Showing posts with label sư đoàn 22 bộ binh. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 22 bộ binh. Show all posts

Tuesday, May 19, 2026

 Trần Hoài Thư - Màu khăn quàng cổ của một đơn vị cũ (viết lại)

March 12, 2012
Trong bài viết đăng trên nguyệt san KBC , nhan đề:
Tiểu Đoàn 35 BĐQ Chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn trong đợt 2 Mậu Thân 1968 của Văn Lang, tác giả nói về viên tiểu đoàn trưởng Hồ văn Hòa như sau:
“Đó là con mãnh hổ đầu đàn của TĐ 35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ 35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đã tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên…”
Là người trong cuộc, chúng tôi (THT) xin được bổ túc cũng như nói rõ thêm về vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng trẻ nhất này.
– Thứ nhất, nếu nói thiếu tá Hòa mang màu chiếc khăn quàng của đơn vị cũ đến đơn vị mới là tiểu đoàn 35 BĐQ thì phải nói là hai màu đen và đỏ. Vì đơn vị cũ của ông là đại đội 405 thám kích Sư đoàn 22 BB, (mà kẻ viết bài này từng choàng quanh cổ suốt gần 4 năm) mà ông từng là đại đội trưởng nhiều năm.
– Đại úy Thành chớ không phải đại úy Trinh. Ông là người đã có công rất lớn trong việc thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của sư đoàn để ứng phó với chiến trường miền núi..
– Ngoài thành tích là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH, Thiếu tá Hòa còn là một sĩ quan được thăng cấp nhanh nhất của QLVNCH . Chỉ trong vòng hai tháng, ông được lên HAI cấp . Cả hai lần đều xảy ra trong thời gian ông làm đại đội trưởng 405 TK, cả hai lần được gắn từ mặt trận bởi một vị tướng có tiếng là khó nhất là tường Đổ Cao Trí.
Viết thêm: Tôi xin post lại bìa sách của tác phẩm Đại Đội Cũ Trang Sách Cũ của tôi do tôi tự trình bày với màu đen màu đỏ. Có người chê tôi trình bày kém, không nghệ thuật chút nào. Phải có tranh hình của một họa sĩ nổi tiếng. Chứ nhìn vào thấy một màu máu dưới màu đen ghê rợn như lòng địa phủ. Nhưng xin hãy thông cảm cho tôi. Nếu thiếu tá Hòa đã mang vào đời binh nghiệp của ông cái màu khăn quàng , thì tôi cũng mang nó vào cuộc đời văn chương chữ nghĩa của tôi. Đó là lý do tại sao tôi cứ viết hòai viết mãi về người lính thám kích bạn tôi trên Blog này như qua bài thơ "Cho những người bạn thám kích của tôi" của Charles SchwiderskTrần Hoài Thư - Màu khăn quàng cổ của một đơn vị cũ (viết lại)
March 12, 2012
Trong bài viết đăng trên nguyệt san KBC , nhan đề:
Tiểu Đoàn 35 BĐQ Chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn trong đợt 2 Mậu Thân 1968 của Văn Lang, tác giả nói về viên tiểu đoàn trưởng Hồ văn Hòa như sau:
“Đó là con mãnh hổ đầu đàn của TĐ 35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ 35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đã tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên…”
Là người trong cuộc, chúng tôi (THT) xin được bổ túc cũng như nói rõ thêm về vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng trẻ nhất này.
– Thứ nhất, nếu nói thiếu tá Hòa mang màu chiếc khăn quàng của đơn vị cũ đến đơn vị mới là tiểu đoàn 35 BĐQ thì phải nói là hai màu đen và đỏ. Vì đơn vị cũ của ông là đại đội 405 thám kích Sư đoàn 22 BB, (mà kẻ viết bài này từng choàng quanh cổ suốt gần 4 năm) mà ông từng là đại đội trưởng nhiều năm.
– Đại úy Thành chớ không phải đại úy Trinh. Ông là người đã có công rất lớn trong việc thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của sư đoàn để ứng phó với chiến trường miền núi..
– Ngoài thành tích là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH, Thiếu tá Hòa còn là một sĩ quan được thăng cấp nhanh nhất của QLVNCH . Chỉ trong vòng hai tháng, ông được lên HAI cấp . Cả hai lần đều xảy ra trong thời gian ông làm đại đội trưởng 405 TK, cả hai lần được gắn từ mặt trận bởi một vị tướng có tiếng là khó nhất là tường Đổ Cao Trí.
Viết thêm: Tôi xin post lại bìa sách của tác phẩm Đại Đội Cũ Trang Sách Cũ của tôi do tôi tự trình bày với màu đen màu đỏ. Có người chê tôi trình bày kém, không nghệ thuật chút nào. Phải có tranh hình của một họa sĩ nổi tiếng. Chứ nhìn vào thấy một màu máu dưới màu đen ghê rợn như lòng địa phủ. Nhưng xin hãy thông cảm cho tôi. Nếu thiếu tá Hòa đã mang vào đời binh nghiệp của ông cái màu khăn quàng , thì tôi cũng mang nó vào cuộc đời văn chương chữ nghĩa của tôi. Đó là lý do tại sao tôi cứ viết hòai viết mãi về người lính thám kích bạn tôi trên Blog này như qua bài thơ "Cho những người bạn thám kích của tôi" của Charles Schwiderski :
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
(mời đọc Viết về một đại đội cũ )
Trần Hoài Thư , đại đội trưởng 405 thám kích của SĐ 22 VNCH . (Trung tá Nguyễn văn Dưỡng đã thành lập nhiều đại đội TK cho sđ 22) .i :
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
(mời đọc Viết về một đại đội cũ )
Trần Hoài Thư , đại đội trưởng 405 thám kích của SĐ 22 VNCH . (Trung tá Nguyễn văn Dưỡng đã thành lập nhiều đại đội TK cho sđ 22) .

Sunday, July 16, 2023

 TRUNG ĐOÀN 40 SĐ 22 VNCH TẠI MẶT TRẬN KHÁNH DƯƠNG THÁNG BA 1975.

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần hỏa lực của đơn vị. Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá (ĐT) tồi.-- Hoàng đế Pháp Napoléon.

LỜI NÓI ĐẦU: trong hai tháng cuối cùng của VNCH, trong khi có những đơn vị (đv) đã rút lui trước quân CSBV, thì cũng có nhiều đv đã anh dũng chống trả Bắc quân, dù chênh lệch rõ ràng về quân số và vũ khí -- trong đó có sđ 22 bộ binh ở Bình Định. Ví dụ tiểu đoàn 1/47, mà trung đoàn trưởng là trung tá Lê Cầu, chỉ trong chín ngày chiến đấu (từ 4 đến 13/3/75) để bảo vệ các vị trí trên QL-19, đã có bốn tiểu đoàn trưởng tử trận. Tiểu đoàn (TĐ) này phải về hậu cứ bổ sung quân số vì bị chết và bị thương 50/100. ĐT Nguyễn Hữu Thông, chỉ huy Trung đoàn 42, cũng thuộc sđ 22 bộ binh, sau khi sắp xếp các đv dưới quyền xuống tàu hải quân ở cảng Qui Nhơn, đã tự sát. 

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 226-229 của sách Black April.

===

. . .

"Tại tỉnh Bình Định, chuẩn tướng Phan Đình Niệm, TL của sđ 22 bộ binh VNCH đã ra lịnh trung đoàn 41, chỉ huy bởi ĐT Nguyễn Thiều, tấn công sđ 3 csbv đang ngăn chận QL-19. Ngày 16/3, trung đoàn này đã tiến tới đầu phía đông của đèo An Khê. Tuy nhiên, vì sự rút quân của Cao Nguyên vừa bắt đầu, trung đoàn 41 và 42, đã rút về vị trí phòng thủ ở Bình Khê trên QL-19. Trong khi đó, trung đoàn 47 đã tiếp tục giữ QL-1 gần biên giới với tỉnh Quảng Ngải để ngăn lữ đoàn 52 csbv tiến về nam. Trung đoàn 40 và ĐPQ Bình Định bảo vệ sân bay Phù Cátđoạn QL-1 ở bắc và nam tỉnh lỵ Qui Nhơn. Vì tin rằng sđ 22 đã ổn định tình hình trên QL-19, tướng Phú đã rút trung đoàn 40 để tăng phái cho mặt trận Khánh Dương trên QL-21-- và chỉ để lại một tiểu đoàn (TĐ) ở Bình Định. 

