Wednesday, January 17, 2024

TRẬN PLEI RINH, TRÊN LTL-7, NGÀY 22/3/1954 

https://dictionary.reverso.net/english-french/lowlanders+who+were+more+at+a+loss+in+the+jungle

. . . 

Tháng ba đã trở nên một ác mộng của chiến đoàn 100 của quân đội Pháp, nhưng vì một lý do hoàn toàn khác. Lần này, VM, thay vì theo đuổi thuận lợi rõ ràng của chung quanh Pleiku, lại lần nữa đã tan biến trong rừng núi. Dù binh sĩ đau chân và mệt mỏi, thường xuyên bị quấy rầy (plague) bởi muỗi và vắt, lại phải đẩy và kéo theo các đại bác, chiến xa và xe tải, nhưng chiến đoàn (CĐ) lại đc lịnh phải yểm trợ cho liên đoàn 3 Dù (gồm 3 TĐ và pháo binh và các đv cơ hữu) - đã đc thả dù xuống NGÀY 1/3 để bao vây trung đoàn 803 hay 108 VMCS, trước giờ luôn né tránh đụng độ với quân Pháp. CĐ sẽ tiến theo hướng đông dọc theo QL-19 để đến làng Pleibon. (Nói thêm: Theo bản đồ của hội Địa lý Quốc gia Mỹ in tháng 2 NĂM 1967, làng này nằm trên một hương lộ hay đường làng bắt đầu từ QL-19, đi về phía bắc; trước khi tới làng Kon Mahar, sẽ thấy núi Kon Lak khá cao tới 5643 ft hay 1720 m ở bên phải. Tới làng này, hương lộ quẹo trái sẽ tới làng Kon Bah, nằm rất gần và ở đông nam của Kontum -- người dịch). Sau vài ngày mưa gió, con đường rất xấu tới Pleibon đã trở nên đầy bùn tới-mắt-cá-chân khiến các xe cộ của CĐ giống như chạy trong vũng lầy (quagmire) ko đáy. 

Trong cái nóng ẩm ướt cháy da (searing), các người lính tiếp tục tiến tới với sức mạnh của tuyệt vọng - khi nghĩ rằng địch sẽ phải ở đâu đó! Nhưng nhật ký hành quân của TĐ 1 Korea vào ngày 1/3, đã ghi ngắn gọn (tersely), "Cảm giác trống không tiếp tục." Đây chính là điều đã đc BTTM của Pháp tại Đông Dương đặt tên là "cuộc chiến của những vườn không nhà trống" -- hoàn toàn ko giống cuộc chiến mà họ đã dự trên những đồng bằng và ruộng lúa với những nông dân - ở Nam phần. Ở đây, có thể cả một ngày trời họ ko thấy một bóng người; thật tình mà nói (to be sure), thì vẫn có vài túp lều, nhưng ko có ai. Vì những dân thiểu số trung thành với Pháp giờ đây sống trong đồn hay trại, và những kẻ khác thì theo VM rút vào những đồi núi chỉ cách đường vài km. 

Cuộc đột kích cuối cùng của LĐ nhảy dù này vào phía bắc của làng DÉ  KYENG hay DE KIENG phía đông nam Kontum, hỗ trợ bởi một pháo đội của CĐ 100, ko mang lại kết quả, ngoài việc tìm thấy vài vị trí đóng quân của VM đã có người ở trước đó 3 tới 5 ngày - và ở phía bắc của Dé Kyeng bắt đầu là vùng đánh dấu màu vàng trên bản đồ. Ngày 14/3, cuộc HQ kết thúc, vì lính Dù phải rút ra để đc thảy vào Điện Biên Phủ và CĐ 100 đc chỉ định nhiệm vụ bảo vệ đoàn công-voa hàng tháng chạy từ Pleiku đi An Khê, dài 100 km. Một lần nữa, kẻ thù đã né tránh đụng độ, và một lần nữa, CĐ đã mệt đứt hơi (dead-tired) này phải di chuyển trở về Pleiku, sau đó theo QL-14, đi về hướng nam tới ngã ba Mỹ Thạnh, và quẹo trái vào LTL-7. Họ phải vượt qua 130 km trong hai ngày để đối diện một đe dọa mới từ kẻ thù cũ của họ, đó là trung đoàn 803 VMCS, mà theo tin tức đang gần làng DO DAK BOT, nằm trên một hương lộ đi từ TL-7 tới QL-19. 

