Friday, December 25, 2020

 Chương 9 - Cuộc hành quân lục soát đầu tiên


- "Xin đừng để con tôi bị thương. Làm ơn, làm ơn, chăm nom nó. Nó là tất cả của tôi."-- Thư của bà mẹ của một binh nhứt gửi trung đội trưởng của y.

- Hai trực thăng Cobra, do lầm lẩn, đã tấn công bằng hỏa tiển vào BCH của TĐ 3/187, gây hai chết và trên 10 bị thương nặng nhẹ. 

- Trực thăng C and C của tướng Smith, phụ tá hành quân của sđ 101 Dù đã xuống bãi đáp trong lúc bị pháo kích bởi cối csbv để tải thương.  

===

Phần trước: Sau khi đổ quân xuống gần Động Ấp Bia, đ.đ. Bravo của đại úy Littnann được lịnh của trung tá Honeycutt, TĐ trưởng của TĐ 3/187, phải chiếm đỉnh núi này để ông dời BCH TĐ lên đó. Ở phần đầu của đoạn đường 1.000 mét này, Bravo đã chạm địch và bị thương mấy người. Sau khi kêu hai máy bay Skyraider oanh tạc, đốt cháy khoảng 100 mét của đường mòn, đ.đ. đã dừng quân và nghỉ qua đêm. 

Sau đây là phần kế.

================.

. . . 

ĐẠI ĐỘI BRAVO CỦA ĐẠI ÚY LITTNANN TIẾP TỤC LỤC SOÁT

"Trung tá Honeycutt đã ko coi trọng cuộc chạm súng nhỏ này. Dù ông ko có cách nào để biết chắc chắn, ông đã giả định rằng quân CSBV mà đ.đ. Bravo đã đụng là một toán trinh sát (trail watcher) nhỏ. Honeycutt đã đoán chừng (figure) rằng những lính csbv này, khi thấy trực thăng, đã quyết định chạy xuống núi và dọ thám bãi đáp. Tuy nhiên, họ đã đụng đầu với trung đội dẫn đầu của đ.đ. Bravo. Đó chỉ là một giả thuyết, nhưng ông ko có lý do nào để giả định điều khác. Dù gì đi nữa, ông vẫn muốn BCH của ông có mặt trên Động Ấp Bia vào giờ đầu của buổi chiều và gọi máy ra lịnh cho đại úy Littnann tiếp tục tiến lên núi. 

Đại đội Bravo của đại úy Littnann đã di chuyển một giờ rưởi sau bình minh, với trung đội 1 của trung úy Boccia đi đầu, kế đó là trung đội 4, và BCH đ.đ., và cuối cùng là trung đội 2. Binh nhì Terry Gann là khinh binh 1 của trung đội 1, và Boccia đi thứ ba. //Nói thêm: Theo kỹ thuật viễn thám Mỹ, mỗi toán dò đường (pathfinder) thường là 6 người: người đi đầu là point man (tạm gọi khinh binh 1), người kế là slack man (tạm gọi khinh binh 2), kế đó là trưởng toán, kế đó là người mang máy, kế đó là một người mang M79, người đi cuối cùng là toán phó--có nhiệm vụ xóa mọi dấu vết và có cấp bậc chỉ thua toán trưởng. Dù ko phải là viễn thám nhưng trung đội của Boccia khi được lịnh dẫn đầu đại đội cũng sắp xếp như vậy--người dịch)//. Lúc 0747 giờ, khinh binh Gann đã đi xuống một yên ngựa và đang bắt đầu đi lên bằng cách bò từ từ. Con đường mòn trước mặt đầy các mảnh vỡ như--cây cối đứt gẫy (splintered), những mảnh vỡ của tre gẫy, lá cọ (palm frond), và giây leo (tangled vine) - và mùi khó thở của thuốc súng (gagging smell of cordite) vẫn còn vương vấn trong không khí. 

Gann từ từ bò qua các mảnh vỡ này. Có nhiều lổ lớn ở tán lá (canopy), và các tia nắng buổi sáng chiếu qua các lổ này. Gann đã bò khoảng 50 m, nhưng cuối cùng đã ngừng vì một bụi tre lớn, do trúng bom đã nằm vắt ngang con đường. Y đẩy một số mảnh vỡ này sang một bên và đã thấy rằng cây tre khi ngả đã lộ ra một đường hầm đi xuống giữa tâm của đường mòn. Y nhìn cửa hầm và nhìn lại Boccia: "Ông muốn tôi làm gì?"

Boccia tiến lên cạnh khinh binh 2. "Hãy kiểm tra nó."

Gann bò và lát sau gọi vọng về, "Tôi thấy vài xác ở đây."

Boccia kêu sáu binh sĩ tiến về trước và canh giữ hai bên của đường mòn, và bò theo khinh binh Gann.

Có ba xác CSBV nằm cách cửa hầm khoảng 5 mét và gần đó có thêm một xác. Tất cả đều trẻ, mặc đồng phục mới tinh, ko có quân hàm, với tóc ngắn, kiểu tân binh. Nằm gần họ là hai AK47, một phóng lựu B40 và sáu đạn phóng lựu.

Boccia quan sát kỹ lưỡng các xác này. Y giả định rằng họ mới đến khu rừng núi này vì ko có vết cắt do cây rừng hay tre. Họ đều bị bắn vào lưng bởi đại bác 20 ly, có lẽ trong khi cố gắng chạy lên núi thì bị máy bay Skyraider tấn công bằng đại bác 20 ly. 

Trong túi áo của một người, có vẻ là một sĩ quan, Boccia thấy một ảnh của người này và vợ và một xấp tài liệu. Trong ba-lô của một kẻ khác, Boccia thấy một xấp những thư chưa gửi. Dĩ nhiên đây là thư gửi về gia đình, và Boccia cảm thấy buồn mang mác khi biết rằng gia đình của người này sẽ ko bao giờ nhận thư. Lúc đầu Boccia có ý nghĩ sẽ giữ các thư này và ngày nào đó sẽ gửi đi, nhưng cuối cùng y cột chung với các tài liệu trên đây và gửi về bch của TĐ.

Sau khi nghỉ một lát, Boccia cho chuyên viên bậc 4 Phil Nelson đi khinh binh 1 và binh nhứt Nate Hyde đi khinh binh 2. Gann là một khinh binh giỏi nhưng Nelson và Hyde là hai kẻ dò đường (tracker) kinh nghiệm nhứt của trung đội. Cả hai đều lớn lên ở khu vực nông thôn, Nelson ở bang Virginia và Hyde ở Louisiana, và trong thời gian qua đã có khả năng lạ lùng (uncanny) là thấy vật trong rừng mà người khác ko làm được.

Lúc 0913 giờ, Nelson bắt đầu trèo lên dốc núi 25 độ này. Ở một khoảng ngắn từ khu đã bị ném bom trước đó, y đã khám phá một số vết máu, tất cả đều hướng lên núi. Một lát sau, y lại thấy một đống băng cứu thương nằm giữa đường mòn này, rồi dấu chân người, và cuối cùng, xa hơn một chút, một đống băng cứu thương khác. 

Nelson và Hyde ngừng lại để xem xét, và Boccia bò lên.

"Trung úy, hãy nhìn xem," Hyde nói. "Chúng đã chỉ đường cho chúng ta."

"Có điều gì đó bất thường ở đây, trung úy, " Nelson nói thêm.

Họ đã nói đúng, Boccia suy nghĩ. Boccia đã nhiều lần biết rằng, ngay cả khi kéo nhiều xác chết và bị thương, Bắc quân ko để lại dấu vết gì kể cả một nhánh cây gẫy.

Lúc đó hiệu thính viên gọi y. Đó là đại úy Littnan trên máy. "Tại sao anh ko thể đi nhanh hơn?

- Tôi đã cố gắng đi nhanh.

- Nhưng tôi thấy anh đi rất chậm.

- Tôi đi chậm vì tôi nghĩ có gì đó ở đây.

- Tiểu đoàn trưởng (TĐT) ở sau lưng tôi. Ông ta muốn biết tại sao anh đi chậm. 

- Tôi đã cố gắng hết sức.

- Tôi hiểu. Nếu anh ko chắc chắn điều gì phía trước thì cứ từ từ tiến lên. Nhưng tôi cho anh biết TĐT đang theo dỏi.

- Tôi hiểu.

