Showing posts with label thiết giáp. Show all posts
Showing posts with label thiết giáp. Show all posts

Sunday, August 27, 2023

        






http://webdoc.sub.gwdg.de/ebook/p/2005/CMH_2/www.army.mil/cmh-pg/books/vietnam/mounted/chapter8.htm?fbclid=IwAR0uRlfkXOfX3G1a7tx6oGEPTjy263YTMA3XKGL-UJeMqLjk6oMoWgCW35E

Wednesday, January 18, 2023

Tuesday, August 9, 2022

 Một bằng chứng hùng hồn về LTS.

- Hữu xạ tự nhiên hương.
Thiếu tá Lê Quang Vinh là một sĩ quan thiết giáp nổi tiếng thời VNCH. Tuy chỉ là một chi đoàn trưởng, nhưng do quá nhiều chiến công, ông đã lọt vào mắt của các tướng tư lịnh quân khu (QK) 2 và 4 như Nguyễn văn Toàn, Nguyễn khoa Nam. (Ở QK 2, chi đoàn ông đã nổi tiếng khi năm 1972 giải tỏa đèo Chu Pao nằm giữa Pleiku và Kon Tum). Thông thường, các tư lịnh QK chỉ nói chuyện với tư lịnh các sư đoàn. Trong khi đó, khi di chuyển từ Vĩnh Long đi Vĩnh Bình, khi sắp tới xã Long Hồ, thiếu tá Vinh đã được lịnh gặp tướng Nam và tỉnh trưởng Vĩnh Long. Tướng bảo chi đoàn nghỉ ngơi hai ngày ở xã này để nhận tiếp tế, sau đó hành quân vào chợ Thày Phó.
Vì thấy ông gần như trăm trận trăm thắng nên méo mó nghề nghiệp, tôi đã thử phân tích tên họ của ông.
LÊ = 35 = 8
QUANG = 16153 = 16 = 7
VINH = 6155 = 17 = 8.
Cộng lại: 8 + 7 + 8 = 23, một số rất may mắn.
Ý nghĩa của số này tôi đã viết nhiều lần trên FB.
Các đại gia nổi tiếng của VN phần lớn có tên bằng số 23 như Phạm nhật Vượng Vin Group, Lê Viết Lam Sun Group, Nguyễn thị Phương Thảo VietJet Air; hay có ngày sanh là 23 như Nguyễn đăng Quang Masan Group và Techcombank (sinh ngày 23/8/1963).

 Chào Thiếu Tướng Lần Cuối

  

SANTA ANA, California: Hai sự kiện gây nhiều chú ý trong dư luận đều xảy ra trong một ngày chủ nhật đẹp trời tại Miền Nam California, nơi từ lâu vẫn được đồng hương xem là thủ phủ của người Việt tị nạn tại hải ngoại.

 

Hơn 8000 người đã vui vẻ, bỏ hết thời giờ cuối tuần để cùng nhau tìm đến nơi họ có thể đóng góp một chút gì đó cho đồng đội, đồng hương, đồng bào kém may mắn còn kẹt lại quê nhà, những người trong suốt 36 năm qua, hàng ngày đã phải gánh chịu biết bao đớn đau, dày xéo, trong tâm hồn và trên thân xác. Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH lần thứ V, tổ chức tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, đã thêm một lần nữa, ghi đậm dấu ấn thành công về sự đóng góp cả tinh thần lẫn vật chất của những người anh em cùng chiến tuyến, qua không gian và thời gian cách biệt, vẫn còn mãi giữ được sự gắn bó chân thành, tương thân, tương ái của tâm tình huynh đệ chi binh qua một thời đau thương nghiệt ngã vì chiến tranh và thời cuộc. Dù hoàn cảnh chia lìa và khó khăn đến đâu, hôm nay và ngày mai, hy vọng tinh thần này sẽ mãi mãi bền lâu. Hãy giữ lấy “Ân Tình Một Thời Còn Đó” cho những người đã hy sinh thân thế cho chúng ta được sống còn ở nơi này.

 

 Cũng cùng một thời gian trong ngày chủ nhật, cách Bolsa 30 dặm về hướng đông bắc, tại nghĩa trang mang cái tên thơ mộng “Vườn Hồng” (Rose Hill)  đã diễn ra cuộc chia tay cuối cùng  giua 300 khach va bang huu với  một người lính chiến của quân lực VNCH, khi tàn cuộc, may mắn không phải gánh chịu những đau đớn thể xác như các anh. Người lính chiến đó, một thời ngang dọc tung hoành, một thời trải qua bao nhiêu thăng trầm, vinh nhục suốt chiều dài của 2 cuộc chiến trước đây, nay đã vĩnh viễn ra đi, chỉ còn lại trên bàn thờ bình Tro Cốt được các bằng hữu lần lượt đến chào kính chia tay. Thân xác ông Nguyễn Cao Kỳ, kể từ nay, không bao giờ còn thấy lại ở bất cứ nơi nào trên địa cầu này. Ông mất đi, trước tiên để lại niềm đau tử biệt cho chính những người thân yêu trong gia đình ông. Ra ngoài, cũng không thiếu kẻ khen, người chê, theo thói đời thường tình. Những lời gièm pha, châm biếm, chỉ trích, phê bình ông thường xuyên xuất hiện, có lúc ồ ạt, trên các trang mạng, báo chí, truyền thanh, truyền hình. Tuy nhiên những đồng tình, khen thưởng, tán tụng, thậm chí biết ơn cũng không ít , cũng xuất hiện song song trên các phương tiện truyền thông nêu trên.

 

Để phần nào tìm hiểu thêm về nhân vật mang tính thời sự của một giai đoạn lịch sử nhiều biến động lạ thường gần đây của dân tộc, chúng tôi đã cố liên lạc với cựu đại tá Lê Khắc Lý, xin phép được thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn với ông hầu gởi đến độc giả những nhận xét của ông về cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ, cũng là cấp chỉ huy của ông ngày xưa.

 

 Đại tá Lê Khắc Lý, từng giữ nhiều chức vụ chỉ huy cao cấp trong cùng một thời gian với ông Nguyễn Cao Kỳ: Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Ngãi, tư lệnh biệt khu 24, Chỉ huy BĐQ vùng 2, Tham mưu trưởng quân đoàn I, Tham mưu trưởng quân đoàn 2 cho đến ngày rời Việt Nam, 30 tháng 4 năm 1975.

 Tướng Kỳ có vẻ nổi hơn ở những chức vụ như: Chỉ huy trưởng Liên phi đoàn 83, Phi đoàn vận tải, Tư lệnh không quân, Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, Phó tổng thống VNCH. Cả 2 vị đều định cư rất sớm tại Hoa Kỳ, đều không bị nếm trải dù một ngày những hành hạ, tủi nhục bởi phe thắng trận như các chiến hữu của họ không may còn kẹt lại. Đại tá Lê Khắc Lý, sau khi qua Mỹ đã có cơ hội đi học lại để sau đó, làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Cao Kỳ bước ngay vào kinh doanh: mở tiệm rượu, mở vựa bán tôm. Đại Tá Lê Khắc Lý không muốn gặp gỡ bất cứ viên chức cộng sản nào. Ông Nguyễn Cao Kỳ thường xuyên gặp gỡ, trao đổi cùng các viên chức công sản lớn bé sau năm 2004. Điểm đặc biệt, ông Nguyễn Cao Kỳ thường xuyên về Việt Nam sau năm 2004 trong khi đại tá Lê Khắc Lý chưa bao giờ trở lại Việt Nam sau ngày di tản.

Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại toàn bộ cuộc trao đổi cùng đại tá Lê Khắc Lý, nhân lần gặp ông tại tang lễ cố hòa thượng Thích Hạnh Đao.

 

Là một chiến sĩ QLVNCH, đại tá cảm nhận gì khi hay tin cấp chỉ huy mình, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã ra đi?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Sự ra đi của ông Kỳ, một khuôn mặt để lại rất nhiều suy nghĩ trái ngược nhau của người dân Việt Nam cả trong và ngoài nước. Có người ủng hộ ông hết sức nồng nhiệt, nhưng cũng không ít người chống đối, có thể nói là quá khích và mạnh bạo về thái độ chính trị của ông. Trước hết, nói về ông Kỳ, tôi nghĩ “Ông Kỳ đã thất bại về chính trị.” Ông không phải là một chính trị gia. Việc ông bỗng nhiên gắn liền với chính trị trong khúc quanh lịch sử của đất nước, tôi cho là thời cuộc đưa đẩy. Sự nghiệp của ông nhanh chóng lên đến đỉnh cao quyền lực quốc gia đã cho thấy ông không có sự chuẩn bị đầy đủ như các chính trị gia khác. Như chúng ta thấy, tại Hoa Kỳ, các vị lãnh đạo đều được đào tạo ngay từ lúc nhỏ. Các Tổng thống Kennedy, Reagan, Nixon là những điển hình. Phần lớn đều trưởng thành qua các chức vụ dân cử từ thấp đến cao. Tôi muốn nói trường hợp này không riêng cá nhân ông Kỳ, rất nhiều vị đều do thời cuộc đưa đẩy. Cũng vì thế mà cuối cùng, ông đã thất bại.

 

Là người giữ chức vụ tỉnh trưởng một tỉnh tại miền Trung, đứng đầu tổ chức hành chánh địa phương, theo ông, thời gian ông Kỳ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, chính phủ ông Kỳ có đem lại thành quả đáng kể nào cho quốc gia, dân tộc không?

