Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Showing posts with label đại tá đặng phương thành. Show all posts
Showing posts with label đại tá đặng phương thành. Show all posts
Thursday, July 20, 2023
Monday, April 29, 2019
TRẬN BẾN TRANH THÁNG 4/1975:
CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG* CỦA QUÂN VÀ DÂN VNCH.
Dịch giả: Tài Trần, cựu quân nhân của trung đoàn 10 SĐ 7 bộ binh VNCH.
* Sau đây là bài viết của một nhà báo Pháp về chiến thắng của trung đoàn 12 sư đoàn 7 bộ binh VNCH tại Bến Tranh trong tháng 4/75. Nếu tôi ko lầm, đây là chiến thắng LỚN và CUỐI CÙNG của một đơn vị LỚN của VNCH được cả thế giới biết. Vì sau đó tới ngày 30.4.75 vẫn có những trận đánh quyết tử, trong tuyệt vọng của những đv nhỏ hơn VNCH đang trên đường rút lui, như liên đoàn 81 Biệt Cách Dù hay TĐ 82 BĐQ của thiếu tá Vương Mộng Long, v.v...
(Dịch từ tuần báo Pháp Paris-Match số 1352 ngày 26/4/1975)
. . .
CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG* CỦA QUÂN VÀ DÂN VNCH.
Dịch giả: Tài Trần, cựu quân nhân của trung đoàn 10 SĐ 7 bộ binh VNCH.
* Sau đây là bài viết của một nhà báo Pháp về chiến thắng của trung đoàn 12 sư đoàn 7 bộ binh VNCH tại Bến Tranh trong tháng 4/75. Nếu tôi ko lầm, đây là chiến thắng LỚN và CUỐI CÙNG của một đơn vị LỚN của VNCH được cả thế giới biết. Vì sau đó tới ngày 30.4.75 vẫn có những trận đánh quyết tử, trong tuyệt vọng của những đv nhỏ hơn VNCH đang trên đường rút lui, như liên đoàn 81 Biệt Cách Dù hay TĐ 82 BĐQ của thiếu tá Vương Mộng Long, v.v...
(Dịch từ tuần báo Pháp Paris-Match số 1352 ngày 26/4/1975)
. . .
"Quận Bến Tranh
"Mỹ Quới, 150 dân làng đã được tập trung tại sân làng khi chúng tôi tới. Những người này không đi ra đồng sáng nay. Trong tầm nhìn của mắt, vùng châu thổ rạn nứt này, ngoại trừ lửng lơ những đám sương mù, còn lại là trong vắt (a perte de vue, le delta craquele, sur lequel flottent de echarpes de brume, est vide). Xa xa, xuất hiện những cụm khói (au loin, des fumées d'explosion), đó là những khẩu 105 của pháo binh chánh phủ đang giã/nện (pilonner) những tàn quân của một trung đoàn quân Bắc Việt xâm nhập, đã bị tiêu diệt hôm trước (s'est fait anéantir la veille).
Đó là hòa bình và đó là chiến tranh. Vùng châu thổ này luôn luôn có hai bộ mặt. Trong khúc quanh của con kinh (la boucle de l'arroyo) chảy vòng qua làng, nổi lên những xác chết sình chướng và đen kịt (gonfles et noirs).
"Mỹ Quới, 150 dân làng đã được tập trung tại sân làng khi chúng tôi tới. Những người này không đi ra đồng sáng nay. Trong tầm nhìn của mắt, vùng châu thổ rạn nứt này, ngoại trừ lửng lơ những đám sương mù, còn lại là trong vắt (a perte de vue, le delta craquele, sur lequel flottent de echarpes de brume, est vide). Xa xa, xuất hiện những cụm khói (au loin, des fumées d'explosion), đó là những khẩu 105 của pháo binh chánh phủ đang giã/nện (pilonner) những tàn quân của một trung đoàn quân Bắc Việt xâm nhập, đã bị tiêu diệt hôm trước (s'est fait anéantir la veille).
Đó là hòa bình và đó là chiến tranh. Vùng châu thổ này luôn luôn có hai bộ mặt. Trong khúc quanh của con kinh (la boucle de l'arroyo) chảy vòng qua làng, nổi lên những xác chết sình chướng và đen kịt (gonfles et noirs).
![]() |
| Đại Tá Đặng Phương Thành. Vì nghe lời khuyên của cha mẹ nên ông ở lại, đi tù và bị đày ra Bắc. Ông trốn trại, bị vệ binh xúm nhau đánh chết |
![]() |
| Bến Tranh: Một người lính VNCH cho 13 tù binh CSBV uống nước |
![]() |
| Tù binh CSBV tại Bến Tranh |
Cách đây hai ngày, Mỹ Quới đã là bộ chỉ huy của quân Bắc Việt. Trên ngưỡng cửa của một ngôi nhà, một người đàn ông với nét mặt đầy sợ hãi (aux yeux remplis de frayeur), đang ngồi, được canh gác bởi ba nghĩa quân (trois villageois en armes). "Người này trước đây là chính ủy của trung đoàn "(c'était le commissaire politique du regiment), Đại Tá Thành (chỉ huy trung đoàn 12 sư đoàn 7 bộ binh VNCH) giải thích cho tôi. Mập nhưng lùn (trapu), gương mặt tròn nhưng với nét cứng cỏi (les traits fermes), Đại Tá Thành đã hành quân (ratisser) vùng châu thổ này từ nhiều tháng. Ông nhìn chăm chú cánh đồng chỉ còn bùn khô, ngăn cách bởi những con đê nhỏ, và thì thầm: "Còn nữa". (Il scrute la plaine de boue sèche, quadrillee par les diguettes, et murmure: "Il y en a encore"). Ông nói như một sĩ quan Pháp của thập niên 1950. Tôi nói như vậy với ông, ông trả lời: "vùng châu thổ là vậy" (C'est la delta).
Nhưng bên dưới những bụi chuối (bananeraie), tạo bóng mát cho làng, những cô gái trẻ mặc áo lụa trắng đang phì cười (pouffent de rire), những đứa nhỏ ở truồng vừa đuổi nhau vừa la trước mỗi nhà - những ngôi nhà bằng đất với lớp vữa màu xanh (maisons en dur, enduites de crepi bleu). Có nhiều lu lớn đựng nước ngọt mà những thanh niên có thể dùng những cái lon bằng thiếc để múc uống hay rảy nước cho mát (des gobelets de fer blanc pour boire et s'asperger). Nguời ta vừa lấy những xác dưới kinh, sẽ chôn cất và mọi việc sẽ cũng như trước. Cho tới đêm kế (jusqu'à la nuit prochaine).
Bởi vì đó là đêm mà các đặc công Bắc việt xâm nhập vào các làng để đe dọa các trưởng làng, trừng phạt những nông dân không tuân lịnh Việt cộng (châtier les paysans qui ne se plient pas aux consignes du Viet-cong). Giống như thời người Pháp còn hiện diện. Vùng châu thổ này, với một triệu người đang nuôi 20 triệu người, có thể nuôi toàn nước Việt Nam. Đây là vùng đất màu mỡ/phì nhiêu (fertile) nhất Đông-Nam-Á. Không có vùng châu thổ, Sài Gòn sẽ là một thành phố chết. Do đó mà tại sao Đại Tá Thành theo dõi, trong khu vực bao la này, nơi mà người ngoại quốc phải dựa vào địa bàn để di chuyển, những trung đoàn Bắc Việt phân tán thành từng toán nhỏ, giấu mình trong những ao (trous d'eau), đào những đường hầm dưới các đê và đôi khi sống dưới đó trong nhiều tháng.
Người nông dân vùng châu thổ không thích Việt cộng. Và đối với họ, một người miền Bắc là một người Esquimau. Mỗi ấp có nghĩa quân trang bị vũ khí nhẹ. Ở phía bắc của vùng châu thổ, những người Hòa Hảo, một giáo phái có màu sắc chính trị tổ chức thành một đạo quân thật sự, đã thành công khi làm khiếp đảm những phần tử liều lĩnh nhứt của đội quân quyết tử của Hà Nội. Nhưng những người nông dân này cũng ghét những công chức của Sài Gòn tham nhũng (ranconner) và không biết lội ruộng (ne savent pas marcher dans les rizières). Họ có một danh từ để chỉ những người này: đó là những người mang túi/bị gạo (ce sont ceux qui emportent les sacs de riz.
Chúng ta đang ở Á châu và người nông dân đang chờ để biết ai sẽ là kẻ mạnh nhứt. Chính kẻ mạnh nhứt sẽ làm chủ vùng châu thổ này. Vào lúc này, vị đại tá khỏe mạnh này đang giữ quận Bến Tranh trong tay cho chính quyền VNCH ở Sài Gòn. Không nắm vững tình hình, người nông dân không biết tới sự thảm bại mới đây (ý nói sụp đổ của các tỉnh miền trung.-Tài) và hơn nữa, họ còn cười vì nghĩ rằng nó quá xa nơi họ đang sống.
Nhưng nếu Bắc quân, tại Xuân Lộc đang cầm chân những lực lượng giỏi nhứt của Sài Gòn, đột nhiên lại tấn công vùng châu thổ?
Chúng tôi tiếp tục trợt lên trợt xuống (trebucher) trên những bờ ruộng, tới Ấp Bắc. Vẫn còn những thiếu nữ với hoa cài trên tóc. Vẫn còn những đứa trẻ nô đùa vài mét cách các xác sình chướng và nám đen. Vẫn còn xuất hiện những nghĩa quân bảo vệ làng của họ. Nhưng họ sẽ chống được ai?
Chúng tôi vào nhà của xã trưởng. Có tám đứa nhỏ trên bộ ván gỗ lớn. Một bà lão đang đang cắm hoa trước bàn thờ ông bà. Vị xã trưởng chào đại tá.
- "Làng này thì bảo đảm".
Đại Tá nói.