Nelson lần nữa di chuyển rất chậm (at a creep) và lần nữa nhích từng tấc trên đường mòn chật hẹp vì đầy mảnh vỡ cây rừng. Y đã vượt 100 m trong một giờ. Tới rìa của một đồi nhỏ (knoll), y ra dấu cho trung đội đứng lại và ra dấu kêu Boccia. Có một KHOẢNG TRỐNG NHỎ trên đỉnh của đồi nhỏ này, và ngay giữa nó, là một ba-lô đầy cơm vắt (rice ball), một súng AK47 mới tinh còn trong túi da, một chồng kẹp đạn, và hai lựu đạn TC. 

Boccia suy nghĩ rất nhiều: "Tại sao Bắc quân, luôn luôn cẩn thận với trang bị của họ, nay để lại những thứ này để làm gì?"

CÁC TÀI LIỆU NÓI GÌ?

Trong khi đó, tại bch TĐ, Honeycutt và đại úy Charles Addison, ban 2, đang quì gối cạnh các máy truyền tin và đọc các tài liệu - mà trước đó đã lấy từ xác một cán binh.

Honeycutt cho gọi Vinh, một cựu hồi chánh viên nay làm thám báo (Kit Carson Scout) của TĐ. Khi y đến, ông đưa tài liệu và nhờ y đọc.

Honeycutt ko thích Vinh hay chánh sách dùng cựu cán binh CSBV làm thám báo. Theo ông, kẻ đã phản bội đất nước của y cũng sẽ phản bội nước khác. Tuy nhiên, vì muốn biết tài liệu nói gì trước khi gửi về lữ đoàn, ông đã gọi Vinh.

Vinh bắt đầu đọc rất chậm. Khi được khoảng nửa trang giấy đầu tiên, mắt y mở to với kích động. Ở trang hai, y đọc to bằng tiếng Việt, và tới trang ba, y đã nói lảm nhảm trong kích động (babble excitely) với Honeycutt và Addison.

"Chuck, y nói cái gì?"

Addison dùng rất ít tiếng Việt mà ông biết để hỏi Vinh, nhưng tên cựu HCV này có vẻ ko đáp ứng. Mặt y xám lên (ashe) vì sợ, y ko trả lời Addison và tiếp tục lảm nhảm bằng tiếng Việt, trong lúc lắc đầu liên tục. 

"Chuck, thằng này nói gì?"

"Tôi ko biết."

"Bảo nó bình tỉnh lại."

Addison lại hỏi Vinh và khuyên y lấy lại bình tỉnh và cuối cùng Vinh nói, nửa Mỹ nửa Việt.

Addison nhanh chóng thông dịch. "Y nói rằng những kẻ mà chúng ta đã giết là lính của trung đoàn 29 csbv - có biệt danh là Niềm Tự Hào của HCM. Có thể họ là một trong những trung đoàn giỏi nhứt của quân csbv. Vinh cũng nói rằng 'họ là dũng sĩ diệt Mỹ' và chúng ta nên rút ra khỏi khu này vì cả trung đoàn đang ở chung quanh đây. Y nói 'Nhiều, nhiều cán binh khắp nơi. Hàng trăm cán binh.' "

"Nói với thằng chó đẻ này rằng tôi rất vui khi biết họ chung quanh đây. Nói với y rằng tại sao chúng ta đến đây-- là để giết bọn csbv-- và nếu chúng ở quanh đây, chúng đã cho chúng ta một cơ hội tốt." Honeycutt nói. 

Khi Addison dịch lại câu nói của Honeycutt, Vinh nhìn trung tá một cách nghi ngờ, chỉ vào tài liệu, và lại bắt đầu nói lảm nhảm.  

HYDE LÀM KHINH BINH

Ở trên đường mòn, đại úy Littnan cho đ.đ. ngừng 15 phút ăn trưa, và lại chờ thêm 15 phút vì một cơn mưa đột ngột. Tuy nhiên, lúc 1220 giờ, đ.đ. lại di chuyển, lần này Hyde làm khinh binh. Khi y dẫn đ.đ. từ từ lên núi, địa thế bắt đầu thay đổi từ từ. Rừng tre từng bám sát hai bên đường mòn nay từ từ biến dạng. Thay vào đó, những cây gỗ teak khổng lồ, nhiều cây cao hơn 100 feet hay 30 m, bắt đầu xuất hiện khắp nơi. Những cây này to lớn, thô tháp (gnarled), có thân và ngọn đan với nhau trên đường mòn, tạo nên một mái vòm (vaulted ceiling). Tầm nhìn trước đây chỉ nhìn trên dưới một mét nhưng nay, ở nhiều chỗ, từ đường mòn, Hyde có thể nhìn xa hơn 50 m. 

Hyde tiếp tục bò, tốc độ như sên. Bực bội vì quá chậm, đại úy Littnann gọi Boccia và bảo trung đội ngừng lại. Theo sau bởi trung úy Denholm, Littnann chạy nhanh lên đường mòn tới khi gặp Frank Boccia.

"Frank, anh phải nhanh lên," Littnann nói. "Chúng ta phải nhanh hơn."

"Thưa sếp, như tôi đã nói, tôi đang cần thời gian. Ông đã thấy đường mòn. Ông đã thấy những gì chúng tôi vừa thấy. Tôi cảm thấy rằng sẽ ko thoải mái nếu tiến nhanh hơn."

"Tôi ko cần biết anh cảm thấy gì, Frank," Littnann nói, ko dấu sự giận dữ. "Anh phải tiến nhanh hơn vì TĐT sau lưng tôi, và ổng nói chúng ta phải ở núi này lúc 15:30 giờ. Anh nghe tôi nói ko?"

"Vâng, thưa sếp."

"Vậy tiến lên."

Nghe lịnh của Littnan, hiệu thính viên của Boccia, đang ngồi dựa gốc cây, vụt đứng dậy và lấy máy truyền tin. Tuy nhiên, trong khi đeo máy vào người, một dây đeo bị đứt và máy rớt xuống đất. Vì thấy anh lính truyền tin ko sửa được dây đeo, đại úy Litnann nói với Boccia, "Frank, tôi ko thể chờ anh," và quay sang trung úy Denholm, "Trung đội của anh thế trung đội của Boccia."

Boccia cho lính tạt ngang hông đường mòn để lính của Denholm vượt qua trong im lặng. 

TRUNG ĐỘI TRƯỞNG DENHOLM CHO STEVENS LÀM KHINH BINH

Denholm cho binh nhứt Stevens làm khinh binh 1 và chuyên viên bậc 4 Rosenstreich làm khinh binh 2, kế đó là chuyên viên bậc 4  McCarrell và kế đó là y. Dù tới phiên Stevens làm khinh binh, Denholm rất ngần ngại khi để Stevens làm như vậy. Anh lính trẻ này thường xuyên sợ sệt và lo âu và có lúc đã phản ứng vụng về lúc chạm địch. Hơn nữa, Denholm đã nhận thư của mẹ của anh chàng này vài ngày trước, trong đó có câu "Xin đừng để con tôi bị thương. Làm ơn, làm ơn, chăm sóc nó. Nó là tất cả của tôi."

Denholm biết rằng y ko thể để tình cảm xen vào công việc chỉ huy trung đội, nhưng y cũng ko thể ko bị tác động bởi lá thư này. Tuy nhiên, vì công bằng, y ko có chọn lựa nào khác là để Stevens làm khinh binh khi tới phiên nó. 

Đó là một quyết định mà Denholm đã hối tiếc gần như tức thời. Stevens đã tiến một cách ngập ngừng, và sau khi bò được 10 m đã ngừng. Y nhìn ngược lại Denholm, vẻ mặt đầy sợ hãi, nhưng Denholm ra dấu cho y tiến lên. Stevens bò thêm khoảng 5 hay 10 m rồi quì xuống. Lần này y ko nhìn ra sau.

Denholm vội bò tới y. "Cái gì vậy?"

"Tôi sợ lắm," Stevens nói lắp bắp (mumble).

"Lấy lại bình tình," Denholm nói, vừa đặt tay lên vai Stevens. "Chúng ta ko vội vả. Không có gì phải sợ." Denholm xô nhẹ y về phía trước. "Đi. Chúng ta tiếp tục di chuyển."

Denholm trở về phía sau và Stevens bắt đầu bò về phía trước. Tuy nhiên, mới chỉ vài mét, một tên bắn sẻ ở đâu đó nổ súng vào trung đội. Ba hay bốn viên cắt ngang ngọn cây, và mọi người nhào xuống hai bên đường mòn.

Rosenstreich và McCarrell đã phản ứng nhanh chóng. Chỉ sau vài giây, cả hai đã dùng M16 bắn vào cây rừng 2 bên. Họ thấy tên bắn sẻ từ gốc cây ven đường, chạy nhanh lên núi. 

