NGUYÊN = 7
CÔNG = 3753 = 18 = 9
VƯỢNG = 66753 = 27 = 9
vượng
râu = 216 = 9
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
NGUYÊN = 7
CÔNG = 3753 = 18 = 9
VƯỢNG = 66753 = 27 = 9
vượng
râu = 216 = 9
ĐỒNG ĐỘI....ĐÃ ĐI XA - Nguyễn Ngọc Chính.
Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025
Lời nói đầu: Đối với phần lớn chúng ta, ông Chính là một người ít ai biết tới, trừ những ai từng dạy hay từng học ở Trường Sinh ngữ Quân đội VNCH. Ông cũng dạy Anh văn cho ca sĩ Phương hồng Quế trước khi cô này đi Mỹ vì ông này là bạn tù với BS Phạm kỳ Nam, chồng của PHQ. Phần lớn các GS của trường này ở lại VN do họ đi tù dưới 3 năm -- trừ 1 số rất ít vượt biên. Khoảng TN 1980, người ta tranh nhau học Anh văn nên các GS này rất có giá, vì vậy họ ko thích vượt biên với nhiều nguy hiểm -- Tài Trần.
=====
Cuộc
chia xa nào cũng để lại nhiều hoài niệm cho người ở lại! Nhất là cuộc chia xa
đó lại là “vĩnh biệt” đối với người còn ở lại trên thế gian này, vĩnh viễn sẽ
không bao giờ còn thấy nhau…
Anh
Tôn Thất Lan, một đồng đội ngày nào cùng khoác áo lính, ngày hai buổi đến
Trường Sinh ngữ Quân đội với vai trò giảng viên Anh ngữ… nay đã không còn nữa.
Anh vừa ra đi ngày 15/5/2025, giã từ Sài Gòn nơi còn lưu giữ thật nhiều kỷ
niệm.
Cáo
phó của Gia đình
Tôi
có 3 bài viết về anh:
(1)
“… vẫn chưa già…” https://chinhhoiuc.blogspot.com/2020/08/van-chua-gia.html
(2)
Viết tiếp chuyện… “vẫn chưa già” https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../viet-tiep-chuyen-van...
(3)
“Tinh thần Don Quixote” https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../tinh-than-don-quixote...
Đáng
tiếc một điều là anh không chơi Facebook nên anh chỉ đọc trên điện thoại của
tôi, còn cái Nokia của anh thì “cùi bắp” nên không thể chuyển bài viết sang
được. Anh tình thật bảo tôi hôm nào in ra giấy cho anh để giữ làm kỷ niệm.
Ba
bài viết cộng với hình ảnh đi kèm dài 15 trang giấy A4, tôi đem ra tiệm đóng
sách có thêm bìa plastic để làm quà tặng anh. Thế là tập bài viết của tôi, anh
về nhà vẽ thêm chân dung của tác giả dán kèm, anh gọi đó là “fancy portrait”!
Thật tình anh vẽ không giống lắm nhưng đó là cái tình của anh đối với đồng ngũ
ngày nào.
Bản
in các bài viết về Tôn Thát Lan
Anh
lại còn tặng tôi một đĩa VCD mang tựa đề “Man of la Mancha”, vở nhạc kịch về
Don Quixote, với phần lời của Dale Wasserman và phần nhạc do anh sáng tác. Vở
nhạc kịch này đã được các giáo sư và sinh viên trường Đại học TP. HCM diễn một
lần duy nhất nhân ngày Nhà giáo 21/11/1987 tại HCMC University Auditorium.
Đêm
diễn "Man of la Mancha" tại HCMC University Auditorium
Tất
cả đều là những món quà quý giá mà tiền không thể mua được. Phải chăng khi về
già người ta thường làm những chuyện mà lúc trẻ không bao giờ nghĩ tới vì còn
bận lo cơm-áo-gạo-tiền?
“Về
già vẫn có niềm vui
Một
đời cay đắng, ngọt bùi… cứ vui!”
