Showing posts with label quốc lộ 19. Show all posts
Showing posts with label quốc lộ 19. Show all posts

Saturday, March 14, 2026

 

HỒI ỨC VỀ TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VĨNH THẠNH*

*Thời điểm của sự kiện này, năm 1965, đại úy Từ Vấn, là chỉ huy trưởng các trại LLĐB trong tỉnh Bình Định, sau này ông là đại tá tư lịnh phó của sđ 5 bộ binh.

Chuyển ngữ từ sách: Protected Will Never Know của Leigh Wade.

=========

CHƯƠNG 8

. . .

Tối hôm đó, sau bữa ăn, chúng tôi đã họp toán và Durr và Emert đã nói với chúng tôi rằng họ đã biết phần nào về nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ thay Toán A-122 của đại úy Myers. Toán này đang ở Trại Tuy Phước, trên quốc lộ (QL-19). Tính tới thời điểm đó, trại Tuy Phước của toán A-122 đã tham gia nhiều trận đánh nhằm khai thông quốc lộ 19, chạy từ thành phố Qui Nhơn ven biển tới tp Pleiku ở Cao nguyên Trung phần.

Quốc lộ 19, đặc biệt đoạn chạy ngang đèo Mang Yang nổi tiếng vì nguy hiểm, đã từng là địa điểm của nhiều trận đánh từ thời Pháp. Phần lớn các quân nhân của lực lượng đặc biệt (LLĐB) đều nghiên cứu thảm họa từng đổ ập xuống Chiến đoàn Lưu động 100 của Pháp khi họ bị phục kích trên đường này năm 1954. Chỉ 7 tháng trước khi chúng tôi đến vùng này vào tháng Mười, khu vực chung quanh Mang Yang lại lần nữa là bãi chiến trường ác liệt giữa biệt kích quân của LLĐB và quân chính quy CSBV và VC.

Trại Tuy Phước nằm ở phía đông của Đèo Mang Yang, trên một bình nguyên, trong một khu vực mà mùa hè 1965 được xếp hạng "đã bình định". SĐ 1 Không Kỵ vừa dời đến An Khê, và các phần tử của sđ Mãnh Hổ Đại Hàn đang bắt đầu tới Qui Nhơn. Trừ những cuộc phục kích có tính quấy rối thỉnh thoảng xảy ra trên QL-19, quân CSBV và VC, giờ đây đã bỏ ý định kiểm soát đường này và chuyển xa về phía bắc, sâu hơn vào núi và thung lũng.

Nhiệm vụ của chúng tôi, đại úy Durr nói, là sẽ giao trại Tuy Phước cho quân Đại Hàn, và lập một trại mới ở một địa điểm nguy hiểm hơn ở tây bắc An Khê. Khu vực này có tên chính thức là thung lũng Vĩnh Thạnh.

Ngày kế, toán chúng tôi tách làm hai, phân nửa bay trực thăng tới toán B ở Qui Nhơn, phần còn lại bay bằng C-130 tới toán C ở Pleiku. (Theo tổ chức của LLĐB, mỗi quân khu của VNCH có một toán C, chỉ huy các toán B đặt tại các tỉnh. Mỗi toán B chỉ huy các toán A (gồm 12 người), đặt tại các trại trong phạm vị tỉnh.--Người dịch). Những người tới Qui Nhơn sẽ gặp đại diện của toán A-122, để thuyết trình tại toán B, kế đó tất cả chúng tôi sẽ bay bằng trực thăng tới Pleiku, sau đó đi xe tải tới trại Tuy Phước.

Tôi đi với toán Qui Nhơn để tôi có ký một số văn kiện mật tại đó. Qui Nhơn là một tp ven biển khác, tôi đã thấy lần đầu vào mùa hè 1965, tp vẫn còn yên tỉnh, dù một vài dấu hiệu của việc đổ quân Mỹ đang diển ra. Qui Nhơn ko đẹp như Nha Trang, nhưng phong cảnh vẫn hữu tình, với một bãi biển đẹp cát trắng.

Chúng tôi đã gặp các đại diện của A-122 gồm đại úy Myers và trung sĩ nhứt Prinn ở BCH của toán B. Toán B nằm ngay trên đường chạy dọc bờ biển và kế trụ sở của chi nhánh của Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MACV. (Nói thêm: Theo BĐQ Nguyễn Tiến Qua, thời điểm 1965, đại úy Từ Vấn là chỉ huy các toán LLĐB của VN trong các trại trong lãnh thổ tỉnh Bình Định. Trong hồi ký Đường Về Gia Nghĩa của thiếu tá Vương Mộng Long, năm 1974, ông Vấn chỉ huy liên đoàn 24 BĐQ; năm 1975, ông là TL phó của SĐ 5 bộ binh. -- Người dịch). Muốn vào nơi làm việc của toán B LLĐB, chúng tôi phải đi qua cổng do MACV kiểm soát, và đây điều chúng tôi luôn khó chịu. Nhân viên của MACV tự coi họ là REMF, tiếng lóng trong quân đội Mỹ để mỉa mai những người lính làm việc ở văn phòng hay hậu cứ, và họ thích nghĩ rằng Qui Nhơn là một hậu cứ an toàn và ko cho phép người của họ ra vào khu vực này mà mang vũ khí. Toán B của chúng tôi, đang yểm trợ một số toán A đóng tại các khu vực rất nguy hiểm, và khi người chúng tôi về phố thị, họ mang theo súng đạn, lựu đạn, dao. Các nhân viên của LLĐB Mỹ thường tháp tùng bởi một toán lính Thượng ăn mặc lôi thôi (disreputable), võ trang đầy mình. Ít nhứt có một lần, chúng tôi nghe nói, xảy ra lộn xộn tại cổng MACV liên quan đến người của chúng tôi.

Toán A mà chúng tôi thay thế đã mướn một nơi gần biển cho các thành viên của họ ở khi họ đến tp này. Họ gọi những nơi này là "nhà an toàn" (safe house) và trung sĩ Prinn đã đưa chúng tôi đến nhà an toàn của họ, giới thiệu chúng tôi với bà chủ nhà, và chúng tôi ký hợp đồng.

Căn hộ này nằm trên tầng hai của một tòa nhà hai tầng, có rào. Bà chủ nhà và gia đình ở tầng trệt. Nhà có sân thượng và cầu thang lên sân thượng. Có một ga-ra nhỏ nơi một xe jeep có thể đậu an toàn mà ko bị đặt bom. Căn hộ có hai phòng ngủ và một nhà tắm, chứa được 2-3 người.

Các thành viên của A-122 cũng giới thiệu vài hạ sĩ quan làm việc cho một đv tiếp vận trong tp. Các hàng kỷ vật chiến tranh như cờ VC và vũ khí được xem là một món hàng ưa thích nhứt ở các đv lo về hậu cần và được trao đổi để lấy thực phẩm và thuốc lá. "Chúng tôi có một thợ may ở ngay bên ngoài cổng làm cờ cho chúng tôi,"Prinn nói,"do đó bạn ko bao giờ hết cờ. Bạn có thể có một thùng bò hầm (steak) cho hai lá cờ."

Nhưng chúng tôi ko ngủ đêm ở Qui Nhơn, nhưng đi trực thăng vào buổi chiều để đến Pleiku.

Sáng hôm sau, chúng tôi thực tập nhẩy dù, và buổi chiều dự thuyết trình. Khi chờ nghe chi tiết về trại dân sự chiến đấu (DSCĐ) Tuy Phước mà chúng tôi sắp đáo nhậm, tôi đã thất vọng khi nghe rằng sẽ ko làm việc với người Thượng, như tôi hy vọng. "Trại này sẽ xa hơn về phía đông,"Myers nói.

CHƯƠNG 9

Sáng ngày kế chúng tôi đã leo lên những xe GMC loại 2 tấn rưởi để theo quốc lộ (QL-19) về trại mới của chúng tôi. Sàn xe được lót bằng bao cát để chống mìn, và tất cả vãi bố và thành xe (sideboard) đã được gở. Một cây bằng thép (neck-wire catcher), xem hình, được hàn ở cản trước (frond end), để cắt dây kẽm do địch giăng ngang đường nhằm giết người ngồi hay đứng trên xe. Toán C đã cho một tiểu đội an ninh trại người Thượng tháp tùng chúng tôi trong chuyến đi này.

Chúng tôi đi ở cuối đoàn xe, vũ khí trong thế phản phục kích, xe bắt đầu hướng về phía đông đến đèo Mang Yang. Như tôi đã viết, dù đường lúc này được xem là "an toàn", thỉnh thoảng (occasionally) vẫn có những cuộc phục kích dọc đường này, và đường này từ lâu đã nổi tiếng là một cái bẫy chết người khiến chúng tôi luôn lo lắng.

Khi chúng tôi đi ngang căn cứ An Khê nơi đặt BTL của sđ 1 Không kỵ, đường bắt đầu đổ dốc xuống đèo, nguy hiểm càng lúc gia tăng. Đây là nơi lý tưởng để phục kích. Những ngọn đồi dốc đứng và đầy cây cối bị sương mù (mist) che lấp sừng sửng hai bên đường. Có nhiều khúc cua "cùi chỏ" (switchback) và những điểm mù khác nơi mà một người với một súng chống tăng có thể chận (hold off) một đội xe cơ giới. Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những gì còn lại của các trận đánh trước, mà mới nhứt là một chiếc C-123 thả hỏa châu rơi vài tháng trước đó.

Khi qua khỏi đèo này, đường đã thẳng trở lại và lưu thông gia tăng. Chúng tôi đi ngang những toán lính chính phủ đóng ở nhiều đồn dọc theo đường, và dân địa phương ở những làng nhỏ mà chúng tôi đi qua có vẻ thân thiện, dù điều này phần nào là một ảo tưởng (illusion).

Chúng đã nghe trong một buổi thuyết trình về một biến cố (incident) gần đây liên quan đến một sĩ quan và hai hạ sĩ quan (NCO) Mỹ tại một trong những làng "thân thiện" này. Một buổi chiều cách đây vài tuần, họ đã đậu xe jeep trước một nhà hàng nằm trên đường này để ăn trưa. Khoảng nửa giờ sau, họ lên xe, chạy khoảng 200 mét thì xe nổ thành một quả cầu lửa, giết chết cả ba người.

"Điều mà Việt Cộng đã làm," viên sĩ quan Phòng 2 nói với chúng tôi, "là dùng băng keo dán chung quanh chốt an toàn của một quả lựu đạn, và thả lựu đạn vào bình xăng của xe quân sự Mỹ. Chỉ sau một lát, xăng sẽ làm lỏng keo của băng dán và chốt an toàn được nhả ra, khiến lựu đạn nổ. Chuyển động của xe gia tăng tác động của xăng đối với băng keo, do vậy thường có ai lái khi xe bị nổ."

Để chống lại điều này, lưới được hàn ở miệng bình xăng, nhưng phải cần thời gian để làm điều này. Trong khi đó, có khuyến cáo rằng ko xe nào đậu ở khu dân cư, mà ko có người bảo vệ, dù dân có mỉm cười và nói, "Number-one!" 

...

SJ ngày 14/3/2026.

Tài Trần


 

Sunday, April 21, 2024

 Trận Đèo An Khê Trong Mùa Hè Đỏ Lửa (Battle of An Khe Pass in Easter Offensive 1972)

By Chientranh Last updated Dec 14, 2020

Lời nói đầu: Trong 1 hồi ký của nhà văn Phạm tín An Ninh, ông kể lại năm 1972 trung đoàn 44 được lịnh di chuyển gấp từ Sông Mao lên Kontum. Trên đường đi, trung đoàn đã dự một số trận đánh trên QL-19 để giải vây cho quân Đại Hàn, nhưng ko nói rõ tổn thất đôi bên. Trong lúc tìm thông tin về một trận đánh của quân Mỹ gần thung lũng Vĩnh Thạnh, ở đông bắc An Khê, tôi biết được một thông tin về Trận đánh Đèo An Khê 1972 -- do một tác giả CS viết. Tuy là văn phong của CS, nhưng tác giả rất trung thực khi nói 1 đại đội đặc công và ba đại đội bộ binh dự trận này đã bị thiệt hại nặng, gần như xóa sổ. Thay vì dùng chữ "ngụy quân, hay quân chư hầu Nam Triều Tiên, v.v..." họ đã gọi QLVNCH, quân đội Nam Triều Tiên. Vì vậy tôi mạnh dạn giới thiệu bài này tới bạn đọc. 

(Năm 1972, các trận An Lộc, Kontum, và Quảng Trị đều được đăng trên báo chí quốc tế. Nhưng trận đánh tại Đèo An Khê, vì quy mô quá nhỏ, nên chỉ đăng trên báo chí VN, và đã đi vào quên lảng). 