Nhưng ông ta nhìn ra xa, hướng về các bụi chuối mà sức nóng của buổi trưa làm chúng lung linh dưới ánh mặt trời, như địch quân đang ẩn núp ở đó.
Tại Sài Gòn, trong một con đường rộng, kế khách sạn Continental, có một người đàn bà nhỏ thó đang sống, mảnh khảnh nhưng hoạt bát (menue et vive), vừa làm trung gian (interposer) giữa hai kẻ thù không đội trời chung, Tổng Thống Thiệu và Việt cộng. Đó là bà Ngô Bá Thành. Bà mời các phóng viên quốc tế đến vườn nhà bà. Đối với người nước ngoài, bà tượng trưng cho lực lượng thứ ba. Ở Washington, Paris, London, và có thể ở Moscow người ta lắng nghe bà. Người ta coi bà như một lực lượng để thay thế. Người ta cũng đang theo dõi một viên tướng mà giá trị lớn nhứt của ông là vẫn còn im lặng. Đó là Minh lớn. Người ta đồn đãi rằng ông sắp tái xuất giang hồ. Nhưng dân Sài Gòn, mỗi đêm hướng lổ tai về Xuân Lộc, chỉ có thể nghe tiếng đại bác của Bắc quân./."
Bài của ký giả Francois Caviglioli của tuần báo Paris-Match.
Nhưng bên dưới những bụi chuối (bananeraie), tạo bóng mát cho làng, những cô gái trẻ mặc áo lụa trắng đang phì cười (pouffent de rire), những đứa nhỏ ở truồng vừa đuổi nhau vừa la trước mỗi nhà - những ngôi nhà bằng đất với lớp vữa màu xanh (maisons en dur, enduites de crepi bleu). Có nhiều lu lớn đựng nước ngọt mà những thanh niên có thể dùng những cái lon bằng thiếc để múc uống hay rảy nước cho mát (des gobelets de fer blanc pour boire et s'asperger). Nguời ta vừa lấy những xác dưới kinh, sẽ chôn cất và mọi việc sẽ cũng như trước. Cho tới đêm kế (jusqu'à la nuit prochaine).
Bởi vì đó là đêm mà các đặc công Bắc việt xâm nhập vào các làng để đe dọa các trưởng làng, trừng phạt những nông dân không tuân lịnh Việt cộng (châtier les paysans qui ne se plient pas aux consignes du Viet-cong). Giống như thời người Pháp còn hiện diện. Vùng châu thổ này, với một triệu người đang nuôi 20 triệu người, có thể nuôi toàn nước Việt Nam. Đây là vùng đất màu mỡ/phì nhiêu (fertile) nhất Đông-Nam-Á. Không có vùng châu thổ, Sài Gòn sẽ là một thành phố chết. Do đó mà tại sao Đại Tá Thành theo dõi, trong khu vực bao la này, nơi mà người ngoại quốc phải dựa vào địa bàn để di chuyển, những trung đoàn Bắc Việt phân tán thành từng toán nhỏ, giấu mình trong những ao (trous d'eau), đào những đường hầm dưới các đê và đôi khi sống dưới đó trong nhiều tháng.
Người nông dân vùng châu thổ không thích Việt cộng. Và đối với họ, một người miền Bắc là một người Esquimau. Mỗi ấp có nghĩa quân trang bị vũ khí nhẹ. Ở phía bắc của vùng châu thổ, những người Hòa Hảo, một giáo phái có màu sắc chính trị tổ chức thành một đạo quân thật sự, đã thành công khi làm khiếp đảm những phần tử liều lĩnh nhứt của đội quân quyết tử của Hà Nội. Nhưng những người nông dân này cũng ghét những công chức của Sài Gòn tham nhũng (ranconner) và không biết lội ruộng (ne savent pas marcher dans les rizières). Họ có một danh từ để chỉ những người này: đó là những người mang túi/bị gạo (ce sont ceux qui emportent les sacs de riz.
Chúng ta đang ở Á châu và người nông dân đang chờ để biết ai sẽ là kẻ mạnh nhứt. Chính kẻ mạnh nhứt sẽ làm chủ vùng châu thổ này. Vào lúc này, vị đại tá khỏe mạnh này đang giữ quận Bến Tranh trong tay cho chính quyền VNCH ở Sài Gòn. Không nắm vững tình hình, người nông dân không biết tới sự thảm bại mới đây (ý nói sụp đổ của các tỉnh miền trung.-Tài) và hơn nữa, họ còn cười vì nghĩ rằng nó quá xa nơi họ đang sống.
Nhưng nếu Bắc quân, tại Xuân Lộc đang cầm chân những lực lượng giỏi nhứt của Sài Gòn, đột nhiên lại tấn công vùng châu thổ?
Chúng tôi tiếp tục trợt lên trợt xuống (trebucher) trên những bờ ruộng, tới Ấp Bắc. Vẫn còn những thiếu nữ với hoa cài trên tóc. Vẫn còn những đứa trẻ nô đùa vài mét cách các xác sình chướng và nám đen. Vẫn còn xuất hiện những nghĩa quân bảo vệ làng của họ. Nhưng họ sẽ chống được ai?
Chúng tôi vào nhà của xã trưởng. Có tám đứa nhỏ trên bộ ván gỗ lớn. Một bà lão đang đang cắm hoa trước bàn thờ ông bà. Vị xã trưởng chào đại tá.
- "Làng này thì bảo đảm".
Đại Tá nói.
Nhưng ông ta nhìn ra xa, hướng về các bụi chuối mà sức nóng của buổi trưa làm chúng lung linh dưới ánh mặt trời, như địch quân đang ẩn núp ở đó.
Tại Sài Gòn, trong một con đường rộng, kế khách sạn Continental, có một người đàn bà nhỏ thó đang sống, mảnh khảnh nhưng hoạt bát (menue et vive), vừa làm trung gian (interposer) giữa hai kẻ thù không đội trời chung, Tổng Thống Thiệu và Việt cộng. Đó là bà Ngô Bá Thành. Bà mời các phóng viên quốc tế đến vườn nhà bà. Đối với người nước ngoài, bà tượng trưng cho lực lượng thứ ba. Ở Washington, Paris, London, và có thể ở Moscow người ta lắng nghe bà. Người ta coi bà như một lực lượng để thay thế. Người ta cũng đang theo dõi một viên tướng mà giá trị lớn nhứt của ông là vẫn còn im lặng. Đó là Minh lớn. Người ta đồn đãi rằng ông sắp tái xuất giang hồ. Nhưng dân Sài Gòn, mỗi đêm hướng lổ tai về Xuân Lộc, chỉ có thể nghe tiếng đại bác của Bắc quân./."
Bài của ký giả Francois Caviglioli của tuần báo Paris-Match.
Hiệu đính ngày 6 tháng 10 2020.
Tuesday, March 26, 2019
II/ Đi Tìm Tung-Tích Người Anh-Hùng Đặng Phương Thành:
Trước đây nhiều năm, khi Hội Sử-Học Việt-Nam được biết sự tích anh dũng của cố đại tá Thành cùng Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 Bộ Binh, chúng tôi lập tức đăng tải lên trang web http://www.truclamyentu.info. Lúc bấy giờ Hội chỉ có một vài chi tiết rất lờ mờ về sự hy sinh của ông. Do đó, đã có một lời kêu gọi ngắn những ai là thân nhân hay chiến hữu của ông vui lòng cung cấp cho chúng tôi di ảnh cũng như ngày ông khuất núi.
Sau một thời gian chờ đợi (khoảng 2 năm), chúng tôi nhận được liên lạc của gia đình cố đại tá Thành, liên quan đến ngày ông khuất núi. Và mãi gần 4 tháng sau, mới có được di ảnh của ông.
Ngày 09/09/2011 (Kỷ niệm ngày ông khuất núi), Hội đã vinh danh ông là Danh Nhân Quân Sự Việt Nam, đồng thời chép sự tích thần kỳ của ông vào quyển Thần Việt Điện 2010
Nhưng còn một điều chúng tôi vẫn hằng ưu tư là chưa có được bài tường thuật chiến thắng lẫy lừng sau cùng của Quân Đoàn IV Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
May mắn thay, cố đại tá Thành đã đưa một cựu sĩ quan báo chí thuộc sư đoàn 7 bộ binh (ám chỉ tôi là người đã chuyển ngữ bài phỏng vấn ĐT Thành của báo Paris-Match-- Tài) đến với trang truclamyentu.info của chúng tôi. Di nguyện cuối cùng của cố đại tá Thành đã được hoàn tất.
Tương tự như trường hợp của cố Đại tướng Nguyễn Văn Hiếu khi viết Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam cũng như chư vị tướng lãnh trong Thập Nhất Đại Thần Tướng Việt Nam.
Riêng về tấm hình phóng viên Paris-Match chụp đại-tá Thành và phổ biến trên số 1352 ngày 26-04-1975, chúng tôi may mắn có được bản chính do anh Trần-Tú-Tài cung cấp thông tin và sau đó đã đặt mua được trên chợ Amazon.
Quả thật cố đại tá Đặng Phương Thành đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều để có thể bổ túc những thông tin về ông (thông tin đăng ngày 30-10-2011 trên trang quansuvn.info)
IV/ Anh-Hùng Bất-Tử Đặng-Phương-Thành:
Paris Match Phỏng Vấn Đại Tá Đặng-Phương-Thành Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 Sư-đoàn 7 Bộ-Binh Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, Sau Chiến Thắng Bến-Tranh Trong Tháng 04-1975.
(1940-1976)
Anh hùng Đặng Phương Thành, Đại tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 Sư đoàn 7 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương (04/1975).
Hình Paris-Match số 1352 ngày 26-04-1975 chụp đại-tá Đặng-Phương-Thành sau chiến thắng Bến-Tranh (hàng chữ ghi chú bằng tiếng Pháp Le colonel Thanh défend le delta du Mékong nghĩa là Đại-tá Thành người bảo-vệ đồng-bằng sông Cửu-Long)
Đại tá Thành đã tạo nên chiến thắng lớn nhứt và cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để rồi chết thảm thương trong trại tù Cộng sản sau một trận trốn trại thất bại. Sau đây đoạn phỏng vấn Đại tá Thành trong bài báo trên; Chuyển ngữ Trần-Anh-Tú.