 

ĐT Nguyễn Khắc Lý: Đó là một điểm gây ra nhiều mâu thuẫn. Như tôi đã nói lúc đầu, kẻ tán thành luôn nói lên những thành quả, tuy nhiên, phần lớn cũng phản bác, cho rằng không phải như vậy. Với tôi, việc đảm nhiệm chức vụ tỉnh trưởng Quảng Ngãi, ngay sau khi cuộc cách mạng 1963 thành công, là do sự chỉ định của thượng cấp dựa trên điều kiện chính trị tại địa phương, lúc đó cần một vị sĩ quan đứng đầu để làm cho tình hình Quảng Ngãi được ổn định hơn. Khi tôi hết làm tỉnh trưởng và đi du học Hoa Kỳ, lúc đó, ông Kỳ đứng ra làm Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương. Khi tôi trở về, ông Kỳ vẫn còn tại chức. Tôi theo dõi tình hình và biết được chủ trương cùng khẩu hiệu tiêu biểu cho đường lối của chính phủ ông là “Chính phủ người Nghèo,” Ông cho người dân lao động nghèo quyền sở hữu xe Lam và Taxi để làm kế sinh nhai. Nhìn qua, thấy rất là phấn khởi, tạo được niềm tin, thế nhưng đi sâu, chỉ thấy thực hiện riêng ở Saigon không mà thôi, không thấy người Nghèo nào được bênh vực trên bình diện toàn quốc cả. Ông chỉ nói và làm chung quanh Saigon thôi trong khi chức vụ của ông Kỳ thời đó là lo cho cả nước chứ không riêng Saigon . Qua một điểm này thôi, chúng ta thấy ông cũng không có thành tựu nào nổi bật cho vai trò của ông thời đó trên toàn quốc. Phía người chống đối đã nêu ra những việc làm không trung thực từ phía chính phủ. Với chiêu bài “Chính phủ của người Nghèo” nhưng thực tế, chỉ có người giàu hưởng lợi mà thôi. Việc này, thực tế tôi cũng chỉ ghi nhận tại địa phương thôi. Như việc thành lập “Đoàn Thanh Niên Trừ Gian,” thế nhưng phần lớn tin tức đưa ra là chính đoàn thanh niên trừ gian này lại làm nhiều điều “Gian Hùng” hơn ai hết. Có thể ông đã làm nhưng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc không kiểm soát được những hành động không tốt, khiến đưa đến nhiều hình ảnh xấu về chính phủ của ông như người dân đã nhận định và gởi đến cho ông như vậy. Tôi thực sự chưa thấy ông Kỳ làm được điều gì mang lại công lao lớn cho quốc gia và người dân, lúc ông đảm nhiệm chức vụ ngang với thủ tướng của nền đệ nhị Cọng Hòa.

 

Là một nhà quân sự thuần túy, ông có nhận định nào về thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ xét dưới lăng kính này?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Tôi phải nói thật cùng anh thế này: khi ông hô hào Bắc tiến, thêm vào việc ông thân chinh ra bắc ném bom, tôi thấy con đường ông đi là” Đúng Nhất, Hay Nhất,” phải nói mọi người đều hài lòng và cho rằng ông làm được. Tôi là một trong những sĩ quan hăng hái ủng hộ điều này. Vấn đề chiến lược là như vậy. Thử hỏi nếu ngược lại thời gian, năm 1965, người Mỹ không đổ quân vào miền Nam mà lại đổ quân phía bắc vĩ tuyến 17, liệu anh có nghĩ tôi và anh giờ này ở đây không? Nếu nói bị dư luận thế giới lên án “Xâm Lăng” thì sự đổ quân vào miền Nam có tránh khỏi phê phán này không? Nên tóm lại, tôi cho rằng ý kiến ném bom và bắc tiến của ông Kỳ là chiến lược thích đáng. Dù nó có mang lại nhiều thiệt hại chăng nữa, tình hình ngày nay hẳn đã khác. Chỉ tiếc là ông nói và làm tượng trưng để gây tiếng vang chứ không đi vào thực tế.

 

Đại tá nghĩ ông Nguyễn Cao Kỳ đã mang lại sự đoàn kết trong quân đội hay ngược lại, chỉ đem đến sự chia rẽ?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Tôi chỉ nói theo ý kiến riêng qua việc thu thập những tin tức bên ngoài, trong giới sĩ quan cao cấp. Tôi thấy rõ ông Kỳ “không đem lại sự đoàn kết trong quân đội.” Tôi không ở trong hàng ngũ tướng lãnh và không phục vụ tại Saigon, dù qua suy luận và tin tức thu lượm đó đây, tôi nhận thấy việc ông Kỳ chủ trương chống đối tổng thống Thiệu gây ra nhiều chia rẽ trong lúc quốc gia cần có sự đoàn kết của những người lãnh đạo (Tôi không thuộc phe nhóm của ông Thiệu, dù có nhiều điều sai trái từ phía ông Thiệu nhưng tôi không thể nói ra vì đó là kỷ luật quân đội) Từ đó, chia ra 2 phía cánh trái và cánh phải dinh Độc Lập. Phía xếp hàng sau lưng ông Thiệu, phía sau lưng ông Kỳ. Tôi thẳng thắn nhìn nhận và bày tỏ là ông Kỳ đã không mang lại sự đoàn kết trong quân đội.

Chuyện Phật Giáo, đại tá có hài lòng về đường lối đối xử với phật giáo của ông Nguyễn Cao Kỳ vào những năm 65 – 66 – 67 không ?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Chỗ này tôi phải mở dấu ngoặc: Phật Giáo lúc đó đi quá trớn. Cá nhân tôi là một phật tử, tôi vẫn nhìn thấy Phật Giáo đi quá trớn. Phật giáo phần nào đã mắc phải lỗi lầm này. Tôi hoàn toàn đồng ý cần có sự chống đối nếu cần thiết ở bất cứ tôn giáo nào. Nhưng kiểu chống đối của Phật giáo hồi đó là kiểu “Quá Khích,” gây xúc động quần chúng và thiếu xây dựng. Tôi tiếc nhiều việc đã xảy ra thời đó. Trở lại câu chuyện ông Kỳ đưa ông Nguyễn Ngọc Loan ra miền Trung gọi là để dẹp những cuộc tranh đấu lúc ấy, như vái lạy rồi khiêng bàn thờ vào, về phương diện kỹ thuật, phải nói là rất hay. Tuy nhiên về thuần túy chính sách, bên trong còn những gì không ai rõ. Nhưng nếu sắp xếp được những gặp gỡ để thảo luận cùng các vị Cao Tăng hầu tránh chia hai phe chính quyền và Phật giáo tiếp tục chống đối nhau thì tôi thấy hay hơn.

 

Nếu không có tướng Nguyễn Ngọc Loan bên cạnh ông Nguyễn Cao Kỳ, liệu ông Nguyễn Cao Kỳ có tồn tại được vào thời đó không?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Cám ơn anh đã đưa ra câu hỏi này. Tôi nghĩ ông Loan đã giúp củng cố địa vị ông Kỳ rất nhiều. Vì sự kiện không xảy ra nên không có câu trả lời đúng câu hỏi. Tuy nhiên, tôi nghĩ là rất khó.

 

Sang đến trang sử mới, sau 1975. Là những quân nhân đã cùng chiến đấu trên cùng một chiến tuyến, cho dẫu chung cuộc như thế nào, đứng trước tình thế phải lưu vong, ông và ông Nguyễn Cao Kỳ có đồng hành và gắn bó với nhau trong tâm tình tha hương tị nạn không?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Tôi nhớ lại trước đây, có lần ông Kỳ về nói chuyện cùng đồng hương tại quận Cam . Người bạn thân của tôi là cố đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt cùng đến tham dự. (Đại tá Kiệt cùng khóa với ông Kỳ) Ông Kỳ thao thao bất tuyệt, đãi ngôn rất nhiều. Vẫn chủ trương chống cộng mạnh và tích cực nhưng lại không quên chửi Mỹ. Ông nói một câu tôi nhớ đời: “Qua đây, tại sao lại đổi tên là Bob, Jack, Diane, Và…” Việc này là vong bản, quên cội nguồn này nọ. Chúng tôi hỏi Ông Kỳ có kế hoạch gì mới vào lúc này không? Ông ngang nhiên trả lời “Chúng ta nên chuẩn bị cho kế hoạch ngày về quang phục quê hương.” Qua nhiều lần gặp gỡ ông Kỳ sau này, ông luôn úp mở về một kế hoạch nhằm kích thích người nghe về những biến chuyển to lớn sẽ xảy đến. Nhưng buồn ơi, theo dõi những hoạt động của ông, từ việc mở tiệm rượu tại Huntington Beach , rồi việc mua tôm cá tại New Orleans . Thêm vào chuyện gia đình giữa ông và bà Đặng Tuyết Mai, cơm không lành, canh không ngọt rồi đổ vỡ, đưa tới đoạn cuối là lập gia đình cùng vợ đại tá ÂnNhững gì tôi vừa nêu ra, dễ cho tôi đi đến kết luận là những gì ông Kỳ nói hoàn toàn khác hẳn việc ông làm. Chính ông đã không gây được “thành tích xứng đáng tương xứng với danh tiếng của ông trước năm 75.” Tôi tiếc cho ông Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội. Đối với tôi, nên xét ông Kỳ ở hai thái độ: Nếu làm được như cố thủ tướng Sirik Matak của Campuchia trước năm 1975, là từ chối lời mời của đại sứ Mỹ rời khỏi Miên trước khi Khmer Đỏ vào chiếm đóng Nam Vang. Khí tiết đó không có ở ông Kỳ. Thứ hai là sang Mỹ rồi, nên im lặng, sự im lặng còn giữ được lòng kính trọng của đồng hương. Lời tuyên bố của ông tại nhà thờ Tân Sa Châu khó mà quên được. Chính ông đã tự đánh mất danh dự của mình, nên việc đồng hành cùng ông không mấy được ai chấp nhận.

 

Việc ông Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam năm 2004, theo ông ta là để “giúp tái thiết, xây dựng đất nước.” Đại tá nghĩ gì về sự kiện này và nhìn ông Nguyễn Cao Kỳ ở chiến tuyến nào?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Như tôi đã nói lúc nãy, tốt hơn hết là ông Kỳ nên giữ sự im lặng để giữ được sự kính trọng. Việc ông Kỳ quyết định và làm vào năm 2004 là một sai lầm hết sức trầm trọng. Với những việc làm và lời nói chống cộng của ông trước đây, ai ai cũng xem ông là anh hùng, xứng đáng với thời thế tạo ra cho Việt Nam . Tiếc rằng ông đã đi ngược lại tất cả. Đau đớn thay cho những người đã nằm xuống và những ai đang còn mong đợi một Việt Nam không cộng sản. Tôi nghẹn ngào nói cùng anh điều này, là nỗi đau chung cho mọi người. Tiếng nói của ông đưa ra để “miệt thị” những người quốc gia trước quân thù. Luồn cúi, nịnh bợ những kẻ đang tâm đàn áp dân chúng chúng ta, tôi thưa anh thật từ đáy lòng: Là sĩ quan VNCH, tôi xem đây là niềm đau quá lớn của tôi về ông Kỳ. Như tôi đã bắt đầu nhận xét về ông Kỳ là: “Thất bại chính trị.” Người không có lập trường. Cuối cùng, tôi muốn nói rằng “Ông Kỳ ra đi cho thấy sự không tương xứng với sự nghiệp chính trị quá khứ của ông. Thật lấy làm tiếc cho ông.

 

Cám ơn đại tá đã dành cho VH cuộc nói chuyện này. Thưa đại tá, ngày mai lễ an vị tro cốt ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ diễn ra tại Rose Hill. Loại bỏ mọi thành kiến chính trị, trong cương vị một quân nhân đồng ngũ, ông có đến chào lần cuối vị tướng lãnh từng là chiến hữu của ông không?

