Showing posts with label ĐÀ LẠT. Show all posts
Showing posts with label ĐÀ LẠT. Show all posts

Saturday, January 10, 2026

 

SAIGON—“If you want to make poulet à la crème (gà sốt kem), there aren't any good mushrooms. You can't make Swiss fondue (lẩu phô mai Thụy Sĩ) because there's no cheese or kirsch (rượu kirsch). Two years ago they stopped importing wines. But I suppose we shouldn't complain. There's a war on,” said Madame Madeleine Leccia, proprietor of the Guillaume fell restaurant in Saigon.

Madame Leccla's problems are common to French restaurateurs all over Vietnam, where the art of French cooking is still practiced fitfully (ko đều đặn) and with varying degrees of success in most of the large cities of the country.

A Mountain Resort

But to get a really good dish with mushrooms one must go more than 100 miles to the mountain resort of Dalat, to a French restaurant called l'Eau Vive (Nước của sự sống), where the Catholic lay (ko lành nghề) sisters who run the establishment as a religious duty say the secret of their success is that they cook for God.

The closest authentic

French potage aux legumes (súp rau củ), with the same consistency (nhất quán) of pulverized potato and carrot and the same taste that the soup has in France, is in pastoral outdoor restaurant called La Biche aux Abois (Con nai bị dồn vào Đường cùng) in Thu Duc, 10 miles east of Sai gon.

All three of these restaurants are run or supervised by Frenchmen. There are now only a few thousand natives of France left in Vietnam, which until 1954 was part of the French colonial empire in Indochina.

Madame Leccia, for example, is Alsatian and has been here for 19 years. Her husband, a Corsican, died in 1962.

“It's my livelihood (sinh kế),” she says of the Guillaume Tell. “I've had the same chef since 1954. He is Chinese, but most of the recipes are my own.”

Popular With Americans

The Guillaume Tell, one of the best of the 30 or so French restaurants in Saigon—only 5 are owned by Frenchmen—is in a large, highceilinged room cooled by eight airconditioners. It is favored by American businessmen and Embassy officials for catered dinners because upstairs there is a secluded room for parties that is considered secure from a terrorist attack.

The Chinese and Vietnamese waiters wear bow ties (cà vạt) and white jackets, and the maitre d’hotel (quản lý) wears a tuxedo (lễ phục), but Madame Leccia, a tall florid (tươi như hoa) woman with glasses, is the distinctive feature of the place.

The menu is like most French restaurant menus in Vietnam. It features such soups as consommé froid au porto (dùng lạnh với rượu porto), cream of asparagus and vichyssoise (súp Vichyssoise), each at about 90 cents, duck a l'orange (vịt sốt cam), at $2.50, tournedos (beefsteak hay chateaubriand) in several sauces at about $3, and a few vegetable dishes, none memorable.

The only wines available are the ones sold in the American Post Exchange (quân tiêp vụ của Mỹ), which dribble (tuồn ra) to the restaurants through the black market and are sold at inflated prices (nearly $10 for a bottle of Paul Masson pinot noir or Beaujolais, which costs a little more than $1 at the Exchange).

Madame Leccia, on whose restaurant's wall is displayed prominently a sign saying “in vino veritas (uống rượu sẽ nói thật),” said, “To import wines you have to have a license, and there's a 300 to500 per cent tax on them. It's the same with cheese. A camembert costs 1,000 piasters (more than $3).

What people really go to the restaurant for is the atmosphere, which by dint of murals (tranh vẽ trên tường) of Swiss chalets (biệt thự nhỏ băng gỗ ở Thụy Sĩ), and arrows bearing slogans like “carpe diem” (hành động ngay) and the motto on the menu (“He who knows not how to drink knows nothing”, kẻ nào ko biết uống rượu ko biết gì hết) makes it seem like a real French restaurant in a happier time and place.

The nuns’ restaurant in Dalat, l'Eau Vive, has both the atmosphere and the taste of a real French restaurant. Dalat is 5,000 feet up in the Annamite Mountains and there is occasionally frost there in the wintertime. The Eau Vive is in a villa that once belonged to a French colonialist.

 

Food Cooked Perfectly

“The possibilities of cuisine here are very limited, because there's a war on,” said one of the lay sisters, a darkhaired young Belgian woman who said she did not want to give her name. But we must cook the food perfectly, because if we did not, we would be betraying our vows.

