Showing posts with label trần thiện khiêm. Show all posts
Showing posts with label trần thiện khiêm. Show all posts

Monday, December 8, 2025

 

đinh thùy yến, sanh năm 1934.

ĐINH = 4155 = 15 = 6

THÙY = 4561 = 16 = 7

YẾN = 155 = 11 = giữ nguyên

cộng lại: 6 7 11 = 24 = rất may mắn.

SANH NĂM 1934

 Blc. Đinh Thúy Yến Từ cổ chí kim, giai nhân cũng như những bông hoa tươi đẹp luôn luôn là một bảo vật thượng đế đã ban cho loài người. Người ta đã dùng tên hoa đẹp mà đặt cho người và những trường hợp lấy tên người đặt cho hoa cũng không phải là hiếm. Tên các giống hoa lan thường được đặt tên theo mầu sắc, hình dáng, địa danh còn có tên các nhà khoa học gia, tên những người có công trong việc tìm kiếm, nuôi trồng để vinh danh những vị này. Như vậy cũng chưa đủ, ngưới ta lại còn lấy tên của các mệnh phụ phu nhân mà đặt tên cho hoa nữa. Nếu bạn là người yêu thích hoa lan, khi vào mấy trang Web để tìm những bông hoa khác lạ, bạn sẽ thấy Blc. Đinh Thúy Yến. Bạn không khỏi ngạc nhiên khi thấy hàng loạt vườn lan nổi tiếng ở Hoa Kỳ, Pháp, Brazil quảng cáo cho cây lan này. Bạn lạ lùng tự hỏi người phụ nữ Việt Nam này là ai mà lại có tên xuất hiện trong danh mục hoa lan quốc tế? Truy cập theo tài liệu ghi chép trong danh bạ các hoa lan của hội Royal Horticulture Society (RHS) Anh Quốc, nơi công nhận chủ quyền thương mại của các giống hoa lan. Năm 1974, nhà nuôi lan danh tiếng tại Florida, Hoa Kỳ JONES & SCULLY đã đăng ký bản quyền thương mại của cây lan Brassiolaelio cattleya viết tắt là Blc. Đinh Thúy Yến. Cây lan này được ghép giống bởi 2 cây Bl. Lorraine Shirai và cây Blc. Jewel Glo. Cũng xin được nói cho rõ là lấy nhị đực của cây Blc. Jewel Glo ghép vào với hoa cuả cây Bl. Lorraine Shirai. Cây lan lai giống này mang tên Blc. Đinh Thúy Yến ʻOrchiglade IIʼ ra hoa đỏ vàng cam rực rỡ. Chúng ta cũng nên biết rằng bản quyền thương mại đã là nguyên nhân những vụ thưa kiện rắc rối và số tiền phạt vạ lên rất cao cho những kẻ manh tâm ăn cắp tác quyền. Theo luật về tác quyền, kể từ đó trở về sau, bất cứ ai ai khi cấy 2 cây Bl. Lorraine Shirai và Blc. Jewel Glo đều phải đặt tên là Blc. Đinh Thúy Yến dù rằng ghép ngược hay xuôi. Tên cây thụ phấn và ra kết trái tức là cây mẹ được viết trước, ghép ngược tức là lấy nhị của cây Bl. Lorraine Shirai bỏ vào hoa của cây Blc. Jewel Glo. Mấy năm sau một nhà trồng lan ở Hawaii , Carmela Orchids, lại ghép giống 2 cây này. Khi cây lan mới nở hoa, Carmela Orchids mang đi triển lãm và đoạt giải nhì của Hội hoa lan Hoa Kỳ: Award Merit, American Orchid Society (AM/AOS) và cầu chứng bản quyền thương mại với tên Blc. Đinh Thúy Yến ʻCarmela Orchidʼ AM/AOS. Tuy nhiên hoa của Carmela Orchids mầu khác hẳn với mầu của cây do Jones & Scully, bởi vì khi ghép giống bằng hạt tuy cùng do một quả lan có một số sẽ giống cây cha và một số giống sẽ giống cây mẹ và chúng hoàn toàn khác nhau. Vì vậy hoa cây Blc. Đinh Thúy Yến ʻOrchiglade Iʼ không đẹp bằng cây số II. Chỉ có phương pháp cấy mô (Mericlone) tức là cấy bằng tế bào của rễ hay mầm cây mới hoàn toàn giống nhau 100%. Hội Hoa Lan Việt Nam www.hoalanvietnam.org Rồi những năm sau đó các cây lan ghép giống từ cây Blc. Đinh Thúy Yến với các cây lan khác lần lượt ra đời. Nhà trồng lan Fordyce Ochids do cặp vợ chồng Sue & Frank Fordice làm chủ tại Livermore, California, nổi tiếng vì đã cấy giống nhiều cây Cattleya đẹp đẽ cũng ghép cây Blc. Đinh Thúy Yến với cây Slc. Madde Fordyce ra một giống lan mới hoa mầu đỏ rất đẹp. Ngày nay trên thị trường thương mại cũng như người yêu chuộng loài lan Cattleya đều thích dùng cây Blc. Đinh Thúy Yến như một cây chính yếu để ghép giống cho nhiều cây lan khác. Xin kể một vài cây đã được ghép giồng với cây lan Blc. Binh Thúy Yến:  Blc. Đinh Thúy Yến x C. Choolate Drop  Blc. Đinh Thúy Yến Carmela AM/AOS x Lc. Dorothy Warne Favor  Blc. Đinh Thúy Yến x Lc. Owen Homes Betty  Blc. Đinh Thúy Yến x Blc. Waikiki Sunset  Blc. Honolulu Sunset x Blc. Đinh Thúy Yến  Blc. Sunset Bay x Blc. Đinh Thúy Yến  Blc. Déesse  Blc. Gold Digger x Blc. Đinh Thúy Yến x Blc. Đinh Thúy Yến 