Giờ đây, hai trung đoàn VMCS tại khu vực cao nguyên (plateau) trung tâm đã chuẩn bị chiến thuật của họ đến từng chi tiết: ko vướng bận (unhamper) bởi chiến cụ nặng, cũng ko ràng buộc phải bảo vệ mấy trăm km đường xá, VM đã luôn luôn có thể di chuyển nhanh hơn bất cứ đv cơ giới nào - luôn luôn phải dựa vào hệ thống đường xá để di chuyển. (Tình hình này đã lập lại trong cuộc chiến từ 1954-75 -- người dịch). Với sự khéo léo của một cao thủ dày dặn (seasoned), trung đoàn 108 sẽ thu hút CĐ 100 về phía nam nơi ko có đường xá; trong khi chủ lực của trung đoàn 803, tức hai TĐ 39 và 59, nhanh chóng tiến về phía nam dọc theo sông Dak Ya-Ayun (chảy từ bắc xuống nam) để đến ngã ba trên đây khoảng HAI NGÀY trước CĐ bắt đầu hành quân. Vào lúc mà BCH CĐ dựng trại đóng quân chung quanh làng Plei Rinh, nằm trên LTL-7, VM lại lần nữa giương bẫy. Bẩy sẽ căng ra ngày 22/3/1954 lúc 0245. 

CĐ đã hạ trại chung quanh một đồn nhỏ ở làng này, đồn gồm một ngôi nhà với kẽm gai bao quanh đc thiết kế để cung cấp chỗ trú ẩn trong mùa mưa cho một trung đội lính địa phương nhằm thu thuế hơn là một cứ điểm quân sự. CĐ lập tuyến phòng thủ theo hình bán nguyệt, tựa lưng vào sông Dak Ya-Ayun. BCH, pháo và xe tăng ở giữa và 3 TĐ ở chung quanh. Thung lũng hơi bằng phẵng cung cấp xạ trường tốt dù vài chỗ bị vướng các bụi cây (clump of brush). Các tiền đồn ở trước phòng tuyến chánh (military line of resistance hay MLR) đã báo ko gì khả nghi cho tới khoảng 0245, khi một khu vực của TĐ 2 Korea báo cáo có vài chuyển động ở gần sông Dak Ya-Ayun.

Lúc 0245, toàn khu vực của CĐ bị tấn công bởi hỏa lực cực kỳ dữ dội của súng cối, và hầu như ngay sau đó bởi hỏa lực chính xác và tập trung của các súng trường và vài súng đại và trung liên. BCH và TĐ 2 Korea gần như lập tức trúng vài quả cối, và vào khoảng 0330, những tiếng hét gây kinh hải (dread scream) "Tiến lên" đã vang dội trong khu vực của tđ 2 Korea trong khi lính VM trong bộ đồ đen xung phong vào vị trí của đ.đ. 5 của TĐ 2 Korea, làm bị thương và bắt sống đại úy Charpentier. 

Cùng lúc, cuộc tấn công nghi binh bởi súng không giựt của VM, vào trung đội lính địa phương ở đồn Plei Rinh, đã làm cháy đồn, và soi sáng chiến trường, và sau đó vài phút là hai xe GMC của TĐ 2 Korea cũng bị cháy vì trúng đạn cối.  Ánh lửa đã tạo thuận lợi cho lính Pháp vì các xe tăng của thiết đoàn có thể can thiệp dễ dàng , bằng cách xông vào khu vực của TĐ 2 Korea để cứu đ.đ. 5 khỏi bị tiêu diệt; những kẻ sống sót của đ.đ. đã phản công và cứu đ.u. Charpentier. 

