Showing posts with label việt minh. Show all posts
Showing posts with label việt minh. Show all posts

Saturday, February 14, 2026

 ĐỔI ĐỜI

Tác Giả: Chu Kim Long
Từ ngày quân Pháp “đóng đồn” tại ngã ba Thị trấn Thứa, những con đê từ các làng đi xuống huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương và tỉnh Bắc Ninh thường bị “đắp mô gài mìn”. Chiến tranh đã lan rộng khắp nơi, Mặt trận việt minh được đảng cộng sản Liên sô và Trung cộng yểm trợ nên ngày một lớn mạnh, cộng với bàn tay sắt máu biến những làng “xôi đậu” thành vùng “giải phóng” và những vùng đã “giải phóng” thành căn cứ địa, rồi từ đó mở ra những trận đánh công đồn đả viện khắp vùng châu thổ sông Hồng.
Những người dân ven biên Thị trấn Thứa tỉnh Bắc Ninh sống sót sau nạn đói Ất Dậu năm 1945 lo lắng về cuộc sống “một cổ hai tròng” mà họ sẽ phải gánh chịu. Mặt trận việt minh cũng biết tổ chức của họ chưa cài cắm được nhiều cán bộ nòng cốt vào trong quần chúng nên thường tổ chức những đội văn công về những thôn làng xôi đậu, phát loa từ những cánh đồng trong đêm khuya để tuyên truyền, đôi khi cho du kích bắt cóc, thủ tiêu người bị nghi ngờ chống phá mặt trận để cảnh cáo.
Là con cháu của những người bị phát vãng từ Nam Định đến “Ấp Chanh”, một vùng “đất chiêm khê mùa thối” vì đức tin từ thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Nhưng, từ khi mặt trận việt minh nổi lên, “Ấp Chanh” đã nằm trong khu vực “xôi đậu”, nên gia tộc ông Chánh và một số gia đình đã di cư về miền ven biên Thị trấn Thứa, lập lên “trại Thứa”. Là một làng tân lập cách huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương khoảng tám cây số, ông Chánh hăng say trong các công việc của dân làng nên từ thời trai trẻ ông đã làm Lý Trưởng, và là Chánh Tổng khi huyện đang rơi vào tình trạng “xôi đậu”.
Năm 1951 đồn Thứa bị tràn ngập, việt minh tiến vào làng, ông Chánh và thanh niên làng băng qua các cánh đồng vắng trốn thoát trong đêm tối. Hơn một tuần sau khi đồn Thứa thất thủ, quân Pháp mở cuộc hành quân bình định rồi chiếm làng lập thành “đồn Thứa mới”, biến ngôi nhà thờ thành pháo đài phòng thủ với lũy tre già bao quanh làng làm hàng rào thiên nhiên bảo vệ đồn, đẩy dân làng ra khu đất bỏ hoang, cạnh khu vực “đồn Thứa cũ” hoang tàn đổ nát.
Theo năm tháng, hoạt động của các đảng phái quốc gia ngày một phân hoá, trong khi mặt trận việt minh trở thành một tổ chức có tầm vóc chính trị trên diễn đàn thế giới, có lực lượng quân sự lớn mạnh để đối đầu với thực dân Pháp. Thập niên năm mươi, sinh hoạt chính trường và kinh tế nước Pháp khủng hoảng, sự suy thoái kéo theo chiến trường Đông Dương ngày một thất thế, đẩy cuộc chiến tại Việt Nam phải kết thúc với bản Hiệp Định Genève năm 1954 giữa thực dân Pháp và việt minh chia đôi nước Việt. Làn sóng người từ khắp nơi chạy ra tỉnh để di cư vào miền Nam như một trận cuồng phong nổi lên ở miền Bắc kể từ trung tuần Tháng Năm 1954, trong đó có gia đình ông Chánh.
Nhận thấy đời mình đã thất bại trong những năm sinh sống tại miền Bắc. Nên ông Chánh đã quyết định sinh sống ở vùng ngoại ô Sài Gòn để tạo cơ hội cho các con ăn học. Sau những năm tháng cần cù và vất vả xây dựng lại cuộc sống mới, ông hài lòng khi thấy kết quả và tương lai của các con. Người con trưởng là giáo sư, và hai ba người con kế tuần tự bước vào giảng đường đại học. Ông cảm thấy vui, quên đi những thất bại trong tuổi thanh niên, dù mái tóc ông đã bạc màu.
Nhưng, đến năm 1960, niềm vui, hạnh phúc của ông Chánh cũng như của nhiều gia đình khác không còn trọn vẹn nữa, “mặt trận giải phóng miền nam” đã được hình thành, mở ra những trận tấn kích ngày một khốc liệt. Những cố gắng và hy vọng của ông Chánh lại một lần nữa bị những người việt cộng giật sập, đạp đổ trong máu và nước mắt.