Mỹ Qưới. 150 dân làng đã tập trung tại sân làng khi chúng tôi tới. Những người này không đi ra đồng sáng nay. Trong tầm nhìn của mắt, vùng Châu Thổ rạn nứt này, ngoại trừ lửng lơ những đám sương mù, còn lại là trong vắt. Xa xa, xuất hiện những cụm khói, đó l những khẩu 105 của pháo binh chánh phủ đang giã/nện (pilonner) những tàn quân của 1 trung đoàn quân Bắc Việt xâm nhập, đã bị tiêu diệt hôm trước.
Đó là hòa bình và đó là chiến tranh. Vùng châu thổ này luôn luôn có hai bộ mặt. Trong khúc quanh của con kinh chảy vòng qua làng, nổi lên những xác chết sình chướng và đen kịt. Cách đây hai ngày, Mỹ Qưới đã là bộ chỉ huy của quân Bắc Việt. Trên ngưỡng cửa của một ngôi nhà, một người đàn ông với nét mặt đầy sợ hãi, đang ngồi, được canh gát bởi ba Nghĩa Quân “người này trước đây là chính ủy Trung đoàn” (C’était le commissaire politique du regiment), đại tá Thành giải thích cho tôi. Mập nhưng lùn, gương mặt tròn nhưng với nét cứng cỏi, Đại tá Thành đã hành quân vùng châu thổ này từ nhiều tháng. Ông nhìn chăm chú cánh đồng chỉ còn bùn khô, ngăn cách bởi những con đê nhỏ, và thì thầm: “còn nữa”. Ông nói như một sĩ quan Pháp của thập niên 1950. Tôi nói như vậy với ông, ông trả lời: “vùng châu thổ là vậy” .
Nhưng bên dưới những bụi chuối (bananeraie), tạo bóng mát cho làng. Những cô gái trẻ mặc áo lụa trắng đang phì cười. Những đứa nhỏ ở truồng vửa đuổi nhau vừa la mỗi nhà. Những ngôi nhà bằng lớp đất với lớp vữa màu xanh. Có nhiều lu lớn đựng nước ngọt mà những thanh niên có thể dùng những cái lon bằng thiếc để múc uống hay rảy nước cho mát. Người ta vửa lấy những cái xác dưới kinh, sẽ chôn cất và mọi việc sẽ cũng như trước. Cho tới đêm kế.
Bởi vì đó là đêm mà các đặc công Bắc Việt xâm nhập vào các làng để đe dọa các trưởng làng, trừng phạt những nông dân không tuân lịnh Vit-cộng (chartier les paysans qui ne plient pas aux consignes du Viet-cong). Giống như thời người Pháp còn hiện diện, vùng châu thổ này, với mt triệu người đang nuôi 20 triệu người, có thể nuôi toàn nước VN. Đây là vùng đất màu mỡ nhất Đông-Nam-Á. Không có vùng châu thổ, Sài gòn sẽ là thành phố chết. Đo đó mà tại sao Đại tá Thành theo dõi, trong khu vực bao la này, nơi mà người ngoại quốc phải dựa vào địa bàn để di chuyển, những trung đoàn Bắc Việt phân tán thành từng toán nhỏ, dấu mình trong những ao (trous d’eau), đào những đường hầm dưới các đê và đôi khi sống dưới đó trong nhiều tháng.
Người nông dân vùng châu thổ không thích Việt cộng, và đối với họ, một người miền Bắc là một người Esquimau. Mỗi ấp có Nghĩa Quân trang bị vũ khí nhẹ, ở phía Bắc của vùng châu thổ, những người Hòa Hảo, một giáo phái có màu sắc chính trị tổ chức thành 1 đạo quân thật sự, đã thành công khi làm khiếp đảm những phần tử liều lĩnh nhất của đội quân quyết tử Hà Nội. Nhưng những người nông dân này cũng ghét những công chức của Sài Gòn tham nhũng (1) và không biết lội ruộng. Họ có mô danh từ để chỉ những người này: Đó là những người mang túi/bị gạo (ce sont ceux qui emprotent les sacs de riz). Chúng ta đang ở Á Châu và người nông dân đang chờ để biết ai sẽ là kẻ mạnh nhút. Chính kẻ mạnh nhứt sẽ làm chủ vùng châu thổ này. Vào lúc này, vị Đại tá khoẻ mạnh đang giữ quận Bến-Tranh trong tay cho chánh phủ Sài Gòn. Không nắm vững tình hình, người nông dân không biết tới sự thảm bại mới đây (ý nói sụp đổ của các tỉnh miền Trung) và, hơn nữa, họ còn cười vì nghĩ rằng nó quá xa nơi họ đang sống.
Nhưng nếu Bắc quân, tại Xuân Lộc đang cầm chân những lực lượng giỏi nhất của Sài Gòn, đột nhiên tấn công vùng châu thổ?
Chúng tôi tiếp tục, trợt lên trợt xuống trên những bờ ruộng, tới Ấp Bắc. Vẫn còn những thiếu nữ với hoa cài trên tóc. Vẫn còn những đứa trẻ nô đùa vài mét cách các xác sình chướng và nàm đen. Vẫn còn xuất hiện những Nghĩa Quân bảo vệ làng của họ. Nhưng họ sẽ chống được ai?
Chúng tôi vào nhà của xã trưởng. Có tám đứa nhỏ trên bộ ván gỏ lớn. Một bà lão đang cắm hoa trước bàn thờ ông bà. Vị xã trưởng chào Đại tá. “Làng này thì bảo đảm” Đại tá nói. Nhưng ông ta nhìn ra xa, hướng về các bụi chuối mà sức nóng của buổi trưa làm chúng lung linh dưới ánh mặt trời, như địch quân đang ẩn núp ở đó.
Tại Sài Gòn, trong 1 con đường rộng, kế khách sạn Continental, có một người đàn bà nhỏ thó đang sống, mảnh khảnh nhưng hoạt bát, vừa làm trung gian giữa hai kẻ thù không đội trời chung, Tổng thống Thiệu và Việt cộng. Đó là bà Ngô Bá Thành. Bà mời các phóng viên đến vườn nhà bà. Đối với người nước ngoài, bà tượng trưng cho lực lượng thứ ba, ở Hoa-Thịnh-Đốn, Paris, Luân-Đôn và có thể ở Moscow người ta lắng nghe bà. Người ta coi bà như lực lượng để thay thế. Người ta cũng theo dõi một viên tướng mà giá trị lớn nhứt của ông vẫn còn im lặng. Đó là Minh lớn. Người ta đồn rằng ông sắp tái xuất giang hồ. Nhưng dân sài Gòn, mỗi đêm hướng lỗ tay về Xuân-Lộc, chỉ có thể nghe tiếng đại bác của Bắc quân.
Ký giả Francois Caviglioli
Tiễn Người Bạn Thân
kính bái hương hồn Đại Tá Đặng-Phương-Thành
Trận đánh cuối cùng quân đoàn bốn
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Sáng danh quân sử cộng hoà
Ngàn năm vằng vặc chói loà thiên binh
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Sáng danh quân sử cộng hoà
Ngàn năm vằng vặc chói loà thiên binh
Trung đoàn trưởng Phương Thành đại tá
Lập chiến công gìn giữ nước non
Cộng quân táng đởm kinh hồn
Huân chương Bảo Quốc ghi ơn anh hùng
Lập chiến công gìn giữ nước non
Cộng quân táng đởm kinh hồn
Huân chương Bảo Quốc ghi ơn anh hùng
Hàng trăm xác ngổn ngang đồi trọc
Nức lòng dân quân lực miền Nam
Cớ sao chúng nỡ nhẫn tâm
Nga Tàu bánh vẽ tối tăm mịt mù
Nức lòng dân quân lực miền Nam
Cớ sao chúng nỡ nhẫn tâm
Nga Tàu bánh vẽ tối tăm mịt mù
Ngày ba mươi tháng tư tan tác
Tổng thống Minh bạc nhược đầu hàng
Cửu Long cuồn cuộn điên cuồng
Oán hờn ngùn ngụt tang thương não nùng
Tổng thống Minh bạc nhược đầu hàng
Cửu Long cuồn cuộn điên cuồng
Oán hờn ngùn ngụt tang thương não nùng
Thương cha mẹ bần cùng trình diện
Chúng biết người chiến trận năm xưa
Hiên ngang tỏ mặt anh hào
Đòn thù tới tấp thịt da máu trào
Chúng biết người chiến trận năm xưa
Hiên ngang tỏ mặt anh hào
Đòn thù tới tấp thịt da máu trào
Con hùm xám biệt khu giam giữ
Suốt ngày đêm quản giáo hỏi tra
Một hôm bỗng biến đi đâu
Chó săn lùng sục rừng sâu ngút ngàn
Suốt ngày đêm quản giáo hỏi tra
Một hôm bỗng biến đi đâu
Chó săn lùng sục rừng sâu ngút ngàn
Sân hận cũ trung đoàn bị diệt
Bọn đặc công thảm thiết kêu la
Bày trò tự tử không tha
Xác chôn vội vã vi vu gió sầu
Bọn đặc công thảm thiết kêu la
Bày trò tự tử không tha
Xác chôn vội vã vi vu gió sầu
Trần Anh Tú rầu rầu nhỏ lệ
Đặng Phương Thành tức tưởi ra đi
Rừng phong heo hút lẻ loi
Hôm qua đào mộ tiễn người bạn thân.
Đặng Phương Thành tức tưởi ra đi
Rừng phong heo hút lẻ loi
Hôm qua đào mộ tiễn người bạn thân.
