Showing posts with label chuẩn tướng phạm ngọc sang. Show all posts
Showing posts with label chuẩn tướng phạm ngọc sang. Show all posts

Saturday, March 27, 2021

TRẬN CHIẾN ÁC LIỆT CỦA SĐ 6 KHÔNG QUÂN, LIÊN ĐOÀN 31 BĐQ, LỮ ĐOÀN 2 DÙ VÀ HAI TRUNG ĐOÀN CỦA SĐ 2 TẠI PHAN RANG NGÀY 14-15-16 / 04 / 1975

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính quan trọng gấp BA LẦN hỏa lực của đơn vị. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi.—Hoàng đế Napoléon.

. . .

LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi bị vây chặc trong nhiều ngày ở quận lỵ Chơn Thành, vào đầu tháng 4/75, LĐ 31 BĐQ đã mở đường máu đến vùng đất do CP kiểm soát. Sau khi bổ sung quân số và ko kịp ngơi nghỉ tại hậu cứ LĐ tại Biên Hòa, LĐ đã được không vận bằng C-130 ra Phan Rang--để thay thế LĐ 2 Dù rút về bảo vệ SG. Trước một đối phương áp đảo về quân số và hỏa lực, LĐ 31, với quân số thiếu thốn (có TĐ chỉ có 200 quân) đã anh dũng đánh trận cuối cùng tại Phan Rang trước khi tan rả. 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 409-426 của quyển Black April.

                             


====

. . . 

THAY QUÂN VỘI VÃ DƯỚI ÁP LỰC ĐỊCH

. . . 

"Không biết sự tập trung này của bắc quân, NGÀY 12 THÁNG TƯ, tướng Toàn, TL của QK-3 đã báo cho tướng Nguyễn vĩnh Nghi, TL của BTL tiền phương của QK-3 tại Phan Rang rằng LĐ 2 Dù sẽ rút về SG ngày kế. TĐ 5 LĐ 3 Dù, của trung tá Bùi Quyền, đã rời Phan Rang ngày hôm trước. LĐ 31 BĐQ, vừa chiến đấu mới đây ở quận lỵ Chơn Thành và hiện phục hồi tại căn cứ Long Bình gần SG, và sđ 2 bộ binh, với hai trung đoàn, cộng thêm vài xe M-113, và một pháo đội (gồm 6 đại bác 105 ly), sẽ thay thế quân Dù. Dù cho Nghi phản đối, Toàn ko đổi ý. Sau khi gửi LĐ 1 Dù của trung tá Nguyễn văn Đỉnh đến Xuân Lộc, Toàn rất cần phục hồi quân trừ bị chung quanh SG. Toàn sau này đã nói với tác giả George Veith, "SG quan trọng hơn Phan Rang." Nói thêm: LĐ 1 Dù, đầu tháng 3/75 còn hoạt động ở Thường Đức Quảng Nam nhưng sau đó lên tàu về SG để dưỡng quân và làm trừ bị.--người dịch.

Lúc 6 giờ sáng ngày 13 tháng tư, LĐ 31 BĐQ, với ba tđ và những đv yểm trợ, đã tập hợp tại sân bay Biên Hòa để đi Phan Rang. Đến 4 giờ chiều, đổ quân hoàn tất. SĐ 2 bb, gồm trung đoàn 4 và 5--riêng trung đoàn 6 và một pháo đội gồm 6 khẫu 105 ly đã đi Phan Thiết ngày 12/4 để bảo vệ tp này--cũng bắt đầu chuyển đến Phan Rang. Ngày 13/4, trung đoàn 4 tới bằng xe, và trung đoàn 5 tới ngày kế. Trung đoàn 5 là đv yếu nhứt của chuẩn tướng Nhật: gồm một tđ ĐPQ của Long An và một TĐ vá víu từ nhiều đv khác nhau của sđ 2. BTL SĐ đến vào sáng 15/4. 

Không gì tệ hại hơn quyết định của tướng Toàn khi thay quân ở ngay tuyến đầu, đặc biệt dưới áp lực của địch. Quân mới đến cần thời gian để quen địa thế và tình hình của địch quân. Các đv yểm trợ như pháo hay tiếp vận cũng cần thời gian để tổ chức. Dù hỏa lực của không quân dồi dào, nhưng nếu bắc quân bắt đầu pháo, việc yểm trợ này sẽ nhanh chóng tan biến. Đại bác cũng ko đủ, cũng như ống nhắm, đạn, và phụ tùng. Máy truyền tin rất ít, và những trang bị khác cũng thiếu. Nói thêm: mọi xăng dầu dùng cho xe và máy bay đều chở từ máy bay từ SG hay từ Phan Thiết vì Cam Ranh đã bị chiếm từ đầu tháng 4.

Sau khi gặp tướng Nghi và Sang, ĐT Biết, chỉ huy LĐ 31 BĐQ, đã gửi TĐ 31 thay thế TĐ 11 Dù ở đèo Du Long--đây là tuyến đầu và xa nhứt của mặt trận Phan Rang. TĐ trưởng của TĐ 11 dù và một đại đội đã rút về sân bay Thành Sơn tại Phan Rang, trong khi ba đại đội khác của tđ này đã lập phòng tuyến trên các đỉnh đồi dọc QL-1 ở bắc Phan Rang. Họ sẽ rút về Thành Sơn buổi sáng kế và sau đó về Biên hòa. Một TĐ BĐQ khác sẽ được gửi tới Ba Râu để thay thế tđ 3 dù. ĐT Biết để TĐ 52 ở sân bay Thành Sơn làm trừ bị. (TĐ này bị thiệt hại trung bình trong trận đánh cuối tháng 3 ở quận lỵ Chơn Thành--người dịch). Trung đoàn 4 của sđ 2 sẽ bảo vệ QL-11, con đường từ Đà lạt xuống Phan rang. Khi trung đoàn 5 tới, sẽ được giữ lại gần sân bay.

Khi máy bay chỡ BĐQ đến sân bay Thành Sơn, ĐT Nguyễn thu Lương chỉ huy LĐ 2 Dù, đã cho TĐ 7 Dù và phần lớn của bch LĐ lên các máy bay này. TĐ 3 và 11 Dù sẽ khởi hành ngày 14/4, hoàn tất việc rút LĐ 2 Dù trừ pháo binh--cần thêm một ngày. 

TĐ 31 BĐQ của thiếu tá Nguyễn văn Tú đã tới đèo Du Long khoảng 6 giờ chiều ngày 13/4. Sau khi định hướng và quan sát phòng tuyến mà Nhảy Dù để lại, Tú đã hoàn tất việc thay quân lúc 10 g đêm. Trong khi tương đối bình yên trên phòng tuyến Nam quân, Tú đã lo lắng rất nhiều. Những đv đóng gần họ là ĐPQ tại quận lỵ Du Long--đã trở lại tp này sau khi trước đó đã bỏ chạy trong hoảng loạn. Khi Tú hỏi ĐT Biết về yểm trợ hỏa lực, Biết đã bảo đảm rằng dù ko có pháo binh nhưng không yểm thì thừa thải. Tuy nhiên, thiếu pháo binh hay viện binh ko là nỗi lo duy nhứt của Tú, mà là quân số thiếu trầm trọng. Khoảng 200 lính, chưa bằng nửa cấp số, đã có mặt tại Biên Hòa sáng hôm đó. Thông thường, những lính trể phép hay vắng mặt sẽ có mặt đầy đủ sau vài ngày khai diển hành quân, nhưng thiếu tá Tú ko biết làm thế nào họ có thể đến Phan Rang xa xôi để trình diện.  

Trong khi Tú quan sát những dãy đồi, ông suy nghĩ về nhiệm vụ kép của ông: ông phải theo dỏi dân tị nạn xuôi nam, trong khi đặc công cs sẽ trà trộn với dân. Nếu là lính sẽ bị giữ lại và gửi về hậu phương để lập dv mới. Trong khi Thiếu tá Tú, một người nhập ngũ từ 1963, đi vào giấc ngủ dưới bầu trời đầy sao, đây là có lẽ là một trong những đêm yên bình cuối cùng của cuộc đời lính của ông. 

BẮT ĐẦU CỦA KẾT THÚC CHO PHAN RANG

Vì lúc 5:30 sáng ngày hôm sau (14 tháng tư), pháo của csbv đã bắt đầu nổ trên nhiều vị trí gần Du Long, Ba Râu, và những làng nhỏ dọc QL-1. Nói thêm: Từ Cam Ranh, theo QL-1, đi về phía nam sẽ gặp đèo Du Longquận lỵ cùng tên, sau đó là làng Ba Râu--làng này ở phía tây QL-1, nằm giữa Du Long và Phan Rang, và làng Kiên Kiên gần đó và cũng nằm trên QL.-- người dịch. Trong một giờ, mưa pháo của bắc quân đã rơi trên các hầm trú ẩn của bđq tại đèo Du Long (chỉ mới có mặt tại đây lúc 10 giờ đêm 13/4) và của Nhảy Dù tại Ba Râu. Lúc 6:30 sáng, một số xe tăng và các đợt xung phong của bộ binh csbv đã cố gắng chọc thủng phòng tuyến của Tú, nhưng BĐQ đẩy lui. Hai A-37 đã xuất hiện sau đó 30 phút. Nhưng bom đã rơi quá sớm và trúng một vị trí bđq, làm bị thương hơn 10 lính của Tú. Dù bị thả bom lầm và pháo địch nặng nề, bđq vẫn cầm cự. 

Không thể tiến theo QL-1, bắc quân đi xuyên qua các đồi núi, đi vòng qua (bypass) các vị trí bđq, và tấn công quận lỵ Du Long. Chỉ sau một trận đánh ngắn ngủi, đpq tan hàng và tp này bị chiếm. Dù Tú vẫn giữ được vị trí, nhưng nay ông bị đánh bọc sườn. Ông gọi ĐT Biết và nhận lịnh giữ vững vị trí, vì viện quân từ tđ 52 sẽ tới. Dù TĐ 52 BĐQ cố gắng tiến lên, nhưng họ bị cầm chân bởi cánh quân thứ hai của sđ 3 csbv. Lúc 4 g chiều, Tú nhận lịnh rút lui về sân bay. 