 Đến đây chúng ta muốn biết Đinh Thúy Yến là ai? Xin thưa đó là phu nhân của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Người viết có hân hạnh gần gũi với ông bà Khiêm khi ông giữ chức Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ binh tại Biên Hòa vào năm 1958. Ngày ấy mỗi khi rảnh rỗi, ông và tôi đi thường săn khi tại Long Thành, Bà Ria, khi tại Phước Tuy, Định Quán hay Blao v.v... Chúng tôi say mê săn bắn đến nỗi có kẻ ganh ghét nói với bà Khiêm và vợ tôi rằng chúng tôi đi săn “Nai móng đỏˮ. Sau này, ông tâm sự rằng đó là thời kỳ đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Vì không phải là Cần Lao, Công giáo cho nên ông đang giữ chức Tham Mưu Trưởng, Bộ Tổng Tham Mưu bỗng dưng vô cớ lại xuống Tư lệnh Sư đoàn. Nhưng thôi ta hãy bỏ qua những việc bất công vô lý này và chính trị rắc rối, phức tạp về sau và mà hãy trở về câu chuyện hoa lan. Vào khoảng năm 1972, một người Hoa Kỳ rất yêu thích hoa lan làm việc tại Việt Nam đã đến xin phép lấy tên bà Khiêm, khuê danh Đinh Thúy Yến để đặt tên cho cây lan ông ta đã ghép giống. Cũng vào dịp này, người Hoa Kỳ đó có xin phép bà Nguyễn văn Thiệu đặt tên cho cây lan mang tên Blc. Mai Anh. Ngay cả những vị phu nhân của Tổng thống Hoa Kỳ như Bush, Carter, Ford v.v... đều được dùng để đặt cho hoa lan, nhưng có lẽ những hoa này không được đẹp cho nên không thấy mặt thấy tên trên thị trường hoa lan quốc tế. Âu cũng là một vinh dự cho người phụ nữ Việt Nam mang tên Đinh Thúy Yến. Bà Trần Thiện Khiêm tuy không phải là một tuyệt thế giai nhân, nhưng là một người đẹp nhất trong số các mệnh phụ phu nhân. Bà là một người lịch sự, khéo leó ăn nói, rất nhã nhặn và mềm mỏng đối với mọi nguời. Ngày 17 tháng 11, năm 2004 tại Virginia, bà đã từ giã cuộc đời tục lụy, đầy những đua chen, tranh chấp thấp hèn, đi vào bên kia thế giới. Bà mất đi, nhưng những bông hoa tươi đẹp mang tên bà, cũng như con cháu của các cây lan này đã và sẽ tiếp tục tăng thêm làn hương quý phái, mầu sắc lộng lẫy, huy hoàng cho loài lan kỳ dịệu vốn đã được mệnh danh là bà chúa của muôn hoa (Cattleya, The Queen of flowers). Placentia 6/05

 

Đại tướng Trần Thiện Khiêm vĩnh biệt

Tran Thien Khiem

Cựu tướng Trần Thiện Khiêm.

Nhiều người nghe tin Đại tướng Trần Thiện Khiêm qua đời mới nhớ đến ông, biết ông đã sống thọ gần 100 tuổi.

