part in the campaign.

The 23rd and 26th Mike Force companies (indigenous outfits led by Green Berets) were engaged as well. Also in the mix were six ARVN battalions.

Opposing them at one time or another were the NVA’s 24th32nd66th and 174th regiments, totaling 7,000 men, constituting the NVA 1st Infantry Division.

One paratrooper said of the enemy: “They fight like they’re all John Waynes, three clips and making every bullet count.”



A Merciless Land’ Combat was brutal, close and fought in the unforgiving terrain of the Central Highlands. “It is a merciless land of steep limestone ridges, some of them exceeding 4,000 feet,” wrote Robert Barr Smith in

Vietnam  magazine. “The sharp ridges are covered with double- and sometimes triple-canopy jungle. The draws between the ridges are dreary, tangled places of perpetual twilight. The jungle is laced with vines and thorns, and in it live diverse snakes, a million leeches and about half the mosquitoes in the world.” Another historian called the terrain “probably the wildest in South Vietnam if not all Southeast Asia.”

MEDAL OF HONOR RECIPIENTS (Posthumous)

CONGRESSIONAL MEDAL OF HONOR SOCIETY PHOTOS

Pfc. John Barnes

On Nov. 12, 1967, Pfc. Barnes manned a machine gun after its crew had been killed. He then eliminated nine enemy soldiers who were assaulting his position. While retrieving more ammo, Barnes saw a grenade tossed among a group of severely wounded soldiers. In an instant, he leaped on the device, shielding the blast with his body.

 

Pfc. Carlos Lozada

On Nov. 20, 1967, PfcLozada stayed behind and poured deadly machine-gun fire on an advancing NVA force, allowing his company to safely withdraw. Nearly surrounded, Lozada jumped from his covered position and fired his M-60 from the hip, providing further cover for fellow soldiers when he was mortally wounded.

 

Maj. Charles J. Watters Chaplain

On Nov. 19, 1967, Chaplain Watters repeatedly exposed himself to enemy fire in order to aid fallen men outside the perimeter. Five times troopers tried to hold him back, yet Watters persisted in aiding and carrying the wounded back to safety. He was hit and killed later, still tending to the wounded.

 

The weather, however, during the Nov. 1-23 continuous battles was “excellent,” according to F. Clifton Berry, Jr., in The Illustrated History of Sky Soldiers, The Vietnam War, with dry conditions and daily high and low temperatures between 91 and 55 degrees.

‘Deadly Prelude’  The Battle of Dak To was actually a series of intense clashes culminating in the decisive battle for Hill 875. Leading up to that climactic end, the 173rd Airborne Brigade fought several engagements south of Ben Het. (See the sidebar on page 36 for the 4th ID’s role.)

A recon patrol made the first contact on Nov. 2, briefly skirmishing with NVA, resulting in one U.S. KIA.

Four days later, A, B, C and D companies of the 4th Bn., 503rd Inf., fought the NVA for four hours in the Ngok Kam Leat chain of hills and adjacent Hill 823, losing 16 KIA and 37 WIA.

On Nov. 11, A, C and D companies of the 1st Bn., 503rd Inf., engaged the NVA for eight hours at two separate locations south of Ben Het sustaining 21 KIA and 128 WIA.

On Veterans Day, Task Force Black (170 men of the 1st Bn., 503rd Inf.) was inserted into a landing zone on Hill 823 and wound up losing 20 KIA, 154 WIA and two MIA.

The next day, Pfc. John Barnes of C Company earned a posthumous Medal of Honor when he saved the lives of several wounded men by throwing himself on a grenade. Before this heroic act, according to his citation, Barnes “dashed through the bullet-swept area, manned the machine gun [the team had been killed] and killed nine enemy soldiers as they assaulted his position.”

Following on the heels of TF Black’s ordeal, A and B companies from the 2nd Bn., 503rd Inf., fought for more than four hours near Fire Support Base 16, located about five miles south of Hill 823. B Company counted 21 KIA and 17 WIA after the firefight.

Nov. 18 saw the 1st Bn., 503rd Inf., lose seven KIA on Hill 882, while D Company of the 4th Battalion had six dead to “friendly fire.”

Before Hill 875 was even assaulted, the 173rd had already sustained 79 KIA and 287 WIA.

‘Get up the Goddamn Hill’

By Nov. 19, the NVA’s 174th Regiment, moving south along the Laos/Cambodia border, had covered the retreat of the 66th Regiment. The 174th set up on Hill 875 about 10 miles southwest of Ben Het and less than a mile east of the Cambodian border. The 173rd’s 2nd Bn., 503rd Inf., led the assault.