Trên QL-21, chạy từ Ban mê Thuột tới Nha Trang, sau khi trung đoàn 66 sđ 10 csbv chiếm căn cứ của trung đoàn 53, sđ 23 tại sân bay Phụng Dực Ban Mê Thuột ngày 17/3, trung đoàn này nhận thêm 13 xe bọc sắt (có lẽ là M-113 của VNCH, người dịch), và được lịnh tiếp tục hướng đông để chiếm quận lỵ Khánh Dương. Quận lỵ này nằm ở một thung lũng bằng phẳng bao quanh bởi núi cao. Đây là cứ điểm cuối cùng trước khi đến đèo M'Drak -- cửa ngõ để xuống bờ biển. QL VNCH đã dùng quận lỵ Khánh Dương làm điểm tập hợp những tàn quân (straggler) rút lui từ Ban Mê Thuột. Vài tiểu đoàn ĐPQ giữ tp này, với nhiều đại bác (multiple tubes of artillery). Thông thường, đây là một vị trí phòng thủ vững chắc, nhưng tinh thần của ĐPQ đã giao động (shaky) từ những thất trận trước đó. Hai tiểu đoàn của trung đoàn 40 kể trên đã tới Khánh Dương ngày 19/3. Một TĐ đã triển khai vài dặm ở tây bắc của tp, trong khi TĐ thứ hai bảo vệ Ql-21. Nói thêm: theo trung úy Bùi Anh Trinh, trưởng ban 3 của TĐ 231 ĐPQ của tỉnh Khánh Hòa thì trung đoàn 40 do trung tá Nguyễn Thành Danh chỉ huy. TĐ 2/40 (do thiếu tá Tốt chỉ huy) và pháo binh của trung đoàn này tới Khánh Dương sáng ngày 17/3. Trung đội 1 của đ.đ. 4 của TĐ 2/40 của chuẩn úy Lê Minh Quang đã được trực thăng bốc và thả xuống đồn Chu Cúc (ở phía tây của đồi 519); đồn này thuộc tỉnh Darlac, giáp với Khánh Hòa, và do một đại đội ĐPQ giữ). Đồi 519 đã bị trung đoàn 25 csbv chiếm giữ cả tuần rồi. Ngày 22/3, lúc 7 g sáng, TĐ 2/40 bị tràn ngập. Lúc 7:20, người lính mang máy của TĐ 2/40 báo cáo rằng thiếu tá Tốt và trưởng ban 3 tử trận.--người dịch

Bản đồ Buôn Ea Thi, thông tin tính tới năm 1970https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/buon_ea_thi-6734-2.pdf



Cùng lúc đó, trong khi đang cố gắng cản trở (impede) bước tiến bắc quân trên QL-21, tướng Phú còn phải giữ hai phòng tuyến khác: một tại Bình Khê trên QL-19 và một tại Củng Sơn trên LTL-7. Giữ được ba phòng tuyến này sẽ cho phép nam VN có thể tạo một vùng đệm (buffer zone), tuy mỏng manh, để bảo vệ bờ biển, ý nói ba tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Để làm điều này, tướng Phú cần TRỪ BỊ. Ông ra lịnh cho ĐPQ/NQ đã rút lui từ tỉnh Darlac (mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột) sát nhập vào ĐPQ của Khánh Hòa. Tàn quân của sđ 23 VNCH sẽ tái tổ chức ở một trại LLĐB cũ ở bắc Nha Trang. TT Thiệu cũng ra lịnh cho lữ đoàn 3 dù, trên tàu từ QK-1 về SG, đổ xuống Nha Trang. Tàu cập bến lúc 1:30 SÁNG 19 THÁNG BA. Nhiệm vụ của Mũ Đỏ là giữ đèo M'Drak và tăng viện hay hỗ trợ cho trung đoàn 40 và ĐPQ đang bảo vệ quận lỵ Khánh Dương. Nói thêm: LĐ 3 dù với 3 tiểu đoàn thiện chiến và một TĐ pháo binh cơ hữu nên dễ dàng yểm trợ cho ĐPQ và đặc biệt cho trung đoàn 40 bộ binh vì đv này đã giao động và mệt mỏi sau thời gian chiến đấu liên tục tại Bình Định --người dịch. 

Không quân VNCH đã bị căng kéo tối đa. Sđ 2 Không quân ở sân bay Phù Cát đang yểm trợ sđ 22 và đang cố gắng phá hủy trang bị và hàng tấn tiếp liệu bỏ lại tại sân bay Cù Hanh Pleiku. SĐ 6 KQ, đặc biệt là không đoàn 72 của đại tá Lê văn Thảo tại Phan Rang, đã tả xông hữu đột tại nhiều mặt trận. Nào là yểm trợ các đv đang rút trên QL-7 và các đv bảo vệ QL-21, nào là phá hủy các xe bọc sắt bỏ lại ở tỉnh lỵ Cheo Reo của tỉnh Phú Bổn. 

Tuy nhiên, cái mà Phú cần nhứt là THỜI GIAN. Nếu ông có thể lập được một phòng tuyến sơ sài đi nữa, các sđ của Văn Tiến Dũng buộc phải dừng lại và sẽ làm chậm đi kế hoạch tiến về SG của bộ chánh trị. Do đó Dũng đã quyết tâm ko cho Phú có thời gian để thở bằng cách ra lịnh cho các sđ tiến quân bất chấp các trở ngại về tiếp vận. Trên cả ba mặt trận--Bình Định, LTL-7B và QL-21--Bắc quân ồ ạt xông tới khiến cho Phú ko có thời gian để tập hợp lực lượng. 

Áp lực mới này của Dũng chẳng bao lâu đã có kết quả. Tại phía đông Bình Định, việc rút trung đoàn 40 của sđ 22 bộ binh VNCH để tăng phái cho mặt trận Khánh Dương đã tạo chỗ trống cho hai trung đoàn cs--thành lập từ các lực lượng cs địa phương. Họ đã tấn công các đv ĐPQ/NQ trên QL-1, và với tinh thần quân VNCH xuống thấp (sag) vì những thất bại trên LTL-7 và quân khu I, ĐPQ đã sụp đổ. Trong một tuần, quân cs đã quét sạch phần lớn các vị trí ở bắc và nam của Qui Nhơn và đang đe dọa tp này. Trung đoàn 47 vnch đột nhiên đã thấy họ bị khóa đuôi. Sđ 3 csbv đã đưa (snuck) một trung đoàn đến phía sau hai trung đoàn VNCH tại Bình Khê, ngăn chận đường rút lui và đe dọa sân bay Phù Cát. Giờ đây hy vọng duy nhứt cho sđ 22 vnch là chiến đấu để rút về Quy Nhơn và lập chu vi phòng thủ mới. 