 

ĐT Lê Khắc Lý: Tôi rất muốn đến chào ông lần cuối. Người quân nhân phải đối xử như vậy nếu điều kiện cho phép. Nhưng lấy làm tiếc, tôi đã có những chương trình dự định trước như dự lễ Vu Lan, dự ĐNH thương phế binh nên không tới chào vĩnh biệt ông ngày mai được. Cho tôi đưa tay chào Thiếu Tướng lần cuối.

 

Hoàng-Giang

Friday, December 24, 2021

 Phước Tuy Và Những Tháng Ngày Cuối Cùng




Khoảng giữa tháng 4 năm 1975 trong cuộc hành quân giải tỏa Long Khánh, chi đội 3 của tôi tăng phái cho chi đoàn 2/22 chiến xa, dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Thiếu tá Hà ngọc Bé, nằm án ngử phía bắc Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số, phía tây Quốc Lộ 20 vài cây số trên đường về Dầu Giây , qua nhiều cuộc đụng độ với Sư Đoàn 341 CSBV trên mặt trận nầy đã gây nhiều tổn thất cho cả hai bên, cho đến chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 ,CĐ 2/22 CX di chuyển về Biên Hòa, qua khỏi rừng cao su bên chợ Trảng Bom vài cây số thì tôi được lịnh ở lại, để chờ đợi đến sáng hôm sau thì chi đội của tôi sẻ trở về chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ , khi chi đoàn di chuyển qua vùng nầy trên đường về dưởng quân ở Biên Hòa. Sau hơn một tuần lể giao tranh với CSBV để yểm trợ cho Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh tham chiến tại ngả ba Dầu Giây, chi đội tôi chỉ còn vỏn vẹn 2 thiết vận xa M113 và 9 kỵ binh, di chuyển khoảng 2 cây số về hướng bắc QL 1 và bố trí phòng thủ đêm tại một mảnh đất trống bên con đường đất đỏ .Trong suốt đêm đó , CSBV chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công về Sài Gòn đã di chuyển nhiều chiến xa, quân xa với đại pháo và lực lượng bộ binh về hướng Biên Hòa, trước vị trí phòng thủ của chi đội tôi không xa lắm, hầu như không ai được ngủ yên trong đêm đó , tiếng động của xe cộ, chiến xa , tiếng người và ánh đèn trong đêm tối càng gia tăng nổi lo lắng trong thâm tâm của mọi người , sau những ngày dài trong chiến trận từ giữa tháng 3 năm 1975 hành quân vùng Gò Dầu Hạ trên đường về Tây Ninh , đầu tháng 4 năm 1975 về Truông Mít , quận Khiêm Hanh cho đến cuộc hành quân giải vây Long Khánh , ai cũng chưa có một ngày nghỉ ngơi hay về phép thăm viếng gia đình .

Trưa ngày 25 tháng 4 tôi được lịnh di chuyển ra QL 1 để tháp tùng CĐ 2/15 TK, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô duy Lượng lên đường về Phước Tuy, sau khi ăn Tết 1975 đây là lần thứ hai tôi trở về chi đoàn sau hơn 2 tháng tăng phái cho CĐ 2/22 CX , Chi đoàn di chuyển đến cuối thành phố Biên Hòa rẻ vào quốc lộ 15, qua căn cứ Long Bình rồi trường Thiết Giáp, Long Thành, nơi tôi đã có một thời gian thụ huấn sỉ quan căn bản Thiết Gíap ở đó vào cuối năm 1973 , chi đoàn đóng quân tại Phú Mỹ một ngôi làng nhỏ trên QL 15 giửa chi khu Long Thành và tỉnh lỵ Phước Tuy chiều hôm đó , trong lúc nầy Lử Đoàn I Nhảy Dù sau trận giải tỏa Long Khánh di tản về Phước Tuy và có nhiệm vụ bảo vệ QL15 từ Long Thành về Bà Rịa , nên TĐ 8 Nhảy Dù đêm đó là đơn vị tùng thiết cho CĐ 2/15 TK , đây là lần đầu tiên tôi đi hành quân với các anh hùng mủ đỏ , mà tôi chỉ từng nghe ca ngợi trong những bản nhạc trên đài phát thanh hay trên màn ảnh truyền hình trong những lần về phố ngồi uống cà phê , từ xa về hướng đông là thị xã Bà Rịa , hướng tây là trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức , đại pháo của CSBV vẩn vang rền trong khi các đại bác 37 ly phòng không của địch, như màng lưới lữa trong bầu trời đen tối đuổi theo các phi cơ Hỏa Long trong phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn còn chiến đấu trong tận cùng tuyệt vọng , tôi vùi đầu trong giấc ngủ , tin tưởng vào các chiến sỉ Nhảy Dù sẻ bảo vệ phòng tuyến đêm nay và hy vọng ngày mai có thêm một ngày bình yên trong lữa đạn .

Ngày 26 tháng 4 tôi được hai ngày phép về Sài Gòn , trong khi chờ đợi Thiếu Úy Huỳnh, chi đội trưởng chi đội 2 mản phép trình diện đơn vị để thay thế tôi trong lúc đi phép , tôi ghé uống cà phê sáng trong ngôi quán nhỏ bên đường , trong lúc một xe M113 của chi đội 2 nằm gần chợ và vài kỵ binh ngồi uống bia kế bên , đến trưa mà Th/Úy Huỳnh vẩn chưa trở lại , tôi ghé vào xe chi đội 2 uống vài chai bia để giết thì giờ trong nôn nả đợi chờ , cho đến 5 giờ rưởi chiều hôm đó Th/Úy Huỳnh mới trở lại đơn vị , tôi suy nghỉ nếu về tới Biên Hòa thì đã tối sẻ không có xe về Sài Gòn được, nên tôi xin phép Đại Úy Lượng cho tôi ở lại đêm nay và sáng sớm ngày mai tôi sẻ đi phép về Sài Gòn , trời vừa sụp tối thì SĐ 304 CSBV bắt đầu tấn công vào trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, SĐ 325 CSBV tấn công chi khu Long Thành , khoảng 8 giờ tối hôm đó trong tiếng đạn đại pháo , đại bác phòng không và các loại vủ khí vang rền khắp mọi nơi của Cộng quân, chi đoàn 2/15 TK và TĐ 8 Nhảy Dù di chuyển trong đêm tối vào thị xã Bà Rịa cùng lúc với SĐ 3 CSBV từ mặt trận Long Khánh kéo về .Chi đội 1 và chi đoàn phó là Trung Úy Ngô Bính nằm đầu phố án ngữ về hướng bắc , chi đội 3 nằm giửa phố với xe số 32 của tôi quay mặt về hướng bắc và xe số 34 nằm sau xe tôi cách 100 thước án ngữ phía nam , chi đội 2, 4 và bộ chỉ huy CĐ 2/15 TK án ngử ở cuối phố về hướng đông .Sau khi sắp xếp phiên gác đêm và kiểm soát chung quanh vị trí của hai thiết vận xa trong chi đội ,tôi đi ngủ sớm để chuẩn bị ngày mai di chuyển lên tuyến đầu đối mặt với quân thù , trong lúc nầy có lẻ đã rời mặt trận Long Khánh di chuyển về Phước Tuy .

Sáng sớm ngày 27 tháng 4 năm 1975 , tôi nhìn thấy tận mắt cảnh hoang tàn của thành phố nầy lần đầu tiên , các đường phố không một bóng người , những cuộc pháo kích của địch vài ngày trước đây đã để lại nhiều đổ nát , không biết người dân ở đây đã di tản về đâu , hay tạm trú trong những căn hầm dả chiến với niềm hy vọng được gìn giữ tài sản của ông cha để lại .Tiếng súng và đạn pháo bắt đầu vang dội phía bắc nơi chi đội 1 án ngử tôi lên máy để biết được CSBV bắt đầu tấn công bằng pháo binh , chiến xa và bộ binh vào tuyến của Thiết giáp và Nhảy dù , tôi cho chi đội lên xe sẳn sàng ứng chiến , lúc nầy quân đội CSBV đã vào trung tâm thành phố và một chiến xa T54 đã chạy vào trên đường phố bên trái tôi chừng 200 thước , nhìn về trước mặt tôi vài trăm thước cộng quân tràn ngập trong các ngôi nhà và đường phố , tôi xử dụng hỏa tiển M72 và khai hỏa đại liên 50 để ngăn chận bước tiến của địch, khi nhận được lịnh mở đường cho chi đoàn trở ra QL 15, tôi vừa lùi xe ra đến ngả tư thì đại bác của địch trên chiến xa T54 khai hỏa cùng lúc với đại bác 90 ly , hỏa tiển M72 của lực lượng Nhảy Dù , may mắn cả hai chiếc M113 không bị hư hại giữa hai làn đạn của bạn và thù . Từ giữa phố ra QL 15 phải qua ngôi chợ nằm bên tay phải ,CSBV bố trí trong chợ với hỏa lực rất mạnh , chi đội đã xử dụng 2 đại liên 50 , 2 đại liên 30 và tất cả vủ khí cá nhân còn sót lại vừa bắn vừa di chuyển qua ổ phục kích nầy , ra đến QL 15 về hướng đông chừng 2 cây số thì chi đội án ngử tại phía tây cầu Cỏ May , chờ đợi chi đoàn di tản qua phía đông bên kia cầu . Chiều hôm đó chi đội 2 tử thủ tại chân cầu , chi đội 3 của tôi cách đó vài trăm thước , sau đó là chi đội 1[ tổn thất khá nặng trong cuộc tấn công của CSBV sáng hôm đó] BCH chi đoàn và chi đội 4 nằm dọc theo QL 15 về hướng đông cầu Cỏ May , sau khi Đ/Úy Ngô duy Lượng ra lịnh cho Công binh chiến đấu phá nổ cầu để ngăn bước tiến của CSBV , ban đêm địch xử dụng đặc công bò qua cầu tấn công , chi đội 2 và binh sỉ của TĐ 8 ND chống cự mảnh liệt , địch xử dụng ghe ,xuồng chuyển quân dọc theo bờ sông qua phòng tuyến của CĐ 2/15 TK và TĐ 8 ND để tấn công từ phía nam và bắc QL 15, sau vài giờ tấn công khi tiếng súng vừa ngưng , một số binh sỉ của Thiết Giáp và Nhảy Dù bị thương nhưng không được di tản.