Những người con mà ông nuôi hy vọng sẽ là những cột trụ để đưa gia đình ra khỏi cảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau” đã lần lượt lên đường nhập ngũ theo lệnh Tổng Động Viên khi tiếng súng tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của việt cộng còn nổ dòn quanh vùng ngoại ô Sài Gòn. Tất cả đã tan theo khói lửa chiến tranh. Từ đó, đời sống của gia đình ông Chánh trở lên vắng lặng hơn xưa.
Cuộc chiến kết thúc với bản Hiệp Định Paris 1973 – hợp thức hoá những mật ước đã được Chính quyền Mỹ và khối cộng sản thoả thuận, dẫn đến trận đại hồng thủy 30 Tháng Tư 1975, xoá sạch chế độ Việt Nam Cộng Hoà và một nhà nước do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo với danh xưng cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành.
Cuộc chiến kết thúc trong máu và nước mắt của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, đánh dấu kỷ nguyên mới của tình hữu nghị giữa Hoa Kỳ và Trung cộng. Dư luận thế giới xôn xao về chuyện người Mỹ đã mở được cánh cổng mà đảng cộng sản Trung Hoa đóng kín hàng thập niên, và ngỡ ngàng trước sự sụp đổ mau chóng của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà.
* * *
Căn nhà hai tầng đã trở lên yên tĩnh như một ngôi nhà nguyện nhỏ từ ngày các con ông Chánh bị đi tù. Cánh cửa chỉ hé mở cho thoáng. Trời đã quá trưa, cả nhà vừa ăn cơm xong, ông Chánh sửa soạn “nghỉ trưa”. Từ căn phòng lầu một, cô con gái ông nhìn qua cửa sổ thấy một người đầu đội nón cối, đeo kính đen, mặc áo sơ mi màu cứt ngựa, quần dài đen, chân đi dép Bình Trị Thiên, vai đeo ba lô, tay xách giỏ cói đi tới đi lui trên con đường phía trước nhà, nhìn dáo dác như đang tìm kiếm nhà ai trong khu phố. Cô thấy lạ và nghĩ đến những người anh đang bị tù. Cô nghĩ vẩn vơ… chẳng lẽ người bộ đội này báo tin… rồi cô đi xuống báo cho thầy mẹ cô về người bộ đội đi tới đi lui phía trước nhà.
– Tại sao người bộ đội này cứ đi tới đi lui trước dãy phố và cứ nhìn dáo dác vào nhà mình. —Cô nói.
– Kệ người ta, bây giờ ở đâu mà chẳng có họ, con đi ra khép cánh cửa lại. —ông Chánh bảo cô con gái.
– Hay con ra hỏi xem ông ấy kiếm ai? Chẳng lẽ mấy anh con… —bà Chánh nói rồi ngưng giữa chừng kèm theo tiếng thở dài.
– Bà chỉ vẽ chuyện, lo những chuyện không đáng lo, lo mãi cũng thế thôi. Đến đâu tính đến đó, tính toán cả đời mà có được đâu. —ông Chánh nói nhỏ và chậm rãi.
Cô con gái đi tới cửa, giơ tay định khép cánh cửa lại thì cũng là lúc người mặc áo bộ đội đeo kiếng đen bước tới trước cửa nhà ông Chánh. Người đàn ông tuổi trung niên bỏ cái giỏ cói xuống vỉa hè, mồ hôi trán chảy dài trên gò má da đen sạm gầy guộc, lấy cái nón cối ra khỏi đầu làm cái quạt, ông vừa quạt vừa nói:
– Tôi ở ngoài Bắc vào, tôi muốn tìm nhà ông Chánh, nghe nói gia đình ông ở khu phố này. Nếu chị biết, xin chỉ giúp.
– Ông ở ngoài Bắc làm sao ông quen biết ông Chánh? —cô con gái hỏi.
– Ông Chánh là bác tôi, mẹ tôi là em ruột ông. —người mặc áo bộ đội trả lời.
Từ trong nhà, ông bà Chánh vẫn nghe được những lời đối đáp của hai người. Khi ông Chánh vừa bước ra tới phòng khách thì người khách lạ vội đẩy cánh cửa mở toang ra, bước thật nhanh vào trong nhà ôm lấy ông mà khóc, ông vừa khóc nức nở vừa kể lể nỗi niềm thương nhớ khi gặp lại được người bác sau mấy chục năm xa vắng. Sự thương nhớ, mừng rỡ khiến ông khóc lớn tiếng như một đứa trẻ con đang khóc về một chuyện gì đó.
Tiếng khóc của ông làm cho cả nhà ông Chánh bàng hoàng, xúc động. Sau khi buông hai tay trên vai người bác ra, ông nói:
– Cháu là Tư đây, hai bác có nhận ra cháu không? Căn nhà bác cao lớn quá, cháu không nhận ra, cháu tưởng…