Tú đã quyết định chia lính thành những toán nhỏ để xuyên qua phòng tuyến địch. Sau khi ra lịnh và hướng dẫn kỹ lưỡng, Tú bắt đầu rút với bch tđ. Khi ông tuột xuống núi, ông đột nhiên thấy một T-54 quay pháo tháp và chỉa đại bác về phía toán của ông. La lên cho kẻ khác cùng chạy, Tú đã lao nhanh xuống núi, cố gắng thu hút sự chú ý của xe tăng này. Quả đúng như vậy: xe này bắn một phát về ông, nhưng nổ gần đó. Ông choáng váng (dazed) ngả xuống đất. Nhận thấy bị ướt sau lưng và chân phải, ông cảm thấy sợ, ko biết mình bị thương nặng như thế nào. Cẩn thận đưa tay về phía sau, ông đã khám phá rằng một miểng đạn đại bác đã trúng và làm bể bi-đông nước, làm ướt chân ông. Đứng đậy, ông đã tiếp tục di chuyển, và vào sáng hôm sau, ông và phần lớn tđ tới sân bay. Tuy nhiên chỉ có 80 người của đv sống sót. Đèo Du Long, được xem như phòng tuyến quan trọng cho Phan Rang, đã thất thủ. 

Trong khi pháo dập các vị trí của lđ 31 bđq, các thành phần của trung đoàn 25 csbv bắt đầu tiến về sân bay. Chẳng bao lâu trực thăng thấy một số lớn bắc quân ngụy trang bằng lá cây tiến về sân bay. Các trực thăng võ trang của trung tá Lê văn Bút đã cố gắng ngăn chận chúng, nhưng chúng đã xâm nhập sân bay và ào tới khu vực chứa máy bay. (Nói thêm: trung tá Bút năm 1979-80 ở tù cùng trại Nam Hà B với tôi, chỉ khác đội.--người dịch). Tướng Nghi lập tức ra lịnh cho ĐT Lương chỉ huy một thành phần của tđ 11 Dù--đang chờ ở phi đạo để về SG, phải ngăn chận bắc quân. Lương phản đối, nói rằng trách nhiệm bảo vệ sân bay là của sđ 2 nhưng cuối cùng miễn cưỡng tuân lịnh. 

Lương yêu cầu bốn xe M-113 đang đậu tại sân bay dưới quyền ông, tướng Nghi đồng ý. May mắn cho họ, sự phối hợp giữa M-113 và trực thăng võ trang đã chận đứng hữu hiệu cuộc tiến công này. Khi Nhảy dù đẩy bắc quân khỏi sân bay, cuộc chiến trở nên ác liệt. Chỉ huy tđ 11 Dù kể lại: "Ngay khi lính dù vượt qua hàng rào phòng thủ, địch quân bắt đầu bắn dữ dội. Một xe M-113 bị trúng B-40 bốc cháy. Hai đại đội dù đã liều chết xung phong, trong khi gunship (trực thăng võ trang) tấn công bắc quân đang cố gắng bao vây hai đại đội dù này. A-37 đã tấn công các vị trí súng cối địch ở các chân đồi kế sân bay. Bắc quân đã dùng khói màu để đánh lừa các A-37. Lính dù đã đánh cận chiến bằng cách dùng lựu đạn và lưởi lê. Cuộc phản công anh hùng này của tđ 11 dù đã gây thiệt hại nặng cho bắc quân. . . để lại hơn 100 xác. . . phía chúng tôi chết và bị thương sáu người và một M-113 bị cháy."

Sau khi đánh bại tấn công này của trung đoàn 25, Lương đã định thuyết phục Nghi rằng tình hình đã yên. Ông dùng jeep chỡ Nghi và Sang thăm Ba Râu. Khi họ trở về, một công điện cho Nghi biết rằng Trần văn Đôn, bộ trưởng quốc phòng mới bổ nhiệm, sẽ cùng tướng Toàn đến thăm vào ngày 15/4. Nghi đã yêu cầu Lương ở lại thêm một đêm để đích thân hướng dẫn Đôn và Toàn thăm khu vực. Dù càu nhàu (grumble) nhưng Lương vẫn tuân lịnh. Nói thêm: LĐ 2 Dù đã có lịnh rút về SG, nghĩa là thuộc điều động của BTTM, nhưng vì chưa có phương tiện nên nấn ná ở lại sân bay, do vậy Lương đã có thái độ như vậy với tướng Nghi--người dịch). 

Trong đêm 14/4, Nam quân đã chống trả thành công cuộc tấn công của sđ 3 csbv. Bắc quân đã chiếm tp Du Long và đèo cùng tên, các cao điểm gần Ba Râu, nhưng ko thể tiến xa hơn trên ql-1. Các TL của csbv đã quyết định gửi thêm một tđ để tăng cường cho trung đoàn 25 biệt lập, đưa đại bác gần tuyến đầu hơn, và tiếp tục tấn công và chiếm Ba Râu ngày kế. 

Vào bình minh của ngày 15 tháng tư, bắc quân đã tiếp tục pháo dữ dội, lần này tập trung vào Ba Râu và một ấp nhỏ hơn gần đó có tên là Kiên Kiên, bảo vệ bởi tđ 3 Dù. Chỉ huy tđ này, thiếu tá Lã quí Trang, có ba đại đội chiếm cao điểm ở tây ql-1, và bch TĐ và một đại đội khác ở đông ql-1 tại Kiên Kiên. Hai đại đội của tđ 11 dù hỗ trợ họ, cộng với các thành phần của tđ 52 bđq. Sau một đợt pháo dữ dội kéo dài một giờ, bắc quân tấn công. Các đại đội của Trang ở tây QL-1 chẳng bao lâu đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng (dire strait): họ đã cầm cự trong vài giờ với địch quân quân số áp đảo, lại còn bị pháo và bộ binh tấn công liên tục. Vào buổi trưa, Trang xin Lương rút lui. Lương đồng ý và Trang ra lịnh quân Dù ở tây QL-1 phân tán và rút về sân bay. Còn ông và thành phần còn lại rút lên cao điểm ở đông của ql-1, và gọi máy bay phá hủy cây cầu trên ql-1 tại Kiên Kiên. Nói thêm: ở đông QL-1 có nhiều đồi và hang động nên giúp quân dù hay BĐQ có thể cầm cự lâu dài, ko trống trải nhiều như phía tây của QL.--người dịch. Bắc quân phải dừng quân để công binh làm đường vòng quanh cây cầu này. Một ngày đã trôi qua. Vì bắc quân chậm chạp chiếm lãnh thổ, ở nhịp độ này, họ phải cần một tuần để tới tỉnh lỵ Phan Rang của Ninh Thuận. Một trì hoãn như thế sẽ đe dọa khả năng của đoàn quân này để đến SG kịp thời để tham gia tấn công với các đoàn quân khác. Một số chiến thuật mới được áp dụng, và những gì mà tướng An học ở Liên Xô đã đóng góp cho thành quả này. 

ÁP DỤNG CHIẾN THUẬT CỦA LIÊN XÔ ĐỂ TẤN CÔNG PHAN RANG 

Ngày 13 tháng 4, một đv tiên phong của bắc quân gồm 1 tđ của trung đoàn tăng 203 và trung đoàn 101, sđ 325--xuất phát từ Đà nẳng ngày 7/4, đã tới Vịnh Cam Ranh. Cùng đi với họ có tướng Nguyễn hữu An. Dựa vào thời biểu chặc chẽ và trận đánh trước đó hai ngày chống lại những nút chận của vnch trên QL-1, trung tướng Lê trọng Tấn nói An hãy giao nhiệm tấn công thọc sâu để chiếm Phan rang cho hai đv trên. An nhanh chóng thảo một kế hoạch táo bạo để tấn công tp bị bao vây này. 

Kế hoạch gồm một mũi nhọn (spearhead) gồm 20 xe T-54 và thiết vận xa (armored personnel carier hay APC) của tđ 4 trung đoàn tăng 203, tăng cường bởi một tđ bộ binh của trung đoàn 101. Một số bộ binh có thể ngồi trên xe thiết giáp trong khi phần còn lại ngồi trên xe tải chạy xen kẻ (intersperse) với các xe chạy xích. Một bch nhẹ của trung đoàn 101, bảo vệ bởi vài súng 37 ly phòng không do xe kéo, sẽ bám sát thành phần dẫn đầu. Kế đó là những xe tải chỡ 2 TĐ còn lại của trung đoàn 101, cùng với những pháo 85 ly nòng dài để cung cấp hỏa lực trực tiếp. Một TĐ phòng không ở cuối đoàn quân để chống máy bay A-37. Đoàn quân này sẽ dùng tốc độ và hỏa lực của thiết giáp, bộ binh, và pháo phòng không, theo chiến thuật "vừa di chuyển vừa đánh" (attack from the march) để áp đảo đối phương. Đây là một chiến thuật của thiết giáp Sô-viết mà An đã học ở Liên Xô. Nếu mũi nhọn kể trên thất bại, An sẽ dùng một đv khác gồm trung đoàn 18 cũng của sđ 325 và TĐ 5 thiết giáp. Để tập trung pháo cho tấn công này, sđ 325 sẽ triển khai pháo của sđ bên cạnh pháo của sđ 3 để họ có thể phối hợp hỏa lực. Vì lính của sđ 325 KHÔNG QUEN với địa thế này, TL phó của QK-6 sẽ ngồi trong một của những xe tăng đầu tiên.

