HÌNH ẢNH MỚI LẠ KHI QUÂN ĐỘI PHÁP TRỞ LẠI ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1945, SAU KHI QUÂN NHẬT ĐẦU HÀNG. SAU ĐÂY LÀ CUỘC HQ NHẰM GIẢI PHÓNG THỊ XÃ BAN MÊ THUỘT, TRƯỚC ĐÓ TRONG TAY CỦA VIỆT MINH.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Thursday, August 6, 2026
HÌNH ẢNH MỚI LẠ KHI QUÂN ĐỘI PHÁP TRỞ LẠI ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1945, SAU KHI QUÂN NHẬT ĐẦU HÀNG. SAU ĐÂY LÀ CUỘC HQ NHẰM GIẢI PHÓNG THỊ XÃ BAN MÊ THUỘT, TRƯỚC ĐÓ TRONG TAY CỦA VIỆT MINH.
Tuesday, December 10, 2024
Bài của cựu thiếu tá Tom Burke thuộc LLĐB Mỹ.
Đã 50 năm kể từ khi đ.đ. Mike Force của chúng tôi được lịnh hành quân để bảo vệ việc xây dựng 1 trại LLĐB ở Cao nguyên Trung phần của VN. Khi chúng tôi sắp (be about) tiến hành công tác, chúng tôi được giao thêm 1 nhiệm vụ nhằm tìm kiếm vài chiến cụ bị mất tích.
Ngày 1/3/1970, đ.đ. 221 Mike Force của Pleiku (thuộc Toán B-20, liên đoàn 5 LLĐB) nhận lịnh bảo vệ việc xây dựng 1 trại LLĐB tại Bu Prang. Trại này hầu như đã bị phá hủy từ khi quân csbv bắt đầu vây hãm trại từ cuối tháng 10 và chấm dứt đầu tháng 12 1969. Mike Force là một đv bộ binh trang bị nhẹ và biết nhảy dù, hoạt động tại Cao nguyên miền Trung. Phần lớn lính Mike Force là dân Rha-đê và Jarai.
Thời gian ở VN (1969-70), chúng tôi có 3 nhiệm vụ chánh: Cường thám, tiếp ứng, và công tác đặc biệt. Trong nhiệm vụ cường thám (reconnaissance in force), một đ.đ. hay TĐ được giao một "ô" trên bản đồ để tìm kiếm 1 thứ gì ở đó. Khu vực trách nhiệm của chúng tôi phần lớn dọc biên giới Viêt-Miên hay Việt-Lào. Ko bao giờ có quân bạn trong ô của chúng tôi. Trong nhiệm vụ tiếp ứng (reaction force), chúng tôi giúp bảo vệ các trại LLĐB, chẳng hạn như Ben Het (A-244), Bu Prang (A-236), và Dak Seang (A-243). Còn nhiệm vụ đặc biệt (special mission) thường là bí mật, nhận lịnh từ cấp quân đoàn hay cao hơn.
Tại Pleiku, Mike Force có ba TĐ; và một TĐ đặt tại Kontum. Mỗi TTD có ba đ.đ., mỗi đ.đ. có một trung đội chỉ huy và 4 trung đội tác chiến. Có khoảng 120 lính Thượng mỗi đ.đ. Thường thường một thiếu úy làm đ.đ. trưởng, và một hạ sĩ quan làm trung đội trưởng. Vì trang bị nhẹ, chúng tôi chỉ có M-16, M-60, 1 cối 60 và các súng M-72 -- để phá hầm. Tôi luôn luôn nói với bạn bè rằng tôi đã "tình nguyện" vào Mike Force. Lúc đó tôi đang công tác tại Trường Viễn Thám (Recondo) của BTL quân viện Mỹ tại VN, viết tắt là MACV, với tư cách một huấn luyện viên về y tế của LLĐB và một y tá của lực lượng tiếp ứng. Khi một lực lượng tiếp ứng được gửi để cứu 1 toán viễn thám đụng địch, tôi là y tá của toán này.