Trận đèo An Khê trong Mùa Hè Đỏ Lửa - Battle of An Khe Pass in Easter Offensive 1972 - Chiến tranh việt Nam, Viet Nam War, hình ảnh, phim cuộc chiến chống Mỹ, Pháp (chientruongvietnam.com)

Trận đèo An Khê năm 1972 (Battle of An Khe Pass in Easter Offensive 1972) là trận đánh giữa trung đoàn 12 thuộc sư đoàn 3 quân Giải Phóng và lính Đại Hàn trong chiến dịch Xuân Hè hay còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972


PHẦN I

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, quân Giải Phóng mở Chiến dịch Xuân – Hè 1972, còn được biết đến với tên gọi Mùa hè đỏ lửa (theo cách gọi của phía Việt Nam Cộng hòa), hoặc Easter Offensive (theo cách gọi của Hoa Kỳ).  Chiến dịch Xuân Hè tập trung ở 4 mặt trận nhưng chỉ có 3 mặt trận là chính bao gồm : Mặt trận Quảng Trị, mặt trận Kontum, mặt trận An Lộc, ngoài ra còn có mặt trận Quảng Nam nhưng chỉ là thứ yếu nhằm cầm chân lực lượng vùng duyên hải chứ không tăng viện cho các mặt trận kia. Phía Quân Giải Phóng đã huy động cho chiến dịch này lên đến 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập

Ngày 30 tháng 3, quân Giải Phóng bắt đầu chiến dịch Xuân Hè 1972 bằng cách mở mặt trận Quảng Trị. Từ phía Bắc, sư đoàn 308, 320B vượt sông Bến Hải tấn công Cam Lộ, Cồn Tiên. Ở phía Tây Quảng Trị, sư đoàn 312, 316, 325 tấn công căn cứ Đầu Mầu, Tân Lâm, … Phía Tây Nam, sư đoàn 324 tấn công Động Ông Do, cao điểm 440,...


Ở mặt trận Kontum, cũng ngày 30 tháng 3, ba sư đoàn quân Giải Phóng là sư đoàn 3, sư đoàn 10 và sư đoàn 320 cùng 4 trung đoàn độc lập với sự yểm trợ của xe tăng đã tấn công Kontum. Tại mặt trận Tây Nguyên, đường 19 và đường 21 có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với lực lượng quân đội hai bên ở Tây Nguyên. Đường 19 và đường 21 được ví như cái cuống họng, chiến trường Tây Nguyên như cái dạ dày. Ngoài hai trục đường này còn có thêm đường số 7 nối liền quốc lộ 1 ở tỉnh Phú Yên với quốc lộ 14 tỉnh Đắc Lắc. Tuy nhiên đường số 7 đã hư hỏng, từ lâu không sử dụng được. Đường 19 và 21 trở thành 2 trục đường huyết mạch, nối liền các tỉnh đồng bằng miền Trung với Tây Nguyên, và có tính quyết định sống còn đối với quân đội và chính quyền của địch ở đây.

Nếu bạn có dịp đi từ thành phố Quy Nhơn, theo đường Quốc lộ số 1 ra hướng Bắc, đến ngã ba đường số 1 và đường số 19, đi tiếp khoảng 60 km theo đường số 19 là đến đèo An Khê. Đèo An Khê dài trên 10 km, rất hiểm trở có nhiều đoạn cua, gấp khúc, xe cơ giới không sao chạy nhanh được. Hai bên đường đèo là đồi núi liên hoàn. Đèo An Khê hiện ra với con đường ngoằn nghèo chạy theo sườn phía Nam dãy núi Ông Bình. Từ cống Hang Dơi, chân đèo thuộc phần đất của tỉnh Bình Định, lên núi Cây Rui dài khoảng 10 km, là đoạn đường hiểm trở nhất. Núi Cây Rui là ranh giới giữa hai tỉnh: Bình Định và Gia Lai. Đi thêm nữa là đèo Mang Yang nơi khi xưa vào ngày 24 tháng 6 năm 1954 đã xảy ra trận đèo Mang Yang phục kích binh đoàn 100 của Pháp khiến Pháp thiệt hại rất nặng. Chạy gần như song song với đường 19 về phía Đông – Đông Nam là sông Côn và một nhánh của sông Côn là sông Cái. Sông Côn rộng có nơi khoảng 200m, cách đường 19 trung bình 1km.

Trận Đèo An Khê năm 1972 trên đường 19 trong chiến tranh Việt Nam - Battle of An Khe pass on route 19 in Vietnam war.

Sư đoàn 3 Quân Giải Phóng có 3 trung đoàn gồm trung đoàn 2, 12 và 22 di chuyển từ Quảng Ngãi vào Quảng Nam. Sau Tết Mậu Thân đã bị tổn thất nặng. Theo lệnh của Quân khu, tháng 2 năm 1970, sư đoàn bộ binh 3 giải thể trung đoàn 22, đưa lực lượng xuống các tỉnh để hoạt động: Tiểu đoàn 7 về tỉnh Quảng Ngãi; Tiểu đoàn 8 về Bình Định; Tiểu đoàn 9 về Phú Yên. Trung đoàn bộ binh 21 từ miền Bắc vào, do đồng chí Việt Sơn làm trung đoàn trưởng, được điều về thay cho trung đoàn bộ binh 22. Năm 1972, quân khu 5 quyết định giải thể sư đoàn 711 và trung đoàn bộ binh 21 để lấy binh sĩ bổ sung cho các đơn vị khác. Sư đoàn 3 do đó chỉ còn 2 trung đoàn bao gồm trung đoàn bộ binh 2 hoạt động tại các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát và trung đoàn bộ binh 12 chuyển vào phía Nam tỉnh Bình Định, tập trung chủ yếu đường 19.

Nhiệm vụ của trung đoàn bộ binh 12 trong  trận đèo An Khê (Battle of An Khe Pass) trong chiến dịch Xuân – Hè năm 1972 là cắt đứt giao thông tiếp tế của quân VNCH trên đường 19 từ đồng bằng miền Trung lên cao nguyên và kìm giữ sư đoàn “Mãnh Hổ” Đại Hàn và một bộ phận quân chủ lực Sài Gòn, tạo thuận lợi cho mặt trận B3 ở Tây Nguyên và đồng thời cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ tại chiến trường Bắc – Bình Định.

Lực lượng Đại Hàn (Nam Triều Tiên), đồng minh của Mỹ, trên chiến trường thuộc Liên khu 5, có 3 đơn vị: Tại tỉnh Quảng Ngãi có lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến “Rồng xanh” (Thanh Long); lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến “Bạch Mã” ở Phú Yên. Sư đoàn bộ binh “Mãnh Hổ” ở tỉnh Bình Định, chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ đường 19

Mục tiêu của quân Giải Phóng như sau :

Mùa xuân năm 1972, mặt trận B3 mở chiến dịch Tây Nguyên nhằm: “Tiêu diệt địch, giải phóng Daktô, Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kontum, và phát triển xuống Plâyku, giải phóng thị xã Buôn Mê Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”

Binh sĩ Mỹ trên đèo Mang Yang đường 19 trước trận Đèo An Khê năm 1972 trên đường 19 trong chiến tranh Việt Nam – Us soldiers on Mang Yang pass, route 19 before battle of An Khe pass on route 19 in Vietnam war

Để hỗ trợ mục tiêu trên, phía lực lượng sư đoàn 3 ở đồng bằng cần tập trung lực lượng, xây dựng cụm chốt cắt giao thông tại đèo An Khê trên đường 19, chủ yếu từ Cống Hang Dơi phía Đông đèo đến núi Cây Rui, đỉnh đèo có chiều dài từ 15 đến 20 km, với quyết tâm là đánh bại mọi cuộc phản kích giải tỏa của quân VNCH, cắt đứt mọi sự vận chuyển tiếp tế của phía VNCH từ đồng bằng lên Tây Nguyên

Do vị trí hết sức quan trọng của tuyến đường 19 đối với sự sống còn của các lực lượng đồn trú và hệ thống chính quyền của địch ở vùng cao nguyên; Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bố trí tại đây (chủ yếu tại đèo An Khê xuống xã Bình Nghi trên trục đường 19) nhiều đơn thiện chiến của Nam Triều Tiên như sư đoàn Mãnh Hổ (6 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 24), lữ đoàn Bạch Mã (1 tiểu đoàn) cùng 5 đại đội bảo an VNCH. Khi cần thiết có thể tung các trung đoàn chủ lực cơ động thuộc sư đoàn 2, sư đoàn 23, 4 liên đoàn Biệt Động Quân lên giải toả.

PHẦN 2.

                    

Các vũ khí của sư đoàn 3 Sao Vàng Quân Giải Phóng mà binh sĩ sư đoàn Mãnh Hổ của Đại Hàn thu được sau trận đèo An Khê 1972 trong chiến tranh Việt Nam - North Vietnamese weapons captured by South Korean Tiger division after battle of An Khe pass in Vietnam war 1972

Do vị trí xung yếu và là đường huyết mạch chi viện cho cao nguyên, để phòng ngự đường 19 trong trận đèo An Khê trong  chiến dịch Xuân Hè hay còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 (Battle of An Khe Pass in Easter Offensive 1972), binh sĩ Đại Hàn đã thiết lập nhiều vị trí chốt chặn.

Lực lượng trung đoàn 2 Quân Giải Phóng thiết lập nhiều chốt dọc theo đường 19 với mục đích cắt đường tiếp tế huyết mạch này. Cụm chốt chính (nằm ở phía Đông đường 19) bao gồm điểm cao 638 – chốt Cây Rui, điểm cao 384, cống Hang Dơi do tiểu đoàn 6 bộ binh gồm 3 đại dội 61-62-63 chốt giữ. Cụm chốt phụ (nằm ở phía Tây đường 19): chốt giữ từ suối Văn Ngày đến suối Vôi do 2 đại đội công binh chốt giữ. Nhiệm vụ của cụm chốt phụ, là trợ lực cho cụm chốt chính, phân chia lực lượng binh sĩ Đại Hàn tại đây, tổ chức phòng ngự từ xa cho cụm chốt chính.

Điểm quan trọng của toàn bộ chiến dịch là đại đội đặc công của quân khu đánh chiếm được mỏm phía Bắc của điểm cao 638 nơi có 1 đại đội thuộc sư đoàn Mãnh Hổ đang chốt giữ để đại đội 61, triển khai lực lượng trên cả 2 mỏm điểm cao hình thành thế Ỷ Dốc.

Đêm ngày 9-4 tất cả các lực lượng làm nhiệm vụ chiến đấu tại trận đèo An Khê  (battle of An Khe pass) của trung đoàn bộ binh 12 đã triển khai xong về nơi tập kết, chuẩn bị công sự.

2h12 sáng ngày 10/4, khi đại đội đặc công tiếp cận mỏm phía Bắc của chốt Cây Rui đã bị lộ ngay tại lớp hàng rào kẽm gai đầu tiên, không thực hiện được đánh chốt địch bằng phương án mật tập. Cối 82 ly của địch, được ống ngắm hồng ngoại chỉ định mục tiêu, phối hợp với 4 trực thăng vũ trang đã dần nát đại đội đặc công. Toàn đại đội đặc công gần như xóa xổ sau 10 phút giao tranh, theo như tài liệu của sư đoàn Mãnh Hổ, họ thu nhặt được 18 thi thể lính đặc công.

Xác các chiến sĩ đặc công trong trận đèo An Khê 1972 trong chiến tranh Việt Nam – North Vietnamese sappers in battle of An Khe pass in Vietnam war 1972

Điều tai hại này đã khiến Đại đội 61 bị lộ mục tiêu chính, phải chạy như bay đến mỏm phía Nam điểm cao 638 để bố trí trận địa -- vừa khống chế đường 19, vừa áp chế mỏm phía Bắc của điểm cao 384 (cách đó 200m) trong trạng thái chưa kiến trúc được trận địa phòng ngự dưới làn mưa bom bão đạn.

Lúc này, Đại đội 63 cùng các đơn vị công binh phá sập một phần cống hang Dơi rồi chốt chặn tại đây. Lực lượng tại chỗ của Nam Triều Tiên và VNCH phản ứng tức thì khi điều chiến đoàn 14 vùng 2 chiến thuật gồm 5 xe tăng và 2 đại đội bộ binh lao lên đánh -- họ được 3 cụm pháo 105 ly đặt ở An Khê, An Tân với tổng cộng 24 khẩu pháo thay nhau bắn mãnh liệt vào trận địa phòng ngự chốt chặn của trung đoàn 12.

Sau 2 ngày giao tranh quyết liệt, các lực lượng giải toả của địch đã chọc thủng chốt phụ ở phía Tây, hai đại đội công binh của ta gần như xoá sổ. Lực lượng giải toả này sau đó tiến xuống khu vực nơi tiểu đoàn 6 chốt giữ (cụm chốt 638-384-cống Hang Dơi) và phối hợp với các đơn vị của Sư đoàn 22 VNCH từ phía Quy Nhơn đánh lên, hình thành thế trận 2 mặt giáp công. Trung đoàn 12 Quân Giải Phóng đã điều thêm tiểu đoàn 5, dự bị của trung đoàn để tăng cường cho trận đèo An Khê


Vị trí các chốt chặn trong trận Đèo An Khê năm 1972 trên đường 19 trong chiến tranh Việt Nam – Battle of An Khe pass on route 19 in Vietnam war

Đêm 20-4-1972, mười ngày sau khi mở chiến dịch, trung đoàn 12 nhận được điện của khu ủy và quân khu ủy khu 5 gửi xuống: “Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sỹ trung đoàn 12, đã chiến đấu rất dũng cảm. Địch ở Tây Nguyên đang khốn đốn. Chúng sẽ còn cố sức giải toả đường số 19. Cuộc chiến đấu sẽ quyết liệt dữ dội hơn. Các đồng chí hãy nêu cao quyết tâm, công sự phải vững chắc hơn, đánh địch phải linh hoạt hơn, để làm chủ mặt đường triệt để hơn…”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, trực tiếp điện thẳng cho trung đoàn bộ binh 12, khen ngợi: “Các đồng chí đã đứng vững như bàn thạch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giai đoạn đầu cắt đường số 19, phối hợp với chiến trường chung…”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nguyên tư lệnh mặt trận B3 lúc đó cũng gửi điện: “Cảm ơn chiến sỹ trung đoàn bộ binh 12 đã anh dũng cắt đường số 19, phối hợp với chiến trường chung…”.