An cũng giao nhiệm vụ cho những đv csbv khác. Vì những cuộc oanh kích thành công sẽ gây thiệt hại nặng cho bộ binh ngồi trên xe tải, bộ tham mưu của quân đoàn đã chỉ định hai trung đoàn phòng không bảo vệ hai cánh quân này, và giao cho sđ 673 phòng không trách nhiệm bảo vệ mọi đv trong trận tấn công này. Riêng sđ 3 sẽ giữ các vị trí của họ và để mũi nhọn kể trên qua mặt họ. Sau đó sđ này sẽ mở cuộc tấn công thứ hai với 2 trung đoàn cơ hữu và trung đoàn 25 biệt lập. Một trung đoàn sẽ tiến theo mặt tây của QL-1 và chiếm những làng và cao điểm nằm gần chu vi phòng thủ của sân bay Thành Sơn. Một trung đoàn khác sẽ tấn công phía đông của Ql-1 và chiếm cảng Ninh Chữ, 1.6 km bắc của Phan Rang. Trung đoàn thứ 3 làm trừ bị. Trung đoàn 25 cộng sẽ tung ra một tấn công khác vào sân bay này. Một TĐ quân địa phương mới thành lập sẽ cắt QL-11 giữa Thành Sơn và Phan Rang, trong khi du kích sẽ quấy phá các vị trí của Dù và BĐQ trước cuộc tấn công chánh. Những thành phần chánh này sẽ xuất phát từ một khu tập trung gần Cam ranh lúc 10 giờ tối NGÀY 15 THÁNG TƯ. Tấn công sẽ bắt đầu lúc 5 giờ sáng NGÀY KẾ, và sđ 325 được lịnh chiếm mọi mục tiêu vào cuối ngày.

Cuộc tấn công, tính tới thời điểm này, có thể được gọi là cuộc hành quân phối hợp lớn nhứt giữa nhiều binh chũng của bắc quân. Và tiến xa nhứt kể từ Tổng Tấn Công Năm 1972. Không lập lại thất bại ở An lộc khi thiết giáp tấn công nhưng ko có bộ binh và phòng không yểm trợ đúng mức. Tóm lại, quân csbv đã tập trung 40 xe bọc sắt và hai trung đoàn bộ binh, yểm trợ bởi một sđ phòng không và hai trung đoàn pháo, để mở một cuộc tấn công gồm hai mũi vào một mục tiêu nằm trên một xa lộ rất tốt và cách điểm xuất phát 16 CÂY SỐ. Một khi đoàn quân này chọc thủng phòng tuyến VNCH và vào Phan Rang, các đv đi đầu sẽ tỏa ra vài hướng để bảo vệ tp này. Kế đó họ sẽ hỗ trợ cuộc tấn công vào sân bay, ở tây bắc của tp, và lập các nút chận trên ql-1 phía nam Phan Rang để chận đường rút của quân vnch. 

Nguyễn hữu An đã lo âu về các máy bay ném bom của nam VN, nhưng ông cảm thấy tin tưởng rằng hàng rào pháo đặt quanh sân bay này sẽ hạn chế các hoạt động của không quân đủ cho phép đoàn quân tấn công vào Phan Rang trước khi máy bay có thể phản ứng. Bí mật tuyệt đối được duy trì để bảo đảm yếu tố bất ngờ. Để nhắn mạnh ý định của TL của quân khu, viên chỉ huy thiết giáp đã có chỉ thị cho chỉ huy của tđ 4 xe tăng: "Đồng chí phải tấn công với tốc độ cao, dùng hỏa lực mạnh để đập tan phòng tuyến bên ngoài của địch, và nhanh chóng tiến vào Phan rang. Dù điều gì xảy ra, ko được ngừng tấn công."

KẾ HOẠCH PHÒNG THỦ PHAN RANG

Nam VN (và người Mỹ) đã hoàn toàn ko biết kế hoạch trên đây. NGÀY 14 THÁNG TƯ, tướng Nghi nhận mật điện thông báo rằng cựu tướng Trần văn Đôn, bộ trưởng quốc phòng mới bổ nhiệm của CP Nguyễn bá Cẩn, sẽ tới Thành Sơn lúc 12 giờ trưa. Ngày trước đó, James Lewis, một cựu sĩ quan LLĐB Mỹ nay làm cho CIA, cũng tới Thành Sơn. Y nói tiếng Việt thành thạo và biết rõ vùng này. Y đã ở Nha Trang tới lúc di tản. Công việc của y là cung cấp cho CIA tình hình Phan Rang. 

Vào sáng 15/4, sau cuộc họp nội các đầu tiên của CP của Nguyễn bá Cẩn, Đôn đã gọi các lãnh đạo cao cấp của QLVNCH, bao gồm tướng Viên và Toàn, để lập một chiến lược bảo vệ đất nước. Sau cuộc họp, Đôn và Toàn bay ra Thành Sơn. Vì Nghi yêu cầu, ĐT Lương của LĐ 2 Dù dùng jeep chỡ Đôn và Toàn đi quan sát một vòng. Sau đó họ trở lại sân bay để nghe Nghi và bộ tham mưu thuyết trình.

Trong buổi họp, Nghi đã yêu cầu trả lại LĐ 2 Dù (vì đã được lịnh rút về SG), và đặc biệt yêu cầu giữ lại một TĐ Dù đang có mặt ở Phan Rang. ĐT Biết của BĐQ và tướng Nhựt của sđ nêu các trở ngại: thiếu tiếp liệu, xăng dầu, và trang bị, và TINH THẦN THẤP của binh sĩ. Đôn hứa khi về SG sẽ ra lịnh cho BTTM trả LĐ 2 Dù về Phan Rang. Ông cũng sẽ cố gắng hết sức để tìm trang bị mà các đv bảo vệ Phan Rang đã thiếu, như máy truyền tin, ống ngắm và đạn cho đại bác 105 ly, xăng dầu cho máy bay và M-113. Về các tin đồn chia đất, Đôn nói một đường chia cắt sẽ tạo một VNCH mới, đường này chạy từ Tây ninh ra biển, điểm cuối là NHA TRANG. Để củng cố đòi hỏi này của VNCH, Đôn ra lịnh cho ĐT Lương tái chiếm Nha Trang. Một Lương sửng sốt (flabbergasted) đã nói với Đôn cần cả một sđ dù để tái chiếm tp này, một kỳ công (feat) mà hai TĐ còn lại của ông khó thực hiện. Đôn và đoàn tùy tùng, chán nản (disheartened) với tình hình Phan rang, lên đường vào giữa chiều.

Vào tối ngày 15 tháng tư, và trong lúc tướng An đang chuẩn bị đâm một dao vào tim của phòng tuyến Phan Rang, các đv của vnch tại tỉnh Ninh Thuận, quê hương của TT Thiệu, được bố trí như sau: không quân sẽ cung cấp không yểm từ sân bay, trong khi các tàu nhỏ (cutter) của hải quân như Trần Nhật Duật HQ-03 và Trần Bình Trọng HQ-05 và vài tàu khác chạy dọc theo bờ biển cung cấp hải pháo và chỉ huy bởi phó đề đốc Hoàng cơ Minh. 

Trên mặt đất, nam quân tập trung quanh sân bay. Trung đoàn 4 của Nhựt bảo vệ phía tây dọc QL-11, chạy từ Đà lạt xuống; trung đoàn 5 phụ trách khu vực nam của sân bay. Vì ĐT Lương chuẩn bị rút về SG, ông đặt phần lớn LĐ sát sân bay. Ông chỉ có ba đại đội, thuộc hai TĐ Dù vẫn còn ở Phan Rang và bảo vệ QL-1: một đ.đ. của TĐ 3 ở làng Kiên Kiên, trong khi hai đ.đ. của tđ 11 đã rút về phía nam tới Núi Cà Đú, cao điểm khống chế đường tiến sát phía tây trên ql-1 tới Phan Rang. LĐ 31 BĐQ có TĐ TĐ 36 ở bắc sân bay, trong khi những thành phần của TĐ 52 ở Ba Râu cũng đã rút về để bảo vệ chu vi của sân bay. (TĐ 31 của thiếu tá Tú trước đó đã bị tiêu diệt ở Đèo Du Long). Pháo binh chỉ còn vài khẫu. Một TĐ ĐPQ bảo vệ tp Phan Rang, trong khi tđ kia bảo vệ sân bay. 

Chỉ có một ít đv VNCH trên QL-1 giữa bắc quân và tp Phan Rang. Không rõ tại sao Nghi lại bảo vệ yếu ớt QL-1. Có lẽ ông nghĩ rằng bắc quân ko thể tấn công trực tiếp tp này trong vòng một tuần lễ, vì các phi công của ĐT Thảo đã báo cáo các cầu trên ql-1 từ Cam ranh tới đèo Du Long đã bị phá hủy. Do đó, trong buổi sáng quyết định của ngày 16 tháng tư, chỉ có một trung đội nhảy dù đối diện đại quân kể trên của csbv. Những lính nhảy dù còn lại này đang ở trong những công sự trên đồi núi khống chế QL-1. 

BẮC QUÂN TẤN CÔNG CHỚP NHOÁNG

Dù lịnh của An là "bí mật tuyệt đối" được duy trí, lúc 2 GIỜ SÁNG 16 THÁNG TƯ, một máy bay trinh sát điện tử loại EC-47 đang bao vùng đã bắt được mật điện gửi đi từ một bch bắc quân (có lẽ là bch tiền phương của sđ 325) với danh hiệu "Sông Hồng". BCH này đang cố gắng phối hợp giữa các đv thiết giáp và bộ binh. Chiếc EC-47 vội đáp xuống sân bay và báo với ĐT Thảo rằng bắc quân sẽ tấn công LÚC 5 GIỜ SÁNG. Thảo báo Sang và Nghi và xin ném bom. Sang đồng ý và các phi công bay suốt đêm để tấn công đoàn xe bắc quân trên QL-1 tại khu vực đèo Du Long. 

Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng tư, Thảo báo Nghi rằng rất nhiều xe csbv chạy qua đèo này. Nghi đã choáng váng (stunned). Ông muốn biết làm thế nào bắc quân đã đến gần như vậy nếu các cầu đã bị đánh sập. Sang và Thảo bối rối (perplex), và bắt đầu hỏi vài phi công. Họ đã sớm có câu trả lời: các phi công quá căng thẳng (over-stressed) này, vì sợ đe dọa ngày càng gia tăng của SA-7, chỉ cố gắng ném bom càng gần các cầu càng tốt và báo cáo cầu bị phá. Lính bộ binh đã ko phá cầu khi rút quân do phải để dân chạy qua. Chỉ có vài cầu gần Kiên Kiên bị phá, còn lại đều còn nguyên. Tệ hơn nữa, vì ko có chỉ dẫn, lính vnch đã ko buộc chất nổ vào cầu để họ có thể nhanh chóng phá hủy khi khẩn cấp. Đó là một sai lầm lớn. 

