Một bằng chứng hùng hồn về LTS.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Tuesday, August 9, 2022
Chào Thiếu Tướng Lần Cuối
SANTA ANA, California: Hai sự kiện gây nhiều chú ý trong dư luận đều xảy ra trong một ngày chủ nhật đẹp trời tại Miền Nam California, nơi từ lâu vẫn được đồng hương xem là thủ phủ của người Việt tị nạn tại hải ngoại.
Hơn 8000 người đã vui vẻ, bỏ hết thời giờ cuối tuần để cùng nhau tìm đến nơi họ có thể đóng góp một chút gì đó cho đồng đội, đồng hương, đồng bào kém may mắn còn kẹt lại quê nhà, những người trong suốt 36 năm qua, hàng ngày đã phải gánh chịu biết bao đớn đau, dày xéo, trong tâm hồn và trên thân xác. Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH lần thứ V, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, đã thêm một lần nữa, ghi đậm dấu ấn thành công về sự đóng góp cả tinh thần lẫn vật chất của những người anh em cùng chiến tuyến, qua không gian và thời gian cách biệt, vẫn còn mãi giữ được sự gắn bó chân thành, tương thân, tương ái của tâm tình huynh đệ chi binh qua một thời đau thương nghiệt ngã vì chiến tranh và thời cuộc. Dù hoàn cảnh chia lìa và khó khăn đến đâu, hôm nay và ngày mai, hy vọng tinh thần này sẽ mãi mãi bền lâu. Hãy giữ lấy “Ân Tình Một Thời Còn Đó” cho những người đã hy sinh thân thế cho chúng ta được sống còn ở nơi này.
Cũng cùng một thời gian trong ngày chủ nhật, cách Bolsa 30 dặm về hướng đông bắc, tại nghĩa trang mang cái tên thơ mộng “Vườn Hồng” (Rose Hill) đã diễn ra cuộc chia tay cuối cùng giua 300 khach va bang huu với một người lính chiến của quân lực VNCH, khi tàn cuộc, may mắn không phải gánh chịu những đau đớn thể xác như các anh. Người lính chiến đó, một thời ngang dọc tung hoành, một thời trải qua bao nhiêu thăng trầm, vinh nhục suốt chiều dài của 2 cuộc chiến trước đây, nay đã vĩnh viễn ra đi, chỉ còn lại trên bàn thờ bình Tro Cốt được các bằng hữu lần lượt đến chào kính chia tay. Thân xác ông Nguyễn Cao Kỳ, kể từ nay, không bao giờ còn thấy lại ở bất cứ nơi nào trên địa cầu này. Ông mất đi, trước tiên để lại niềm đau tử biệt cho chính những người thân yêu trong gia đình ông. Ra ngoài, cũng không thiếu kẻ khen, người chê, theo thói đời thường tình. Những lời gièm pha, châm biếm, chỉ trích, phê bình ông thường xuyên xuất hiện, có lúc ồ ạt, trên các trang mạng, báo chí, truyền thanh, truyền hình. Tuy nhiên những đồng tình, khen thưởng, tán tụng, thậm chí biết ơn cũng không ít , cũng xuất hiện song song trên các phương tiện truyền thông nêu trên.
Để phần nào tìm hiểu thêm về nhân vật mang tính thời sự của một giai đoạn lịch sử nhiều biến động lạ thường gần đây của dân tộc, chúng tôi đã cố liên lạc với cựu đại tá Lê Khắc Lý, xin phép được thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn với ông hầu gởi đến độc giả những nhận xét của ông về cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ, cũng là cấp chỉ huy của ông ngày xưa.
Đại tá Lê Khắc Lý, từng giữ nhiều chức vụ chỉ huy cao cấp trong cùng một thời gian với ông Nguyễn Cao Kỳ: Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Ngãi, tư lệnh biệt khu 24, Chỉ huy BĐQ vùng 2, Tham mưu trưởng quân đoàn I, Tham mưu trưởng quân đoàn 2 cho đến ngày rời Việt Nam, 30 tháng 4 năm 1975.
Tướng Kỳ có vẻ nổi hơn ở những chức vụ như: Chỉ huy trưởng Liên phi đoàn 83, Phi đoàn vận tải, Tư lệnh không quân, Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, Phó tổng thống VNCH. Cả 2 vị đều định cư rất sớm tại Hoa Kỳ, đều không bị nếm trải dù một ngày những hành hạ, tủi nhục bởi phe thắng trận như các chiến hữu của họ không may còn kẹt lại. Đại tá Lê Khắc Lý, sau khi qua Mỹ đã có cơ hội đi học lại để sau đó, làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Cao Kỳ bước ngay vào kinh doanh: mở tiệm rượu, mở vựa bán tôm. Đại Tá Lê Khắc Lý không muốn gặp gỡ bất cứ viên chức cộng sản nào. Ông Nguyễn Cao Kỳ thường xuyên gặp gỡ, trao đổi cùng các viên chức công sản lớn bé sau năm 2004. Điểm đặc biệt, ông Nguyễn Cao Kỳ thường xuyên về Việt Nam sau năm 2004 trong khi đại tá Lê Khắc Lý chưa bao giờ trở lại Việt Nam sau ngày di tản.
Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại toàn bộ cuộc trao đổi cùng đại tá Lê Khắc Lý, nhân lần gặp ông tại tang lễ cố hòa thượng Thích Hạnh Đao.
Là một chiến sĩ QLVNCH, đại tá cảm nhận gì khi hay tin cấp chỉ huy mình, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã ra đi?
ĐT Lê Khắc Lý: Sự ra đi của ông Kỳ, một khuôn mặt để lại rất nhiều suy nghĩ trái ngược nhau của người dân Việt Nam cả trong và ngoài nước. Có người ủng hộ ông hết sức nồng nhiệt, nhưng cũng không ít người chống đối, có thể nói là quá khích và mạnh bạo về thái độ chính trị của ông. Trước hết, nói về ông Kỳ, tôi nghĩ “Ông Kỳ đã thất bại về chính trị.” Ông không phải là một chính trị gia. Việc ông bỗng nhiên gắn liền với chính trị trong khúc quanh lịch sử của đất nước, tôi cho là thời cuộc đưa đẩy. Sự nghiệp của ông nhanh chóng lên đến đỉnh cao quyền lực quốc gia đã cho thấy ông không có sự chuẩn bị đầy đủ như các chính trị gia khác. Như chúng ta thấy, tại Hoa Kỳ, các vị lãnh đạo đều được đào tạo ngay từ lúc nhỏ. Các Tổng thống Kennedy, Reagan, Nixon là những điển hình. Phần lớn đều trưởng thành qua các chức vụ dân cử từ thấp đến cao. Tôi muốn nói trường hợp này không riêng cá nhân ông Kỳ, rất nhiều vị đều do thời cuộc đưa đẩy. Cũng vì thế mà cuối cùng, ông đã thất bại.
Là người giữ chức vụ tỉnh trưởng một tỉnh tại miền Trung, đứng đầu tổ chức hành chánh địa phương, theo ông, thời gian ông Kỳ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, chính phủ ông Kỳ có đem lại thành quả đáng kể nào cho quốc gia, dân tộc không?
ĐT Nguyễn Khắc Lý: Đó là một điểm gây ra nhiều mâu thuẫn. Như tôi đã nói lúc đầu, kẻ tán thành luôn nói lên những thành quả, tuy nhiên, phần lớn cũng phản bác, cho rằng không phải như vậy. Với tôi, việc đảm nhiệm chức vụ tỉnh trưởng Quảng Ngãi, ngay sau khi cuộc cách mạng 1963 thành công, là do sự chỉ định của thượng cấp dựa trên điều kiện chính trị tại địa phương, lúc đó cần một vị sĩ quan đứng đầu để làm cho tình hình Quảng Ngãi được ổn định hơn. Khi tôi hết làm tỉnh trưởng và đi du học Hoa Kỳ, lúc đó, ông Kỳ đứng ra làm Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương. Khi tôi trở về, ông Kỳ vẫn còn tại chức. Tôi theo dõi tình hình và biết được chủ trương cùng khẩu hiệu tiêu biểu cho đường lối của chính phủ ông là “Chính phủ người Nghèo,” Ông cho người dân lao động nghèo quyền sở hữu xe Lam và Taxi để làm kế sinh nhai. Nhìn qua, thấy rất là phấn khởi, tạo được niềm tin, thế nhưng đi sâu, chỉ thấy thực hiện riêng ở Saigon không mà thôi, không thấy người Nghèo nào được bênh vực trên bình diện toàn quốc cả. Ông chỉ nói và làm chung quanh Saigon thôi trong khi chức vụ của ông Kỳ thời đó là lo cho cả nước chứ không riêng Saigon . Qua một điểm này thôi, chúng ta thấy ông cũng không có thành tựu nào nổi bật cho vai trò của ông thời đó trên toàn quốc. Phía người chống đối đã nêu ra những việc làm không trung thực từ phía chính phủ. Với chiêu bài “Chính phủ của người Nghèo” nhưng thực tế, chỉ có người giàu hưởng lợi mà thôi. Việc này, thực tế tôi cũng chỉ ghi nhận tại địa phương thôi. Như việc thành lập “Đoàn Thanh Niên Trừ Gian,” thế nhưng phần lớn tin tức đưa ra là chính đoàn thanh niên trừ gian này lại làm nhiều điều “Gian Hùng” hơn ai hết. Có thể ông đã làm nhưng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc không kiểm soát được những hành động không tốt, khiến đưa đến nhiều hình ảnh xấu về chính phủ của ông như người dân đã nhận định và gởi đến cho ông như vậy. Tôi thực sự chưa thấy ông Kỳ làm được điều gì mang lại công lao lớn cho quốc gia và người dân, lúc ông đảm nhiệm chức vụ ngang với thủ tướng của nền đệ nhị Cọng Hòa.
Là một nhà quân sự thuần túy, ông có nhận định nào về thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ xét dưới lăng kính này?