Denholm gọi máy cho Littnann và nghe lịnh: "Tiếp tục di chuyển!"

Stevens, lại lần nữa ngần ngại (balk) khi được lịnh tiến lên. "Tôi ko thể," y nói, tay y rung, hơi thở giật từng cơn. 

"Anh phải tiến lên," Denholm quát to. "Hãy tiến lên!"

Nét mặt Stevens nhăn nhó và có vẻ sắp khóc , nhưng cuối cùng nó quay chung quanh và bắt đầu tiến lên. Tên bắn sẻ nổ súng nhưng ko trúng.

Stevens nhảy khỏi đường mòn và núp sau một khúc cây, trong khi Rosenstreich và McCarrell nổ súng vào hàng cây. Tên bắn sẻ ngừng bắn lập tức.

Denholm bò tới và thúc dục Stevens. "Hãy tiến lên, Billy."

"Tôi ko thể tiến thêm. Tôi sợ quá. . . Tôi ko thể. . . ", Stevens nói.

ROSENSTREICH THAY THẾ STEVENS

Rosenstreich nói với Denholm. "Để tôi làm khinh binh."

"OK, Rosey," trung úy Denholm nói. Y nhìn Stevens rất lâu và cuối cùng nói với giận dữ, "Đi ra đằng sau."

Stevens vụt chạy về sau (scamper) như con chó bị quất roi, và Denholm đặt tay lên vai Rosenstreich. "Cẩn thận, Rosey."

"Đừng lo cho tôi, trung úy, tôi biết tôi phải làm gì."

"Tôi biết."

Rosenstreich đã bắt đầu tiến lên lúc 13:00 giờ: khi thì bò khi thì đi và trong 30 phút được 100 m. Gần một cây teak lớn, y ngừng và dấu cho trung đội ngừng. Y chui vào bên cạnh đường mòn, dùng tay sờ soạng một nhúm tre và giây leo cho tới khi đụng cái gì đó, y ra dấu cho McCarrell và Denholm bò tới.

"Hãy nhìn," Rosenstreich nói, trong lúc cầm một dây điện có vỏ dầy, "nếu có dây điện thoại chạy qua đây, trên kia phải có đơn vị lớn của địch."

Denholm quan sát kỹ sợi dây và thấy dây gắn với một cây nhỏ bằng một miếng cách điện. Y thấy dây chạy về phía đông bắc tới đỉnh của Động Ấp Bia và thẳng về về phía tây xuống một thông thủy (draw) lớn ở bên phải của đường mòn và hướng tới Lào. Denholm gọi Littnann và Littnann nói sẽ lên xem.

Trong khi Litnann đi theo đường mòn để xem dây điện thoại, trung tá Honeycutt đang chờ đại úy Fredericks, sq tình báo của lữ đoàn, với bản dịch đầy đủ của tài liệu đã kể ở trên. 

"Đại úy, anh thấy điều gì?" Honeycutt hỏi.

"Thưa trung tá," Fredericks nói, "có nhiều cộng quân ở nơi nào đó trong khu vực này -- to chuyện rồi!"

"Tôi đã nghĩ tới điều đó. Nhưng chúng ở đâu?

"Tôi ko biết. Tài liệu ko nói. Chúng chỉ nói đv hoạt động ở khu này là trung đoàn 29 csbv."

"Vinh đã nói điều đó."

"Theo tôi ước tính, chúng khoảng 1.200 đến 1.800 tên, tăng cường bởi vũ khí nặng. Chúng rời Hà Nội gần đây và có lịnh rõ ràng là tấn công một vài đv Mỹ trong vùng núi này. Sau đó, chúng có thể xâm nhập xuống đồng bằng và tấn công Huế. Tài liệu ko nói NƠI và KHI NÀO chúng sẽ tấn công, nhưng điều rõ ràng là chúng sẽ đánh lớn."

"Tốt," Honeycutt trả lời. "Đấy là điều tôi cũng đang trông chờ-- một trận đánh lớn!"

ĐẠI ĐỘI ALPHA 

Trong khi đ.đ. Bravo lục soát về hướng đông nam tới đỉnh của Động Ấp Bia, đ.đ. Alpha cũng đi theo cùng sống núi nhưng hướng ngược lại, theo hướng tây bắc tới biên giới Lào và Sông Trung Phạm. Khi sống núi này hạ thấp cao độ khi tới thung lũng Sông Trung Phạm, đ.đ. Alpha chia thành từng trung đội và bắt đầu tiến tới biên giới theo ba mủi. Một trong các mủi này là trung đội 1 của trung úy Frank McGreevy. Họ bắt đầu đi xuống thung lũng của sông này lúc 08:00 giờ, và ngay từ lúc bắt đầu tiến quân đã khó khăn. Vì sợ phục kích, vị trung úy 24 tuổi này đã tránh những đường mòn và cho trung đội băng đồng, với khinh binh mở đường bằng dao rựa. Vì vậy, họ phải tốn khoảng 4 giờ để đi từ sống núi xuống thung lũng của sông này. Tới đây trung úy cho trung đội đổi về hướng bắc và bắt đầu lại băng đồng xuống giữa thung lũng này. 

Trung đội di chuyển khoảng 3 giờ vô sự, cho tới khoảng 14:00 giờ, khi khinh binh, trong lúc chặt một cụm dây leo và lách qua một bụi tre dầy (stand of bamboo), đã lọt ngay giữa một con đường lớn của bắc quân. 

SIÊU XA LỘ

McGreevy, khinh binh 1 và 2 quan sát con đường. Lính Mỹ gọi nó là "siêu xa lộ" và dù ở Việt Nam 11 tháng nhưng McGreevy chưa thấy một con đường như vậy. Mặt đường nện rất cứng và rộng đủ cho xe tải chạy. Phía trên, cây rừng đan vào nhau tạo thành mái che, khiến ko thể thấy từ trên không. 

McGreevy cảm thấy một cơn lạnh chạy dọc xương sống và nghĩ: "Chúng ta đang trên đất của chúng. Phải có nhiều người mới làm con đường như vậy. Phải có nhiều người!"

Đi theo con đường, họ thấy nó chạy thẳng hướng tây tới Sông Trung Phạm và hướng đông tới phía rìa phía đông của Động Ấp Bia. McGreevy đặt mỗi tiểu đội ở một bên của siêu xa lộ này và một tiểu đội đi theo con đường, và cả trung đội đi về hướng tây tới sông này. Con đường đi thẳng vào một cụm các túp lều và ở phía sau các lều là một hầm trú ẩn hay bunker có nhiều gà con, quần áo và đạn dược. Lửa còn cháy trong bếp chứng tỏ ai đó đã ở đây và vội vả rút lui. 

Chỉ huy bởi trung úy Daniel Bresnahan, trung đội 3 của đ.đ. Alpha đã lục soát xuống Sông Trung Phạm, xa hơn về phía nam. Trong khi McGreevy lục soát siêu xa lộ, trung đội 3 tiến về phía bắc dọc theo một đường mòn song song với sông này. Cũng như McGreevy, họ cũng ý thức rằng họ đang ở giữa một căn cứ địch. Dù chưa chạm súng, nhưng có nhiều dấu hiệu địch có mặt khắp nơi. 

KHINH BINH JAMES MAYNARD

Khoảng 14:20 giờ, trung đội 3 đã quẹo về hướng tây và bắt đầu hướng về con sông này. Chuyên viên bậc 4 James Maynard làm khinh binh 1, chuyên viên bậc 4 Michael Vallone làm khinh binh 2. Khoảng 50 mét sau đó, Maynard đột nhiên la lên "VC", và một loạt súng liên thanh cắt ngang cây tre và cỏ voi ở hai bên của trung đội.

Mọi người trong trung đội 3 đều nằm sát đất trừ khinh binh 2 Vallone: y đã bò về phía phải khoảng 20 mét để bọc suờn kẻ đã bắn. Khi y nhìn lên ngọn của vài cây tre, y đã thấy một lính địch đang đưa khẩu B40 lên vai. Vallone lập tức nổ súng. Tên địch ngả về phía trước và viên đạn nổ ngay chân y. Một tiếng nổ vang dội và Vallone thấy các phần của tên này rải rác khắp nơi. 

Cùng lúc, Maynard và hai người khác xung phong vào vị trí địch ở xa hơn trên đường mòn. Hai lính CSBV nhảy khỏi vị trí và bỏ chạy. Maynard đã quạt một loạt đạn M16, nhưng một tên đã chạy thoát vào rừng. Trung đội 3 theo dấu máu trong khoảng năm phút, nhưng, do sợ phục kích, cuối cùng ngừng lại và trở lại đường mòn. 