Tại QL-21, từ Ban Mê Thuột đi Nha Trang, trung đoàn 66 sđ 10 csbv đã tổ chức thành hai cánh quân để tấn công Khánh Dương. Một cánh, với sáu xe bọc sắt (có lẽ là M-113 của vnch), chuẩn bị tấn công từ tây bắc. Cánh thứ hai, với bảy xe tăng, di chuyển trên ql-21. NGÀY 21/3, cánh tây bắc mở trận tấn công đầu tiên, nhưng trung đoàn 40 sđ 22 vnch vừa mới đến từ Bình Định đã đẩy lui sau khi máy bay vnch bắn cháy vài xe bọc sắt. Không bỏ cuộc, bình minh NGÀY 22/3, bắc quân tiếp tục tấn công. Cánh quân hướng tây bắc tấn công lần nữa, và lần này bị thiệt hại vài xe do máy bay. Cánh quân trên ql-21 tấn công, nhưng dừng lại do cầu bị giựt sập. Chỉ huy trung đoàn 66 ra lịnh cho cánh tây bắc, giờ đây chỉ còn một xe bọc sắt và một xe tăng với bộ binh, phải tiến lên. Lần này họ đánh bọc sườn những người lính chính quy VNCH và chạy thẳng về tp Khánh Dương. ĐPQ nhanh chóng sụp đổ. Lúc 12 g trưa, tướng Phú ra lịnh cho trung đoàn 40 rút lui và bảo vệ đường tiến sát phía tây của Nha Trang.

Sau khi cây cầu được sửa chữa, TL của sđ 10 csbv, thượng tá Hồ Đệ, đã ra lịnh cho những cánh quân khác chiếm Đèo M'Drak. Từ cao điểm thuận lợi (vantage) trên đèo, lữ đoàn 3 Dù đã thấy và chuẩn bị trận địa pháo. Khi bắc quân vào khu vực bằng phẳng ở trước đầu đèo, Nhảy Dù nổ súng. Một số xe bị bốc cháy và bắc quân rút lui. Họ phải chờ đến khi sđ 10 tập hợp đầy đủ để tấn công lần nữa". 

. . .

San Jose ngày 16 tháng 4 2021

Tài Trần

Sunday, October 9, 2022

 Phi Vụ Hành Quân Cuối Cùng Của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư

MS Lê Văn Sáu
Ngày 31 tháng 3 năm 1975 là ngày chiến đấu kiên cường của Sư Đoàn 22 Bộ Binh nhằm giải tỏa áp lực địch trên toàn lãnh thổ tỉnh Bình Định đang ồ ạt tấn công về thành phố Qui Nhơn và đó cũng là ngày đau buồn của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư chúng tôi vì một phi hành đoàn trực thăng võ trang đã lâm nạn trong phi vụ cuối cùng yểm trợ hỏa lực, bảo vệ trực thăng tiếp tế đạn dược cho Trung Đoàn 42 (SĐ22BB), đã nằm lại mãi mãi trên mảnh đất Bình Khê thân yêu.
Lúc 8 giờ sáng tất cả quân nhân tại Căn Cứ 60 Chiến Thuật Không Quân Phù Cát nhận được lệnh sẵn sàng di tản về phi trường Phan Rang để tái phối trí, lập vành đai bảo vệ Sài Gòn. Trong khi đó các phi tuần A37 (PĐ 532 Gấu Đen) cùng với trực thăng võ trang của Phi Đoàn 243 thay phiên nhau quần thảo hướng Tây Bắc phi trường để sẵn sàng oanh kích và tác xạ các ổ phòng không hay các tụ điểm hỏa tiễn 122 ly của địch đang hướng về phi trường Phù Cát, hầu tạo được một vòng đai bảo vệ an toàn cho các phi cơ C130 đáp và cất cánh chở người di tản.
Về phía Sư Đoàn 22 Bộ Binh trú đóng đại bản doanh tại Căn Cứ An Sơn cũng nhận được lệnh từ Bộ Tư Lệnh Hành Quân Mặt Trận Bình Định, điều động Sư Đoàn về phòng thủ Qui Nhơn. Cả ba trung đoàn lúc đó đều đang giao tranh khốc liệt với địch quân. Hướng Bắc tỉnh Bình Định thì Trung Đoàn 47 BB đang giữ nhiệm vụ bảo vệ Quốc lộ số 1 và các quận phía Bắc đang bị Việt Cộng tràn về sau khi Đà Nẵng và Quảng Ngãi thất thủ. Về hướng Tây thì Trung Đoàn 41 BB và Trung Đoàn 42 BB cũng đang bị áp lực nặng nề của hai Sư Đoàn Cộng Sản Bắc Việt khi Sư Đoàn 3 Sao Vàng đang bôn tập từ mật khu An Lão và mật khu Vĩnh Thạnh tiến về bao vây Trung Đoàn 41 BB tại Phú Phong trong khi đó Sư Đoàn 968 Việt Cộng đang từ An Khê tiến về bao vây căn cứ Lai Nghi của Trung Đoàn 42 BB.
Với lối tấn công cường tập, dùng chiến thuật biển người, cộng quân đã không ngần ngại đánh đổi mạng sống của các cán binh CS với mục đích tràn ngập căn cứ Lai Nghi của Trung Đoàn 42 BB hầu chiếm Quốc lộ 19 để địch quân cùng chiến xa dễ dàng tiến quân về thành phố Qui Nhơn.
Lúc 9 giờ sáng, Phòng Hành Quân Chiến Cuộc (Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát) ra lệnh điều động một phi vụ hành quân cho Sư Đoàn 22 BB gồm một trực thăng tiếp tế và hai trực thăng võ trang yểm trợ.
Các trưởng phi cơ gồm có:
- Trực thăng tiếp tế là Đại úy Phan Đình Khoa.
- Trực thăng võ trang số 1 là cố Đại úy Nguyễn Văn Hải.
- Trực thăng võ trang số 2 là Trung úy Nguyễn Văn Long.
Tại Căn Cứ An Sơn, phi hành đoàn nhận được lệnh hành quân là chở một tàu đạn súng cối để tiếp tế cho quân trú phòng tại Căn Cứ Lai Nghi của Trung Đoàn 42 BB có đủ đạn để các chiến sĩ mở một đường máu để rút về Qui Nhơn.
Đơn giản thế thôi. Nhưng với kinh nghiệm chiến trường của các hoa tiêu trực thăng thì phi vụ này vô cùng khó khăn và nguy hiểm, lành ít dữ nhiều vì với cấp số hai sư đoàn cộng sản Bắc Việt được trang bị ̣những dàn phòng không 37 ly và cả hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Hiện tại thì địch quân đã chiếm các cứ điểm quan trọng và tràn ngập các vùng thuộc hai quận An Nhơn và Bình Khê về hướng Tây và Tây Nam phi trường Phù Cát cho nên các trực thăng vào vùng mà không biết các ổ pháo phòng không nằm ở vị trí nào, nhất là các hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 vác vai là loại vũ khí khắc tinh rất nguy hiểm cho các trực thăng.
Một điều đặc biệt nữa là chính đích thân Tư lệnh phó SĐ22BB là Đại tá Lều Thọ Cường ra tận tàu để dặn dò với Đại úy Phan Đình Khoa, trưởng phi cơ trực thăng tiếp tế. Ông gởi niềm tin vào phi hành đoàn: “Các em cố gắng giúp Sư Đoàn. Anh em ở Lai Nghi rất cần số đạn súng cối này để mở đường máu ra Quốc lộ 19 để rút về bảo vệ Qui Nhơn ngay trong đêm nay”.
Ba chiếc trực thăng trực chỉ về hướng Tây như những cánh chim đơn độc bay vào vùng gió bão. Nhưng không, lúc này không phải một trận cuồng phong bình thường mà đó là một lưới lửa dày đặc đan kín bầu trời từ các dàn phòng không của Cộng quân khi thấy ba chiếc trực thăng xuất hiện và định mệnh đã an bài khi một tia lửa từ hỏa tiển tầm nhiệt SA7 xẹt lên trời, trúng ngay chiếc trực thăng võ trang số 1 trong đó gói trọn cả phi hành đoàn lâm nạn gồm:
- Trưởng phi cơ Cố Đại uý Nguyễn Văn Hải.
- Hoa tiêu phó Cố Trung uý Lê Minh Hải.
- Cơ khí phi hành Cố Thượng sĩ (không nhớ họ) Hải.
- Xạ thủ phi hành Cố Trung sĩ Phạm Văn Thiện.
Biết không thể hoàn tất phi vụ vô cùng bất trắc và nguy hiểm này vì không thể nào đến được mục tiêu mà không bị thêm tổn thất cho nên hai chiếc trực thăng còn lại áp dụng phương thức khẩn cấp bay thấp để về lại phi trường Phù Cát mà trong lòng mang nặng một nỗi ngậm ngùi khi chính mắt nhìn thấy chiếc trực thăng lâm nạn quay vòng như chiếc lá, rơi xuống đất tan tành nghi ngút khói, gói trọn hình hài của cả phi hành đoàn mà các anh không thể nào tiếp cứu được.
Biết rằng khi chọn ngành phi hành là chấp nhận “ra đi không ai tìm xác rơi” nhưng trong hoàn cảnh bất lực này khi hai cánh chim đơn độc đang tìm cách bay ra khỏi bầu trời ngập tràn lưới lửa phòng không, không thể giúp được gì hơn quân bạn dưới đất và các chiến sĩ bộ binh cũng đang phải tự cứu mình giữa hai bờ sinh tử. Xót xa tận cùng vì lực bất tòng tâm.
Sở dĩ chúng tôi nêu tên các phi hành đoàn vì với thời gian trôi qua anh linh những người hy sinh cũng đã tiêu diêu trong cõi hư vô trong khi đó các không quân còn sống trong phi vụ cảm tử đó vẫn ám ảnh trong giấc mơ khi nhìn thấy lại cảnh con tàu lâm nạn và thở dài khi mình đã bất lực không thực hiện được trọn vẹn lời thề quân chủng “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”...
Rồi 42 năm trôi qua. . .
Sau ngày quốc nạn, anh em Phi Đoàn 243 Mãnh Sư lưu lạc bốn phương nhưng trong lòng mọi người vẫn mang một nỗi ngậm ngùi khi tưởng nhớ đến các anh trong phi hành đoàn lâm nạn đã anh dũng hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến đấu bảo vệ chính nghĩa tự do nhưng không có cơ hội nhận được một ngân khoản tử tuất nào cùng vòng hoa “Tổ Quốc Tri Ân” trước quan tài phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ và nhất là gia đình vẫn không biết các anh đã mất tích hay lưu lạc phương nào. Còn nếu đã hy sinh thì cũng không biết các anh đã tử trận ngày giờ nào để biết mà lo bề thờ tự.
Sau nhiều năm tìm kiếm khắp nơi, Phi Đoàn 243 Mãnh Sư đã tìm được chị Nguyễn Thị Thơm là vợ của cố Mãnh Sư Nguyễn Văn Hải đang định cư cùng con gái tại Úc. Chị đã qua Hoa Kỳ tham dự hai lần họp mặt của phi đoàn và sẽ tham dự Đêm Hội Ngộ SĐ6KQ do BTC mời.
Với những cố gắng tìm kiếm thân nhân của các nhân viên phi hành còn lại trong phi hành đoàn lâm nạn thì trong những ngày gần đây (tháng 4 năm 2017) các anh em Phi Đoàn 243 Mãnh Sư ở Việt Nam đã tình cờ tìm được tin tức của thân nhân cố Mãnh Sư Phạm Văn Thiện hiện đang cư trú tại Cần Thơ.
Chúa nhật ngày14 tháng 5 năm 2017, các anh em đã về Cần Thơ để cố tìm gặp thân nhân của Thiện nhưng một lần nữa chúng tôi lại nghe thêm một tin buồn là vợ của Thiện sau những ngày mòn mỏi ngóng trông tin tức của chồng cùng nỗi thống khổ ngặt nghèo của cuộc sống dưới chế độ hà khắc của Cộng Sản, chị cùng đứa con gái thân yêu lưu lạc bốn phương để tìm kế sinh nhai và cuối cùng lâm trọng bệnh đã gởi thân xác tại mảnh đất Cần Thơ.
Các anh em Phi Đoàn 243 ở VN đã trích một số tiền quỹ do anh em Phi Đoàn 243 hải ngoại gởi tặng để giúp đỡ thân nhân của Thiện. Với chút quà nhỏ “lá lành đùm lá rách” của anh em phi đoàn ở hải ngoại gởi cho hàng năm thì nay anh em ở VN mở lòng với một nghĩa cử cao đẹp hơn “lá rách đùm lá tả tơi” khiến cho con gái của Thiện là cháu Phạm Thanh Lan hiện có chồng và hai đứa con gái mừng rơi nước mắt. Cháu đang làm công nhân với đồng lương ít ỏi nên cuộc sống rất khó khăn. Anh em muốn cháu cho một địa chỉ chính xác để anh em Phi Đoàn 243 Mãnh Sư gởi chút ít hiện kim để cháu trang trải cuộc sống nhưng cháu bùi ngùi tâm sự vì đồng lương ít ỏi nên gia đình cháu chỉ đủ tiền mướn phòng trọ. Nơi nào phòng trọ ̣cho mướn rẻ thì cháu chọn làm nơi trú ngụ. Mọi sự giúp đỡ của ân nhân cháu nhờ các anh em Phi Đoàn 243 Mãnh Sư ở Việt Nam nhận lãnh giùm cho cháu.
Nay chúng tôi gởi bài viết này gói trọn nội dung như một lá Thư Ngỏ đến toàn thể các niên trưởng và anh em Phi Đoàn 243 Mãnh Sư và Phi Đội 259A Nhân Ái hải ngoại biết tin để cùng chung tay đóng góp ít nhiều giúp cho gia đình con gái của cố Mãnh Sư Phạm Văn Thiện trang trải cuộc sống khó khăn này. Đó cũng là một phần tưởng nhớ đến hương linh một chiến hữu của phi đoàn đã hy sinh trong phi vụ hành quân cuối cùng của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư.
Ngoài ra nếu các ân nhân nào đọc được Thư Ngỏ này của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư chúng tôi, có lòng hảo tâm muốn đóng góp chút ít quà tình nghĩa cho con gái của cố Mãnh Sư Phạm Văn Thiện thì xin gởi ngân phiếu về địa chỉ:
Lê Văn Sáu
11554 Azalea Ave.
Fountain Valley, CA 92708
Memo: giúp cô nhi Phạm văn Thiện
Xin trân trọng cám ơn
Phi Đoàn 243 Mãnh Sư

Wednesday, November 11, 2020

 TRẬN ĐÁNH GIỮA SĐ 10 CSBV VÀ LỮ ĐOÀN 3 NHẢY DÙ TẠI ĐÈO M'DRAK CUỐI THÁNG 3.75

- "Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá tồi" và "Trong chiến đấu, tinh thần của quân sĩ gấp ba lần sức mạnh của đơn vị". -- Hoàng đế Napoléon của Pháp.

Lời nói đầu: Vừa rồi tôi đã giới thiệu KỲ TÍCH của SĐ 22 bộ binh VNCH, có thể nói là ko thể tưởng tượng, trong cuộc quyết chiến ko cân sức kéo dài 25 ngày của tháng 3/75 với sđ 3 CSBV và các đv địa phương của CS, để bảo vệ QL-19 và QL-1, trên đường rút quân về tỉnh lỵ Qui Nhơn của Bình Định. Dù bị thiệt hại nặng, đặc biệt là trung đoàn 47, họ đã thể hiện tinh thần chiến đấu cao, bất chấp khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm như trung đoàn 47 đi bộ 45 km! (vì ko xe chuyên chỡ) hay cả SĐ chỉ được cấp một máy bay L-19 ba giờ mỗi ngày hay bốn tiểu đoàn trưởng của TĐ 2/47 tử trận trong chín ngày... ĐT Lê Cầu trung đoàn trưởng, dù bị thương vì dẫm phải mìn, bảo lính bỏ mặc ông, nhưng họ vẫn mang ông đi, cuối cùng cả toán bị bắt. ĐT Nguyễn Hữu Thông của tr.đ. 42, sau khi lính đã lên tàu, ông ở lại bãi biển Qui Nhơn và tự sát

Hôm nay tôi xin giới thiệu trận đánh của lữ đoàn 3 Dù tại Đèo M'Drak. Ngày 29/3, sđ 10 csbv bắt đầu tấn công bằng pháo. Trận đánh tái tục bằng bộ binh ngày 30/3: TĐ 5 Dù ở đầu đèo phía tây và TĐ 6 Dù ở giữa đèo còn đứng vững nhưng TĐ 2 ở đầu đèo phía đông bị bao vây chia cắt và thiệt hại nặng. Tối hôm đó lữ đoàn trưởng là trung tá Phát xin rút nhưng tướng Phú ko cho và hứa sẽ gửi viện quân. Sáng ngày 31/3, ba trung đoàn của sđ 10 csbv đã tấn công dứt điểm ba tđ Dù...