Cả đời ông sống đã kín đáo như vậy, mặc dù đã giữ nhiều chức vụ lãnh đạo ở miền Nam Việt Nam, từ 1963 đến 1975.
Có lúc ông ngồi trong “Tam Đầu Chế” (troika) nắm quyền cao nhất nước, gồm Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm.

Sau lại làm thủ tướng với ông Nguyễn Văn Thiệu một thời gian rất dài.
Sau 1975 ông Trần Thiện Khiêm cũng sống bình lặng, chỉ thấy ông xuất hiện một lần năm 2013, đi với Đề đốc Trần Văn Chơn và Tướng Nguyễn Khắc Bình thăm Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa ở San Jose.

Tình cờ tôi mới đọc mấy câu chuyện về Đại tướng Trần Thiện Khiêm trong một cuốn sách mới xuất bản viết về Việt Nam Cộng Hòa của George J. Veith, do bạn Trịnh Bình An gửi tặng.
Đây là một cuốn sách ra rất trễ, nhưng có nhiều chuyện chưa ai kể về thời Đệ Nhị Cộng Hòa .

Chẳng hạn, về Đại tướng Trần Thiện Khiêm, George Veith cho biết ông Khiêm đã từng vào bưng theo “kháng chiến” năm 1947, với ba người bạn cùng tốt nghiệp trường huấn luyện quân sự của Pháp ở Đà Lạt.

Chỉ bốn tháng sau, biết rõ Việt Minh là cộng sản, ông đã bỏ về. Ông Nguyễn Khánh đi kháng chiến lâu hơn, một năm mới từ giã cộng sản.
Ông Nguyễn Văn Thiệu trải qua kinh nghiệm như ông Khiêm. George Veith kể rằng tay cán bộ cộng sản tiếp đón những nhóm Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm khi họ vào bưng, là Phạm Ngọc Thảo, một trùm gián điệp cộng sản.

Theo lời Võ Văn Kiệt, năm 1954 chính Lê Duẩn ra lệnh Phạm Ngọc Thảo ở lại nằm vùng. Thảo về thành, bám áo Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục để tìm đường leo lên; từ năm 1963 đã xúi dục mấy vụ đảo chính để gây rối loạn.

George Veith mới xuất bản cuốn “Drawn Swords in a Distant Land” cung cấp nhiều chuyện hậu trường thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
Ông đã in cuốn “Tháng Tư Đen” về những ngày cuối cùng cùa chiến tranh Việt Nam, sau hai cuốn viết về việc tìm kiếm binh sĩ Mỹ mất tích.
Phải là một người “không sợ súng,” mới viết thêm một cuốn sách về đề tài “quá cũ” đó.

George Veith không có “nợ nần” gì với Việt Nam; khi đến tuổi “quân dịch” thì cuộc chiến đã chấm dứt.

 Có máu một nhà báo hơn là một sử gia, Veith đã phỏng vấn rất nhiều “người trong cuộc” ngoài những tài liệu trong sách vở. Và anh thận trọng như một nhà báo; mỗi khi nói điều gì do một người tiết lộ thì anh đi hỏi người khác về cùng câu chuyện đó.

Cũng nhờ dựa vào các cuộc phỏng vấn cá nhân, Veith cho người đọc nhìn lại thời Việt Nam Cộng Hòa với các chi tiết từ đó các nhân vật nổi tiếng hiện ra như những “con người thật,” không phải chỉ là các “ông tướng” hay “nhà chính trị.”
Các biến cố được kể lại cũng phức tạp hơn, nhiều mâu thuẫn tế nhị hơn, không phải chỉ có bên trắng bên đen như các người trong cuộc viết hồi ký thuật chuyện về mình.

Trong phần Danh Mục (Index) ở cuối sách, sau hai tên Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, tên Đại tướng Trần Thiện Khiêm được nhắc tới nhiều nhất.
Mặc dù Trần Thiện Khiêm không ủng hộ ông Ngô Đình Diệm trong cuộc tranh chấp với Nguyễn Văn Hinh, ông được thăng cấp rất nhanh từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

 Sau cuộc đảo chính hụt 1960 ông Khiêm cũng như ông Thiệu đều bị điều tra. Ông Khiêm được ông Huỳnh Văn Lang, một người góp phần sáng lập đảng Cần Lao, bảo đảm, để đưa ông vào đảng.
Nhưng ông không cải đạo theo Thiên Chúa Giáo, mãi đến năm 2018 ông mới rửa tội, lấy tên thánh Phao Lô.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì khác, năm 1951 ông đã cưới một cô theo Công Giáo, sau một năm “tranh đấu” để được thân sinh cho phép cải đạo. Nhưng ông không rửa tội; cũng không gia nhập đảng Cần Lao.