Vài phút sau đó, trung úy Bresnahan cho trung đội 3 lục soát đường mòn khác, hướng về sông này. Lần này Maynard và Vallone ko còn làm khinh binh của trung đội; Vallone đã lo lắng (rattle by) vì cuộc đụng độ vừa rồi, và y đã nghĩ rằng đi ở cuối hàng quân sẽ giúp y có sự an bình. Y đã lầm. Trung đội 3 đã di chuyển khoảng 100 mét, và khi nhìn xuống một đường thông thủy ko sâu lắm ở phía trái, y đã thấy một lính csbv ở khoảng cách 20 mét. Tên này đang quỳ gối một chân và đang lắp đạn cho khẩu B40. Nhắm kỹ, Vallone bắn năm tới bảy viên. Đạn trúng túi đạn và làm 2 hay 3 viên B40 nổ một lúc. Và tên lính bắc quân này đã tan xác.

Nửa giờ sau, trung đội 3 đã tới sông này. Cũng như trung đội 1, họ đã khám phá một số lều và có lẽ là trạm trung chuyển (way station), nhưng địch đã nhanh chóng bỏ chạy.

Trên núi, đại úy Littnan đã kiểm tra dây điện thoại và gửi một tiểu đội từ trung đội 2 đi theo dây này, dây chạy theo đường thông thủy để xem nó đi tới đâu. Lúc 14:00 giờ khinh binh Rosenstreich lại bắt đầu leo dốc. Y di chuyển thận trọng. Khác với Stevens, y rất chuyên nghiệp. Y đã sợ, nhưng y đã học cách làm chủ nỗi sợ hãi. Y di chuyển chừng bước, kiểm tra từng tảng đá, từng lá cọ, từng cành lá thấp, từng khúc gỗ mục nát. Thỉnh thoảng y ngừng lại và gọi McCarrell hay Denholm để cùng y quan sát và bàn luận với hai người này, nhưng sau đó y lại tiếp tục tiến bước. 

Lúc 15:00 giờ, tên bắn sẻ lại nổ súng. Đường đạn đi cao và Rosenstreich đã đáp trả bằng cách quét một băng đạn vào những cây phía trước. Y lại lắp đạn và tiếp tục bắn. Để súng ở bán tự động, y đi bộ chầm chậm và bắn từng phát một (snap off shots) ở các vị trí như - bụi cây, bụi tre, hay cỏ voi, tất cả những gì mà một người có thể núp. 

Trong khi Rosenstreich đang bắn, một lính bắc quân xuất hiện ở một hố cá nhân ở giữa đường mòn và, với khẩu AK47 để tự động, đã bắn trúng ngực anh khinh binh này. Loạt đạn đã khiến Rosenstreich ngả vật xuống đường mòn. Cùng lúc một lính Bắc quân xuất hiện từ một bunker xa hơn trên đường mòn và bắn B40. Quả đạn đã trúng ngực McCarrell, nổ tung, và làm nổ quả mìn claymore mà khinh binh thứ hai này để trong túi vãi đeo vai. Tiếng nổ đã phá nát thân thể của McCarrell và khiến Denholm văng xa 10 feet. Denholm bị ù tai, ngả quỵ (tumble to his feet) và bất tỉnh, sau đó bò về phía trước. Y biết rằng y đã trúng nhiều miểng B40, nhưng ko thấy đau. Bằng trực giác, y la lên,"Lấy khẩu 60 ly!"

Vừa bò, Denholm tiến về phía trước, vừa nghĩ rằng, "Tôi phải làm điều gì. Điều gì. Bất cứ điều gì."Tai y vẫn còn ù, và y đã cảm thấy giống như đầu bị đập bởi một gậy bóng dã cầu (ball bat). Đại liên M60 quét đạn vào hàng cây, và B40 bắn trả. Mọi thứ gần như điên cuồng. Denholm bò qua nơi mà McCarrell và Rosenstreich đã gục ngả. Rosenstreich đang dựa vào một cây lớn ở bên trái của đường mòn. Y đang thở hổn hết và chết từ từ. Denholm cố gắng tháo ba-lô khỏi lưng của Rosenstreich để y có thể nằm ngửa trên mặt đất nhưng ko được. Y phải rút con dao Bowie, một loại dao đi rừng, để cắt dây đai của ba-lô. Y để Rosenstreich nằm cạnh cây này, và sau đó vài giây đã qua đời. Viên trung úy đặt tay lên đầu Rosenstreich và suy nghĩ trong giận dữ: Chúng đã giết lính tôi! Bọn khốn kiếp!

Trong cảnh hổn độn này, y lại hét lên, "Lấy khẩu 60 nhanh lên!"

Nghe lịnh, chuyên viên bậc 4 Terry Larson phóng nhanh về phía trước, bắn vài quả. Chuyên viên bậc 4 Donald Mills, xạ thủ M60, vừa chạy theo y vừa bắn. Cách đó 10 mét, tên Bắc quân đã giết Rosenstreich lại xuất hiện và bắn trúng ngực Mills. Mills ngả xuống sau một khúc cây, nằm đó vài giây, sau đó đứng dậy và hét lên,"Thằng chó đẻ đã bắn tôi, thằng chó đẻ chết tiệt này đã bắn tôi!" Mills đã nhặt lại khẩu M60, nhưng khám phá rằng súng kẹt đạn. Y chụp khẩu M16 của Larson và tiến lên đường mòn, và dù gần 10 vết thương trên ngực, đã đi tới hố cá nhân của tên bắn sẻ và bắn một loạt đạn vào tên này."Tên khốn kiếp nhầy nhụa này (You slimy bastard)", y vừa bắn vừa hét. Khi súng hết đạn, y ném súng và loạng choạng đi trở lại. 

Đằng sau một cây gần Rosenstreich, Denholm có một túi lựu đạn và ném liên tục vào các vị trí địch. Sau đó y thấy trung sĩ nhứt William Murtiff của đại đội, và trung sĩ Louis Garza của trung đội 4, và một toán lính đang cố gắng tiến lên, dọc theo phía phải của sống núi. Họ vừa bắn và tiến chậm chạp. Ở bên phải của đường mòn, có 2 hay 3 người bị thương. Một y tá chạy đến cứu họ nhưng bị trúng đạn. Denholm chạy nhanh tới giữa đường và nằm xuống, sau đó bò tới một kẻ bị thương khi một lính Bắc Việt đột ngột xuất hiện từ một hố cá nhân ở bên phải của đường mòn. 

Tên lính bắn một loạt AK47 và bỏ chạy: một viên trúng nón sắt và viên khác làm bể kính cận của Denholm. Denholm chuyển nhanh về bụi cỏ voi bên phải. Y ném hai quả về hố cá nhân này nhưng ko kết quả. 

Denholm vừa bò vừa kiếm hố này.

Cách đó chưa tới một mét, núp kỹ trong một bụi cỏ tranh, tên lính csbv này lại xuất hiện từ một hố cá nhân. Tên này nhìn xuống đường mòn để tìm mục tiêu, đạn đã lên nòng. Denholm định giết tên này, nhưng sựt nhớ rằng ko biết bỏ súng ở đâu; nhưng y đã nhanh chóng rút dao Bowie và đâm mạnh vào họng tên lính bắc quân. Dù bị thương nặng, tên lính này đã biến mất. Denholm bò trở lại trung đội.

Ở 50 mét phía dưới đường mòn, đại úy Littnann đang đứng kế hiệu thính viên hay RTL. Trong năm phút, y nghe súng nổ ở phía trên nhưng ko biết điều gì xảy ra. Y đang quay số để nói chuyện với trung đội trưởng Denholm thì thấy một binh sĩ lùn và mập (stocky) mang kiếng cận, chạy nhanh theo đường mòn về phía bch của đại đội. Người binh sĩ, là Stevens đã kể ở trên, chạy qua, Littnann định bắt lại nhưng ko kịp nên la to, "Ai đó chận tên này!"

Sau đó hai binh sĩ khác đã chận tên này và đè y xuống đất. Tên lính vẫn hoảng loạn, la hét và cố gắng vùng vẫy (squirm) khỏi hai người lính.  

"Điều gì đã xảy ra?" Littnann hỏi.

Tên lính ko còn chống cự. Y nhìn Littnann và có vẻ định nói điều gì, và bắt đầu khóc, ngực nhấp nhô, thở hổn hển. Littnann nhìn xuống người lính và suy nghĩ: Trời ơi, chúng ta đã gặp điều gì ở đây?