31.10.2011 Lu Hà
Đại-tá Đặng-Phương-Thành đã trở thành một người anh-hùng bất tử.
V/ Tư-Tưởng Nhân-Nghĩa Trong Đạo Làm Tướng, Chỉ-Huy Quân Lính:
Trong bài biên khảo Thiên-Niên Sử Thăng-Long Thành, Hội Sử-Học Việt-Nam đã đề cập đến tư-tưởng Nhân-Nghĩa như sau:
“Nguyễn Trải còn chủ trương Nhân Nghĩa trong đạo làm tướng khi ông viết thư trả lời Phương Chính : “Vi tướng chi đạo dĩ Nhân Nghĩa vi bản, Trí Dũng vi tư” nghĩa “Một vị tướng phải lấy Nhân Nghĩa làm đầu, còn Trí và Dũng chỉ là phương tiện tiếp theo” – ngưng trích -. http://www.vnmilitaryhistory.info/quansunganam/thienniensuthanglongthanh9.htm
Thể hiện tư-tưởng nhân-nghĩa của Nguyễn-Trải trong đạo làm tướng cũng như chỉ huy binh lính trên chiến trường, trong lịch-sử Việt-Nam cận-đại tiêu biểu gồm có Đại tướng Nguyễn-Văn-Hiếu, http://www.truclamyentu.info/dialinhnhankietcuavn/thientaiquansunguyenvanhieu.htm
Ngoài ra không thể nào không đề cập đến Thập Đại Thần-Tướng Việt-Nam, http://www.truclamyentu.info/tlls_thu-vien-bo-de-online/tvbd_than-viet-dien-thap-dai-than-tuong-viet-nam.htm
Cũng như Đại-tá Đặng-Phương-Thành.
Và còn rất nhiều những vị tướng lãnh, sỹ-quan các cấp khác của Quân-Lực Việt Nam Cộng-Hòa, người viết sẽ có dịp đề cập đến sau này.
VI/ Vinh Danh Anh-Hùng Đặng-Phương-Thành Là Danh-Nhân Quân-Sự Việt-Nam:
Hội Sử-Học Việt-Nam
Vinh Danh
Anh hùng Đặng Phương Thành sinh ngày 05/02/1940 nguyên Đại Tá Trung-Đoàn Trưởng Trung-Đoàn 12 thuộc Sư-Đoàn 7 Bộ-Binh Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa nhân ngày giỗ lần thứ 35, 09/09/1976 – 09/09/2011 là Danh-Nhân Quân-Sự Việt-Nam.
Danh tánh, sự tích của ông được ghi vào Tân U-Linh Việt-Điện (quyển sách ghi chép sự tích thần kỳ của những người đã lao tâm lao lực cứu nước giữ nước trong lịch sử Việt- Nam cận-đại).
Sự tích: Anh hùng Đặng Phương Thành đã tạo chiến thắng lớn trong trận cuối cùng tại Thủ Thừa tiêu diệt một trung đoàn việt cộng trong tháng 4/1975, nhờ đó giữ vững đưọc Quốc Lộ 4 trong thời gian dầu sôi lửa bỏng này.
Khi Anh hùng Đặng-Phương-Thành đi tù cộng sản ngoài miền Bắc, nhân lúc ông vượt ngục bất thành và bị bắt lại, hậm hực vì mối nhục thua trận Quốc Lộ 4, bọn cai ngục cộng sản đã treo ông lên và đánh đập tàn nhẫn cho đến chết.
* Ngày giỗ của ông là 09-09-1976. (*)
(*) Chúng tôi nhận được thông tin từ bà Kim-Nguyen, gia đình của Anh hùng Đặng- Phương-Thành cư ngụ ở Hoa Kỳ.
(*) Di ảnh anh hùng Đặng-Phương-Thành chúng tôi nhận được từ gia đình của người anh hùng gởi tới ngày 10-08-2011.
Làm tại Hải ngoại ngày 09-09-2011
Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc (Tổng-thư-ký Hội Sử-Học Việt-Nam)
– Bản sao gởi đến gia đình anh-hùng Đặng-Phương-Thành.
***
Đồng tác giả: Cao-Văn-Viên, Francois Caviglioli, Lu-Hà, Phạm-Cơ-Thần, Quốc-Thái, Trần-Anh-Tú (bút danh của tôi -- Tài), Trần-Tú-Tài, Trần-Văn-Lưu, và Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc.
Chân thành cảm ơn các tác giả đã có những bài viết liên quan đến Quân-đoàn IV QLVNCH cũng như đại-tá Đặng-Phương-Thành; đồng thời chúng tôi xin gởi lời cám ơn đến bà quả phụ Đặng-Phương-Thành và bà Kim Nguyen đã gởi đến chúng tôi di ảnh cũng như ngày giỗ của ông.
Những sự giúp đỡ quý báu này đã là trợ duyên rất tốt để Hội Sử Học Việt Nam có thể hoàn thành sự tích anh dũng của vị Anh-Hùng Bất Tử Đặng-Phương-Thành và lưu lại cho các thế hệ mai sau về tinh thần quả cảm, ý chí bất khuất của ông nói riêng và của toàn thể Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa nói chung trong cuộc chiến Vệ-Quốc An-Dân 1946-1975
Âu-châu ngày 09-09-2012, tưởng niệm ngày giỗ lần thứ 36 của anh-hùng bất-tử Đặng-Phương-Thành
Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc.
https://chauxuannguyen2019.org/2014/07/10/qlvnch-ben-tranh-long-an-chien-thang-cuoi-cung-cap-quan-doan-su-doan-cua-qlvnch-danh-nhan-quan-su-viet-nam-anh-hung-bat-tu-dang-phuong-thanh/Saturday, May 26, 2018
- Nhập ngũ ngày 1-1-1951
- Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Địa Phương
- Không đoàn trưởng Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân tại Pleiku
BỐN ĐẠI TÁ TRỐN TRẠI
Những năm dài tháng tận rồi cũng trôi qua trong nhọc nhằn khổ sở cả thể xác lẫn tinh thần . Thắm thoát đã hai năm qua ở mảnh đất tận cùng biên giới phía Bắc Việt Nam này . Hàng ngày chúng tôi phải dậy thật sớm trước khi tiếng kẻng rùng rợn vang lên giữa đêm giá rét O độ của miền Bắc rẻo cao này , để xếp hàng làm vệ sinh cá nhân , vì hể một khi tiếng kèn đã nổi lên rồi thì mình sẽ không còn là mình nữa ,mà là một con trục quay cuồng trong guồng máy luyện thép khổng lồ .
Thời gian đó các cai tù phân công chúng tôi ra từng cặp một trẻ một già , một khoẻ một yếu để vác một cây bồ đề dài khoảng 6 thước , chu vi chừng vài tấc trở lên qua đoạn đường rừng gần 10 cây số , mỗi ngày cặp tù nhân đó phải vác đủ ba chuyến như thế cho đủ chỉ tiêu . Lúc dó khoảng 4 giờ chiều , tôi và một anh bạn trẻ đang khiêng một cây Bồ Đề to lớn , đã cố sức vưọt qua bao nhiêu ngọn đèo ,chỉ còn một đèo chót là đến nơi đang xây dựng bệnh xá được xây thêm cho càng ngày càng có thêm bệnh nhân tù .
Trời mưa tầm tã , dưới chân chúng tôi nước chảy thành dòng như muốn cuốn trôi mọi thứ , chúng tôi phải hết sức kềm chân cho chặt vừa phải oằn vai chịu sức nặng đẫm nước của cây tươi vừa đốn hạ. Bỗng nhiên anh bạn gánh vai sau trợt chân té ngửa , buông rơi cả thân cây to , khiến đầu cây còn lại đập mạnh vào hông phải tôi . Đau đón tôi ngất lịm , chân bị trật cả gân lẫn xương . Tôi vào bệnh xá dể được một ông y sĩ Trường Sơn , mỗi lần chữa bệnh , vừa xem cuốn sách châm cứu do Miền Nam ấn hành , vừa châm vào tôi cây kim dài đã hơ qua ngọn lửa vừa nói :
- Tổ chức châm cứu săn sóc anh đây . Chừng nào anh cảm thấy đau buốt thì cứ la lên , tôi sẽ tìm huyệt khác đúng hơn !
Nhờ mỗi ngày chịu trận cho ông y sĩ dỏm này thực tập vài ba tiếng , tôi mới được ông ký giấy cho ''Miễn lao động '' trong ngày ấy.
Ngày hôm trước ngày tôi bị cây to đè ngang hông , khi tôi khiêng cây dến đoạn đường Nghĩa Lộ, vừa đói vừa khát , kiệt sức tôi ngã vật xuống bên lề đường . Hai cán bộ bảo vệ trẻ thương hại mới đỡ tôi dậy , nhưng ngay lúc đó cán bộ phó trại , ngưòi mập lùn đi ngang qua , không cho đỡ tôi lại còn đay ghiến :
''Các đồng chí không việc gì mà phải đỡ hộ họ !'' Rồi anh cán bộ phó trại quay sang chúng tôi sang sảng : '' Tôi biết rõ ở trong Nam, mỗi tuần các anh hầm thuốc Bắc một đứa trẻ từ một tuổi để bồi dưỡng , đúng là quân man di mọi rợ không có tính người ! Vì thế anh nào cũng béo tốt như ri , lao động một chút không bằng ai mà cũng giả vờ té xỉu ..nhất là mấy anh tỉnh trưởng ! !!"
Nhìn vẻ mặt anh ta đỏ gay , gân cổ lên mà nói to ra vẻ rất hiểu biết , để gây thêm căm thù , chúng tôi bổng thấy thương hại sự ấu trĩ của họ hơn là oán ghét . Còn lạ gì một anh chăn trâu suốt đời không được học hành giáo dục , chỉ biết lặp lại nhai lại y khuôn những gì Đảng nói và nhồi sọ cho họ , gây căm thù giai cấp càng nhiều càng tốt . Họ có biết đâu lúc đó tại các thành phố lớn Hà Nội,, Sài Gòn , hàng ngày các bác sĩ cán bộ được lệnh "Kế Hoạch Hóa Gia Đình'', để hợp pháp giết non hàng ngàn thai nhi vô tội .