Năm 1955 ông Thiệu mất các chức vụ chỉ huy, đưa lên “ngồi chơi xơi nước” coi trường Võ Bị Đà Lạt.
Ba năm sau ông mới chịu rửa tội, do Linh mục Bửu Dưỡng, một lý thuyết gia của chủ nghĩa Nhân Vị Thiên Chúa Giáo. Có lẽ nhờ thế nên ông Thiệu được trở lại chỉ huy các đơn vị có quân sĩ, chuyển ngôi trường Võ Bị cho Lê Văn Kim, một ông tướng “gốc Tây” bị ông Diệm nghi ngờ.

George Veith kể một chuyện “hậu trường” về quan hệ giữa hai ông Lê Văn Kim và Ngô Đình Nhu, liên can đến nhiều gia đình nổi tiếng.
Ông Kim lấy em gái Tướng Trần Văn Đôn, có lúc ở Đà Lạt trong ngôi biệt thự của song thân Tướng Đôn. Hai cụ lại quen thân với Luật sư Trần Văn Chương, mà cô con gái Trần Lệ Xuân lấy ông Ngô Đình Nhu năm 1943.

Vì chỗ quen biết đó, vợ chồng ông Nhu đã có lần tạm trú ở nhà ông Lê Văn Kim trên Đà Lạt, trong cuốn sách có hình chụp cả hai gia đình năm 1947.
Năm 1960, nhóm đảo chính hụt công bố danh sách một chính quyền lâm thời, để tên ông Lê Văn Kim làm chức thủ tướng.
Chắc vì ông Vương Văn Đông, người chủ mưu, quen ông Kim khi cùng đi Mỹ dự một khóa học tham mưu năm 1958.

Sau cuộc đảo chính bất thành, ông Diệm sai Tướng Tôn Thất Đính lên Đà Lạt bắt Lê Văn Kim. Ông Kim lo sẽ bị giết, xin về nhà lấy quần áo, nhân đó gọi điện thoại cho ông Ngô Đình Nhu; phân trần mình không biết gì đến âm mưu phản loạn!
Ông Nhu siêu lòng, cho một chiếc máy bay lên đón ông Kim về Sài Gòn.

Ông Nhu cho ông Kim làm phụ tá cho Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang giữ một chức vụ “ngồi chơi xơi nước” ở Bộ Tổng Tham Mưu.
Ông Kim không có việc gì làm, hay đi thăm người anh vợ là Tướng Trần Văn Đôn, chỉ huy vùng I Chiến thuật.
Kim thường rủ Dương Văn Minh cùng đi Huế. Ba người này, sau là nhóm tổ chức cuộc đảo chính năm 1963, hai ông Diệm, Nhu bị giết.

Nhưng vào tháng Mười năm 1963, ba ông tướng này không thể điều động các đơn vị quân đội mà qua mặt Chánh văn phòng Bộ Tổng Tham Mưu, lúc đó là Tướng Trần Thiện Khiêm.

Dương Văn Minh đi thăm dò ông Khiêm; lúc đó mới biết Khiêm cũng đang bàn chuyện đảo chánh với Nguyễn Khánh!
Năm 1960, Tướng Khánh là người đã “leo hàng rào” vào Dinh Độc Lập, rồi từ trong đó điện thoại cho các đơn vị vùng IV kêu họ về giải vây cho ông Diệm.

Những câu chuyện nho nhỏ trên cũng đáng đem ra kể cho mọi người biết thêm về hậu trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa.
George Veith đã phỏng vấn bao nhiêu người để cung cấp các chi tiết tỉ mẩn đó. Có lẽ nhiều năm sau khi tấn kịch đã hạ màn, các tình tự yêu ghét đã nguội bớt, những người được phỏng vấn cũng khách quan hơn.

George Veith xin phỏng vấn bà Nguyễn Văn Thiệu không được, nhờ cựu bộ trưởng Cao Văn Thân năn nỉ giúp và đứng ra làm thông dịch.
Ông Trần Thiện Khiêm cũng từ chối không cho George Veith phỏng vấn. Tác giả phải nhờ Luật sư Cao Lan, con Đại tướng Cao Văn Viên, đóng vai “con cháu trong nhà” đến hỏi chuyện bác Khiêm.

Ông Khiêm không thích chơi với các nhà báo! Trước sau năm 1975 ông luôn “thủ khẩu như bình.”
Bây giờ chúng ta còn nhớ trước năm 1975 dân chúng miền Nam đã xuống đường nhiều lần, phản đối từ ông Diệm, ông Nhu, cho tới ông Minh, ông Khánh, ông Thiệu, ông Kỳ; nhưng hầu như chưa ai tổ chức biểu tình chống Trần Thiện Khiêm cả!