Quân du kích địa phương, theo lịnh của An, đã mở màn cuộc tấn công. Quân Dù tại chu vi sân bay và núi Cà Đú, cũng như BĐQ ở bắc sân bay, bị pháo và bộ binh thăm dò. BCH của Nghi suốt đêm cố gắng gọi BTTM ở SG để báo cáo địch tấn công và xin tiếp tế lập tức, nhưng toán truyền tin của ông ko thể liên lạc với SG!

Đúng 5 giờ sáng, đại pháo csbv bắt đầu. Đạn pháo rơi xuống các hố chiến đấu của trung đội dù ở ql-1 gần Kiên Kiên. Chẳng bao lâu, xe tăng, thiết vận xa và xe tải chỡ đầy binh sĩ đi ngang qua các vị trí của sđ 3 csbv. Chiếc tăng dẫn đầu trúng đạn chống tăng của nam quân, các xe khác nhanh chóng bắn trả. Bộ binh csbv nhảy khỏi xe và đẩy lui nhảy dù, sau đó tiếp tục xuôi nam.

KHÔNG QUÂN XUẤT KÍCH

Dù bị pháo dữ dội và mệt lả sau khi oanh kích suốt đêm, các phi công A-37 cất cánh trở lại. Khoảng cách giữa sân bay và tăng địch trên ql-1 ngắn đến nỗi phi công đã ko có thời giờ để thu bánh đáp trước khi thả bom. Dù sương mù của sáng sớm, khói từ đạn đại bác, và hỏa lực phòng không dày đặc, các phi công vẫn kiên trì. Một chiếc tăng đầu tiên, rồi một chiếc khác trúng bom. Tuy nhiên thiết giáp tiếp tục tiến. Các A-37 liên tục nhào xuống, bom đã khiến xe tải và tăng bốc cháy. Các gunship trong phi đoàn của trung tá Bút cũng tham chiến. Đoàn quân nam tiến đã bắn trả A-37 bằng súng phòng không. Một số máy bay bị thiệt hại nặng và cố gắng trở về sân bay. Dù bị máy bay tấn công, các xe tăng tiếp tục tiến. Bằng cách đi vòng quanh các cầu đã bị hư gần Kiên Kiên, trong vòng một giờ, những xe tăng đi đầu đã tới ngoại ô của tp Phan Rang. 

Phản ứng nhanh của các A-37 của Thảo và gunship của Bút đã làm chậm đáng kể những xe tải chỡ phần còn lại của trung đoàn 101 csbv. Trong khi thiết giáp tiến về trước, các xe tải này phải ngừng để tránh máy bay ném bom liên tục. Tệ hại hơn nữa, các đv phòng không ở phía sau ko bắt kịp đoàn xe tải. Hậu quả là, đoàn xe tải vượt xa đoàn xe phòng không nhưng ko bắt kịp cánh thiết giáp. Các A-37 đã ko bỏ cơ hội hiếm có này. Quân sử của QĐ-2 CSBV viết:" từ 6 đến 9 giờ sáng, máy bay địch thực hiện 37 phi xuất (mỗi phi xuất hai chiếc) tấn công đội hình thứ hai của trung đoàn 101. Có sáu xe bị hủy, 10 chiếc khác bị hư hại--có một tăng, một số cán bộ và chiến sĩ chết và bị thương. Cán bộ và chiến sĩ đã quyết tâm tiếp tục tiến quân, nhưng pháo và không yểm của địch đã làm chậm rất nhiều bước tiến của họ. . . . TĐ 120 phòng không, vẫn còn ở khu vực Du Long và tầm súng của họ ko thể với tới khu vực ở nam của làng Hồ Diêm. Nói thêm: đây là làng Công giáo chống cộng.--người dịch. Các vị trí đại bác của sđ 3 và của trung đoàn pháo của sđ 325 ko thể với tới hay làm tê liệt sân bay Thành Sơn và ko thể trấn áp các vị trí pháo địch đặt bên trong sân bay hay từ khu vực núi Cà Đú". 

Vì lực lượng của ông bị chận đánh giữa đồng trống, TL của sđ 325 nắm quyền chỉ huy hai tđ của trung đoàn 101. BTL của quân đoàn 2 csbv ra lịnh cho tư lịnh của cánh quân phòng không phải đẩy các đv của y về phía trước để bảo vệ cánh bộ binh đang nguy khốn, nhưng các đv phòng không vẫn còn cách xa cánh bộ binh này. Cánh thiết giáp đi đầu đã từ từ ko còn bộ binh tùng thiết bảo vệ họ. 

SƯ ĐOÀN 3 CSBV CỨU NGUY

May mắn cho bắc quân, sđ 3 đã cứu họ. Theo kế hoạch ban đầu, sau khi cánh thiết giáp vượt qua vị trí của họ, sđ 3 đã bắt đầu tấn công. Tuy nhiên, sau khi một tđ chiếm vài làng ở tây ql-1, tiến gần tới sân bay, và kềm chân bđq vnch, một trung đoàn của sđ đã thay đổi kế hoạch. Họ đã gửi một tđ khác để chiếm núi Cà Đú và chận Nhảy Dù--đv này từ trên núi tràn xuống đường và dùng súng chống tăng để chống xe tăng bắc quân. Trung đoàn này của sđ 3 csbv đã bắt tay với cánh thiết giáp đi đầu trong khi những trung đoàn khác của sđ 3 tiến dọc phía đông của ql-1. Với bộ binh mới vừa tăng viện, bắc quân nhanh chóng tiếp tục tiến quân. Chẳng bao lâu họ gặp phòng tuyến cuối cùng bên ngoài tp, đó là một đv đpq trong các hầm hố. Sau 45 phút, họ đã đẩy lui đpq nhưng mất thêm hai xe tăng và hàng chục binh sĩ. Sau khi diệt phòng tuyến cuối cùng, đoàn xe tăng này tiến vào tp và nhanh chóng chiếm bch tiểu khu. Dù cánh xe tăng dẫn đầu mất 1/4 số xe tăng và phần lớn bộ binh tùng thiết, lúc 7 giờ sáng Bắc quân đã kiểm soát tp này. 

Theo kế hoạch ban đầu, một số xe tăng và xe tải nhanh chóng tách ra từ đoàn quân. Một nhóm hướng về cảng chánh và nhóm khác hướng về một cầu trên ql-1 ở nam tp. Chiếm cầu sau trận đánh ngắn ngủi, csbv tiếp tục về phía nam và chiếm một quận lỵ gần đó, thực tế đã chận đường rút của nam quân. Ở cảng, một T-54 đã tiến vào bến tàu. Thấy tàu chạy ra biển, chiếc này nổ súng và bắn chìm một tàu nhỏ. Một số đv ra khỏi tp để bắt tay trung đoàn của sđ 3 đang tiến ở phía đông của ql. Lúc 9:30 sáng, đoàn quân này đã đè bẹp mọi kháng cự còn lại của vnch và chiếm cảng Ninh Chữ. Với hai cảng nay trong tay cs và QL-1 bị cắt, thòng lọng quanh bch của Nghi đã nhanh chóng siết chặt.

Trong khi trận chiến diển tiến, An đã di chuyển BCH tiền phương tới gần chiến trường hơn. Từ vị trí trên QL, y có thể thấy máy bay cất cánh và ném bom bắc quân. Với Phan Rang thất thủ, y quyết định tiêu diệt mọi kháng cự cuối cùng này của nam VN bằng cách lịnh cho sđ 325 dùng một đv hỗn hợp thiết giáp bộ binh từ Phan Rang tấn công sân bay. TL của sđ này ra lịnh cho hai tđ đang đánh trên ql-1 về Phan Rang lập tức. 

Lúc 8:45, một lực lượng cấp tđ gồm tăng và bộ binh tiến dọc QL-11 (con đường Đà Lạt đi Phan Rang) đến sân bay. Giữa tp Phan Rang và sân bay là trung đoàn 5 của tướng Nhựt. Trước khi bắc quân đụng với lính của Nhựt, họ tách làm hai: một nhánh đánh trung đoàn 5, nhánh kia đi vòng để đánh sân bay. TĐ du kích địa phương tân lập, phối hợp thiết giáp, bắt đầu tấn công trung đoàn 4 của Nhựt trên Ql-11. Cùng lúc, trung đoàn 25 tăng cường tấn công phía bắc sân bay. Dùng chất nổ, bộ binh đã cắt 11 lớp kẽm gai và tấn công sân bay. Ba cánh quân csbv giờ đây hội tụ vào sân bay. 

Phía vnch, vào sáng sớm hôm đó, Nghi đã ra lịnh Nhựt dời BCH của ông này gần BTL tiền phương QĐ3 để dễ phối hợp. Sau khi hoàn tất lịnh này, Nhựt đi thanh tra các đv, trong khi Nghi và Sang ở sân bay để theo dỏi máy bay ném bom. Lúc 9 giờ sáng, một SA-7 bắn từ một đỉnh đồi gần sân bay trúng một gunship. Một lát sau đó, vài máy bay khác bị trúng phòng không khi cất cánh. Cũng lúc, trung đoàn 4 của Nhựt báo cáo đụng địch. Theo tướng Sang, "Vào lúc này, trung tướng Nghi vẫn còn tin vào khả năng của trung đoàn 4 bảo vệ sân bay và trung đoàn 5 có thể chận địch quân vượt qua cổng số 1 của sân bay."Lòng tin này đã đặt sai chỗ. Nhận định trước đây của Nhựt về tinh thần của lính tráng rất chính xác. Dù trung đoàn 4 dễ dàng ngăn được đv du kích địa phương, trung đoàn 5 vá víu từ nhiều đv khác nhau (hodgepot), sau một đụng độ ngắn, đã tan hàng khi thấy thiết giáp csbv. Xe tăng chẳng bao lâu chiếm cổng chánh sân bay. Ở phía kia của sân bay, BĐQ bị tấn công mạnh bởi pháo và thiết giáp. ĐT Biết báo cho Nghi rằng phòng tuyến của ông đang sụp đổ. Trung đoàn 25 csbv đẩy lui BĐQ giữ cổng bắc của sân bay và chiếm kho bom. Bắc quân bắt đầu tiến vào trung tâm sân bay.