Companies C and D started up the hill at 9:43 a.m., with A Company providing rear security and attempting to cut out a landing zone at the bottom. C and D companies soon found themselves absorbing small-arms fire and grenade attacks from seemingly every direction.

“Jesus, they were all over the place,” one paratrooper recalled. “The noncoms kept shouting, ‘Get up the hill, get up the goddamn hill.’ But we couldn’t. We were surrounded, and we were firing in all directions.”

Company commanders pulled their troops back and called for more firepower. Artillery from A Bty., 3rd Bn., 319th Artillery Regt., and air strikes started ravaging the hilltop.

Meanwhile, NVA soldiers began a ferocious attack on A Company at the bottom of the hill. Pfc. Carlos Lozada, after receiving orders to retreat back up the hill, provided covering fire, at times walking backward up the hill spraying M-60 machine-gun fire into the brush on either side of the trail. When his weapon jammed, an NVA bullet ripped into his head. Lozada’s actions garnered him a posthumous Medal of Honor.

The surviving paratroopers of A Company hustled up the slope and into a perimeter formed by the beleaguered C and D companies.

“By 3 p.m.,” Terrence Maitland and Peter McInerney wrote in A Contagion of War, “the C Company commander reported they were surrounded by 200 to 300 NVA and under attack by mortars, automatic weapons and B-40 rockets.”

Six helicopters from the 335th Aviation Company attempting to resupply the pinned-down troopers were shot down during the day. U.S. aircraft hit enemy positions as close as 50 meters to the perimeter as GIs dug in for an NVA night attack.

4th Division’s Role Often Overlooked

Far too often, the part played by Ivy Division GIs at Dak To is glossed over. And vets of that proud unit feel the sting.

“[The 173rd] were good soldiers and did their fair share,” said Steve Stark, who was an artillery liaison specialist with 6th Bn., 29th Artillery, 1st Bde., 4th Inf. Div., at Dak To. “But they certainly did no more than the many other ‘non-elites’ did, like 4th Division grunts, the artillery and others.”

In the days leading up to the fight for Hill 875, 4th ID units sought out the enemy south of Dak To. In fact, the first significant contacts were made by its elements on Nov. 3-4 around Hill 1338.

“On Nov. 3, A and B companies made a combat assault from Dak To airstrip to a ridge line just below Hill 1338,” recalled Alex Cooker, then the platoon leader of 3rd Plt., B Co., 3rd Bn., 12th Inf. “We were ambushed by the NVA a short distance from where we landed. Thus began the Battle of Dak To.”

On Nov. 7- 8, A and D companies of the 3rd Bn., 8th Inf., fought NVA units east of Hill 830, losing 21 KIA and 81 WIA in close combat.

The 3rd Battalion on Nov. 10-11 sustained another 18 KIA and 118 WIA on Hill 724 during a five-hour ground and mortar attack.

A and D companies of 1st Bn., 12th Inf. (the “Red Warriors”), participated in the final assault on Hill 875. Harold B. Birch, battalion commander at the time, recalled that “about 14 Red Warriors were wounded in the attack, some by a misdirected American helicopter gunship.”

A soldier of D Company, 1st Battalion, 12th Infantry Regiment, 4th Infantry Division, takes a break from the heavy fighting during the battle for Dak To.

Division doctors at Dak To kept busy, too, often getting by on only three or four hours of sleep a night.

“We treated around 1,200 wounded during the period of the battle,” said William J. Shaffer, who served as the executive officer of B Co., 4th Medical Bn. “One thing that we took a great deal of pride in was that every wounded soldier, many in very, very serious condition, reached the 71st Evac Hospital at Pleiku alive.”

All told, the 1st Brigade lost 86 KIA during Dak To, with the 3rd Bn., 8th Inf., accounting for 46 KIA and 3rd Bn., 12th Inf., sacrificing 24 KIA.

“As far as brutal fighting goes,” 4th ID commander Maj. Gen. William R. Peers told news correspondents, “I would say this is the worst we’ve had.”

That was confirmed by the 1st Brigade’s Presidential Unit Citation for defeating a “numerically superior enemy during 33 days of violent, sustained combat.”

