Monday, October 28, 2013

NHÌN LẠI CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN NĂM 1975 QUA LĂNG KÍNH CỦA LÝ THUYẾT SỐ

Trong cái họa có che dấu cái phúc (lời cổ nhân) .

       A / Theo khoa Lý Thuyết Số (Numerology) , một nhánh của tử vi Tây phương – chuyên nghiên cứu về các số và ảnh hưởng của chúng đối với con người và sự kiện – thì mổi chử (letter) trong alphabet đều có một trị số tương ứng , ví dụ như a = 1 , b = 2 , c = 3 , v.v... ( xin xem bản trị số ở phần G của bài viết này ) . Từ yếu tố này , qua một vài phép tính cộng , ta có thể tính được tên họ của chúng ta bằng bao nhiêu . Con số cuối cùng này sẻ tác động lên số mạng của chúng ta .

       B / Chúng ta đều biết tên của nhửng nhân vật đả dự cuộc họp tối mật ngày 14 tháng 3 năm 1975 tại Cam Ranh – đả đưa đến một quyết định gây choáng váng cho toàn dân toàn quân VNCH , là bỏ cả vùng cao nguyên Trung phần rộng lớn , đưa các đơn vị chủ lực quân còn lại của quân đoàn 2 rút lui về vùng duyên hải (tỉnh Phú Yên) theo liên tỉnh lộ (LTL) 7 , một con đường hư hỏng nặng và đả lâu không xử dụng ; để sau đó tái trang bị , bổ sung quân số, và tái chiếm Ban Mê Thuột ! Các vị này cho rằng việc triệt thoái sẻ thành công nhờ yếu tố bất ngờ vì nghỉ rằng quân Cộng sản Bắc Việt chỉ tập trung quân để ngăn cản mọi di chuyển trên quốc lộ 21 (Nha Trang đi Ban Mê Thuột) và quốc lộ 19 (Qui Nhơn đi Pleiku) .  
     Nhưng làm sao giử được yếu tố bất ngờ khi một cuộc lui binh mà lại có sự tham dự của khoảng 180 ngàn dân thường . Chỉ vài ba ngày sau cuộc triệt thoái bắt đầu thì quân CSBV đả kéo đại pháo 130 ly tới quận lỵ Thuần Mẩn (ở phía đông bắc của Ban Mê Thuột) và từ đây pháo xối xả và chính xác vào đoàn quân xa và dân xa đang triệt thoái trên LTL 7 nhất là vào thị trấn Cheo Reo (tỉnh lỵ của tỉnh Phú Bổn ) .( Quyển Where The Domino Fell thì cho biết “đại pháo của quân CS đả cắt đoàn người và xe di tản thành nhiều khúc . . .và hơn 100 ngàn dân và 15 ngàn quân đả chết trong cuộc rút lui này “ . Các nhà báo đả gọi liên tỉnh lộ 7 là con đường của máu và nước mắt vì trong suốt cuộc chiến VN chưa bao giờ có một cuộc lui binh mà tổn thất về quân và dân lại khủng khiếp như vậy . )
     Như ta đả biết , cuộc triệt thoái này đả mở đầu cho sự sụp đổ dây chuyền – giống như các con cờ domino – của các tỉnh và thành phố còn lại của miền Nam Việt nam . Nay dựa vào cách tính toán của Lý Thuyết Số, tôi xin phân tích tên họ của nhửng nhân vật đả quyết định cuộc lui binh đầy bi thảm này .
    
    B1/ Tổng Thống Nguyển văn Thiệu :
                                                N G U Y E  N     V A N       T  H  I E U
Thay các chử bằng số :          5  3  6 1  5  5      6  1  5       4  5  1 5  6
Cộng các số này lại :                       25                 12               21
Biến các số thành hàng đơn vị :       7                    3                 3
Cộng lần chót : 7 + 3 + 3 = 13 = 1+3 = 4 .