Người cháu nói nửa chừng, bỏ lửng, rồi quay ra hỏi thăm người chị họ mà ông vừa gặp ở trước cửa nhà, giọng nói sụt sùi với những giọt nước mắt trên hai gò má gầy guộc, đen sạm, làm hai gò má nhô cao lên.
Ông Chánh bảo người cháu ngồi xuống ghế trong lúc cô con gái đem bình trà và mấy cái tách để trên bàn.
– Cháu vừa nói, cháu tưởng, cháu tưởng gì? —Ông Chánh hỏi.
– Bao năm nay, nhà nước nói những người di cư phải đi cạo mủ cây cao su, sống nghèo khổ và chết dần mòn bên gốc cao su. Cháu những tưởng… —người cháu ngập ngừng giây lát, rồi nói:
– Bây giờ cháu đã hiểu!
– Thôi, quên chuyện ấy đi. Cháu ra cửa đem túi xách quần áo vào nhà, tắm táp. cho mát rồi ăn cơm, nghỉ ngơi cho khoẻ lại. —ông Chánh nói.
– Vâng, cháu chỉ có cái túi đeo vai và cái giỏ cói. —người cháu trả lời.
Để tách nước trà xuống mặt bàn, ông Chánh bảo người cháu:
– Đi đường mệt mỏi, ăn cơm rồi ngủ một giấc lấy lại sức, chiều qua thăm cậu Hiện em mẹ cháu, và cô xã Viện, cách đây mấy căn, còn muốn thăm ai nữa thì tính sau.
Rồi ông quay qua bảo cô con gái:
– Con lấy mấy bộ đồ còn tốt của các anh con đưa cho em nó thay. Coi cái nào còn tốt và vừa thì lấy. Bỏ mấy cái áo quần bộ đội, dép râu vào lại túi xách, đưa cho em cái nón nỉ của thày để có đi đâu ra ngoài thì đội cho khỏi nắng.
Cô con gái hiểu ý cha nên nói:
– Em ra cửa lấy đồ của em vào, đem lên phòng ngủ ở lầu hai, rồi đi tắm và ăn cơm kẻo đói, trễ quá rồi.
– Gặp lại hai bác, em hết mệt và không thấy đói. Ở trên “tầu hoả” em đã ăn mấy củ khoai luộc và miếng cơm nắm rồi. Thôi, chiều tối em mới ăn.
Người cháu để cái túi đeo vai và cái giỏ cói ở trên nền nhà, cạnh cái ghế đang ngồi. Ông cúi xuống lấy mấy lon sữa đặc để lên bàn, trong lúc ông bà Chánh và cô con gái nhìn với vẻ mặt ngỡ ngàng. Cô con gái ông Chánh nói:
– Em đem theo mấy hộp sữa đặc vào đây làm gì cho vất vả! Tay xách nách mang cho khổ. Khi cần, mấy tiệm tạp hoá ở đầu dãy phố họ bán thiếu gì.
Nghe người chị họ nói vậy, người em nói:
– Vậy là mới “giải phóng” nên nhà nước chưa đưa vào “chế độ” đấy. Cái gì rồi cũng phải có tem phiếu cả chị ạ. Em không có gì biếu hai bác, em chỉ có mấy lon gạo nếp và mấy lon sữa đặc, em để dành đem vào biếu hai bác. Cái gì cũng có “cơ chế” cả, chế độ hộ khẩu tem phiếu rồi cũng sẽ giống như ngoài Bắc thôi chị ạ.
Nghe người cháu nói đến chuyện “tem phiếu” và cả mấy tháng mới có được mấy lon sữa bò và vài lon gạo nếp làm bà Chánh rơm rớm nước mắt —bà nhớ đến mấy người con đang ở tù, nên hỏi người cháu:
– Cháu sống ở ngoài ấy mà mấy tháng mới mua được vài lon gạo nếp và vài hộp sữa đặc. Vậy đồ ăn thì sao? Những gia đình người bị tù, sau vụ cải cách ruộng đất hồi đó, có được tem phiếu không?
– Dạ, thịt cá, cái gì cũng theo tem phiếu cả. Thịt, cá, miếng nào ngon, con nào tươi thì cũng ít khi đến tay người không ở trong đảng đoàn, bất cứ thứ gì cũng vậy. Riêng những gia đình bị đấu tố trong vụ cải cách ruộng đất hồi đó, thì cơm không có mà ăn, họ tước sạch, làm gì mà còn được nhà nước phát tem phiếu nữa. Nếu đã bị ở tù thì khổ lắm, khoai sắn không có mà ăn. Có những năm, nhà nào cũng phải ăn độn, chứ đâu có gạo mà ăn quanh năm, ngoại trừ các cán bộ ở cấp đảng đoàn.
Vừa nói dứt câu, thấy bác trai hơi cúi đầu xuống và thở dài, còn bác gái rơm rớm nước mắt, người cháu ngồi im như tượng đá vì biết mình đã lỡ lời, làm hai bác nhớ đến những người con đang bị tù “cải tạo”. Một lát sau, như để cho cơn xúc động lắng xuống, người cháu nói:
– Cháu xin hai bác và chị tha lỗi, cháu đã vô ý khi nói chuyện, khơi đến chuyện đau buồn của gia đình mình.
– Không sao, cha mẹ buồn thương, nhớ con cái là chuyện bình thường. Cả nước như vậy chứ đâu riêng hai bác. Cháu đừng áy náy gì cả. Thôi, cháu đi tắm cho đỡ mệt. Hai bác cũng cần nghỉ ngơi một chút. —bà Chánh nói.
* * *