Nhạc
sĩ Tôn Thất Lan trong vai Thợ Cạo trong vở nhạc kịch "Man of the
Mancha"
Anh
Lan là thành viên cùa một nhóm “du ca” trong màu áo lính. “Du ca” thường “có
mùi phản chiến”, ngược lại với màu áo “treilli” xanh lá cây rừng! Nhưng cũng
nhờ "du ca” mà nhạc sĩ Tôn Thất Lan có cơ hội giũ bỏ quần áo lính để biệt
phái về làm giáo chức!
Cuộc
đời anh Lan không chỉ là giảng viên tại trường Sinh ngữ mà còn là Thầy của rất
nhiều học trò rải rác từ trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Anh
không chỉ là giảng viên mà còn là một nhạc sĩ trữ tình phổ nhạc từ các nhà thơ
nổi tiếng từ thời tiền chiến.
Anh
kể con đường trở về “dân sự” của anh cũng “trầy da tróc vẩy” vì Chỉ huy trưởng
trường không đồng ý cho đi. Thế là Tôn Thất Lan lại phải tìm “đường tắt” thông
qua “du ca”, cụ thể là nhờ nhạc sĩ Phạm Duy! Thế mới biết, sức mạnh của nhạc
sĩ: chỉ vài lời của PD cũng đủ để anh… giã từ vũ khí.
Trong
tuyển tập những ca khúc anh phổ từ những bài thơ, cứ mỗi bài hát lại có chân
dung của tác giả do chính anh tự vẽ. Trong số đó có chân dung Hàn Mặc Tử,
Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Bích Khê, Vũ Đình Liên, Chế Lan Viên,
Quang Dũng, Huy Cận, Phùng Quán, Thâm Tâm…
Những
tập ca khúc phổ từ thơ tiền chiến của Tôn Thất Lan
Có
một tập phổ nhạc với tựa đề tiếng Anh “Life must go on” với những câu thơ do
anh sáng tác:
“No
origin are we to know
But
step by step permeated with deep grief
And
then tomorrow where to go
Just
only feel the lodge unevenly brief”.
Tác
giả tự dịch sang tiếng Việt:
"Xưa
ta đâu biết ngọn nguồn
Giờ
thì lại thấm giọt buồn tình sâu
Mai
rồi chẳng biết về đâu
Chỉ
nghe chấp chới mái lầu chênh vênh”
Bên
những tác phẩm
Cuối
cùng, nhưng cũng không kém phần quan trọng, là một tuyển tập gồm 12 truyện ngắn
của Tôn Thất Lan. Truyện ngắn “Người, Xa lạ” là một kịch bản 2 màn, nhân vật
gồm Người kể chuyện, Người chồng, Người vợ và Hắn (người máy giúp việc trong
gia đình). Theo lời Người kể chuyện thì:
“Con
người say sưa sung sướng tận hưởng những tiện nghi từ máy móc mà họ sử dụng,
sai khiến những đầy tớ rất đỗi trung thành mà không hề ý thức rằng (có lẽ vì họ
đã mất dần ý thức và suy tư) chính họ - Con người - lại dần dần biến thành nô
lệ của những máy móc, tiện nghi mà họ sử dụng, sai khiến: Chính họ đã bị máy
móc hóa, mất dần nhân tính và có thể tự thấy xa lạ với chính mình”.
Kịch
có nét bàng bạc khiến ta liên tưởng đến “1984” mà George Orwell viết từ năm
1948 để vẽ ra một thế giới chính trị vào năm 1984. Kịch của Tôn Thất Lan viết
năm 2008 nhưng lại đề cập đến một xã hội của năm 2085. Hai tác phẩm nói chung
đều thuộc loại giả tưởng khiến người đọc không thể nào không khỏi suy nghĩ!