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 335-40 của quyển Black April (Tháng Tư Đen) của tác giả George J. Veith. 

....

"Sau khi cùng các sđ khác của CSBV tấn chiếm thành công tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac, sau vài ngày nghỉ ngơi, sđ này được lịnh tiến về phía đông, dọc theo QL-21, con đường đi từ Ban Mê Thuột tới Nha Trang.  

Quốc lộ 21 (QL-21) từ Ban Mê Thuột đi Nha Trang

SĐ 10 csbv, còn gọi là sđ F10, có ba trung đoàn (tr.đ.) bộ binh cơ hữu, gồm các tr.đ. 24, 28, và 66, cùng với các đv xe tăng T-54, phòng không, pháo, hợp lực với tr.đ. 25 - vừa mới tăng phái. Nhưng chiếm đèo M'Drak ko phải là việc dễ dàng. Đèo này chạy ngang một nhánh của rặng Trường Sơn chia cách quận lỵ Khánh Dương với quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa ở bờ biển. Địa thế rất hiểm trở, vì đường đèo có nhiều chỗ quẹo cua rất gắt khi chạy qua các hẻm núi (canyon) và nhiều cầu và cống nước (culvert). Để trì hoãn bước tiến của Bắc quân, trung tá Lê văn Phát, chỉ huy lữ đoàn 3 Dù VNCH, đã chỉ thị cấp dưới phải phá các cầu trên QL-21, ở phía tây của Đèo sau khi đv cuối cùng của VNCH qua cầu. Tuy nhiên, ông Phát đã ko tính tới khả năng vượt bực về xây dựng cầu đường của công binh csbv. Quân sử của sđ 10 sau này đã viết, "các đv công binh và trinh sát đã nhanh chóng hoàn tất một con đường ở phía TÂY của đèo này... đồng thời mở rộng một ĐƯỜNG MÒN (footpath) từ Khánh Dương phía tây ... để xe tải có thể dùng. Tr.đ. 24, đã được lịnh chiếm một vị trí ở ĐÔNG của đèo để án ngử, đã dùng con đường hoàn thành trước đó bởi công binh."

Đèo M'Drak 

Vì thấy rằng địa thế rất hiểm trở, một cuộc tấn công trực diện trên đường đèo rất khó, do đó sđ 10 csbv dự định sẽ đi vòng bên hông của Nhảy Dù. SĐ sẽ gửi tr.đ. 24 đi vòng quanh (loop) Nhảy Dù để CHẶN phía đông của đèo. Một tr.đ. thứ hai sẽ tấn công đầu đèo phía tây - đang trấn giữ bởi TĐ 5 Dù. Tr.đ. thứ ba sẽ đi về phía bắc và sau đó QUAY ĐẦU để tấn công giữa đèo. 

Dù lính Nhảy Dù đã đào hầm hố và chờ đợi, trung tá Phát, nhờ những toán viễn thám, đã sớm biết rằng ông đang đối diện những đv CSBV ưu thế hơn đang cố gắng bọc sườn Nhảy Dù từ HAI hướng. Và khả năng của ông rất ít. Vì ba tiểu đoàn của ông ko thể kiểm soát ngọn đèo dài 14.50 km này và cũng ko thể kiểm soát cạnh sườn của lữ đoàn. Khi một đoàn công-voa tiếp tế của Dù bị phục kích NGÀY 28 THÁNG BA ở phía ĐÔNG của đèo, ông biết rằng một tấn công toàn diện của địch là hiển nhiên. Nhận biết rằng ko thể để Bắc quân cắt đường rút lui, ông đã ra lịnh TĐ 2 Dù, đang đóng ở GIỮA đèo, tiến về cuối đèo để kiểm soát con đường đến trung tâm huấn luyện BĐQ tại Dục Mỹ. TĐ 5 Dù vẫn tiếp tục giữ đầu đèo phía tây, trong khi TĐ 6 Dù làm đoạn hậu của TĐ 5. 

Trực giác của Phát đã đúng. LÚC 3:00 sáng NGÀY 29 THÁNG 3, sđ 10 csbv tấn công ồ ạt bằng pháo binh. TRONG GẦN 6 GIỜ, các pháo đội Nhảy Dù đã pháo chiến với pháo binh csbv - phần lớn là đại bác cũ của VNCH bị chiếm ở Ban Mê Thuột, cùng với những xe tải chỡ đầy đạn lấy từ kho đạn Mai Hắc Đế cũng ở BMT. 

LÚC 9:30 SÁNG NGÀY KẾ TỨC NGÀY 30/3, 3 trung đoàn Bắc quân đồng loạt 3 TĐ Dù. Ác chiến diển ra cả ngày, nhưng TĐ 5 và 6 Dù, nhờ nhiều đợt ném bom của không quân (KQ), vẫn giữ được vị trí. Tuy nhiên, ở đầu đèo phía ĐÔNG, TĐ 2 Dù bị thiệt hại nặng. Một đv lớn của bắc quân đã tấn công bộ chỉ huy TĐ này, bảo vệ bởi 30 lính Dù: với lực lượng nhỏ như vậy, thiếu tá Trần Công Hạnh, TĐ trưởng, khó mà giữ được. Trong khi ông cố gắng đẩy lui cuộc tấn công đầu tiên này, chẳng bao lâu ông nghe loa phóng thanh (bullhorn) kêu gọi đầu hàng. Ông từ chối, và với đám lính chuyên về tiếp vận ở BCH TĐ, ông liều mạng phá vòng vây xuyên qua phòng tuyến địch (mad dash through ennemy line). VC đã đuổi toán của ông trong 8 KM. Cuối cùng, ông đã liên lạc qua máy truyền tin với trung tá Trần đăng Khôi, chỉ huy phó Lữ đoàn, và ông và đồng đội được trực thăng cứu. Các đại đội tác chiến của TĐ 2 Dù, đóng đơn độc trên những ngọn đồi chung quanh, đã lần lượt bị tấn công riêng lẻ bởi các TĐ csbv và bị thiệt hại nặng

Trong khi TĐ 2 Dù ở đầu phía đông đèo BỊ BAO VÂY CHIA CẮT, quân Dù của hai TĐ 5 và 6 đã chận đứng cuộc tấn công đầu tiên. Dù được (notwithstanding) không quân hỗ trợ dồi dào, Phát đã biết rằng ông ko thể chống đỡ nếu ko có VIỆN QUÂN. Ba tù binh csbv cho biết toàn thể mọi binh sĩ của sđ 10 csbv đã hạ quyết tâm rằng cùng với chiến xa, họ sẽ chiếm cho bằng được đèo này, nên TỐI 30 THÁNG 3, Phát đã gọi QUÂN ĐOÀN 2 xin được rút quân. Tướng Phú từ chối, và hứa sẽ gấp rút tìm viện quân cho Phát. 