Chúng tôi vẫn tiếp tục lê gót sống những ngày tù khoắc khoải, thì một hôm nọ , trời vừa hửng sáng là trại bị bọn cán bộ , lính bảo vệ trang bị súng ống chĩa vào các lán trạì tù . Ngày hôm đó họ kiểm soát rất gắt gao, nhân dịp tịch thu tất cả những gì chúng tôi có thể để dành ăn chống đói như đường ,sữa , bánh ngọt khô .
- Dzõ dzàng nà các anh ngoan cố phản động không chịu học tập cải tạo tốt để sớm lên ngườì công dân xã hội chủ nghĩa tốt, nhất là mấy bọn đại tá các anh đã phụ nòng tin tưởng khoan hồng của Bác , Đảng và Chính phủ , các anh có biết chuyện gì xảy ra sáng nay không ?
Ai nấy đều rõ nhưng vẫn im lặng như không . Các lán trại đã tung tin rất nhanh về việc 4 ông đại tá đã trốn trại làm nức lòng nhũng trại viên còn lại . Họ vừa mừng vừa lo và van vái thầm cầu xin cho các vị đó được mau thoát đến đất Lào và biết đâu đến bờ Tự Do đất Thái .
- Đại Tá Thành ,trung đoàn trưởng , trưởng toán trốn trại , mở đường .
- Kế đó là Đại tá Nguyễn văn Thi , binh chủng Pháo Binh , người giữ địa bàn định hướng .
- Người đi giữa mang thực phẩm cho toán là Đại tá Đỗ Trọng Huề, cựu giám đốc QuốcGia Nghĩa Tử , cố vấn văn hóa cho tổng thống Thiệu .
- Và người giữ mặt hậu là Đại tá Quế , chỉ huy trưởng căn cứ không quân Pleiku.
Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày củng cố lòng tin cho mọi người Các cán bộ điên cuồng như ác thú lùng sục tất cả núi đồi . các đội tù đi lấy cát , đá , vôi ở Bến Phà Ô Lâu cũng như các đội lao động nặng lên rừng đốn gỗ đều được lệnh tạm đình chỉ . Chỉ riêng 4 đội tăng gia và hái chè là còn hoạt động cầm chừng dưới sự giám sát gấp đôi của những chú bộ đội phúng phính trong bộ đồ '' Cứt Ngựa " . Các giờ giài lao 10 phút thưòng lệ đều bị cắt bỏ , chỉ tiêu tăng gấp đôi để mọi người mệt nhoài không còn thời giờ nghỉ ngơi dù là một phút giây nào . Vài anh tù '' nông cạn'' vội chưởi rủa bốn anh trốn trại , vì họ mà cả bọn chịu cực khổ thêm . Còn lại đa số đều '' phấn khởi hồ hởi '' vì họ thêm một ngày hi vọng cho những ai chuẩn bị trốn trại sau đó .
Trại cho thay đổi ngay những người '' anh nuôi ''. Những người nầy bị an ninh điều tra thô bạo . Anh đại tá Võ An bị gọi lên xuống mấy chục bận mỗi ngày để điều tra manh mối xem ai là người xếp đặt hậu cần cho các anh trốn một cách bí mật chu đáo mà không ai hay biết .
Bốn anh Đại tá trong đội " Cơ Động " hàng ngày đưọc phân công dùng xe cải tiến đến Bến Phà Ô Lâu chở vật liệu nặng về xây cất cho trại . Các anh lợi dụng những chuyến đưọc xuất trại xa như thế đã ngấm ngầm cấu kết với nhau âm mưu trốn trại qua Lào , với sự giúp đỡ của anh Võ Ân , phụ trách nhà bếp trại .
Sau cả tháng mỗi ngày giấu một ít thực phẩm khô , ngày N ,giờ G , thừa lúc mấy anh bảo vệ lơ là , các anh ĐT nhà ta lần lượt biến mất sau mỗi quả đồi , hẹn nhau tại một điểm tập trung và ... chạy trốn !
Các anh đã đi suông sẻ suốt ngày đầu tiên mà không ai hay biết cho đến chiều tối lúc điểm danh . Đội cơ động bị phát hiện thiếu mất bốn người khiến cán bộ quản giáo , bộ đội canh gác bấn lọan , bắn súng loạn xạ . Lúc đó cả trại mới hay có bốn ông '' Bò Lục '' trốn thoát , ít nữa là ngày đầu tiên , ai nấy vừa lo vừa mừng cho các anh .
Chúng tôi lo lắng vì noi miền rẻo cao này , mỗi người dân đều là Cộng Sản , là cán bộ tình báo của chúng để quan sát theo dõi chúng tôi sít sao , vi 2thế mà họ không ngại '' thả '' chúng tôi ra ngoài để lao động khổ sai vì vùng này họ cho là an toàn nhất ,một con ruồi còn khó qua mắt họ .
Nhóm anh Huề , anh Thành , AnhThi và anh Quế vớí sự trợ giúp hậu cầncủa anh Võ Ân , tưởng đã trốn trại được đến gần biên giới Lào vẫn bị chúng nó phát hiện sau năm ngày sát biên giới, mà theo lời kể của các anh là '' chỉ cần qua bên kia con sông đang chảy xiết là đến đất Lào rồi '', kể thì các anh quá giỏi đã vạch kế hoạch , đi đúng hướng chính xác mục tiêu , thất bại chẳng qua là .. số mệnh dun rủi mà thôi !
Chúng họ theo đuổi lùng sục các anh tận biên giới , nơi chắc chắn các anh sẽ đến , quả thật bọn chúng đánh giá không thấp trình độ của các sĩ quan ta . Khi giải các anh về bọn chúng như bầy quỷ dữ khát máu hung hăng , tha hồ đánh đập hành hạ các anh chết đi sống lại cho hả cơn giận của chúng . Riêng anhThành , trưởng nhóm vượt ngục , bị nhốt riêng rồi thay nhau đánh đập tra khảo anh từ suốt đêm đến sáng . Càng bị hành hạ , anh càng lớn tiếng chưởi bới , cho đến khi gà gáy sáng thì anh không còn có thể la mằng gì được nữa vì chúng nó đã treo cổ anh rồi .
Sau này khi tôi bị biệt giam với các anh Huề , Thi , Võ Ân , Tâm , Huy , Bình , Đức ở khu F , phòng 7 , trại Hà Tây , Tỉnh Hà Sơn Bình , mỗi khi nhắc đến anh Thành là mọi người yên lặng rơi lệ, thành kính tưởng niệm một anh hùng bất khuất , nhất là anh Huề , Thi ,Võ Ân .
Theo lời anh Huề , sau khi chuẩnbị kỷ lưỡng cà mấy tháng trời những địa điểm tiếp tế các anh đã lần lượt chôn dấu thực phẩm cho những ngày đầu còn ở gần trại thì các anh bắt đầu đi suốt ngày đêm , tránh gặp dânchúng . Đến ngày thứ ba và thứ tư qua , bốn anh emmừng rỡ tưởng gần như thoát nạn rồi . Đdường càng xa Yên Bái thì nuí non càng cao dần lên , nhiều nơi dốc như thẳng đứng khiến anh em khốn khổ vô cùng . Đến sớm ngày thứ tư thì anh Thành thoáng thấy từ xa một buôn làng có nhũng cuộn khói bốc lên từ các mái tranh . Tuy mừng rỡ nhưng anh em bảo nhau đề cao cảnh giác đi bọc vòng xa ngôi làng .
Bổng đâu có tiếng rào rào như giông to sắp đến nơi , anh Thi , người định hướng đi trong rừng giỏi nhất vì anh là cấp chỉ huy pháo binh , kể chuyện tiếp :
'' Lúc đó mọi người đều rã rời vì cơn khát nung nấu dày vò ,nhưng tiếng động lạ càng lúc càng to dần ,mọi người dều thủ dao sẳn bên mình , sẳn sàng chiến đấu một mất một còn với bất cứ ai khám phá ra bọn người đang quyết tâm đi tìm tự do với bất cứ giá nào . Tiếng rì rào càng ph1ut càng to dần trên đầu , bọn ngươì núp vào kẻ đá trong lùm cây chờ đợi . Thật bất ngờ ! Mọi người há hốc mồm nhìn lên ... đó là một con kỳ đà khổng lồ rất dài đang le chiếc lưõi đôi nhìn bọn người trốn trại nhỏ bé đang ép mình vào kẹt đá .
Ngươì ta thuờng nói '' Ra đường gặp kỳ đà cản mũi , ắt việc không thành tựu được ! ''. Nhưng lúc đó đối với các anh tù vượt ngục đói khát suy nhược thì con kỳ đà này là món quà trời thương ban , giúp các anh có thêm sức lực .
Họ đã thấy xa xa con sông to dài tung lên những bọt trắng xóa chứng tỏ nước chảy rất mạnh . theo bản đồ và la bàn thì con sông đó co 1thể là sông Mekong chảy xuyên qua Trung Cộng , Lào, Kampuchia và Việt Nam , vì từ trên đỉnh núi cây lá dày đặc nhìn xuống thì nó rất rộng và dài vô tận uốn khúc như con rắn khổng lồ .
Gần bờ sông các làng mạc mọc nhiều , dân cư hay lên rừng đốn củi , săn thú nên anh em quyết định ngày ngủ dêm đi , di chuyễn dần lên phía Bắc nơi con sông hẹp hơn để vượt qua . Ai cũng mừng vì sắp thành công cuộc vượt ngục hi hữu này , cố làm sao đủ sức vượt sông đến khu rừng tre dày đặc bên kia xứ Lào .