Foreigners in Vietnam learn that the way to order salad is to say to the waiter, “salade Dalat,” and the salad at l'Eau Vive is the best in the country. Most of Vietnam's lettuce and tomatoes are grown there because the colder climate suits them better. The tomatoes in l'Eau Vive's salad were red and juicy, not thin and drained as they usually are in Saigon.

The vegetable soup is better at La Biche aux Abois, a restaurant closer to Saigon, next to a manioc field under a grove of gum trees in Thu Duc, between Saigon and the giant United States Army base at Longbinh. The name of the restaurant mean the doe at bay and there are superb game recipes on the menu. One of the best that is occasionally on the menus is cuisson de sanglier (đùi heo rừng), or leg of wild boar.

The manager; a bald Frenchman named Robert Bords, has been ill recently, but his menu has a snappy sound to it. Sandwiches are called amuses — gueules (khai vị, ăn trước bữa ăn chánh), the French expression for some thing to fill your face with, and pork pâtés (pate heo) come in two varieties: petite and grande cochonneries, a play on words that suggests pigs but means inanities (những điều vô nghĩa).

The restaurant is a crescent — shaped space covered by a tin corrugated roof but otherwise open and surrounded by trees and flowering shrubs.

Most affluent Vietnamese who live in Saigon go to one of the numerous excellent and varied Chinese or one of the few truly Vietnamese restaurants when they want to celebrate. Despite the valiant efforts made by the remaining practitioners of the French culinary arts, who occasion ally do very well, the Vietnamese clearly know where they will get a better meal./.

Sunday, November 16, 2025

 Đà Lạt trước 75 còn an toàn hơn 1 số nơi ở Mỹ bây giờ.

Khoảng tháng 9/1974, tôi được tiểu đoàn đề cử đi học khóa chiến tranh chánh căn bản ở Đà Lạt. Khóa học kéo dài khoảng 3 tháng.
Vì ba tôi có 1 biệt thự rất đẹp ở đây nên mỗi tuần tôi về nhà mình ngủ 1 đêm.
Đây là 1 biệt thự 2 tầng, xây theo kiểu Pháp, trên 1 triền đồi, đi xuống đường Thi Sách, hình như là số 7, theo 1 tam cấp. Đường này bây giờ vẫn còn tên cũ. Tầng dưới có phòng khách, nhà bếp và toilet. Tầng trên có 2 phòng ngủ và toilet. Sàn nhà lót gỗ kiểu Pháp. Các nhân viên cao cấp của ngân hàng VN Thương Tín đến ĐL thường ngụ ở biệt thư này, chỉ cần ghé nhà ông quản gia ở nhà bên cạnh lấy chìa khóa.
Riêng những đêm về ngủ ở đây, tôi phải đi bộ qua những vườn rau phía sau đường Phan đình Phùng, trong trời tối đen. Khi lên tới đường Thi Sách, tôi đi dọc theo đường này, ko một bóng người, dưới ánh đèn đường vàng heo hắt. Tôi ko sợ trộm cướp gì cả vì rất an toàn.
Sau khi trèo lên tam cấp, tôi lấy chìa khóa cửa để sẵn ở vườn hoa trước nhà để vào. Tôi còn nhớ, lúc đó hãng của ba tôi đang xây chi nhánh của ngân hàng này và khi lên đây thăm tôi, ba tôi đã nói với ông cai (coi công trường xây dựng ngân hàng này ở ĐL), "Sao tôi thấy trần của tầng 2 quá thấp, anh nên nâng cao trần nhà."
Sau 75, một tên gốc nhân tự vệ của chế độ cũ ở Đà Lạt, xuống Sài Gòn gặp ba tôi và nói, "bác mà lên đó nhận nhà, họ sẽ còng đầu bác; thay vì để cho CS lấy, bác bán cho cháu vài chỉ vàng". Thế là ba tôi viết giấy tay bán nhà cho y. Sau đó, y vượt biên sang Canada.
Khoảng năm 1989, ba tôi nhờ cô Vân lên nhà đó để hỏi, thì họ cho biết đã mua nhà này hơn 100 cây vàng.