ĐT Lê Khắc Lý: Tôi phải nói thật cùng anh thế này: khi ông hô hào Bắc tiến, thêm vào việc ông thân chinh ra bắc ném bom, tôi thấy con đường ông đi là” Đúng Nhất, Hay Nhất,” phải nói mọi người đều hài lòng và cho rằng ông làm được. Tôi là một trong những sĩ quan hăng hái ủng hộ điều này. Vấn đề chiến lược là như vậy. Thử hỏi nếu ngược lại thời gian, năm 1965, người Mỹ không đổ quân vào miền Nam mà lại đổ quân phía bắc vĩ tuyến 17, liệu anh có nghĩ tôi và anh giờ này ở đây không? Nếu nói bị dư luận thế giới lên án “Xâm Lăng” thì sự đổ quân vào miền Nam có tránh khỏi phê phán này không? Nên tóm lại, tôi cho rằng ý kiến ném bom và bắc tiến của ông Kỳ là chiến lược thích đáng. Dù nó có mang lại nhiều thiệt hại chăng nữa, tình hình ngày nay hẳn đã khác. Chỉ tiếc là ông nói và làm tượng trưng để gây tiếng vang chứ không đi vào thực tế.
Đại tá nghĩ ông Nguyễn Cao Kỳ đã mang lại sự đoàn kết trong quân đội hay ngược lại, chỉ đem đến sự chia rẽ?
ĐT Lê Khắc Lý: Tôi chỉ nói theo ý kiến riêng qua việc thu thập những tin tức bên ngoài, trong giới sĩ quan cao cấp. Tôi thấy rõ ông Kỳ “không đem lại sự đoàn kết trong quân đội.” Tôi không ở trong hàng ngũ tướng lãnh và không phục vụ tại Saigon, dù qua suy luận và tin tức thu lượm đó đây, tôi nhận thấy việc ông Kỳ chủ trương chống đối tổng thống Thiệu gây ra nhiều chia rẽ trong lúc quốc gia cần có sự đoàn kết của những người lãnh đạo (Tôi không thuộc phe nhóm của ông Thiệu, dù có nhiều điều sai trái từ phía ông Thiệu nhưng tôi không thể nói ra vì đó là kỷ luật quân đội) Từ đó, chia ra 2 phía cánh trái và cánh phải dinh Độc Lập. Phía xếp hàng sau lưng ông Thiệu, phía sau lưng ông Kỳ. Tôi thẳng thắn nhìn nhận và bày tỏ là ông Kỳ đã không mang lại sự đoàn kết trong quân đội.
Chuyện Phật Giáo, đại tá có hài lòng về đường lối đối xử với phật giáo của ông Nguyễn Cao Kỳ vào những năm 65 – 66 – 67 không ?
ĐT Lê Khắc Lý: Chỗ này tôi phải mở dấu ngoặc: Phật Giáo lúc đó đi quá trớn. Cá nhân tôi là một phật tử, tôi vẫn nhìn thấy Phật Giáo đi quá trớn. Phật giáo phần nào đã mắc phải lỗi lầm này. Tôi hoàn toàn đồng ý cần có sự chống đối nếu cần thiết ở bất cứ tôn giáo nào. Nhưng kiểu chống đối của Phật giáo hồi đó là kiểu “Quá Khích,” gây xúc động quần chúng và thiếu xây dựng. Tôi tiếc nhiều việc đã xảy ra thời đó. Trở lại câu chuyện ông Kỳ đưa ông Nguyễn Ngọc Loan ra miền Trung gọi là để dẹp những cuộc tranh đấu lúc ấy, như vái lạy rồi khiêng bàn thờ vào, về phương diện kỹ thuật, phải nói là rất hay. Tuy nhiên về thuần túy chính sách, bên trong còn những gì không ai rõ. Nhưng nếu sắp xếp được những gặp gỡ để thảo luận cùng các vị Cao Tăng hầu tránh chia hai phe chính quyền và Phật giáo tiếp tục chống đối nhau thì tôi thấy hay hơn.
Nếu không có tướng Nguyễn Ngọc Loan bên cạnh ông Nguyễn Cao Kỳ, liệu ông Nguyễn Cao Kỳ có tồn tại được vào thời đó không?
ĐT Lê Khắc Lý: Cám ơn anh đã đưa ra câu hỏi này. Tôi nghĩ ông Loan đã giúp củng cố địa vị ông Kỳ rất nhiều. Vì sự kiện không xảy ra nên không có câu trả lời đúng câu hỏi. Tuy nhiên, tôi nghĩ là rất khó.
Sang đến trang sử mới, sau 1975. Là những quân nhân đã cùng chiến đấu trên cùng một chiến tuyến, cho dẫu chung cuộc như thế nào, đứng trước tình thế phải lưu vong, ông và ông Nguyễn Cao Kỳ có đồng hành và gắn bó với nhau trong tâm tình tha hương tị nạn không?