Giới
thiệu tác phẩm
Mãi
đến tháng 8/2020 chúng tôi mới tái ngộ tại Sài Gòn. Tôi rủ Lan uống cà phê
nhưng anh chỉ xin một ly trà chứ cà phê anh uống ở nhà rồi. Anh nói bây giờ thì
anh đã nghỉ dậy học nhưng hàng tuần vẫn gặp mặt nhóm “du ca”.
Có
điều mấy tháng nay vì tình hình bệnh dịch Covid nên phải ở nhà. Hỏi anh làm gì
vào lúc này, anh bảo… “ngồi chơi, xơi nước” nhưng lại nói thêm “ngồi nhìn đời
trôi đi trước mắt nhưng không buồn mà cũng chẳng vui”!
Anh
lại còn chế ra một câu xưa như trái đất: “Đời, c’est la vie; Tình, c’est
l’amour; Tiền, c’est l’argent… và đến lúc này thì chờ đoạn kết… c’est la
mort!”. Giọng anh không bi quan chút nào mà trái lại, rất vui vì được dịp… “thổ
lộ tâm can”.
Tôn
Thất Lan trong buổi họp mặt Tất niên năm 2015 của các cựu Giảng viên Trường
SNQĐ
Nói
chuyện với anh, tôi bỗng khám phá nhiều điều mới lạ. Nhìn anh, một ông già 80,
với dáng người lọm khọm, đi đứng từ tốn nhưng đằng sau hình hài đó ẩn chứa một
sức mạnh mà những người trẻ hơn chưa chắc gì đã có được!
Tôi
ít tuổi hơn anh nhưng vẫn thường “tự nhận” là mình già. Nhưng từ chính câu nói
của một “ông già thứ thiệt” khiến tôi phải nghĩ lại. Anh nói: “Già về tuổi tác
nhưng vẫn chưa già trong tâm hồn, đó mới là triết lý ở đời!”.
Một
buổi sáng bình thường đi siêu thị!
Mấy
ai có được suy nghĩ đó? Phải chăng những tâm hồn nghệ sĩ trẻ mãi không già? Giờ
này thì anh đã xa, rất xa đến độ phải chờ đến ngày tôi bắt kịp “chuyến tàu
suốt” mà anh đã đi trước đó!
Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một trong những nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng nhất giai đoạn trước 1975. Một số bút hiệu khác của ông là Anh Chương (tên con trai ông), Trần Thiện Thanh Toàn (em trai ông, đã tử trận), Thanh Trân Trần Thị (tên người con gái thứ nhì).[1] Ông còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường và được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng hay còn gọi là "tứ trụ nhạc vàng".[2]
TRẦN = 4215 = 12= 3
THIỆN = 45155 = 20 = 2
THANH = 45155 = 2
NHẬT = 5514 = 15 = 6
TRƯỜNG = 426753 = 27 = 9
NGUYỄN = 7
THỊ = 1
MINH = 4155 = 15 = 6
HIẾU = 5156 = 17 = 8
Cộng lại: 7 1 6 8 = 22
Việt Dzũng (8 tháng 9 năm 1958 – 20 tháng 12 năm 2013), có tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Hùng Dũng và tên thánh Gioakim, là một người dẫn chương trình, nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt nổi tiếng với dòng nhạc Việt Nam hải ngoại hoạt động tại Hoa Kỳ.
NGUYỄN = 7
NGỌC = 5373 = 18 = 9
HÙNG = 5653 = 19 = 10 = 1
DŨNG = 4653 = 18 = 9
Nguyễn Hồng Nhung (sinh ngày 6 tháng 7 năm 1981) [1] là một ca sĩ người Mỹ gốc Việt hoạt động tại hải ngoại.
NGUYỄN = 536155 = 25 = 7
HỒNG = 5753 = 20 = 2
NHUNG = 55653 = 24 = 6
Cộng lại: 7 2 6 = 15.
Sau đây là ý nghĩa của số này.