Friday, October 9, 2020

 CHUYỆN ĐỜI XƯA

- Chao ơi của nặng hơn người.

(Viết sau khi đọc tin TP Đà Lạt định dời Dinh Tỉnh Trưởng của "ngụy quyền" Sài Gòn để giao đất cho nhà đầu tư, có liên quan đến TQ - đăng trên FB của Vĩnh Trần). 

Vào gần cuối thế kỷ 20, có một làng quê ở phương nam mọi người sống rất hạnh phúc hòa thuận, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; quanh các nhà là vườn cây ăn trái xum xuê và một số cây gỗ quí lâu năm. Bổng một bọn cướp từ phương bắc xuất hiện, chúng giam trưởng làng và giết những ai chống cự, bắt làm nô lệ những người còn lại. Với quan điểm ko muốn thấy những gì thuộc quá khứ của ngôi làng, chúng bắt đầu đập bỏ những ngôi nhà tiêu biểu của làng này, nhổ bỏ những cây nhỏ, kể cả cây cảnh, và ném ra sân -- đám cây này phơi nắng phơi sương và thời gian ngắn sau đó làm mồi cho mối mọt. Chúng còn chặt bỏ những cây lớn, kể cả gỗ quý, và đem bán cho con buôn. 

Sau đó một bọn con buôn khác, cũng đến từ phương bắc, trước đây từng quen biết với bọn này, đã đầu tư mua đất ở làng này để xây dựng và kinh doanh theo ý muốn. Dù có ý kiến phản đối từ những dân làng cũ, bọn cướp phớt lờ và tìm cách mua thời gian

Vì một lẽ đơn giản, chúng đã NHẬN TIỀN từ bọn con buôn.

Chao ôi của nặng hơn người!

Nói nhỏ cho cả làng nghe: tôi cũng là một cựu cư dân của TP này tại biệt thự quên số* đường Thi Sách Đà Lạt.

*Do ba tôi xây trong thập niên 1970 và lúc đó tôi đi lính ở vùng 4, tôi chỉ ở đó 3 tháng trong lúc học CTCT tại Đà Lạt trong năm 1974. Sau 30.4.75, trong lúc tôi đi tù, một tên "cách mạng 30/4", gốc Nhân Dân Tự Vệ, xuống SG nói với ba tôi: "Nếu bác lên nhận nhà, họ sẽ còng đầu bác về tội tư sản mại bản, do đó bác nên làm giấy tay bán nhà cho cháu lấy vài chỉ vàng." Nên nhớ, thời đó GIÀU LÀ TỘI LỖI nên ba tôi đã theo lời y và sau đó y bán biệt thự này và vượt biên. Sau này khoảng TN 1990, ba tôi nhờ cô V. đến nhà này và gặp chủ, họ nói, họ đã mua nhà này từ chủ khác với giá cả 100 lượng vàng!

Ảnh: Thỉnh thoảng, buổi tối, tôi đi bộ, đôi khi phải đi qua các vườn rau vắng vẻ và tối đen, từ trường đại học CTCT, 72 đường Võ Tánh, màu vàng sậm trên bản đồ, để lên đường Thi Sách, vàng xậm. (Vì đường Thi Sách cao hơn đường Võ Tánh). Đường Thi Sách đèn rất mờ và vắng người nhưng tôi ko sợ cướp vì rất AN TOÀN. Sau khi trèo lên một tam cấp, tôi đến một chậu hoa trước nhà - trên đó có chìa khoá, để vào nhà. Ông “gác-dan” ở nhà kế bên và cũng vào nhà cách đó. Nhà có hai từng: bên dưới là phòng khách, phòng ăn và nhà bếp, sau đó là vườn cây ăn trái. Trên lầu có phòng ngủ và phòng tắm, có nước nóng. Biệt thự này cũng là nơi nghỉ của các ông lớn của ngân hàng VN Thương Tín vì họ đều là bạn của ba tôi. Tôi còn nhớ khí hậu ĐL rất mạnh vì mền rất dày, loại chăn bông gòn (quilt) mà bên Mỹ cũng xài. Ở phòng khách có lò sưởi và sàn nhà đều lót bằng gỗ, theo kiểu moquette của Pháp. 

Bản đồ này in năm 1960 của hãng xăng Mỹ Mobiloil.