ĐT Lê Khắc Lý: Tôi nhớ lại trước đây, có lần ông Kỳ về nói chuyện cùng đồng hương tại quận Cam . Người bạn thân của tôi là cố đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt cùng đến tham dự. (Đại tá Kiệt cùng khóa với ông Kỳ) Ông Kỳ thao thao bất tuyệt, đãi ngôn rất nhiều. Vẫn chủ trương chống cộng mạnh và tích cực nhưng lại không quên chửi Mỹ. Ông nói một câu tôi nhớ đời: “Qua đây, tại sao lại đổi tên là Bob, Jack, Diane, Và…” Việc này là vong bản, quên cội nguồn này nọ. Chúng tôi hỏi Ông Kỳ có kế hoạch gì mới vào lúc này không? Ông ngang nhiên trả lời “Chúng ta nên chuẩn bị cho kế hoạch ngày về quang phục quê hương.” Qua nhiều lần gặp gỡ ông Kỳ sau này, ông luôn úp mở về một kế hoạch nhằm kích thích người nghe về những biến chuyển to lớn sẽ xảy đến. Nhưng buồn ơi, theo dõi những hoạt động của ông, từ việc mở tiệm rượu tại Huntington Beach , rồi việc mua tôm cá tại New Orleans . Thêm vào chuyện gia đình giữa ông và bà Đặng Tuyết Mai, cơm không lành, canh không ngọt rồi đổ vỡ, đưa tới đoạn cuối là lập gia đình cùng vợ đại tá Ân. Những gì tôi vừa nêu ra, dễ cho tôi đi đến kết luận là những gì ông Kỳ nói hoàn toàn khác hẳn việc ông làm. Chính ông đã không gây được “thành tích xứng đáng tương xứng với danh tiếng của ông trước năm 75.” Tôi tiếc cho ông Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội. Đối với tôi, nên xét ông Kỳ ở hai thái độ: Nếu làm được như cố thủ tướng Sirik Matak của Campuchia trước năm 1975, là từ chối lời mời của đại sứ Mỹ rời khỏi Miên trước khi Khmer Đỏ vào chiếm đóng Nam Vang. Khí tiết đó không có ở ông Kỳ. Thứ hai là sang Mỹ rồi, nên im lặng, sự im lặng còn giữ được lòng kính trọng của đồng hương. Lời tuyên bố của ông tại nhà thờ Tân Sa Châu khó mà quên được. Chính ông đã tự đánh mất danh dự của mình, nên việc đồng hành cùng ông không mấy được ai chấp nhận.
Việc ông Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam năm 2004, theo ông ta là để “giúp tái thiết, xây dựng đất nước.” Đại tá nghĩ gì về sự kiện này và nhìn ông Nguyễn Cao Kỳ ở chiến tuyến nào?
ĐT Lê Khắc Lý: Như tôi đã nói lúc nãy, tốt hơn hết là ông Kỳ nên giữ sự im lặng để giữ được sự kính trọng. Việc ông Kỳ quyết định và làm vào năm 2004 là một sai lầm hết sức trầm trọng. Với những việc làm và lời nói chống cộng của ông trước đây, ai ai cũng xem ông là anh hùng, xứng đáng với thời thế tạo ra cho Việt Nam . Tiếc rằng ông đã đi ngược lại tất cả. Đau đớn thay cho những người đã nằm xuống và những ai đang còn mong đợi một Việt Nam không cộng sản. Tôi nghẹn ngào nói cùng anh điều này, là nỗi đau chung cho mọi người. Tiếng nói của ông đưa ra để “miệt thị” những người quốc gia trước quân thù. Luồn cúi, nịnh bợ những kẻ đang tâm đàn áp dân chúng chúng ta, tôi thưa anh thật từ đáy lòng: Là sĩ quan VNCH, tôi xem đây là niềm đau quá lớn của tôi về ông Kỳ. Như tôi đã bắt đầu nhận xét về ông Kỳ là: “Thất bại chính trị.” Người không có lập trường. Cuối cùng, tôi muốn nói rằng “Ông Kỳ ra đi cho thấy sự không tương xứng với sự nghiệp chính trị quá khứ của ông. Thật lấy làm tiếc cho ông.
Cám ơn đại tá đã dành cho VH cuộc nói chuyện này. Thưa đại tá, ngày mai lễ an vị tro cốt ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ diễn ra tại Rose Hill. Loại bỏ mọi thành kiến chính trị, trong cương vị một quân nhân đồng ngũ, ông có đến chào lần cuối vị tướng lãnh từng là chiến hữu của ông không?
ĐT Lê Khắc Lý: Tôi rất muốn đến chào ông lần cuối. Người quân nhân phải đối xử như vậy nếu điều kiện cho phép. Nhưng lấy làm tiếc, tôi đã có những chương trình dự định trước như dự lễ Vu Lan, dự ĐNH thương phế binh nên không tới chào vĩnh biệt ông ngày mai được. Cho tôi đưa tay chào Thiếu Tướng lần cuối.