PHÁP SƯ (THE MAGICIAN)
15 là số có ý nghĩa huyền bí (esoteric) sâu xa, của sự rung động của thuật giả kim (alchemy) qua đó tất cả ma thuật được bày tỏ (all magic is manifested). Số này cực kỳ may mắn và mang theo nó đặc tính làm say mê kẻ khác (essence of enchantment). 15 đi đôi với tài hùng biện, sự khéo ăn khéo nói, và những tài năng về âm nhạc, nghệ thuật, và kịch nghệ. Số này ban cho (bestows upon) người mang số này một tính khí bất ngờ/đầy kịch tính (dramatic temperament) và sự hấp dẫn/thu hút (charisma) cá nhân mạnh mẽ và kỳ lạ. Số 15 đặc biệt may mắn vì nhận được tiền, quà tặng, những giúp đỡ từ những kẻ khác, vì số này có sự thu hút mạnh mẽ đối với tính vị tha của người khác. Tuy nhiên, không hoa hồng nào lại không có gai, và người xưa cảnh báo rằng số 15 sẽ điều khiển những mức thấp của khoa huyền bí học (lower level of occultism) khi nó liên kết với số 4 hoặc 8. Những người như thế sẽ có thể dùng ma thuật (black magic), thôi miên, và sự dẫn dụ về tinh thần – để thực hiện mục tiêu của họ. Do đó, nếu 15 là ngày sanh, và tên cộng là 4, 13, 22, hoặc 31, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng một số có thể thu nhỏ bằng 1, như số 10 hoặc 19. Nếu ngày sanh là 15, và tên bằng 8, 17, hoặc 26, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn lại sanh ngày 4, 13, 22, và 31, bạn nên đổi tên thành 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn sanh ngày 8, 17, hoặc 26, bạn nên đổi tên bằng 6 hay 24.
Ngoài sự cảnh báo trên, số 15 rất may mắn. Nếu bạn sanh ngày 15, và tên cũng bằng 15, bạn được ban cho khả năng mang hạnh phúc đến kẻ khác và đưa ánh sáng vào nơi tối tăm, với điều kiện là bạn không dùng tác động kỳ diệu và may mắn này cho các mục đích vị kỷ./.
Dịch từ quyển Linda Goodman’s Sun Signs nơi trang 252-253.
Do NHN có ngày sanh là 06 nên cuộc đời cô rất may mắn. Theo LTS, những số sau đây rất may mắn: 6 15 19 21 23 24 và 27.
ĐỌC THÊM: biệt thự của NHN tại Fountain Valley nam Cali. Làm mẹ đơn thân, nuôi con tự kỷ 13 tuổi chưa biết nhai, ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung vẫn sống sung túc ở Mỹ trong biệt thự 200m2
CUỘC ĐỜI CỦA CA SĨ THANH THÚY QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ.
II/ Thay thế các chữ trong tên cúng cơm của ca sĩ bằng các trị số tương ứng, ta có.
NGUYỄN = 536155 = 25 = 7
THỊ = 451= 10 = 1
THANH = 45155 = 20 = 2
THÚY = 4561 = 16 = 7
Cộng lại: 7 1 2 7 = 17 (cùng số với cựu TT Nguyễn tấn Dũng).
Sau đây là ý nghĩa của số này.
PHẦN ĐỌC THÊM: MỘT CHIẾN CÔNG ĐI VÀO QUÊN LÃNG
CỦA QLVNCH.