Khi con người cố gắng hết sức để đạt mục tiêu , cơ thể có khả năng siêu việt vượt qua tất cả , để một khi đạt hay gần khi gần tới mục tiêu , cơ thể rũ liệt kiệt sức ,các anh em vượt trạimấy ngày đêm nay thấy gần thành công thì bỗng dưng bao mệt mõi đổ ụp xuống , tuy nhiên anh em cũng cố gắng thay phiên nhau trực canh , tìm mọi phuơng cách để vượt sông an toàn .
Bổng nhiên có tiếng chó sủa càng lúc càng gần càng rộ lên . Thì ra , dân bản xứ đi rừng khám phá dâu chân lạ trên con đường mòn , gần bờ suối cây lá bị đạp ngã , họ thả chó đánh hơi và báo đồn công an , nghi ngở có bọn thổ phỉ buôn lậu thuốc phiện xuyên biên giới .
Tiếng chó sủa dữ dội cùng tiếng súng bao vây các anh , nhữngtiếng quát tháo rợn người vang lên :
Rồi những gương mặt dữ dẳn của bầy lang sói độc ác xuất hiện kèm theo những trận mưa đòn tàn bạo , gậy gộc báng súng đánh tới tấp trên đầu cổ mặt mũi mình mẩy những nạn nhân tù đày ốm đói run rẩy không chút tự vệ .
Giữa trận mưa mu , có tiếng một cụ già :
- Thôi cho tôi xin các ông ! Tưởng là bọn thổ phỉ buôn lậu biên giới , hóa ra là tù cải tạo Miền Nam . Họ không thể chống cự , hà tất phải đánh đập họ dến chết như thế !
Bốn anh em ngất lịm đi trong cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trên đời. Mặt mũi mình mẩy họ không còn là con ngườii nữa mà là những con vật hình thù méo mó tả toi dươí những trận đòn từ những ác quỷ đầy hận thù đội lốt người thắng trận !
Chiều hôm đó tại lán trại , sau khi nhận điện báo khẩn , trại trưởng huy động hai đội lao công khẩn trương đục hang vào sưòn núi sâu , không ai biết để làm gì , tưởng là nơi để họ cất giấu vũ khí hay chứa thực phẩm lưong khô , đến khi có những tấm vĩ sắt dựng thành cửa ngục lên thì ai nấy đều hiểu ra đó là nơi để giam giữ tù vượt trại . Chúng tôi hoài nghi có lẽ bốn '' Bò Lục '' đã bị bắt và đang trên đường trở về .
Thật đúng như vậy ! Một buổi chiều u ám , từ chân trời có tiếng vó ngựa tung bụi mờ , giữa bầy quỷ dữ đang hò hét trên lưng ngựa cho chiến thắng vĩ đại là bốn người tù bị lôi xểnh theo sau lưng ngựa , hứng chịu những trận đòn , họ té khụy xuống rồi lại bị lôi dậy lúp xúp chạy theo vó ngựa , rồi loạng choạng té xuống mặc cho những sợi dây trói chặt quấn lấy thân thể rách bươm lôi kéo họ như những thanh gổ vô tri giác !
Chúng tôi chết điếng lặng ngưòi nép bên đường nhìn họ đi qua sau giờ chúng tôi lao động cải tạo vể , vô tình hay cố ý họ cho chúng tôi thấy hình phạt khủng khiếp của những ai có ý định trốn trại . Chúng tô iđể mặc cho giòng lệ tuôn trào từ những đôi mắt trũng sâu , lăn dài trên đôi gò má hốc hác khắc khổ . Anh em chúng tôi đó ! Những NGƯỜI HÙNG sau cuộc chiến ! Không thành công đã thành NHÂN ! Dù không còn ai có thể nhận ra các anh , vì các gương mặt đã bị bầm dập tan nát sau trận mưa đòn thù .
Sáng hôm sau , anhThành đã chết cách anh dũng bất khuất ! Xin dâng anh một nén hương lòng !
Vài hôm sau đó , có lẽ để xoa dịu lòng căm phẫn nhem nhúm trong tù trại Yên Bái trại 2 , hoặc gây chia rẽ nghi ngờ giữa các anh em tù , hoặc muốn tỏ ra rằng Đảng ta luôn khoan hồng nhân đạo ,nên trong một buổi học tập chính trị toàn trại , người ta đem anh Quế trình diện mọi người , đề cao anh là ''thành phần tiến bộ '', biết '' tội lỗi mình làm '', xin tập thể trại viên nhận anh lại vào hàng ngũ những người cải tạo tốt . Còn hai anh Huề và Thi hãy còn ngoan cố ,chưa xứng đáng được nhân dân tha thứ , còn phải chờ lâu dài . Mọi người khẽ thở dài , không ai có ý kiến gì , bởi vì không ai đoán bọn CS thâm độc mưu mô này sẽ còn dùng chiêu thức gì nữa .
Ít lâu sau đó , ngày 19/07/1977, hàng ngũ tù đại tá chúng tôi được lệnh chuyển sang trại Tám ở thâm sơn cùng cốc đầy ao tù nước vàng đặc , nếu lỡ đạp chân xuống đó sẽ bị nhiễm sốt rét hoặc sốt rét rừng kinh niên . Ngay ngày đầu tiên khai hoang vùng hoang địa này dể trồng trọt , tôi là bệnh nhân sốt rét rừng đầu tiên . Cứ khoàng 4, 5 giờ chiều cơn rét kéo tới hành hạ tôi run lập cập , đắp bao nhiêu mền vẫn không đủ ấm , cái lạnh từ trong xương lạnh ra , rồi đến 12 giò đêm thì nóng sốt như lủa đốt như có muôn ngàn ngọn lửa châm vào đầu ngón chân mình mẩy . Thế mà sáng ra không được nghỉ ngơi , họ cho là tôi bệnh vờ nên tôi vẫn phải lao động như thường . Như chưa đủ khốn khổ , người phát thuốc ở trạm xá , vốn là người '' của ta '', nhưng nhờ ''quen biết '' cán bộ , nên bắt chẹt anh em , mỗi lần anh ta bố thí cho vài viên Quinine , đã bị anh ta liếm hết chất ngọt bọc đường bao quanh , là đổi lại chúng tôi phải biếu hắn thuốc lào ba số hoặc đồ thăm nuôi . Thuốc men gia đình chúng tôi gửi nuôi đều bị trại cất giữ hộ , họ phát ''Xuyên Tâm Liên '' để trị bá bệnh !
Võ Hữu Hạnh
Tuesday, May 15, 2018
III/ Đi Tìm Tung-Tích Người Anh-Hùng:
Trước đây nhiều năm, khi Hội Sử-Học Việt-Nam được biết sự tích anh dũng của cố đại tá Thành cùng Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 Bộ Binh, chúng tôi lập tức đăng tải lên trang web http://www.truclamyentu.info. Lúc bấy giờ Hội chỉ có một vài chi tiết rất lờ mờ về sự hy sinh của ông. Do đó, đã có một lời kêu gọi ngắn những ai là thân nhân hay chiến hữu của ông vui lòng cung cấp cho chúng tôi di ảnh cũng như ngày ông khuất núi.
Sau một thời gian chờ đợi (khoảng 2 năm), chúng tôi nhận được liên lạc của gia đình cố đại tá Thành, liên quan đến ngày ông khuất núi. Và mãi gần 4 tháng sau, mới có được di ảnh của ông.
Sau một thời gian chờ đợi (khoảng 2 năm), chúng tôi nhận được liên lạc của gia đình cố đại tá Thành, liên quan đến ngày ông khuất núi. Và mãi gần 4 tháng sau, mới có được di ảnh của ông.
Ngày 09/09/2011 (Kỷ niệm ngày ông khuất núi), Hội đã vinh danh ông là Danh Nhân Quân Sự Việt Nam, đồng thời chép sự tích thần kỳ của ông vào quyển Thần Việt Điện 2010.
Nhưng còn một điều chúng tôi vẫn hằng ưu tư là chưa có được bài tường thuật chiến thắng lẫy lừng sau cùng của Quân Đoàn IV Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
May mắn thay, cố đại tá Thành đã đưa một cựu sĩ quan báo chí thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh đến với trang truclamyentu.info của chúng tôi. Di nguyện cuối cùng của cố đại tá Thành đã được hoàn tất.
May mắn thay, cố đại tá Thành đã đưa một cựu sĩ quan báo chí thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh đến với trang truclamyentu.info của chúng tôi. Di nguyện cuối cùng của cố đại tá Thành đã được hoàn tất.
Tương tự như trường hợp của cố Đại tướng Nguyễn Văn Hiếu khi viết Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam cũng như chư vị tướng lãnh trong Cửu Đại Thần Tướng Việt Nam.
Riêng về tấm hình phóng viên Paris-Match chụp đại-tá Thành và phổ biến trên số 1352 ngày 26-04-1975, chúng tôi may mắn có được bản chính do anh Trần-Tú-Tài cung cấp thông tin và sau đó đã đặt mua được trên chợ Amazon.
Quả thật cố đại tá Đặng Phương Thành đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều để có thể bổ túc những thông tin về ông (thông tin đăng ngày 30-10-2011 trên trang quansuvn.info)
IV/ Anh-Hùng Bất-Tử Đặng-Phương-Thành:
Paris Match Phỏng Vấn Đại Tá Đặng-Phương-Thành Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 Sư-đoàn 7 Bộ-Binh Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, Sau Chiến Thắng Bến-Tranh trong Tháng 04-1975.

Anh hùng Đặng Phương Thành (1940-1976), Đại tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 Sư đoàn 7 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương (04/1975).
Nguồn: Phóng viên về VN trên tuần báo Paris Match ngày 19-04-1975.