Hoàng-Giang
Friday, December 24, 2021
Phước Tuy Và Những Tháng Ngày Cuối Cùng
Khoảng giữa tháng 4 năm 1975 trong cuộc hành quân giải tỏa Long Khánh, chi đội 3 của tôi tăng phái cho chi đoàn 2/22 chiến xa, dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Thiếu tá Hà ngọc Bé, nằm án ngử phía bắc Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số, phía tây Quốc Lộ 20 vài cây số trên đường về Dầu Giây , qua nhiều cuộc đụng độ với Sư Đoàn 341 CSBV trên mặt trận nầy đã gây nhiều tổn thất cho cả hai bên, cho đến chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 ,CĐ 2/22 CX di chuyển về Biên Hòa, qua khỏi rừng cao su bên chợ Trảng Bom vài cây số thì tôi được lịnh ở lại, để chờ đợi đến sáng hôm sau thì chi đội của tôi sẻ trở về chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ , khi chi đoàn di chuyển qua vùng nầy trên đường về dưởng quân ở Biên Hòa. Sau hơn một tuần lể giao tranh với CSBV để yểm trợ cho Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh tham chiến tại ngả ba Dầu Giây, chi đội tôi chỉ còn vỏn vẹn 2 thiết vận xa M113 và 9 kỵ binh, di chuyển khoảng 2 cây số về hướng bắc QL 1 và bố trí phòng thủ đêm tại một mảnh đất trống bên con đường đất đỏ .Trong suốt đêm đó , CSBV chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công về Sài Gòn đã di chuyển nhiều chiến xa, quân xa với đại pháo và lực lượng bộ binh về hướng Biên Hòa, trước vị trí phòng thủ của chi đội tôi không xa lắm, hầu như không ai được ngủ yên trong đêm đó , tiếng động của xe cộ, chiến xa , tiếng người và ánh đèn trong đêm tối càng gia tăng nổi lo lắng trong thâm tâm của mọi người , sau những ngày dài trong chiến trận từ giữa tháng 3 năm 1975 hành quân vùng Gò Dầu Hạ trên đường về Tây Ninh , đầu tháng 4 năm 1975 về Truông Mít , quận Khiêm Hanh cho đến cuộc hành quân giải vây Long Khánh , ai cũng chưa có một ngày nghỉ ngơi hay về phép thăm viếng gia đình .
Trưa ngày 25 tháng 4 tôi được lịnh di chuyển ra QL 1 để tháp tùng CĐ 2/15 TK, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô duy Lượng lên đường về Phước Tuy, sau khi ăn Tết 1975 đây là lần thứ hai tôi trở về chi đoàn sau hơn 2 tháng tăng phái cho CĐ 2/22 CX , Chi đoàn di chuyển đến cuối thành phố Biên Hòa rẻ vào quốc lộ 15, qua căn cứ Long Bình rồi trường Thiết Giáp, Long Thành, nơi tôi đã có một thời gian thụ huấn sỉ quan căn bản Thiết Gíap ở đó vào cuối năm 1973 , chi đoàn đóng quân tại Phú Mỹ một ngôi làng nhỏ trên QL 15 giửa chi khu Long Thành và tỉnh lỵ Phước Tuy chiều hôm đó , trong lúc nầy Lử Đoàn I Nhảy Dù sau trận giải tỏa Long Khánh di tản về Phước Tuy và có nhiệm vụ bảo vệ QL15 từ Long Thành về Bà Rịa , nên TĐ 8 Nhảy Dù đêm đó là đơn vị tùng thiết cho CĐ 2/15 TK , đây là lần đầu tiên tôi đi hành quân với các anh hùng mủ đỏ , mà tôi chỉ từng nghe ca ngợi trong những bản nhạc trên đài phát thanh hay trên màn ảnh truyền hình trong những lần về phố ngồi uống cà phê , từ xa về hướng đông là thị xã Bà Rịa , hướng tây là trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức , đại pháo của CSBV vẩn vang rền trong khi các đại bác 37 ly phòng không của địch, như màng lưới lữa trong bầu trời đen tối đuổi theo các phi cơ Hỏa Long trong phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn còn chiến đấu trong tận cùng tuyệt vọng , tôi vùi đầu trong giấc ngủ , tin tưởng vào các chiến sỉ Nhảy Dù sẻ bảo vệ phòng tuyến đêm nay và hy vọng ngày mai có thêm một ngày bình yên trong lữa đạn .