Khoảng
năm 1973 hay 1974, đại đội trinh sát 10 của sư đoàn 7 đã tịch thu được một số
súng đại bác không giựt 82 ly, xem ảnh, và triển lãm tại BCH của
trung đoàn 10 tại Bến Tre, và tôi có xem. Súng này đặt trên chân ba càng, có 2
bánh xe để kéo khi cần. Chiến công này đã xảy ra khi đại đội này phục kích dọc
theo một con kinh ở Vùng Đồng Tháp Mười. Các thuyền lớn của CSBV chở vũ khí đi
trên kinh, bộ đội đi dọc theo bờ kinh. Chờ khi đoàn ghe lọt vào ổ phục kích, đại
đội Trinh sát 10 nổ súng, bao gồm mìn Claymore, khiến nhiều ghe bị chìm. Sáng
ra, trung đoàn 10 đổ thêm quân để bảo vệ mục tiêu và lục soát. Họ cho người lặn
xuống sông để vớt súng, đạn, v.v… Trong số xác chết có cả vài kỹ sư
canh nông từ miền bắc xâm nhập. Thời gian đó, tôi có mặt tại Bến Tre
để dự lớp học về CTCT tại Khối CTCT của trung đoàn 10, mà trưởng khối là thiếu
tá Mẫn. Rất tiếc là không biết chiến công này xảy ra vào lúc nào, chỉ biết là
từ 1973-75, vì lúc đó tôi phục vụ tại trung đoàn này.
Tôi
đã đặt hai câu hỏi "1973 in vietnam war" và "1974 in vietnam
war" trên Google nhưng ko có kết quả. Thời đó các cố vấn Mỹ cho các đơn vị
VNCH đã rút về nước khoảng 60 ngày sau khi ký kết HĐ Paris 1973, do đó các trận
đánh xảy ra chỉ được thông báo cho báo chí trong nước và ngoại quốc qua cuộc
họp báo mỗi ngày do Tổng cục CTCT VNCH tổ chức. Nếu lúc đó còn cố vấn, thì trận
đánh này sẽ được lưu vào Quân sử Mỹ.
TRẬN ĐÁNH TẠI TỈNH LỴ SÔNG BÉ TỈNH PHƯỚC LONG THÁNG 5/1965.
ẢNH: CỐ VẤN MỸ VÀ LÍNH VNCH CÒN DÙNG CARBINE-M1.
LỜI MỞ ĐẦU: Phần
lớn chúng ta đều biết trận Đồng Xoài tháng 6 năm 1965, vì đây là một trận đánh LỚN
NHỨT TRONG GIAI ĐOẠN NÀY của chiến tranh VN. Trận đánh bắt đầu từ ngày 9 và
kết thúc vào ngày 13.6.1965. Khi trận đánh này xảy ra, quận lỵ Đôn Luân,
tên cũ là Đồng Xoài, thuộc tỉnh Phước Long, xem bản đồ, đang được bảo vệ bởi 2
đại đội DSCĐ phần lớn là dân S-tiêng gốc KPC, thuộc Toán A-324 LLĐB Mỹ;
một toán Công binh hải quân Mỹ Seabee; và đại đội 111 ĐPQ và nghĩa quân. Tấn
công Đồng Xoài là ba trung đoàn 271, 272, và 273 của CSBV. Để tiếp viện cho Đồng
Xoài, lần lượt các đv sau đây của VNCH được trực thăng vận gồm TĐ 1/7 của sđ 5,
TĐ 52 BĐQ, và TĐ 7 Dù. TĐ 1/7 và TĐ 7 Dù bị thiệt hại nặng vì lọt ổ phục kích
(TĐ trưởng của 1/7 và 7 Dù đều tử trận).
Trong khi đó, trận đánh tại tỉnh lỵ Sông Bé của
tỉnh cùng tên, xảy ra trước đó 28 ngày, lại rất ít người biết, vì ko ác liệt và
tổn thất của hai bên thấp hơn.
Lần đó, cũng
chính ba trung đoàn CSBV này đã tấn công tỉnh lỵ Sông Bé của tỉnh Phước Long,
xem bản đồ. Sau đây là thông tin về trận Sông Bé từ Quân sử chính thức của Lục quân
Mỹ.