Một số lính VM đã tới gần BCH CĐ, nhưng bị bắn vào phút chót bởi lính của đ.đ. chỉ huy. Tới 0430, trung đoàn 803, nhanh chóng như lúc xuất hiện, đã tan biến vào rừng gần đó. Các oanh tạc cơ và L-19, đến vào lúc bình minh, dĩ nhiên, ko thấy gì hết. Sau đó, một toán trinh sát của TĐ 1 Korea đã tìm thấy một BCH và doanh trại trống rổng của trung đoàn 803. Một số lớn băng cứu thương đẫm máu chứng tỏ rằng VM cũng bị tổn thất. Ba mươi chín VM bỏ xác tại trận và 2 bị thương. 

Nhưng phe Pháp cũng nặng ko kém - 36 chết, gồm một đ.u.; 177 bị thương, gồm thiếu tá Kleinman-TĐ trưởng của TĐ 2 Korea, và 13 sq khác; và 8 mất tích. Ngoài ra, CĐ đã gần hết đạn và dụng cụ cứu thương. CĐ, như một võ sĩ, vẫn có thể chiến đấu, dù đã mất máu nhiều do thương tích (maul). 

Trong một nhật lịnh, ĐT Barrou đã khen lính của ông về can đảm và đã khiến cho "trung đoàn 803 VM bất khả chiến bại và luôn né tránh, phải nhục nhã trong trận này khi bỏ người chết và bị thương tại chiến trường."

"Cho phép tôi bày tỏ tới các chiến hữu," ông nói tiếp, "niềm hãnh diện, sự trìu mến của tôi và tin tưởng của tôi vào tương lai và vào chiến thắng của chúng ta."

Nhưng những ngày qua vẫn còn là khó khăn với CĐ 100 khi TĐ 1 Korea quân số từ 834 trong tháng 12 chỉ còn 532. May mắn là TĐ 2 Korea và TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa chỉ bị thiệt hại nhẹ (hardly less severe) - và điều xấu nhứt vẫn chưa đến. 

Với người bị thương đc di tản gần hết và đạn dược và xăng dầu đc thay thế gần hết, một tình trạng khẩn cấp khác chung quanh An Khê đã khiến CĐ lại lên đường. Cho tới nay, An Khê đã đc xem như một khu vực tương đối yên tỉnh, dù có bị VM xâm nhập hay nội tuyến, nhưng ko đến mức sắp bị VM tràn ngập. Việc phòng thủ TP này trong tay của CĐ 11 (tác giả Trần ngọc Nhuận của "Ký ức đời quân ngũ" đã từng phục vụ trong TĐ 1 của trung đoàn này -- người dịch),  gồm toàn lính VN gốc người Kinh (Vietnamese lowlander). BCH của VM ko để cơ hội này tuột mất. 

NGÀY 30/3/54, hai TĐ độc lập của "Liên-Khu 5" đã tấn công đồn VN bảo vệ ĐÈO MANG, có nhiệm vụ kiểm soát đường tiến sát phía đông của An Khê. Khi bình minh xuất hiện đồn này đã bị hủy diệt và trang bị của cả một TĐ bộ binh và 4 khẫu 105 ly lọt vào tay VM. Cùng lúc, tình báo cho biết việc tái xuất của TĐ 39 và TĐ vũ khí nặng của trung đoàn 803 VM ở vài km nam QL-19, trong một hành động có vẻ định cắt An Khê từ hướng tây. 

NGÀY 1/4/1954, toàn CĐ - gồm xe tải, tăng, pháo - lại lần nữa đã vượt hơn 140 km để tới QL-19 hầu đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ bán-tỉnh (semi-static) cho toàn khu vực cao nguyên trung tâm này, với đại tá Barrou làm TL vùng An Khê và khu vực bộ lạc Bahnar, để giảm nhẹ gánh nặng của CĐ 11 ko còn tinh thần chiến đấu. Một lần nữa, CĐ chuyển quân từ Plei Rinh trên LTL-7 ngược về Pleiku với không khí miền Viễn Tây, nơi mà vài chủ đồn điền trà người Pháp còn lại tụ họp mỗi tối tại "Bar Embuscade" với súng Colt bên hông và xe Jeep xích vào một cái trụ để khỏi bị trộm. CĐ đã ko ngừng ở đây và tiếp tục chạy trên QL-19, đi ngang nơi đóng quân cũ của tđ 1 Korea và ngã ba nơi mà những người của Dak Doa đã đánh trận cuối cùng. (Trên QL-19, có một ngã ba để vào làng Dak Doa ở phía tây bắc của ngã ba này và một trận ác chiến đã xảy ra ở ngã ba này giữa CĐ 100 và VM -- người dịch). Và lần nữa, họ lại vượt sông Dak Ya-Ayun, nơi mà tháng trước đây, họ đã truy đuổi vô ích trung đoàn 108 VMCS tới một khu rộng lớn ở phía bắc làng Plei Bon, và bây giờ CĐ đang tiến về đèo Mang Yang và căn cứ phòng thủ kiên cố kế nó, ở cây số 22, nghĩa là cách An Khê đúng 22 km. 