Trại LLĐB Ben Het bị bao vây, từ tháng 2/1969 đến cuối tháng 6/1969. Trại ở gần tam biên, nơi mà lãnh thổ của VN, Cam-bốt, và Lào gặp nhau. Nó nằm 1 bên của 1 nhánh của đường mòn HCM và căn cứ hậu cần 609 của csbv. Tôi đã "tình nguyện" vào Mike Force. Trước đó tôi tình nguyện vào Lục quân từ 1966. Sau đó tôi chuyển qua Nhảy dù, rồi LLĐB. Nhờ vậy mà tôi đến VN. Quân Mike Force bị thương vong rất nhiều và rất cần y tá có kinh nghiệm tác chiến. Lúc đó tôi là y tá duy nhứt tại Trường Viễn thám hội đủ yêu cầu này. Thế là chưa tới 24 g, tôi đã về TĐ 2 Mike Force. Lúc đầu tôi nghĩ sẽ là trợ y của TĐ, ko ngờ tôi được chỉ định làm 1 trung đội trưởng của đ.đ. 221 của TĐ này.
Vào tháng 11 1969, tôi là người cao cấp nhứt của đ.đ. này, và theo 1 chánh sách ko chính thức, tôi là đ.đ. trưởng. Tháng 9/1969, tôi có một đồng đội, đó là chuyên viên bậc 5 Ronnie Nash. Do Ronnie xin gia hạn thời gian phục vụ tại VN nên MACV chuyển y qua LLĐB dù y ko có kinh nghiệm về LLĐB.
Tính tới tháng 3/1970, Ronnie và tôi là 2 người Mỹ ở đ.đ. Mike Force này. Thỉnh thoảng chúng tôi được tăng phái một toán tiền sát viên pháo binh từ 2-3 người.
Tháng 11 năm đó, tôi dẫn đ.đ. dự trận Bu Prang. TĐ đào công sự trên 1 đỉnh đồi ở 2 km nam của Bu Prang. Từ đây tôi hướng dẫn phi pháo tấn công hệ thống đường mòn che dấu trong rừng già. Tôi làm đ.đ. trưởng cho tới cuộc hành quân cuối cùng khi đ.u. Gordon Vogel đến TĐ.
Gordon thuộc Vệ binh Quốc gia bang Florida. Ông đã tình nguyện vào LLĐB tại VN. Là một sĩ quan bộ binh kinh nghiệm, ông là TĐ trưởng của TĐ 2 Mike Force trong khi Bu Prang bị vây hãm. Chúng tôi đã trở thành bạn thân kể từ ngày ấy.
Có 1 toán huấn luyện viên người Úc tăng phái cho Toán B-20. Phần lớn họ từ LLĐB Úc, viết tắt là SAS. Họ từng chiến đấu chống CS trong rừng núi ở Malaya và Borneo. (Quân đội Anh cũng có SAS -- người dịch).
Một số cố vấn Úc rất lập dị, chẳng hạn như 1 thiếu tá; "... y luôn luôn đứng trên càng trực thăng khi vào vùng cũng như rời vùng. Lúc nào y cũng mặc một áo T-shirt rách, mang 1 khẩu M-16, và 1 lon bia hiệu Foster's Lager... y đúng là một kẻ bất cần đời (a mean sonofbitch)".
Một thay đổi vào phút cuối đã đưa chúng tôi đến 1 nơi khoảng 15 km đông nam của Bu Prang để tìm vài trang bị quân sự bị thất lạc. Đây là nhiệm vụ Tìm kiếm và Thu hồi. Nó được đánh dấu X trên bản đồ. Đây là lần đầu tiên chúng tôi mang lựu đạn nhiệt nhôm (thermite grenade). Nói thêm: Theo wikipedia, nhiệt nhôm là phản ứng hóa học tỏa nhiệt trong đó nhôm và một số kim loại mạnh là chất khử ở nhiệt độ cao. Tuy nhiên nhôm thường được sử dụng do nhiệt độ tỏa ra cao. Ví dụ nổi bật nhất là phản ứng nhiệt nhôm giữa oxide sắt III và nhôm. -- người dịch).