Ngày 26 tháng 4 tôi được hai ngày phép về Sài Gòn , trong khi chờ đợi Thiếu Úy Huỳnh, chi đội trưởng chi đội 2 mản phép trình diện đơn vị để thay thế tôi trong lúc đi phép , tôi ghé uống cà phê sáng trong ngôi quán nhỏ bên đường , trong lúc một xe M113 của chi đội 2 nằm gần chợ và vài kỵ binh ngồi uống bia kế bên , đến trưa mà Th/Úy Huỳnh vẩn chưa trở lại , tôi ghé vào xe chi đội 2 uống vài chai bia để giết thì giờ trong nôn nả đợi chờ , cho đến 5 giờ rưởi chiều hôm đó Th/Úy Huỳnh mới trở lại đơn vị , tôi suy nghỉ nếu về tới Biên Hòa thì đã tối sẻ không có xe về Sài Gòn được, nên tôi xin phép Đại Úy Lượng cho tôi ở lại đêm nay và sáng sớm ngày mai tôi sẻ đi phép về Sài Gòn , trời vừa sụp tối thì SĐ 304 CSBV bắt đầu tấn công vào trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, SĐ 325 CSBV tấn công chi khu Long Thành , khoảng 8 giờ tối hôm đó trong tiếng đạn đại pháo , đại bác phòng không và các loại vủ khí vang rền khắp mọi nơi của Cộng quân, chi đoàn 2/15 TK và TĐ 8 Nhảy Dù di chuyển trong đêm tối vào thị xã Bà Rịa cùng lúc với SĐ 3 CSBV từ mặt trận Long Khánh kéo về .Chi đội 1 và chi đoàn phó là Trung Úy Ngô Bính nằm đầu phố án ngữ về hướng bắc , chi đội 3 nằm giửa phố với xe số 32 của tôi quay mặt về hướng bắc và xe số 34 nằm sau xe tôi cách 100 thước án ngữ phía nam , chi đội 2, 4 và bộ chỉ huy CĐ 2/15 TK án ngử ở cuối phố về hướng đông .Sau khi sắp xếp phiên gác đêm và kiểm soát chung quanh vị trí của hai thiết vận xa trong chi đội ,tôi đi ngủ sớm để chuẩn bị ngày mai di chuyển lên tuyến đầu đối mặt với quân thù , trong lúc nầy có lẻ đã rời mặt trận Long Khánh di chuyển về Phước Tuy .
Sáng sớm ngày 27 tháng 4 năm 1975 , tôi nhìn thấy tận mắt cảnh hoang tàn của thành phố nầy lần đầu tiên , các đường phố không một bóng người , những cuộc pháo kích của địch vài ngày trước đây đã để lại nhiều đổ nát , không biết người dân ở đây đã di tản về đâu , hay tạm trú trong những căn hầm dả chiến với niềm hy vọng được gìn giữ tài sản của ông cha để lại .Tiếng súng và đạn pháo bắt đầu vang dội phía bắc nơi chi đội 1 án ngử tôi lên máy để biết được CSBV bắt đầu tấn công bằng pháo binh , chiến xa và bộ binh vào tuyến của Thiết giáp và Nhảy dù , tôi cho chi đội lên xe sẳn sàng ứng chiến , lúc nầy quân đội CSBV đã vào trung tâm thành phố và một chiến xa T54 đã chạy vào trên đường phố bên trái tôi chừng 200 thước , nhìn về trước mặt tôi vài trăm thước cộng quân tràn ngập trong các ngôi nhà và đường phố , tôi xử dụng hỏa tiển M72 và khai hỏa đại liên 50 để ngăn chận bước tiến của địch, khi nhận được lịnh mở đường cho chi đoàn trở ra QL 15, tôi vừa lùi xe ra đến ngả tư thì đại bác của địch trên chiến xa T54 khai hỏa cùng lúc với đại bác 90 ly , hỏa tiển M72 của lực lượng Nhảy Dù , may mắn cả hai chiếc M113 không bị hư hại giữa hai làn đạn của bạn và thù . Từ giữa phố ra QL 15 phải qua ngôi chợ nằm bên tay phải ,CSBV bố trí trong chợ với hỏa lực rất mạnh , chi đội đã xử dụng 2 đại liên 50 , 2 đại liên 30 và tất cả vủ khí cá nhân còn sót lại vừa bắn vừa di chuyển qua ổ phục kích nầy , ra đến QL 15 về hướng đông chừng 2 cây số thì chi đội án ngử tại phía tây cầu Cỏ May , chờ đợi chi đoàn di tản qua phía đông bên kia cầu . Chiều hôm đó chi đội 2 tử thủ tại chân cầu , chi đội 3 của tôi cách đó vài trăm thước , sau đó là chi đội 1[ tổn thất khá nặng trong cuộc tấn công của CSBV sáng hôm đó] BCH chi đoàn và chi đội 4 nằm dọc theo QL 15 về hướng đông cầu Cỏ May , sau khi Đ/Úy Ngô duy Lượng ra lịnh cho Công binh chiến đấu phá nổ cầu để ngăn bước tiến của CSBV , ban đêm địch xử dụng đặc công bò qua cầu tấn công , chi đội 2 và binh sỉ của TĐ 8 ND chống cự mảnh liệt , địch xử dụng ghe ,xuồng chuyển quân dọc theo bờ sông qua phòng tuyến của CĐ 2/15 TK và TĐ 8 ND để tấn công từ phía nam và bắc QL 15, sau vài giờ tấn công khi tiếng súng vừa ngưng , một số binh sỉ của Thiết Giáp và Nhảy Dù bị thương nhưng không được di tản.