QL-19 ko còn an toàn cho mọi thứ trừ các đoàn công-voa có hộ tống, và chuyến đi của ĐT Barrou tới An Khê cũng là một cuộc HQ. Với đ.đ. 1 và 4 của tđ 1 Korea và hai đ.đ. của tđ thuộc trung đoàn 43 thuộc địa, CĐ mở đường tới CÂY SỐ 11 trong khi CĐ 11 gửi ba đ.đ. từ An Khê tới cây số 11 để hộ tống ĐT và đoàn xe chỡ xăng tới cứ điểm An Khê. Sau khi đã tới An Khê vô sự, đoàn xe quay về và tới 14:45 g, ĐT Barrou và các xe chỉ huy và những xe bồn ko còn xăng đã vượt cây số 11 để vào vùng bảo vệ bởi các toán tiền tiêu của tiểu đoàn 43 và TĐ 1 Korea. 

Giờ đây họ bắt đầu chuyển quân như sau: Khi đv đầu tiên bắt đầu di chuyển từ A tới B thì đv thứ 2 vẫn ở tại A sẵn sàng chiến đấu. Khi đv đầu tiên đã tới B thì báo cho đv thứ 2 biết để đv này di chuyển và đv đầu tiên phải sẵn sàng để bảo vệ đv thứ 2. Họ phải lần lượt làm như vậy tới lúc đến vị trí an toàn mới thôi. Và tđ 1 Korea đã chuyển quân an toàn.

Lúc 1520, lịnh từ BCH ở cây số 22: "Đoàn xe đã tới an toàn. Rút quân." Hai đ.đ. của tđ 43 bắt đầu đi bộ về phía tây vì họ ở gần BCH, với đ.đ. 1 của đ.u. Léouzon đi sau.

Đoàn quân bắt đầu di chuyển trong tiếng lách cách của trang bị và súng đạn và họ rất mệt. Một tiểu đội dưới quyền chỉ huy của TS Li-Som, người Miên (phần lớn tđ 43 thuộc địa là lính Miên), dẫn đầu. Lúc này là 15:30, mặt trời vẫn còn cao và TĐ 43 thuộc địa ỏ khoảng 2 km tây của cây số 15.

Đột nhiên, Li-som đứng lại. "Cái gì vậy, Li-som," đại úy Léouzon của đ.đ. 1 nói. "Ông thấy cái gì?" Giờ đây mọi người của CĐ bây giờ đều biết, một trong những phục kích tệ hại nhứt đã xảy ra vào lúc cuối một cuộc chuyển quân vô sự.

"Không, đích thân," Li Som nói, mặt y nhăn nhó vì tập trung suy nghĩ, "súng liên thanh. TĐ 1 Korea đã đụng rồi."

Giờ mọi người trong đ.đ. 1 của tđ 43 đều nghe: súng liên thanh và súng không giựt của VM nổ rền trời. Đây là một cuộc phục kích lớn, và cái giá xứng đáng để bỏ ra - hai đ.đ., 10 xe tải và một trung đội thiết giáp. Đ.đ. của Léouzon ko cần ai ra lịnh. Khoảng 1530, họ bắt đầu đi ngược về cây số 15, sau đó năm phút là trung đội 4 của chi đoàn 5 thiết giáp, chỉ huy bởi đ.u. Doucet.

