Showing posts with label đi bán chánh thức. Show all posts
Showing posts with label đi bán chánh thức. Show all posts

Sunday, April 11, 2021

 

Thù nầy muôn khiếp không quên!!! Cầu xin những oan hồn của những thuyền nhân bất hạnh chưa thấy được bến bờ TỰ DO được ngàn thu an nghỉ.

Phan Thị Đĩnh Chi.

Nguồn: Tàu Chi Mai vượt biên bị VC giết sạch 426 người | Hoàng Sa Paracel (hoangsaparacels.blogspot.com)


Tàu Chi Mai vượt biên bị VC giết sạch 426 người

CSVN đánh chìm tàu Chi Mai để cướp của

https://baomai.blogspot.com/
LTS: Trong suốt 8 thập niên kể từ khi thành lập vào năm 1930, CSVN đã gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cỏ, lá cây, hòn đá… của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đình, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn ghi lại những tội ác kinh tâm động phách do người cộng sản gây ra.
Đặc biệt, sau khi ngang nhiên vi phạm Hiệp Định Geneva, xâm lăng và chiếm đóng Miền Nam kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đã thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ… dã man trên khắp lãnh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên tìm tự do. Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,… đã bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo…. sau khi phải trải qua những bi kịch kinh tâm động phách, muôn vạn phần đau đớn
https://baomai.blogspot.com/
Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch kinh tâm động phách đó vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào… Để có thể tái tạo một trong muôn vàn tội ác của cộng sản Việt Nam đối với người vượt biên tìm tự do, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả những đoạn hồi ký trích trong "Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông".
Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu…
***
May mắn cho tôi là khi vượt biên vô cùng thuận buồm xuôi gió, nhưng ngược lại, tôi là chứng nhân cuả một vụ cướp của giết người thật là rùng rợn do bọn cộng sản Việt Nam thực hiện vào năm 1977 tại căn cứ Hải quân Cát Lái cũ cuả QLVNCH.
https://baomai.blogspot.com/
Lúc bấy giờ tôi làm công nhân cho thuỷ đội Cảng Sàigòn, trên chiếc tàu kéo CSG 92 (Soài Rạp). Vào khoảng tháng 1 năm 1977 tàu chúng tôi chạy lên con sông Sàigòn tới phía sau nhà máy nhiệt điện Thủ Đức và kéo chiếc tàu tên là Chi Mai về Kinh Tân Thuận (kinh đôi) để cơ xưởng cảng Sàigòn gắn thêm một số máy phụ như máy charge gió (air compressor), máy bơm nước lườn, cũng như gắn thêm một số ống gió thông hơi từ boong tàu xuống tận 3 tầng dưới hầm máy.
Tôi thấy cách thiết kế vô cùng lạ mắt và không có một chút gì là an toàn cho việc vận hành, cũng như an toàn thoát hiểm tối thiểu cho một con tàu di chuyển trên sông nước. Tôi có hỏi chú sáu Bền người công nhân đầu não của xưởng này về việc lạ lùng này thì chú trả lời rằng: "Chú đâu biết gì đâu. Nghe nói rằng thành uỷ thuê xưởng sửa chữa làm một số việc và nhà nước đôi bên thanh toán cho nhau. Chú chỉ là lính lác nên đâu biết gì việc cuả họ".
Con tàu này có máy chính hiệu của Đức chế tạo, công suất 900 horse power. Con tàu này dài khoảng chừng 22m rộng 5, 5 mét, chiều sâu tính từ mớm nước khoảng 3, 3 mét, nhưng nếu tính từ trên mặt boong (deck) khoảng 5 mét là cùng. Khi tàu này gần ra khỏi ụ sửa chữa nó được hàn thêm một số miếng sắt chữ V loại 6mm làm một boong giả thêm nữa, cao hơn mặt boong khoảng 1.70 mét.
Bấy giờ những người Hoa kiều trong Chợ Lớn thường tấp nập vào tầu này xem xét cúng bái và họ thường mang trái cây hoặc thịt thà qua biếu cho chúng tôi ăn. Sau vài lần họ muốn thuê chú hai Lâm Văn Tới làm máy trưởng cho tàu này. Họ nói dối rằng đấy là tàu khách chạy từ sài Gòn đi Cần Thơ. Nhưng chú khước từ, vì tàu CSG 62 cuả chú cũng sửa chữa sắp xong để hoạt động kéo xà lan nước đi Vũng Tàu cung cấp cho các tàu chiến cũng như đánh cá đang neo tại vùng cảng ấy. Sau họ bảo thật là đi vượt biên chính thức và sẵn lòng chi 15 lượng vàng và cho hết 6 người trong gia đình chú đi luôn không phải trả một xu nào cả, nhưng chú vẫn khước từ.
Sau đó tôi thấy tên Út Lương tên thật là Lương Văn Út thuyền trưởng tàu khách An Giang chạy từ Tân Châu -Long Xuyên -Sài Gòn và ngược lại, nhận lời. Tên Úc này là Việt kiều Kampuchia hồi hương về VN năm 69 hay 70 gì đó. Năm đó là năm Quân Lực VNCH hành quân vô Kampuchia tấn công và san bằng cục R cuả VC và cứu vớt Việt kiều khỏi bị bọn Lon Nol và Khmer Đỏ cáp duồn thả trôi sông Cửu Long về Việt Nam.
Út Lương có nước da sậm nâu, gần giống như Miên. Không hiểu hắn xoay ở đâu ra bằng Tài Công hạng nhất của Bộ giao thông và Bưu điện cấp cho hắn. Bằng màu đỏ hẳn hòi, còn mới cứng, chứ thằng này nó dốt như Hồ Chí Minh, tiếng Tây thì quẹt quẹt, tiếng Miên thì good, tiếng Việt và tiếng Tàu thì cũng khá khá, nhưng về hải nghiệp nó là con zéro to tướng. Nội việc khử từ trường cho hải bàn khi tàu sửa chữa, hay trang bị thêm chi tiết nó cũng không biết, làm floating radar, hoặc tâm phương qua tín hiệu kiểm báo nó cũng mù tịt, thì nói chi đến tính toán sai biệt trục địa cầu hàng năm để cộng thêm vào hướng đi, hoặc trừ bớt cho đúng với hướng thật sự muốn đi. Nhưng hắn vẫn nhận trách nhiệm đưa tàu đến Cát Lái.
Giờ đây tôi không chắc nhớ rõ ngày tháng sự vụ xảy ra, tôi chỉ nhớ lúc ấy trời nắng gắt lắm khoảng tháng 4 hay 5 gì đấy, bấy giờ tôi kéo xà lan chở nước xuống kho dầu Shell ở Nhà Bè bơm cho tàu dầu Hasukha của Liên Xô, và sau đó kéo ủi yểm trở cho hoa tiêu đưa tàu vào cặp cảng kho Esso Nhà Bè. Việc xong xuôi, tôi cặp xà lan nước đã giao hàng xong, kéo về lại cảng Sàigòn. Nhưng khi tàu sắp quanh vào khúc đèn xanh đỏ của sông Sàigòn, thì tôi thấy người trôi nổi lặn hụp bơi ngửa, bơ xấp đủ kiểu hết. Họ có áo phao bằng styro foam hoặc bằng túi hơi như loại hàng không phát cho hành khách. Cũng có người ôm bẹ dừa nước thả ngửa trên sông.