Sau đó Littnann đã biết tại sao người lính này khóc. Stevens, đã đứng cách McCarrell khoảng một mét khi quả B40 trúng ngực của McCarrell.

Trên đường mòn, trung đội 4 đang rút lui. Garza giữ đoạn hậu. Trước nhứt y gửi một tiểu đội để bắt tay với Denholm ở bên phải của đường mòn, và một tiểu đội ở bên trái. Trong khi hai tiểu đội này áp đảo hỏa lực địch, y cho từng nhóm 2 hay 3 người chạy nhanh về phía trước để bắt đầu kéo ba xác chết và bảy người bị thương từ giữa đường mòn.

Đây là một việc khó khăn. Lính csbv chứng tỏ rất gan lỳ vì khi hai tiểu đội lính Mỹ bắn họ, họ cũng trả đủa. Lúc 1645, cả trung đội đã đi khỏi yên ngựa.

Trung úy Boccia, mà trung đội ở hàng thứ hai trong đội hình, đã đứng giữa đường mòn và nghe súng nổ nhưng ko biết điều gì xảy ra. Nay y thấy những lính bị thương đi về bch TĐ, kế đó các kẻ khiêng cáng, và sau đó là trung úy Denholm.

Denholm đầy máu và đi loạng choạng như kẻ say rượu. Hai tay buông thỏng (hang limsy), và mắt nhìn xa xăm.

"Chuck. . . điều gì đã xảy ra?"

Denholm trống rổng nhìn Boccia và lẩm bẩm, "Rosey ở đâu? McCarrell và Larson ở đâu. . . ?"

Boccia ko biết phải trả lời cách nào. Y định chào nhưng Denholm đã chập choạng đi qua. 

GỌI PHÁO BINH VÀ COBRA

Với trung đội 4 đi hết (down off) đường mòn, tiền sát viên của đ.đ. Bravo đã bò khá xa trên đường mòn, đủ để xác định các vị trí của địch, rồi gọi pháo binh. Trong 15 phút, pháo đã dập khu vực này. Khi pháo dứt, tiền sát viên đã bò về phía trước và đánh dấu vị trí của y với lựu đạn khói, rồi gọi hai trực thăng Cobra để tấn công các vị trị địch với hỏa tiển nổ cao hay HE.

MÁY BAY BẮN LẦM VÀO BCH CỦA HONEYCUTT

Điều gì xảy ra tới đây sẽ ko bao giờ có thể giải thích đầy đủ. Ở BCH TĐ, Honeycutt đã ko biết về yêu cầu trên đây của tiền sát viên. Khi hai chiếc này hover trên Động Ấp Bia, trung tá quay qua đại úy Addison,"Chuck, bọn này sắp làm gì ở đây? Bọn chúng đang bay vào tầm đạn pháo binh. Chúng có điên ko?"

Trong khi Honeycutt nói, hai chiếc này, có vẻ đang hướng về đỉnh của Động Ấp Bia, đột nhiên đổi hướng và nhắm vào bch của TĐ. "Trời ơi, những thằng hề này đang bắn chúng ta," Honeycutt la lên.

Honeycutt cầm ống liên hợp (handset) của một trong những máy truyền tin và đã cố gắng trong vô vọng để nói chuyện với phi công qua tần số không lực. Đó là một việc làm vô ích, vì một chiếc đã nghiêng mình (bank) và phóng một loạt hỏa tiển.

"Nằm xuống!" Honeycutt la lên cho gần 15 người đang đứng gần BCH. "Pháo kích! Pháo kích!"

Hỏa tiển đã nổ ở ngọn cây, và miểng đã rơi như mưa xuống một khu vực 30-mét. Vài người đã gục xuống, chồng lên nhau, và những người khác nhanh chóng tản mác để tìm chỗ núp ở rìa của vị trí này. Honeycutt đã bị một miểng hỏa tiển bằng ngón tay cái ở lưng. Ông đã ngả gục xuống và khi đứng dậy, ông thấy hai chân đều bị tê. Ông đi khó khăn tới dàn máy truyền tin và chụp ống liên hiệp. Trong khi ông quay số, chiếc Cobra thứ hai lại phóng hỏa tiển. Bốn hay năm hỏa tiển đã nổ trên ngọn cây, và miểng văng khắp BCH, làm hai hay ba người gục ngả. 

Honeycutt la to trong ống liên hợp ,"Ngừng bắn! Các anh đã bắn lầm! Ngưng ngay!"

Khi cuối cùng phi công nhận ra lỗi lầm, họ cố gắng xin lỗi, nhưng ĐT từ chối. "Các anh đi chỗ khác. Các anh nghe ko? Nếu ko tôi sẽ bắn rơi máy bay."

. . . Hỏa tiển đã giết 2 người, làm bị thương 35 người khác. Trung sĩ thường vụ TĐ Bernie Meehan, sĩ quan liên lạc pháo binh James Deleathe; và 10 người khác giữ vai trò quan trọng trong BCH đều bị thương nặng, cần di tản gấp. BCH TĐ bây giờ giống như trạm cứu thương sau một trận đánh lớn. 

Đã vậy, cối 120 ly của csbv, dấu bên kia biên giới, lại bắn 5 hay 6 quả vào bch TĐ. 

Cùng lúc đó, trong khi cối địch còn rơi, 5 cán binh csbv xuất hiện từ đường thông thủy phía nam BCH TĐ, tấn công bằng AK47. Đại úy Addison nhanh chóng phản ứng. Ông quạt một băng đạn M16 khiến 3 tên ngả gục, hai tên còn lại chạy xuống thông thủy. Đại úy đuổi theo, nhưng sau đó trở về bch TĐ.

. . . Sau khi cơn giận dữ nguội dần (vent), Honeycutt nghĩ cách giải quyết trường hợp của Bravo. Lúc đầu, ông chỉ muốn tạm thời rút đ.đ. này để giao mục tiêu cho pháo, trực thăng võ trang và oanh tạc cơ giải quyết. Sau khi đã dần mềm mục tiêu này, ông muốn đại úy Littnann gửi một trung đội vào mục tiêu và-- trong khi quân csbv bấn loạn vì bị không kích-- sẽ nhanh chóng tràn ngập các hầm trú ẩn và hố cá nhân chung quanh hai đồi nhỏ. 

Nay với bch tan tác, ông nghĩ rằng ko thể nào tổ chức một tấn công như vậy. Nếu đại đội Bravo gặp một đơn vị địch mạnh hơn mà họ vừa gặp mới đây, ông ko còn viện quân để giúp họ hay phối hợp không và pháo yểm cho họ. Do vậy ông gọi đại úy Littnann rút đ.đ. về phía sau 100 mét và đào hầm hố phòng thủ qua đêm. 

Trong khi ông quì gối kế bên các máy truyền tin--chung quanh ông các y tá chăm sóc thương binh--ông buộc phải có những kết luận nhanh và lấy lại tinh thần. Lúc đầu ông đã nghi ngờ Động Ấp Bia chỉ được bảo vệ bởi một toán thám báo nhỏ hay có thể một nhóm những tên bắn sẻ. Khám phá dây điện thoại của đ.đ. Bravo, kết hợp với đụng độ của đ.đ. này, giờ đây đã thuyết phục ông rằng ở đó phải có ít nhứt là một trung đội cộng, hay có thể là nguyên một đ.đ. Ông đã nghi ngờ họ thuộc trung đoàn 29 csbv , nhưng ko có cách chứng minh điều đó.

Ông định tìm một cách chính xác điều gì ở Động Ấp Bia-- và ko chỉ với một đ.đ., chỉ có thể lục soát một khu vực giới hạn, nhưng với ba đ.đ., mỗi đ.đ. tiến lên núi theo một hướng khác nhau. Nếu có hơn một trung đội địch trên núi này, ông hy vọng sẽ biết điều đó trong vài ngày.

Ông liền gọi đại úy Dean Johnson chỉ huy đ.đ. Charlie, và nói y ngừng hành quân dọc sông Trung Phạm và bắt đầu một lục soát cấp đ.đ. theo hướng đông thăng tới Động Ấp Bia. Họ phải tiến lên một sống núi lớn bắt đầu gần bờ sông và từ từ tới một giao điểm nơi sống núi này gặp Động Ấp Bia, nằm giữa Đồi 900 và 937. 

Kế đó ông gọi đại úy Gerald Harkins và ra lịnh cho y phải ngừng hành quân gần sông Trung Phạm và theo sống núi lớn để về bảo vệ BCH TĐ, thay thế đ.đ. Delta. Và đ.đ. Delta, vào buổi sáng, sẽ phải đi xuống một khe núi lớn ở phía đông bắc của bch và bắt đầu một cuộc lục soát khác lên sườn bắc của Đồi 937. Nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, Honeycutt sẽ có ba đ.đ. vào vị trí vào buổi sáng của NGÀY 13 TÂY để phối hợp tiến lên núi này.