Sáng ngày 28 tháng 4 , địch quân tiếp tục pháo kích vào vị trí phòng thủ của chi đoàn và tìm cách vượt qua cầu Cỏ May, chi đội 2 và các binh sỉ Nhảy Dù vẩn còn chống trả với địch ở chân cầu Cỏ May, đại pháo của CSBV càng lúc càng gia tăng và càng đến gần, một trái đại bác 130 ly nổ bên cạnh xe tôi lúc di chuyển qua một vị trí khác đã làm thương vong vài binh sỉ Nhảy Dù và 2 xạ thủ đại liên trong xe tôi , tôi liên lạc xin di tản thương binh nhưng được lịnh chờ đợi trực thăng tải thương từ Lử Đoàn III Kỵ Binh đồn trú tại Biên Hòa , Suốt ngày nầy trên không trung các trực thăng CH-47 Chinook tiếp tục bay về hướng biển đông , tôi hy vọng có lần nào đó họ sẻ xuống đây để bốc đơn vị mình về Biên Hòa , tôi mơ ước ngày phép về Sài Gòn , nhớ ngày lang thang trên đường Nguyển Du đợi chị Thể ,chị Hội ,chị Loan Anh giờ tan sở ở Bộ Phát Triển Sắc Tộc, ngồi uống ly cà phê ngọt ngào đếm lá me bay , giờ đây đếm từng chiếc trực thăng bay qua ngang đầu , không hề hay biết đây là lần di tản sau cùng của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam . Chiều hôm đó chiến trường lắng dịu, không có tiếng súng thù, không đạn pháo rơi nên cái im lặng của trận địa làm mọi người ngộp thở, có lẻ CSBV chờ đợi cuộc tấn công trong đêm nay. Khoảng 10 giờ đêm thì tôi được lịnh xử dụng một thiết vận xa di chuyển về phía đông QL 15 trên đường về Vủng Tàu ,để thăm dò con đường có đủ an toàn khi đơn vị di tản ,tôi một mình trong đêm đi được vài cây số thì nhìn thấy QL 15 bị phong tỏa bằng các cuộn kẻm gai , tôi mở đèn pha và lội bộ trước đầu xe để xem tình hình , trong ánh sáng của đèn xe tôi thấy một người lính Thủy Quân Lục Chiến gở một đoạn kẻm gai để đến gần tôi , anh cho tôi biết là trên đường quốc lộ đã được gài mìn chống chiến xa và vị trí phòng thủ của đơn vị TQLC bao bọc 2 bên bằng kẻm gai và mìn Claymore để tử thủ đến cùng, tôi báo cáo về chi đoàn biết tin và nhận lịnh nằm tại chổ chờ đến sáng hôm sau , suốt đêm tôi lo lắng, bâng khuâng không biết ngày mai sẻ ra sao , sau lưng tôi cả chi đoàn nằm trong vòng hiểm nguy của hàng ngàn quân thù với xe tăng và đại pháo, trước mặt tôi là hàng rào phòng thủ của người lính mủ xanh, những người hùng của mùa hè đỏ lửa 1972 ngày tôi mới vào lính , ôm súng trên phòng tuyến đợi quân thù ,nhìn về hướng tây trong ánh lữa bập bùng của hỏa châu và những cuộn khói lững thững trôi ở cuối chân trời , tôi biết chiến trận vẩn còn trong cao độ giửa các cánh quân còn lại của quân lực VNCH và CSBV , dựa lưng vào pháo tháp để tìm giấc ngủ vội vàng tôi chờ đợi ngày mai, như chờ đợi và chấp nhận số phận nào đã đưa tôi vào con đường chinh chiến hiểm nguy mà không còn lối thoát .

Trưa ngày 29 tháng 4 , chi đoàn di chuyển về hướng đông QL 15 , sau cuộc tiếp xúc của chi đoàn trưởng Đ/Úy Ngô duy Lượng và cấp chỉ huy của đơn vị TQLC , họ đã tháo gở mìn và chướng ngại vật trên đường quốc lộ cho đơn vị Thiết giáp và Nhảy dù vào Vũng Tàu , để lại sau lưng SĐ 3 CSBV trên đường truy đuổi, sau khi tu bổ cầu Cỏ May và đưa bộ binh vào xâm chiếm Vũng Tàu .Chi đội 2 đi trước, chi đội 1, kế đến BCH , chi đội 4 và chi đội 3 của tôi đi sau cùng , khi vào đến phố Vũng Tàu thì lực lượng đặc công và bộ binh của CSBV đã nằm phục kích , mở cuộc tấn công sau khi 2 thiết vận xa của chi đoàn di chuyển qua khỏi đầu phố , thiết vận xa sửa chửa của CĐ bị bắn cháy và cả đơn vị bị kẹt trên đường phố nhỏ hẹp không xoay trở được , tôi nhận lịnh mang 2 xe còn lại của chi đội 3 mở đường tấn công vào ổ phục kích của địch , khi di chuyển qua phần còn lại của chi đoàn ở đầu phố thì tôi thấy xe 06 nằm giửa đường vẩn còn bốc cháy , sau xe xác chết của Hạ sỉ Có , người lính kỵ binh thân quen của tôi ngày mới về đơn vị và xác 2 đồng đội khác nằm bên nhau , trên con đường chỉ còn máu lửa và nước mắt , tôi đi trước theo sau là xe số 34 , khai hỏa tất cả vủ khí còn đủ đạn dược , từ đại liên 50 ly, 30 ly , súng phóng lựu M79 , súng cá nhân M16 và Colt 45 , vừa di chuyển vừa bắn hai bên đường , cả đơn vị di chuyển trong tiếng đạn mịt mù qua khoảng 2 cây số mới đến Bến Đá , CSBV tiếp tục pháo kích trên đường di tản của Thiết giáp và Nhảy dù bằng đại pháo trên đường ra biển , tôi nhận lịnh rời xe và phá hủy các thiết vận xa trước khi ra bờ biển , tuy nhiên trong lúc gom góp đồ đạc vào ba lô và trong cơn mưa pháo kinh hồn, tôi lội bộ ra bờ biển tìm kiếm đồng đội mà không có cơ hội làm được điều đó, một số kỵ binh và binh sỉ nhảy dù đã bị thương và chết trên chặng đường nầy , tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm với một vài kỵ binh, tuy nhiên sau vài lần tìm cách nổ máy mà vẩn không thành công , nhìn ra trước mặt tôi thấy một chiếc xuồng khác chạy qua với một số đồng đội gọi tôi , tôi quay lại dặn dò Cần nhớ tìm tôi khi về Sài Gòn rồi tôi nhảy xuống biển để bơi ra khi chiếc xuồng nầy quay lại để kéo tôi lên , khi trời vừa sập tối tất cả kỵ binh còn lại của chi đoàn dời qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn , con tàu trực chỉ về tỉnh Gò Công trong đêm tối , mổi người riêng một ý tưởng , không ai nói chuyện gì với nhau , ai cũng có những nổi buồn canh cánh bên lòng và âu lo của những ngày sắp đến .

Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 , những kỵ binh còn sống sót sau trận chiến ở thị xã Bà Rịa của chi đoàn 2/15 TK ngồi trên chiếc tàu đánh cá đợi chờ tin tức từ trong đất liền , cho đến khi nghe tin T.T Dương văn Minh yêu cầu các binh sỉ bỏ súng và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện , Đ/Úy Lượng họp mặt tất cả kỵ binh để thăm dò ý kiến và cho phép mọi người được lựa chọn một trong hai con đường còn lại , một là đi về vùng IV chiến thuật hay ra đảo Phú Quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống cộng , hai là trở về để đầu hàng cộng sản và đoàn tụ với gia đình , khoảng 6 hay 8 người tôi không nhớ rỏ đã tình nguyện trở về với gia đình , đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi tiển đưa nhau , họ có an toàn trở lại với gia đình không ai biết , cũng như số phận của 36 người kỵ binh còn lại những tháng ngày sắp tới không biết về nơi đâu , Đ/Úy Lượng cho phép vài người vào bờ để mua sắm lương thực và chuẩn bị cho một cuộc hành trình về trên vùng vô định , tôi tình nguyện ở lại không biết có phải vì TỔ QUỐC , DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM hay không , tổ quốc tôi với hơn 20 năm trưởng thành và 3 năm dài chiến đấu đã không còn , danh dự và trách nhiệm của một sỉ quan đã làm tôi ray rức nhiều hơn hết , có lẻ đó là động lực duy nhất thúc đẩy tôi vào quyết định chiến đấu đến cùng , hay kinh nghiệm của những ngày ấu thơ ở Đại Lộc ,Quãng Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên trong vùng cộng sản chiếm đóng , chứng kiến sự tàn ác của chế độ cộng sản và cuộc đời chinh chiến đã để cho tôi nhìn thấy những đổ vở trên quê hương, do kẻ thù từ phương Bắc gây ra , nên tôi quyết định ra đi . Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 con tàu lên đường ra khơi , mang theo những kỵ binh còn sống sót trong trận chiến sau cùng của chi đoàn 2 số đỏ [ biệt danh cho CĐ 2/15 TK ], một thời oanh liệt trên chiến trường Tây Ninh , Hậu Nghỉa, Bình Dương , Biên Hòa và Long Khánh của vùng III chiến thuật , những con đường in vết xích qua chiến trường Kampuchia năm 1971 và 1974, nay chỉ còn là dấu chân của một thời trong dỉ vãng , con tàu trực chỉ về hướng đông , trước mặt chỉ có màu biển xanh và bầu trời rộng mở , sau lưng là hướng tây , đỏ rực màu nắng của bóng chiều lên khi mặt trời vừa xuống , đó cũng là hình ảnh sau cùng để tôi nhìn lại quê hương Việt Nam thân yêu, gia đình tôi không còn liên lạc từ ngày mất Đà Nẵng chắc không biết những gì xảy đến với tôi , tôi ra đi về một chốn lạ xa mà không biết có ngày trở lại , tương lai tôi như bóng tối đại dương mà con tàu đang dấn bước , trong bóng đêm mịt mùng chỉ còn nghe tiếng sóng vổ và từ phía chân trời xa có ánh đèn lấp lánh trong màn đêm , những ánh đèn trên chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ , cũng là ngọn hải đăng cho con tàu lưu lạc trong cơn bảo tố của quê hương , soi đường cho cuộc hành trình của 36 kỵ binh chi đoàn 2/15 TK về trên vùng đất mới .


Thiên Chương chi đoàn 2/15 TK mùa xuân 2009

Thursday, October 1, 2020

 

CHUYỆN NGƯỜI KỴ BINH TÊN NẪM

 THIẾU-TÁ HÀNG PHONG CAO

Huy hieu thiet doan 8 ky binh.