ĐT Lương ra lịnh đ.đ. trinh sát tái chiếm kho bom, nhưng vì ít quân nên ko thể thực hiện. Các phòng tuyến của sân bay tiếp tục sụp đổ, và, chẳng bao lâu, lính CSBV xuất hiện trên đường băng (tarmac). Không còn đv khả dụng, lữ đoàn phó của Lương, trung tá Trần văn Sơn, chỉ huy đại đội chỉ huy của LĐ 2 Dù, liều lỉnh xung phong vào bắc quân để bảo vệ đài kiểm soát (control tower) của sân bay. Dù tuyệt vọng, lính Dù đã chiến đấu với bắc quân, nhưng một loạt đạn đã trúng bụng trung tá Sơn (ông này chỉ còn một mắt từ lúc còn làm đ.đ. trưởng của tđ 5 dù.-- người dịch). Ông chết tại chỗ. Lính Dù còn lại nhanh chóng bị tràn ngập (overwhelm). Lúc 9:30 sáng, bắc quân thuộc trung đoàn 101 sđ 325 và trung đoàn 25 biệt lập đã bắt tay ở đài kiểm soát sân bay. Cuộc kháng cự của Nam VN bị nghiền nát, và quân csbv đã kiểm soát sân bay Thành Sơn. 

RÚT LUI

Vì ko còn giải pháp nào, tướng  Nghi ra lịnh rút về Cà Ná, một bán đảo nhiều đá gần 31 km nam của Phan Rang. Ở đây QL-1 chạy thẳng dọc theo bờ biển, và cung cấp một vị trí phòng thủ rất tốt. Một nhóm lính và thường dân đã tiến về cổng chánh của sân bay, nhưng đã bị chiếm bởi tăng của bắc quân. Lương ra lịnh cho công binh cắt hàng rào kẽm gai, và ba người gồm Nghi, Sang, và Lương, cùng với James Lewis và một nhóm lớn dân và quân đã trốn thoát. Dùng máy riêng, người Mỹ này đã báo TĐS Mỹ rằng sân bay đã mất. Ra được bên ngoài, nhóm này đã gặp một toán lính của tđ 11 dù ở gần sân bay. Di chuyển chậm vì có dân, vào trưa, toán này đã đi gần 4, 8 km và tới một vườn mía giữa sân bay và Phan Rang gần QL-11, nơi mà họ nghỉ ngơi ở một mương nước rộng.

Lúc đó, tướng Lưởng, TL của Dù đã gửi một L-19 và 25 trực thăng để tìm lính dù thất lạc. Vào buổi chiều, ĐT Lương đã liên lạc với chiếc L-19. Toán cấp cứu này xin phép Tướng Nghi đáp xuống cánh đồng gần đó. Nghi, sợ rằng dân sẽ hoảng loạn và tranh nhau lên trực thăng nên từ chối. Ông ra lịnh cho Lương bảo với trực thăng nên thử lại vào buổi sáng, khi đoàn người đã đi xa về phía nam. Lương đành miễn cưỡng thi hành. 

Nghi quyết định sẽ chờ đến tối để tiếp tục đi về phía nam, hy vọng đoàn người ko bị phát hiện. Tuy nhiên thường dân đi ra ngoài để kiếm thức ăn, và bắc quân đã biết. Khoảng giữa đêm, Lương ra lịnh cho một đ.đ. dù phá vòng vây của bắc quân đang giữ QL-11. Tấn công chớp nhoáng, nhảy dù vượt qua đường này. Tuy nhiên một đv csbv gần đó đã nổ súng dữ dội vào bụi rậm này và làm bị thương TĐ trưởng của 11 Nhảy Dù. Trong bóng đêm và hổn loạn của súng nổ, Nghi, Sang, và Lewis ko còn ở với quân Dù. Trong khi Lương và quân Dù đi về phía nam, ba người trên đây và một phần của toán người trở lại mương nước này. Lúc 2 giờ sáng, lính của sđ 3 csbv bao vây mương nước và kêu gọi đầu hàng. Nghi là sq cao cấp nhứt bị bắt trên chiến trường. 

Một sq nam VN khác đã chiến đấu anh dũng để giữ phòng tuyến Phan Rang, đó là trung tá không quân Lê văn Bút đã trốn thoát với nhóm của Sang. Cuối cùng, ông đã tới SG bằng cách đi bộ trên QL-1. Sau này ông đã nói đùa với tác giả, "Tôi đã bị không quân của tôi ném bom suốt con đường về nhà." Ở phút cuối cùng, ngay khi Thành sơn bị tràn ngập, đại tá Thảo đã gọi một phi công A-37 đáp xuống và bốc ông. Họ đã bay về Tân Sơn Nhứt với phần còn lại của không đoàn của Thảo. Trong 72 chiếc A-37 mà ông có đầu tháng Ba, chỉ có 1/3 thoát được ngày 16/4, sau khi hơn một tháng chiến đấu ko nghỉ ngơi! Không một đv nào của không quân VN đã chiến đấu với can đảm và hăng say như không đoàn 92 chiến thuật của đại tá Thảo!

Nguyễn văn Tú, chỉ huy TĐ 31 bđq, trốn thoát với vài người lính. Họ đi ra biển, nơi họ gặp tàu đánh cá đưa về Vũng Tàu. Từ đây họ đi xe đò về SG. Chuẩn tướng Nhựt thoát được bằng trực thăng, đáp xuống một tàu HQ. Ông gọi BTTM báo cáo Phan Rang thất thủ. ĐT Lương, dù đã vượt QL-11 và xuôi nam, đã nhận lịnh ngày kế của Toàn phải trợ lại và cứu Nghi và Sang. Lương đã bị bắt vài ngày sau. Một thành phần của tđ 11 Dù đã chọc thủng vòng vây quanh vườn mía, cuối cùng theo hướng đông tìm tàu. Ngay khi đến bờ biển, họ đã nhanh chóng bị phát hiện bởi bắc quân. Họ đã trả lời bằng súng khi bắc quân kêu gọi đầu hàng. Sau khi bị pháo bằng cối trên bãi biển trống trải, họ đầu hàng. Chỉ huy TĐ 3 Dù, Lã Quí Trang, và một đ.đ. của ông trên QL-1 rút về đỉnh núi gần đó, được cứu thoát vài ngày sau đó bởi trực thăng. Phần còn lại của TĐ đã cởi quân phục và đi bộ về SG. Gần 80/100 TĐ này trở về an toàn. Tướng Nghi và Sang, và James Lewis, được nhanh chóng đưa về Nha Trang, rồi Đà Nẳng, và bay ra Bắc. Lewis được thả tháng 12/75 sau khi bị tra tấn khủng khiếp (terrible). Ông đã làm việc trở lại và chết trong vụ TĐS Mỹ ở Li Băng bị đánh bom năm 1982. Nghi được thả năm 1987, nhưng đã từ chối nói về diển biến ở Phan Rang với tác giả".

. . . 

Dịch từ trang 409- 426 của sách đã dẫn.

Phần đọc thêm

TRẬN PHAN RANG (13-16/4/1975)

Ngày 18/41975 các đv của quân đoàn 2 CSBV đã đánh vài trận trên QL1 trong khu vực Cà Ná. Khi Bắc quân tới khu vực này, một số tàu của nam VN đã xuất hiện ngoài khơi và bắt đầu bắn vào QL-1. Chiếc Chí Linh HQ-11, đã cũ 30 năm và trang bị chỉ có một khẩu 76.2 ly—đã trông thấy xe tăng chạy trên QL-1 gần quận lỵ. Dù hỏa lực yếu kém, chiếc tàu này đã cố gắng tiến gần bờ. Tàu đã bắn trên 100 phát. Để bắn chính xác hơn, thuyền trưởng cho tàu gần bờ hơn. Bắc quân đã bắn trả bằng đại bác 122 và 130 ly. Thuyền trưởng sau này kể lại: “Khoảng 3:45 chiều, một quả đã trúng mạn phải (starboard) gần đuôi tàu (stern), làm hư hại nơi ở của thủy thủ đoàn (crew quarter). Một miểng đại bác đã giết thuyền phó (chief petty officer) Nguyễn văn Bang, khi ông leo thang để gắn an-ten phụ. Đầu ông bị thổi bay và thân hình rơi xuống phòng ở của thủy thủ đoàn.” Vì bị hư hại tàu phải rút lui.

San Jose ngày 7 tháng tư 2021.