Nhiệt nhôm tỏa nhiệt ở 4.000 đô F và sẽ làm chảy phần lớn kim loại. Chúng tôi đã di chuyển 3 ngày ko kết quả trong khu vực khoảng 12 km2 trong rừng ba tán lá hay rừng ba từng. Từng thấp nhứt từ 8 đến 10 feet chỉ có bụi cây và dây leo; từng thứ hai chỉ có cây và dây leo. Từng thứ ba có đủ mọi cây lớn. Cố gắng di chuyển qua loại rừng dầy đặc này là một điều cực kỳ khó khăn. Cố gắng tìm một vật gì rơi vào rừng loại này lại càng khó khăn hơn.
Sau khi báo cáo ko thấy gì hết, chúng tôi được lịnh kéo dài thêm 2 ngày. Chúng tôi được lịnh tiếp tục tìm kiếm, "Anh sẽ biết vật đó khi anh thấy nó." Kết quả ko có gì.
HANG RẮN
Chúng tôi đi ngang 1 hố sụt (sinkhole) rất lớn, nằm giữa rừng, với độ sâu thẳng đứng 20 feet. Tôi nghĩ đây có lẽ là hầm chứa vũ khí nên quyết định leo xuống, bằng dây leo.
Một khi tôi đã xuống hang và quan sát chung quanh, tôi thụt lui (back up). Tôi dùng tay trái đưa ra sau để tìm hòn đá lớn mà tôi đã thấy khi vào hang. Khi tôi quay lại phía trước, Y-tot, đ.đ. trưởng người Ja-rai của tôi, cầm dao đi rừng chạy về phía tôi. Y-Tote nắm cổ của áo jacket của tôi và quăng tôi về phía trước. Sau khi quay lại, y dơ một con rắn gần như bị đứt đầu vào mặt tôi. Y đã có một nụ cười vừa ngớ ngẩn vừa tự mãn (shit-eating grin) vì đã cứu tôi. (Vì trong lúc dơ tay về phía sau, đã nói ở trên, tôi suýt đụng tay vào đầu con rắn). Tôi vừa sợ vừa ngạc nhiên đến độ tôi leo vội lên khỏi hang trong lúc lính Thượng cười rộ.
SUÝT BỊ BẮN CHẾT BỞI MÁY BAY RF-101 VOODO
Trong ngày thứ hai của chuyến công tác, trở về khu vực trách nhiệm (viết tắt là AO) ban đầu, chúng tôi đã tới những đồi rất lớn và thoai thoải ở phía nam của QK-2. Địa thế ở đây rất lạ khi có nhiều đồi trọc, ko có cây lớn mà chỉ có cỏ cao tới đầu gối, rất khác với khu vực ở phía tây trại Đức Lập là rừng âm u ba tán lá. Khu vực đồi trọc này dài từ 1-4 km hay hơn nữa và rộng bằng nữa chiều dài. Khu vực này bị ngăn cách bởi rừng ba tán lá, có thể rộng 1-2 km.