Đơn vị kỹ thuật của sđ 10 csbv đã nghe được cuộc gọi này nên sđ 10 csbv lập tức tấn công. SÁNG SỚM NGÀY 31/3, một trung đoàn có tăng T-54 yểm trợ đã tấn công TĐ 5 Dù ở đầu đèo phía tây. Trung đoàn thứ hai, từ phía bắc tấn công TĐ 6 Dù, trong khi trung đoàn 24 từ trên núi tràn xuống và CHIẾM QL-21, cắt đường rút lui của lữ đoàn 3 Dù. TĐ 72 BĐQ thuộc Liên đoàn 21 BĐQ, đang bổ sung quân số tại TTHL Dục Mỹ sau khi rút lui từ Ban Mê Thuột, đã cố gắng PHÁ VÒNG VÂY và cứu Nhảy Dù. Trung tá Lê Quí Dậu, LĐ trưởng, đã xác nhận rằng "Tôi được lịnh phải đặt TĐ 72 BĐQ dưới quyền LĐ 3 Nhảy Dù, nhưng đã quá trể trong tình hình này, dù cho chúng tôi đã cố gắng hết mức. Phần lớn các tiền đồn của Nhảy Dù đã bị cắt đường rút lui. Trong cuộc hành quân này, TĐ 72 BĐQ đã bị thiệt hại đáng kể vì không có yểm trợ nào ngoài vũ khí cơ hữu của TĐ, trong khi tinh thần của địch thì cao và tiếp tế dối dào."

Quân sử của sđ 10 csbv sau này, đã xác nhận mô tả của Dậu, khi viết: "Lúc bình minh, địch đã tập trung pháo... để tấn công các vị trí án ngữ của tr.đ. 24. Pháo địch đã phối hợp chặc chẻ với oanh kích dữ dội của không quân địch... Các máy bay A-37, hết chiếc này tới chiếc khác, đã ném bom thường và napalm vào các vị trí của tr.đ. 24. Bộ binh địch đã quyết tử (death-defying charge) trong cố gắng đẩy lui tr.đ. 24 để mở đường rút lui." SĐ 10 đã ra lịnh cho một tr.đ., đang cùng với 4 xe tăng T-54 tấn công TĐ 6 Dù, phải tăng viện cho tr.đ. 24. 

KQ VNCH đã diệt bốn xe tăng này và Bắc quân gửi thêm bốn thiết vận xa M-113 chiếm được của VNCH. Quân tăng viện này đã giúp Bắc quân giữ được đầu đèo phía đông. Lữ đoàn 3 Dù bị cắt đường rút lui và có nguy cơ BỊ TRÀN NGẬP. 

Suốt ngày Phát đã gọi quân đoàn 2 để xin viện binh và Phú đã cố gắng TRONG TUYỆT VỌNG để tìm kiếm viện quân. Vào sáng sớm NGÀY TRƯỚC ĐÓ (TỨC 30 THÁNG 3), chuẩn tướng Trần đình Thọ, trưởng phòng 3 TTM gọi Phú và hứa rằng "SĐ TQLC sẽ đổ bộ lên Vịnh Cam Ranh bằng tàu LST vào BUỔI CHIỀU. Và một Lữ Đoàn sẽ lập tức đc tái tổ chức và tái trang bị để tăng viện cho mặt trận Khánh Dương. Tướng Phú đón nhận tin này với hân hoan tột độ (great jubilation)." Tuy nhiên, niềm lạc quan này của Phú đã vụt tắt khi Tướng Niệm, TL SĐ 22 bộ binh, bay đến vào buổi TRƯA báo cáo Phú rằng tình hình Bình định NGUY NGẬP (critical). Dù 3 trung đoàn của ông vẫn còn làm chủ tình hình (hold sth at bay), nhưng quân VC địa phương đã đột ngột tấn công hậu quân của ông GẦN Qui Nhơn cũng như các đv ĐPQ rải rác. Phú bảo Niệm cố giữ quân cảng Qui Nhơn và bảo vệ TP. 

Cùng CHIỀU 30/3, Phú bay tới Cam Ranh gặp tướng Trưởng, vừa mới tới từ Đà Nẳng. Trưởng từng là xếp của Phú năm 1972 khi Phú chỉ huy SĐ 1 bb. Phú muốn Trưởng cho TQLC lên bờ nhưng Trưởng ko nói chuyện với ông. Đây là một hành động LẠ LÙNG NHỨT của Trưởng vì nếu ko có TQLC, Phú ko còn cơ may nào hết, để cứu LĐ 3 Dù. Lý do chánh mà Trưởng nổi giận với Phú vì cuộc rút quân thảm hại tại Cao Nguyên, gây ảnh hưởng xấu khiến QĐ 1 sụp đổ theo. 

Tuy nhiên, Trưởng, lúc đó cũng rất suy sụp (depressed). Theo một báo cáo của CIA, ông cần "tiêm tỉnh mạch và khổ sở vì đau dạ dầy; ông cũng có vẻ chán nản (deject) và xuống tinh thần vì mất QĐ 1." Khi BTTM ra lịnh cho TQLC đổ bộ lên Cam Ranh và nói Trưởng phải về Sài Gòn một mình, ông đã từ chối. Ông nhờ hạm trưởng "gọi BTTM để yêu cầu TQLC cùng về SG với tôi để dưỡng quân. Nếu yêu cầu này bị từ chối, tôi sẽ ở lại Cam Ranh với TQLC và tôi sẽ chiến đấu với họ." Trưởng có lẽ sợ rằng nếu trở về một mình, ông sẽ bị Thiệu bắt giam vì để mất QĐ 1. Ông muốn ở lại với TQLC vì họ sẽ bảo vệ ông. Trưởng ko phải là kẻ hèn nhát, nhưng cũng phải là kẻ ngu. BTTM nhanh chóng hủy bỏ (rescind) lịnh này và nói TQLC lên tàu và về SG. NGÀY KẾ 31/3, tàu HQ chỡ TQLC ra khơi và hy vọng cuối cùng của Phú về viện quân từ bên ngoài QĐ 2 đã tan biến! 

Tướng Phú ngày càng hoảng loạn trong khi tuyệt vọng tìm kiếm viện quân. Ông chỉ còn tr.đ. 40 TRỪ (vì một TĐ ở lại Bình Định) thuộc sđ 22, nhưng họ phải giữ ngoại ô phía tây của Nha Trang. Dù cho Nhảy Dù ngăn ko cho Bắc quân tiến qua đèo M'Drak, CS vẫn có thể đi vòng bằng cách dùng đường xe be (logging road) cũ tới thẳng tp này. 

Phú gửi Tướng Trần văn Cẩm, TLP QĐ 2 tới Tuy Hòa để tổ chức bảo vệ TP này. Ông này phải bảo vệ quốc lộ 1 đoạn từ Tuy Hòa tới Đèo Cả, ở 29 km nam của tp. Ngọn đèo rất quan trọng này dài hơn 11 km, một bên là núi đá rất dốc, bên kia là biển. Một đv phòng thủ, nếu được hỗ trợ bởi không và hải pháo sẽ dễ dàng giữ đèo dù địch đông cở nào. Nếu Cẩm giữ được Tuy Hòa và Đèo Cả, CSBV sẽ ko thể tiến về phía nam. NGÀY 30 THÁNG 3, Phú đã nói với một phóng viên Việt Tấn Xã rằng BĐQ đã biến Đèo Cả thành "một tuyến phòng thủ mạnh mẻ."

Đó chỉ là tưởng tượng: vì chỉ có TĐ 34 BĐQ giữ đèo, dù đã quá kiệt sức do vừa rút lui trên LTL-7B. Dù có lịnh của Phú, những BĐQ sống sót sau cuộc KHỔ NẠN trên LT-7B đã ko được tái tổ chức. Một số được gởi tới TTHL Dục Mỹ, nhưng vị chỉ huy trưởng vẫn lo cho những đv của TTHL hơn là tái tổ chức đám tàn quân này thành những đv bảo vệ vùng này. 