Có lẽ vì ông Khiêm bao giờ cũng chấp nhận đứng hàng thứ hai, thứ ba, không đứng đầu.
Ông Nguyễn Cao Kỳ, khi đóng vai một thủ tướng, vẫn muốn mình nổi nhất trong nhóm tướng lãnh, phải chứng tỏ mình là người đóng vai quyết định, phải được báo chí nhắc tên luôn luôn.

Ông Trần Thiện Khiêm thì ngược lại. Làm thủ tướng nhưng luôn luôn lánh mặt, nhường ông Thiệu đóng vai chính.
Ông để các vị bộ trưởng họp báo, ra trước quốc hội và công chúng để “lãnh đạn.”
Ông Hoàng Đức Nhã, người mà George Veith mô tả là đối nghịch nặng nề với ông Trần Thiện Khiêm, cho biết ông Khiêm công nhận rằng mình chỉ là “kẻ thừa hành.”
Nhưng ông Nhã, phụ tá thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cũng nhận xét rằng chưa thấy ai “lẩn” giỏi như ông Khiêm.

Đáng lẽ không nên viết nhiều về Đại tướng Trần Thiện Khiêm như vầy, biết ông không thích người khác nói đến mình.
Xin ông tha lỗi, và cầu nguyện ông về nơi an lành vĩnh cửu.

Saturday, July 20, 2024

 CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN THIỆU, TRẦN THIỆN KHIÊM, CÁC TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ, VÀ NGÔ QUANG TRƯỞNG QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ. 

Các ông Thiệu, Khiêm, và tướng Phú (tư lịnh của quân đoàn 2) là ba trong năm người dự cuộc họp lịch sử ngày 14.3.75 tại Cam Ranh, đã có những quyết định dẫn đến sự sụp đổ của VNCH vào ngày 30.4.75. Riêng tướng Trưởng, TL của quân khu 1, ngày 13.3.1975, đã bay vào Sài Gòn để nhận những lịnh ảnh hưởng đến sự sụp đổ của quân đoàn 1.

Thay thế các chữ của tên họ của 4 vị này bằng trị số tương ứng, dựa theo bảng đính kèm, ta có:

1/ NGUYỄN   VĂN   THIỆU 

    5 3 6 15 5    6 1 5   4 515 6

           25           12         21

            7     +      3    +    3  =  13

2/ TRẦN   THIỆN    KHIÊM

    42 1 5    45 155     25 15 4

        12          20            17

         3    +     2      +      8  =  13

3/ PHẠM   VĂN    PHÚ 

    8 5 1 4    6 1 5    8 5 6

       18          12       19   

        9            3        10

          9   +    3    +    1   = 13

4/ Tướng Trưởng, sinh ngày 13.12.29, tại Thạnh Phú Bến Tre.

         

                      BẢN TRỊ SỐ TƯƠNG ỨNG CỦA CÁC CHỮ 

Monday, October 28, 2013

NHÌN LẠI CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN NĂM 1975 QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ

Trong cái họa có che dấu cái phúc (lời cổ nhân) .

       A / Theo khoa Lý Thuyết Số (Numerology) , một nhánh của tử vi Tây phương – chuyên nghiên cứu về các số và ảnh hưởng của chúng đối với con người và sự kiện – thì mỗi chữ (letter) trong alphabet đều có một trị số tương ứng , ví dụ như a = 1 , b = 2 , c = 3 , v.v... ( xin xem bản trị số ở phần G của bài viết này ) . Từ yếu tố này , qua một vài phép tính cộng , ta có thể tính được tên họ của chúng ta bằng bao nhiêu . Con số cuối cùng này sẽ tác động lên số mạng của chúng ta .