Tôi co giảm vận tốc tàu lại và yêu cầu anh em thuỷ thủ ở tàu kéo cũng như xà lan thả các thang dây trên tàu và xà lan xuống tận mé nước đồng thời lấy các phao tròn cột dây vào quăng ra cho họ bám vào để kéo họ lên các thang dây của tàu và xà lan.
Lúc bấy giờ là nước ròng chảy ra biển, và ngay chỗ này là mối tiếp giáp giữa 3 con sông Nhà Bè, Sàigòn và Đồng Nai nên mực nước luôn chảy nghịch lẫn nhau tạo thành dòng nước xoáy. Tôi sợ nạn nhân có thể bị lót lườn tàu và xà lan, vướng vào chân vịt, nếu họ luýnh quýnh và không hiểu biết. Vì vậy tôi chỉ để số vòng quay của chân vịt đủ mức cho tàu đứng yên một chỗ để đón cứu họ.
Lúc bấy giờ các ghe đóng đáy giàn xây (dòng xoay) tại ngã ba của ba con sông cũng túa ra cứu giúp họ. Khi đó, trên tàu và xà lan của chúng tôi đã cứu được 18 người. Bỗng phía bên sông Nhà Bè (Rạch Bảy) có nhiều tiếng súng nổ chát chúa và canô công an VC tuần tra trên sông từ hướng nhà máy dầu Navioil cũng như trên Cát Lái chạy đổ xuống, xuôi theo dòng chảy, chúng bắn vào nạn nhân bơi trên sông không một chút thương tiếc, và đuổi theo bắn tận nhà máy Silico gần đến vàm sông Phú Xuân, nơi có căn cứ của bộ đội biên phòng đóng giữ.
Riêng tàu của chúng tôi bị một tầu tuần tiễu có khoảng 6 công an nhảy lên bắt những nạn nhân này trói lại bằng dây ở những chiếc phao họ mang trên người, rồi đẩy họ té xuống tàu tuần cảnh, thấp hơn mặt boong xà lan ít nhất 2 mét. Khi không còn chỗ chứa các nạn nhân, chúng xô họ trở lại dòng sông lúc đó đang chảy xiết. Tôi la lên cản ngăn chúng, nhưng chúng bắt tôi vào trong phòng lái tàu và yêu cầu tôi chạy về cầu bến phá Cát Lái. Trên đoạn đường không đầy 2 cây số này tôi thấy vô số các túi sách may bằng nhựa simili và giỏ đệm trôi bồng bềnh trên mặt nước. Chúng ra lệnh cho tàu chạy chậm lại và dùng vợt chúng tôi thường dùng để vớt lon nhôm thực phẩm hoặc thức uống của tàu ngoại quốc thường vứt bỏ trôi nổi trên sông Sàigòn, để vớt những chiếc giỏ căng phồng này. Chúng tranh nhau mở ra lục lọi lấy vàng, đô la, đồng hồ… rồi chia chác nhau ngay tại chỗ.
Vì phải chạy chậm để tụi công an vớt những chiếc giỏ trên mặt sông nên 2 giờ sau, tàu chúng tôi mới cặp được bến phà Cát Lái trong khi đoạn đường không đến 2 cây số mà vận tốc bình thường của tầu tôi là 16 hải lý giờ (khoảng 25 cây số giờ).
Khi tàu vừa cập bến, tụi công an bắt chúng tôi lên bờ, lục soát trên tàu, xà lan và khám xét thân thể của chúng tôi. Đến khoảng 10 giờ tối thì tên đại tá công an trưởng phòng cứu hỏa đến hỏi chúng tôi có thấy điều gì hay không, có muốn khiếu nại gì không? Chúng tôi dư hiểu chúng muốn gì, nên ai cũng phải lắc đầu, "thưa không nghe, không thấy, không biết cũng như không khiếu nại điều gì". Chúng tôi chỉ xin chúng báo cáo về đội an ninh bảo vệ của bến cảng Sàigòn là tàu chúng tôi bị vướng lưới nên phải lặn gỡ, vì vậy về trễ. Chúng bằng lòng gọi phôn giúp cho việc ấy. Khi chúng tôi được thả trở lại tàu, trên bến phá, tụi công an đã cho lập vòng rào an ninh cấm tất cả nhân dân cùng những người không có trách nhiệm lui tới khu vực ấy. Vòng đai này được kéo bằng kẽm concertina, phía trong ở giữa bến phá chúng dùng nhưng manh cót quây tròn lại, che kín những xác người nằm ngổn ngang ít nhất là 150 người. Những xác người được xếp dài khaỏng 30 mét nằm kế bên nhau như cá trong hộp thành 3 hàng. Còn các túi hành lý được chất ngay lên xe truck cuả công an mà loại này trước năm 1975 dùng để tịch thu báo chí khi báo chí có nội dung xuyên tạc vu khống chính phủ VNCH, để làm lợi cho cộng sản.
https://baomai.blogspot.com/
Sau đó hai ngày, đội thủy của cảng Sàigòn được lệnh điều động tàu của chúng tôi kéo cần cẩu 100 tấn (có sức mạnh kéo nổi 100 tấn). Cần cẩu này nguyên là của quân vận Mỹ bàn giao lại cho chính phủ VNCH, và sau chuyển lại cho cảng Sàigòn xử dụng. Chúng tôi kéo cần cẩu nổi này ra đến Cát Lái khoảng 10 giờ sáng và người nhái công an (Bắc Kỳ) lặn xuống choàng dây cáp 16 mm qua tàu Chi Mai để cho cần cẩu trục lên.
Nhưng không biết loay hoay như thế nào đó họ làm mãi không xong, và phải xin toán người nhái của cảng Sàigòn đến giúp đỡ. Toán người nhái ốm đói này vốn là những công nhân trên 45 tuổi trước 1975 thuộc Ty Cảng Vụ cảng Sàigòn, có nhiệm vụ lặn kiểm tra các đế phao neo (con rùa) trên sông Sàigòn, cùng như kiểm tra chân đế cầu tàu trong cảng Sàigòn. Nhờ toán người nhái của Sàigòn trước 1975 , công việc trôi chảy, tôi nổ máy đẩy cần cẩu nổi ra xa, để neo căng cả 4 phiá và kéo tàu Chi Mai lên….
https://baomai.blogspot.com/
Khi dây cáp được kéo lên chưa được 3 mét, từ dưới mặt nước nổi vọt lên những xác người như nhưng trái ngư lôi vừa thoát khỏi bệ phóng. Máu từ mũi tai cuả họ trào ra trông thật thảm khốc. Chú hai Giỏi, cần cẩu trưởng, người to như cảnh sát motor cycle của Mỹ, cũng phải rụng rời tay chân không thể tiếp tục giữ cần LIFT và dừng tay lại ngay vị trí này. Bọn công an trên cầu phà bụm tay lại làm loa ra lệnh kéo tiếp nên anh Sanh phải nhảy lên phòng điều khiển thay thế chu hai Giỏi…
Dây được kéo lên từ từ thật chậm từng tấc cáp mỗi lần chuyển dịch, xác người tiếp tục vọt nổi lên, Tôi không nhớ rõ lắm vì cảm giác đã chết cứng tê dại, mắt mở nhưng hình như không còn biết gì cả. Vì đấy là xác người vô tội bị VC xua đuổi, hoặc lừa đảo, nên họ phải trốn ra nước ngoài. Họ là những người giàu có, có nhà cửa khang trang, cơ sở máy móc sản xuất, mà bọn công sản Bắc Kỳ xâm lược đang thèm thuồng muốn chiếm lấy làm cuả riêng, nên đã lừa họ mang của cải xuống tàu rồi tìm cách giết họ để chiếm đoạt của cải.