Ban đầu phía Nam Triều Tiên và VNCH tổ chức đánh toàn bộ cụm chốt nhưng không thành công. Vì vậy, các đơn vị giải tỏa thực hiện phương án nhổ từng chốt một. Đầu tiên là chốt Cây Rui (điểm cao 638), điểm cao 384 và cuối cùng là cống Hang Dơi. Tại cao điểm 638 sau nhiều ngày giao tranh đẫm máu, đến ngày 23/4/1972 lực lượng lính Nam Triều Tiên dùng vũ khí hóa học tiêu diệt đại đội 61. Từ các trận địa pháo, đạn hơi cay đã bao trùm lên trận địa của đại đội 61. Lính Nam Triều Tiên đeo mặt nạ phòng độc lại ào ạt tấn công lên chốt. Đại đội 61 tại chốt Cây Rui hi sinh gần hết bao gồm cả đại đội trưởng và đại đội phó. Đến ngày 24-4, đại đội 61 chỉ còn lại 5 người sống sót sau đó được tiểu đoàn 5 lên tăng viện, tiếp tục chiến đấu đến đêm 24/4 thì buộc phải rút lui do thương vong quá lớn.

Tại cao điểm 384, ngày 18-4, lính Nam Triều Tiên đã dùng đến 2 tiểu đoàn, từ phía bắc và phía đông ào ạt tấn công lên cao điểm. Đại đội 62 kiên cường trụ bám, đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, tiểu đoàn phó chính trị, đại đội trưởng Đồng Xuân Soạn và 8 chiến sĩ vẫn không rời trận địa, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng trên cao điểm 384… toàn đại đội chỉ có một người sống sót.

Tại cống Hang Dơi, trận chiến diễn ra ngay trên mặt đường. Giữa một bên đạn B-40, B-41 đếm từng quả đối mặt với một bên có thiết giáp được pháo binh, trực thăng chi viện thì ai dũng cảm hơn người đó thắng. Dĩ nhiên cái giá phải trả không phải nhỏ, đại đội 63 thương vong 80% quân số.

Đường 19, được giải tỏa cơ bản vào ngày 24/4/1972 kết thúc sau 14 ngày giao tranh ác liệt giữa 2 bên. Phía binh sĩ Đại Hàn sau trận đánh đã lập bia tưởng niệm và đến sau này vẫn còn./.

Bia tưởng niệm do binh sĩ Đại Hàn thuộc sư đoàn Mãnh Hổ lập sau trận đèo An Khê 1972 trong chiến tranh Việt Nam – Battle of An Khe pass memorial monument built by Korean Tiger division in Vietnam war 1972

Ảnh chụp năm 2004 : Bia tưởng niệm do binh sĩ Đại Hàn lập sau trận đèo An Khê 1972 trong chiến tranh Việt Nam : chữ Hàn Quốc Jeo Seung Bi nghĩa là Bia chiến thắng – Battle of An Khe pass memorial monument in Vietnam war 1972





Wednesday, January 17, 2024

TRẬN ĐÁNH TỔNG DỢT CỦA VM TRƯỚC KHI XÓA SỔ CHIẾN ĐOÀN 100 CỦA PHÁP.

                              



Lời nói đầu: Trong bài "Trận đánh 56 năm trước" mới đây của tác giả Nguyễn đạt Thịnh, nghe nói đồng khóa sĩ quan với tổng thống Nguyễn văn Thiệu, đã kể lại rất kỹ lưỡng về việc đại đội toàn người VN của ông, năm 1954 đã từng nằm đường để bảo vệ đoạn đường từ KM hay cây số 16 đến An Khê trên QL-19. 

Bài viết sau đây, đăng trên quyển Street Without Joy của Bernard Fall nói về những thiệt hại của CĐ 100 của quân đội Pháp khi di chuyển trên QL-19 từ Pleiku trước khi bắt tay với đại đội của trung úy Thịnh. 

(Tưởng cũng nên nói thêm, sau khi đến An Khê, CĐ được lịnh quay về Pleiku và trận đánh sau đó vào ngày 24.6.1954 đã xóa sổ CĐ này, mà tôi đã chuyển ngữ trong bài "Trận phục kích chiến đoàn 100 thiện chiến của Pháp trên Đèo Mang Yang năm 1954"). 

Sau đây là phần chuyển ngữ.

=================


https://dictionary.reverso.net/english-french/lowlanders+who+were+more+at+a+loss+in+the+jungle

. . . 

"Tháng ba năm 1954 đã trở nên một ác mộng của chiến đoàn 100 của quân đội Pháp, nhưng vì một lý do hoàn toàn khác. Lần này, VM, thay vì theo đuổi thuận lợi rõ ràng của chung quanh Pleiku, lại lần nữa đã tan biến trong rừng núi. Dù binh sĩ đau chân và mệt mỏi, thường xuyên bị quấy rầy (plague) bởi muỗi và vắt, lại phải đẩy và kéo theo các đại bác, chiến xa và xe tải, nhưng chiến đoàn (CĐ) lại được lịnh phải yểm trợ cho liên đoàn 3 Dù (gồm 3 TĐ và pháo binh và các đv cơ hữu) - đã được thả dù xuống ngày 1/3 để bao vây trung đoàn 803 hay 108 VMCS, trước giờ luôn né tránh đụng độ với quân Pháp. CĐ sẽ tiến theo hướng đông dọc theo QL-19 để đến làng Pleibon. (Nói thêm: Theo bản đồ của hội Địa lý Quốc gia Mỹ in tháng 2 NĂM 1967, làng này nằm trên một hương lộ hay đường làng bắt đầu từ QL-19, đi về phía bắc; trước khi tới làng Kon Mahar, sẽ thấy núi Kon Lak khá cao tới 5643 ft hay 1720 m ở bên phải. Tới làng này, hương lộ quẹo trái sẽ tới làng Kon Bah, nằm rất gần và ở đông nam của Kontum -- người dịch). Sau vài ngày mưa gió, con đường rất xấu tới Pleibon đã trở nên đầy bùn tới-mắt-cá-chân khiến các xe cộ của CĐ giống như chạy trong vũng lầy (quagmire) ko đáy. 

Trong cái nóng ẩm ướt cháy da (searing), các người lính tiếp tục tiến tới với sức mạnh của tuyệt vọng - khi nghĩ rằng địch sẽ phải ở đâu đó! Nhưng nhật ký hành quân của TĐ 1 Korea vào ngày 1/3, đã ghi ngắn gọn (tersely), "Cảm giác trống không tiếp tục." Đây chính là điều đã được BTTM của Pháp tại Đông Dương đặt tên là "cuộc chiến của những vườn không nhà trống" -- hoàn toàn ko giống cuộc chiến mà họ đã dự trên những đồng bằng và ruộng lúa với những nông dân - ở Nam phần. Ở đây, có thể cả một ngày trời họ ko thấy một bóng người; thật tình mà nói (to be sure), thì vẫn có vài túp lều, nhưng ko có ai. Vì những dân thiểu số trung thành với Pháp giờ đây sống trong đồn hay trại, và những kẻ khác thì theo VM rút vào những đồi núi chỉ cách đường vài km. 

Cuộc đột kích cuối cùng của LĐ nhảy dù này vào phía bắc của làng DÉ  KYENG hay DE KIENG phía đông nam Kontum, hỗ trợ bởi một pháo đội của CĐ 100, ko mang lại kết quả, ngoài việc tìm thấy vài vị trí đóng quân của VM đã có người ở trước đó 3 tới 5 ngày - và ở phía bắc của Dé Kyeng bắt đầu là vùng đánh dấu màu vàng trên bản đồ. Ngày 14/3, cuộc HQ kết thúc, vì lính Dù phải rút ra để được thảy vào Điện Biên Phủ và CĐ 100 được chỉ định nhiệm vụ bảo vệ đoàn công-voa hàng tháng chạy từ Pleiku đi An Khê, dài 100 km. Một lần nữa, kẻ thù đã né tránh đụng độ, và một lần nữa, CĐ đã mệt đứt hơi (dead-tired) này phải di chuyển trở về Pleiku, sau đó theo QL-14, đi về hướng nam tới ngã ba Mỹ Thạnh, và quẹo trái vào liên tỉnh lộ (LTL) -7. Họ đã vượt qua 130 km trong hai ngày để đối diện một đe dọa mới từ kẻ thù cũ của họ, đó là trung đoàn 803 VMCS, mà theo tin tức đang gần làng DO DAK BOT, xem bản đồ, nằm trên một hương lộ đi từ LTL-7 tới QL-14. 

                     


Giờ đây, hai trung đoàn VMCS tại khu vực cao nguyên (plateau) trung tâm đã chuẩn bị chiến thuật của họ đến từng chi tiết: ko vướng bận (unhamper) bởi chiến cụ nặng, cũng ko ràng buộc phải bảo vệ mấy trăm km đường xá, VM đã luôn luôn có thể di chuyển nhanh hơn bất cứ đv cơ giới nào - vì các đv này luôn luôn phải dựa vào hệ thống đường xá để di chuyển. (Tình hình này đã lập lại trong cuộc chiến từ 1954-75 -- người dịch). Với sự khéo léo của một cao thủ dày dặn (seasoned), trung đoàn 108 VM sẽ thu hút CĐ 100 về phía nam nơi ko có đường xá; trong khi chủ lực của trung đoàn 803, tức hai TĐ 39 và 59, nhanh chóng tiến về phía nam dọc theo sông Dak Ya-Ayun (chảy từ bắc xuống nam) để đến ngã ba trên đây khoảng HAI NGÀY trước CĐ bắt đầu hành quân. Vào lúc mà BCH CĐ dựng trại đóng quân chung quanh làng Plei Rinh, nằm trên LTL-7, xem bản đồ, VM lại lần nữa giương bẫy. Bẩy sẽ căng ra ngày 22/3/1954 lúc 0245. 

           


   

CĐ đã hạ trại chung quanh một đồn nhỏ ở làng này, đồn gồm một ngôi nhà với kẽm gai bao quanh được thiết kế để cung cấp chỗ trú ẩn trong mùa mưa cho một trung đội lính địa phương nhằm thu thuế hơn là một cứ điểm quân sự. CĐ lập tuyến phòng thủ theo hình bán nguyệt, tựa lưng vào sông Dak Ya-Ayun. BCH, pháo và xe tăng ở giữa và 3 TĐ ở chung quanh. Thung lũng hơi bằng phẳng cung cấp xạ trường tốt dù vài chỗ bị vướng các bụi cây (clump of brush). Các tiền đồn ở trước phòng tuyến chánh (military line of resistance hay MLR) đã báo ko gì khả nghi cho tới khoảng 0245, khi một khu vực của TĐ 2 Korea báo cáo có vài chuyển động ở gần sông Dak Ya-Ayun.

Lúc 0245, toàn khu vực của CĐ bị tấn công bởi hỏa lực cực kỳ dữ dội của súng cối, và hầu như ngay sau đó bởi hỏa lực chính xác và tập trung của các súng trường và vài súng đại và trung liên. BCH và TĐ 2 Korea gần như lập tức trúng vài quả cối, và vào khoảng 0330, những tiếng hét gây kinh hải (dread scream) "Tiến lên" đã vang dội trong khu vực của TĐ 2 Korea trong khi lính VM trong bộ đồ đen xung phong vào vị trí của đ.đ. 5 của TĐ 2 Korea, làm bị thương và bắt sống đại úy Charpentier. 

Cùng lúc, cuộc tấn công nghi binh bởi súng không giựt của VM, vào trung đội lính địa phương ở đồn Plei Rinh, đã làm cháy đồn, và soi sáng chiến trường, và sau đó vài phút là hai xe GMC của TĐ 2 Korea cũng bị cháy vì trúng đạn cối. Ánh lửa đã tạo thuận lợi cho lính Pháp vì các xe tăng của thiết đoàn có thể can thiệp dễ dàng, bằng cách xông vào khu vực của TĐ 2 Korea để cứu đ.đ. 5 khỏi bị tiêu diệt; những kẻ sống sót của đ.đ. đã phản công và cứu đ.u. Charpentier. 

Một số lính VM đã tới gần BCH CĐ, nhưng bị bắn vào phút chót bởi lính của đ.đ. chỉ huy. Tới 0430, trung đoàn 803, nhanh chóng như lúc xuất hiện, đã tan biến vào rừng gần đó. Các oanh tạc cơ và L-19, đến vào lúc bình minh, dĩ nhiên, ko thấy gì hết. Sau đó, một toán trinh sát của TĐ 1 Korea đã tìm thấy một BCH và doanh trại trống rổng của trung đoàn 803. Một số lớn băng cứu thương đẫm máu chứng tỏ rằng VM cũng bị tổn thất. Ba mươi chín VM bỏ xác tại trận và 2 bị thương. 