======
“Mục tiêu của
Trung ương Cục miền Nam, viết tắt là COSVN cho cuộc tấn công mùa hè tại Quân
Khu 3 là củng cố vùng lãnh thổ phía bắc và phía đông của Sài Gòn, cuộc tấn công
này có thể cắt thủ đô khỏi Vùng 2 và Vùng 1. Những mục tiêu quan trọng nhứt là
tỉnh Bình Long và Phước Long. Hai tỉnh xa xôi và thưa dân này, lại có những con
đường chiến lược nối các an toàn khu của CS tại Cam bốt với Chiến khu C và D,
và lực lượng CS tại Nam Kỳ (Cochinchina) với các lực lượng ở Tây Nguyên. Các mục
tiêu khác là tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Phước Tuy, Long Khánh, và Biên Hòa.
Để chuẩn bị
cho chiến dịch (CD), Trung ương cục miền Nam đã huy động dân thường để đóng góp
140 ngàn ngày công để di chuyển và dự trữ tiếp tế. Bộ tư lịnh Mỹ tại VN hay
MACV đã tịch thu một tài liệu nói rằng địch đã dự định một “Điện biên phủ thứ
hai” nhắm vào các quận và tỉnh lỵ phía bắc của Sài Gòn.
Ngày
9/5/1965, một tên lính
địch đã đầu thú tại Sông Bé, tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long, có dân số khoảng 15
ngàn và cách SG 119 km về phía đông bắc. Y khai rằng địch sẽ tấn công tỉnh lỵ
này. Ngày kế, một tên khác ra đầu thú khai rằng cuộc tấn công sẽ xảy ra vào buổi
tối khiến tỉnh trưởng báo động 50/100 quân số phòng thủ. Quân phòng thủ của tỉnh
lỵ gồm 250 lính của TĐ 36 BĐQ và 150 lính ĐPQ. Ngoài ra còn có 36 cố vấn Mỹ, phần
lớn thuộc Toán T-34 LLĐB, và họ cũng thuộc toán cố vấn của tỉnh. Nhiều
lính Mỹ đã nghĩ rằng tỉnh trưởng đã phản ứng thái quá (overreact) khi ra lịnh
như vậy.
Mặt trận
B-2 đã tập hợp ba
trung đoàn bộ binh để phát động cuộc Tổng
công kích mùa Hè tại QK-3 gồm các trung đoàn 271 (còn gọi là trung đoàn 1) và
272 (còn gọi là trung đoàn 2) của Quân Giải phóng miền Nam, viết tắt là PLAF;
và trung đoàn 273 tân lập (còn gọi là trung đoàn 3) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngoài ra còn
có TĐ 840 của quân giải phóng miền nam, hai trung đội đặc công, và một đơn
vị pháo mới, ngoài cối và súng không giật cơ hữu, có thêm 2 khẩu sơn pháo (howitzer)
75 ly, hai cối 82 ly, tám súng không giật 75 ly, và 8 khẩu đại liên.
Kế hoạch này, đã được cấp chỉ
huy của địch tập dượt (rehearse) bằng cách dùng một sa bàn để cho lính thực tập,
gồm TĐ 1 của trung đoàn 271, và TĐ 840 chiếm tỉnh lỵ Sông Bé trong khi một TĐ của
trung đoàn 272 chiếm quận lỵ Phước Bình. Phần còn lại của lực lượng này nằm chờ
phục kích các đơn vị của chánh phủ (CP) tiếp viện. Điểm yếu nhứt của kế hoạch liên
quan đến pháo yểm. Phần lớn pháo phải được khuân vác hay kéo bằng người từ rất
xa qua địa thế hiểm trở để tới chiến trường. (Thời đó quân CSBV chưa dùng xe Molotova
để kéo đại bác như từ 1972 trở về sau – ND). Điều này khiến quân số suy giảm do
mệt nhọc hay bịnh. Sự hao hụt (attrition) này làm giảm số đạn dành cho trận
đánh.
Ảnh 1: bản đồ tỉnh Phước Long. Tỉnh lỵ Sông Bé nằm trong quận
Phước Bình. Ảnh 2: Bản đồ tỉnh Phước Long trong trận đánh tháng 12/1974.