Khi tàu nhô cột cờ lên khỏi mặt nước, một thảm cảnh mà suốt 16 năm sống xuôi ngược trên các dòng sông cuả VN, bờ duyên hải VN và Philippines tôi chưa bao giờ trông thấy cảnh tượng như thế. Qúy vị à! Một phụ nữ tay ôm chặt đứa bé gái khoảng một tuổi đã sình chương cuộn tròn như một quày dừa non. Chiếc áo Badesuite bằng thứ vải nylon dầy chắc vướng vào các móc dùng để móc cờ hiệu của tàu hoặc tín hiệu. Trên mặt của nạn nhân bị tôm cá rỉa mất gần hết một bên mặt….
https://baomai.blogspot.com/
Tàu Chi Mai tiếp tục được kéo lên, trên mặt boong không còn gì tồn đọng. Trong cabin lái, xác hai cô gái trẻ ôm nhau chết cứng. Tàu Chi Mai tiếp tục được đưa lên cao, nước tràn ra từ các lỗ Abblouse (lỗ có kính tròn để cho thuỷ thủ có thể quan sát bên ngoài hay mở ra để nhận lấy gió khi những ngày biển êm gió lặng). Nước chảy tràn ra cho thấy bên trong, xác người dằn xẹp xuống như cá được đóng vào hộp vậy….
Cuối cùng tàu Chi Mai được đặt trên boong cần cẩu 100 tấn, sau khi các kè được chêm chặt hai bên hông tàu Chi Mai. Chúng tôi thấy bên hông phía tay phải của tàu Chi Mai có một lỗ thủng to hình dạng tròn méo mó phần phía trước của lổ thủng bị tét ép vào phía trong thân tàu chứng tỏ khối thuốc nổ được đặt từ bên ngoài. Xác người bên trong chắc phải còn đủ cả vì lỗ thủng này, xác người không thể trôi ra được, vì tàu bị chìm nghiêng về phía này, bùn non và đất sét còn bám chặt cả một bên thân tàu.
Xác nguời được đưa ra khỏi tàu Chi Mai đưa lên bến phà Cát Lái lập tức các túi hành lý bị tụi công an VC tịch thu đem lên xe cây ngay lập tức, không có thân nhân hay bất cứ ai léo hánh ở khu vực này. Chỉ huy bốc dỡ các tử thi này là Đại tá VC Đinh Mười, truởng phòng cảnh sát phòng cháy chửa cháy thành phố Sàigòn; và một tên đại tá khác của phòng cảnh sát trên sông. Lúc bấy giờ bí thư thành uỷ là Võ Văn Kiệt.
Tổng cộng xác chết được đem ra là 426 xác cả nam lẫn nữ. Tôi đã không dám ăn thịt cá tôm cua hơn nửa năm trời mặc dù lúc bấy giờ công nhân kỹ thuật thuộc tổng cục đường biển như tôi mỗi tháng chỉ mua được 2 kí thịt heo cho nhu yếu phẩm mà thôi.
https://baomai.blogspot.com/
Thằng Lương Văn Út tài công chiếc tàu Chi Mai còn sống nhăn răng tại Sài Gòn. Sau vụ nổ tàu Chi Mai, Cộng Sản không có cách gì che giấu được, vì hơn 170 hành khách nhà nghèo loại đóng 5 cây vàng cho một đầu người, phải chịu cảnh đứng ngồi như cá hộp. Họ hiểu đi tàu trong hoàn cảnh đó sẽ bị ướt lạnh khi trời mưa giông, vì cả hai thứ nước mưa và nước sóng biển.
Họ chắc chắn hiểu được thân phận, và những rủi ro có thể mang đến cho họ khi bị say sóng, hoặc sóng to chụp phủ lên tàu có thể cuốn họ xuống biển, nên họ chịu rất nhiều tổn phí để kiếm mua phao vì thời ấy của đó là hàng quốc cấm, không có chợ nào được bày bán cả. Ngay cả như tôi, thuyền trưởng tàu kéo cấp ba (có công suất trên 1200 mã lực) là loại chỉ đếm trên đầu ngón tay vào năm 1989, vẫn không có áo phao cho cá nhân của mình nửa đó. Chỉ cấp loại xốp bình cà rem (Styro foam) nhét vào áo khỉ (monkey vest) như áo bộ đội mang băng đạn AK vậy, nhưng vẫn phải ghi tên và chức vụ bằng nước sơn đỏ, và điều này phòng vật tư của Công Ty làm sẵn phát cho tàu, nếu bị mất phải làm báo cáo và kiểm điểm như mất súng vậy.
Chính các phao này đã giúp cho hầu hết những nguời trên boong này thóat ra khỏi tàu Chi Mai ngay lúc nó nghiêng chìm. Chỉ có những người thông thuộc với sông nước nên ỷ lại không mặc vào, có thể bị chết, hoặc thoát, hay tù sau vụ chìm này. Điều tôi nói đây có kiểm chứng, vì 4 ngày sau đó, những xác chết trôi nổi trên sông Nhà Bè, Phú Xuân, Soài Rạp, Lòng Tàu, cũng như trôi dạt vào những miệng đáy đóng trên sông để bắt tôm cá. Người dân đã báo cho chính quyền đem đi mai táng hoặc trả xác lại cho thân nhân.
https://baomai.blogspot.com/
Còn cảnh công an VC bắn vào người vượt biên hôm đó, chính mắt những người đóng đáy thấy, thủy thủ tàu CSG 92 và xà lan 64 thấy, công nhân nhà máy Vavioil và những cư dân trên bờ sông nhà bè phía đèn xanh đều thấy hết. Chưa hết đâu! Những người đi "đăng ký", tập trung tại bến xe Văn Thánh ngoài ngã ba Hàng Xanh để cho xe bus đưa vào bên phà Cát Lái, nhưng còn hai xe bus chót chưa vào tới bến phà Cát Lái thì mìn đã nổ. Không biết rằng vì xe bus đến chậm hay thằng công an tay nghề quá zỏm, gài kim định giờ không chính xác?! Điều này từng xảy ra trong thời chiến qua các vụ đặc công VC đánh các cầu Bình Triệu, Bình Lợi, Tân Cảng… Đặc công VC ôm mìn lội ven sông để gài giật xập cầu, nhưng lội chưa tới nơi thì mìn phát nổ. Báo chí phổ biến tin tức, lính địa phương quân giữ cầu đều biết chuyện này!
Việc Cộng sản bắn chết người thường dân vô tội đâu có phải là điều hiếm hoi ở trong thời chiến cũng như thời bình. Hơn nữa VC đã dán bản cáo trạng khắp hai miền đất nước rằng "VƯỢT BIÊN LÀ PHẢN QUỐC". Vì vậy chúng sợ ai không dám bắn?! Hơn nữa VC bắn để cướp của, vì người bị chúng bắn là thành phần tư bản, bị VC ghép vào tội phản quốc bóc lột.
Còn 2 chiếc xe bus chở người vượt biên đến sau, khi thấy tàu Chi Mai bị phát nổ, bọn công an liền ra lệnh cho quay đầu lên hướng nhà tù Thủ Đức tạm trú qua đêm và sáng hôm sau chở thẳng lên Bù Đóp nhốt cho đến gần 4 tháng. Sau đó, chúng đưa xuống cù lao Rồng ở Mỹ Tho cho đi bán chính thức, với điều kiện thêm 3 cây một đầu người.
https://baomai.blogspot.com/
Ngoài ra, còn vụ cho chìm tàu khách Vũng Tàu tại ngã ba Thiềng Liềng năm 1979 để cướp tiền cướp của nữa. Vụ này VC bán bãi xong, trở giọng lật lọng bắt khách ra đi đa số là Bắc di cư năm 1954 và giáo dân ở giáo xứ Tân Định, Bà Chiểu, trong đó có con của nhạc sĩ Lê Văn Thiện, hòa âm cho ban nhạc Shootgun của ca sĩ Thanh Thuý.