Mọi thứ đã bùng nổ ở cây số 15. Đ.đ. 4 của TĐ 1 Korea vừa vượt qua đ.đ. 1 của TĐ và bắt đầu bố trí khi, ko có một tiếng động của cảnh báo trước, mọi xe tải của đ.đ. này bị hỏa lực của liên thanh và súng trường từ lề nam của đường. Trước khi các binh sĩ có thời giờ để ngừng xe, xe tải đi đầu đã nổ tung và bốc cháy, và làm cản đường khi xe tải thứ hai vừa tới. Giây lát sau, lần nữa tiếng hô "Tiến lên" và lính chính quy VM (TĐ 19 của trung đoàn 108 và TĐ độc lập 30 của Liên-Khu 5) đã bắt đầu xung phong từ các bụi rậm (thicket).

Đ.đ. 4 gồm toàn lính dày dặn (seasoned); những ai còn sức chiến đấu nhảy khỏi xe tải và hướng về lề đường cao hơn bên phải. Lúc 1525, đúng vào lúc TS Li-Som nghe tiếng súng đầu tiên, những kẻ sống sót của đ.đ. 4, bây giờ chỉ huy bởi các hạ sĩ (corporal) - vì các tất cả các SQ và HSQ của đ.đ. đều chết hay bị thương - đã chiến đấu cho trận cuối cùng của cuộc đời. Thực tế, họ đã tập hợp lại đủ để tung ra hai cuộc phản công dù ko hiệu quả để chống kẻ thù với hy vọng cứu một số kẻ bị thương khỏi chết cháy trong các xe đang cháy hay giúp họ khỏi bị VM dùng làm khiêng đở đạn khi vm tiến qua đường. Hơn nữa, một lời cầu cứu đc gửi tới BCH, và những đv khả dụng của CĐ đang trên đường tới cây số 15. Đ.đ. 1 của tđ 43 thuộc địa tuy ko nhận được cầu cứu này nhưng cũng quay về địa điểm phục kích.

Đv đầu tiên tới địa điểm phục kích là đại đội đoạn hậu (rea guard), với thiết giáp cơ hữu gồm hai chiến xa nhẹ và chiếc half-truck dẫn đầu chạy hết tốc lực (hell-for-leather) xông thẳng vào trung tâm của chỗ phục kích, với hy vọng sự xuất hiện của thiết giáp ít nhứt sẽ khiến lính vm sợ hãi (startle) và tạo cơ hội cho đ.đ. 4 tập hợp lại. Nhưng lính vm cũng dày dạn. Chiếc half-truck có tên Dingo (theo truyền thống của quân Pháp, mọi xe thiết giáp đều đc đặt tên) đã ngừng hẳn vì một đạn không giựt trúng vào trục trước; trong khi chiếc tăng đi kế bắn vào chiếc xe half-truck này bằng đại liên làm bị thương TS Lem trưởng xa và hạ sĩ Trần văn Srey xạ thủ bị thương. Hỏa lực dầy đặc và chính xác nhắm vào khe hở (slit) của các xe tăng khác khiến làm bị thương một số lính trên xe tăng và VM bắt đầu trèo lên các xe này. 

Vị cứu tinh đã giúp đv này khỏi bị hủy diệt là đ.u. Doucet chỉ huy trung đội tăng số 4. Các xe tăng của ông vừa chạy vừa bắn vào địch quân đã giúp giúp các xe bọc sắt tạo thành một hình vuông để giúp những kẻ sống sót của các đ.đ. bộ binh có chỗ ẩn núp. Điều này đã làm chậm bước tiến của vm một lúc. Từ 1600 đến 1700, họ đã bốn lần tấn công các xe tăng, có vẻ bất chấp tổn thất về phía họ. Hai lần họ đã trèo lên hai xe tăng có tên Diable và Dingo - chiếc này đã bị trúng đạn trước đó, để rồi bị đánh bật bằng cận chiến bởi lính thiết giáp, và có một lúc hình như là giờ phút cuối của các xe tăng khi đạn sắp hết sau gần 90 phút tác xạ dữ dội.