Cuộc chiến 30 năm Quốc-Cộng đã tạo ra biết bao anh-hùng lừng danh trên chiến-trường, ở mọi cấp, ở mọi Quân Binh chủng, ở khắp mọi nơi. Hành-động anh-hùng là một truyền-thống của dân-tộc, tiềm-ẩn trong mọi người, nó là sự kết-tụ của bản-chất can-đảm và lòng hy-sinh. Biết bao chiến-sĩ đã biểu-lộ hành-động anh-hùng và đã ra đi trong lòng đất mẹ Việt Nam. Không nói đến họ, không nêu gương sáng của họ là thiếu-sót đối với lịch-sử chiến-tranh đầy lý-tưởng cao-cả của người lính Việt Nam Cộng-Hòa, quyết chiến-đấu để bảo-vệ nền tự-do và dân-chủ cho Miền Nam Việt Nam. Sau nhiều thập-niên, cuộc chiến Quốc-Cộng đã chấm dứt, chúng ta đã xác-minh được với dân-tộc và lịch-sử, sự hy-sinh của người lính Việt Nam Cộng-Hòa là đúng và cao-cả, người lính VNCH là anh-hùng… Tôi xin nêu ra hình-ảnh và hanh-động anh-hùng của một người lính Thiết-giáp, không tầm cỡ, còn quá trẻ, tiêu-biểu cho những người lính trẻ Việt Nam.

***Chi-đoàn 2/8 Thám-thính, hậu-thân của một trong 10 Tiểu-đoàn Thám-thính hoạt-động trên chiến- trường Bắc-Việt, sau di-chuyển vào Nam bởi Hiệp-Định Genève 1954, sau hơn 2 năm được tăng-phái hoạt-động tại tỉnh Lâm-Đồng, được biến-cải và huấn-luyện để đổi thành Chi-đoàn 2/8 Thiết-Kỵ vào cuối tháng 10-1968. Chi đoàn được trang-bị Thiết-quân-vận M113 thay-thế cho các Thám-xa M8, Scout Car và Half-Track đã lỗi thời. Tổ-chức của Chi-đoàn Thiết-Kỵ là hậu-thân của Chi-đoàn Thiết- Vận-Xa M113 và Đại-đội 7 và 21 Cơ-giới M113. Sau khi khai-triển ưu-thế về hỏa-lực và lưu-động tính của loại M113 trên chiến-trường Việt Nam, nhiệm-vụ quân-vận đã được đổi thành xung-kích mục-tiêu, chứ không còn chuyển-quân và yểm-trợ hỏa-lực cho Bộ-binh như trước nữa.

https://i0.wp.com/41.media.tumblr.com/42c214d3acc425ee9efe033a63259508/tumblr_mm1bvo4Nvh1qivon6o1_1280.jpgSau khi huấn-luyện và trang-bị Thiết-Vận-Xa M113. Chi-đoàn được tăng-phái cho Trung-đoàn 44 BB, đồn-trú tại Sông Mao mà vùng hoạt-động là Tiểu-khu Bình-Thuận thuộc Quân-khu 2.

Tháng 9-1969, Chi-đoàn 2/8 Thiết-kỵ được điều-động về Ban-Mê-Thuột, trong kế-hoạch hành- quân, giải-tỏa áp-lực địch, và bảo-vệ an-ninh Quốc-lộ 14, dọc theo biên-giới Cao-Miên, và Quốc-lộ 21 từ quận Khánh-Dương thuộc Khánh-Hòa đến Thị-xã Ban-Mê-Thuột.

Tháng 1-1970, trong chiến-dịch Đông-Xuân của CSBV, Sư-đoàn 320 và F10 CSBV tạo áp-lực nặng- nề dọc theo QL14 thuộc Khu 23 Chiến-thuật, vùng trách-nhiệm của Sư-đoàn 23 BB. Các Trung-đoàn Pháo và Hỏa-tiễn của CSBV, từ bên kia biên-giới Miên, pháo vào quận Đức-Lập và Bộ Chỉ-huy Hành-quân nhẹ của Sư-đoàn 23 BB, đóng cách quận Đức-Lập 5 Km về hướng Đông-Nam. Quốc-lộ 14 bị ngăn-chặn, đoạn từ Núi Lửa đến ngã ba Daksong, tỉnh Quảng-Đức và thị-trấn Gia-Nghĩa bị cô-lập buộc Sư-đoàn 23 BB, với BĐQ tăng-cường, giải-tỏa đoạn Quốc-lộ bị địch quân chiếm giữ.

Tại mặt trận Đức-Lập, Sư-đoàn 23 BB chỉ có hai Tiểu-đoàn thuộc Trung-đoàn 45 BB. Chi-đoàn 1/8 Chiến-xa và 3/8 Thiết-Kỵ được tăng-cường 2 Tiểu-đoàn BĐQ Cọp Ba Đầu Rằn và Tiểu-đoàn 23 BĐQ, 1 Đại-đội Pháo-binh 155 ly. Chi-đoàn 2/8 TK và Tiểu-đoàn 2/45 BB được làm trừ-bị tại Ban-Mê-Thuột và là lực-lượng mở đường tiếp-vận cho mặt trận Đức-Lập và bảo-vệ thị-trấn Ban-Mê-Thuột.

Lý-do chính mà Chi-đoàn 2/8 TK được giữ làm trừ-bị tại Ban-Mê-Thuột là bởi Chi-đoàn được xuất- phái hành-quân xa Thiết-đoàn trong một thời-gian khá lâu nên nhiều quân-dụng và Thiết-vận-xa cần được tu-bổ và thay-thế, kể cả quân-số cũng phải bổ-sung để nâng-cao khả-năng tác-chiến của Chi-đoàn.

Tôi còn nhớ rất rõ vào một buổi chiều, sau giấc ngủ trưa chưa đã giấc, tuy là ngoài trời đang nắng gắt, nhưng tôi vẫn cảm thấy ớn lạnh, cái ớn lạnh như muốn khởi đầu cho một cơn sốt rét ngã nước mà tôi đã từng chịu đựng vào năm 1967 khi cùng Thiết-đoàn 8 KB khai-thông Quốc-lộ 20, từ Bảo-Lộc xuống đến ranh-giới Vùng 3 Chiến-thuật.

Tiếng gõ cửa văn-phòng làm tôi giật mình bật dậy, thì ra thượng-sĩ Kiên, thường-vụ Chi-đoàn, trình tôi qua Thiết-đoàn nhận bổ-sung quân-số:

– Thưa đại-úy, mình xin 26 người mà Thiết-đoàn chỉ cho mình 14 tân-binh trong đợt này.

Nghe vậy, tôi liền bảo thượng-sĩ Kiên theo tôi qua Bộ Chỉ-huy Thiết-đoàn. Vừa xuyên qua hàng rào kẽm gai, tôi đã nhìn thấy lố-nhố một toán tân-binh xếp hàng hai đứng ở thế nghỉ, đang nghe sĩ quan trưởng-ban quân-số Thiết-đoàn hướng-dẫn. Ngay sau khi nhìn thấy tôi lại gần, anh dơ tay chào và vội giải-thích với tôi:

– Thưa đại-úy, theo lệnh của trung-tá Thiết-đoàn-trưỏng, vì phải bổ-sung cho Chi-đoàn 1 và 3 nên đợt này chỉ có thể bổ-sung 14 tân-binh cho Chi-đoàn 2 của đại-úy. Đến kỳ tới, tôi sẽ trình xin trung-tá dành ưu-tiên bổ-sung cho Chi-đoàn 2. Vậy xin đại-úy thông-cảm cho.

– Không sao, miễn anh lưu-tâm đến vấn-đề thiếu hụt của 2/8 là được.

Nhìn qua hai hàng tân-binh đang đứng, tôi hỏi:

– Sao các đợt tân-binh bổ-sung gần đây lại quá trẻ và non choẹt vậy?

Sở-dĩ tôi hỏi như vậy là vì tôi thấy trong nhóm tân-binh này, có em khuôn mặt quá trẻ so với vóc dáng của một người lính. Tôi đặc-biệt chú-ý đến một tân-binh ở cuối hàng, dù đã sạm nắng quân trường, nhưng vẫn không che dấu được cái dáng dấp của một trẻ thơ. Tôi liền tiến lại gần em và hỏi:

– Em tên gì? Bao nhiêu tuổi mà đăng lính vậy?

Em nhoẻn miệng cười, với một nụ cười rất hồn- nhiên và hãnh-diện, em trả lời:

– Em tên Nẫm, Nguyễn-Văn-Nẫm.

Nói tới đây, Nam chợt nhớ đến quân-kỷ bèn chụm chân lại theo thế Nghiêm và dõng-dạc đáp:

– Tân-binh Nguyễn-Văn-Nẫm, số-quân … trình-diện đại-úy và chờ lệnh.

Dáng-dấp, vẻ mặt ngộ của em làm tôi bật cười đầy thiện-cảm, và nói:

– Em chưa trả lời vào câu-hỏi về tuổi?

– Dạ thưa đại-úy, em 18 tuổi, em sinh ngày .. tháng .. năm ..

Nam nói rõ ngày sinh tháng đẻ cốt là để xác-định với tôi tuổi-tác của em là thật. Tôi cười thầm, nói với thượng-sĩ Kiên, HSQ thường-vụ:

– Anh Kiên à! Rất may là Chi-đoàn đã được trang-bị súng trường M16, nếu không tôi nghĩ cậu lính này không vác nổi khẩu Garant M1.

Kiên nhìn tôi, gật đầu ngỏ ý tán-thành và đáp:

– Cậu ta không thể làm xạ-thủ đại-liên 50 được đâu! Nhưng nó có thể là xạ-thủ đại-liên 30 với đíều-kiện là trưởng-xa phải đóng cho anh ta một cái thùng gỗ để đứng cao lên mà nhắm biểu-xích. Nếu không tầm nhìn của nó không cao hơn nắp cửa vuông, làm sao mà bắn được.

Tôi đồng-ý với Kiên. Thực lòng, tôi không muốn nhận Nẫm về Chi-đoàn của tôi, nhưng khi đếm lại toán tân-binh này, vừa vặn chỉ có 14 trự, tôi không còn sự lựa chọn nào khác hơn. Còn các tân-binh bổ-sung cho Chi-đoàn 1/8 CX và 3/8 TK đã được đưa xuống Đức-Lập bằng trực-thăng vào trưa hôm đó. Tôi lệnh cho thượng-sĩ Kiên đưa tân-binh về Chi-đoàn và mời các Chi-đội-trưởng lên họp để nhận tân-binh bổ-sung. Phần tôi vào văn-phòng Thiết-đoàn có chút việc rồi sẽ trở về Chi-đoàn ngay.

https://i2.wp.com/www.combatreform.org/tookers106blaster.jpgKhi trở về Chi-đoàn, Kiên vội chặn tôi lại từ xa để báo-cáo:

– Các ông Chi-đội-trưỏng đang giành tân-binh. Người nào cũng có lý-do chính-đáng để được ưu-tiên bổ-sung. Ông Đệ không giải-quyết được, mọi người đang chờ đại-úy về phân-phối.