Thi Nguyen chuyen








Tàu Chi Mai vượt biên bị VC giết sạch 426 người | Hoàng Sa Paracel (hoangsaparacels.blogspot.com)

Wednesday, April 7, 2021

 

Rời Việt Nam

Đọc bài để thấy những xứ Á Châu khốn nạn... Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương (Indonesia). Chỉ có Phi Luật Tân (Philippines), Hồng Kông là những quốc gia tương đối giúp đở người tỵ nạn VN.


Rời Việt Nam
Phi Nga



Đã nhiều lần tôi muốn viết nhưng rồi lại chẳng thể hoàn tất, câu chuyện vượt biên tháng 4 năm 1979. Cứ thảo được vài giòng rồi xóa bỏ.

Không phải vì đã có nhiều câu chuyện về chuyến ra khơi, nhiều hoàn cảnh đi rồi không đến sau tháng Tư năm 75 mà tôi từng được đọc mà vì mỗi lần nhớ về chuyện vượt biên tôi lại bị cơn ác mộng. Đến nay là đúng 41 năm rời Việt Nam, thế mà tôi vẫn thỉnh thoảng nằm mơ về ngày ấy.

Gia đình chồng ở ngay đường Nguyễn Trung Trực, trước chợ nhà lồng Rạch Giá. Căn nhà còn sót lại sau những căn mà họ đã trưng dụng để làm Ty Giáo dục, làm Bưu điện thành phố và làm Đồn trú Công an.

Sau khi chồng đi tù về chúng tôi không được ở Sài Gòn. Tổ dân phố gạch xóa hộ khẩu và yêu cầu chồng tôi về nguyên quán. Tôi về lại nhà cha mẹ ruột, thỉnh thoảng xài tờ giấy của phòng Tổ Chức trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn điều về trình diện ty giáo dục Kiên Giang để có tờ giấy đi đường và để mua vé xe đò đi lên đi xuống.

Khi anh về Rạch Giá theo quy chế quản thúc, công an khu vực là tên công an có hai cái răng cửa bọc vàng nên dân chúng gọi tên Năm Răng Vàng. Sáng nào cũng đến viếng rồi bắt anh đi xuống vùng có tên là Miệt Thứ Chín để lao động vinh quang với gói lương khô vài ba ngày tự túc. Lao động cả năm ngày, cuối tuần anh mới được về nhà mẹ ruột. Về đó anh phải viết báo cáo: ngày nào, làm gì, giờ nào gặp ai, nguyên tuần luôn và phải thành thật khai báo mọi chi tiết.

Khi tôi xuống, mục đích là thăm chồng và tìm đường vượt biên, má chồng tôi khai tôi là cán bộ nhà nước với đầy đủ giấy tờ công tác nên tôi được yên thân. Tôi xử dụng tờ giấy của phòng Tổ Chức trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn đi nhận cộng tác tại Ty Giáo dục tỉnh Kiên Giang để ra phường khóm xin giấy đi đường. Cứ đi lên đi xuống nhưng tôi không trình diện và cứ thế cho đến ngày tìm được chổ vượt biên.

Năm 1979, cao trào người Hoa bị đuổi khỏi VN. Phong trào bán chánh thức vượt biên hầu như chánh thức. Dưới Rạch Giá, người Hoa xí xô xí xào và đi lềnh cả khu trung tâm Rạch Giá. Tôi băn khoăn nghi ngờ về chuyện vượt biên bán chánh thức này, cho là bị gạt và những người Hoa này đang chui đầu vào rọ. Một hôm, tôi thấy trong căn nhà bên chồng mình đầy người lạ. Thì ra chủ tàu người Hoa thuê bao những căn phố lớn gần chợ để đổ người từ Sài Gòn xuống. Căn nhà của má chồng tôi được bà chủ (bà vợ thứ ba) cùng người nhà là mười người đến ở. Bà chủ vợ thứ ba lại là người Việt Nam, bà ấy gần năm mươi tuổi, đẹp người và nom sang trọng với phong cách của người Hà Nội 54. Bà trọng người có học nên khi biết vợ chồng tôi có trình độ đại học và biết sinh ngữ Anh Pháp, bà rất quý.

Tôi nhìn thiên hạ chuẩn bị vượt biên, thấy họ vui tươi mua sắm ăn uống dạo phố công khai mà vui theo. Thật khác hẳn với chuyến vượt biên đi vào sông ông Đốc của chúng tôi cách đó không lâu: chèo xuồng suốt đêm, ngủ trong rừng với bầy muỗi nổi tiếng của rừng Cà Mau, lội sình ngập gối rồi sau đó hối hả thối lui trong đói khát và sợ hãi.

Lúc này tôi đã tin vượt biên bán chánh thức là thật. Mỗi đầu người từ Sài Gòn xuống là 12 đến 15 cây vàng. Số tiền khổng lồ và niềm ao ước được đi bán chánh thức khiến đêm đến tôi cứ nằm mà mơ không ngủ được. Vậy mà chúng tôi bỗng nhiên trúng số khi có vài người Hoa trong thời gian ăn dầm nằm dề chờ ngày xuất trận bỗng bỏ cuộc, bỏ tiền bỏ vàng. Họ quay về Sài Gòn hoặc họ nhảy qua chuyến tàu khác được xuất hành sớm hơn? Tôi không biết, chỉ biết bà chủ gọi tôi ra hỏi có chạy được 4 cây vàng để thế chổ? Tôi tức tốc lên Sài Gòn kể cho ba má biết và má tôi đã giúp vàng cho vợ chồng tôi đi. Cái thân tù cải tạo và lý lịch xấu thì một hai ba bốn gì chúng tôi phải rời VN, rời càng sớm càng tốt mà nay lại được đi công khai không lo công an chận bắt! Thế là trong hai chuyến vượt biên ba má tôi đã hy sinh gần hết vốn liếng của gia đình cho con gái. Công ơn trời biển!

Vợ chồng tôi trước ngày xuống tàu phải di chuyển từ khu chợ nhà lồng ra khu nhà sát con sông lớn, nơi tàu bè được đóng và đậu ở đó để xuất hành. Kể từ hôm đó, tôi phải ráng nhớ tên trên giấy tờ là Wồng A Muối, còn chồng tôi mang tên Pánh Pao hay bánh chà cháo quẩy gì đó thật tình tôi không nhớ nổi.

Khách của bà chủ thứ ba toàn là người Việt giả dạng người Hoa, tập trung vào căn nhà lớn, còn lại toàn người Tàu Chợ Lớn. Chúng tôi, nhập vào đoàn khách này, phải nói tiếng Việt lơ lớ che dấu thân phận. Họ bao thuê những căn nhà của dân ở hai bên đường, dĩ nhiên phải qua mối lái của công an. Chúng tôi chờ đợi trong phập phồng vì ngày nào còn nằm chờ trong tay công an, ngày đó còn hiểm nguy chào đón.

Rồi ngày lên đường đã đến. Ba má tôi ở Sài Gòn còn ba má chồng ở cách đó năm mười cây số nhưng không ai dám lộ diện sợ lòi đuôi không phải gốc Hoa nên khi bước lên cây cầu gỗ, lên tàu rời VN vĩnh viễn, không người thân đưa tiễn, tôi thật buồn thật nhớ cha mẹ anh em. Lúc đó tâm trạng tôi hướng về cha mẹ, anh em nên tôi không phập phồng lo sợ bị bại lộ giả người Tàu khi hai tên công an kiểm soát gấy tờ trước khi đi vào bến cảng.