Điều lạ lùng là đại bác của CĐ vẫn yên lặng. "Đại bác ở đâu?" Doucet gọi về BCH CĐ. "Không thể can thiệp," là câu trả lời, "Có một L-19 đang bay trên đầu bạn." Trong lúc đánh nhau, ko ai để ý chiếc máy bay này, nhưng bây giờ người ta mới nghe nó. Liền sau đó là các oanh tạc cơ B-26, do Mỹ sản xuất, từ Nha Trang bay tới. VM bắt đầu rút lui vào rừng nhưng ko kịp. Lấy các xe bị cháy của đ.đ. 4 làm mốc, chúng bay sát ngọn cây, ném những bom màu đen. Đó là những bom napalm sẽ thiêu đốt đến chết những ai bị trúng bom. 

Đ.đ. 3 của tđ 1 Korea vừa tới với một xe chở đạn cho xe tăng đã thêm sức mạnh của quân Pháp. Vì vm lo đối phó với B-26, lính Pháp đã phản công lần cuối lúc 1715. Yểm trợ bởi xe tăng có tên "D'Arc II" và đại bác tự hành có tên "Duroc", đ.đ. 3 của trung úy De La Brosse và vài thành phần của đ.đ. 1 cố gắng di chuyển ngang qua đoàn xe, bằng cách đẩy những xe hư ra khỏi đường và khởi động những chiếc khác, trong khi vẫn dưới hỏa lực địch. Lúc 1900, tất cả những kẻ chết và bị thương của ba đ.đ này hay của các xe tăng trúng đạn đều đc đưa lên xe tải. Đoàn xe vừa đụng trận (batter) này đã bắt đầu rút về km số 22 nơi mà một lần nữa, toán đoạn hậu, lần này là đ.đ. của De La Brosse và thiết giáp, bị tấn công.

Tác chiến trong rừng núi ko dễ dàng chút nào. Trong bóng tối của đêm nhiệt đới, đó là địa ngục (hellish). Khoảng 15 VM tấn công đại bác tự hành "Duroc"mà tài xế chỉ thấy chúng vào giây phú cuối và đã tăng tốc xe, cán lên ba tên thành đống thịt bầy nhầy với xích của xe này. Nhưng lính VM ko bị lung lay (were not to be shaken); TS Piccardat, trưởng xa bị bắn vào mặt, trong khi tài xế, hạ sĩ Bonnat, tử thương vì trúng đạn ở ngực. Xe ko tài xế đã lao xuống đường mương kế đường, với lính VM vẫn còn bám trên xe. Piccardat bị VM lôi đi (drag out) và một tài xế khác, Danh Cương đã bị trói và sắp bị lôi đi khi chiếc "D'Arc II" của TS Temmermann xuất hiện gần khúc quanh (bend), với đèn pha chiếu sáng và đại liên nổ dòn. 

Với bình tỉnh, như đang thực tập, TS trẻ Temmermann leo ra khỏi tăng với hai ng lính, trèo lên chiếc đại bác tự hành "Duroc" và tháo máy truyền tinh, tháo khóa nòng hay quy-lát (breech block) của súng và những giấy tờ trên xe, và sơ cứu cho Piccardat và Bonnat đang hấp hối, và đặt họ và hai lính của chiếc "Duroc" vào xe tăng của y.

Nhưng đó ko phải là trận đánh cuối cùng trong ngày. ĐV thiết giáp của đ.u. Doucet khi hộ tống đám lính bộ binh này về trại ở km 22, lại lọt ổ phục kích lúc 2000. Kiểu cách cũng như cũ: tấn công trực tiếp vào xe tăng. Một đại bác tự hành khác, có tên "Don Quixote" bị trúng đạn và hai lính trên xe bị thương. Trong chỉ vài phút, VM đã tràn lên các xe tăng, trong khi đó, các xe tăng đều chiếu sáng xe trước và bắn đại liên vào xe trước. Lính bộ binh chung quanh xe ko thể can thiệp hữu hiệu vì sợ bắn vào lính xe tăng hay bắn lầm vào nhau. Giống như voi bị hổ tấn công, các xe tăng bắn vào các kẻ tấn công họ. Lúc 2300, trung đội thiết giáp cuối cùng đã ầm ầm (rumble) tiến vào chu vi phòng thủ, kéo theo nó hai chiếc half-truck đã bị trúng đạn vào buổi chiều. Những ng lính thiết giáp này đã trải qua 9 - 11 giờ trong thùng xe với nhiệt độ bên trong là 110 độ F hay 43.3 độ C!