Nhưng phe Pháp cũng nặng ko kém - 36 chết, gồm một đ.u.; 177 bị thương, gồm thiếu tá Kleinman-TĐ trưởng của TĐ 2 Korea, và 13 sq khác; và 8 mất tích. Ngoài ra, CĐ đã gần hết đạn và dụng cụ cứu thương. CĐ, như một võ sĩ, vẫn có thể chiến đấu, dù đã mất máu nhiều do thương tích (maul). 

Trong một nhật lịnh, ĐT Barrou đã khen lính của ông về can đảm và đã khiến cho "trung đoàn 803 VM bất khả chiến bại và luôn né tránh, phải nhục nhã trong trận này khi bỏ người chết và bị thương tại chiến trường."

"Cho phép tôi bày tỏ tới các chiến hữu," ông nói tiếp, "niềm hãnh diện, sự trìu mến của tôi và tin tưởng của tôi vào tương lai và vào chiến thắng của chúng ta."

Nhưng những ngày qua vẫn còn là khó khăn với CĐ 100 khi TĐ 1 Korea quân số từ 834 trong tháng 12 chỉ còn 532. May mắn là TĐ 2 Korea và TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa chỉ bị thiệt hại nhẹ (hardly less severe) - và điều xấu nhứt vẫn chưa đến. 

Với người bị thương hầu hết đã đc di tản và hầu hết đạn dược và xăng dầu cũng đã đc tái tiếp tế, một tình trạng khẩn cấp khác chung quanh An Khê đã khiến CĐ lại lên đường. Cho tới nay, An Khê đã đc xem như một khu vực tương đối yên tỉnh, dù có bị VM xâm nhập hay nội tuyến, nhưng ko đến mức sắp bị VM tràn ngập. Việc phòng thủ TP này trong tay của CĐ 11 (tác giả Trần ngọc Nhuận của "Ký ức đời quân ngũ" đã từng phục vụ trong TĐ 1 của trung đoàn này -- người dịch),  gồm toàn lính VN gốc người Kinh (Vietnamese lowlander). BCH của VM ko để cơ hội này tuột mất. 

NGÀY 30/3/1954, hai TĐ độc lập của "Liên-Khu 5" đã tấn công đồn VN ở ĐÈO MANG, có nhiệm vụ kiểm soát đường tiến sát phía đông của An Khê. (Nói thêm: Đèo Mang ở phía đông An Khê, trong khi đèo Mang Yang ở phía tây An Khê -- người dịch). Khi bình minh xuất hiện, đồn này đã bị hủy diệt và trang bị của cả một TĐ bộ binh và 4 khẩu 105 ly lọt vào tay VM. Cùng lúc, tình báo cho biết việc tái xuất của TĐ 39 và TĐ vũ khí nặng của trung đoàn 803 VM ở vài km nam QL-19, trong một hành động có vẻ định cắt An Khê từ hướng tây. 

TRỞ LẠI QUỐC LỘ 19

Ngày 1/4/1954, toàn CĐ - gồm xe tải, tăng, pháo - lại lần nữa đã vượt hơn 140 km để tới QL-19 hầu đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ bán-tỉnh (semi-static) cho toàn khu vực cao nguyên trung tâm này, với đại tá Barrou làm TL vùng An Khê và khu vực bộ lạc Bahnar, để giảm nhẹ gánh nặng của CĐ 11 của quân đội quốc gia VN ko còn tinh thần chiến đấu (sau khi Đèo Mang do một TĐ của CĐ 11 bị thất thủ ngày 30.3.1954 -- người dịch). Thế là, CĐ phải chuyển quân từ làng Plei Rinh, ở phía đông của ngã ba Mỹ Thạnh và cũng ở trên LTL-7, ra QL-14 để chạy về về Pleiku với không khí miền Viễn Tây, nơi mà vài chủ đồn điền trà người Pháp còn lại tụ họp mỗi tối tại "Bar Embuscade" với súng Colt bên hông và xe Jeep xích vào một cái trụ để khỏi bị trộm. CĐ đã ko ngừng ở đây và tiếp tục chạy trên QL-19, đi ngang nơi đóng quân cũ của TĐ 1 Korea và ngã ba nơi mà những người của Dak Doa đã đánh trận cuối cùng. (Trên QL-19, có một ngã ba để vào làng Dak Doa ở phía tây bắc của ngã ba này và một trận ác chiến đã xảy ra ở ngã ba này giữa CĐ 100 và VM -- người dịch). Và lần nữa, họ lại vượt sông Dak Ya-Ayun, nơi mà tháng trước đây, họ đã truy đuổi vô ích trung đoàn 108 VMCS tới một khu rộng lớn ở phía bắc làng Plei Bon, và bây giờ CĐ đang tiến về đèo Mang Yang ở km 22 và căn cứ An Khê phòng thủ kiên cố, ở phía tây và cách đèo 22 km.  

QL-19 ko còn an toàn cho mọi thứ trừ các đoàn công-voa có hộ tống, và chuyến đi của ĐT Barrou tới An Khê cũng là một cuộc HQ. Với đ.đ. 1 và 4 của TĐ 1 Korea và hai đ.đ. thuộc TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa, CĐ mở đường tới CÂY SỐ 11 trong khi CĐ 11 của quân đội quốc gia VN gửi ba đ.đ. từ An Khê tới cây số 11 để hộ tống ĐT Barrou và đoàn xe chở xăng tới cứ điểm An Khê. Sau khi đã tới An Khê vô sự, đoàn xe quay về và tới 14:45 g, ĐT Barrou và các xe chỉ huy và những xe bồn ko còn xăng đã vượt cây số 11 để vào vùng bảo vệ bởi các toán tiền tiêu của trung đoàn 43 thuộc địa và TĐ 1 Korea. 

Giờ đây họ bắt đầu chuyển quân như sau: Khi đv đầu tiên bắt đầu di chuyển từ A tới B thì đv thứ 2 vẫn ở tại A sẵn sàng chiến đấu. Khi đv đầu tiên đã tới B thì báo cho đv thứ 2 biết để đv này di chuyển và đv đầu tiên phải sẵn sàng để bảo vệ đv thứ 2. Họ phải lần lượt làm như vậy tới lúc đến vị trí an toàn mới thôi. Và TĐ 1 Korea đã chuyển quân an toàn.

Lúc 1520, lịnh từ BCH ở cây số 22: "Đoàn xe đã tới an toàn. Rút quân." Hai đ.đ. của trung đoàn 43 bắt đầu đi bộ về phía tây vì họ ở gần BCH, với đ.đ. 1 của đ.u. Léouzon đi sau.

Đoàn quân bắt đầu di chuyển trong mệt mỏi và cảm thấy an toàn với tiếng lách cách của trang bị và  súng đạn. Một tiểu đội dưới quyền chỉ huy của Trung sĩ Li-Som, người Miên (phần lớn trung đoàn 43 thuộc địa là lính Miên), dẫn đầu. Lúc này là 15:30, mặt trời vẫn còn cao và  trung đoàn 43 thuộc địa ở khoảng 2 km tây của cây số 15.

Đột nhiên, Li-som đứng lại. "Cái gì vậy, Li-som," đại úy Léouzon của đ.đ. 1 nói. "Ông thấy cái gì?" Giờ đây mọi người của CĐ bây giờ đều biết, một trong những phục kích tệ hại nhứt đã xảy ra vào lúc cuối một cuộc chuyển quân vô sự.

"Không, đích thân," Li Som nói, mặt y nhăn nhó vì tập trung suy nghĩ, "súng liên thanh. TĐ 1 Korea đã đụng rồi."

Giờ mọi người trong đ.đ. 2 đều nghe: súng liên thanh và súng không giựt của VM nổ rền trời. Đây là một cuộc phục kích lớn, và cái giá xứng đáng để bỏ ra - hai đ.đ., 10 xe tải và một trung đội thiết giáp. Đ.đ. của Léouzon ko cần ai ra lịnh. Khoảng 1530, họ bắt đầu đi ngược về cây số 15, sau đó năm phút là trung đội 4 của chi đoàn 5 thiết giáp, chỉ huy bởi đ.u. Doucet.

Mọi thứ đã bùng nổ ở cây số 15. Đ.đ. 4 của TĐ 1 Korea vừa vượt qua đ.đ. 1 của TĐ và bắt đầu bố trí khi, ko có một tiếng động của cảnh báo trước, mọi xe tải của đ.đ. này bị hỏa lực của liên thanh và súng trường từ lề nam của đường. Trước khi các binh sĩ có thời giờ để ngừng xe, xe tải đi đầu đã nổ tung và bốc cháy, và làm cản đường khi xe tải thứ hai vừa tới. Giây lát sau, lần nữa tiếng hô "Tiến lên" và lính chính quy VM (gồm TĐ 19 của trung đoàn 108 và TĐ độc lập 30 của Liên-Khu 5) đã bắt đầu xung phong từ các bụi rậm (thicket).

Đ.đ. 4 gồm toàn lính dày dặn (seasoned); những ai còn sức chiến đấu nhảy khỏi xe tải và hướng về lề đường cao hơn bên phải. Lúc 1525, đúng vào lúc TS Li-Som nghe tiếng súng đầu tiên, những kẻ sống sót của đ.đ. 4, bây giờ chỉ huy bởi các hạ sĩ (corporal) - vì các tất cả các SQ và HSQ của đ.đ. đều chết hay bị thương - đã chiến đấu cho trận cuối cùng của cuộc đời. Thực tế, họ đã tập hợp lại đủ để tung ra hai cuộc phản công dù ko hiệu quả để chống kẻ thù với hy vọng cứu một số kẻ bị thương khỏi chết cháy trong các xe đang cháy hay giúp họ khỏi bị VM dùng làm khiêng đỡ đạn khi VM tiến qua đường. Hơn nữa, một lời cầu cứu được gửi tới BCH, và những đv khả dụng của CĐ đang trên đường tới cây số 15. Đại đội 2 của 43 thuộc địa tuy ko nhận được cầu cứu này nhưng cũng quay về địa điểm phục kích.

Đv đầu tiên tới địa điểm phục kích là đại đội đoạn hậu (rear guard), với thiết giáp cơ hữu gồm hai chiến xa nhẹ và chiếc half-truck dẫn đầu chạy hết tốc lực (hell-for-leather) xông thẳng vào trung tâm của chỗ phục kích, với hy vọng sự xuất hiện của thiết giáp ít nhứt sẽ khiến lính VM sợ hãi (startle) và tạo cơ hội cho đ.đ. 4 tập hợp lại. Nhưng lính VM cũng dày dạn. Chiếc half-truck có tên Dingo (theo truyền thống của quân Pháp, mọi xe thiết giáp đều được đặt tên) đã ngừng hẳn vì một đạn không giựt trúng vào trục trước; trong khi chiếc tăng đi kế bắn vào chiếc xe half-truck này bằng đại liên làm bị thương Trung sĩ Lem trưởng xa và hạ sĩ Trần văn Srey xạ thủ bị thương. Hỏa lực dầy đặc và chính xác nhắm vào khe hở (slit) của các xe tăng khác khiến làm bị thương một số lính trên xe tăng và VM bắt đầu trèo lên các xe này. 

Vị cứu tinh đã giúp đv này khỏi bị hủy diệt là đ.u. Doucet chỉ huy trung đội tăng số 4. Các xe tăng của ông vừa chạy vừa bắn vào địch quân đã giúp giúp các xe bọc sắt tạo thành một hình vuông để giúp những kẻ sống sót của các đ.đ. bộ binh có chỗ ẩn núp. Điều này đã làm chậm bước tiến của VM một lúc. Từ 1600 đến 1700, VM đã bốn lần tấn công các xe tăng, có vẻ bất chấp tổn thất về phía họ. Hai lần họ đã trèo lên hai xe tăng có tên Diable và Dingo - chiếc này đã bị trúng đạn trước đó, để rồi bị đánh bật bằng cận chiến bởi lính thiết giáp, và có một lúc hình như là giờ phút cuối của các xe tăng khi đạn sắp hết sau gần 90 phút tác xạ dữ dội.

Điều lạ lùng là đại bác của CĐ vẫn yên lặng. "Đại bác ở đâu?" Doucet gọi về BCH CĐ. "Không thể can thiệp," là câu trả lời, "Có một L-19 đang bay trên đầu bạn." Trong lúc đánh nhau, ko ai để ý chiếc máy bay này, nhưng bây giờ người ta mới nghe nó. Liền sau đó là các oanh tạc cơ B-26, do Mỹ sản xuất, từ Nha Trang bay tới. VM bắt đầu rút lui vào rừng nhưng ko kịp. Lấy các xe bị cháy của đ.đ. 4 làm mốc, chúng bay sát ngọn cây, ném những bom màu đen. Đó là những bom napalm sẽ thiêu đốt đến chết những ai bị trúng bom. 