Nhìn tấm ảnh người bác lúc còn trai trẻ treo trên tường trong lúc cả nhà đang ăn cơm chiều, người cháu nói:
– Chúa đã ban ơn cho hai bác, cậu Hiện và cả nhà mình vào Nam, chứ ngày ấy nếu hai bác và cậu ở lại thì bây giờ chúng cháu cũng chẳng dám nhìn mặt các anh chị và các con cậu Hiện nữa.
Cô con gái ông Chánh sinh ở miền Nam nghe vậy hỏi:
– Sao vậy?
– Năm “cải cách” ấy. Họ gài cho con cháu, người nhà, phải đấu tố những người có “chức việc” như bác hay cậu Hiện, địa chủ hay phú nông. Ủy ban về làng đấu tố theo chỉ tiêu đã ấn định, nếu không cường hào thì là địa chủ, còn không có thì đôn phú nông lên thành địa chủ. Cụ Lý Đô đã bị người cháu ruột đấu tố. Ngày đó kinh khủng lắm. —Ông nói, rồi thở dài.
– Có ai từ chối không? —Con gái ông Chánh hỏi.
– Không khai báo là bao che, họ khép tội và cắt hết mọi “chế độ” luôn. Chúng em vẫn tạ ơn Chúa là gia đình hai bác và cậu Hiện đã đi di cư nên con cháu thoát được. Sau, họ cũng đã sửa sai đôi chút, nhưng ai chết thì đã chết rồi, ai đấu tố ai thì đã xong rồi. Tình thế này, nhà ta đừng đi xa thành phố, đừng đi kinh tế mới nơi đồng không mông quạnh, nguy hiểm lắm. Cứ khất lần, không sao đâu. Em nói riêng trong nhà mình nghe thôi chị nhé.
Nghe người cháu kể, ông Chánh nói:
– Thôi, ăn cơm đi cháu, Chúa hằng lo liệu. Khi về lại Bắc cho hai bác thăm hỏi mọi người. Cháu ăn tự nhiên đi, mải chuyện để đồ ăn nguội lạnh hết. Nghỉ ngơi một hai bữa rồi bác bảo anh cháu đưa lên Sài Gòn chơi cho biết, trước khi về Bắc lại.
Người cháu mồ côi cha từ thuở nhỏ, tìm lại được người bác sau mấy chục năm phân ly Nam Bắc chỉ muốn loanh quanh ở nhà để trò chuyện. Nhưng ông Chánh thương cháu, muốn cho cháu đi thăm thành phố Sài Gòn trước khi về lại miền Bắc. Ông Chánh bảo người con trai áp út còn sót lại trong gia đình:
– Đưa em lên Sài Gòn chơi và mua cho em một vài món đồ.
Tuy không gặp nhau từ thuở nhỏ. Nhưng, dường như cùng một huyết thống, nên người con trai ông Chánh đã mau mắn thu xếp đưa em đi loanh quanh trên các đường phố Sài Gòn. Cảnh vật Sài Gòn làm người em ngạc nhiên như người ở miền núi chưa từng đặt chân tới thành phố, khiến ông nói với người anh họ:
– Vậy mà ở Bắc, nhà đài nói… —rồi ông ngưng lại, dáo dác nhìn quanh như sợ ai đó đã nghe được.
* * *
Trước ngày người cháu về Bắc. Trong lúc ăn cơm chiều, ông Chánh hỏi người cháu cần cái gì thì hai bác cho. Không ngần ngại, người cháu nói: “Cháu xin hai bác cái xe đạp, còn các thứ khác anh Chính đã mua cho cháu rồi”. Nước mắt doanh tròng, nghẹn ngào nói:
– Cháu không biết đến bao giờ mới có dịp vào thăm lại hai bác và các anh chị. Xin hai bác và các anh chị hiểu cho cháu. Cháu xin cám ơn hai bác và các anh chị đã thương yêu và lo cho cháu.
– Hoàn cảnh của hai bác bây giờ không còn được như trước đây. Cháu cũng đã biết, vật đổi sao dời, các anh đang sống trên núi trên rừng. Vì vậy bác cũng không còn dư dả gì mà cho con cho cháu như xưa. Thôi được đến đâu hay tới đó. Cháu thích cái xe nào thì lấy, nghỉ ngơi cho khoẻ để sáng mai về gặp lại vợ con. —Ông Chánh nói với người cháu, rồi vào phòng nằm nghỉ.
Giọng nói sụt sùi, nước mắt lăn trên gò má khi người cháu nghẹn ngào nói những lời tạ từ để về lại miền Bắc. Cột đèn “xanh đỏ” báo hiệu cho xe chạy đã đổi từ màu đỏ qua màu xanh. Những chiếc xe vút nhanh theo giòng xe đang chạy trên đường đông như ngày trẩy hội. Mọi người hối hả, chạy bạt mạng, chạy đua với thời gian để kiếm miếng ăn trong một xã hội mới —xã hội chủ nghĩa. Người anh lái chiếc Honda mắt nhìn về phía trước, rồi quẹo trái một hai con đường và rẽ phải để đi tới nhà ga xe lửa với nét mặt buồn thiu của người em họ đang ngồi phía sau trên đường đến ga xe lửa để về lại miền Bắc sau mấy chục năm xa cách, đổi đời.
Chu Kim Long