    B2 / Thủ tướng Trần Thiện Khiêm :
                                                T R A N     T H I E N      K H I E M
Thay các chử bằng số :          4 2  1  5     4  5 1 5 5      2  5 1 5  4
Cộng các số này lại :                   12              20                  17
Biến chúng thành hàng đơn vị :    3                2                    8
Cộng lần chót : 3 + 2 + 8 = 13 = 1+3 = 4 .
B3 / Đại tướng Cao văn Viên : (xin lược bỏ vì ko quan trọng) .
B4 / Trung tướng Đặng văn Quang : (xin lược bỏ vì ko quan trọng) :
B5 / Thiếu tướng Phạm văn Phú :
                                                      P H A M      V A N      P H U
Thay các chử bằng số :                8  5  1  4      6  1  5      8  5 6
Cộng các số :                                     18             12           19
Biến các số thành hàng đơn vị :          9                3             1
Cộng lần chót : 9 + 3 + 1 = 13 = 1 + 3 = 4 .

     C1 / Ta thấy các tướng Thiệu , Khiêm và Phú đều có tên họ cộng lại bằng 13 . Bà Linda Goodman , chiêm tinh gia nổi tiếng người Mỷ trong quyển Linda Goodman's Sun Signs đả giải thích : “ Số 13 không xấu như nhiều người nghỉ . Người xưa nói ai biết xử dụng số này sẻ có được quyền lực và sự phục tùng từ kẻ khác . Số 13 liên quan đến quyền lực và nếu điều này được dùng vào mục đích vị kỷ thì sẻ mang sự hủy diệt cho chính nó “ . (Trang 251-252 của sách đả dẩn) . Các nhân vật mang số 13 trên đây đều có nhiều quyền lực nhưng vì chỉ biết lo cho mình nên cuối cùng họ đả hủy diệt cả sự nghiệp và cả đất nước mà họ đả từng sống chết bảo vệ . Trừ tướng Phú đả tự sát , hai vị còn lại đả phải sống lưu vong ở nước ngoài – với thân bại , danh liệt , cô đơn , tủi nhục – trong nhửng năm tháng cuối đời .

     C2 / Củng theo bà Goodman , thì “ hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương , là thần chết , tay cầm lưởi hái , đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ , đang chen lấn dẩm đạp lên nhau , tìm cách thoát thân trên một cánh đồng cỏ mới mọc . “ Một cảnh tượng gần như tương tự một cách kỳ lạ đả xảy ra tại tỉnh lỵ Cheo Reo , nơi mà dân thường và các đơn vị Thiết giáp , Pháo Binh , v.v... của VNCH đả dồn cụt trên một diện tích nhỏ hẹp và đả bị tàn sát trong tức tưởi bởi nhửng trận mưa pháo chính xác và kinh hồn của bộ đội CSBV . Một bà vợ lính Biệt động quân sau khi tới Tuy hòa nghỉ dưởng một tuần đả đi ngược đường lên tỉnh lộ 7 để tìm chồng con bị thất lạc . Chị cho biết “. . . ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy , nhửng bộ xương người còn vương vải đó đây , bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường . Cả một vùng xông mùi tử khí . Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đả giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số . . . “ . (Xin đọc Rừng Khóc Giửa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh) .

     C3 / Bà Goodman lại nói  “ số này củng cảnh báo về chuyện không ai ngờ được lại sẻ xảy ra “ .
Nào ai học được chử ngờ vì miền Nam Việt Nam đả sụp đổ quá nhanh , với hàng trăm ngàn người vào tù , các đợt cải tạo tư sản , đổi tiền , v.v... ; hàng triệu người phải bỏ nước ra đi mà gần nửa triệu đả chết , mất tích vì hải tặc , vì bộ đội biên phòng , hoặc vùi xác trong biển sâu v.v... Một số lớn phụ nử còn bị hảm hiếp , làm nô lệ tình dục , v.v...