Đ.đ. 3 của TĐ 1 Korea vừa tới với một xe chở đạn cho xe tăng đã thêm sức mạnh của quân Pháp. Vì VM lo đối phó với B-26, lính Pháp đã phản công lần cuối lúc 1715. Yểm trợ bởi xe tăng có tên "D'Arc II" và đại bác tự hành có tên "Duroc", đ.đ. 3 của trung úy De La Brosse và vài thành phần của đ.đ. 1 cố gắng di chuyển ngang qua đoàn xe, bằng cách đẩy những xe hư ra khỏi đường và khởi động những chiếc khác, trong khi vẫn dưới hỏa lực địch. Lúc 1900, tất cả những kẻ chết và bị thương của ba đ.đ này hay của các xe tăng trúng đạn đều được đưa lên xe tải. Đoàn xe vừa đụng trận (batter) này đã bắt đầu rút về km số 22 nơi mà một lần nữa, toán đoạn hậu, lần này là đ.đ. của De La Brosse và thiết giáp, bị tấn công.

Tác chiến trong rừng núi ko dễ dàng chút nào. Trong bóng tối của đêm nhiệt đới, đó là địa ngục (hellish). Khoảng 15 VM tràn lên đại bác tự hành "Duroc"mà tài xế chỉ thấy chúng vào giây phút cuối và đã tăng tốc xe, cán lên ba tên thành đống thịt bầy nhầy với xích của xe này. Nhưng lính VM ko bị lung lay (were not to be shaken); Trung Sĩ Piccardat, trưởng xa bị bắn vào mặt, trong khi tài xế, hạ sĩ Bonnat, tử thương vì trúng đạn ở ngực. Xe ko tài xế đã lao xuống đường mương kế đường, với lính VM vẫn còn bám trên xe. Piccardat bị VM lôi đi (drag out) và một tài xế khác, Danh Cương đã bị trói và sắp bị lôi đi khi chiếc "D'Arc II" của Trung sĩ Temmermann xuất hiện gần khúc quanh (bend), với đèn pha chiếu sáng và đại liên nổ dòn. 

Với bình tỉnh, như đang thực tập, Trung Sĩ trẻ Temmermann leo ra khỏi tăng với hai người lính, trèo lên chiếc đại bác tự hành "Duroc" và tháo máy truyền tin, tháo khóa nòng/quy-lát (breech block) của súng và những giấy tờ trên xe, và sơ cứu cho Piccardat và Bonnat đang hấp hối, và đặt họ và hai lính của chiếc "Duroc" vào xe tăng của y.

Nhưng đó ko phải là trận đánh cuối cùng trong ngày. ĐV thiết giáp của đ.u. Doucet khi hộ tống đám lính bộ binh này về trại ở km 22, lại lọt ổ phục kích lúc 2000. Kiểu cách cũng như cũ: tấn công trực tiếp vào xe tăng. Một đại bác tự hành khác, có tên "Don Quixote" bị trúng đạn và hai lính trên xe bị thương. Trong chỉ vài phút, VM đã tràn lên các xe tăng, trong khi đó, các xe tăng đều chiếu sáng xe trước và bắn đại liên vào VM đang ở trên xe trước. Lính bộ binh chung quanh xe ko thể can thiệp hữu hiệu vì sợ bắn vào lính xe tăng hay bắn lầm vào nhau. Giống như voi bị hổ tấn công, các xe tăng bắn vào các kẻ tấn công họ. Lúc 2300, trung đội thiết giáp cuối cùng đã ầm ầm (rumble) tiến vào chu vi phòng thủ, kéo theo nó hai chiếc half-truck đã bị trúng đạn vào buổi chiều. Những người lính thiết giáp này đã trải qua 9 - 11 giờ trong thùng xe với nhiệt độ bên trong là 110 độ F hay 43.3 độ C!

Ngày hôm sau, một đoàn thám sát mạnh mẻ gồm TĐ 2 Korea và một đ.đ. của 43 thuộc địa đã đến chỗ phục kích để thấy 7 xác lính Pháp - lúc đầu nghĩ là mất tích, cũng như 23 xác VM - và lần nữa một cử chỉ mã thượng (gesture of chivalry) của VM: một lính Pháp bị thương nằm giữa đường, đc băng bó và cho ăn!

Một lần nữa, tổn thất thật khủng khiếp: CĐ có 90 chết và bị thương, trong đó 1 thiếu úy chết, so với 81 VM chết đếm được. Từ 175 người mỗi đ.đ., đ.đ. 1 của TĐ 1 Korea chỉ còn 67, đ.đ. 2 còn 83, đ.đ. 4 còn 94. CĐ vừa có một diển tập (rehearsal) cho chính họ mười tuần trước khi CĐ bị xóa sổ (vào ngày 24-25/6/54), và chỉ cách 1.6 km nơi mà họ sẽ bị xóa sổ. Sân khấu đã được dàn dựng cho chương cuối cùng của cả hai phía.

Dù bị tổn thất nặng CĐ vẫn ko thay đổi nhiệm vụ. Đó là giảm gánh nặng hay giải vây cho CĐ 11 (mà tác giả Trần Ngọc Nhuận phục vụ) tại An Khê, vì đv này đc xem như mất hết tinh thần (too demoralizes) để phòng thủ toàn lực (all-out), và CĐ phải giữ An Khê với một lực lượng nhỏ hơn so với lực lượng của địch chưa bao giờ tập trung như vậy trong vùng. Trong lúc đó, BCH tại Cao Nguyên vẫn còn nhiều lạc quan. Thực vậy, CĐ 100 là đối tượng của một nhật lịnh đặc biệt vào ngày 9/4/1954 như sau:

... Bằng cách tiến nhanh dọc theo Sông Ba, bạn tấn công cạnh sườn phía tây của địch và chiếm Củng Sơn. Và, trong một bước nhảy vọt bạn trở lại Kontum và đánh địch ở một khu vực mà địch muốn tới...

... Và vài ngày sau, bạn sẽ gây ngạc nhiên cho họ tại La PIT và --- trong khi tiến nhanh bằng thiết giáp và cận chiến với súng trường, hỗ trợ bởi pháo -- bạn sẽ gây thiệt hại nặng cho chúng...

Bạn sẽ ko cho kẻ thù cuồng tín nghỉ ngơi. Một cuộc chạy đua giữa chúng và bạn trên tại khu vực giữa đường 19 và thung lũng Plei Bon. Bạn nhanh hơn họ nhờ phản ứng nhanh và chiến đấu dũng cảm...

... Lại lần nữa, bạn sẽ đánh bại địch quân trong cuộc chạy đua của họ về An Khê dù nhiệm vụ của họ là diệt bạn. Đây là lực lương đã bị tổn thất trong trận đánh vào tối ngày 4/4 ở km 14 tây An Khê...

... Kết quả là gì? Địch sẽ bỏ mọi hy vọng chiếm An Khê và hủy diệt viện quân của ta...

Nhật lịnh được thông báo tới mọi đv của CĐ. "Họ PHẢI nói một điều gì đó," một thiếu úy và trung tá Lajouanie, chỉ huy trưởng trung đoàn Korea, nói thêm: "Nhưng BTL của chúng ta nên mơ mộng thêm điều gì đó để gần thực tế hơn. Cái mà chúng ta cần bây giờ ko phải là lời khen, mà là viện binh."

Nhưng lấy viện binh ở đâu ra khi Điện Biên Phủ đang ăn vào ruột của quân Pháp tại Đông Dương như ung thư, và Bắc Kỳ là một ưu tiên. Kế đó là Lào và Nam Việt Nam (vì lý do chính trị, vì thủ đô của nước đặt tại đó), và cuối cùng, vùng cao nguyên và Cambodia yên tỉnh (quiescent). 

Kể từ tháng 12/1953, quân số của CĐ chỉ còn 75/100, và những trận vừa rồi đã làm mất những chiến sĩ giỏi. Ngay cả trước phục kích ngày 4/4/54, CĐ đã thiếu 12 trung đội trưởng bộ binh, 5 trung đội trưởng vũ khí nặng, 12 y tá, và khoảng 12 lính truyền tin. "Hãy tự gở rối" (débrouillez-vous/muddle through) là câu trả lời thường xuyên từ BTL đặt lại Pleiku, kèm đó những bảo đảm rằng những thay thế hay viện binh sắp đến "sớm sủa". Nhưng đối diện với ba trung đoàn đầy quyết tâm của VM, lời trả lời "sớm sủa" ko phải là đủ đối với CĐ. 

Giờ đây là giai đoạn ngắn để nghỉ ngơi cho CĐ. Để giảm nhẹ trách nhiệm của CĐ 11 tại An Khê, họ phải thường xuyên xây dựng các công sự quanh An khê, cải thiện sân bay để C-47 có thể đáp xuống, vì lúc này TP này hoàn toàn bị bao vây và tiếp tế hay viện quân đều dựa vào không quân, và họ chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng -- một Điện Biên Phủ  của CĐ mà một số lính đã nói đùa như vậy. 

Vì mọi đồn bót đều bị bao vây nhưng chưa bị tấn công, khiến tinh thần, từ chỗ đang tốt bắt đầu xuống dốc. Đ.đ. 4 của tđ 1 Korea báo cáo nhiều đào ngũ cũng như tự gây thương tích: Ngày 15/4, binh nhứt Hiem Rum đào ngũ mang súng lúc 0210; ngày kế , binh nhứt Phạm văn Mười tự bắn vào chân mình, và 2 ngày sau, binh nhứt Trần văn Lợi thuộc đ.đ. 4 cũng bắn vào chân.

Vào ngày ĐBP thất thủ, 8/5/1954, những người bị bao vây (beleaguered) tại An Khê có thể nghe giọng chế giễu (mocking voice) phát đi từ một cái loa của VM phát đi qua cánh đồng: "Hỡi các lính của CĐ 100! Các bạn của bạn ở ĐBP đã ko thể kháng cự cuộc tấn công của QĐNDVN. Bạn yếu hơn ĐBP! Bạn sẽ chết, người Pháp, và cũng như vậy bọn VN tay sai!" Kêu gọi như vậy, dù chỉ nhắm vào lính VN, nhưng đây trở thành vấn đề chính. 

Trong CĐ 100 có một đv là tđ 520 khinh chiến (TĐKC), toàn lính VN. Đây là một trong những đv mới thành lập để tìm và diệt địch theo cách của họ. Nhưng những kẻ nói đùa đã nói, TĐKC "ko phải lính cảm tử, cũng ko phải là TĐ". Thành lập vào năm 53, TĐ khinh quân này hoàn toàn ko đáng tin cậy như một đv chiến đấu tự trị (autonomous) vào mùa xuân 1954. Điều này đã tạo hậu quả bi thảm cho kết cục của CĐ 100. 

Tháng 5/54 mọi sự tốt đẹp cho An khê. VM đang đối diện những khó khăn của chính họ dọc theo bờ biển Trung kỳ, nơi mà cuộc HQ "Atlante", sau nhiều tháng sa lầy, đã khiến Pháp hủy bỏ vào giờ cuối, nên lực lượng của họ tại vùng cao nguyên này đã hoãn cuộc tấn công vào Pleiku và An Khê. 

Nhưng vào tuần thứ ba của tháng 6, VMCS đã sẵn sàng để tấn công sâu vào khu vực cao nguyên vì biết rằng Pháp ko còn quân trừ bị. BTL Pháp cũng biết ý định của VM nên ra lịnh cho CĐ 100 di tản khỏi An khê và rút về Pleiku, khoảng cách 80 km đầy địch quân. Một cuộc không vận đều đặn bằng C-47 và những chiếc Bristol khổng lồ, xem hình, - đây là những máy bay hai động cơ với cửa mở ra ở mủi, do Anh sản xuất, để chở đi những trang bị quí và 1.100 dân. 

Mọi trang bị và đạn dược ko thể mang đi theo CĐ đều được để gần sân bay An Khê để máy bay phá hủy sau khi đv cuối cùng rút đi. Tuy nhiên, ngày 23.6, tin tình báo cho biết có lẽ một lực lượng lớn của VM, có lẽ là trung đoàn 803 vm, trên đường tới QL-19 với hy vọng sẽ ngặn chặn cuộc rút quân. Thay vì rút quân ngày 25.6 như dự trù trong lịnh hành quân lúc đầu, ĐT Barrou cho rút vào sáng sớm ngày 24.6 và đi từ An Khê đến km 22 trong một ngày thay vì chỉ đi tới km 11

Điều này dẫn đến di chuyển nhanh hơn, kỷ luật đoàn xe tốt hơn nhưng kém bảo vệ cạnh sườn, nhưng Barrou nghĩ rằng nhờ vậy CĐ của ông sẽ sớm bắt tay với CĐ 42, phần lớn là lính Thượng địa phương, tăng cường bởi CĐ Dù số 1, từ Pleiku sẽ kịp đến đèo Mang Yang./. 

. . .

Chuyển ngữ từ trang 179 - 191 của quyển Street Without Joy của Bernard Fall.

SJ ngày 17/01/2024

Tài Trần

Cập nhựt ngày 18/04/2024.


Wednesday, December 14, 2022

CÁC TRẬN ĐÁNH ĐẪM MÁU CỦA DSCĐ VÀ TĐ 22 BĐQ TRÊN QL-19 VÀ TRẬN KANNACK 1965.

Chuyển ngữ từ trang 92 - 96 của quyển Green Berets at War của Shelby Stanton. 