Tài Trần


                       

SÂN BAY THÀNH SƠN


Wednesday, August 26, 2020

TRẬN PHAN RANG

Phi Trường Phan rang

Hồi ức của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang
Nhớ lại suốt hạ tuần tháng 3 năm 1975, sau khi có lệnh bỏ Huế và Đà Nẳng, các đơn vị ta cứ lần lượt tháo lui, làm các tỉnh thành, quận lỵ phải rút theo, tạo ra cảnh đỗ vở tan thương cho không biết nhiêu gia đình quân nhân cũng như dân chính. Tốc độ rút lui nhanh hơn tốc độ truy đuổi. Các đơn vị VC đến tiếp thu, không bị đánh chận, nên cứ ung dung tiến văo thành phố đê bị bỏ ngỏ. Đến khi vào tiếp thu Nha Trang, chúng vẫn cứ tin rằng Phan Rang cũng đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các toán tiền thám cứ tiến vào. Ngạc nhiên, và cũng là lần đầu tiên bị ngăn chận trước khi đến Phan Rang, chúng bèn tháo lui về hướng Bắc, vào ẩn nấp trong vùng Ba Ngòi chờ viện binh. Mãi đến ngăy 16.4.1975, khi tung ra toàn lực âp đảo, chúng mới vào được Phan Rang.
Vào thời điểm các đại đơn vị ta rút lui, mà không có một sự kháng cự đáng kể nào để làm khó khăn và thiệt hại cho đối phương, thì căn cứ Phan Rang đã anh dũng chống cự, và đã làm thiệt hại đáng kể cho quân đội chánh quy Bắc Việt.
Chuẩn Tướng Phạm Ngọc sang
Chiến trận tại Phan Rang có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhứt từ ngày1 đến 3.4.1975, là giai đoạn hình thành tuyến phòng thủ, với Sư đoàn 6 Không quân và Tiểu đoàn 5 Dù thuộc Lữ đoàn 3 Dù cùng một số đơn vị địa phương quân còn lại.
Sư đoàn 6 Không quân gồm:
– 3 Phi đoàn A-37, 524, 534, 548
– 1 Phi đội A-1
– 2 Phi đội tản thuơng 259 B và 259 C
– 2 Phi đoàn Trực thăng 229 và 235
Lữ đoàn 3 Dù gồm:
– Bộ chỉ huy
– Tiểu đoàn 5
Giai đoạn thứ hai từ ngày 4 đến 12.4.1975, là giai đoạn củng cố tuyến phòng thủ, với sự thành lập Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3, với Lữ đoàn 2 Dù. Đây là thời gian đem đến ít nhiều lạc quan trong việc ổn định tình hình sau nhiều ngày xáo trộn. Một số đơn vị nhỏ của địch đã hoàn toàn bị đẩy lui khỏi đèo Du Long rút về ém quân tại khu Vườn Dừa, Cam Lâm đợi tăng viện.
Lử đoàn 2 Dù gồm:
– 3 Tiểu đoàn 3, 7, 11
– 1 Tiểu đoàn Pháo binh
– Các đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận
Giai đoạn thứ ba từ 13 đến 16,4.1975, là giai đoạn của trận chiến quyết định, với các đơn vị gồm:
Liên đoàn 31 Biệt động quân gồm:
– 3 Tiểu đoàn 31, 36 và 52.
Tăng cường cho Bộ Tư Lệnh Tiền phương:
– Toán Thám sát / Nha Kỷ thuật
Sư đoàn 2 Bộ binh gồm:
– 2 Trung đoàn 4 và 5
– 2 Pháo đội gồm 10 khẩu 105 ly
– 2 Chi đội Thiết Vận Xa gồm 10 chiếc
Lực lượng Hải quân gồm:
– Duyên đoàn 27
– 2 Khu trục hạm
– 1 Giang pháo hạm
– 1 Hải vận hạm và một số tàu yểm trợ
Trong 2 ngăy 13 và 14, Lữ đoàn 2 Dù được lịnh rút về Saigon. Liên đoàn 31 Biệt động quân và Sư đoàn 2 Bộ binh ra thay. Vừa thay quân vừa chiến đấu, và phòng tuyến Phan Rang bị tràn ngập vào trưa ngày 16.4.1975, bởi 2 sư đoàn VC 325 và 3 Sao vàng, cùng với các đơn vị của Đoàn 968 VC. Trong ngày 14.4.1975, ngoài Duyên đoàn 27 đã có mặt tại Phan Rang, Hải quân Saigon tăng cường khẩn cấp 2 Khu trục hạm, 1 Giang pháo hạm, 1 Hải vận hạm cùng một số tàu yểm trợ.
Lực lượng địch:
Theo tù binh thuộc Đoàn Hậu cần 57 địch bị bắt tại đèo Du Long ngày 9.4.1975, các cấp chỉ huy địch ngở Phan Rang đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các bộ phận truy đuổi, cứ yên tâm tiến vào tiếp thu. Bị đánh đuổi, chúng lui về lẫn trốn vùng Vườn Dừa, Ba Ngòi chờ đại quân của 2 Sư đoăn 3 và 325 VC từ phía Bắc đến. Các nhóm du kích vẫn hoạt động gần phi trường. Đoàn 968 VC vừa ghi nhận có mặt. (xác nhận bởi Đại tá Nguyễn Thu Lương và Trung Tá Phạm Bá Mạo khi bị đơn vị nầy bắt tại mặt trận.)
I. HÌNH THÀNH TUYẾN PHÒNG THỦ
Kể từ ngày 1.4.1975, sau khi Nha Trang bỏ ngỏ, căn cứ Phan Rang đương nhiên trở thành căn cứ tiền tuyến của Miền Nam. Buổi tối cùng ngày, Trung tá Lê Văn Phát, Lử đoàn trưởng Lử Đoàn 3 Dù cùng Bộ chỉ huy Lữ đoàn và một phần của Tiểu đoàn 5, trên đường rút từ Khánh Dương xin vào để chờ phi cơ về Saigon. Căn cứ tôi lúc bấy giờ rất là trống trải, vì một số lớn quân nhân Địa Phương Quđn canh gác vòng đai đã bỏ nhiệm vụ. Trong căn cứ, một số quân nhân trẻ nổ súng loạn xạ vì lo sợ vu vơ. Ngoài thị xả, Tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác, phân vân. Trên quốc lộ 1 và 11 hướng về Saigon, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau chạy giặc. Tệ hại hơn nửa là Đà Lạt cũng bỏ chạy, và đoàn xe của Trường Võ Bị Đà Lạt đang theo Quốc lộ 11 trên đường đi Bình Tuy cũng vừa chạy ngang căn cứ. Lúc nầy thực sự, căn cứ tôi đang trở thành tiền đồn và đang ở trong tình trạng hết sức cô đơn.
Chuẩn bị tìm phương kế giữ an toàn, tôi chỉ thị hạn chế sự ra vào căn cứ để tránh xáo trộn do toán người tháo chạy mang đến. Vì vậy nên khi nghe có đơn vị Dù xin vào căn cứ, tôi liền hỏi xin lệnh Bộ Tư Lệnh KQ. Được biết đó là do Bộ Tư Lệnh Dù yêu cầu để Lử đoăn III được văo căn cứ như đơn vị tăng phái phối hợp phòng thủ, tôi mới thuận cho đoàn quân của Trung tá Phát vào phi trường. Thật là đúng lúc cần thiết và tôi rất bằng lòng có thêm người để giử an toàn cho căn cứ hiện trong tình trạng bỏ ngỏ. Tôi phối họp ngay với Trung tá Phát để phối trí việc phòng thủ căn cứ với Không đoàn Yểm Cứ của Trung tá Phạm Bá Mạo và Trung tá Nguyễn Văn Thiệt vì căn cứ mênh mông với vòng đai hình vuông mỗi cạnh 6 km, mà Liên đoàn Phòng Thủ chỉ có khả năng phụ trách canh gác vòng đai gần mà thôi. Dù muốn dù không, căn cứ không quân Phan Rang đã trở thành tiền đồn của Miền Nam mà tôi đang là người có nhiệm vụ phải chống giữ. Tôi chỉ thị Trung tá Diệp ngọc Châu Phụ tá Nhân Huấn phải theo dỏi sát vấn đề nhân viên, để đừng xảy ra tình trạng bung chạy, vì quá hoang mang, giao động trước việc, có thể chiến đấu như bộ binh.
Trung tá Phát xử dụng Đại đội Trinh sát Dù, bung ra kiểm tra nội vi căn cứ và đánh đuổi một vài tên du kích mon men vào Đồn Đại Hàn gần cổng số 2 của căn cứ. Về phần Không quân, câc cấp phi hành và kỷ thuật đê am hiểu tình hình mới, chấp nhận thực trạng và hết mình nổ lực chiến đấu vì nhu cầu phòng thủ.
Vào buổi chiều, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ghé căn cứ thăm hỏi tình hình. Sáng hôm sau, rời căn cứ bay về Saigon.
Ngày 2.4.1975, Saigon tăng cường một đơn vị Dù. Trung tá Phát liền xử dụng để kiện toàn an ninh cho phi trường và phối hợp với các đơn vị Địa phương quân trong việc giữ an ninh cho thị xả.
Lúc 2 giờ chiều, tôi bay xuống Phan Thiết đón Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3. Khi gặp tôi, ông nói sở dĩ muốn gặp tôi tại Phan Thiết là để xác nhận sự hiện hữu của Phan Rang, mà giờ nầy lẻ ra cũng đã bỏ chạy như Nha Trang và Cam Ranh rồi. Sau khi nghe tôi thuyết trình tình hình, Trung tướng Toàn nói:” kể từ buổi thị sát nầy, Phan Rang sát nhập vào Quân đoàn III, trở thành cứ điểm cực Bắc của quân đoàn.”
Cùng ngày tôi nhận được lệnh Bộ tổng tham mưu chỉ định tôi phụ trách bảo vệ Phan Rang.
Ngày 3.4.1975, TĐ5 Dù để tạm kiểm soát các khu vực cạnh thị xã và nội vi phi trường. Từ Ba Râu đến Thị xã, dân chúng bớt hoảng sợ mặc dầu sanh hoạt vẫn còn rụt rè. Trong căn cứ Không đoàn Yểm Cứ đã chấn chỉnh an ninh nội bộ khiến cho căn cứ lần lần lấy lại sanh hoạt bình thường.
Đại tá Lê văn Thảo Không đoàn trưởng Không Đoàn 92 Chiến Thuật với 3 phi đoàn A-37, 524 Thiên Lôi, 534 Kim Ngưu và 548 Ó Đen. đã sát cánh cùng đoàn viên xuất kích đêm ngày rất hữu hiệu.
Trung tá Lê Văn Bút Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật với 2 phi đoàn trực thăng 229 và 235, 1 phi đoàn Quan sát 118 và một bộ phận của Phi đoàn 530 A-1 với Phi đội tản thương 259 C, đã bay thi hành nhiều công tác khó khăn nguy hiễm.