Sunday, October 11, 2020

 Việt Minh là lực lượng võ trang của ĐCSVN dưới tên gọi VN Độc Lập Đồng Minh Hội.

... Sau khi Nhật đầu hàng, CSVN với giúp đỡ của quân Nhật đã lợi dụng khoảng trống quyền lực tại Đông Dương để chiếm Hà Nội và tuyên bố thành lập VNDCCH vào ngày 2/9/45. Nhật đã cung cấp cho VM HÀNG CHỤC NGÀN TẤN võ khí cũng như HAI NGÀN LÍNH NHẬT ĐÀO NGŨ (sau này họ bị VM thủ tiêu -- Tài Trần) để tạo thành xương sống cho quân đội VM mới. Nên nhớ rằng trong lúc đó sức mạnh chánh của VM là xâm nhập vào hạ tầng cơ sở của thuộc địa Pháp cũng như mạng lưới thu thập tình báo (dựa vào dân Việt, thường có được nhờ VM khủng bố).  Sau khi quân Pháp trở lại (sau khi Nhật đầu hàng), lúc đầu VM chỉ có thể quấy rối quân Pháp và chỉ đánh nếu quân VM đông hơn Pháp. NHƯNG CUỐI NĂM 1949, sau chiến thắng của CS tại TQ, một nguồn vũ khí đã bắt đầu đổ vào bắc VN, nơi phần lớn lực lượng VM có mặt. Vào NĂM 1952, giúp đở của TC còn dồi dào hơn, khi đường mòn trở thành đường xe hướng vào khu vực phía bắc của Bắc Kỳ. Chiến cụ được chỡ bằng tài xế TC, trên xe tải TC vào vùng VM kiểm soát ở biên giới Hoa-Việt (từ THÁNG 7 1951 - THÁNG 7 1952, 6.280 TẤN VŨ KHÍ được cung cấp cho VM). Dọc theo các đường này là trạm xăng (petrol pump) cũng như súng phòng không TC. Trong các trại ở TC, lính TC đã dạy VM du kích chiến và chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) để họ trở thành đặc công, hiệu thính viên, lính pháo binh, sq và chính ủy. Vào năm 1952, VM đã trở thành một quân đội chính quy đáng sợ được huấn luyện kỷ và học tập chính trị/chính huấn bởi TC. VM đã có những sđ pháo binh nhẹ và nặng gồm vũ khí pháo binh và pháo phòng không quy ước với khoảng 6.000 cố vấn thuộc Khối Đông Âu (Easter Bloc). Tướng Giáp có thể tập hợp quanh ĐBP bốn sđ bộ binh và một sđ NẶNG, khoảng 49.500 chiến sĩ với 200 đại bác (75 và 105 ly) và một trung đoàn cao xạ do TC huấn luyện.

Trong giai đoạn đầu, đặc biệt tại miền nam, VM thực hiện một chiến dịch khủng bố, và tra tấn, chặt tay chân (mutilate) và giết bất cứ tù binh gốc Việt hay Pháp cũng như thường dân VN làm cho Pháp; sau đó tù binh Pháp được gửi đến trại TB/trại cải tạo mà cuộc sống ko kéo dài. Nên nhớ rằng trong chiến tranh, VM chỉ đánh khi có quân số áp đảo và thường thắng bằng cách tấn công biển người mà ko đếm xỉa đến tổn thất của chính họ.

VM gồm ba LL chánh sau đây:

1/ Quân VỆ QUỐC gồm các sđ với 3 trung đoàn cho mỗi sđ và mỗi trung đoàn có 3 TĐ.

2/ Quân bán chính quy gồm:

a/ TỰ VỆ là những đv địa phương (mỗi đv từ 100 - 200 ng).

b/ Những đv chống lính Dù gồm một đài quan sát, một nhóm an ninh và xung kích).

c/ Những nhóm quyết tử (suicide) là những toán 10 ng và huấn luyện chính trị bởi chính ủy.

3/ Những đv chính trị có nhiệm vụ thám sát (surveillance) và ám sát.

Tính tới NĂM 1953, quân VM khoảng trên 500.000 ng.