Lao vào thân tàu chúng tôi được cho vào tầng lửng, bên dưới đã đầy nghẹt người. Chao ơi, tôi không ngờ nhiều người đi như vậy. Mới đầu còn duỗi cặp chân, chiều tối xuống thì tôi chỉ còn ngồi bó gối. Vài tiếng đồng hồ chờ đổ người xuống thôi mà tôi thấy dài như không bao giờ chấm dứt. Cuối cùng khi trời sập tối, tàu dần dần di chuyển, nhiều người khóc trong đó có cả tôi vì nghĩ không bao giờ gặp lại người thân.

Tàu chạy từ sông ra biển, có công an hộ tống dẫn đường bằng ghe nhỏ. Khoảng một tiếng đồng hồ thì tàu dừng lại, nhiều người với hành lý lao vào khoang tàu. Hóa ra công an khu vực họ vớt thêm người, gom một số tiền bỏ túi riêng ngoài danh sách. Những chuyến ghe nhỏ gắn máy đuôi tôm cặp sát tàu lớn, công an chuyền vào tàu thêm năm bảy chục người nữa, sau đó tàu mới được đi. Theo thỏa thuận, công an bảo kê tàu bán chính thức vượt biên, kè theo tàu cho đến lúc ra hải phận quốc tế; tôi đoán vậy khi nghe các gia đình chủ tàu lao xao reo vui, vỗ tay bye bye. Công an biên phòng làm xong nhiệm vụ, theo lệnh chủ tàu, ai còn tiền VN trong túi dốc tặng đám công an.

Tàu chạy tiếp thêm một lúc, ông bà Trương chủ tàu khui sâm banh ăn mừng, nghe tiếng “bóc bóc“ nổ thì cùng lúc đó tiếng động cơ tắt lịm. Máy hư!

Cả tàu ngơ ngác nhìn nhau không tin được. Tàu mới đóng, máy động cơ mới toanh, mới ráp mà! Chúng tôi mon men leo lên trên, thấy chung quanh biển êm như mặt hồ. Anh tài công và mấy người thợ đang hò hét chửi thề liên tục. Tàu lắc nhẹ trên nước và theo gió trở mũi tàu hướng đất VN. Xa xa có vài chiếc ghe đánh cá của người Việt. Khi họ tò mò ghé vô, chủ tàu liền đưa tiền nhờ họ vào đất liền báo với công an là tàu đi bán chánh thức mang số VNKG 009 bị chết máy và xin giúp đỡ.

Cuối cùng chúng tôi được công an cho ghe đánh cá loại lớn ra kéo trở vô bờ. Chủ ghe thương thảo và chúng tôi được đổ bộ xuống vùng Tà Niên. Lại tạm trú nhà dân chúng. Chủ nhà có nhiệm vụ nấu cơm ngày ba bữa cho chúng tôi và chúng tôi tiếp tục đóng tiền ăn và chờ. Tôi thuê ghe khách đi về chợ Rạch Giá, báo tin cho bên chồng hay tự sự và ra bưu điên đánh điện tín về Sài Gòn cho ba má tôi hay.

Khu Tà Niên nơi chúng tôi ở nổi tiếng về khóm. Khóm Tắc Cậu Tà Niên ngọt như ăn cục đường nên thời gian ở đó chúng tôi mượn chủ nhà làm cho mấy lon ghi gô khóm đặng mang theo, đúng là cứ tưởng như đi du lịch! Chủ nhà là người Tiều nên sáng nào tôi cũng ăn cháo trắng với chao với cải xá bấu. Trưa chiều ông xào cho thịt ba rọi với rau, toàn là mỡ với mỡ! Ngày nào cũng ăn giống ngày nào, thật ớn!

Sau một tháng ở đó chờ sửa máy, chúng tôi mừng thật mừng khi nghe tin sẽ được ra đi. Trong thời gian tại Tà Niên, ghe lại tiếp nhận thêm vài chục người mới. Vào ở chung với chúng tôi là vợ chồng anh Ba bụng bự người Việt trăm phần trăm nhưng phong cách rất Ba Tàu, cỡi trần suốt ngày khoe chiếc bụng to như bà bầu năm tháng. Anh có rất nhiều tin tức về chuyện tàu bè bán chánh thức. Năm đứa con đã đi trước, giờ hai vợ chồng đi với một đứa con nhỏ. Anh cho biết một tin nóng hổi là các chuyến tàu bán chính thức, sau chuyến của chúng tôi ra khơi, bị đình chỉ vì lệnh từ Hà Nội. Người ta bán nhà cửa để đi nay phải lếch thếch trở lại Sài Gòn, tiền mất nhà bay! Vợ chồng anh Ba lanh lợi, đút lót công an nên nhẩy qua được chiếc ghe của chúng tôi, thuộc loại ghe đã có giấy phép ra khơi. Sau này gia đình bên chồng tôi xác nhận đúng là mấy ngàn gia đình đóng vàng chờ ra khơi đi vượt biên bán chánh thức tại chợ Rạch Giá phải đi ngược về Sài Gòn hay nơi khác vì không một chiếc nào được rời bến nữa! Thê thảm và khốn khổ! Anh Ba có năm đứa con cho vượt biên bán chính thức trước đó nửa năm khi anh đến Nam Dương có nhờ chúng tôi hỏi thăm Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nhưng tìm không ra tông tích.

Lần hai ra khơi, không một ai nhỏ lệ và khi ra đến hải phận quốc tế, ông bà chủ không reo hò khui rượu mừng như lần trước. Tàu cứ lầm lũi chạy. Chạy đến ngày thứ Hai thì chúng tôi gặp một ghe đánh cá Thái Lan, họ mời vài người qua ghe họ, cho nước đá đem về tàu. Tôi cũng lanh chanh xuống hốt một thau nước đá lên phát cho bà con ngồi cạnh, lòng hớn hở vui chờ ngày tàu cặp bến đến Thái Lan, không hề biết là đang đi vào nguy hiểm.

Khi trời nhá nhem tối, tàu hải tặc bắt đầu xuất hiện. Họ đến một lượt bốn năm ghe vì biết tàu chúng tôi khá đông và tàu khá lớn. Nhóm lên tàu còn rất trẻ, đứa cầm dao, đứa cầm búa và bắt đầu lục lọi cướp bóc. Tôi nhìn thấy cô thư ký của ông Trương, người đại diện ông bà chủ để truyền tin tức cho chúng tôi khi còn trên đất liền, đang xoay vòng vòng vì bị hải tặc rút cái ruột tượng chêm đầy vàng lá mà cô quấn quanh bụng. Cuộc vơ vét kéo dài mấy tiếng với thắng lợi không ngờ qua những gương mặt hớn hở mừng vui của họ. Đợt hải tặc thứ hai kéo tới sau đó chừng một tiếng, tôi có cảm tưởng họ đã chia phiên với nhau và báo cáo tình hình khi biết trên tàu không hề chống cự và không hề có súng.

Những lần sau này, sau khi lục soát vàng vòng, họ bắt đầu kiếm gái. Đang ngồi tầng trên, khi thấy các anh báo động tôi nhảy xuống tầng lửng chen vào đám con nít, ôm ngay một đứa bé vào lòng. Bà mẹ nhìn tôi cảm thông, trấn an nó bằng tiếng Hoa nhưng thằng bé lạ người vừa khóc vừa cắn tôi đau điếng. Đèn pin của hải tặc rọi xuống, tôi hãi sợ quá, gục đầu vào đứa bé chịu trận cho đến khi đèn quay về hướng khác. Năm rời VN tôi 24 tuổi.