Trung tá Đổ hữu Sung và đoàn kỷ thuật gan dạ, chu toàn mọi công tác sửa chửa và trang bị dưới làn pháo kích ngày đêm của địch.
Theo tin tức của các quân nhân ta từ các nơi ghé xin phương tiện về Saigon, thì VC đang xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Tôi liền cho phi cơ quan sát bao vùng và chỉ điểm cho phi cơ A-37 đánh phá.
Cộng thêm các khó khăn, việc tiếp tế nhiên liệu đang gặp trở ngại vì xe bồn không cung cấp như bình thường, bởi cảng Cam Ranh đã bị địch chiếm. Vì vậy hàng ngày, tôi phải nhận tiếp tế từ Saigon bằng phi cơ C-130, một số lượng nhiên liệu tối thiểu cho hành quđn mà thôi.
Để tránh hổn loạn khi bị pháo kích dồn dập, tôi cũng phải cho nửa số phi cơ về trú đêm ở Saigon, để sáng hôm sau trở ra với đầy nhiên liệu.
Trong ngày, khi biết có tàu Mỹ đang lảng vảng ngoài vịnh Phan Rang để chở một số người, tôi liền cử Trung tá Lý Văn Bút dùng trực thăng đáp trên một trong những tàu đó để chào hỏi và cho biết hiện tình ở Phan Rang. Tiếp đón và trả lời những điều muốn biết trong lối 1/2 giờ, Hạm trưởng thúc giục Trung tá Bút rời tàu. Xuyên qua lời trình thuật của Trung tá Bút, tôi đê hiểu rỏ ràng là trong cấp thời, Mỹ không còn có ý định dính líu gì nửa đến cuộc chiến đang diễn tiến hiện nay.
II – BỘ TƯ LỆNH TIỀN PHƯƠNG
Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lủng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Ngày đêm phi cơ trong căn cứ liên tục quan sát bao vùng và oanh tạc ngay các mục tiêu bị phát hiện. Các đơn vị VC đã tiến quá xa với hậu tuyến của họ. Họ chỉ mới tiếp thu Nha Trang và Cam Ranh. Với mức độ hành quân 10 cây số ngày hoặc gia tăng với phương tiện chiếm được thì không thể tập trung tấn công ngay được. Có thể có những phần tử lẻ tẻ đã xâm nhập và đang ém quân, nhưng ngoài ra Phan Rang chưa có nguy cơ bị tấn công ngay bởi quân chánh quy. Muốn tấn công, có thể chỉ có từ 2 hướng: Một là từ hướng Bắc, theo QL 1 tiến qua đèo Du Long thẳng vào thị xả và hai là từ hướng Tây tấn công từ Khrông Pha qua Tân Mỹ hướng về thị xả Phan Rang. Ngoài ra còn có một ít đường mòn từ Vườn Dừa, Ba Ngòi chạy theo hướng Nam Tây Nam sát căn cứ KQ hướng về Tân Mỹ có thể chọn để xâm nhập được. Trong lần bay quan sát chiều ngày 14.4.75, tôi thấy một vài thiết vận xa địch trên những đường mòn nầy vào hướng Tây Bắc của căn cứ, cách khoảng 8 km. (Đương nhiên, khi bị phát hiện, chúng đều lẫn trốn trước khi bị oanh tạc.)
Thị xã và Phi trường Phan Rang nằm vào phần Nam của cái thung lũng đó. Quốc lộ 1 và đường xe lửa chạy song song xuyên qua đèo Du long về thị xả, tách ra tại Thôn Ba Râu, chạy sát phi trường rồi tiến về Nam không qua thị xã. Từ thị xã đến Du Long khoảng 15 km với Ba Râu khoảng 9 km và với Că Đú khoảng 4 km. Từ Cà Đú đến thị xã, mặt đất bằng phẳng.
Phi trường Phan Rang rất rộng, hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 6 km, nằm giữa QL 1 và QL 11 và sát với đường xe lửa về hướng Đông, cách thị xả 5km và Nha Trang khoảng 80km. Có 2 đường bay song song, 1 bằng xi măng cốt sắt vă 1 bằng vĩ nhôm dài 10.000 bộ, rộng 150 bộ. Có đầy đủ cơ sở cho kỷ thuật, tiếp liệu với các bồn xăng và kho bom theo tiêu chuẩn an ninh tối tân. Việc phòng thủ bao gồm 60 chòi gác, với 2 cổng chung quanh căn cứ do 7 đại đội Địa phương quân phụ trâch.
Ngày 4.4.1975, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chánh thức đến Phan Rang cùng với toán truyền tin và chuyên viên, nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, và thiết lập Bộ chỉ huy Tiền Phương trong Căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân, nằm vào lối 5km Bắc Tây Bắc của Thị xã Phan Rang. Ông cho biết là đã được Thượng cấp chấp thuận gởi ra một số đơn vị chưa bị ảnh hưởng của việc rút quân để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa hẹn nầy, nên Ông rất vui lòng đảm nhận chức vụ.
Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
Vì địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ, nên Trung tướng Nghi quan niệm:
” Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xả phối họp với một số đơn vị Địa phương quđn còn lại.”
Theo quan niệm đó, Trung tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cở 2 sư đoàn mới có thể trong tạm thời phòng thủ được. Đó là:
Mặt Bắc, trên Quốc lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xả hoặc vào căn cứ.
Mặt phía Tây, trín Quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.
Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa phương quân phụ trách.
Ngày 5.4.1975. Trong ngày, thỉnh thoảng vẫn có vài quân nhân Không quân thất lạc trình diện xin phương tiện về Saigon và luôn xác nhận là vẫn có một số VC xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Chúng nói vì có quân Dù của ta ở phía trước nên chúng còn nấp chờ chi viện.
Ngoài ra Tướng Times, phụ trách an ninh cho Tòa Đại sứ Mỹ, đến thăm và nói sẽ sắp xếp cho người của ông thường xuyên ở lại đây, để chuyển tin ngay về tòa đại sứ.
Trong mấy ngày qua, tôi đã điều hành công việc như là cấp có trách nhiệm ở Phan Rang, ngoài trách vụ chuyên môn là phụ trách Sư đoàn 6 KQ. Vô tình tôi đã biến căn cứ Không quân Phan Rang thành một cứ điểm phòng thủ tiền tiêu của cuộc chiến tranh rất phức tạp nầy.
Ngày 6.4.1975, trong ngày, sinh hoạt trong căn cứ không quân đã có sự bình thường và các phi vụ đều được thi hành như thông lệ. Thêm một số quân nhân của 7 Đại đội Địa phương quân phụ trách canh gác vòng ngoài phi trường tiếp tục trở về.
Quân địch sau khi chiếm Nha Trang, liền vội vã đến tiếp thu Cam Ranh. Toán viễn thám của họ theo đă chạy tiếp thu, có thể đã xâm nhập từ Vườn Dừa, Ba Ngòi, qua đồi Du Long, xuống về phía Nam. Các Sư đoăn xâm nhập chưa thấy xuất hiện. Chỉ biết có đơn vị F-10 hoặc 968 đang lẫn núp xâm nhập lẻ tẻ.
Ngày 7.4.1975 là ngày đáng ghi nhớ.
Đại tá Trần Văn Tự, Tỉnh trưởng Phan Rang, vừa trở về với một số công chức, và đang tập họp các lính Địa phương quân và Nghĩa quân.
Đại tá Nguyễn Thu Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù, với 3 Tiểu đoàn 3, 7, 11 và 1 Tiểu đoăn Pháo binh cùng các Đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận lần lượt đến căn cứ. Trung tướng Nghi liền giao cho nhiệm vụ chiếm các cao điểm và tổ chức tuyến phòng thủ tại Du Long mặt Bắc và tại Tân Mỹ mặt Tây. Tập trung lực lượng khi cần để chận không cho địch vượt qua Du Long. Xử dụng Tiểu đoàn 5 Dù của Trung tá Phát hiện có mặt tại căn cứ giữ an ninh cho phi trường.
Ngày 8.4.1975, khi đơn vị cuối cùng của Lữ đoàn 2 Dù đến căn cứ, Đại tá Lương liền điều dộng giải tỏa đoạn Quốc lộ 1, từ Thị xã đến Du Long, qua các Thôn Cá Đú, Ba Tháp, Ba Râu và Du long, với 2 Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 3. Trên đường tiến quân, Tiểu đoàn 3 Dù đuổi địch chạy tán loạn khỏi Ba Tháp và Ba Râu. Địch tổn thất khoảng một đại đội với nhiều vũ khí. Tiểu đoàn 11 được trực thăng của Sư đoàn 6 Không quân, đưa đến chiếm Du Long, và các cao địa trọng yếu kiểm soát đường đỉ Du Long.
Bắt sống tại đèo Du Long, 7 xe tiếp tế thuộc đoàn hậu cần địch cùng một số quân lính VC, vì ngở Phan Rang đã bị chúng chiếm, nên cứ ngang nhiên di chuyển. Đồng thời, tìm thấy bộ đồ bay của Trung úy Lý Tống, thuộc Không đoàn 92 Chiến thuật/ Sư đoàn 6 Không quân, còn để tại vùng đèo Du Long, khi phi cơ A-37 của mình vừa bị bắn rơi, lúc cùng phi đội oanh tạc khu Vườn Dừa. (Trung úy Lý Tống là người đã thả truyền đơn chống cộng tại Saigon năm 1992, tại Cuba trong năm 2000 và tại Saigon cuối năm 2000, nhân dịp Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam.)
Tại phía Tây, phần lớn của Tiểu đoàn 5 Dù đã trấn ngữ đầu cầu hướng về Tân Mỹ, ngừa được sự tấn chiếm từ hướng nầy. Trong căn cứ, toán Trinh sât Dù cũng lại đuổi khỏi đồn Đại Hàn một số quân nhân địch vừa lén lút xâm nhập. Tiểu đoàn 7 trừ bị giám sát việc giữ an ninh trong căn cứ không quân với Tiểu đoàn 5 của Lữ đoàn 3 Dù. Kết quả là trong ngày nầy, Phan Rang đã hoàn toàn kiểm soát được tình hình vốn bị trì trệ từ khi Nha Trang và Cam Ranh tháo chạy.