     C4 /  Bà còn nói thêm “ Số 13 củng là số của đổi đời (upheaval) , để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn mới – mà trước đó không ai làm được . Số này dính liền với thiên tài – củng như với các nhà thám hiểm – là số phá vở nhửng gì có tính chính thống và là nhửng khám phá trên mọi lảnh vực “ .
     Sau biến cố bi thảm 30 tháng 4 , người Việt đả có mặt hầu như khắp thế giới mà phần lớn là các nước phương Tây , giàu có . Đa số đả có cuộc sống ổn định , sung túc thậm chí có người thành triệu triệu phú . Nhửng người đến Mỷ , nếu trên 20 tuổi thì thi vào đại học cộng đồng , hoặc vừa đi làm vừa đi học nghành nghề thích hợp , để mong tiến xa hơn nửa vì nhà nước sẳn sàng giúp đở tài chánh người muốn đi học dù cho họ ở tuổi 70 hay cao hơn . Còn trẻ em thì được chăm sóc y tế toàn diện đến ít nhứt là 18 tuổi và được hấp thụ một nền giáo dục – tiên tiến , phóng khoáng , kích thích tính sáng tạo và tự lập nơi các em mà lại hoàn toàn miển phí . Đây là nhửng điều mà ở VN ngày nay , đất nước của câu nói “vì lợi ích trăm năm ta trồng người “ có nằm mơ củng không thấy . Thật tội nghiệp cho đa số trẻ em VN .
     Tỉ lệ người VN có trình độ đại học củng tương đối khá cao nếu so với một số cộng đồng đả có mặt ở Mỷ trước chúng ta . Có lẻ một phần do truyền thống hiếu học . Một số đả giủ chức vụ chóp bu trong các nghành nghề kỷ thuật cao hay chỉ dành cho phái nam như nử kỷ sư Dương Nguyệt Ánh , người phụ trách việc chế bom áp nhiệt dùng phá hang động ở A Phú Hản . Hay một phụ nử Việt là phi công chiến đấu trong Thủy quân Lục chiến Mỷ , v.v... (Trong cuộc chiến VN , tuy là rất khốc liệt nhưng phụ nử dù có vào quân đội , củng chỉ phục vụ ở hậu cứ  hay các thành phố để làm công tác không chiến đấu như y tá , cán sự xả hội , v.v..  Tôi chưa thấy ai làm tài xế  lái quân xa , huống hồ lái máy bay chiến đấu  . . . ) .Tóm lại nhân tài VN ở hải ngoại đả nở rộ như hoa mai mùa xuân , đây là niềm an ủi cho người đả phải đau khổ rời bỏ quê hương , và củng là niềm hảnh diện cho họ ; đúng như lời người xưa “ trong cái họa có che dấu cái phúc “ .
      Trước 1975 ở miền Nam Việt Nam , ngoài một số ít được học bổng do quá xuất sắc , thành phần còn lại chỉ có thể du học với điều kiện học giỏi , hợp lệ tình trạng quân dịch và tự túc mọi chi phí ăn ở trường lớp . Củng có một số rất là ít được du học vì là con của các ông lớn . (Bản thân người viết bài này , gia đình rất giàu nhưng do học dở nên không thể du học ; mải đến năm 47 tuổi mới được sang Mỷ vì đả có tốt nghiệp đại học trong 6 năm về môn “lao động cải tạo” ở VN ! ) .