Tàu chứa hơn 700 người, bọn hải tặc lùng những cô gái 15, 17 tuổi. Tụi nó bắt cô nào là kéo chiếc xà rông ra, đè lên cô gái, làm tại trận. Tiếng kêu la van lạy và thét rú kéo dài dường như vô tận. Bọn này rút đi thì nửa giờ sau bọn khác kéo đến. Tiếng kêu cha kêu mẹ, kêu anh, kêu người yêu… cứ ám ảnh tôi mãi. Ngay bây giờ khi viết về chuyến vượt biên, tiếng rú nổi lên làm đầu tôi nhức nhối, tôi thấy lại hình dạng các thiếu nữ máu me lê lết trên khoang tàu sau khi bọn hải tặc rút đi!

“Nhưng gió tắt mà sao còn động cỏ

Hoa lung lay vật vả nắm hương tàn

Hay tiếng khóc dâng lên từ đáy mộ

Của muôn đời chưa nín hận lìa tan“

(Vũ Hoàng Chương)

Trong chuyến vượt biên có nhiều lúc cận kề cái chết nhưng đây là khoảnh khắc kinh sợ nhất đời tôi. Chưa bao giờ tôi sợ như lúc đó. Chồng, cha bất lực không cứu được con chứ đừng nói chi những cô gái ra đi không có cha, anh bên cạnh. Điều an ủi duy nhất là họ không bắt các cô gái đi theo tàu họ và về sau mất tích mãi mãi!

Đến ngày thứ ba, chồng tôi lên tiếng kêu đàn bà con nít đi xuống hầm, tất cả các đàn ông lên trên và phải chống cự nếu không sẽ chết nhưng họ không nghe. Có bà Xẩm còn thét lên: "Vụt thằng cha đeo kiếng này xuống biển đi. Muốn hại chết mọi người à". Tôi nhìn quanh, đàn ông và thanh niên Việt Nam, độ hai chục người, có vài người hưởng ứng, còn người Hoa im lìm như điếc.

Mấy ngày trên biển, không một hột cơm, không miếng nước, không thể nhắm mắt ngủ đã làm mọi người không còn sức lực.

Rồi biển động, những ngày biển động làm chúng tôi say sóng, ói mửa và nằm bẹp xuống sàn nhơ nhớp nhưng lại mừng vì ngày biển động lại là những ngày không có hải tặc. Chúng tôi chạy thêm hai ngày trời nữa mà nhìn chung quanh vẫn mênh mông là nước… Ông tài công hình như chạy loanh quanh vịnh Thái Lan gần bờ?

Tới ngày thứ năm, rạng sáng chúng tôi thấy từ xa có bảy hay mười chấm đen nhỏ. Dần dần các chấm đen đó càng to và hiện rõ đó là ghe đánh cá Thái Lan. Hoảng hốt, tôi nhớ đến lá cờ đen trắng kẻ caro mà anh tôi, hải quân, vẽ cho nhét vô hành lý. Thế là bung lên cột cờ, lòng thì thầm khấn nguyện đấng Thượng Đế che chở.

Các chấm đen giờ đã hiện nguyên hình các chiếc ghe Thái, không còn cách chúng tôi bao xa nữa, khoảng 30 phút. Trên tàu, đàn bà con gái đi trốn, boong tàu dành riêng cho các gia đình chủ ghe, tài công trống bóc chỉ có vài thanh niên và tôi như bị thôi miên cứ nhìn các chiếc ghe Thái chân bủn rủn đi không nổi.

Bỗng bên trái tàu chúng tôi, lừng lững một chiếc tàu sắt, họ tiến về phía chúng tôi và bọn hải tặc bắt đầu giãn dần ra hướng khác. Thì ra từ giàn khoan dầu ngoài khơi, họ đặt ống dòm và đã nhìn thấy lá cờ kêu cứu. Tàu chúng tôi được kéo vào cặp sát giàn khoan, nằm đó chờ đợi quyết định của cấp trên. The American Big Tide Tanker này đã cứu thoát chúng tôi khỏi đám hải tặc Thái Lan, nếu không có họ chắc chắn chúng tôi đã chìm vào địa ngục trước khi chìm vào lòng biển cả.

Năm tiếng đồng hồ trôi qua, không động tịnh. Bên dưới tàu, anh giáo sư người Việt, sau này là trưởng và phó trại tỵ nạn của chúng tôi, tên Trương Minh Tiến và anh Ngô Trung Trọng ngồi góp ý viết một lá thư tường trình sự việc để kêu cứu và đưa lên ban chỉ huy giàn khoan. Chúng tôi vô cùng đội ơn giàn khoan dầu ngoài khơi Malaysia đã cho chiếc tàu chở xăng của Captain Eddie Hagensen và thủy thủ đoàn giúp 732 người tỵ nạn chúng tôi vượt tiếp đại dương trên chiếc tàu sắt này để đi vào phía Nam Malaysia, đến thành phố Mersing Johor.

Suốt một đêm ngồi chờ kết quả, nhờ lá thơ và nhờ lòng tốt của các vị có thẩm quyền trong giàn khoan, qua hôm sau chúng tôi được lên giàn khoan nhưng chúng tôi phải đục hư chiếc ghe này. Chiếc ghe mang biển số VNKG 009 từ từ chìm xuống đại dương. Hành lý mang theo chỉ là một xắc tay nhỏ, chúng tôi lần lượt leo thang bằng dây thừng lên tàu.

Từ trên nhìn xuống tôi thấy trên mặt biển, những thùng phi đựng dầu chạy máy, nghe nói là dưới đáy các thùng phi này có rất nhiều vàng của chủ ghe, cùng với các vật dụng hành trang nổi bập bềnh trên mặt nước trong xanh.

Bình minh lên và sự sống đã về…

Biển lúc nào cũng đẹp khi biển yên, chúng tôi dù trong tâm trạng lo âu vẫn thưởng thức được cảnh mặt trời lên xuống. Hai bên tàu, từng đàn cá heo giỡn sóng phóng lên cao rồi lặn xuống. Thật là những hình ảnh đặc biệt, độc nhất trong đời.

Phải mất mấy ngày chúng tôi mới đến Mersing Johor, một vùng du lịch xinh đẹp của Mã Lai. Đoàn dân tỵ nạn lếch thếch lôi thôi, bẩn thỉu và hôi hám, xếp hàng dưới cặp mắt quan sát của những du khách đang nghỉ mát tại đó. Năm 1979, thành phố này đã sang trọng, sạch sẽ và xinh đẹp với những đại lộ có hai bên hai hàng cây to bóng mát.

Sau gần mười ngày trên biển, chúng tôi đi đứng loạng choạng, được chia ra làm hai nhóm bên nam bên nữ bèn ngồi bệt trên mặt đất để cảnh sát Mã Lai đếm số. Trong hoàn cảnh còn sống, được lên đất liền ở quê người, tâm trạng mất quê hương hôm nay hiện rõ khiến lòng tôi chua chát và đau khổ cùng cực dầu rằng đây là điều mình quyết định và mong muốn.

Chúng tôi được các xe nhà binh đưa đến một sân đá banh được trưng dụng làm nơi tạm trú cho dân tỵ nạn đến từ VN. Tại đó đã có hơn ngàn người và chúng tôi tự động mạnh ai nấy lo tìm chỗ trống để cắm dùi. Đó là đêm màn trời chiếu đất đầu tiên trên đất Mã Lai.