Việc tái tổ chức những tàn quân của sđ 23 cũng khá chậm chạp. Họ đc tập hợp tại một trại LLĐB cũ trên QL-1 gần Cam Ranh. Mặc dù nhiều cố gắng của ĐT Lê Hữu Đức quyền TL sđ 23, (thay thế chuẩn tướng Lê trung Tường bị thương), để biến đám tàn quân của sđ 23 thành một đv có thể chiến đấu nhưng họ chỉ là một đám người hỗn tạp (disorganized rabble). Hơn nữa, phần lớn các nguồn lực của tỉnh Khánh Hòa còn phải lo cho hơn 13.000 dân thường đang ở trại tị nạn ở cách Nha Trang gần 5 km. Nhưng dù bất cứ lý do gì khiến QLVNCH không thể tái tổ chức những binh sĩ đã sống sót sau cuộc rút lui thảm hại trên LTL-7B hay Ql-21 - như mất tinh thần, thiếu thời gian và nguồn lực, hay cả hai - sự thất bại này sẽ là TAI HỌA cho nam VN. 

Mọi cố gắng của Phú để giữ bờ biển này, ý nói Nha Trang, đã bắt đầu tan rã (desintegrate) vào SÁNG 31 THÁNG BA khi hỏa tiển csbv rơi vào TTHL Dục Mỹ, khiến một số doanh trại của tân binh bị cháy. Cảm thấy sự thất bại của Nhảy Dù là hiển nhiên, và hy vọng bảo vệ các tân binh, chỉ huy TTHL đã quyết định bỏ chạy. Chuyển thực phẩm lên vài xe tải, hàng trăm cán bộ và tân binh của TTHL đã lên đường trong TỐI ĐÓ và bắt đầu đi bộ về Nha Trang, nơi mà họ đến vào sáng 1 THÁNG TƯ. Họ đã gặp một tp đang nhanh chóng tan rã. Vì vào xế chiều HÔM TRƯỚC tức ngày 31/3, bạo loạn đã diển ra khi lính tráng - đổ xuống từ các tàu di tản từ QĐ 1 - đã bắt đầu hôi của và cướp bóc dân thường. Nay khi thấy đoàn lính BĐQ từ Dục Mỹ tràn xuống, hàng ngàn dân tị nạn trong trại vừa kể cũng bắt đầu đổ vào tp. Nhiều cố gắng để chấm dứt HỖN LOẠN và xử tử những binh sĩ vô kỷ luật tại chỗ, nhưng cảnh sát chỉ có thể ổn định một phần của tp Nha Trang. Mọi cơ may để ngăn ngừa một "Đà Nẳng thứ hai" ở Nha Trang đã tuột khỏi tầm tay.

...

SJ ngày 11 Nov 2020.

Người dịch Tài Trần.

Saturday, October 31, 2020

TRẬN CHIẾN ÁC LIỆT TRÊN QL-19 CỦA SƯ ĐOÀN 22 VNCH THÁNG 3/1975

Bài chuyển ngữ này nhằm mục đích ghi ơn những chiến sĩ của SĐ 22 bộ binh, đặc biệt là trung đoàn 47, đã hy sinh trong trận đánh giữa đầu đèo phía đông của đèo An Khê và Bình Khê; dù cái chết của họ đã không cứu vản VNCH sụp đổ trước sự xâm lăng của quân CSBV, nhưng chiến công của họ để bảo vệ khu vực trách nhiệm sẽ lưu danh thiên cổ.-- Tài Trần, một cựu quân nhân của trung đoàn 10 sư đoàn 7 bộ binh - một sđ đã có hai vị danh tướng đã tuẩn tiết trong ngày 30.4.75 vì đã không thể cưởng lại số phận nghiệt ngã của dân tộc. 

- Lời nói đầu: trước khi trận Ban Mê Thuột bùng nổ ngày 10/3/75, ngay từ NGÀY 4/3/75, TĐ 1 và 2 của trung đoàn 47 sđ 22, bảo vệ đầu đèo phía đông của ĐÈO AN KHÊ trên QL-19 đã đẩy lui nhiều cuộc tấn công của trung đoàn 2 và 141 thuộc sđ 3 csbv. Chỉ trong 9 ngày chiến đấu ác liệt với địch quân vượt trội về quân số và vũ khí, tính tới ngày 13/3, chỉ riêng TĐ 1/47 đã có BỐN tiểu đoàn trưởng anh dũng hy sinh. Sau đó tđ phải về hậu cứ SĐ để bổ sung quân số vì thiệt hại 50/100 do chết và bị thương. 

. . . 

"TRONG KHI CHIẾN SỰ ác liệt tại tỉnh lỵ Ban mê Thuột và các khu vực lân cận, và ba sđ csbv đã tấn công sđ 23 VNCH, vừa yếu về hỏa lực và quân số (out-gunned and out-manned); sđ 22 VNCH, dưới quyền chuẩn tướng Phan đình Niệm, vẫn tiếp tục chiến đấu tại tỉnh Bình Định. Dù sđ 22 ko thể phá vở áp lực của sđ 3 csbv trên Đèo An Khê nằm trên QL 19, các chiến sĩ bộ binh, pháo binh, và các cuộc không kích của VNCH đã gây thiệt hại nặng cho địch. Trong những ngày đầu của cuộc chiến, tướng Niệm đã nghĩ rằng với những thiệt hại nặng nề này, ko sớm thì muộn sđ 3 csbv sẽ rút lui. Nhưng bất hạnh thay, ông đã ko dự đoán được tình hình đã thay đổi quá đột ngột (precipitous turn of events) ở phần còn lại của Quân khu (QK) 2, đã khiến, những chiến thắng của sđ 22 tại Bình định trở nên vô ích.  


1. QL-19 VỚI CÁC TRẬN ĐÁNH TẠI ĐÈO AN KHÊ BÌNH KHÊ: ta thấy quân CSBV đã cản đường ở phía tây Đèo Mang Yang và phía đông của Bình Khê

               2 : PHÍA ĐÔNG CỦA BÌNH KHÊ 

3. ĐÈO AN KHÊ VỚI ĐÈO MANG VỚI KHÚC QUẸO CÙI CHỎ Ở NÚI CÂY RUI. 

      

                4. QUỐC LỘ 19 VÀ BÌNH KHÊ 

Cuộc tấn công đầu tiên của sđ 3 csbv tại ĐÈO AN KHÊ và BÌNH KHÊ, xem bản đồ số 1, đã thành công khiến các đv phòng thủ, phần lớn là ĐPQ, đã rút khỏi các vị trí - từng giúp họ kiểm soát đèo này hay giữ các cầu trên QL-19. Trong vài trường hợp, ĐPQ đã rút lui chỉ sau một thời gian chiến đấu ngắn ngủi. Đến lúc tướng Niệm có đủ cả ba TĐ để có thể phản công, csbv đã khai thác những thành quả ban đầu và đã có những thành phần lớn của cả ba trung đoàn của sđ 3 csbv - 2, 12 , và 141 - cộng với các đv đặc công, pháo, và địa phương, tập trung ở đầu của THUNG LŨNG VĨNH THẠNH, giữa Đèo An Khê và Bình Khê, xem bản đồ 1.

NGÀY 10/3, khi sđ 320 csbv tiến vào Ban Mê Thuột, tướng Niệm đã có BA trong bốn trung đoàn phụ trách khu vực giữa ngã ba AN NHƠN, nơi tiếp giáp giữa QL-19 và QL-1, và ĐẦU PHÍA ĐÔNG của ĐÈO AN KHÊ, xem bản đồ số 1. TĐ 1 và 2 của trung đoàn 47, ở đầu đèo phía đông của Đèo An Khê, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của trung đoàn 2 và 141 csbv. NGÀY 11/3, TĐ 3/47 được không vận đến quận lỵ BÌNH KHÊ, để cho trung đoàn 47 có đủ 3 TĐ. LIÊN ĐOÀN (LĐ) 927 ĐPQ vẫn còn giữ những vị trí trong đèo này nhưng ko thể kiểm soát con đường đi qua đèo. TĐ 209 của LĐ này đã bị tràn ngập ngày 11/3, và TĐ 218 cũng của LĐ, với các đ.đ. đóng rải rác trong đèo, ko phải là đối thủ của địch quân.