       D / Tôi xin nói về ý nghỉa của số 22 đối với VN .Củng xin nói thêm là trong cuộc chiến trước 1975 , nhân dân và chính quyền miền Nam được xem là một thực thể chính trị (political entity) của nhửng người quốc gia . Ta thử cộng lại : năm 1975 sẻ là 1 + 9 + 7 + 5 = 22 . Theo bà Goodman thì “ số 22 được tượng trưng bởi hình ảnh một Người Tốt (Good Man) bị mờ mắt vì sự ngu dốt (folly) của nhửng kẻ khác . . . Trên hình vẻ cho thấy người này có vẻ không phòng thủ gì trước một con cọp dử đang bắt đầu tấn công hắn . Số này củng cảnh báo về ảo tưởng và lừa dối . Nó cho thấy một người tốt (hoặc thực thể) đang sống trong hạnh phúc và thỏa mản , và tin tưởng không có vấn đề gì xảy ra , nhưng thực tế thì không phải vậy . Nó cho thấy một người đang nằm mơ , chỉ thức dậy khi nguy hiểm bao quanh hắn , nhưng lúc đó thì quá muộn . Nó cảnh báo về nhửng sai lầm trong phán đoán , khi đặt lòng tin vào nhửng kẻ không đáng tin cậy . . . “ .
    Nếu 22 là ngày sanh , người này nên cẩn thận và luôn  cảnh giác/canh chừng  ( caution and watchfulness )  trong nhửng vấn đề về nghề nghiệp và cá nhân . Điều bắt buộc (karmic obligation) đối với người này phải tỉnh táo hơn  , phải kềm chế (curb) sự lười biếng về tâm linh  , và phát triển hơn sự năng nổ về tâm linh – để thực hiện khả năng riêng (của mình) nhằm thay đổi sự việc , củng như để ngăn ngừa sự thất bại bắng cách quyết tâm đạt được sự thành công ( by simply ordaining success ) . Khi trách nhiệm cá nhân này được nhìn nhận , thực hành và cuối cùng  được  nắm vửng , người mang số 22 sẻ làm chủ mọi sự kiện , không còn bị mờ mắt bởi sự ngu dốt của kẻ khác , và sẻ thấy ý tưởng và niềm mơ ước của mình được thực hiện . Bất cứ ai sanh ngày 22 cần phải đọc đoạn nói về số 4 và 8 , bắt đầu ở trang 269 “ .
(Dịch từ trang 258-259 của sách đả dẩn) .
Xin quý bạn hảy thay thế các từ một người tốt , người này hay thực thể bằng từ miền Nam Việt Nam thì quý bạn sẻ thấy sự chính xác một cách lạ thường của nhửng gì đả xảy ra vào năm định mệnh 1975 ở miền Nam Việt Nam .

      E / Không ai biết chính xác khoa tử vi này có từ lúc nào nhưng mọi người đều công nhận ông tổ của nó là Pythagore , nhà toán học cổ Hy Lạp (569-475 trước công nguyên) . Các bạn đả thấy sự ứng hợp một cách lạ thường giủa nhửng giải thích từ xa xưa về ý nghỉa của số 13 và 22 và nhửng gì đả xảy ra cho đất nước và dân tộc thân yêu của chúng ta trong và sau năm 1975 .

     F / Trị số của các chử :
a = 1 , b = 2 , c = 3 , d = 4 , e = 5 , f = 8 , g = 3 , h = 5 , I = 1 , j = 1 , k = 2 , l = 3 , m = 4 , n = 5 , o = 7 , p = 8 , q = 1 , r = 2 , s = 3 , t = 4 , u = 6 , v = 6 , w = 6 , x = 5 , y = 1 và z = 7 .

     G / Tôi viết bài này không nhằm chỉ trích năm nhân vật đả có quyết định dẩn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vì tôi rất thích câu châm ngôn “ chúng ta không thể quên , nhưng chúng ta có thể tha thứ ' (we can't forget , but we can forgive) và xin nhớ rằng sự sụp đổ này không chỉ đem đến tai họa mà thôi . (Xin xem lại phần C 4 ) . Tôi chỉ muốn cùng các bạn xem lại một giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam qua lăng kính kỳ diệu của khoa tử vi Lý Thuyết Số . Xin chào quí bạn ./.

No comments:

Post a Comment