 ‘Slept with Corpses’ Tragically, one air strike hit too close to the paratroopers. At 6:58 p.m., a Marine Corps fighter-bomber mistakenly dropped two 500-pound bombs on the U.S. position.  One hit outside the perimeter, killing 25 NVA troops. The other hit C Company’s command post and aid station. Some 42 Americans (many of them already wounded) were killed and 45 wounded in the war’s worst “friendly fire” incident. “[There were] heaps of dead after that bomb,” a survivor remembered. “You didn’t know where to go, you did not know where to hide. You slept with corpses. I slept with Joe. He was dead, but he kept me warm.”

One soldier who didn’t survive the blast was chaplain Maj. Charles Watters. During the battle, Father Watters had ventured outside the perimeter at least five times, carrying wounded troops back to the aid station. According to survivors, he was on his knees giving last rites to a dying paratrooper when the bombs hit, killing him instantly. Watters received a posthumous Medal of Honor.

The next morning, Nov. 20, 4th Bn., 503rd Inf., set out to relieve the 2nd Battalion paratroopers. NVA snipers made the going slow, but B Company finally reached the perimeter by dusk. Two more companies arrived after dark and provided much-needed food and water to the exhausted troopers.

“Dawn on Tuesday, Nov. 21, revealed a scene on Hill 875 no survivor of that battle could ever forget,” Edward F. Murphy wrote in Dak To: America’s Sky Soldiers in South Vietnam’s Central Highlands. “The enormous amounts of ordnance expended by both forces had turned the once-lush tropical jungle into a scarred and torn landscape.”

Abandoned weapons, helmets, rucksacks, clothing, canteens and empty ration containers littered the battlefield. “The acrid odor of decaying and rotting flesh combined with the smells of vomit, feces, urine, blood, gunpowder and napalm etched itself permanently into the memories of those who were on Hill 875,” Murphy wrote.

‘Every Objective was Taken’  Throughout the day, U.S. airstrikes and artillery continued to pound the top of the hill, as the NVA lobbed mortars at the U.S. perimeter. The 4th Battalion launched an unsuccessful attack at around 3 p.m., and pulled back to defensive positions after dark. The battalion lost 12 KIA.

On Nov. 23, the 4th Battalion from the north slope coordinated a final assault on the hilltop with the 1st Bn., 12th Inf., 4th Inf. Div., charging up the south slope. Neither battalion faced heavy resistance as the NVA had decamped during the night, denying the Americans a chance at some revenge. But the GIs had fulfilled their objective.

“To walk away from Hill 875 would have diminished the importance of their sacrifices,” Murphy concluded. “The paratroopers’ esprit de corps, elitism and personal pride would not permit that.”

Though they were severely bloodied, the paratroopers inflicted even heavier losses on the NVA. So heavy, in fact, that the NVA’s 32nd, 66th and 174th regiments were unable to participate in the 1968 Tet Offensive.

“In a strictly military sense, the Dak To fighting has been a victory for the allied forces,” war correspondent Peter Arnett was forced to admit in an Associated Press report filed after spending 10 days at the scene. “Every objective was taken. The enemy loss in lives was about four times that of the allies.”

Despite reportedly higher enemy body counts, Maj. Gen. William B. Rosson, earlier commander of Task Force Oregon, estimated 1,000 NVA were killed.

For the bravery and sacrifices of its paratroopers around Dak To, the 173rd earned the Presidential Unit Citation.

Lethal Fire: Enemy and “Friendly” According to the after-action report, GIs sustained 242 KIA and 876 WIA in the battles between Nov. 2 and Dec. 1, 1967. But Murphy says that during the actions around Dak To, 376 Americans were killed and 1,441 wounded.

Of the 3,200 paratroopers from the 173rd deployed to Dak To, 27% were either killed (208) or wounded (645). The 173rd’s rifle companies sustained some 90% of the unit’s casualties.

“The rifle companies suffered 51% losses in just one month,” Murphy wrote. “And about 60 of the dead paratroop-ers—29%—were killed by friendly fire.”

The single deadliest day of Dak To was Nov. 19, when 83 Americans were killed and 110 wounded. Tragically, 50% of the deaths were due to “friendly fire.” Enemy fire claimed 41 GIs’ lives that day.

For the medics in the mix, casualties represented far more than statistics. The anguished cries of the wounded are what they remember most.

“There is something gut-wrenching about severely wounded men that I will never forget,” recalled Earle Jackson, a 173rd medic who served on Hill 875. “It is that most become delirious and almost always cry out for their mothers.”

© March 2006 VFW Magazine
www.vfw.org