TRUNG ĐOÀN 42 bộ binh của ĐT NGUYỄN HỮU THÔNG, với BCH đặt tại Bình Khê, đã tấn công về hướng tây dọc theo QL-19 nhằm bắt tay với hai TĐ của trung đoàn 47 đã mất sức vì đụng độ liên miên. TRUNG ĐOÀN 41 bộ binh, đã tiến từ BỒNG SƠN ngày 8-9/3 để tới AN SƠN trên QL19, nhằm bảo vệ tuyến phòng thủ (line of communication) ở phía tây tới BÌNH KHÊ và bảo vệ SÂN BAY PHÙ CÁT. 

TRUNG ĐOÀN THỨ TƯ của sđ 22, trung đoàn 40, vẫn ở bắc Bình Định, giữ đường vào thung lũng AN LÃO và giữ Đèo PHÙ CỦ trên TL-506 bắc PHÙ MỸ. 

NGÀY 11/3, TĐ 1 và 2 của trung đoàn 2 csbv BỊ THIỆT HẠI NẶNG bởi pháo và không quân VNCH. TĐ 7 trung đoàn 141 csbv, bị đẩy lui khỏi hợp lưu của Sông Côn và Sông Đông Phổ với hai đ.đ. gần như tan rả. TĐ 3 trung đoàn 2, và TĐ 5 trung đoàn 12 cũng bị thiệt hại nặng. Những xe tải chở đạn và quân mới tinh xuất phát từ thung lũng Vĩnh Thạnh và sau đó chở lính chết và bị thương về lại căn cứ này của csbv phía bắc của Vĩnh Thạnh. 

NGÀY 13/3, một đại diện của cơ quan DAO thăm một tiền đồn của sđ 22. Báo cáo của ông này phản ảnh sự tin tưởng của tướng Niệm và lạc quan tại BTL của tướng Niệm. Những cuộc tấn công dữ dội của năm TĐ CSBV chống lại TĐ 1 và 2/47 VNCH, đã bị đẩy lui, dù BỐN TĐ TRƯỞNG CỦA TĐ 2 LẦN LƯỢT TỬ TRẬN KỂ TỪ 4/3. Nay được chỉ huy bởi một đại úy, TĐ này chỉ còn 1/2 quân số và rút về hậu cứ sđ để bổ sung. Dù ko có TĐ 2, trung đoàn 47 đc lịnh tấn công địch ở chân đèo phía đông của đèo An Khê, và bắt tay với ĐPQ ở trong đèo. LĐ 927 ĐPQ, dưới quyền của trung đoàn 47, có BCH ở phía tây đèo An Khê với các đ.đ. của ba TĐ thiếu quân số gồm tđ 209, 217 và 218 - giữ các tiền đồn dọc theo đèo. Khi bch của TĐ 218 đpq và một đ.đ. của TĐ bị tràn ngập ngày 12/3, trung đoàn 47 VNCH có vẻ ko thể vượt qua đèo kịp thời để bắt tay với các đv ĐPQ. TĐ 218 ĐPQ đã tái bổ sung, vẫn giữ một số vị trí ở đầu đèo phía tây, nhưng ngày 17/3, tđ bị tấn công bởi tđ 5/12 csbv. 

Cuộc chiến diển ra ác liệt ở đầu đèo phía đông và Bình Khê từ 15-17/3.  Trung đoàn 42 VNCH định đẩy lui 3 tđ của sđ 3 csbv đang chiếm cao điểm gần đầu đèo phía đông. Dù giết gần 500 ĐỊCH QUÂN TRONG HAI NGÀY, trung đoàn 42 ko có tiến triển đáng kể. ĐT Thông, BỊ THƯƠNG HAI LẦN nhưng ko tản thương. Trong khi đó, trung đoàn 41 chuyển về nam quận lỵ Bình Khê.

Tướng Niệm đã rút hai TĐ còn lại của trung đoàn 47 và gửi họ lên bắc Bình Định để thay thế tđ 2 và 3/40, đã được lịnh về Khánh Dương tỉnh Khánh Hòa. Sau khi tđ 2/47 bổ sung quân số tại hậu cứ SĐ, ông gửi lên phía bắc để thay thế tđ 1/40, giờ làm trừ bị cho SĐ. 

Với chỉ có hai trung đoàn khả dụng và ko có trừ bị, ngày 17/3 tướng Niệm đã quyết định rằng sẽ ko thông thương đèo An Khê và ra lịnh các tđ đóng tại chỗ. Dù vài ngàn dân thường và vài trăm lính ĐPQ tại An Khê ko thể rút về Qui Nhơn, ông thấy ko có lý do gì để tiếp tục tấn công. Trong khi đó, cuộc di tản đang diển ra ở LTL-7B.

NGÀY 19/3, csbv đã kiểm soát đèo và tiến về phía tây, tới gần ngoại ô của An Khê. Ngày 22, tđ 5/12 csbv đã vào An Khê. Mọi kháng cự của QLVNCH đã chấm dứt, và hơn 5.000 người đã di tản trong hoảng loạn về phía nam trên các đường làng và đường mòn để cố gắng tới Qui Nhơn. Ngày 24/3, tr.đ. 42 rút lui dọc theo QL-19, phía đông Bình Khê, và tr.đ. 41 giữ nhiệm vụ bảo vệ Bình Khê. 

Cùng ngày,cuộc tấn công của csbv vào Bình Khê bắt đầu, và tr.đ. 41 và 42 đã BỊ KHÓA ĐUÔI (were cut off). SĐ 3 csbv cho trung đoàn 141 và 12, trừ TĐ 5 vẫn còn ở An Khê, tiến hướng đông về sân bay Phù cát. Trong khi đó, tr.đ. 95 của mặt trận B3, từ Pleiku đi theo QL-19, hợp lực với tr.đ. 2 để tiếp tục tấn công tr.đ. 42 đông Bình Khê.

Nhưng tr.đ. 41 và 42 ko chờ đợi cuộc tấn công này. Thay vào đó, ngày 27/3, họ phá vòng vây và đánh về hướng đông để tiến về Qui Nhơn, mang theo hơn 400 lính ĐPQ - được trực thăng cứu ngày hôm trước từ khu vực An Khê. Trong khi tr.đ. 41 và 42 đang cố thủ bảo vệ Qui Nhơn, lịnh từ Sài gòn ra lịnh cho sđ 22 phải di tản. QK 2 gần như đã mất. 

Khi quân csbv tấn công sân bay Phù Cát ngày 31/3, KQ VNCH đã mang đi khoảng 32 máy bay, để lại khoảng 58 chiếc, phần lớn hư hỏng hay hủy diệt trên mặt đất. Ngày 1-2/4, khoảng 7.000 binh sĩ của sđ 22 và đpq tỉnh Bình Định đã lên tàu hải quân tại Qui nhơn đi Vũng tàu. Xe tăng và bộ binh csbv đã tiến vào Qui nhơn.

...

Dịch từ: "From cease-fire to capitulation" (Từ ngưng bắn đến đầu hàng) của cựu ĐT Le Gro thuộc cơ quan DAO. 

Bản đồ số 1 từ sách đã dẫn, các bản đồ còn lại lấy từ mạng. 

Đọc thêm: https://quanvan.net/cac-tran-danh-nam-1975-36-binh-dinh-di-tan/#.X5914ZCSk2w


5 VÀ 6:  THÀNH PHỐ AN KHÊ 

                                   

7. ĐÈO MANG YANG