LỜI MỞ ĐẦU

"Ngày 5/1/1965, trại Trảng Sụp (ký hiệu A-411 do đại úy Healy chỉ huy) và Suối Đá (A-114 do đại úy Ekman chỉ huy) đã tổ chức hành quân vào Chiến khu C với 6 đại đội DSCĐ. Sau một chạm súng ngắn ngủi với VC, các đại đội 326 DSCĐ người Campuchia và đại đội 324 DSCĐ người Việt đã mất tinh thần và rời bỏ trận địa. Hai đại đội này đã bị giải giới và giải tán (break up). Trong khi trại Phước Vĩnh (A-312 do đại úy Spargo chỉ huy) đã chiến thắng tại một căn cứ VC ở bìa của chiến khu D trong cùng tháng, các lính dscđ người Campuchia này sau đó đã từ chối hành quân cách xa trại hơn 1 dặm. Vì có đại đội 347 DSCĐ gốc Nùng rất trung thành tạm thời bảo vệ trại, nên lính Campuchia "được quyền chọn lựa giữa tuân lịnh cấp trên hay rời bỏ hàng ngũ," và lực lượng này đã được cải tổ toàn diện.

Một trong những việc xử dụng ko đúng cách và đáng buồn nhất các lực lượng dân sự chiến đấu (DSCĐ) của LLĐB Mỹ đã xảy ra trong những tháng đầu của năm 1965 dọc QL-19, con đường huyết mạch chánh nối liền bờ biển với cao nguyên miền Trung. Con đường này xuất phát từ Qui Nhơn ở ven biển và cao dần, quanh co các hẻm núi (gorge) đầy rừng rậm và các đèo cao trước khi tới Pleiku. Tướng Westmoreland, TL của BTL yễm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MAC-V đã lo âu về khả năng VC có thể chia đôi nước này làm hai. Do đó việc bảo vệ QL-19 là một trách nhiệm quan trọng về quân sự. Ông dự định tới cuối mùa thu năm 1965 sẽ giao sđ 1 Không kỵ trách nhiệm này. Nhưng từ đây tới ngày đó, việc hộ tống các đoàn xe và an ninh các đèo được đặt lên vai các người lính DSCĐ gốc Rhade kém may mắn (hapless) này của LLĐB. 

Vài trăm lính DSCĐ gốc Rhade đã từng tham gia cuộc nổi loạn của người Thượng (Montagard uprising), cùng với gia đình, đã buộc phải chuyển tới hai trại mới, đặt ở vị trí chiến lược ở hai ngọn đèo quan trọng là Mang Yang và An Khê. 

(Cuộc nổi loạn xảy ra từ 19 đến 28 tháng 9/1964, bắt đầu từ các trại LLĐB tại khu vực Ban Mê Thuột. Lính Thượng ở các trại này chỉ trung thành với cấp chỉ huy người Thượng và cố vấn Mỹ. Ở một số trại, họ đã giết các cố vấn LLĐB người Việt và giam giữ các cố vấn LLĐB Mỹ. Cuộc nổi loạn này đã chấm dứt nhờ sự dàn xếp của một số sĩ quan như đại tá Freund, cố vấn của quân đoàn 2 hay đại úy Gillespie, chỉ huy toán A-312 tại trại Buôn Brieng, và một số sĩ quan LLĐB Mỹ khác -- người dịch).

Trại An Khê, ký hiệu A-4 do đại úy Hendricks chỉ huy, gồm lính DSCĐ gốc Rhade, rất kỷ luật và trung thành, chuyển từ trại Bu Prang, Quảng Đức. Trại Suối Đôi, ký hiệu A-3, do đại úy Mireau chỉ huy, cũng là lính DSCĐ gốc Rhade nhưng tinh thần chiến đấu kém hơn. Những người này đã chuyển từ tháng 1/1964 từ trại Ban Don (tây bắc của Ban Mê Thuột) và đã chống đối kịch liệt vì cho rằng họ được dùng làm chốt thí (cannon fodder) dọc Ql-19. 

Từ lâu, QL-19 đã là một bãi chiến trường. Các đài kỷ niệm nằm rải rác ven đường giữa Đèo An Khê và Đèo Mang Yang, đánh dấu trận đánh phục kích Chiến Đoàn 100 của Pháp năm 1954. Giờ đây, mười năm sau, VC vẫn dùng chiến thuật đó. NGÀY 15 THÁNG 2 1965, một đoàn công-voa lớn của Nam VN bị phá hủy giữa đèo Mang Yang. TRẠI AN KHÊ được lịnh lập hai căn cứ tiền tiêu (forward operational base), viết tắt là FOB số 1 và 2, ở PHÍA TÂY của đèo vào NGÀY 17 THÁNG 2 1965. (Theo thông tin trên mạng, đèo Mang Yang ở phía đông của đèo An Khê và cách nhau 22 km -- người dịch)

Ba ngày sau VC đã đồng loạt tấn công hai căn cứ này. Trong khi FOB số 2 chỉ bị thiệt hại nhẹ do địch chỉ tấn công thăm dò vào tối ngày đó, FOB SỐ 1 Ở PHÍA TÂY của FOB số 2 và gần Đèo Mang Yang bị TRÀN NGẬP. Máy bay thám thính và C-123 chuyên thả hỏa châu đã bất lực vì mây bao phủ 2 căn cứ này. Một đại đội (đ.đ.) tiếp ứng gốc dân Rhade, dưới chỉ huy của đại úy Hendricks đã tới FOB số 1 vào sáng ngày 21/2 sau khi vượt qua một phục kích nhỏ. Lực lượng của ông đã trở                                                      lại An Khê an toàn với người chết và bị thương từ tiền đồn này (FOB số 1). Một toán DSCĐ khác, chỉ huy bởi đại úy Em, đã ko gặp may mắn khi di chuyển bằng xe và xuất phát từ An Khê để tìm kiếm 20 DSCĐ mất tích tại FOB số 1. 

Trên đường trở về An Khê, đoàn xe của đại úy Em đã bị một trận phục kích KHÁC lúc 5:30 chiều. Dù bị thương nhưng đại úy đã lập được một chu vi phòng thủ, cầm cự trong HAI NGÀY với lính bắn sẻ cũng như tấn công định kỳ (periodic) của địch. Toán quân DSCĐ cứu viện của đại úy Hendricks cũng ko thể phá một nút chận mạnh mẻ của VC trên QL-19 để giúp đội quân của đại úy Em hay tới được FOB số 2. Ông buộc phải rút lui sau đó trước khi mặt trời lặn với phân nửa xe cộ bị phá hủy. 

Trung tá Lindsey Hale, chỉ huy C-2 LLĐB ở Pleiku đã có rất ít nguồn lực trước tình hình này. Lúc 11 g đêm ông ra lịnh cho đại úy (đ.u.) Mireau, chỉ huy Trại Suối Đôi, hành quân về phía đông đến Đèo Mang Yang và đặt trung đội "Diều Hâu" gồm toàn lính Rhade thiện chiến trong tình trạng báo động. Trung đội này đã được thành lập tại Pleiku ngày 16/10/64 với mục đích phản ứng nhanh. Ông đã tăng cường cho cuộc hành quân (HQ) này vài trực thăng võ trang, nhưng các máy bay ném bom A-1E Skyraider dự trù cho cuộc HQ này giờ chót dùng cho mục tiêu khác. 

Cũng như phần lớn các đ.đ. DSCĐ, đ.đ. 269 ở Suối Đôi đã ko huấn luyện để đánh đêm. Đ.đ. của trung úy (lieutenant) Y-Lang gốc Rhade đã có lịnh di chuyển từ sáng 22/2 nhưng chỉ di chuyển sau 12 g. Những người lính nhỏ thó này, với nón sắt gần như che cả mắt và ăn vận đồng phục màu olive của lính bộ binh và rằn-ri, đã khó khăn lắm mới trèo lên những xe tải với sàn xe quá cao của Mỹ. Với tổng cộng 167 người, ngồi san sát trên 6 xe tải, đoàn xe đã lên đường lúc 1245 trưa.

Lúc 3:30 chiều, đoàn xe này vừa vượt qua FOB số 1 đã bị phá hủy trước đó và bắt đầu đi vào một khúc cong. Khi họ gặp một xe đò chạy ngược chiều, thì xe đò này bị trúng B-40 và bốc cháy. Đoàn xe liền ngừng lại dưới làn đạn súng nhỏ và cối. Từ hai bên đường, VC đã tấn công đoàn xe và lính DSCĐ nhảy xuống đất tìm chỗ núp. Ba cố vấn LLĐB Mỹ đã cố gắng tập họp đ.đ. Súng liên thanh và súng nhỏ của địch từ cỏ voi cao đã phá vỡ cuộc phản công của lính DSCĐ. Chuyên viên bậc 5 Geral Rose đã chết khi cố gắng phá vòng vây (breakout) trong khi lính Rhade phía sau ông ko muốn chiến đấu (falter). Trong cảnh cận chiến (melee) hai bên đã dùng súng, lưởi lê và bá súng. Trung úy Griggs đã trúng đạn ở cổ nhưng đã bắn hạ năm VC khi họ tiến gần trung sĩ Long, bị thương ở đùi (thigh). Sau đó Griggs trúng đạn ở ngực và ngất xỉu.

Một số lính DSCĐ định hàng khi hết đạn nhưng đã tập hợp lại sau khi VC tiếp tục giết kẻ bị thương. Họ đã dùng lưởi lê, dao, và nắm đấm để phá vòng vây và chạy bộ về một tiền đồn ở Đèo Mang Yang. VC ko để ý tới trung úy Griggs vì nghĩ rằng ông đã chết. Sau đó ông tỉnh lại và bò tới một máy truyền tin, nằm bên dưới một hiệu thính viên đã chết. Ông gọi gunship tấn công VC. Gunship đã bốc trung úy Griggs và trung sĩ Long sau khi một trực thăng tải thương trúng đạn và đáp khẩn cấp xuống Suối Đôi vì phi công bị thương và buồng máy bị cháy. 

Trung đội phản ứng nhanh, còn gọi là diều hâu đã xuống phiá đông của trận đánh một giờ sau cuộc phục kích này bắt đầu. Năm lính LLĐB và 36 DSCĐ người Rhade nhảy ra khỏi máy bay khi càng trực thăng đụng đất. Khi gần tới địa điểm phục kích, họ bị trực thăng bắn lầm. Dù vậy họ vẫn tiến về đoàn xe bị phục kích, bất chấp bị bắn sẻ và đại liên của vc. 

Trung đội này được tăng viện lúc 7:30 tối ngày 22/2 bởi 60 NGƯỜI của đ.đ. 2 của TĐ 22 BĐQ VNCH từ Pleiku. Họ đã lập một chu vi phòng thủ và vượt qua địa điểm mà đ.đ. 269 bị phục kích vào sáng ngày hôm sau. Sau đó họ đã bắt tay với đám tàn quân gồm lính của đ.u. Em và lính của FOB số 2. Thành phần còn lại của TĐ 22 BĐQ đã đổ xuống An Khê và định di chuyển trên QL-19 để bắt tay với lực lượng trên đây vào ngày 23/2. Cuộc tiến quân đã bị đẩy lui trong một trận đánh dữ dội khiến TĐ này bị thiệt hại nặng và rút chạy (stumble back). Mọi lực lượng trừ bị của QĐ 2 đã cạn kiệt, và rất nhiều trực thăng đã huy động để bốc đội quân bị bao vây này khỏi chiến trường.

Dù trận Đèo Mang Yang đã chấm dứt khi bỏ vùng này cho VC ngày 24/2, những người lính sống sót của đ.đ. 269 DSCĐ vẫn chưa trở về đơn vị. Gia đình của họ ở Suối Đôi đã muốn tìm kiếm người chết để chôn theo truyền thống bộ lạc. Đ.u. Mireau nói với họ rằng VC đã bắn B-40 vào xe đò dân sự là chỉ dấu họ sẽ ko tôn trọng việc dùng xe đò để chỡ xác. Vào buổi tối, ông đã gửi trung sĩ nhất Scearce và trung sĩ McCann đến tiền này ở đèo Mang Yang để tập hợp những kẻ sống sót trong cuộc phục kích. Họ đã bị tiếp đón lạnh nhạt (sullenly) bởi 112 lính Rhade mất hồn (listless) tại tiền đồn này. Trong lúc trung sĩ Scearce đang nói chuyện để cố gắng nâng cao tinh thần cho họ thì 1/3 quân số này đột ngột rời bỏ hàng quân. 

Hai trung sĩ này cuối cùng đã thuyết phục đội quân (contigent) này của Suối Đôi trở về địa điểm phục kích để thu nhặt xác chết đồng đội vào 27/2. Đội quân này đã đến Suối Đôi ngày 1/3 với những lời đe dọa của họ với trung úy Khim (có lẽ là người VN -- người dịch) của LLĐB và các cố vấn Mỹ. Ở Suối Đôi, những người Rhade này trở nên mệt mỏi, chán nản (lethargic) và ko hợp tác với cấp chỉ huy và ngày 10/3 đã từ chối bất cứ hành quân nào trong tương lai. Hậu quả, tất cả họ đã bị nghỉ việc và trại Suối Đôi được giao cho TĐ 3/42 thuộc sđ 22 bộ binh vào ngày 24/3/1965. BTL Mỹ tại Việt Nam hay MAC-V đã nhấn mạnh rằng việc dùng ko đúng cách DSCĐ như đã kể, ko những khiến họ thua trận, mà còn làm tiêu tan rất nhiều các cố gắng của LLĐB nhằm thu phục lòng trung thành và hổ trợ của các DSCĐ. 