       B / Chúng ta đều biết tên của nhửng nhân vật đã dự cuộc họp tối mật ngày 14 tháng 3 năm 1975 tại Cam Ranh – đã đưa đến một quyết định gây choáng váng cho toàn dân toàn quân VNCH , là bỏ cả vùng cao nguyên Trung phần rộng lớn , đưa các đơn vị chủ lực quân còn lại của quân đoàn 2 rút lui về vùng duyên hải (tỉnh Phú Yên) theo liên tỉnh lộ (LTL) 7 , một con đường hư hỏng nặng và đã lâu không xử dụng ; để sau đó tái trang bị , bổ sung quân số, và tái chiếm Ban Mê Thuột ! Các vị này cho rằng việc triệt thoái sẽ thành công nhờ yếu tố bất ngờ vì nghĩ rằng quân Cộng sản Bắc Việt chỉ tập trung quân để ngăn cản mọi di chuyển trên quốc lộ 21 (Nha Trang đi Ban Mê Thuột) và quốc lộ 19 (Qui Nhơn đi Pleiku) .  
     Nhưng làm sao giử được yếu tố bất ngờ khi một cuộc lui binh mà lại có sự tham dự của khoảng 180 ngàn dân thường . Chỉ vài ba ngày sau cuộc triệt thoái bắt đầu thì quân CSBV đã kéo đại pháo 130 ly tới quận lỵ Thuần Mẩn (ở phía đông bắc của Ban Mê Thuột) và từ đây pháo xối xả và chính xác vào đoàn quân xa và dân xa đang triệt thoái trên LTL 7 nhất là vào thị trấn Cheo Reo (tỉnh lỵ của tỉnh Phú Bổn ) .( Quyển Where The Domino Fell thì cho biết “đại pháo của quân CS đã cắt đoàn người và xe di tản thành nhiều khúc . . .và hơn 100 ngàn dân và 15 ngàn quân đã chết trong cuộc rút lui này “ . Các nhà báo đã gọi liên tỉnh lộ 7 là con đường của máu và nước mắt vì trong suốt cuộc chiến VN chưa bao giờ có một cuộc lui binh mà tổn thất về quân và dân lại khủng khiếp như vậy . )
     Như ta đã biết , cuộc triệt thoái này đã mở đầu cho sự sụp đổ dây chuyền – giống như các con cờ domino – của các tỉnh và thành phố còn lại của miền Nam Việt nam . Nay dựa vào cách tính toán của Lý Thuyết Số, tôi xin phân tích tên họ của những nhân vật đã quyết định cuộc lui binh đầy bi thảm này .
    
    B1/ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu :
                                             N G U Y E  N     V A N       T  H  I E U
Thay các chữ bằng số :        5  3  6  1  5  5      6  1  5        4  5  1 5  6
Cộng các số này lại :                     25                 12                   21
Biến các số này (25 , 12 và 21)
thành hàng đơn vị bằng cách
rút gọn :                                       2 + 5             1 + 2               2 + 1
                                                        7                   3                     3
Nên nhớ : ko thể rút gọn 11 và 22 . 
Cộng lần chót :                   7 + 3 + 3 = 13 = 1+3 = 4 .

    B2 / Thủ tướng Trần Thiện Khiêm :
                                                T R A N     T H I E N      K H I E M
Thay các chữ bằng số :           4  2  1  5     4  5 1 5  5      2  5  1 5  4
Cộng các số này lại :                    12               20                   17
Biến chúng thành hàng đơn vị :    3                 2                      8
Cộng lần chót : 3 + 2 + 8 = 13 = 1+3 = 4 .
B3 / Đại tướng Cao văn Viên : (xin lược bỏ vì ko quan trọng) .
B4 / Trung tướng Đặng văn Quang : (xin lược bỏ vì ko quan trọng) :
B5 / Thiếu tướng Phạm văn Phú :
                                                      P H A M      V A N      P H U
Thay các chữ bằng số :                 8  5  1  4       6  1  5      8  5  6
Cộng các số :                                      18              12            19
Biến các số thành hàng đơn vị :           9                3              1
Cộng lần chót : 9 + 3 + 1 = 13 = 1 + 3 = 4 .

     C1 / Ta thấy các tướng Thiệu , Khiêm và Phú đều có tên họ cộng lại bằng 13 . Bà Linda Goodman , chiêm tinh gia nỗi tiếng người Mỹ trong quyển Linda Goodman's Sun Signs đã giải thích : “ Số 13 không xấu như nhiều người nghĩ . Người xưa nói ai biết xử dụng số này sẽ có được quyền lực và sự phục tùng từ kẻ khác . Số 13 liên quan đến quyền lực và nếu điều này được dùng vào mục đích vị kỷ thì sẽ mang sự hủy diệt cho chính nó “ . (Trang 251-252 của sách đã dẫn) . Các nhân vật mang số 13 trên đây đều có nhiều quyền lực nhưng vì chỉ biết lo cho mình nên cuối cùng họ đã hủy diệt cả sự nghiệp và cả đất nước mà họ đã từng sống chết bảo vệ . Trừ tướng Phú đã tự sát , hai vị còn lại đã phải sống lưu vong ở nước ngoài – với thân bại , danh liệt , cô đơn , tủi nhục – trong những năm tháng cuối đời .