Hình Paris-Match số 1352 ngày 26-04-1975 chụp đại-tá Đặng-Phương-Thành sau chiến thắng Bến-Tranh (hàng chữ ghi chú bằng tiếng Pháp Le colonel Thanh défend le delta du Mékong nghĩa là Đại-tá Thành người bảo-vệ đồng-bằng sông Cửu-Long)
Đại tá Thành đã tạo nên chiến thắng lớn nhứt và cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để rồi chết thảm thương trong trại tù Cộng sản sau một trận trốn trại thất bại. Sau đây đoạn phỏng vấn Đại tá Thành trong bài báo trên ; Chuyển ngữ Trần-Anh-Tú.
Mỹ Qưới. 150 dân làng đã tập trung tại sân làng khi chúng tôi tới. Những người này không đi ra đồng sáng nay. Trong tầm nhìn của mắt, vùng châu thổ rạn nứt này, ngoại trừ lửng lơ những đám sương mù, còn lại là trong vắt. Xa xa, xuất hiện những cụm khói, đó những khẩu 105 của pháo binh chánh phủ đang giã/nện (pilonner) những tàn quân của 1 trung đoàn quân Bắc Việt xâm nhập, đã bị tiêu diệt hôm trước.
Đó là hòa bình và đó là chiến tranh. Vùng châu thổ này luôn luôn có hai bộ mặt. Trong khúc quanh của con kinh chảy vòng qua làng, nổi lên những xác chết sình chướng và đen kịt. Cách đây hai ngày, Mỹ Qưới đã là bộ chỉ huy của quân Bắc Việt. Trên ngưỡng cửa của một ngôi nhà, một người đàn ông với nét mặt đầy sợ hãi, đang ngồi, được canh gác bởi ba nghĩa quân "người này trước đây là chính ủy Trung đoàn" (C'était le commissaire politique du régiment), đại tá Thành giải thích cho tôi. Mập nhưng lùn, gương mặt tròn nhưng với nét cứng cỏi, Đại tá Thành đã hành quân vùng châu thổ này từ nhiều tháng. Ông nhìn chăm chú cánh đồng chỉ còn bùn khô, ngăn cách bởi những con đê nhỏ, và thì thầm: "còn nữa". Ông nói như một sĩ quan Pháp của thập niên 1950. Tôi nói như vậy với ông, ông trả lời: "vùng châu thổ là vậy" .
Nhưng bên dưới những bụi chuối (bananeraie), tạo bóng mát cho làng. Những cô gái trẻ mặc áo lụa trắng đang phì cười. Những đứa nhỏ ở truồng vừa đuổi nhau vừa la trước mỗi nhà. Những ngôi nhà bằng lớp đất với lớp vữa màu xanh. Có nhiều lu lớn đựng nước ngọt mà những thanh niên có thể dùng những cái lon bằng thiếc để múc uống hay rảy nước cho mát. Người ta vừa lấy những cái xác dưới kinh, sẽ chôn cất và mọi việc sẽ cũng như trước. Cho tới đêm kế.
Bởi vì đó là đêm mà các đặc công Bắc Việt xâm nhập vào các làng để đe dọa các trưởng làng, trừng phạt những nông dân không tuân lịnh Việt-cộng (chartier les paysans qui ne plient pas aux consignes du Viet-cong). Giống như thời người Pháp còn hiện diện, vùng châu thổ này, với một triệu người đang nuôi 20 triệu người, có thể nuôi toàn nước VN. Đây là vùng đất màu mỡ nhất Đông-Nam-Á. Không có vùng châu thổ, Sài gòn sẽ là thành phố chết. Do đó mà tại sao Đại tá Thành theo dõi, trong khu vực bao la này, nơi mà người ngoại quốc phải dựa vào địa bàn để di chuyển, những trung đoàn Bắc Việt phân tán thành từng toán nhỏ, dấu mình trong những ao (trous d'eau), đào những đường hầm dưới các đê và đôi khi sống dưới đó trong nhiều tháng.
Người nông dân vùng châu thổ không thích Việt cộng, và đối với họ, một người miền Bắc là một người Esquimau. Mỗi ấp có Nghĩa Quân trang bị vũ khí nhẹ, ở phía Bắc của vùng châu thổ, những người Hòa Hảo, một giáo phái có màu sắc chính trị tổ chức thành 1 đạo quân thật sự, đã thành công khi làm khiếp đảm những phần tử liều lĩnh nhất của đội quân quyết tử Hà Nội. Nhưng những người nông dân này cũng ghét những công chức của Sài Gòn tham nhũng (1) và không biết lội ruộng. Họ có mô danh từ để chỉ những người này: Đó là những người mang túi/bị gạo (ce sont ceux qui emportent les sacs de riz). Chúng ta đang ở Á Châu và người nông dân đang chờ để biết ai sẽ là kẻ mạnh nhút. Chính kẻ mạnh nhứt sẽ làm chủ vùng châu thổ này. Vào lúc này, vị Đại tá khoẻ mạnh đang giữ quận Bến-Tranh trong tay cho chánh phủ Sài Gòn. Không nắm vững tình hình, người nông dân không biết tới sự thảm bại mới đây (ý nói sụp đổ của các tỉnh miền Trung) và, hơn nữa, họ còn cười vì nghĩ rằng nó quá xa nơi họ đang sống.
Nhưng nếu Bắc quân, tại Xuân Lộc đang cầm chân những lực lượng giỏi nhất của Sài Gòn, đột nhiên tấn công vùng châu thổ?
Chúng tôi tiếp tục, trợt lên trợt xuống trên những bờ ruộng, tới Ấp Bắc. Vẫn còn những thiếu nữ với hoa cài trên tóc. Vẫn còn những đứa trẻ nô đùa vài mét cách các xác sình chướng và nàm đen. Vẫn còn xuất hiện những Nghĩa Quân bảo vệ làng của họ. Nhưng họ sẽ chống được ai?
Chúng tôi vào nhà của xã trưởng. Có tám đứa nhỏ trên bộ ván gỏ lớn. Một bà lão đang cắm hoa trước bàn thờ ông bà. Vị xã trưởng chào Đại tá. "Làng này thì bảo đảm" Đại tá nói. Nhưng ông ta nhìn ra xa, hướng về các bụi chuối mà sức nóng của buổi trưa làm chúng lung linh dưới ánh mặt trời, như địch quân đang ẩn núp ở đó.
Tại Sài Gòn, trong 1 con đường rộng, kế khách sạn Continental, có một người đàn bà nhỏ thó đang sống, mảnh khảnh nhưng hoạt bát, vừa làm trung gian giữa hai kẻ thù không đội trời chung, Tổng thống Thiệu và Việt cộng. Đó là bà Ngô Bá Thành. Bà mời các phóng viên đến vườn nhà bà. Đối với người nước ngoài, bà tượng trưng cho lực lượng thứ ba, ở Hoa-Thịnh-Đốn, Paris, Luân-Đôn và có thể ở Moscow người ta lắng nghe bà. Người ta coi bà như lực lượng để thay thế. Người ta cũng theo dõi một viên tướng mà giá trị lớn nhứt của ông vẫn còn im lặng. Đó là Minh lớn. Người ta đồn rằng ông sắp tái xuất giang hồ. Nhưng dân Sài Gòn, mỗi đêm hướng lỗ tay về Xuân-Lộc, chỉ có thể nghe tiếng đại bác của Bắc quân.
Ký giả Francois Caviglioli
http://www.thuvienhoasen.info/tvhsvn_than-viet-dien/tvd_anh-hung-bat-tu-dang-phuong-thanh.htm
http://www.thuvienhoasen.info/tvhsvn_than-viet-dien/tvd_anh-hung-bat-tu-dang-phuong-thanh.htm
Thursday, May 3, 2018
Thursday, May 3, 2018
Tình hình chiến sự tại tỉnh Long An trong tháng 4.1975.
Nguồn : 1/ Vietnam from cease-fire to capitulation (VN từ ngưng bắn đến đầu hàng) của cựu ĐT William E. Le Gro, từng chỉ huy văn phòng tùy viên quân sự Mỹ/Defense Attache Office (DAO) tại Sài Gòn từ tháng 12.1972 tới 29.4.1975.
2/ Final Collapse của cựu đại tướng Cao văn Viên.
Thưa các bạn,
Trước đây, trên blog này, tôi có hai bài về trận đánh của Trung đoàn 12 SĐ 7 bộ binh VNCH tại Long An và Bến Tranh. Bài thứ nhứt của báo Paris-Match phỏng vấn ĐT Đặng phương Thành, chỉ huy Tr.Đ này và bài thứ hai của cựu trung tá Trần văn Lưu (đồng khóa thiếu sinh quân với ĐT Thành). Là một người nghiên cứu theo khoa học , tôi vẫn chưa vừa lòng với những thông tin của hai bài trên. Nay, dựa theo hai nguồn trên đây, tôi có thêm một số thông tin mới về Tr.Đ 12 BB và lực lượng ĐPQ-NQ của TK Long An trong trận chiến bảo vệ QL 4 trong tháng 4.75. Hóa ra, ĐPQ-NQ của TK này trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, cũng đã lập nhiều chiến công không thua kém các đơn vị chủ lực quân.
====
1/ Theo trang 173 trên sách của ĐT Le Gro:
...
"Tính tới 11/4/75, khoảng 40.000 quân của QK 1 và 2 đã được tái huấn luyện tại các trung tâm hay được tái phối trí (reassign) tại QK 3. SĐ 2 BB của chuẩn tướng Trần văn Nhựt, sau khi tập hợp ở Hàm Tân, quân số đã lên tới 3.600, bao gồm 2 TĐ ĐPQ tăng phái từ TK Gia Định. Trung đoàn 4 của sđ 2 vừa tái lập (reconstitute) này đã được gửi tới Phan Rang để tiếp sức (relieve) cho Lữ đoàn 2 Dù đang ở đó, nhưng còn bốn TĐ khác chưa thể ra quân vì thiếu quân trang quân dụng (outfitting). Tiếc thay, trung đoàn 4 này đã bị tiêu diệt (destroy) trong lần hai và cuối cùng khi bảo vệ Phan Rang.