Trung-úy N. P. Đệ là chi-đoàn-phó của tôi, vóc dáng tuy nhỏ thó nhưng lại là một cây húc, tính-tình hiền-hòa và cả nể nên thường bị các chi-đội-trưởng vòi-vĩnh. Anh từng chứng-tỏ là một sĩ-quan có đảm-lược trong các trận Bầu Ốc, Cây Táo, Đồi Hồi Tâm, Chiến-khu Lê Hồng Phong trong thời-gian Chi-đoàn và Trung-đoàn 44 BB hoạt-động tại Bình-Thuận, anh đã góp công trong nhiều chiến-thắng của đơn-vị.

Khi tôi vừa bước vào, trung-úy Đệ vội lên tiếng:

– Đó, đại-úy đã về rồi, ai muốn gì thì nói đi. Ai cũng đòi ưu-tiên hết! Thưa đại-úy, mình chỉ được bổ-sung có 14 ngoe, tôi chia cho Chi-đội 1 của thiếu-úy Thành 5 người vì thiếu 9; Chi-đội 2 thiếu 3 được bổ-sung 1; Chi-đội 3 của thiếu-úy Vân thiếu 6, tôi bổ-sung 3. Còn lại 5 người tôi ưu-tiên cho Chi-đội yểm-trợ của thiếu-úy Bổn. Nhưng vấn-đề được đặt ra là không ai chịu nhận cái thằng lính sữa này. (Đoạn Đệ chỉ vào tân-binh tên Nẫm). Người nào cũng đòi đổi nó lấy người khác, vậy xin tùy đại-úy quyết-định.

Tôi nhìn về Nẫm đang ở thế nghiêm, đứng lẻ-loi ngoài hàng, còn các người khác đã được Chi-đội tiếp nhận. Gặp ánh mắt của tôi, Nẫm cúi mặt nhìn xuống đôi giầy bóng loáng với nét mặt trầm-tư nhưng xúc-động. Tôi không hiểu Nẫm đang bất-mãn hay tủi-thân vì mọi người chế-diễu dáng-dấp quá non trẻ của em. Tôi hỏi Nẫm:

– Em thích vê Chi-đội nào?

Nẫm e-dè nhìn tôi chậm đáp:

– Thưa đại-úy, Em muôn về Chi-đội nào đi đầu. Em không muôn đi đằng sau.

Tôi và mọi người đều rất ngạc-nhiên về câu trả lời của Nẫm. Tôi thầm nghĩ, có thể em chưa biết gì về Thiết-giáp nên thuộc loại điếc không sợ súng, và cũng có thể Nẫm là người can-đảm. Trung-úy Đệ nói vào:

– Chi-đội nào rồi cũng đi đầu hết, vì mỗi Chi-đội đi đầu một lần. Chỉ riêng có Chi-đội Yểm-trợ là không đi đầu mà thôi, nhưng rất cực nhọc và phải được huấn-luyện thuần-thục về việc tiếp đạn cho súng cối và đại-bác 106 ly, sức em sao vác nổi?

Nẫm ngước mắt nhìn Đệ và nói:

– Em vác nổi… Trung-úy cho em vác thử, em sẽ vác nổi cho trung-úy coi. Nẫm khẳng-định như vậy.

– Nó vác một bình sữa để bú còn nổi nữa là vác đạn!

Câu nói đùa của một tân-binh đứng trong hàng làm mọi người cười rộ lên khiến Nẫm đỏ mặt. Nẫm hướng về chỗ vừa diễu nó mà nói:

– Đễ rồi coi, khi đụng trận mới biết ai can-đảm hơn ai!

Câu trả lời của Nẫm đã khiến tôi và các sĩ-quan có mặt đều ngạc-nhiên và hứng-thú. Tôi thầm nghĩ quả Nẫm thuộc loại can-đảm chứ không phải loại điếc không sợ súng. Tới đây bỗng trung-sĩ Ngô bước vào. Ngô còn độc-thân, thuộc loại to con, dáng đi hùng-dũng, có tập Thái-Cực-Đạo. Tôi chợt nảy ra ý-kiến giao Nẫm cho Chi-đội Yểm-trợ và đặc-biệt để trung-sĩ Ngô chăm nom và huấn-luyện Nẫm. Như vậy Nẫm sẽ có cơ-hội học hỏi kinh-nghiệm tác-chiến và khỏi bị đồng-đội ăn hiếp. Do đó tôi tuyên-bố:

– Tôi quyết-định cho tân-binh Nẫm về Chi-đội Yểm-trợ của thiếu-úy Bổn. Yêu-câu anh Bổn cho Nẫm về xa-đội của trung-sĩ Ngô để Ngô huấn-luyện và bao-bọc.

Trung-sĩ Ngô là trưởng-xa kiêm xạ- thủ đại-bác không giật 106 ly gắn trên M113. Đoạn tôi hướng về Ngô, và nói tiếp:

– Tôi giao em bé này cho cậu, cậu nhận nó làm con nuôi đi (tôi nói đùa), huấn-luyện và bảo bọc nó. Nó thuộc loại gà con háu đá lắm đó. Tôi thấy đỡm-lực nó không tệ đâu.

Từ ngày hôm sau, Nẫm và Ngô như bóng với hình. Nơi nào có Ngô là có Nẫm. Ngoài thời-gian xuất- trại mỗi đêm để ứng-chiến và phòng-thủ thị-xã Ban-Mê-Thuột, khi ở trại, Nẫm luôn-luôn quanh-quẩn chung quanh chiếc xe M113 có gắn Đại-bác 106 của Ngô. Phần Ngô đã hết lòng huấn-luyện Nẫm, từ cách tháo đạn 106 ly trong hộp giấy đến cách chuyền đạn cho xạ-thủ nạp vào súng. Cách tháo ráp Đại-liên 50, cách nối dây đạn DL50 và chuyển đạn cho xạ-thủ, cách thay nòng DL50 khẩn-cấp trong lúc giao-tranh, cách leo lên pháo-tháp. Ngô cũng đóng cho Nẫm 1 thùng gỗ nhỏ dùng để leo lên nắp cửa vuông M113 hay đứng để sử-dụng DL50 khi cần.

Mỗi khi có dịp đi ngang qua, tôi thấy Nẫm leo lên, leo xuống M113 thoăn-thoắt như một con sóc, có vẻ thuần-thục và hứng-thú lắm. Lúc nào tôi cũng thấy Nẫm cười. Còn trung-sĩ Ngô thì rất thân-thiết với Nẫm. Lúc rảnh Ngô còn truyền cho Nẫm mấy miếng võ Đại-Hàn. Nhân lúc thấy Nẫm đang chùi khối cơ-bẩm của SKZ106, tôi hỏi Ngô:

– Sao? Cậu con nuôi của anh đã học được những gì rồi, liệu đã ra trận được chưa?

Ngô đáp:

– Thưa đại-úy, nó coi nhỏ thó như vậy đó, nhưng lại khỏe, thông-minh và lanh-lẹ lắm. Em đã tập cho nó đứng trong xe, bịt mắt nó lại mà biểu nó lấy cái gì là nó lấy được ngay, rất thuần-thục.

Đoạn Ngô nói tiếp:

– Các nhân-viên xa-đội mới được bổ-sung đối với Chi-đội yêm-trợ là đã được huấn-luyện xong rồi đó đại-úy. Còn các Chi-đội khác, tôi không biết ra sao.

Tôi nhìn Ngô rồi nhìn Nẫm, gật đầu tỏ vẻ hài lòng về sự nổ-lực siêng năng của họ, rồi tôi nói:

– Nếu có dịp mở đường, tôi sẽ ra lệnh cho các Chi-đội cho tân kỵ-binh thực tập tác-xạ đại-liên 50 để làm quen với cách kềm giữ đạn-đạo.

Vừa dứt lời thì có tiếng của trung-úy Đệ từ sau vọng lại:

– Đại-úy, Thiết-đoàn mời đại-úy qua họp, tôi đã lấy sẵn bản-đồ cho đại-úy đây rồi.

Tiện dịp tôi hỏi Đệ:

– Tân-binh của các Chi-đội khác đã được huấn-luyện xong chưa?

– Thưa đại-úy đã xong, riêng phần thực-hành tác-xạ đại-liên 50 thì chưa, phải chờ dịp mở đường rồi thực tập là hoàn tất.

– Tôi nghĩ là ngày mai có thể Chi-đoàn mình phải mở đường tiếp-tế cho Đức-Lập và triệt-thoái quân-dụng bị hư-hỏng. Vào buổi trưa, anh cho tập-trung tân-binh để tập bắn DL50. Tôi sẽ xin Bộ Chỉ-huy Hành-quân chấp-thuận cho mình thực-tập, chắc không trở-ngại.

Khi vào phòng họp, tôi thấy sĩ-quan đại-diện các đơn-vị Bộ-binh, Pháo-binh và tiểu-đoàn- trưởng Biệt-động-quân đã có mặt. Chi-đoàn 2/8 TK do tôi chỉ-huy và 1 Tiểu-đoàn thuộc Trung-đoàn 45 BB có nhiệm-vụ mở đoạn đường từ Ban-Mê-Thuột xuống quận Đức-Lập khoảng hơn 30 cây-số cho đoàn xe chở BĐQ vào Đức-Lập. Trung-tá N. X. Hường, thiết-đoàn-trưởng Thiết-đoàn 8 Kỵ-Binh, chỉ-huy tổng-quát. Bộ Chỉ-huy cuộc Hành-quân đóng tại đầu đèo với 1 Trung-đội Pháo-binh 105 ly, được 1 Chi-đội V100 và Thiết-vận-xa M113 thuộc Chi-đội Chỉ-huy của Thiết-đoàn bảo-vệ tiếp-cận và 1 Đại-đội Thám-kích người Thượng an-ninh xa.

Khi qua cầu 14, nằm về phía Nam thị-trấn Ban-Mê-Thuột 7 cây-số thì QL14 biến thành một đoạn đường đèo nằm giữa đồi cao, suối sâu, ngoằn-ngoèo, hiểm-trở, chạy dài khoảng gần 10 cây-số. Đặc- biệt về phía bên phải, sau những đồi núi cao là một con suối không sâu, nước chảy nhẹ, có đoạn cặp sát vào dãy đồi nằm dọc theo QL14. Con suối này chính là ranh-giới giữa hai nước Việt-Nam và Cao- Miên. Nằm giữa đoạn đường đèo nay là một làng Thượng, tức buôn Dak Giăng, hoang-phế từ lâu. Theo tin tình-báo cho biết thì vào chiều 2 hôm trước, có khoảng 1 Trung-đội CSBV xuất-hiện khá lâu rồi rút về đất Miên. Ngoài ra tin-tức còn cho biết tại bên kia biên-giới có khoảng 2 Trung-đoàn Bộ-chiến và 1 Tiểu-đoàn Đặc-công CSBV đang thụ-huấn hay dưỡng quân.