Từ vị trí phòng thủ đêm hay NDP (night defensive position) ở phía nam của yên ngựa sâu này, lính của đ.đ. Bravo đã thấy một Skyraider gầm thét (growl) bay qua đầu và chúi xuống những vị trí địch ở trên họ 200 mét. Những quả bom 500-cân Anh rời cánh và lao xuống rừng núi. Tiếng nổ sắc gọn, và lính tráng bị xóc nảy lên (jolt) vì chấn động. Hai cuộn khói nâu bốc lên từ khu rừng. Sau 30 phút bắn phá các vị trí địch, chiếc Skyraider cuối cùng của 4 chiếc, quay đầu về hướng đông để ra biển. 

Ở BCH, một lát sau khi ném bom, đ.u. Littnann được lịnh của Honeycutt phải báo cáo tình trạng của đ.đ. Littnann do dự một lát và báo cáo ko có thương vong nhưng có hai M60 bỏ lại trên đồi. 

"Anh biết nó ở đâu?"

"Chúng tôi biết khu vực mà hai khẩu M60 bỏ lại."

"Anh gửi người lên đó bây giờ, và mang súng về. Và ngay bây giờ! Vì chúng ta ko thể bỏ súng như vậy."

Littnann đã gặp khó khăn khi chon người cho một nhiệm vụ nguy hiểm như vậy và rất vui khi trung úy Marshall Eward và 2 người thuộc trung đội 2 tình nguyện. Chờ trời tối, ba người, ko nón sắt và súng, đã rời vị trí phòng thủ đêm và im lặng đi lên đường mòn.

Chỉ sau 30 phút chờ đợi, cả ba trở về, mang theo hai khẩu M60, và đ.u. Littnan cảm thấy nhẹ nhỏm.

Thở một cách nặng nề và đầy lo lắng, trung úy Eward ngồi trên một khúc cây và nói, "Địch quân có mặt khắp nơi, thưa đ.u. Chúng ko phải là bọn dò đường mà là lính chính quy Bắc Việt. Tôi đã nghe họ nói và đi lại trên đó. Trời ạ, tôi ko muốn làm một lần như vậy nữa."

Khám phá của Eward ko là một sự kiên riêng lẻ, vì quân csbv, sau gần 48 giờ thu mình tránh né, nay đang ra mặt khắp nơi ở bắc A Shau và sẵn sàng tấn công. Đó cũng là một thực tế mà TĐ 1/506 cũng thuộc sđ 101 nhảy dù sắp khám phá.

BÃI ĐÁP CỦA TĐ 1/506 BỊ PHÁO CỐI

Cũng như TĐ 3/187 của trung tá Honeycutt, hai ngày qua họ đã lục soát bắc A Shau. Khu vực hành quân của họ ở ngay phía bắc của làng Bou Ải Ha và phía đông của Sông Trung Phạm. Trung tá John Bowers, chỉ huy TĐ, đặt bch của ông trên đỉnh một đồi nhỏ khoảng 500 mét đông của giới Lào Việt. Từ đồi này, bốn đ.đ. của ông đã lục soát vừa hướng về biên giới và vừa vào thung lũng.

Được lịnh canh gác chu vi phòng thủ của tđ vào tối NGÀY 11 TÂY là trung úy Ian Schumaker và ba trung đội của đ.đ. Charlie. Do đ.u. William Stumiest, đ.đ. trưởng bị thương vào buổi sáng nên Schumaker làm đ.đ. trưởng.

Vị sĩ quan 22 tuổi này đã đi phục kích đêm vào tối NGÀY 10 TÂY gần biên giới và trong ngày kế đã lục soát dọc theo bờ sông Trung Phạm, nơi trung đội đã khám phá và đốt một trang trại lớn của địch. Y chỉ tới bch TĐ vào xế trưa, nhưng bị sốc với những gì y thấy. Đầu tiên y sốc vì biết rằng TĐ đã ở hai đêm liên tiếp tại cùng một vị trí, nghĩa là mời gọi một cuộc tấn công bằng cối. Y chắc chắn rằng, các xạ thủ csbv đã có tọa độ của vị trí này và có thể đã hướng nòng súng vào đó. 

Nhưng Schumaker còn sốc vì tình trạng của bãi đáp. Hai trung đội bộ binh canh gác vị trí này vào NGÀY 10 TÂY vẫn chưa củng cố chu vi phòng thủ có hình thuôn dài (oblong). Chỉ có vài người đào hố chiến đấu, nhưng quá cạn. Và trong khi một số mìn claymore rải rác chu vi phòng thủ, ko ai buồn để cài một lựu đạn chiếu sáng. 

Viên trung úy đã dùng thời gian còn lại của buổi chiều để củng cố chu vi. Y ra lịnh mỗi lính trên chu vi phải đào một hố sâu ít nhứt sáu bộ Anh, phải có nắp che và một đống lựu đạn kế bên. Và phải cài lựu đạn chiếu sáng khắp vị trí. Dù rất xa lý tưởng, nhưng chỉ trong hai giờ, chu vi phòng thủ có thể chấp nhận được.

Nhưng có những kẻ, chống đối việc đào hố. Như trung đội súng cối, nại lý do rất bận rộn với nhiệm vụ nên ko có thời giờ. Lúc đầu Schumaker định báo với trung tá Bowers nhưng sau đó bỏ ý định này. Y còn nhiều việc phải lo cho đ.đ. của y.

Y cũng khuyên một phóng viên của báo Stars and Stripes, tương tự như báo Tiền Tuyến của VNCH-- người dịch, đã ở lại đêm nay tại bãi đáp. Là một người béo lùn (pudgy) với tóc che cổ áo, y đã cười trước lời khuyên của Schumaker.

"Cái gì? Đào một cái hố? Anh muốn tôi đào một cái hố?"

"Vâng. Tôi nghĩ rằng anh nên làm như vậy. Chúng ta có thể bị pháo bằng cối tối nay."

"Nếu điều đó xảy ra, hãy để tôi tự lo."

Khi Schumaker cố gắng thuyết phục, phóng viên đã phản ứng," Trung úy, anh ra lịnh cho tôi? Anh hãy lo cho lính anh, và để tôi tự lo. OK?" 

"OK"

"Tốt"

Schumaker bỏ đi trong giận dữ. Sau đó ông tập họp ba trung đội trưởng và kể lại vụ này."Nếu chúng ta bị tấn công đêm nay--hãy nói cho lính tráng điều này--trong mọi tình huống ko ai được phép cho tên khốn kiếp này nhảy vào lổ của mình. Đây là lịnh."

Trận tấn công bằng cối đã xảy ra như sĩ quan này trông đợi. Ngay trước khi trời tối, trong khi y đang đứng gần bch ở trung tâm của bãi đáp, y đã nghe những tiếng nổ từ những ngọn đồi chung. Trong chớp nhoáng, 15 đến 20 viên đạn cối đã rơi trúng những ổ súng lộ thiên, hạ gục nhiều pháo thủ. Trong chưa tới một phút, phân nửa của 30 pháo thủ đã bị thương vong vì miểng pháo. Sau đợt pháo đầu tiên, các xạ thủ địch đã ngưng một lúc, sau đó bắt đầu rải đạn cối từ đầu đến cuối của bãi đáp. Trong ánh chớp của tiếng nổ, Schumaker đã nhìn thấy nhiều người bị tung lên khỏi mặt đất và gục ngả rải rác quanh các ụ súng. Ngay lúc đó hàng chục tiếng rên la vì đau đớn và gọi y tá. Một số ít ko bị thương đã hướng súng về vị trí đặt cối của địch và bắn trả.

Schumaker đã bắt đầu chạy vòng quanh chu vi phòng thu để kiểm tra tình hình, kêu gọi lính tráng coi chừng bộ binh địch tấn công. Và bây giờ, địch pháo khắp bãi đáp. Trong khi di chuyển trong bãi đáp, Schumaker đã hai lần té ngả vì pháo. Y nhìn thấy đạn cối nổ khắp nơi.

Khi trở về bch của y, viên trung úy đã thấy một kẻ rên rỉ cách y mười bộ Anh và đang hấp tấp đào đất bằng tay. Y đã quì xuống bên cạnh để giúp người này, và nhận ra đó là anh phóng viên. Quần áo anh này rách bươm và cháy xém, và lại còn bị trúng vài mảnh cối. 