Ghi chú về lực lượng CEFEO: đây là một LL viễn chinh của quân đội Liên hiệp Pháp đầu tiên thành lập ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1945 trong chiến tranh Thái Bình Dương. Sau đó họ chiến đấu và tổn thất khi chống VM từ 1946-54.

LL này phần lớn là lính bản xứ và tình nguyện tuyển từ lãnh thổ thuộc địa hay được Pháp bảo hộ, bao gồm lính Lê Dương phần lớn là tình nguyện gốc Âu châu. Việc tuyển mộ lính từ mẫu quốc bị cấm bởi CP trong chiến tranh Đông Dương lần 1 để tránh phản đối tại Pháp.-- Theo wiki. 

Troops/Lực lượng của hai phía

C.E.F.E.O195119521953 Viet Minh194719511952
Lính Pháp51 17550 737

59 526

     
Lính Bắc Phi11 00022 89236 628     
Lính Phi châu2 00013 28119 342     
Lính Lê Dương11 131 

16 664

16 586     
Indochinese/Lính Đông Dương 35 00086 00060 000     
Total/Tổng cộng:110 306

190 592

194 263 Quân chínhquy 50 000

110 000

180 000
         
Quân đội Quốc gia Việt Nam70 000135 000200 000 LL địa phương,
Dânquân   
50 000240 000224 400
/Quân đội Quốc gia Lào4 00010 00015 000     
Quân đội Quốc gia Cambodge

5 500

11 00011 000     
Total/Tổng cộng:79 500156 000226 00     
         
Combined forces total/Tổng kết:189 806346 592420 263 Tổng cộng: 
1
00 000
350 000404 400

Note: The C.E.F.E.O. carried the brunt of the fighting and while viewing the above troop figures, 
you need to  visualize the size of the territory that they had to control, see map at top of page.

Casualties/Tổn thất

 KIA/MIA(Chết/ Mất tích khi chiến đấu)WIA/Bị thương)POW taken(Tù binh bị bắt)POW returned (Tù binh trở về) 
C.E.F.E.O75 86765 12514 500 (known/được biết)8 516
Người dân Đông Dương thuộc Pháp.31 716N/A (không có số liệu)13 359 (known/được biết)1 039
     
Việt Minh200 000 (est/ước lượng)300 000 (est/ước lượng)200 000 (est/ước lượng)N/A
     
Quân Pháp ở ĐBP.2 7484 43611 7213 290
Quân VM ở ĐBP.7 900 (est/ước lượng)15 000 (est/ước lượng)N/A (ko có số liệu)N/A

20 000 of the French KIA/MIA were from main land France
with a very high proportion of NCO and Officers including 800 St Cyr graduates.

Có 20.000 chết và bị thương và bị thương là người Pháp với tỉ lệ khá cao là HSQ và SQ bao gồm 800 tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr.

Nguồn: cưu chiến binh Mỹ thuộc trại LLĐB Gia Vực, Quảng Ngải.


Monday, December 5, 2016

Số đông Trí, Phú, Địa, Hào đi theo Việt Minh

Đăng bởi Tiểu Nhi on Saturday, December 3, 2016 | 3.12.16


Ngày 25 tháng 8 năm 1945 có tin Việt Minh đã cướp được chánh quyền ở Bến Tre, tỉnh trưởng Phan Văn Chi đầu hàng. Ấp An Hoà cùng cả làng An Bình Tây của tôi sôi sục chuẩn bị tham gia cướp chánh quyền thị trấn Ba Tri. Các đảng viên cộng sản công khai đứng ra nhân danh Mặt trận Việt Minh cắt đặt việc mua vải, giấy hai màu đỏ, vàng để may và dán cờ đỏ sao vàng, tổ chức các đội võ trang với dáo mác, gậy gộc.
Cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ảnh: internet
Cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ảnh: internet
Chú thợ hồ Hai Dần là bí thư chi bộ, bác giữ vịt Tư Nay là phó bí thư chi bộ, không xưng danh cộng sản mà là Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh, ngồi vào những chiếc ghế mới hôm qua còn là của Hương Cả, Hương Chủ trong Nhà Việc (trụ sở Ban Hội tề), chỉ đạo hoạt động cách mạng. Suốt đêm tiếng hô tập đi theo nhịp “một hai ” làm cho bọn con nít chúng tôi cũng không thể chợp mắt.

Vừa rạng sáng, tất cả được tập hợp xếp hàng theo từng khối để tiến ra thị trấn. Điều đáng nói là dẫn đầu các khối đều là các trí, phú, địa, hào của ấp, của xã: Trịnh Văn Vinh đại địa chủ, nguyên Chánh lục bộ; Võ Văn Di địa chủ, nguyên Hương Trưởng; Trịnh Văn Khâm sinh viên, con trai của ông Hương Cả Nghi; Huỳnh Dư Bì sinh viên, con trai ông Hội đồng Thuần; Ba Phán con trai địa chủ Tím; Sáu Sinh địa chủ, nguyên thư ký quận trưởng Ba Tri…

Do đâu mà những người này hăm hở lao vào dòng thác cách mạng do cộng sản lãnh đạo? Bởi vì từ ngày 19– 5– 1941 tại Pắc Bó tỉnh Cao Bằng, dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 của Đảng cộng sản Đông Dương đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh gọi tắt là Việt Minh với Cương lĩnh:

“Không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh thì được gia nhập”. Mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh là: “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên nước Việt Nam Dân Chủ, Cộng Hòa”.