Ngày hôm sau, một đoàn thám sát mạnh mẻ gồm TĐ 2 Korea và một đ.đ. của 43 thuộc địa đã đến chỗ phục kích để thấy 7 xác lính Pháp - lúc đầu nghĩ là mất tích, cũng như 23 xác VM - và lần nữa một cử chỉ mã thượng (gesture of chivalry) của VM: một lính Pháp bị thương nằm giữa đường, đc băng bó và cho ăn!

Một lần nữa, tổn thất thật khủng khiếp: CĐ có 90 chết và bị thương, trong đó 1 thiếu úy chết, so với 81 VM chết đếm đc. Từ 175 người mỗi đ.đ., đ.đ. 1 của tđ 1 Korea chỉ còn 67, đ.đ. 2 còn 83, đ.đ. 4 còn 94. CĐ vừa có một diển tập (rehearsal) cho chính họ mười tuần trước khi CĐ bị xóa sổ (vào ngày 24-25/6/54), và chỉ cách 1.6 km nơi mà họ sẽ bị xóa sổ. Sân khấu đã đc dàn dựng cho chương cuối cùng của cả hai phía.

Dù bị tổn thất nặng CĐ vẫn ko thay đổi nhiệm vụ. Đó là giảm gánh nặng hay giải vây cho CĐ 11 (mà tác giả Trần Ngọc Nhuận phục vụ) tại An Khê, vì đv này đc xem như mất hết tinh thần (too demoralizes) để phòng thủ toàn lực (all-out), và CĐ phải giữ An Khê với một LL nhỏ hơn so với LL của địch chưa bao giờ tập trung như vậy trong vùng. Trong lúc đó, BCH tại Cao Nguyên vẫn còn nhiều lạc quan. Thực vậy, CĐ 100 là đối tượng của một nhật lịnh đặc biệt vào ngày 9/4/1954 như sau:

... Bằng cách tiến nhanh dọc theo Sông Ba, bạn tấn công cạnh sườn phía tây của địch và chiếm Củng Sơn. Và, trong một bước nhảy vọt bạn trở lại Kontum và đánh địch ở một khu vực mà địch muốn tới...

... Và vài ngày sau, bạn sẽ gây ngạc nhiên cho họ tại La PIT và --- trong khi tiến nhanh bằng thiết giáp và cận chiến với súng trường, hỗ trợ bởi pháo -- bạn sẽ gây thiệt hại nặng cho chúng...

Bạn sẽ ko cho kẻ thù cuồng tín nghỉ ngơi. Một cuộc chạy đua giữa chúng và bạn trên tại khu vực giữa đường 19 và thung lũng plei bon. Bạn nhanh hơn họ nhờ phản ứng nhanh và chiến đấu dũng cảm...

... Lại lần nữa, bạn sẽ đánh bại địch quân trong cuộc chạy đua của họ về An khê dù nhiệm vụ của họ là diệt bạn. Đây là LL đã bị tổn thất trong trận đánh vào tối ngày 4/4 ở km 14 tây An Khê...

... Kết quả là gì? Địch sẽ bỏ mọi hy vọng chiếm An Khê và hủy diệt viện quân của ta...

Nhật lịnh đc thông báo tới mọi đv của CĐ. "Họ PHẢI nói một điều gì đó," một thiếu úy và trung tá Lajouanie, chỉ huy trưởng trung đoàn Korea, nói thêm: "Nhưng BTL của chúng ta nên mơ mộng thêm điều gì đó để gần thực tế hơn. Cái mà chúng ta cần bây giờ ko phải là lời khen, mà là viện binh."

Nhưng lấy viện binh ở đâu ra khi Điện Biên Phủ đang ăn vào ruột của quân Pháp tại Đông Dương như ung thư, và Bắc Kỳ là một ưu tiên. Kế đó là Lào và Nam Việt Nam (vì lý do chính trị, vì thủ đô của nước đặt tại đó), và cuối cùng, vùng cao nguyên và Cambodia yên tỉnh (quiescent). 