"Tôi có băng cá nhân," Schumaker nói. "Anh muốn tôi băng bó cho anh?"

"Không," người này nói, trong khi vẫn đào. "Tôi cũng ko muốn biết tôi đã bị thương như thế nào."

Schumaker trở lại bch và lấy một cái xẻng và mang lại cho anh phóng viên. "Thử cái này. Tôi nghĩ anh sẽ làm tốt hơn."

Schumaker mong rằng sẽ tìm được một an ủi nào đó trên gương mặt anh nhà báo này, nhưng y ko thấy. Tình hình tại bãi đổ quân quá thảm. Người bị thương khắp nơi, và pháo kích ngày càng gia tăng.

Schumaker cảm thấy rằng y phải làm điều gì để ngừng việc này và đã quyết định thử một mẹo mà y đã học từ một trung sĩ già tại Fort Benning về làm thế nào để đo (gauge) hướng và khoảng cách của một vị trí cối của địch. Đứng ở trung tâm của bãi đổ quân, y đã thấy hai quả cối rơi trúng và lấy ngay địa bàn đo đạt; sau đó chạy đến bch tđ để cung cấp thông tin này cho sĩ quan phối hợp hỏa lực. Tuy nhiên, người này ko đếm xỉa đến y và vẫn cứ núp trong hố.

"Trở về đ.đ. của anh," một sĩ quan khác trong bch la lên. ""Anh đang kéo pháo về chúng tôi."

Giận dữ vì lời quở trách (rebuff) này và cảm thấy minh khờ dại thế nào đó, y đã trở lại bch của mình. Đi được 5 mét y đã gục ngả hai lần bởi miểng cối, nhưng ko bị thương.

TƯỚNG JIM SMITH ĐẾN BÃI ĐÁP TRONG LÚC PHÁO KÍCH 

Trên đường đi, y đã dừng ở một vị trí đặt cối, lúc đó đang hoảng loạn. Chỉ có một khẩu còn bắn, nhưng bàn tiếp hậu (base plate) đã lún sâu một bộ Anh. Trong khi y đứng ở đó, một trực thăng đã đáp xuống ngay phía bắc của các ụ súng này. Đó là một trực thăng C-and- C của tướng Jim Smith, phụ tá tư lịnh của sđ 101 Nhảy Dù. 

Trong khi các y tá đưa thương binh lên trực thăng của tướng Smith, Schumaker đã cố gắng thông báo (apprise) tình hình cho tướng quân. Nhưng tướng ko cần. Vào lúc đó, một hỏa châu, bắn đi từ một căn cứ hỏa lực ở phía đông của thung lũng, nổ trên đầu. Dưới ánh sáng này, tướng Smith đã thấy điều ông muốn thấy. Với ánh mắt ko có thần (blankly), ông đã nhìn ba pháo thủ nằm nghiêng, chân cẳng cong quẹo do trúng pháo, rồi ông nhìn người bị thương khắp nơi và nói,"Đây là một tấn công bằng đạn cối mà tôi chưa bao giờ thấy." Ngay cả trong lúc tướng Smith nói, hai hay ba quả cối đã rơi gần máy bay của ông làm máy bay trúng miểng. 

May mắn cho bãi đổ quân này, một máy bay Hỏa Long AC-47 Spooky đã tới kịp thời. Nó bay vòng rất chậm trên bãi đáp này, hai động cơ kêu o o như ong kêu. Schumaker kêu hiệu thính viên và nói chuyện với phi công góc phương vị (azimuth) và tầm đạn, mà y đã tính khoảng 3.000 mét.

Máy bay quat về phía bắc và chẳng bao lâu đã ở trên vị trí địch. Thật lạ lùng, dù thấy máy bay Hỏa Long, các xạ thủ địch đã ko bỏ chạy, mà còn tiếp tục bỏ đạn vào nòng. Sau chưa tới một phút trên khu vực, phi công đã nhận ra tia chớp từ các nòng súng. Y lướt xuống trả thù bằng những khẩu minigun 6-nòng. Hai mươi giây sau đó, máy bay đã bắn trúng nơi chứa đạn cối khiến một tiếng nổ vang dội đã xé nát khu rừng chung quanh, xóa tan (oblirate) vị trí này và những người trên đó.

Khi nghe tiếng nổ và sau đó nói chuyện với phi công Hỏa Long, Schumaker đã cảm thấy nhẹ nhỏm, nhưng y ko có gì hãnh diện. Bãi đáp của TĐ chỉ còn là đống đổ nát và sĩ quan này nghĩ rằng nếu bộ binh địch đã phối hợp nhịp nhàng với tấn công bằng cối, chúng có thể giết hay làm bị thương mọi người ở bãi đáp này. Y đã cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy khắp xương sống. 

Dịch từ trang 75-98 của Hamburger Hill hay Đồi Thịt Bầm của Samuel Zaffiri.

San Jose ngày 25 tháng 12 năm 2020

Tài Trần

HÀNH QUÂN NICKEL GLASS 

Vào ngày 12/12, Nixon quyết định ko thể trì hoản nửa, và ra lịnh không quân sẽ 'gửi những gì mà họ chở được'. Trong vòng 9 giờ, các máy bay C-141 và C-5 lên đường tới Israel.