Sáng ngày 28 tháng 4 , địch quân tiếp tục pháo kích vào vị trí phòng thủ của chi đoàn và tìm cách vượt qua cầu Cỏ May, chi đội 2 và các binh sỉ Nhảy Dù vẩn còn chống trả với địch ở chân cầu Cỏ May, đại pháo của CSBV càng lúc càng gia tăng và càng đến gần, một trái đại bác 130 ly nổ bên cạnh xe tôi lúc di chuyển qua một vị trí khác đã làm thương vong vài binh sỉ Nhảy Dù và 2 xạ thủ đại liên trong xe tôi , tôi liên lạc xin di tản thương binh nhưng được lịnh chờ đợi trực thăng tải thương từ Lử Đoàn III Kỵ Binh đồn trú tại Biên Hòa , Suốt ngày nầy trên không trung các trực thăng CH-47 Chinook tiếp tục bay về hướng biển đông , tôi hy vọng có lần nào đó họ sẻ xuống đây để bốc đơn vị mình về Biên Hòa , tôi mơ ước ngày phép về Sài Gòn , nhớ ngày lang thang trên đường Nguyển Du đợi chị Thể ,chị Hội ,chị Loan Anh giờ tan sở ở Bộ Phát Triển Sắc Tộc, ngồi uống ly cà phê ngọt ngào đếm lá me bay , giờ đây đếm từng chiếc trực thăng bay qua ngang đầu , không hề hay biết đây là lần di tản sau cùng của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam . Chiều hôm đó chiến trường lắng dịu, không có tiếng súng thù, không đạn pháo rơi nên cái im lặng của trận địa làm mọi người ngộp thở, có lẻ CSBV chờ đợi cuộc tấn công trong đêm nay. Khoảng 10 giờ đêm thì tôi được lịnh xử dụng một thiết vận xa di chuyển về phía đông QL 15 trên đường về Vủng Tàu ,để thăm dò con đường có đủ an toàn khi đơn vị di tản ,tôi một mình trong đêm đi được vài cây số thì nhìn thấy QL 15 bị phong tỏa bằng các cuộn kẻm gai , tôi mở đèn pha và lội bộ trước đầu xe để xem tình hình , trong ánh sáng của đèn xe tôi thấy một người lính Thủy Quân Lục Chiến gở một đoạn kẻm gai để đến gần tôi , anh cho tôi biết là trên đường quốc lộ đã được gài mìn chống chiến xa và vị trí phòng thủ của đơn vị TQLC bao bọc 2 bên bằng kẻm gai và mìn Claymore để tử thủ đến cùng, tôi báo cáo về chi đoàn biết tin và nhận lịnh nằm tại chổ chờ đến sáng hôm sau , suốt đêm tôi lo lắng, bâng khuâng không biết ngày mai sẻ ra sao , sau lưng tôi cả chi đoàn nằm trong vòng hiểm nguy của hàng ngàn quân thù với xe tăng và đại pháo, trước mặt tôi là hàng rào phòng thủ của người lính mủ xanh, những người hùng của mùa hè đỏ lửa 1972 ngày tôi mới vào lính , ôm súng trên phòng tuyến đợi quân thù ,nhìn về hướng tây trong ánh lữa bập bùng của hỏa châu và những cuộn khói lững thững trôi ở cuối chân trời , tôi biết chiến trận vẩn còn trong cao độ giửa các cánh quân còn lại của quân lực VNCH và CSBV , dựa lưng vào pháo tháp để tìm giấc ngủ vội vàng tôi chờ đợi ngày mai, như chờ đợi và chấp nhận số phận nào đã đưa tôi vào con đường chinh chiến hiểm nguy mà không còn lối thoát .
Trưa ngày 29 tháng 4 , chi đoàn di chuyển về hướng đông QL 15 , sau cuộc tiếp xúc của chi đoàn trưởng Đ/Úy Ngô duy Lượng và cấp chỉ huy của đơn vị TQLC , họ đã tháo gở mìn và chướng ngại vật trên đường quốc lộ cho đơn vị Thiết giáp và Nhảy dù vào Vũng Tàu , để lại sau lưng SĐ 3 CSBV trên đường truy đuổi, sau khi tu bổ cầu Cỏ May và đưa bộ binh vào xâm chiếm Vũng Tàu .Chi đội 2 đi trước, chi đội 1, kế đến BCH , chi đội 4 và chi đội 3 của tôi đi sau cùng , khi vào đến phố Vũng Tàu thì lực lượng đặc công và bộ binh của CSBV đã nằm phục kích , mở cuộc tấn công sau khi 2 thiết vận xa của chi đoàn di chuyển qua khỏi đầu phố , thiết vận xa sửa chửa của CĐ bị bắn cháy và cả đơn vị bị kẹt trên đường phố nhỏ hẹp không xoay trở được , tôi nhận lịnh mang 2 xe còn lại của chi đội 3 mở đường tấn công vào ổ phục kích của địch , khi di chuyển qua phần còn lại của chi đoàn ở đầu phố thì tôi thấy xe 06 nằm giửa đường vẩn còn bốc cháy , sau xe xác chết của Hạ sỉ Có , người lính kỵ binh thân quen của tôi ngày mới về đơn vị và xác 2 đồng đội khác nằm bên nhau , trên con đường chỉ còn máu lửa và nước mắt , tôi đi trước theo sau là xe số 34 , khai hỏa tất cả vủ khí còn đủ đạn dược , từ đại liên 50 ly, 30 ly , súng phóng lựu M79 , súng cá nhân M16 và Colt 45 , vừa di chuyển vừa bắn hai bên đường , cả đơn vị di chuyển trong tiếng đạn mịt mù qua khoảng 2 cây số mới đến Bến Đá , CSBV tiếp tục pháo kích trên đường di tản của Thiết giáp và Nhảy dù bằng đại pháo trên đường ra biển , tôi nhận lịnh rời xe và phá hủy các thiết vận xa trước khi ra bờ biển , tuy nhiên trong lúc gom góp đồ đạc vào ba lô và trong cơn mưa pháo kinh hồn, tôi lội bộ ra bờ biển tìm kiếm đồng đội mà không có cơ hội làm được điều đó, một số kỵ binh và binh sỉ nhảy dù đã bị thương và chết trên chặng đường nầy , tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm với một vài kỵ binh, tuy nhiên sau vài lần tìm cách nổ máy mà vẩn không thành công , nhìn ra trước mặt tôi thấy một chiếc xuồng khác chạy qua với một số đồng đội gọi tôi , tôi quay lại dặn dò Cần nhớ tìm tôi khi về Sài Gòn rồi tôi nhảy xuống biển để bơi ra khi chiếc xuồng nầy quay lại để kéo tôi lên , khi trời vừa sập tối tất cả kỵ binh còn lại của chi đoàn dời qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn , con tàu trực chỉ về tỉnh Gò Công trong đêm tối , mổi người riêng một ý tưởng , không ai nói chuyện gì với nhau , ai cũng có những nổi buồn canh cánh bên lòng và âu lo của những ngày sắp đến .
Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 , những kỵ binh còn sống sót sau trận chiến ở thị xã Bà Rịa của chi đoàn 2/15 TK ngồi trên chiếc tàu đánh cá đợi chờ tin tức từ trong đất liền , cho đến khi nghe tin T.T Dương văn Minh yêu cầu các binh sỉ bỏ súng và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện , Đ/Úy Lượng họp mặt tất cả kỵ binh để thăm dò ý kiến và cho phép mọi người được lựa chọn một trong hai con đường còn lại , một là đi về vùng IV chiến thuật hay ra đảo Phú Quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống cộng , hai là trở về để đầu hàng cộng sản và đoàn tụ với gia đình , khoảng 6 hay 8 người tôi không nhớ rỏ đã tình nguyện trở về với gia đình , đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi tiển đưa nhau , họ có an toàn trở lại với gia đình không ai biết , cũng như số phận của 36 người kỵ binh còn lại những tháng ngày sắp tới không biết về nơi đâu , Đ/Úy Lượng cho phép vài người vào bờ để mua sắm lương thực và chuẩn bị cho một cuộc hành trình về trên vùng vô định , tôi tình nguyện ở lại không biết có phải vì TỔ QUỐC , DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM hay không , tổ quốc tôi với hơn 20 năm trưởng thành và 3 năm dài chiến đấu đã không còn , danh dự và trách nhiệm của một sỉ quan đã làm tôi ray rức nhiều hơn hết , có lẻ đó là động lực duy nhất thúc đẩy tôi vào quyết định chiến đấu đến cùng , hay kinh nghiệm của những ngày ấu thơ ở Đại Lộc ,Quãng Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên trong vùng cộng sản chiếm đóng , chứng kiến sự tàn ác của chế độ cộng sản và cuộc đời chinh chiến đã để cho tôi nhìn thấy những đổ vở trên quê hương, do kẻ thù từ phương Bắc gây ra , nên tôi quyết định ra đi . Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 con tàu lên đường ra khơi , mang theo những kỵ binh còn sống sót trong trận chiến sau cùng của chi đoàn 2 số đỏ [ biệt danh cho CĐ 2/15 TK ], một thời oanh liệt trên chiến trường Tây Ninh , Hậu Nghỉa, Bình Dương , Biên Hòa và Long Khánh của vùng III chiến thuật , những con đường in vết xích qua chiến trường Kampuchia năm 1971 và 1974, nay chỉ còn là dấu chân của một thời trong dỉ vãng , con tàu trực chỉ về hướng đông , trước mặt chỉ có màu biển xanh và bầu trời rộng mở , sau lưng là hướng tây , đỏ rực màu nắng của bóng chiều lên khi mặt trời vừa xuống , đó cũng là hình ảnh sau cùng để tôi nhìn lại quê hương Việt Nam thân yêu, gia đình tôi không còn liên lạc từ ngày mất Đà Nẵng chắc không biết những gì xảy đến với tôi , tôi ra đi về một chốn lạ xa mà không biết có ngày trở lại , tương lai tôi như bóng tối đại dương mà con tàu đang dấn bước , trong bóng đêm mịt mùng chỉ còn nghe tiếng sóng vổ và từ phía chân trời xa có ánh đèn lấp lánh trong màn đêm , những ánh đèn trên chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ , cũng là ngọn hải đăng cho con tàu lưu lạc trong cơn bảo tố của quê hương , soi đường cho cuộc hành trình của 36 kỵ binh chi đoàn 2/15 TK về trên vùng đất mới .
Thiên Chương chi đoàn 2/15 TK mùa xuân 2009