Nội dung đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết của mọi người Việt Nam yêu nước. Đảng cộng sản đã giấu biệt lá cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, họ không hô hào làm cách mạng vô sản mà kêu gọi giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân! Vài phút sau khi đoàn An Bình Tây lên đường, Huỳnh Dư Khải (con ông Hương cả Khiêm, cháu ông Hội đồng Thuần) bạn học cùng lớp nhứt với tôi chạy tới, gọi bọn nhóc chúng tôi như Võ Minh Triết, Trịnh Hoành Sang, Nhiều, Điểu, Thưởng, Trắc… kéo theo người lớn làm “khởi nghĩa”.

Chúng tôi đến thị trấn Ba Tri thì thấy hàng ngàn người, cờ xí, biểu ngữ từ nhà lồng chợ đi tới dinh quận. Đứng trên cái bàn cao, xung quanh có dân quân bảo vệ, ông Lê Văn Lượm bí thư quận ủy, chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa đọc tờ hiệu triệu viết sẵn. Đọc xong bản hiệu triệu, ông thông báo ta đã chiếm trại bảo an và trại cảnh sát, ông quận Trực xin đầu hàng.

Tiếp theo đó, ông Võ Châu Thành phó bí thư quận ủy, phó ban khởi nghĩa, nhân danh chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng và ông Nguyễn Chí Khải ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, nhân danh Chủ tịch Mặt trận Việt Minh ra mắt đồng bào. Mô hình “hệ thống tòan trị” này đã được giữ y cho tới hôm nay: Bí thư của Đảng là quan chức quyền lực số 1 đứng trên các tổ chức chính quyền và mặt trận. Phó bí thư của Đảng là nhân vật quyền lực số 2 được giao trách nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban hành chánh (nay là Ủy ban Nhân dân); các Ủy viên Ban Thường vụ của Đảng làm chủ tịch Mặt trận và chủ tịch các đoàn thể…

Ngay sau ngày cướp chính quyền, chủ tịch Võ Châu Thành ký lệnh tử hình không cần xét xử đối với những người bị gọi là “có nợ máu đối với nhân dân” như Cai tổng Đặng, Cai tổng Bang, Biện Ký, Đội Xôm, Hương quản Nhường, Hương quản Lầu… Sau này được biết, ở nhiều nơi trên khắp đất nước ta đã có nhiều người bị giết, trong đó có những nhà ái quốc, nhà văn hóa nổi tiếng như Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Phạm Quỳnh…

Mời xem Video: TBT Nguyễn Phú Trọng đột ngột ra nước ngoài chữa bệnh khi có lệnh điều tra Võ Kim Cự?


Sau khi Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, các tổ chức Đảng ở huyện Ba Tri, Bến Tre vẫn giữ nguyên vai trò lãnh đạo như cũ, chỉ khác trước là không họp chi bộ công khai ở cơ quan. Trả lời báo chí trong và ngoài nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Tôi chỉ có một Đảng – Đảng Việt Nam”. Các cán bộ cũng như người có học ở quê tôi đều biết rõ sự thật là Đảng chỉ giả vờ giải tán, nhưng không ai chê trách Cụ Hồ nói dối mà ngược lại đều khen “Cụ Hồ mình khôn khéo quá”.

Tống Văn Công

(Viet-studies)