Các nước Âu châu hầu như ko muốn máy bay Mỹ ghé qua, trừ Bồ đào nha - cho phép Mỹ dùng sân bay Lajes trên đảo Azores. Các máy bay C-135 của KQ chiến lược Mỹ rời căn cứ Pease, bang New Hampshire đêm 13/10; các máy bay này (chỡ các máy bay A-4 Skyhawk và F-4 Phantom mới xuất xưởng) đã bay ko nghỉ từ nhà máy ở St Louis, Missouri tới phi cảng Ben Gurion của Israel. Để tuân thủ các yêu cầu của các nước Âu châu khác, hàng tiếp liệu của Mỹ có sẵn ở Âu châu đc chuyển tới sân bay Lajes của BDN, và chẳng bao lâu mỗi ngày hơn 30 máy bay di chuyển qua Lajes.
. . .
Từ đảo Azores của BDN tới Israel, máy bay phải bay ở giữa Địa trung hải để tới Israel. Các chiến đấu cơ của hạm đội 6 hộ tống chúng tới cách Isreal 240 km, sau đó máy bay Israel hộ tống tới sân bay Ben Gurion. Chiếc C-5 A Galaxy đầu tiên tới sân bay Lod lúc 18.30 giờ địa phương ngày 14.10.73. Cùng ngày trận Sinai kết thúc với thắng lợi của Israel.. .
Trong những ngày đầu của cuộc chiến Yom Kippur, một số đáng kể máy bay Israel bị hủy diệt vì hỏa tiển đối không SA-6 của LX. Do đó ít nhứt 100 F-4 Phantom đc gửi tới Israel. Chúng bay tới sân bay Lod, nơi mà chúng đc giao lại cho phi công Israel. Sau khi gở huy hiệu của kq Mỹ và thay bằng của Israel, máy bay đc tiếp xăng và ra ngay mặt trận, thường chỉ vài giờ sau khi đến Israel. Một số chiếc còn màu ngụy trang của kq Mỹ, trừ huy hiệu của Israel. 9 ngày sau khi bị tấn công, Israel đã phản công.
còn tiếp
Operation
Initially, only the Israeli national airline, El Al, provided transport, and supplies began to arrive in Israel on 10 October, the same day the first Soviet resupply by air arrived in Damascus. Nonetheless, it was soon clear that El Al's limited supply of ill-configured passenger aircraft were insufficient//. Still wanting to avoid direct US involvement, starting 10 October, the use of commercial carriers was explored to provide 10–20 flights a day.[3]:112 None of these were willing to accept the job for fear of being refused entry to Arab nations after the war.[1][9] On 12 October, Nixon decided that no more delays could be allowed, and ordered the air force to "send everything that can fly."// Within nine hours, C-141s and C-5s were en route to Israel.[1] The political maneuvering was not immediately solved by the air force's participation however: traditional European allies refused to allow re-supply aircraft to land for refueling or even overfly their territory. Portugal seemed willing to help though, so aircraft were dispatched to Lajes Field in the Azores Islands/// After a few hours in the air, word came through that Portugal would permit them to land, and Lajes became a key staging point for the rest of the airlift. Strategic Air Command (SAC) KC-135As were the first to arrive at Lajes Air Base/// . The Stratotankers had left Pease AFB, New Hampshire, the night of Saturday, 13 October (one of the bases El Al was using to re-supply the war effort); the tankers were ferrying factory-fresh Douglas A-4 Skyhawk and McDonnell Douglas F-4 Phantom II aircraft flying non-stop from the factory in St. Louis, Missouri to Ben Gurion Airport. To comply with the demands of other European nations, even U.S. supplies already stationed in Europe were routed through Lajes, and soon over thirty aircraft per day were moving through Lajes. To accommodate this, the base grew to house an extra 1,300 people who were billeted in improvised housing and hastily reactivated World War II barracks, rooms that would normally accommodate one or two enlisted men were expanded to four (2 bunk-beds).[10]
Between Portugal and Israel, the aircraft had to follow an extremely precise route. Flying exactly along the airspace border between hostile Arab nations to the south and European nations to the north, the transport craft flew down the middle of the Mediterranean Sea to Israel.[1] Fighter escort was deemed necessary for this leg of the journey, so American fighters from the U.S. 6th Fleet escorted the transports to within 150 miles (240 km) of Israel, where Israeli Air Force Phantoms and Mirages escorted them into Ben Gurion Airport. Along the Mediterranean route, American ships were stationed every 300 miles (480 km), and an aircraft carrier every 600 miles (970 km). These precautions appeared justified when unidentified Arab fighters made threats over the radio, but no conflict ensued. Upon arrival, the transports were unloaded by U.S. and Israeli servicemen before they returned home and supplies were expedited to the front where they arrived within a few hours. The first C-5A Galaxy transport airplane arrived at Lod airport at 18:30 local time on 14 October.[3]:114 That same day the Battle of the Sinai had concluded in Israel's favor. A major Egyptian thrust had been stopped with the destruction of many attacking tanks, and Israel was now winning the war.[2]:87–88
An A-4E landing on USS Franklin D. Roosevelt in October 1973.
Airlifted supplies were not all that was delivered under Nickel Grass. In the opening days of the war, Arab forces destroyed significant numbers of Israeli Air Force aircraft, surprising the Israelis with aggressive use of the new Soviet SA-6 Gainful surface-to-air missile.[11] Consequently, at least 100 F-4 Phantom II fighters were sent to Israel under Nickel Grass,[12] coming from the 4th Tactical Fighter Wing, the 33d Tactical Fighter Wing and the 57th Fighter Weapons Wing.[13] They were flown to Lod, where American pilots were swapped for their Israeli counterparts. After the replacement of USAF insignia with IAF insignia if needed, the planes were refueled and ordered to the front, often taking to the air within hours of having arrived. Some aircraft came directly from the USAFE fleet and operated in USAF camouflage,[7] but with Israeli insignia, thus earning the Israeli nickname "Frog". Nine days after the initial attack, Israel launched counterattacks. Thirty-six A-4 Skyhawks from U.S. stocks, staging from Lajes were refueled by SAC KC-135A tankers from Pease Air Force Base, New Hampshire and U.S. Navy tankers from the USS John F. Kennedy (CVA-67) west of the Strait of Gibraltar. They then flew on to the USS Franklin D. Roosevelt (CVA-42) southeast of Sicily where they stayed overnight, then continued on to Israel refueling once more from tankers launched from the USS Independence (CVA-62) south of Crete.[14] Twelve C-130E Hercules transports were also transferred to Israel, the first of the type to be delivered to the IDF/AF.[15]
When the third cease-fire resolution was finally implemented on October 24, the airlift immediately slowed. Further flights were made to rebuild Israeli forces to their pre-war strength, and Operation Nickel Grass was ended on 14 November. In the end, the military airlift shipped 22,325 tons of materiel to Israel. Additionally, the United States conducted its own seaborne re-supply operation, delivering 33,210 tons to Israel by 30 October.[16] During the same general time, the Soviets airlifted 12,500–15,000 tons of supplies, more than half of which went to Syria; they also supplied another 63,000 tons mainly to Syria by means of a sealift.[16][17]

KHỦNG HOẢNG DẦU HỎA NĂM 1973 

Đọc bài này để thấy , để cứu Do Thái (Israel) khỏi bị tiêu diệt bởi Khối Á Rập trong các năm 1973-74, Mỹ buộc phải hy sinh VN.

"Tháng Giêng 1973 - Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán 1973-74 bắt đầu như là kết quả của áp lực lạm phát và hệ thống tiền tệ sụp đổ.
- Tháng 8/73 - để chuẩn bị cho cuộc chiến Yom Kippur, vua Faisal của Á-rập Sau-đi và TT Ai Cập Anwar Sadat gặp nhau và thương lượng bí mật v/v các nước Á rập sẽ dùng 'vũ khí dầu hỏa' như một phần của xung đột quân sự.
Ngày 6/10 - Ai cập và Syria tấn công nhiều vị trí Do thái vào ngày lễ Yom Kippur, bắt đầu cuộc chiến Á rập - Do thái 1973.
Đêm 8/10 - Do thái báo động chiến tranh hạt nhân toàn diện. Kissinger đc báo về điều này sáng 9/10. Mỹ bắt đầu tái tiếp tế cho Do thái.
8-10/10 - Các cuộc thương lượng của OPEC (các nước sx dầu hỏa) với các cty dầu hỏa lớn - để xét lại thỏa thuận 1971 tại Tehran về giá dầu - bị thất bại.
Ngày 12/10 - Mỹ bắt đầu Chiến dịch Nickel Grass, một cầu không vận chiến lược để cung cấp vũ khí thay thế và tiếp liệu cho Do thái. LX cũng làm như vậy để giúp phe Á rập.
Ngày 16/10 - Á rập Sau đi, Iran, Iraq, Abu Dhani, Kuwait và Quatar tăng giá dầu thêm 17/100 thành $3.65 mỗi thùng và thông báo cắt giảm sản xuất.
Ngày 17/10 - các nước OPEC thỏa thuận dùng dầu để tác động đến sự giúp đở của phương Tây với Do thái. Họ khuyến cáo một cấm vận đối với các nước không tuân thủ và cam kết giảm xuất khẩu dầu.
Ngày 19/10 - Nixon yêu cầu Quốc hội CHUẨN CHI HAI TỈ ĐÔ
(bằng 11,510,728.910 đô năm 2019) để giúp đở khẩn cấp cho Do thái, đã gây một phản ứng tập thể của các nước Á rập. Libya lập tức tuyên bố cấm vận xuất khẩu dầu tới Mỹ. Á rập Sau đi và những nước Á rập sx dầu theo sau ngày kế.
26/10 - Trận chiến Yom Kippur chấm dứt.
5/11 - Các nước Á rập sx dầu tuyên bố giảm 25/100 sản lượng. Dọa cắt thêm 5/100.
23/11 - Cuộc cấp vận dầu mở rộng tới Bồ Đào Nha, Rhodesia và Nam Phi. (Lúc đầu chỉ có Canada, Japan, Hòa Lan, Anh và Mỹ . Tính tới khi cấm vận chấm dứt tháng 3/74, giá dầu tăng gần 400/100, từ 3 đô/thùng lên gần 12 đô toàn cầu; giá tại mỹ cao hơn - Tài)
27/11 - Nixon ký luật cho phép CP kiểm soát giá cả, sản xuất, phân phối , tiếp thị dầu hỏa.
9/12 - Các nước Á rập sx dầu đồng ý cắt giảm thêm 5/100 đối với các nước ko thân thiện vào tháng giêng 1974.
NGÀY 25/THÁNG 12 - Phe Á rập hủy bỏ việc cắt giảm vừa kể. BT dầu hỏa Ahmed Zaki Yamani của Á rập Sau đi hứa hẹn gia tăng 10/100 của sản lượng dầu của cả khối.
7-9/1/1974 - Các nước OPEC quyết định giữ giá dầu tới 1/4/74.
18/1/74 - Do thái tuyên bố rút quân về bờ đông của Kinh Suez.
Ngày 12-14/1/ - Tiến bộ trong hòa đàm giữa Á rập - Do thái đã khiến các nước như Algeria, Ai cập, Syria và Sau đi thảo luận về chiến lược dầu hỏa.
Ngày 5/3 - Do thái rút những đv cuối cùng khỏi bờ tây của Kinh Suez.
17-3 - Các nước Á rập, trừ Lybia, tuyên bố chấm dứt cấm vận.
Ngày 31/5 - Chính sách của Kissinger tạo ra hòa bình trên mặt trận Syria.
Tháng 12/1974 - Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán chấm dứt".
Hình : Đại bác 155 ly tự hành M-60 của Mỹ đc gửi tới Do Thái trong năm 73.
Một nhận xét nhỏ: năm 1973, tại SG, nhiều em nhỏ đã phải bóc vỏ cây để có củi nhóm bếp.