Chúng tôi tập-trung trên QL14, từ nhà thờ Quân-đội tới làng Công-giáo ngang đài Phát-thanh. Đúng 6 giờ sáng thì xuất-phát. Sau khi Pháo-binh 105 ly vào vị-trí, họ sẽ bao vùng tới khỏi buôn Dak Giăng 3 cây-số về hướng Nam, đồng-thời Pháo-binh 155 ly tại Đức-Lập cũng bắn khỏi buôn Dak Giăng 4 cây-số về hướng Bắc. Tóm lại, Chi-đoàn sẽ được Pháo-binh cả 2 chiều yểm-trợ hữu-hiệu khi qua đèo.

Khi đoàn xe dẫn đầu vừa qua khỏi cầu 14, tôi nghe trong hệ-thống âm-thoại nội-bộ có tiếng của thiếu-úy Thành gọi:

– Chuyên-ân, đây Một gọi, mình chưa vào đèo nhưng sương mù quá dầy đặc. Đứa con dẫn đầu không thấy gì! Có nên mở đèn không? Hết.

-Một, đây Chuyên-ân, cứ tiếp-tục như trước. Khi vào Đống-Đa (đèo) thì chậm lại, cho Bê-bối (Bộ- binh) hạ-chiến. Nó sẽ Lam-Sơn (lục-soát) rộng ra theo Con rắn (Quốc-lộ), hãy bám sát họ. Hết.

Thiếu-tá Anh, tiểu-đoàn-trưởng BB, ngồi trên nắp cửa vuông, bên cạnh tôi, cũng vào hệ-thống truyền-tin nội-bộ lập lại ý tôi vừa nói.

Phải hơn 30 phút sau, Chi-đội dẫn đầu mới chớm vào đèo. Lúc này vừng Đông hửng sáng, ánh trăng cũng nhòe dần. Tôi quay sang hỏi Tiền-sát-viên Pháo-binh ở bên phải tôi:

-Anh đã cho mấy anh lớn (155ly) và anh nhỏ (105 ly) sẵn-sàng chưa?

– Dạ, tất cả đã sẵn sàng. Họ đang theo sát chúng ta.

Dọc theo trục tiến quân, tôi đã cho Pháo-binh lấy sẵn yếu-tố tác-xạ vào các điểm trọng-yếu và nghi- ngờ địch xuất-hiện, mã-hóa bằng chữ.

https://s-media-cache-ak0.pinimg.com/564x/b5/44/98/b544980d875655d47b13413dcde03d20.jpgTrời bắt đầu sáng tỏ, sương mù cũng tan dần. Theo đúng dự-trù, Chi-đội 2 đã trấn giữ 2 vị-trí ở đầu đèo. Chi-đội 3 cũng đã chế-ngự 2 đỉnh-đồi, có thể quan-sát và yểm-trợ trực-xạ cho Chi-đội 2 ở phía sau. Bộ-binh đã trải-dài và trấn giữ các yếu-điểm từ đầu đèo đến chiếc xe cuối của Chi-đội 3. Nhờ trời đã sáng tỏ nên nhịp tiến cũng nhanh hơn. Cứ với đà này, chỉ trong vòng 30 phút nữa là chúng tôi sẽ bắt tay được với cánh quân từ Đức-Lập tiến ra.

Đoàn quân di-chuyển đã tiến qua khúc quẹo hình chữ chi, Chi-đội 1 và BB dẫn đầu, đang tiến gần đến Buôn Dak Giăng. Theo sau là Phân-đội Chỉ-huy của Chi-đoàn gồm 2 M113, kế tiếp là Chi-đội 4 Yểm-trợ gồm 2 SKZ 106 ly và 3 súng cối 81 ly gắn trên M113. Sau cùng là 3 xe GMC chở Đại-đội BB, trừ-bị của đoàn xe trên QL14. Riêng Chi-đội 4 Yểm-trợ được điều-động lên đỉnh 488 nằm bên phải trục tiến quân như sau: Tôi cho 1 xe SKZ 106 ly và 1 xe SC81 ly lên đỉnh đồi 488 cùng với 1 Tiểu-đội BB an-ninh tiếp-cận. Phân-đội này có nhiệm-vụ quan-sát và sẵn-sàng yểm trợ Chi-đội 3 ở phía sau và Chi-đội 1 ở phía trước.

Khi Phân-đội Chỉ-huy của Chi-đoàn vừa vượt khuất cánh chỏ của chữ Chi thì bất thần nhiều tiếng súng Đại-Liên 50 khai-hỏa rồi một tiếng nổ thật lớn phát ra từ phía sau. Tiếp theo là tiếng DL50 nổ liên hồi, rồi tiếng nổ giòn-giã của AK và tiếng xé gió của B40 phóng ra hòa thành âm-thanh sôi-sục của chiến-trường. Chi-đội 4 báo-cáo:

– Địch quân trên triền dốc đồi 488 đang bắn ra và tràn xuống.

Thiếu-tá Anh, tiểu-đoàn-trưởng BB cho biết Đại-đội BB trên GMC đã hạ-chiến và đang tiến lên đồi phía phải. Từ đỉnh đồi 488, đại-liên địch bắn rát. Thiếu-úy Bổn, Chi-đội-trưởng 4 cho biết khi 2 TVX của Ngô và Rọ vừa vượt qua lùm cây gai mắc cỡ bên đường thì địch quân phục sẵn trong bụi bỏ chạy tán-loạn. Ngay sau khi phát-giác địch, hai xe của Ngô và Rọ liền bắn và cán dọc theo luống cây gai. Sau đó xạ-thủ đại-liên 50 của Ngô bị trúng đạn nên Nẫm thay thế tiếp-tục bắn DL50 yểm-trợ cho Ngô có thời-giờ tự lo tiếp và nạp đạn vào SKZ 106 ly để bắn.

Cũng vào lúc này, bất-ngờ 2 trực-thăng võ-trang, trên đường về hướng Đức-Lập, xuất-hiện trên vòm trời lửa đạn, họ vào tần-số của cánh quân mở đường để biết rõ tình-hình. Nhân dịp này, phi-hành đoàn cho biết quân VC ở về phía trái đang tiến lên Quốc-Lộ, tôi liền ra lệnh cho Chi-đội 1, để BB tùng-thiết nằm tại chỗ, chạy ngược vê điểm tôi đang đứng và bắn dọc theo 2 bên bờ suối, không cho địch-quân xung-phong lên Quốc-Lộ.

Đồng thời, trên TVX của Ngô, Nẫm như một con sóc, nhảy xuống sàn xe lấy đạn SKZ 106 ly chuyền lên cho Ngô nạp và bắn. Nẫm cũng chuyền lên thành xe 2 thùng đạn DL50 rồi tự nạp và bắn yểm-trợ cho BB tiến lên đồi. Sau khi khẩu SKZ vừa khai-hỏa xong, Nẫm lại nhảy xuống sàn xe tiếp đạn cho Ngô, rồi lại nhảy thót lên pháo-tháp bắn DL50, Nẫm cứ tiếp-tục liên hồi như vậy cho đến khi Đại-đội BB của đại-úy Tài chiếm được đồi 488 và địch quân phải rút về biên-giới Việt-Miên.

Để thanh-toán những tên VC còn sót lại của toán địch phục-kích dọc bên đường, Ngô dùng SKZ106 ly trực-xạ làm bể đôi những tảng đá bên vệ đường, 3 VC trang-bị B40 nấp đằng sau bị bất-tỉnh. Sau khi xuống xe để quan-sát mục-tiêu và bắt trói tù-binh trở về, Ngô giật mình không thấy Nẫm ngồi trên pháo-tháp DL50 nữa, nhìn xuống dưới sàn xe thì thấy Nẫm đã chết tự bao giờ bởi 1 viên đạn xuyên qua đầu. Ngô hốt-hoảng lấy máy gọi cho tôi, run-rẩy nói:

– Đại-úy ơi! Thằng Nẫm bị rồi!

Như tiếng sét đánh bên tai, tôi bủn-rủn cả người, lòng dạ tôi tơi-bời, tâm-tư tôi chùng xuống, tôi vội vã bỏ chạy đến xe của Ngô, cách đó khoảng 150 mét. Lúc tôi tới, Ngô nước mắt lưng tròng đang vực Nẫm từ trong xe ra. Trong khi tôi đang bùi ngùi, xúc-động, không cầm nổi hai dòng lệ chan-hòa thì Ngô lẫm-nhẩm nói:

– Tội nghiệp thằng nhỏ! Nó gan-dạ quá chừng. Em chưa thấy ai gan dạ như nó. Súng tụi địch bắn ra như vãi cát vậy mà nó lanh như con sóc, thoăn-thoắt nhảy lên, nhảy xuống, tự tiếp đạn cho nó rồi tiếp đạn cho em. Đạn đại-bác đâu phải là nhẹ, vậy mà nó nâng đạn lên như đồ chơi vậy. Em có biểu nó, lên xuống hãy khom người để tránh đạn, vậy mà nó cứ đứng khơi-khơi trên pháo-tháp Đại-liên. Chắc nó bị loạt đạn cuối cùng từ phía đôi bắn ra trước khi tụi chúng rút vê biên-giới.

Ngô vừa nói vừa nấc nghẹn-ngào.

Khi thông báo về hậu-cứ danh-tánh kỵ-binh tử-trận trên đầu máy, tôi được thượng-sĩ Kiên, Hạ-sĩ-quan thường-vụ, cho biết cha của Nẫm vừa lên Ban-Mê-Thuột thăm con và hiện đang chờ ở hậu-cứ. Tôi thở dài và càng bồi-hồi xúc động hơn.

Tổng-kết cuộc hành-quân này, chúng tôi ghi nhận như sau:

– Địch có 16 bị loại khỏi vòng chiến, 3 bị bắt, bị tịch thu toàn-bộ vũ khí trang-bị cho số quân tổn-thất như AK, B40, và B41.

– Chi-đoàn của tôi có 1 chết, 2 bị thương. 1 M113 trúng đạn B40 nhưng vẫn còn chạy tốt.

– Bộ-Binh có 2 chết và 11 bị thương.