Mỗi ngày quân đội chở cá rau và gạo đến phân phát. Họ cấm chúng tôi rời khuôn viên đá banh này nhưng vẫn có vài người Hoa bị đánh vì vi phạm nội quy, lẻn trốn ra phố.

Ai còn vàng, còn đô-la thì bán cho những người Mã Lai, sau đó đưa tiền nhờ lính Mã Lai mua những gì mình cần. Cách sân banh, phía nơi chúng tôi cắm dùi, là một con kinh nhỏ làm biên giới với các căn phố đối diện. Họ đều là người Hoa nói tiếng Quảng Đông, trong thời gian ở đây tôi thấy những người Hoa này rất tốt. Họ vứt qua cho chúng tôi những túi quần áo cũ hoăc khi chúng tôi muốn mua gì thì buộctiền vô cục gạch ném qua, họ ném đồ dùng trở lại, rất sòng phẳng.

Sau đợt chúng tôi nhập vào sân đá banh này, lại có thêm vài trăm người đến sau, khiến con số người Việt tỵ nạn tại đây lên đến hơn hai ngàn người. Trong thời gian ở đây, chúng tôi không hề biết tin tức bên ngoài, mãi cho đến gần một tháng sau, có hai người Mỹ đi lén vào và báo cho chúng tôi hay là Mã Lai đang làm áp lực với Liên Hiệp Quốc và có thể chúng tôi sẽ bị ép buộc quay về VN. Khi cảnh sát Mã Lai nhìn thấy hai người Mỹ thì họ bị đuổi ra và tôi chỉ có thể nhờ họ đánh điện về Pháp cho anh tôi hay là chúng tôi đang ở Mã Lai. Họ đã làm giùm.

Tôi gặp lại vài người bạn cũ, mừng hội ngộ nơi xứ người sau cuộc hải hành nguy hiểm chưa được bao lâu thì có tin di chuyển qua trại chánh thức là Poulo Bidong, nơi có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi chuẩn bị đồ đạc để đi ra bến tàu ngay sau đó. Lần này chúng tôi lội bộ. Trên đường đi chúng tôi thấy một số dân bản xứ gốc Hoa chạy xe đạp len sát vào và với gương mặt sầu bi, họ cho biết là chúng tôi sẽ bị đem bỏ ra biển. Tôi chợt nhớ đến hai người Mỹ đã lén vào sân banh báo tin. Chúng tôi không bao giờ ngờ là Mã Lai sẽ đem mình ra bỏ ngoài biển! Chúng tôi không còn đường thoát!

Đoàn tỵ nạn bắt phải leo xuống những chiếc ghe nhỏ chèo tay, mỗi ghe được chèo bởi hai thanh niên Việt, hình như họ ở trại tỵ nạn đã lâu vì tôi thấy tóc tai họ để dài xõa ngang vai và vẻ mặt lầm lỳ. Họ im lặng chèo chúng tôi ra tàu, từng tốp người được chuyển qua tàu. Tổng cộng có 5 chiếc tàu, hơn hai ngàn người chia cho 5 chiếc tàu. Những chiếc tàu mà người vượt biển tới trước, tới tận nơi này bỏ lại. Tôi bước qua một chiếc tàu, dòm nước sơn còn khá mới, có đề chữ VT-268. Như vậy từ khi rời Rạch Giá, đây là chiếc tàu thứ ba tôi bước xuống. Tàu hải quân Mã Lai xâu mũi năm chiếc tàu này vào một chùm và kéo chúng tôi đi, chúng tôi vẫn đinh ninh họ đưa mình qua đảo Poulo Bidong nên không ai chuẩn bị nước uống vì sang đó chỉ cần vài tiếng đồng hồ như họ nói. Dù được những người Hoa người Mỹ báo động, tôi vẫn không tin. Làm sao họ dám làm vậy trước Cao Ủy Liên Hiệp Quốc! Vậy mà họ bỏ chúng tôi ra biển thật!

Đến ranh giới mấp mé biển Nam Dương, chúng tôi nghe tiếng động cơ trực thăng bay trên đầu. Tàu hải quân Mã Lai, mang số P-3144, thấy trên không trung có một chiếc máy bay của nước Singapore đang quay phim cảnh tượng năm chiếc tàu đầy nhóc người tỵ nạn bị xâu thành một bó và bị tàu hải quân của Mã Lại kéo đi, họ bắn! Để che dấu hành vi man rợ này, họ đã bắn cảnh cáo và sau khi chiếc trực thăng bay xa, họ chặt đứt chùm 5 sợi dây. Tàu Mã Lai tách ra, quay ngược đầu trở lại, năm chiếc tàu tỵ nạn tròng trành trên biển. Chúng tôi lúc đó hiểu ra và ai cũng thất kinh, tiếng kêu khóc vang trời. Các anh mò mẫn xem trên tàu có những gì thì khám phá ra tàu không còn động cơ, máy móc đã bị gỡ ra, chỉ còn bánh lái.

Khi đó tôi chỉ sợ tàu này bị lủng lỗ, nước vô từ từ thì xem như chết. Mọi người đem khăn, chăn mỏng ra làm thành cột buồm, bọc gió thổi xuôi tàu xuống phương nam theo sự tính toán của lính Mã Lai về hướng gió. Khoảng ba mươi phút sau, chúng tôi đã vào lãnh hải Nam Dương. Tàu cứ trôi theo giòng nước… Qua hai ngày trên sóng nước thì bỗng tàu đứng hẳn không trôi nữa, cứ dùng dằng nhấp tới nhấp lui. May mắn cho chúng tôi là có một nhóm chuyên nghề đánh cá ở Phan Thiết trên tàu này, anh yêu cầu mọi người kiếm cho anh một con dao và anh phải uống một chén nước mắm giữ ấm thân nhiệt trước khi lặn xuống phía đáy tàu… Anh trồi lên cho biết chân vịt ghe vướng vào lưới giăng của ngư dân, chứng tỏ gần đâu đây có người ở, chứng tỏ chúng tôi không xa đất liền. Hy vọng vươn lên!

Thoát mớ lưới giăng, tàu lại tiếp tục trôi vô phương hướng!

Hai ngày một đêm đã trôi qua trên con tàu vô định, chúng tôi không đói chỉ thấy khát… Nắng chang chang trên khoang tàu nhưng làm sao yên tâm mà chui xuống hầm cho được. Lúc đó số người Việt ít ỏi trên tàu biến thành bộ chỉ huy, giống như lúc chiếc tàu thứ nhất gặp được giàn khoan. Bộ chỉ huy gồm tám người Việt biết sinh ngữ đã viết thư và sắp xếp chuyện đục tàu để mọi người được cho lên trên giàn khoan giữa biển. Các anh nhìn sao nhìn trăng cầu mong một trận mưa để có nước uống và chỉ biết phó thác con tàu cùng sinh mạng những tàu nhân cho Thượng Đế.

Sáng ngày kế tiếp, chúng tôi gặp tàu tuần dương hạm Nam Dương, lính Nam Dương bắc loa kêu chúng tôi là Cộng Sản và yêu cầu chúng tôi quay về với Cộng Sản. Thấy tàu chúng tôi vẫn nhích tới theo sóng nước, họ cho hai chiếc tàu nhỏ chạy đến, súng ống chỉa về phía chúng tôi. Sau đó sợi giây thừng được thảy qua tàu tỵ nạn, hai người lính Nam Dương buộc dây vào mũi tàu và kéo ngược tàu chúng tôi về hướng Bắc, hướng nước Mã Lai, nơi mới vừa tàn nhẫn xua đuổi chúng tôi ra biển!