Ảnh 3: đại bác, còn gọi là sơn
pháo 75 ly, do Mỹ sản xuất. Trong đệ nhị thế chiến, Mỹ đã viện trợ cho Liên
Xô để đánh Đức. Những súng này được LX viện trợ cho Trung Cộng, và TC viện trợ
cho CSBV.
Quân NỔI DẬY đã tấn công vào
sáng sớm ngày 11/5/1965. Chỉ trong 25 phút, họ đã tràn ngập quận lỵ Phước
Bình, nhưng tỉnh lỵ chống trả dữ dội. Do điều nghiên kỹ từ trước, pháo binh địch
đã bắn trúng nhiều mục tiêu quanh tỉnh lỵ trong những phút đầu tiên của trận
đánh. Bộ binh địch đã xung phong, chiếm nhà của tỉnh trưởng, trạm cảnh sát, và
phần lớn tỉnh lỵ. Quân tấn công đã chiếm 4 xe thiết giáp, dùng nó để bắn lại
quân chánh phủ. Tuy nhiên, quân nổi dậy đã gặp khó khăn, khi tới doanh trại của
cố vấn. Vì nghĩ rằng BCH của tiểu khu không thể chống trả một cuộc tấn công, vào
những ngày trước đó, trung tá Alton Park, chỉ huy của Toán B-34, đã lập một hệ
thống công sự bên trong hàng rào phòng thủ. Vì ko biết những công sự này, nên
pháo của VC đã ko gây hư hại. Tuy nhiên pháo địch đã làm Park bị thương nặng khiến
thiếu tá Mitchell Sakely, chỉ huy phó, thay thế.
Một trung đội đặc công đã dẫn
đầu cuộc tấn công này. Chúng xuyên qua hàng rào bên ngoài của doanh trại cố vấn
vì đại đội ĐPQ bị bể phòng tuyến.Trận chiến diễn ra bên trong và chung quanh các
tòa nhà của doanh trại. Chúng chiếm nhà ăn, nơi lính Mỹ dùng làm trạm y tế, giết
vài lính Mỹ. Một trong những người nằm bất động bên trong là trung tá Park. Một
tên lục soát túi áo ông và bắn vào lưng ông. Trung sĩ Richard Bartlett, bị
thương và giả chết. Sau khi đá vào trung sĩ vì nghĩ rằng ông này đã chết, một
tên địch đặt súng trên người của trung sĩ để tác xạ. Mỗi lần y bắn, đạn sướt
vào tay của trung sĩ. Ông nằm chịu trận khoảng 20 phút cho tới khi quân Mỹ tái
chiếm phòng ăn.
Tình hình tuyệt vọng xảy ra
khắp nơi trong trại, dù vài chỗ vẫn còn chống cự dữ dội. Sáu mươi lính BĐQ đã đẩy
lui một TĐ địch dọc theo một đoạn của chu vi phòng thủ, trong khi đó hai phóng
viên nhà báo bất ngờ có mặt tại chỗ đã dùng súng trường để bảo vệ các xạ thủ
súng cối của căn cứ. Ở cạnh phía tây của trại, hai hạ sĩ quan LLĐB đứng trên vỏ
đạn ngập mắt cá chân, để điều khiển súng máy suốt đêm dù bị nhiều thương tích. Ngay
cả một bác sĩ của lục quân cũng cầm súng. Khi một binh sĩ hỏi bác sĩ có vi phạm
Quy ước Geneva khi cầm súng, bác sĩ trả lời, “Đây là thuốc ngừa bịnh, tôi bắn
chúng trước khi chúng bắn tôi.”
Dù trận chiến tiếp diễn,
nhưng pháo binh của địch giảm bớt (slacken) vì thiếu đạn. Lúc 0300 giờ, các
gunship của lục quân Mỹ từ đại đội 197 không vận đã bay phía trên trại để
yểm trợ quân phòng thủ. BĐQ đã phản công, nhưng bị đẩy lui và chỉ huy của họ tử trận.