     C2 / Cũng theo bà Goodman , thì “ hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương , là thần chết , tay cầm lưởi hái , đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ , đang chen lấn dẩm đạp lên nhau , tìm cách thoát thân trên một cánh đồng cỏ mới mọc . “ Một cảnh tượng gần như tương tự một cách kỳ lạ đã xảy ra tại tỉnh lỵ Cheo Reo , nơi mà dân thường và các đơn vị Thiết giáp , Pháo Binh , v.v... của VNCH đã dồn cụt trên một diện tích nhỏ hẹp và đã bị tàn sát trong tức tưởi bởi nhửng trận mưa pháo chính xác và kinh hồn của bộ đội CSBV . Một bà vợ lính Biệt động quân sau khi tới Tuy hòa nghỉ dưỡng một tuần đã đi ngược đường lên tỉnh lộ 7 để tìm chồng con bị thất lạc . Chị cho biết “. . . ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy , những bộ xương người còn vương vải đó đây , bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường . Cả một vùng xông mùi tử khí . Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số . . . “ . (Xin đọc Rừng Khóc Giửa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh) .

     C3 / Bà Goodman lại nói  “ số này cũng cảnh báo về chuyện không ai ngờ được lại sẽ xảy ra “ .
Nào ai học được chữ ngờ vì miền Nam Việt Nam đã sụp đổ quá nhanh , với hàng trăm ngàn người vào tù , các đợt cải tạo tư sản , đổi tiền , v.v... ; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà gần nửa triệu đã chết , mất tích vì hải tặc , vì bộ đội biên phòng , hoặc vùi xác trong biển sâu v.v... Một số lớn phụ nữ còn bị hảm hiếp , làm nô lệ tình dục , v.v...

     C4 /  Bà còn nói thêm “ Số 13 củng là số của đổi đời (upheaval) , để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn mới – mà trước đó không ai làm được . Số này dính liền với thiên tài – củng như với các nhà thám hiểm – là số phá vỡ những gì có tính chính thống và là những khám phá trên mọi lãnh vực “ .
     Sau biến cố bi thảm 30 tháng 4 , người Việt đã có mặt hầu như khắp thế giới mà phần lớn là các nước phương Tây , giàu có . Đa số đã có cuộc sống ổn định , sung túc thậm chí có người thành triệu triệu phú . Những người đến Mỷ , nếu trên 20 tuổi thì thi vào đại học cộng đồng , hoặc vừa đi làm vừa đi học nghành nghề thích hợp , để mong tiến xa hơn nửa vì nhà nước sẵn sàng giúp đở tài chánh người muốn đi học dù cho họ ở tuổi 70 hay cao hơn . Còn trẻ em thì được chăm sóc y tế toàn diện đến ít nhứt là 18 tuổi và được hấp thụ một nền giáo dục – tiên tiến , phóng khoáng , kích thích tính sáng tạo và tự lập nơi các em mà lại hoàn toàn miễn phí . Đây là những điều mà ở VN ngày nay , đất nước của câu nói “vì lợi ích trăm năm ta trồng người “ có nằm mơ củng không thấy . Thật tội nghiệp cho đa số trẻ em VN .
     Tỉ lệ người VN có trình độ đại học cũng tương đối khá cao nếu so với một số cộng đồng đã có mặt ở Mỷ trước chúng ta . Có lẽ một phần do truyền thống hiếu học . Một số đã giủ chức vụ chóp bu trong các nghành nghề kỹ thuật cao hay chỉ dành cho phái nam như nữ kỹ sư Dương Nguyệt Ánh , người phụ trách việc chế bom áp nhiệt dùng phá hang động ở A Phú Hãn . Hay một phụ nữ Việt là phi công chiến đấu trong Thủy quân Lục chiến Mỹ , v.v... (Trong cuộc chiến VN , tuy là rất khốc liệt nhưng phụ nữ dù có vào quân đội , cũng chỉ phục vụ ở hậu cứ  hay các thành phố để làm công tác không chiến đấu như y tá , cán sự xã hội , v.v..  Tôi chưa thấy ai làm tài xế  lái quân xa , huống hồ lái máy bay chiến đấu  . . . ) .Tóm lại nhân tài VN ở hải ngoại đã nở rộ như hoa mai mùa xuân , đây là niềm an ủi cho người đã phải đau khổ rời bỏ quê hương , và cũng là niềm hảnh diện cho họ ; đúng như lời người xưa “ trong cái họa có che dấu cái phúc “ .
      Trước 1975 ở miền Nam Việt Nam , ngoài một số ít được học bổng do quá xuất sắc , thành phần còn lại chỉ có thể du học với điều kiện học giỏi , hợp lệ tình trạng quân dịch và tự túc mọi chi phí ăn ở trường lớp . Cũng có một số rất là ít được du học vì là con của các ông lớn . (Bản thân người viết bài này , gia đình rất giàu nhưng do học dở nên không thể du học ; mãi đến năm 47 tuổi mới được sang Mỹ vì đả có tốt nghiệp đại học trong 6 năm về môn “lao động cải tạo” ở VN ! ) .