VC đã ko thành công khi tấn công các trại LLĐB. Trại Kannack, ký hiệu A-231 với 550 DSCĐ do đ.u. Viau chỉ huy), nằm khoảng 12 dặm bắc của QL-19, bị tấn công bởi một TĐ VC ngày 8/3/65.

                                 


    

 Sau khi mở màn bằng đạn cối, bộ binh địch đã nhanh chóng tràn ngập 2 tiền đồn và vượt qua hàng rào kẻm gai ngoài cùng. Hai bunker nằm trên chu vi phòng thủ có bố trí súng đại liên, đã bị súng không giựt của địch phá hủy và các đặc công với mìn bangalore đã tạo lổ hổng trên vòng kẻm gai bên trong. Tinh thần chiến đấu tuyệt vời (superbe) của những người lính Thượng, chiến đấu từ những vị trí chuẩn bị kỹ lưỡng và chỉ huy dũng cảm bởi đ.u. Viau, cuối cùng đã bẻ gẫy cuộc tấn công. Đặc biệt, hai ổ súng đại liên, bị rung chuyển liên tục vì trúng đạn không giựt và các khối chất nổ, đã đầy xác chết của lính VC trước hai bunker này. Khi hừng đông xuất hiện, các oanh tạc cơ A-1E đã bắn phá và ném bom vào tàn quân VC đang rút lui, theo sau đó là một phản công của DSCĐ nhằm chiếm lại tiền đồn phía nam, nơi mà số lính Thượng vẫn còn sống. 

(Theo một YouTuber ở: https://www.youtube.com/watch?v=NID1JnQP3nIt

thì lực lượng tấn công trại gồm một TĐ đặc công thiện chiến, có sự trợ lực của một trung đoàn bộ binh. Nhưng việc điều quân của họ đã bị lộ cả thắng trước đó, nên quân phòng thủ đã chuẩn bị kỹ lưỡng chờ đợi. Do đó họ đã bị thiệt hại nặng với số người chết khoảng 500 người! Quân trú phòng phải dùng xe ủi đất để đào hố chôn các xác chết -- người dịch).

Theo báo cáo hành quân thì có 34 DSCĐ và 3 thường dân bị chết, 3 lính LLĐB mỹ và 32 DSCĐ bị thương; có 119 bộ đội chết dựa vào đếm xác và số lớn chết đã được kéo đi. 

====

Bài đọc thêm về trận Kannack đăng trên báo Time.

 CHIẾN THẮNG TẠI TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT KANNACK. 

Bài đăng ngày Friday, Mar. 19, 1965

Nguồn: https://content.time.com/time/subscriber/article/0,33009,833551,00.html

Người dịch: Tài Trần.

"Trại nằm trên đỉnh của một ngọn đồi ở phía bắc của QL-19 - con đường tiếp tế từ Qui Nhơn lên Pleiku. 

Từ đồn (compound) của Kannack và sân bay bằng đất kế cận, khoảng 400 cố vấn lực lượng đặc biệt (LLĐB) và các lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) người Thượng ngày đêm giám sát rừng rậm, các dốc núi (slope) trơn trợt và những khe núi (folds of ravines) lý tưởng cho các cuộc tấn công bằng cối của địch. Một con đường nhỏ và độc đạo chạy về hướng nam tới QL-19 - xa lộ từ Qui Nhơn đi Pleiku, nơi mà các đoàn công-voa tiếp tế thường là mồi ngon cho các cuộc phục kích của VC. Tuần qua quân CS đã tấn công Kannack. 

Bọn VC đã chờ tới khi một đám mây dầy chứa đầy mưa bao phủ các đỉnh chung quanh trại này. Nghĩ rằng tránh được máy bay Mỹ, chúng đã tấn công, với quân số gần 1.000 người, vào sườn phía bắc, nam, và đông của trại. Hàng chục tiểu đội đặc công mặc quần cụt đen và khăn cổ màu xanh ngụy trang hay vải dù đã tới sát chu vi bằng kẻm gai. Họ mang theo mìn bangalore. (Đây là chất nổ chứa trong các ống nối nhau, có công dụng để phá hàng rào. Có thể tạo một cửa mở rộng từ 3 đến 4 mét xuyên qua hàng rào kẻm gai. Được xử dụng rộng rải khắp thế giới, từ năm 1012, xem hình--người dịch). Những gì tiếp theo là rất nhiều tiếng nổ. (There followed bangs galore). 

CÁC BÀ VỢ VÀ TUYỆT VỌNG.

Kế đó những lính đặc công đã kéo những rổ làm bằng mây chứa đầy lựu đạn và đạn dược xuyên qua các cửa mở trong hàng rào kẻm gai, và phá hủy một hầm trú ẩn làm bằng bao cát ở góc đông bắc của trại bằng một quả 57 ly không giựt. Bọn chúng đã làm nổ tung (blast) rất nhiều bunker ở góc đông bắc của trại. Tổng cộng có 33 lính của trại chết và 27 bị thương--phần lớn trong đợt tấn công đầu tiên. 

Nhưng những người Thượng này--gồm bộ tộc Hrey, Bahnar, Rhade và Mường--đã quyết tâm cố thủ. Họ đã hướng các súng cối vào các vị trí đã bị tràn ngập, các người vợ đã mang đạn dược tới chiến hào và tiếp đạn vào súng liên thanh của chồng. Đó là một thứ tinh thần sống chết bên nhau, xuất phát từ tuyệt vọng."Tôi nghĩ rằng những người Thượng này đã chiến đấu dũng cảm vì có gia đình ở kế bên,"một cố vấn Mỹ đã nói. "Họ sẽ liều mạng (ruthless) khi đối diện giữa sống và chết. Một người duy nhứt sống sót trong một bunker, và VC gọi y đầu hàng. Y đã chửi bọn chúng và chạy nhanh xuống đồi."

Ở CUỐI CON ĐƯỜNG.

Mất tinh thần, VC đã rút lui. Khi trời sáng, hơn 100 VC nằm chết (dangled) trên hàng rào kẻm gai, một số tay còn cầm (clutch) lựu đạn hay dây đạn. Họ thuộc tiểu đoàn (TĐ) 580 và 801 dày dạn chiến trường, và đều mang vũ khí mới tinh của Khối Cộng (ám chỉ các nước CS Đông Âu và Liên Xô -- người dịch). Điều này chứng tỏ người lính du kích VC được tiếp tế vũ khí và phụ tùng từ các nước CS, một dấu hiệu vững chắc vào chiến thắng cuối cùng.

Phần lớn các tử sĩ CS tại trại Kannack từng bị thương trước đó, có lẽ do phản lực chiến đấu cơ Mỹ đã tấn công vào các vị trí VC dọc QL-19 tháng qua. Một số đã bị trúng thương (nip) bởi "Lazy Dog", một loại bom chống người mới được dùng, có thể nổ ở độ cao 30 yard hay 27,4 m trên mặt đất, bắn ra những mủi tên nhỏ bằng thép trên một khu vực . Trong những người chết có một thiếu úy trẻ CS Bắc Việt có tên Ngô. Trong nhật ký, y kể lại đoạn đường gian khổ dọc theo đường mòn HCM mà y bắt đầu tháng 11 năm ngoái. Y chỉ đến gần trại này vào tuần qua. "Cuộc sống quá gian khổ", y đã viết. "Không đủ ăn, và máy bay liên tục tấn công chúng tôi."

=====

Tuesday, November 17, 2020

 HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TẠI QUÂN KHU 2 TRƯỚC KHI NỔ RA TRẬN BAN MÊ THUỘT NGÀY 10.3.75

...

Lời nói đầu: Trước khi nổ ra trận đánh này, các TL của QLVNCH tại QĐ 2/QK 2 đã có những hoạt động năng nổ nhằm bảo vệ lãnh thổ và duy trì an ninh cho cuộc sống ấm no của đồng bào qua những cuộc hành quân của các sđ 22 và 23 bộ binh, các liên đoàn BĐQ và các tđ ĐPQ và nghĩa quân. Các chiến sĩ này đã đổ nhiều xương máu, đặc biệt trên QL-19 để bảo vệ con đường huyết mạch từ Qui Nhơn đi Pleiku, hay QL-21 từ Nha Trang đi Ban Mê Thuột, hay QL-14 từ ngã ba Dak Song đi Kontum.  Dù có những quyết định sai lầm sau này của cấp lãnh đạo khiến VNCH lọt vào tay CSBV, nhưng tôi LUÔN LUÔN NHỚ ƠN sự hy sinh của những người lính này vì lẽ dễ hiểu: họ đã chết để chúng ta có cuộc sống như hôm nay.

Sau đây là phần chuyển ngữ về những hoạt động của các đv này trước khi xảy ra trận Ban Mê Thuột ngày 10.3.75.-- Tài Trần.

===

"Hoạt động quân sự ko gì đáng kể ở Cao nguyên Trung phần thuộc Quân khu 2 nhưng lại nặng nề tại tỉnh Bình Định ven biển nơi mà SĐ 22 VNCH đã gây thiệt hại nặng cho SĐ 3 CSBV tại lối vào Thung lũng An Lão. Những cuộc tấn công này của VNCH nhằm đánh phủ đầu những tấn công của sđ 3 csbv tại bắc Bình Định.

Đầu tháng Giêng 1975, hai trung đoàn (tr.đ.) 40 và 42 của sđ 22 VNCH, đã chiếm giữ những đồi núi quan trọng ở cửa ngõ vào Thung lũng An Lão và đã đẩy lui thành công nhiều cuộc tấn công của tr.đ. 141 của sđ 3 csbv nhằm đẩy bật các đv này của VNCH ra khỏi các đồi núi này. Trung đoàn CS này bị thiệt hại nặng và sau đó rút lui. Những cuộc tấn công chống lại các vị trí VNCH đã giảm cường độ trong THÁNG HAI và chỉ còn pháo kích. Nhưng tổn thất ko thôi ko buộc sđ 3 csbv này giảm cường độ hoạt động nhưng do họ có NHỮNG NHIỆM VỤ MỚI. Những chỉ dấu đầu tiên của điều này đã tới Tướng Niệm, TL sư đoàn 22, khi đầu THÁNG GIÊNG một tù binh thuộc TĐ 18 truyền tin của sđ 3 csbv đã tiết lộ sự hiện diện của một toán trinh sát của sđ 3 dọc theo QL-19 gần An Khê và Bình Khê.

Thung lũng Vĩnh Thạnh - đôi khi còn được gọi là Thung lũng Sông Côn do sông này chảy về hướng nam đi ngang thung lũng - chấm dứt ở Bình Khê nơi mà sông này quẹo về hướng đông để ra biển và đã tạo một bình nguyên trù phú và rộng lớn trên Qui Nhơn. Thung lũng này, đã bắt đầu từ vùng cao nguyên nhiều rừng và hiểm trở ở bắc Bình Khê, là con đường thiên nhiên tiện lợi giúp sđ 3 csbv tiến sát QL-19 để tấn công các vị trí VNCH dọc theo QL này, xem bản đồ. CUỐI THÁNG HAI và ĐẦU THÁNG BA, thám thính cơ L-19 của VNCH đã phát hiện quân CSBV cải thiện và mở rộng một con đường, rộng 8 m với những CẦU NGẦM, đi từ nam của tỉnh Kontum và xuyên ngang vùng Kim Sơn của Bình Định nơi mà đường này gặp liên tỉnh lộ (LTL) 3A. Những nhánh của đường này lan tỏa vào những khu vực căn cứ CSBV này ở bắc Thung lũng Vĩnh Thạnh, và RẤT NHIỀU XE TẢI CHẠY VÀO khu vực quan trọng này. Hơn nữa, một trung đoàn (tr.đ.) pháo binh mới của csbv, trung đoàn 68, đã bị phát hiện di chuyển súng và đạn dược hướng về nam tới Bình Khê xuyên qua thung lũng. Cũng có bằng chứng mới đã chứng tỏ vào lúc này rằng sđ 3 csbv đã chuyển nhiều đv lớn vào vùng Vĩnh Thạnh.  

Nhận thức đầy đủ đe dọa này đối với QL-19, tướng Niệm đã họp với tỉnh trưởng Bình Định về những biện pháp để bảo vệ đường này và bảo vệ các đoàn "công-voa" tiếp tế cho Pleiku. Ông đã ra lịnh TRUNG ĐOÀN (TR.Đ) 47 phải hành quân thám sát Thung lũng Vĩnh Thạnh kể từ ĐẦU THÁNG HAI, và những đụng độ trở nên thường xuyên và dữ dội (sharp). Trong khi đó, địch đã gia tăng áp lực vào QUẬN PHÙ MỸ và PHÙ CÁT, nằm dọc QL-1 với những tấn công khủng bố vào các ấp và bắn hỏa tiển vào sân bay Phù Cát NGÀY 18 THÁNG HAI 1975, lần đầu tiên kể từ giữa-1974. Rõ ràng CSBV đã tập trung hoạt động tại các đèo trên Ql-19 thay vì bắc Bình Định. 