Kể từ tháng 12/53, quân số của CĐ chỉ còn 75/100, và những trận vừa rồi đã làm mất những chiến sĩ giỏi. Ngay cả trước phục kích ngày 4/4/54, CĐ đã thiếu 12 trung đội trưởng bộ binh, 5 trung đội trưởng vũ khí nặng, 12 y tá, và khoảng 12 lính truyền tin. "Hãy tự gở rối" (débrouillez-vous/muddle through) là câu trả lời thường xuyên từ BTL đặt lại Pleiku, kèm đó những bảo đảm rằng những thay thế hay viện binh sắp đến "sớm sủa". Nhưng đối diện với ba trung đoàn đầy quyết tâm của VM, lời trả lời "sớm sủa" ko phải là đủ đối với CĐ. 

Giờ đây là giai đoạn ngắn để nghỉ ngơi cho CĐ. Để giảm nhẹ trách nhiệm của cđ 11 tại An khê, họ phải thường xuyên xây dựng các công sự quanh An khê, cải thiện sân bay để C-47 có thể đáp xuống, vì lúc này TP này hoàn toàn bị bao vây và tiếp tế hay viện quân đều dựa vào không quân, và họ chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng -- một Điên Biên Phủ  của CĐ mà một số lính đã nói đùa như vậy. 

Vì mọi đồn bót đều bị bao vây nhưng chưa bị tấn công, khiến tinh thần, từ chỗ đang tốt bắt đầu xuống dốc. Đ.đ. 4 của tđ 1 Korea báo cáo nhiều đào ngũ cũng như tự gây thương tích: Ngày 15/4, binh nhứt Hiem Rum đào ngũ mang súng lúc 0210; ngày kế , binh nhứt Phạm văn Mười tự bắn vào chân mình, và 2 ngày sau, binh nhứt Trần văn Lợi thuộc đ.đ. 4 cũng bắn vào chân.

Vào ngày ĐBP thất thủ, 8/5/1954, những ng bị bao vây (beleaguered) tại An Khê có thể nghe giọng chế giễu (mocking voice) phát đi từ một cái loa của VM phát đi qua cánh đồng: "Hỡi các lính cuả CĐ 100! Các bạn của bạn ở ĐBP đã ko thể kháng cự cuộc tấn công của QĐNDVN. Bạn yếu hơn ĐBP! Bạn sẽ chết, người Pháp, và cũng như vậy bọn VN tay sai!" Kêu gọi như vậy, dù chỉ nhắm vào lính VN, nhưng đây trở thành vấn đề chính. 

Trong cđ 100 có một đv là tđ 520 khinh chiến (TĐKC), toàn lính vn. Đây là một trong những đv mới thành lập để tìm và diệt địch theo cách của họ. Nhưng những kẻ nói đùa đã nói, TĐKC "ko phải cảm tử, cũng ko phải là TĐ". Thành lập vào năm 53, tđ khinh quân này hoàn toàn ko đáng tin cậy như một đv chiến đấu tự trị (autonomous) vào mùa xuân 1954. Điều này đã tạo hậu quả bi thảm cho kết cục của cđ 100. 

Tháng 5/54 mọi sự tốt đẹp cho An khê. VM đang đối diện những khó khăn của chính họ dọc theo bờ biển Trung kỳ, nơi mà cuộc HQ "Atlante",  sau nhiều tháng sa lầy, đã khiến Pháp hủy bỏ vào giờ cuối, nên lực lượng của họ tại vùng cao nguyên này đã hoản cuộc tấn công vào Pleiku và An khê. 

Nhưng vào tuần thứ ba của tháng 6, VMCS đã sẵn sàng để tấn công sâu vào khu vực cao nguyên vì biết rằng Pháp ko còn trừ bị. BTL Pháp cũng biết ý định của VM nên ra lịnh cho CĐ 100 di tản khỏi An khê và rút về Pleiku, khoảng cách 80 km đầy địch quân. Một cuộc không vận đều đặn bằng C-47 và những chiếc Bristol khổng lồ, xem hình, - đây là những máy bay hai động cơ với cửa mở ra ở mủi, do Anh sản xuất, để chở đi những trang bị quí và 1.100 dân. 


No comments:

Post a Comment