Khi vượt qua 1 ngọn đồi, tôi ngoảnh lại (turn around) để nhìn lại đội hình. Tôi thấy từ xa một vệt khói màu đen. Vài phút sau, tôi nhìn lại và nhận ra đó là một thám thính cơ phản lực RF-101 Voodoo của Không quân Mỹ, xem hình. Ở mủi máy bay có một máy ảnh lớn. Chiếc phản lực bay rất chậm đến nổi tôi có thể thấy cửa chập (shutter) của máy ảnh đóng và mở. Khi máy bay bay qua đầu, tôi thấy phi công với mặt nạ dưỡng khí, nhìn xuống chúng tôi. Y bay 1 vòng và quay trở lại để nhìn chúng tôi. Chúng tôi ko có máy truyền tin không-lục để liên lạc với y. Y lại bay 1 vòng và quay trở lại. Lúc đó tôi chợt nảy ra ý nghĩ, "Y ko biết chúng tôi là ai!" Khi y bay tới, đ.u. Gordon Vogel và tôi đều tuột quần, nằm sấp, và chổng mông (moon) lên máy bay. Ở vòng thứ 4, y nghiêng cánh trái, và nhìn xuống, chào tay và lắc cánh máy bay khi rời đi. Máy bay xịt khói đen, hướng về biên giới Cam-bốt. (Moon là 1 tiếng lóng để chỉ việc tuột quần chổng mông nơi công cộng để bày tỏ sự coi thường, khinh miệt (scorn) hoặc khiêu khích -- người dịch).
Tôi nghĩ các sĩ quan chuyên về không ảnh sẽ bật cười khi thấy ảnh chúng tôi chổng mông trước máy bay. Sau đó, đ.u. Vogel và tôi ngạc nhiên khi biết rằng chúng ta đã ko nói 1 lời trước khi đồng loạt quyết định chổng mông.
Hôm nay chúng tôi chắc chắn rằng mục tiêu của chiếc RF-101 này là sân bay của Đồn LeRolland. Điều này đã được chứng minh vài ngày sau đó.
Buổi sáng sau 1 cuộc chạm súng ở đông nam Bu Prang, những vỏ của đạn M-79 nằm trên mặt đất. Khói bốc lên từ cỏ bị cháy do chạm súng.LỰU ĐẠN NHIỆT NHÔM
Con đường chúng tôi đi ngang qua một đồi trọc và đi xuống sườn đồi để tới bìa rừng. Khi trung đội đi đầu xuống đồi, họ bị bắn bằng vũ khí nhỏ. Ngay lập tức các trung đội bung ra hai bên trái phải để bao vây địch quân. Cả ba trung đội tác xạ vào bìa rừng, khiến địch rút lui vào rừng.
Chúng tôi lập chu vi phòng thủ và bắt đầu lục soát. Sau đó chẳng bao lâu, chúng tôi tìm thấy một kho vũ khí gồm đạn cối, đồng phục, poncho, mền và hàng ngàn đạn rời của súng AK-47 nằm dưới một hố lớn.
Tôi để lính Thượng lục soát kho vũ khí. Khi họ hoàn tất, chúng tôi đã dùng chất nổ C-4 để phá hủy đạn cối. Một câu hỏi đặt ra: "Làm thế nào để phá hủy đám đạn AK này?"
Đ.u. Vogel và tôi nghĩ rằng nên dùng lựu đạn nhiệt nhôm với đám đạn này. Chúng tôi đã coi thường khuyến cáo của chuyên viên bậc 5 Ronnie Nash. Chúng tôi lấy mền và poncho chất đống lên đám vỏ đạn này. Đứng 2 bên của hố, tôi và đ.u. Vogel mỗi người ném 1 lựu đạn nhiệt nhôm vào đó.
Chỉ trong 10 giây, đạn bắt đầu nổ vì nóng. Đ.u. Vogel và tôi nhào xuống, nằm sát đất để tránh miểng. Chúng tôi nằm như vậy trong khoảng 15 phút trong khi đạn nổ vèo vèo (whiz) chung quanh. Tôi có thể nghe Ronnie Nash và đám lính Thượng đang cười trước nguy hiểm của chúng tôi. Họ đã rất khôn đã chạy thụt lùi khi thấy chúng tôi ném lựu đạn nhiệt nhôm. Nơi đạn nổ giờ đây chỉ còn một đống vỏ đạn (slag pile).
BIỆT THỰ













%20(2)%20(3).jpg)