SĐ 3 BB ngày 11/4 có khoảng 1.100 quân tại Bà Rịa Phước Tuy, và sẽ sớm có thêm 1.000 quân, nhưng lại thiếu mọi loại vũ khí và trang bị. SĐ 1 BB cũng có ở Bà Rịa nhưng chỉ có 2 SQ và 40 binh sĩ. Gần Bà Rịa, tại Long Hải có SĐ 23 BB với khoảng 1.000 quân và 20 khẩu súng trường.
Riêng SĐ 22 BB, mà những trận kháng cự anh dũng tại Bình Định là một trong những chiến công đáng kể nhứt nói lên quyết tâm, can đảm và tài điều binh (leadership of war), đã có được tình trạng sẵn sàng chiến đấu tốt hơn các SĐ khác. Tại TTHL Vạn Kiếp ở Bà Rịa, SĐ này có 4.600 quân, 1/3 của số quân này là lực lượng diện địa (ĐPQ-NQ) của QK 2. Họ thiếu mọi loại chiến cụ và quân trang, tuy nhiên họ còn đủ pháo thủ cho ba TĐ pháo binh, dù ko có đại bác. Tuy nhiên, dù chưa được trang bị đầy đủ và thiếu tổ chức, SĐ được lịnh triển khai tới tỉnh Long An ngày 12/4.
Một trận đánh quan trọng đã xảy ra tại tỉnh Long An, khi SĐ 5 CSBV, di chuyển từ tỉnh Svay Rieng, Cambodia, đã xử dụng Tr.Đ 275 tấn công gần Tân An vào ngày 9.4.1975. ĐPQ tỉnh Long An đã chống trả mãnh liệt và được tiếp viện bởi Trung Đoàn 12 sđ 7 BB. Với tổn thất nhẹ, TĐ 2/12 của trung đoàn này đã hạ trên 100 lính của Tr.Đ 275, buộc vị tư lịnh của họ phải xin viện binh. Ngày kế (10.4.75), Bắc quân đã tấn công phi trường Cần Đót tại tỉnh lỵ Tân An và, sau khi cắt đứt QL 4, đã bị đẩy lui với tổn thất nặng bởi ĐPQ của Long An. Trong hai ngày sau đó (subsequent), ba TĐ ĐPQ 301, 322 và 330 của Long An đã đụng độ dữ dội, hạ trên 120 địch quân và bắt sống 2. Trong khi đó, Trung đoàn 12 BB, đánh nhau với hai Trung đoàn của SĐ 5 CSBV, hạ trên 350 tên và bắt sống 16. Bộ TTM VNCH đã đưa một TĐ của SĐ 22 BB – vừa mới được hồi phục – vào vùng này vào ngày 12.4 và sau đó thêm 2 TĐ. Để thống nhứt chỉ huy, bộ TTM đã điều chỉnh ranh giới của QK 3 và 4, giao chiến trường Tân An cho QK 4.
Quân CSBV tiếp tục tạo áp lực tại tỉnh Biên Hòa và Tây Ninh, đầu tiên bằng pháo kích nặng trong hai tuần đầu tháng 4. Hỏa tiển bắn vào sân bay Biên Hòa và các trung tâm huấn luyện ở căn cứ Nước Trong (tên cũ là căn cứ Bearcat), trong khi Tây Ninh liên tục bị pháo bởi đại bác 105 và 155 ly cũng như hỏa tiển. Quân VNCH cố thủ ở Khiêm Hạnh, kiểm soát Trảng Bàng và Củ Chi (nơi đặt BTL/SĐ 25 BB), nhưng đụng độ với địch quân khắp nơi. Trong khi đó, trận đánh lớn và cuối cùng của chiến tranh thành hình tại Xuân Lộc. (Trang 173 của sách đã dẫn)".
...
Theo trang 175 của sách đã dẫn:
"Phòng tuyến SG được giao cho ĐPQ và một số đv chủ lực, mà vài đv mới được tân lập. Ba liên đoàn BĐQ giữ hướng tây. LĐ 8 BĐQ tân lập với 1.600 quân đóng gần Phú Lâm, nơi QL-4 nối vào thủ đô. Phía tây nam Phú Lâm trên QL-4 gần Bình Chánh là LĐ 6 BĐQ, mới tái trang bị với quân số khoảng 2.600 (LĐ này này đã tham chiến trên LTL-7 tháng 3/75 -- người dịch). Phía bắc thủ đô là LĐ 9 BĐQ với quân số 1.900 bảo vệ quận Hốc Môn, 5 km bắc sân bay TSN. Mỗi LĐ có bốn đại bác 105 ly nhưng thiếu ống nhắm (fire-direction equipment), máy truyền tin và súng liên thanh. BĐQ và ĐPQ ở Hốc Môn ngày 14/4 đã chận đánh khoảng 100 quân CSBV, bắt sống 5 và giết 11 lính thuộc trung đoàn 115 đặc công của SĐ 27 đặc công. Các đặc công được theo sau bởi một toán gồm các tên khủng bố và tuyên truyền nhằm kích động nổi dậy tại Gò Vấp kế sân bay TSN. Đài Giải Phóng của CS đã kêu gọi dân nổi dậy từ 11/4, nhưng dân chúng không nghe theo.
Vùng đông và đông nam của SG được bảo vệ bởi một lữ đoàn TQLC đóng ở Long Bình. SĐ 18 BB quá mệt mỏi rút từ Xuân Lộc ngang qua Trảng Bom và tới TP Biên Hòa ngày 15/4, và Long Bình sớm sẽ là tuyến đầu ở phía đông thủ đô.
Ở phía tây, dù ĐPQ Long An và trung đoàn 12 BB vẫn giữ được Tân An, quân CSBV đã tiến sát SG để tấn công Phú Lâm bằng hỏa tiển 122 ly ngày 18/4. Hai dảy nhà chứa gia đình bs ở đài radar Phú Lâm bị phá hủy. Cuộc tấn công này chỉ cách 7 km phía nam sân bay TSN và cơ quan DAO, gây đe dọa trầm trọng cho thủ đô. Quân CSBV được lịnh cắt đứt QL-4 gần Bình Chánh để ngăn SĐ 7 và 9 VNCH theo QL-4 về bảo vệ SG, và từ Bình Chánh, các toán đặc công sẽ xâm nhập vào TSN và SG qua ngõ Phú Lâm.
Tại tỉnh Long An, SĐ 5 CSBV tiếp tục tấn công mạnh dọc theo ranh giới cũ giữa QK 3 và 4, nhưng ngày 15.4 đã buộc phải rút về tây bắc. Trung Đoàn 12 BB VNCH đã gây tổn thất nặng cho Tr.Đ. 6 và 275 CSBV gần tỉnh lỵ Tân An. Vào lúc này, những đv nhỏ, trang bị yếu ớt của 2 Trung Đoàn 41 và 42 thuộc sđ 22 BB – đang trong giai đoạn hồi phục – được triển khai tại Bến Lức và Tân An. Nhưng địch quân ngày càng mạnh. Các đv Bắc quân có mặt tại Long An và tây nam Hậu Nghĩa gồm năm SĐ: 3, 5, 8 và 9 và 27 đặc công. Thêm vào đó, Tr.Đ 262 và Lữ Đoàn 71 phòng không đã có mặt tại ranh giới Long An-Hậu Nghĩa.
Các đường màu xanh là năm mặt trận bảo vệ Sài gòn: Bình Dương ở phía bắc, Biên Hòa ở phía đông bắc, QL 15 ở phía đông nam, Long An ở phía tây nam và Củ Chi ở phía tây bắc.
2/ Còn theo quyển Final Collapse của ĐT Cao văn Viên:
Tình hình tại QK 4.
Tương phản với 3 vùng còn lại, tình hình tại qk 4 đã tương đối yên trừ những trận đánh liên tục nhưng ko có tính quyết định giữa SĐ 9 và công trường 5 của CSBV tại khu biên giới giữa Kiến Tường và Svay Riêng, Cambodia. Địch quân phần lớn nhắm vào các tiền đồn của ĐPQ và NQ, đặc biệt ở Chương Thiện và Kiên Giang. Nhưng giữa tháng 3 1975 và tiếp tục đến đầu tháng 4, địch đột ngột gia tăng các cuộc tấn công. Giờ đây, họ lại nhắm vào các cơ sở tiếp vận cũng như các tiền đồn ĐPQ dọc theo QL-4, con đường huyết mạch từ SG xuống vùng châu thổ.
Sau một thời gian dài bổ sung quân số và trang bị, công trường 5 CSBV tiến vào khu phía tây bắc Tân An, và tấn công quận lỵ Thủ Thừa, do ĐPQ và NQ bảo vệ, xem bản đồ số 11. Địch mưu toan, nếu chiếm được Thủ Thừa , sẽ cắt QL 4 đoạn giữa Tân An, tỉnh lỵ của Long An, và Phú Lâm, ngoại ô của SG; cũng như ngăn chặn SĐ 7 BB tiếp viện cho SG. Nhưng âm mưu đã bị bẻ gẫy; lực lượng tại Thủ Thừa đã đẩy lui địch quân và gây cho địch nhiều thiệt hại. Một mủi tấn công của địch nhằm vào quận lỵ Bến Tranh, nhưng tại đây lần nữa, cuộc tấn công bị bẻ gẩy bởi lực lượng phối hợp của SĐ 7 và 9 bb VNCH. Sau một ngày giao tranh, địch phải buộc rút lui , để lại gần 200 xác và hàng trăm vũ khí, bao gồm đại bác và súng phòng không. khoảng 20 địch quân bị bắt. Một nút chận khác của địch ở nam Tân An và khu vực Bến Tranh đã được dẹp tan. Kết quả, lưu thông trở lại bình thường từ SG đi Mỹ Tho . . .
San Jose, thứ Hai December 12, 2011
Hiệu đính ngày 6 tháng 10 2020.
Subscribe to:
Posts (Atom)





.jpg)
.jpg)