Vào lúc bình minh, mỗi bên bám giữ một phần của trại, nhưng không bên nào có thể
lấn tới (make headway).
Đoán biết địch sẽ tấn công
quân tiếp viện, phe VNCH phản ứng cẩn thận. Một tiểu đoàn BĐQ, tiến từ phía tây
nam, dọc theo liên tỉnh lộ 1A, về phía đông bắc, xem bản đồ đính kèm. Họ đã
phát hiện và né tránh một phục kích trước khi tới tỉnh lỵ Sông Bé khoảng giữa
trưa của ngày 11/5. Các trực thăng Mỹ chở thêm viện quân, nhưng ko gặp chống trả
của địch lúc đổ quân. Giao tranh nhỏ lẻ tiếp tục trong và quanh tỉnh lỵ suốt
ngày, nhưng vì sắp hết đạn nên địch bắt đầu rút lui. Các máy bay đồng minh, bao
gồm các oanh tạc cơ A-1E Skyraider và B-57 Canberra của Không quân Mỹ và
gunship của lục quân đã tấn công (harried) dù trời u ám. Thành phần chủ lực của địch
đã chờ tới đêm 11-12/5 để chém vè. Một TĐ của trung đoàn 48 sđ 18 bộ binh, tiến
từ đông bắc, đã đụng một TĐ của quân nổi dậy vào chiều ngày 12/5 và, sau 1 đụng
độ ác liệt đã chiến thắng. Vì ko thể chiếm tỉnh lỵ Sông Bé nhanh chóng hay diệt
quân tiếp viện, và thiếu đạn để đánh lâu dài, Mặt trận B-2 đã quyết định đoạn
chiến (not to press its luck). Nếu họ tiếp tục đánh, tình hình có thể xấu hơn với
quân nam VN.
Sau đó 2 bên đều nói mình
chiến thắng. Phía MTGPMN đã chiếm 1 quận lỵ và một phần tỉnh lỵ trong vài giờ.
Theo quân sử CS, họ đã giết 1.389 quân Việt Mỹ, gồm 30 người Mỹ, bắn rơi 14 máy
bay, tịch thu 700 súng. Thực tế, chiến quả của họ ko được như vậy. Quan trọng
nhứt, họ đã ko thể thực hiện (pull off) mục tiêu chánh của chiến dịch là phục
kích quân tiếp viện như đã xảy ra ở Bình Giả năm tháng trước. Trái với tuyên
truyền của CS, quân nam VN chỉ có 58 CHẾT, 96 BỊ THƯƠNG, và 83 MẤT TÍCH. Mất
109 súng, 21 máy truyền tin, và 4 xe thiết giáp, nhưng sau đó các xe này bị máy
bay phá hủy. Có 5 lính Mỹ chết, 13 bị thương. Trung tá Park sống sót. Một máy
bay B-57 rơi vì hỏa lực địch. Đại đội 197 không vận đã chở 200 lính và bắn
429 rocket và 53.500 đạn súng máy. Con số thương vong của dân thường dưới 80
người. Như thông thường, phe CS, im lặng trước tổn thất của họ, nhưng cố vấn tại
chỗ cho biết có 297 cộng quân chết. MACV suy đoán thương vong của địch có thể tới
1000 người. Dù là một trận đánh đẫm máu, nhưng dựa vào kết quả thì quân đồng
minh đã thắng trận đầu của Chiến dịch mùa hè của CS.
Bài viết này dịch từ Advice and Support: The Middle Years, January 1964-June 1965 từ trang 619-621.
Ảnh lấy sách này và từ trên
mạng.
San Jose ngày 24/5/2026.
Tài Trần
====
TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN VÀO MỘT QUẬN LỴ TỪ KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH PARIS 1973.
Ngày 5/12/1973: Bắc quân chiếm quận lỵ Kiến Đức tỉnh Quảng Đức và phá hoại kho xăng Nhà Bè.