Trên tàu lúc đó đã có một bé gái 10 tuổi, con của một người trong nhóm đi từ làng đánh cá tại Phan Thiết đã chết vì khát nước. Anh cho phép chúng tôi ẵm xác đứa bé đứng trước mũi tàu, giơ cao lên cho lính hải quân Nam Dương thấy sau đó thả xuống biển thủy táng. Với tình trạng có người đã chết trên tàu, chúng tôi hy vọng tàu hải quân Nam Dương sẽ cho chúng tôi tỵ nạn. Xác cháu bé cứ trôi dật dờ theo con tàu chúng tôi đến hơn 15 phút mới chìm trong lòng biển.

Tuy nhiên, lính Nam Dương không động lòng, tàu vẫn bị kéo, mỗi lúc một nhanh dù ngược gió. Sóng vỗ vào mạn tàu ầm ầm và lúc này mũi tàu kêu răng rắc như sắp gãy. Bộ chỉ huy trên tàu chúng tôi quyết định hoặc chặt dây hoặc chết.

Thanh Mai, cô gái đi một mình, năm đó 16 tuổi, xung phong lên mũi tàu chặt dây với lý luận của em là đàn ông lên nó bắn, đàn bà con gái lên nó nương tay. Em cầm búa lên chặt mạnh vào sợi dây thừng. Tàu Nam Dương nổ súng, đạn bay chéo chéo sát mạn tàu. Mặc họ bắn, Mai vẫn đều đặn nện búa xuống, không có gì ngăn cản được ý chí của em!

Sợi dây đứt và bên kia đạn cũng ngừng bay. Im lặng hoàn toàn… Cái loa inh ỏi đuổi về cũng im tiếng như sững sờ trước sự can đãm liều mình không sợ chết của cô gái trẻ. Cô là đại diện cho đám tàu nhân đòi quyền được sống trong tự do trong nhân ái. Cô đã cứu mấy trăm mạng trên chiếc tàu tàn phế đó.

Vị tàu trưởng nhìn qua ống dòm và ông đã động lòng không xua đuổi nữa. Sau này khi lên đất liền, quân đội đến lập khu trại cho chúng tôi xong, tàu trưởng và các sĩ quan đã đến thăm Mai, tỏ lòng kính phục.

Sau 3, 4 tiếng chờ đợi lịnh, vị tàu trưởng cho ca nô chạy đến báo tin vui là các vị có thẩm quyền trong đất liền, cho phép chúng tôi lên bờ. Mọi người chấp hai tay lạy cám ơn chiếc tàu nhân ái đó.

Khi lên đất liền chúng tôi chôn thêm hai bác lớn tuổi người Hoa, chết trên tàu nhưng các người con cố dấu không muốn làm thủy táng như cháu bé lên mười. Cái chết thủy táng của cháu bé đã giúp cho hơn bốn trăm người trên chiếc tàu không máy móc, không xăng dầu đến được bờ. Chuyến đi của chúng tôi đã có nhiều sự hy sinh và sự cưu mang nhân ái.

Tôi bước đi không vững sau những ngày ngồi trên tàu, lên tới đất tôi nằm xấp xuống hôn mặt đất tạ ơn Thượng Đế đã cho chúng tôi sống sót. Trong đầu thoáng hiện lên câu hỏi bốn chiếc ghe từng cột chùm với ghe chúng tôi nay trôi dạt về đâu. Có đến được bến bờ? Đến nay những người bạn cũ từng gặp lại trên sân banh Mã Lai ngày đó tôi vẫn chưa liên lạc được.

Chuyến đi tìm tự do của tôi tổng cộng đi trên ba chiếc tàu, qua hai đất nước và di chuyển nhiều trại tỵ nạn. Tôi sống sót đến ngày nay là tôi đã thọ ơn biết bao nhiêu người, bao nhiêu sắc dân xa lạ.

Vùng đất chúng tôi được hải quân Nam Dương cho lên là một làng đánh cá tên Teluk Dalam. Bãi cát mịn và trắng phau, nổi bật những cây dừa cong xanh biếc, trên đảo có một giòng suối đẹp. Sau này tôi mới biết Teluk Dalam là địa điểm du lịch thần tiên. Tôi đã sống những ngày tại đó mà không biết thưởng thức vì lòng ngổn ngang những lo lắng tương lai, những lo buồn cho người còn ở lại.

Mấy ngày sau đó, một vị linh mục người Pháp lặn lội đến thăm chúng tôi. Cha nói tiếng Việt rất lưu loát và qua cha, các phái đoàn cứu trợ đã nhanh chóng đến giúp đỡ chúng tôi, trong số đó có Hội Hồng Thập Tự và Hội Tere des Homes.

Phái đoàn Canada, Úc đến phỏng vấn trước. Một số được nhận vui mừng, một số bị từ chối buồn ủ rũ. Tôi muốn đi Mỹ nhưng chờ hoài không thấy. Đến khi trên đảo xảy ra bịnh dịch tả, tôi hoảng sợ muốn rời nơi này càng nhanh càng tốt thì đúng lúc phái đoàn Đức đến. Họ cho biết họ không cần phỏng vấn, ai muốn đi thì ghi tên ngay và hai tuần sau sẽ có chuyến bay qua Đức. Yếu tố nhận người dễ dãi không qua thanh lọc một cách nhân đạo và nhanh chóng của Đức đã khiến tôi quyết định đi Đức và đúng như lời nói của đại diện lãnh sự quán Đức, chỉ hai tuần sau khi ghi tên, đầu tháng 10 năm 1979 tôi có mặt trên nước Đức.

Cô bé chặt dây thừng đi Canada. Nhóm các anh chị em làng đánh cá Phan Thiết trong đó có cha cháu bé bị thủy táng trong lòng biển Nam Dương cũng cùng chúng tôi sang Đức. Hai giáo sư ,viết lá thư tiếng Anh gửi lên các ông Mỹ trên giàn khoan, định cư tại Mỹ. Chúng tôi vẫn liên lạc và có dịp gặp lại. Gần đây nhiều anh chị đã ra đi. Những anh chị đó có người chưa hề một lần trở lại Việt Nam.

Biết bao người bỏ xác trên đường vượt biển. Chúng tôi may mắn sống sót. Tôi tâm nguyện sống sao cho xứng đáng với công ơn những người đã cưu mang giúp đỡ, sống sao cho đúng tư cách một người tỵ nạn Cộng Sản. Các cháu bé ngày xưa và cháu bé đã cắn tay tôi đau điếng nay cũng đã thành gia thất. Những người con gái bị hãm hiếp trên tàu ngày ấy đều định cư bên Mỹ, hy vọng thời gian và cuộc sống mới đã nguôi ngoai vết thương đau đớn đó.

Chúng tôi không liên lạc được hết nhưng hy vọng mọi người đều có cuộc sống an bình, thịnh vượng sau chuyến hải hành gian truân và đầy sóng gió.

Đến nay, bốn mươi lăm năm rồi người Việt tại quê hương vẫn tìm mọi cách để ra đi. Vì sao? Bởi lẽ gì?

Đất nước VN giờ đối với tôi chỉ là mảnh đất của những ngày thơ ấu. Quê hương tôi bây giờ là nơi đây, đất nước bao dung Đức Quốc. Nơi tôi đã sống gần gấp đôi số năm tôi sống nơi đất Việt.

Phi Nga (tháng 3.2021)