Tướng Phú, TL QĐ 2, đã quan tâm đặc biệt đến đe dọa nhắm vào huyết mạch chánh này, ý nói QL-19. NGÀY 2 THÁNG 3, ông ra lịnh cho tướng Niệm rút tr.đ. 42 từ các vị trí trên QL-1 và lập một đơn vị (đv) trừ bị lưu động để sẵn sàng tăng viện cho tr.đ. 47 tại Đèo An Khê. An ninh trên QL-1 giao cho ĐPQ Bình Định.

Dù cho chỉ dấu rõ ràng rằng địch đã chuyển trọng tâm về phía nam, tướng Niệm vẫn giữ nửa sđ của ông ở phía bắc, đối diện Thung lũng  An Lão. NGÀY 3 THÁNG BA, BTL sđ 22 ở gần Qui Nhơn với:

- Tr.đ. 40 ở Đèo Phù Củ trên QL-1, ngay phía nam Bồng Sơn, và chiếm giữ cao điểm phía trên và đông của Hoài Ân.

- Tr.đ. 41 ở Bồng Sơn nằm hai bên lối vào Thung lũng An Lão, với một TĐ ở bắc căn cứ English. (Căn cứ này và căn cứ Radcliff tại An Khê nguyên là BTL của sđ 1 không kỵ Mỹ từ 7/1967 tới 1/1968, có sân bay C-130; sau này là căn cứ của lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ. Căn cứ này còn có tên là Bồng Sơn, thuộc quận Bồng Sơn 82 km tây bắc Qui Nhơn trên QL-1.) 

- Tr.đ. 42 làm TRỪ BỊ ở quận Phù Mỹ, dọc theo QL-1.

- Tr.đ. 47 ở QL-19 với hai TĐ tại Đèo An Khê và TĐ 2 hành quân ở bắc Thung lũng Vĩnh Thạnh. (TĐ 2/47 này đã có BỐN TĐ trưởng tử trận chỉ trong CHÍN ngày từ 4-13/3/1975. Vì bị thiệt hại nặng nên trung đoàn này của trung tá LÊ CẦU, sau này lên ĐT,  gần cuối tháng 3 đã được đưa về bắc Bình Định để dưỡng quân và bổ sung quân số và những ngày cuối tháng 3/75 gần như tan rả, đã viết trong bài nói về sđ 22). 

Vào lúc đó phòng tình báo của sđ 22 đã ước đoán việc bố trí của sđ 3 csbv - sau này đã chứng tỏ chính xác - rằng hai tđ của trung đoàn 2 và một tđ của tr.đoàn 141 ở những ngọn đồi ở phía bắc của QL-19 nơi lối vào Thung lũng Vĩnh Thạnh; tr.đoàn 12 ở cao điểm nam QL-19 trong Đèo An Khê, khoảng giữa An Khê và Bình Khê; một tđ của tr.đoàn 2 ở khu vực căn cứ bắc của Vĩnh Thạnh; trong khi hai tđ khác của tr.đoàn 141 bảo vệ căn cứ An Lão ở bắc Bình Định. Đây là những vị trí của họ tại Bình Định trước tổng tấn công mùa Xuân 1975. 

Trong khi các hoạt động dưới đất trong THÁNG GIÊNG ở Kontum và Pleiku giới hạn trong thăm dò, tuần tiểu, hay tấn công, Không quân VNCH hàng ngày bận rộn tấn công các đoàn công-voa gia tăng mạnh mẻ đang xuôi nam dọc theo các hành lang tiếp vận MỚI của CSBV. (Hoạt động tiếp vận gia tăng này của csbv cũng dễ hiểu vì sau khi ký kết HĐ Paris 1973, không quân Mỹ ko còn hoạt động, và KQ VNCH đã bị hạn chế nhiều do cắt giảm mạnh về xăng dầu và cơ phận thay thế mà tôi đã viết trong bài "Cái Chết Được Báo Trước" -- Người dịch). Đầu tháng 1/75, ở bắc TP Kontum, 17 xe tải CSBV chở đầy hàng bị hủy diệt, đây là một hoạt động thường đc lập lại trong suốt tháng này và qua tháng 2. Trong khi đó, các toán viễn thám của BĐQ đã đột kích vài lần để phá ống dẫn dầu. Dù có thành công, việc phá hoại này chỉ gây khó khăn tạm thời cho địch. Trong khi đó, ngày 9 tháng giêng 1975, đặc công csbv đã tấn công đốt cháy 1.500.000 GALLON HAY 5.680.000 LÍT dầu thuộc nhiều chũng loại - một tổn thất nặng cho không quân vnch vốn đang bị khó khăn về tiếp vận. 

Ngày 10 tháng giêng, một đv của liên đoàn 23 BĐQ đã đến một vị trí 10 km bắc Kontum trên QL-14. Họ định đến Võ Định nhưng bị bắc quân đẩy lui. Trong khi đó, tại tỉnh Pleiku, dọc theo QL-19 đông của Lệ Trung, bắc quân đã tràn ngập nhiều tiền đồn của tđ 223 ĐPQ. Trung đoàn 45 của sđ 23 đã phản công và trong vài ngày đã tái chiếm những vị trí này.

Nhận định đe dọa giảm thiểu tại tỉnh Quảng Đức do tr.đ. 271 csbv đi chiến đấu tại Phước Long, tướng Phú ra lịnh cho tr.đ. 53 chấm dứt hành quân (HQ) ở đây và trở về căn cứ của sđ 23 ở Ban Mê Thuột. Nhưng có một triển khai đáng kể ĐANG DIỂN RA ở Mặt Trận B-3. SĐ 968 csbv, từng gửi tr.đ. 9 tới Pleiku tháng giêng năm 1974, đã di chuyển từ Nam Lào với tr.đ. 19 và 39 của họ vào Kontum và Pleiku. Dù hiệu quả tác chiến của sđ 968 được xem rất thấp do ko hoạt động trong hai năm qua tại vùng cán chảo của Lào, sđ này đã thay thế sđ 320 thiện chiến để bảo vệ trung tâm tiếp vận Đức Cơ, nguyên là một trại LLĐB Mỹ, do đó sđ 320 đã đc mặt trận B-3 xử dụng. 

Qua tin tình báo, giữa tháng 1, sđ 320 CSBV này đã di chuyển về phía nam về tỉnh Darlac, và một vị trí tập trung quân (buildup) gần Ban Mê Thuột (BMT) được phát hiện. NGÀY 30 THÁNG GIÊNG, Không quân (KQ) đã phá hủy ba xe tăng bắc quân tại một khu căn cứ ở bắc BMT, và tr.đ. 53 đã mở HQ vào khu vực này, chỉ gặp chống đối nhẹ.Tướng Phú đã gửi TĐ 2 của tr.đ. 45 (TĐ 2/45), từ nam Pleiku để tăng cường an ninh dọc QL-14 gần nơi mà ranh giới ba tỉnh Pleiku, Darlac, và Phú Bổn gặp nhau. NGÀY 4 THÁNG 2, gần làng BUÔN BRIÊNG, tđ này đã tiếp nhận một HỒI CHÁNH VIÊN thuộc tr.đ. 48, sđ 320 csbv, y đã xác nhận rằng sđ 320 đang di chuyển tới tỉnh Darlac. Y nói rằng sđ 320 rời Đức Cơ khoảng 12 THÁNG GIÊNG và những toán trinh sát của sđ 10 và 320 đã có mặt ở tỉnh Quảng Đức và Darlac trong những ngày gần đây. 

Tại tỉnh Darlac trong ĐẦU THÁNG HAI, VNCH đã có một BCH tiền phương của sđ 23 tại BMT, hai tđ của tr.đ. 53, một tđ của tr.đ. 45, và sáu trên bảy tđ ĐPQ của tỉnh. Trong khi tđ DPQ thứ bảy hoạt động tại tỉnh Kontum, sáu tđ tại Darlac đóng rải rác và xa nhau. Hai TĐ chung quanh Bản Đôn, tây bắc của BMT; một tđ tuần tiểu trên Đường số 1 giữa BMT và Bản Đôn; một tđ trong một tiền đồn ở bắc của BMT trên Đường 430; một tđ bảo vệ một làng tái định cư trên QL-21 gần ranh giới tỉnh Khánh Hòa; trong khi tđ thứ sáu ở quận Lạc Thiện. (Các TĐ ĐPQ này phần lớn là dân thiểu số -- Người dịch).

Tướng Phú đã đáp ứng đe dọa ngày càng lớn này tại tỉnh Darlac bằng cách đưa cả tr.đ. 45 trên đây về khu vực ranh giới tỉnh Darlac-Phú Bổn, nhằm tìm và diệt các thành phần của sđ 320 csbv. Trong khi những cuộc HQ này đang diển ra ở bắc của BMT, TRONG HAI TUẦN CUỐI CỦA THÁNG 2, địch đã phục kích BA ĐOÀN CÔNG-VOA VNCH trên QL-21 ở đông của BMT. TRONG NGÀY CUỐI THÁNG HAI, một đv VNCH đã phục kích một toán trinh sát địch chỉ cách BMT 12 km về phía bắc, và Phòng 2 của Quân đoàn (QĐ) 2, cũng như phòng 2 của Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) đã nghĩ rằng một tấn công lớn vào BMT là điều chắc chắn (imminent).

Trong khi đó, GIAO CHIẾN ÁC LIỆT, vẫn nổ ra ở tỉnh Pleiku và Kontum. LẦN ĐẦU TIÊN KỂ TỪ tổng tấn công năm 1972, TP Kontum NGÀY 28 THÁNG HAI, và NGÀY 4 THÁNG BA, bị pháo bằng đại bác. Tại tây Pleiku, tr.đ. 44 (của ĐT Ngô văn Xuân) và liên đoàn (LĐ) 25 BĐQ bị tấn công dữ dội tại quận THANH AN. Nghĩ rằng mục tiêu chánh của CSBV là Kontum và Pleiku, và đụng độ ở BMT chỉ là đánh lừa (deception) hay nghi binh, tướng Phú đã rút tr.đ. 45 (của ĐT Phùng văn Quang) từ Darlac về Pleiku! Ông cũng ra lịnh sđ 23 bộ binh dời BCH tiền phương khỏi BMT để về Pleiku. Hơn nữa, NGÀY 4 THÁNG BA, ông ra lịnh tướng Niệm chuẩn bị đưa tr.đ. 42 về Pleiku.

Sau khi các lịnh và chuyển quân này hoàn tất, tướng Phú khoanh tay (settle back) chờ địch quân tấn công Kontum và Pleiku. Bố trí quân của ông ở cao nguyên, TÍNH TỚI NGÀY 3 THÁNG BA, như sau:

- SĐ 23 - BTL đặt tại Hàm Rồng 12 km nam TP Pleiku.

- Tr.đ. 44 - từ 20 đến 25 km tây của Pleiku tại quận Thanh An.

- Tr.đ. 53 - BCH và TĐ 1 và 3 ở 20 km bắc của BMT; TĐ 2 ở ngã ba Dak Song tại Quảng Đức.

- BCH BĐQ Quân khu 2 đặt tại Kontum - do ĐT Phạm văn Tất chỉ huy.

- LĐ 4 BĐQ với TĐ 44 gần Pleiku làm trừ bị, TĐ 42 ở Blei Bâu Cần (trên QL-19 tây của QL-14), TĐ 43 tăng phái cho sđ 23 tại Hàm Rồng. 

- LĐ 6 BĐQ với TĐ 35 và 36 đông và đông bắc của TP Kontum, TĐ 51 tăng phái cho LĐ 25 ở Thanh An.

- LĐ 21 BĐQ có TĐ 96 ở đèo Chu Pao, giữa Kontum và Pleiku, TĐ 72 trừ bị ở Kontum, TĐ 98 tăng phái cho LĐ 6 ở đông nam Kontum. (LĐ do trung tá Lê Quí Dậu chỉ huy, sau này đã được lịnh tiến về BMT sau khi có tin quân CSBV sắp tấn công TP này -- Người dịch).

- LĐ 22 BDQ với TĐ 95 ở Trương Nghĩa (có lẽ là làng Trung Nghĩa với đa số là giáo dân, cách Kontum 17 km về phía tây -- Người dịch), TĐ 88 ở Núi Ngọc Bây tây bắc Kontum, và TĐ 62 làm trừ bị ở Kontum.

- LĐ 23 BDQ - gồm 11, 22, và 23 ở bắc Kontum, dọc QL 14.

- LĐ 24 gồm các TĐ 63 ở Gia Nghĩa, 81 ở nam Kiến Đức; và 82 ở Kiến Đức, tỉnh Quảng Đức. (TĐ này do thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy, sau khi tỉnh Quảng Đức thất thủ, vì LĐT và phó bị thương và bịnh, ông đã đưa cả LĐ băng rừng vượt núi về Phan Thiết, riêng TĐ ông về Xuân Lộc để tham chiến dưới quyền sđ 18 -- Người dịch) . 

- LĐ 25 BDQ - TĐ 67, 76 và 90 ở Thanh An, Pleiku. "


Thung lũng Vĩnh Thạnh


Căn cứ English là nơi đặt BTL SĐ 1 Không kỵ Mỹ. 


Trại Radcliff, cũng là nơi đặt BTL SĐ 1 Không kỵ Mỹ



Dịch từ trang 139 - 141 của quyển From Ceasefire to Capitulation (Từ ngưng bắn đến đầu hàng) của ĐT Le Gro thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng DAO tại VNCH trước 75. 

San Jose ngày 17 Nov 2020.