       D / Tôi xin nói về ý nghĩa của số 22 đối với VN .Cũng xin nói thêm là trong cuộc chiến trước 1975 , nhân dân và chính quyền miền Nam được xem là một thực thể chính trị (political entity) của những người quốc gia . Ta thử cộng lại : năm 1975 sẽ là 1 + 9 + 7 + 5 = 22 . Theo bà Goodman thì “ số 22 được tượng trưng bởi hình ảnh một Người Tốt (Good Man) bị mờ mắt vì sự ngu dốt (folly) của những kẻ khác . . . Trên hình vẽ cho thấy người này có vẻ không phòng thủ gì trước một con cọp dữ đang bắt đầu tấn công hắn . Số này cũng cảnh báo về ảo tưởng và lừa dối . Nó cho thấy một người tốt (hoặc thực thể) đang sống trong hạnh phúc và thỏa mản , và tin tưởng không có vấn đề gì xảy ra , nhưng thực tế thì không phải vậy . Nó cho thấy một người đang nằm mơ , chỉ thức dậy khi nguy hiểm bao quanh hắn , nhưng lúc đó thì quá muộn . Nó cảnh báo về những sai lầm trong phán đoán , khi đặt lòng tin vào nhửng kẻ không đáng tin cậy . . . “ .
    Nếu 22 là ngày sanh , người này nên cẩn thận và luôn cảnh giác/canh chừng  ( caution and watchfulness )  trong những vấn đề về nghề nghiệp và cá nhân . Điều bắt buộc (karmic obligation) đối với người này phải tỉnh táo hơn  , phải kềm chế (curb) sự lười biếng về tâm linh  , và phát triển hơn sự năng nổ về tâm linh – để thực hiện khả năng riêng (của mình) nhằm thay đổi sự việc , cũng như để ngăn ngừa sự thất bại bắng cách quyết tâm đạt được sự thành công ( by simply ordaining success ) . Khi trách nhiệm cá nhân này được nhìn nhận , thực hành và cuối cùng  được  nắm vửng , người mang số 22 sẽ làm chủ mọi sự kiện , không còn bị mờ mắt bởi sự ngu dốt của kẻ khác , và sẽ thấy ý tưởng và niềm mơ ước của mình được thực hiện . Bất cứ ai sanh ngày 22 cần phải đọc đoạn nói về số 4 và 8 , bắt đầu ở trang 269 “ .
(Dịch từ trang 258-259 của sách đã dẫn) .
Xin quý bạn hảy thay thế các từ một người tốt , người này hay thực thể bằng từ miền Nam Việt Nam thì quý bạn sẻ thấy sự chính xác một cách lạ thường của những gì đã xảy ra vào năm định mệnh 1975 ở miền Nam Việt Nam .

      E / Không ai biết chính xác khoa tử vi này có từ lúc nào nhưng mọi người đều công nhận ông tổ của nó là Pythagore , nhà toán học cổ Hy Lạp (569-475 trước công nguyên) . Các bạn đã thấy sự ứng hợp một cách lạ thường giủa những giải thích từ xa xưa về ý nghĩa của số 13 và 22 và những gì đã xảy ra cho đất nước và dân tộc thân yêu của chúng ta trong và sau năm 1975 .

     F / Trị số của các chữ :
a = 1 , b = 2 , c = 3 , d = 4 , e = 5 , f = 8 , g = 3 , h = 5 , I = 1 , j = 1 , k = 2 , l = 3 , m = 4 , n = 5 , o = 7 , p = 8 , q = 1 , r = 2 , s = 3 , t = 4 , u = 6 , v = 6 , w = 6 , x = 5 , y = 1 và z = 7 .

     G / Tôi viết bài này không nhằm chỉ trích năm nhân vật đã có quyết định dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vì tôi rất thích câu châm ngôn “ chúng ta không thể quên , nhưng chúng ta có thể tha thứ ' (we can't forget , but we can forgive) và xin nhớ rằng sự sụp đổ này không chỉ đem đến tai họa mà thôi . (Xin xem lại phần C 4 ) . Tôi chỉ muốn cùng các bạn xem lại một giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam qua lăng kính kỳ diệu của khoa tử vi Lý Thuyết Số . Xin chào quí bạn ./.