Monday, September 12, 2016

CUỘC CHIẾN BUỒN THẢM NHỨT : VN năm 1947 dưới mắt ĐS Mỹ tại Pháp
Nguồn : SADDEST WAR của William C. Bullitt trên báo LIFE DEC 29 , 1947 (67 NĂM) .
(Bài này giúp các bạn có 1 cái nhìn về VN thời đó qua nhãn quan của 1 ng Mỹ ; dù lúc đó MAO chưa làm chủ HOA LỤC mà tổn thất của lính Pháp đã là 600 ng/tháng .-Tài)
"Trong tất cả các xung đột trên trái đất ngày này , chiến tranh tại Đông dương là thấm thiết/cảm động (pathetic) nhất . Ko điều gì tốt có thể xuất phát từ đó (No good can come of it) . Chỉ có 1 lý do nhỏ và 1 chút hiểu biết đầy nhân bản được yêu cầu (require) để chấm dứt nó . Nhưng dọc những con đường ở Nam kỳ , Trung kỳ và Bắc kỳ , lính Pháp - nhiều ng từng là kháng chiến quân (maquisard) , tham gia cuộc chiến chống Đức Quốc xã - tiến bước cẩn thận (gingerly) , trông chờ súng máy nổ ra từ mỗi gốc cây hay nhà ; trong khi ng dân VN - vừa đói và yếu đi bởi sốt rét , hiền lành do bản chất nhưng can đãm - tung (fling) lựu đạn tự sản xuất và giết mọi lính Pháp - mà họ có thể làm , với con tim trong sáng như lòng ái quốc của những nông dân tại Lexington và Concord , Mỹ (trong chiến tranh dành độc lập Mỹ .-Tài) .
Những ng dân Việt này cũng là kháng chiến quân . Nhưng sự tranh đấu của họ là THẢM KỊCH ĐEN (black tragedy) . Vì sự lãnh đạo của cuộc tranh đấu đòi độc lập này đã bị chiếm đoạt bởi ng CS . CP và quân đội của họ bị khống chế bởi Tổng Bộ , đây là 1 sản phẩm thu nhỏ của Bộ chính trị Moscow . Không một ai trong 100 ng Việt là CS ; nhưng tất cả ng VN đều muốn độc lập ; và cũng như Tướng de Gaulle - được theo bởi hàng triệu ng Pháp dù ko đồng ý với quan điểm CT của ông , bởi vì ông là biểu tượng của kháng chiến chống Hitler ; cũng như vậy hôm nay Hồ Chí Minh , lãnh tụ CS của dân VN chiến đấu cho độc lập , được đi theo bởi hàng triệu ng VN - dù ko đồng ý với quan điểm CT của ông , bởi vì ông là biểu tượng của kháng chiến chống Pháp . Hậu quả , ng VN chiến đấu và chết và giết những ng Pháp trẻ , trong cuộc chiến mà nếu chiến thắng , dưới các lãnh đạo bây giờ , có thể dẫn tới 1 sự thay thế ách thống trị của Pháp bằng ách thống trị KHỦNG KHIẾP của Stalin .
Tình hình của quân Pháp tại Đông Dương chắc chắn ko kém bi thảm hơn (scarcely less tragic) . Có 115.000 quân . Họ trang bị kém .Tinh thần chiến đấu cũng ko tốt đẹp gì dù có thanh lọc cẩn thận , nhiều cựu lính Đức đã tìm vào lính Viễn chinh Pháp (LIFE Nov 10) . Lính bản xứ ko tin vào chiến thắng . Họ tin rằng ít nhứt 500.000 lính trang bị tốt mới đũ để chinh phục 22 triệu dân VN . Họ biết CP Pháp cho phép 1 đoàn đại diện HCM đến Paris . Và họ nghi ngờ 1 thay đổi về chính trị tại Pháp sẽ khiến CP của họ ngày mai sẽ ôm hôn những ng mà họ đã ra lịnh giết hôm nay . Vì lẽ đó , họ rất đau khổ vì bị phục kích và ám sát , ngứa vì muổi cắn và nóng khó chịu , càu nhàu (mutter) , "Đây là cuộc chiến dơ bẩn" (C'est de la sale guerre) , ko chắc rằng cái chết của họ có ý nghĩa gì . Và vào khoảng 600 ng đã chết mỗi tháng . 
Tuy vậy tai họa tệ hại nhứt vẫn có thể xảy ra (befall) với ng Pháp , ng VN và thế giới văn minh nếu ng Pháp , do mệt mõi , đầu hàng HCM và các đồng chí CS của ông . Bất cứ lời hứa tốt đẹp nào mà HCM đưa ra đều có thể phá vở ngay NẾU ông nhận lịnh mới từ Moscow . Dân Pháp sống tại VN sẽ bị tàn sát , và ng VN sẽ bị đô hộ bởi Moscow . . . .
Sau khi Nhật đầu hàng , ng VN ngày 2/9/1945 thành lập 1 cộng hòa độc lập mà họ gọi là VN Dân chủ Cộng Hòa . Hành động này được sự ủng hộ của tất cả ng VN . Ng Nhật đã chấm dứt cai trị của Pháp , và ko người Việt nào muốn nó phục hồi . Tổ chức chính trị đã thành lập nước VNDCCH là VN Độc Lập Đồng Minh Hội - thông thường đc gọi là Việt Minh . Các thành viên của VM gồm mọi thành phần , khi BẮT ĐẦU (onset) chưa có tới 1/1000 là CS . Nhưng các lãnh tụ CS , phần lớn đào tạo từ Moscow , lại là những ng có 1 mạng lưới ngầm chặc chẽ (well-knit) và biết cách tổ chức 1 phong trào cách mạng trên diện rộng/quy mô lớn ; và chẵng bao lâu hàng triệu ng VN đã nhận ra rằng HẦU NHƯ (somehow) các vị trí chỉ huy (command post) của VM đều lọt vào tay CS . Tuy nhiên , vì VM đại diện cho kháng chiến chống Pháp , họ vẫn là thành viên của VM (còn tiếp) .