***

Trời vừa tắt nắng, Chi-đội cuối của Chi-đoàn đã qua cầu 14 để vào Thị-trấn Ban-Mê-Thuột, thượng- sĩ Kiên đem xe Jeep ra đón tôi ở đầu cầu. Vừa lên xe, Kiên cho tôi biết:

– Thưa đại-úy, tên thật của tân kỵ-binh vừa tử-trận không phải là Nẫm. Nó đã dùng khai-sinh của anh nó để đăng lính. Ba nó lên đây có đem theo giấy tờ xuất-ngũ để nhận nó về. Bây giờ Ba nó đang ở Chi-đoàn đợi đại-úy. Tôi chưa dám báo cho ông ta biết là nó vừa tử-trận. Theo đại-úy thì mình phải xử trí thế nào đây?

Kiên hỏi làm tôi phải suy nghĩ, phân-vân và khó trả lời. Tôi chỉ nói:

– Tại mệnh-số của nó như vậy, mình đâu có biết để mà tránh cho nó!

Vừa nói xong, nước mắt tôi đã lưng tròng, trong tôi đang tìm lại những hình ảnh, sinh-hoạt của nó trong mấy ngày qua. Bỗng tôi buột miệng:

– Thằng bé dễ thương chi lạ!

Tôi bảo tài-xế cho tôi về thẳng hậu-cứ Chi-đoàn thay vì về nhà xác. Tôi muốn đích-thân báo tin và thưa chuyện với cha của Nẫm, sau đó tôi sẽ đưa ông đi viếng Nẫm và lo việc tẩm-liệm.

Bước chân vào văn-phòng, tôi thấy Ba của Nẫm đang nghẹo đầu trên thành ghế ngồi, khép mắt ngủ gật với vẻ mặt cực nhọc, nhưng có nhiều nét rất giống Nẫm. Lòng tôi lại chùng xuống, chan- hòa nước mắt. Tôi lấy bình-tĩnh, đánh thức ông dậy trong tiếng nấc nghẹn-ngào:

– Bác ơi!

Ông giật mình tỉnh giấc nhìn tôi. Tôi khóc và nói tiếp:

– Thằng Nẫm đã tử-trận sáng nay rồi, Bác ơi!

Ông vừa nghe vậy, bật đứng dậy, tôi bước tới ôm choàng lấy ông, tiếng khóc của tôi đã kéo theo tiếng khóc của ông. Tôi và ông đều khóc nức-nở. Tôi khóc như khóc cho chính đứa con ruột thịt của mình. Nức-nở cùng tôi ông nói:

– Tội nghiệp cho con tôi quá đại-úy ơi! Sao lại có thể như vậy được! Trời ơi!.. Đất ơi!. .Khổ cho tôi quá…

Tôi chỉ còn biết an-ủi ông:

– Thằng bé dễ thương quá Bác ơi! Nó thật là anh-hùng, gan-dạ hết chỗ nói!

Bỗng tiếng nói của thượng-sĩ Kiên kéo tôi về thực-tế:

– Đại-úy đưa Bác ấy qua nhà Vĩnh-biệt để Trung-đội chung-sự còn tẩm-liệm cho nó. Họ chờ đã lâu rồi và trời cũng đã tối.

Tôi nhìn ra ngoài thì trời đã vào đêm, tôi mời Ba của Nẫm:

– Để tôi đưa Bác ra xe, qua nhà Vmh-biệt tẩm-liệm cho cháu.

Trên đường đến Quân-Y-Viện, nơi quàn Nẫm, ông nói:

– Đai-úy có biết không? Gần 3 tháng nay, tôi mất ăn, mất ngủ vì nó, tôi tìm nó khắp mọi nơi! Tôi đâu có ngờ nó đã đăng lính! Vì nó mới có 16 tuổi, đăng lính mà ai nhận. Rồi ông xuống giọng nói tiếp:

– Tôi chỉ sợ mấy ông trong bưng rủ-rê nó hay bắt ép nó vào bưng. Tôi tìm hỏi riết rồi một thằng bạn nó thấy tôi đau buồn quá nỗi nên mới xì ra cho tôi hay là thằng Nam đã đăng lính Thiết-Giáp. Nó lấy khai-sinh của anh nó là thằng Nẫm, đủ 18 tuổi.

Rồi ông tiếp:

– Mà cũng ác đức thật, ai đời mặt non choẹt như vậy mà mấy ông tuyển-mộ cũng tin nó đủ 18 tuổi! Thật tội-nghiệp cho con tôi, nó mê gì mà mê Thiết-Giáp dữ-dằn vậy? Mỗi lần Thiết-Giáp về hành-quân trong quận tôi là nó lấy xe đạp chạy rượt theo tít mù cho tới khi xe Thiết-giáp vào bưng nó mới chịu quay vê nhà. Mà tôi cũng tối dạ thật, phải chi tôi biết nó đăng lính Thiết-giáp thì tôi đã sớm xin cho nó xuất-ngũ rồi. Thì nó đâu có bị chết như thế này. Lấy bình-tĩnh ông nói:

– Tôi tên là Nguyễn-Văn-Năm, tôi đã đặt tên cho các con theo vân chữ “N” hết. Hai thằng lớn đã tử- trận tên Nhàn và Nhẫn, rồi tới Nẫm và Nam. Tôi muốn có thêm con trai, nhưng bà nhà tôi sợ đẻ thêm một đứa con trai nữa thành ngũ quỷ, không nên. Và ông kết-thúc:

– Có bao nhiêu con trai mới đủ cho đất nước hở đại-úy?

Xe chưa kịp ngừng hẳn tại nhà Vĩnh-Biệt thì Ba của Nẫm đã nhảy xuống, chạy vào nhà quàn khóc nức-nở. Khi tôi vào thì ông đang săn-sóc cho con, vừa làm vừa kể nỗi nhớ thương của mọi người trong gia-đình khi nó vắng nhà, ông coi như thằng Nẫm đang nằm nghe ông kể chuyện trong nhà. Tôi bước lại gần nhìn Nẫm, tôi thấy nét mặt em vẵn còn tươi như đang ngủ. Miệng em như nở nụ cười mãn- nguyện. Nhìn em, tôi lại nước mắt lưng tròng. Vào ra trận-chiến đã nhiều phen, kẻ ở người đi đã bao lần, mà lần này sao tôi lại quá nhiều thương-cảm.

Trong đêm hôm ấy, đang ở vị-trí phòng-thủ trong thành-phố, tôi được báo-cáo: “Ba của Nẫm muốn đưa con về quê chôn cất cạnh 2 anh của nó, tên Nhàn và Nhẫn, cũng đã tử trận cách đây vài năm. ông Năm yêu-cầu đừng hàn kín hòm kẽm, để ông thấy mặt con thêm một đêm nữa.”

Sáng hôm sau, theo dự-trù thì quan-tài của Nẫm sẽ được đưa ra bến xe, tôi đến nhà quàn để nhìn Nẫm lần chót. Khi bước vào nhà Vĩnh-biệt, ông Năm hãy còn phủ-phục trên xác con. Tôi tiến lại gần Nẫm, nhìn Nẫm lần cuối, rồi nhìn ông Năm.. Tôi chưa biết phải làm gì và an-ủi ông như thế nào, bất-giác tôi nói:

– Thôi, như vậy là đủ cho em Nẫm rồi! Xin Bác vui lòng ra ngồi nghỉ, Bác sẽ thắp nhang và nhìn em lần cuối trước khi đậy nắp quan tài.

Nghe vậy, ông Năm quắc mắt nhìn tôi rồi dằn giọng:

– Nó là thằng Nam. Nó tên Nam. Nẫm là tên anh nó. Nam, con út của tôi chết. Nẫm nó chưa chết.

Thấy tôi ngỡ-ngàng, ông liền hạ giọng:

– Thằng Nam nó mê Thiết-Giáp, nó muốn ở với đồng-đội của nó. Vậy tôi xin giao nó cho đại-úy. Tôi không đưa nó về quê nữa, đại-úy có lo cho nó được không?

Tôi chưa hiểu ý ông muốn gì nên hỏi lại:

– Bác ơi, Thằng Nam không còn nữa, làm sao em có thể ở lại với chúng tôi? Ý Bác muốn gì? Tôi chưa hiểu rõ!

– Ý tôi muốn an-táng thằng Nam tại nghĩa-trang cạnh đơn-vị, để Nam bên các bạn Thiết-giáp của nó. Hôm qua, trong lúc chờ đại-úy về, tôi có đi chung-quanh hàng rào doanh-trại thì tôi thấy mấy chú lính Thiết-giáp đang cắm nhang cho các mộ-phần trong nghĩa-trang. Hỏi ra tôi mới biết đó là mộ-phần của anh em Thiết-giáp tử-trận được mai-táng ở đây, nên tôi có ý-định xin đại-úy cho thằng Nam được chôn ở đây luôn, chứ về dưới quê tôi, phải chôn ở trong xa, vùng mất an-ninh, mấy khi mà vào nhang khói cho nó được!

Tôi mừng cho Nam và nói:

– Bác đã quyết định như vậy, xin để Trung-đội Chung-sự làm phận-sự, và chúng tôi sẽ lo việc an-táng.

Tôi liền gọi về Chi-đoàn, cho người liên-lạc với quản-lý nghĩa-trang để xin một phần mộ, đồng thời chuẩn-bị xe cộ và lo đào huyệt xong trước 9 giờ sáng. Trung-sĩ Ngô dù thức suốt đêm qua với Nam, nhưng khi hay tin ông Năm quyết-định mai táng con mình tại nghĩa-trang cạnh Thiết-đoàn, thì anh đã tình nguyện chỉ-huy và tham-dự việc đào huyệt cho Nam, đứa em nuôi kết-nghĩa. Trước khi hạ huyệt, lúc tôi giới thiệu ông Năm với Trung-sĩ Ngô, anh đã ôm lấy ông Năm mà khóc nức nở.

Lễ hạ-huyệt được cử hành thật trang-nghiêm và xúc-động, khiến những người có mặt không ai khỏi bùi-ngùi, thương-tiếc một kỵ-binh trẻ anh-hùng tên Nẫm tức Nam, con trai út của ông Năm.

Sau lễ mai-táng Kỵ-binh Nguyễn-Văn-Nẫm tên Nam, tôi đích-thân đưa ông Năm ra bến xe đò để rời thị trấn xuôi Nam, ông Năm cám-ơn tôi nhưng xúc-động không nói nên lời. Tôi nhìn theo ông Năm lên xe rời bến. Xe chở ông Năm nhạt-nhòa trong ánh mắt rõi theo của tôi. Lời ca của một bài hát quen thuộc vang-vọng từ quán nước bên đường đã làm cho hồi tôi rung-động khiến tôi không còn nhớ xe của ông Năm đã khuất xa từ bao giờ.

Những sớm mai lửa đạn
Những máu xương chập-chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống
Thấy bóng Thiên-đường cuối trời thênh-thang

Thiếu-tá Hàng-Phong-Cao
Thiết-đoàn-phó Thiết-đoàn 8 Kỵ-binh