Buổi sáng, lúc Trung úy Nguyễn thành Trung vừa oanh tạc Dinh Độc Lập, thì Bộ Tư Lệnh Không Quân bảo tôi phải cho ngăn cản và bắt đáp, nếu Trung bay qua Phan Rang. Lệnh đã được cấp tốc thi hành, và Trung đã không bay qua đây.
Đặc biệt Cha giáo sứ Hồ Diêm, với niềm phấn khởi, đến thăm Trung tướng Nghi để hoan nghênh quân Dù đã giải tỏa được Phan Rang. Điểm đáng đề cao là chính Cha, cùng với lực lượng Nghĩa quân và Nhân dân tự vệ của giáo sứ, đã thành công bảo vệ địa phận mình chống lại các cố gắng len lỏi xâm nhập của địch.
Ngày 9.4.1975, Trung tá Lê Văn Bút, Không đoàn trưởng Không đoàn 72 Chiến Thuật, bay chỉ huy 40 trực thăng HU với 12 trực thăng Võ trang cơ hữu cùng 8 trực thăng Chinook từ Biên Hòa biệt phái. Mục đích là để lên Khánh Dương tìm kiếm và chở về các toán còn kẹt lại của Lữ đoàn 3 Dù, gồm 2 Tiểu đoàn 2 và 6 cùng một số quân của Tiểu đoàn 5, lúc Nha Trang rút chạy. Cùng đi có Trung tá Trần Đăng Khôi, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 3 Dù phụ giúp tìm kiếm, chọn bãi đáp để rước toán thất lạc nầy trở về. Bấy giờ khu vực Khánh Dương đa trở thành vùng địch kiểm soât, nên tôi cho bay theo 2 phi đội A-37 yểm trợ. Kết quả là đoàn trực thăng đã mang về đến căn cứ Phan Rang, hơn 600 người mà phần lớn lă quân nhân của các Tiểu đoàn 2 và 6, cùng một số thất lạc của Tiểu đoàn 5 với một số ít dân sự chạy loạn đi theo. Toán nầy vào buổi chiều được chở toàn bộ vào Saigon. Cuộc hành quân trực thăng vận thành công tốt đẹp, đem về được số quân nhân thất lạc của Lữ đoàn 3 Dù. Thật đúng là một chuyến bốc quân lịch sử. Đoàn trực thăng 60 chiếc đã phải bay qua vùng địch chiếm với mọi hiểm nguy và bất trắc khôn lường.
Trong thị xã, Đại tá Trần Văn Tự Tỉnh trưởng tiếp tục chấn chỉnh các phần vụ hành chánh, đồng thời lo chỉnh đốn hàng ngũ các đơn vị Địa phương quân. Ngoài thị xã, dân chúng hãy còn e dè ở lại, nhưng không tuôn chạy nhiều như những ngày trước. Cuộc sống có chỉ dấu trở lại bình thường, tạo nhiều phấn khởi.
Các ngày 10 và 11. 4.1975 có được sự yên tĩnh trong toàn bộ vùng Phan Rang. Bộ Tư lệnh tiền phương đang trù tính kế hoạch chiếm lại Cam Ranh để sau đó lấy lại Nha Trang. Địch sau khi bị đuổi khỏi các địa điểm xâm nhập đang tập trung ém quân tại vùng Vườn Dừa ở Cam Lâm chờ đợi viện quân.
Ngày 12.4.75 là ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang.
Lệnh từ Quân đoăn III cho biết sẽ rút Lữ đoàn 2 Dù và Tiểu đoàn 5 Dù vào ngày 13.4.1975, và thay bằng Liên đoàn 31 Biệt động quân với 3 Tiểu đoàn, và Sư đoàn 2 Bộ binh với 2 trung đoàn, cùng 2 Chi đội Pháo và Chi đội Thiết vận xa.
Liên đoàn 31 Biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành, sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghĩ dưỡng quân, thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng.
Sư đoàn 2 Bộ binh cũng vừa tháo chạy từ Quảng Ngải, vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì được lịnh phải ra Phan Rang, trong khi cả đơn vị hảy còn hoang mang, dao động. Vì chưa kịp bổ sung thiết bị, đơn vị nầy phải thu lượm một số pháo và thiết vận xa để mang theo cùng với các trung đoàn ra Phan Rang bằng đường bộ.
Bộ Tổng tham mưu Phòng 7 vừa bổ sung toán thám sát, vì kiểm thính phát hiện rộ lên nhiều liên lạc vô tuyến của các đơn vị địch xung quanh Phan Rang.
Chuẩn tướng Lê Quang Lưởng Tư lệnh Sư đoàn Dù và Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không Quân, cùng đến thám sát công cuộc phòng thủ. Cả hai vị đều tỏ ý bất đồng về việc điều quân nầy. Trung tướng Minh nói để căn cứ không quân làm tiền đồn là sai lầm, vì khi hữu sự dưới lằn đạn pháo thì không thể sửa chửa, trang bị cho phi cơ có khả năng hành quân như yêu cầu được. Chuẩn tướng Lưỡng cũng nói, muốn giữ Phan Rang làm bàn đạp để lấy lại Cam Ranh và Nha Trang, tại sao lại rút đơn vị đang chiến đấu tốt mà thay bằng 2 đơn vị đã từng vội vã rút quân vă còn đang chờ đợi bổ sung quân số.
Trung tướng Nghi cũng bất ngờ vì không có được những đơn vị như đã hứa trước lúc ra nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang.
III. TRẬN CHIẾN QUYẾT ĐỊNH
Ngày 13.4.1975 là ngày đánh dấu nhiều việc không may xảy đến cho tuyến phòng thủ Phan Rang.
Trong ngày, liên tục toán kiểm thính Phòng 7 TTM báo cáo có sự hoạt động bất thường của các đơn vị Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 Bắc Việt.
Tướng Times của Tòa Đại sứ Mỹ hấp tấp bay đến, dẫn theo Ông Lewis, chuyên viên truyền tin, để chuyển về Tòa Đại sứ mọi biến chuyển mới nhứt của mặt trận. Ông Lewis ở lại, rất tích cực làm việc và rất bình tĩnh lúc địch dồn dập tấn công.
Sau mấy ngày ém quân, địch bắt đầu chuyển quân từ khu ém quân và khởi sự pháo kích văo căn cứ không quđn. Các đơn vị địch đang tìm cách tấn công các điểm cao ở vùng đồ Du Long và phía Đông Ba Râu. Đơn vị địch 968 cũng bắt đầu xâm nhập lẻ tẻ từ phía Tây của căn cứ không quân, phối họp với từng đợt pháo kích.
Tiếc thay, trong tình thế như vậy mà cơ cấu phòng thủ phải thi hành lệnh thay quân đang chiến đấu tốt, bằng 2 đơn vị vừa mới được bổ sung sau khi bị tổn thất nhiều về trang bị và tinh thần.
Trong khi bộ phận lớn của Lữ đoàn 2 Dù, gồm Tiểu đoàn 7 với các bộ phần nặng và Tiểu đoăn 5 của Lữ đoăn 3 Dù rời căn cứ, thì Đại tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy trưởng Liên đoàn 31 Biệt động quân và 3 tiểu đoàn 31, 36 và 52 cũng vừa từ Biên Hòa tới bằng phi cơ C-130. Quân số Liên đoàn gồm khoảng 1.000 người. Các đơn vị liền vội vã đến trám vào các địa điểm đóng quân của Tiểu đoăn 11 Dù tại Du Long và Ba Râu. Tiểu đoàn 31 trám tại Du long, Tiểu đoàn 36 trám từ Ba Râu đến Cá Đú và Tiểu đoàn 52 làm trừ bị. Đang thay quân thì chạm súng với các toán thăm dò của địch.
Cùng lúc, Trung đoàn 4 của Sư đoàn 2 Bộ Binh, quân số khoảng 450 người, từ Bình Tuy theo đường bộ cũng vừa tới, và được giao trách nhiệm trấn giữ mặt Tây căn cứ và bảo vệ phi trường thay cho Tiểu đoàn 5 Dù vừa rời căn cứ.
Theo khuyến cáo của Bộ Tư lệnh Không quân, Đại tá Nguyễn Đình Giao, Tham mưu trưởng Sư đoàn 6 Không quân được nhiệm vụ cùng các chuyên viên về Tđn Sơn Nhất để phụ lo việc quân số và tiếp liệu cho Sư đoàn.
Ngày 14.4.1975, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, cùng Trung đoàn 5 vừa đến với khoảng 450 quân, được giao nhiệm vụ bảo vệ mặt Nam căn cứ và phi trường vì Lữ đoàn 2 Dù đã hết nhiệm vụ và đã bàn giao với Trung đoàn 4 hôm qua. Lực lượng Pháo binh chỉ có 1 Pháo đội 105 ly hiện diện tăng phái cho Tiểu khu trong đó có một Trung đội đóng tại An Phước, phía Nam phi trường lối 10 km.
Thị xả được phòng vệ bởi khoảng 1 tiểu đoàn Địa phương quân còn lại. Cùng lúc, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, theo lệnh, đề cử Đại tá Trương Đăng Liêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 giử chức vụ tỉnh thưởng thay Đại tá Trần Văn Tự.
Cũng để dự phòng cho những ngày tác chiến sắp tới, Bộ Tư lệnh Không quân cũng vừa gởi đến, một phi cơ C-47 để tăng cường phương tiện hành quân cho Bộ Tư lệnh Hành quân.
Bên ngoài căn cứ, từ sáng sớm, địch lần lượt tung vài đơn vị cấp Đại đội từ khu ém quân, đánh thăm dò cơ cấu phòng thủ tại Du Long và Ba Râu. Một trong các đơn vị nầy đã xâm nhập được vào cổng số 2 phi trường về phía Bắc, lúc mờ sáng. Phi cơ trực thăng tuần tiểu phát hiện, và cùng với trực thăng võ trang, yểm trợ cho một bộ phận của Tiểu đoàn 11 Dù đang chờ phi cơ về hậu tuyến, được gởi ra tiêu diệt toán xâm nhập nầy. Kết quả địch rút chạy, bỏ lại gần 100 tên bị hạ với khoảng 80 vũ khí đủ loại, trong đó có 2 súng cối 82 ly và 2 khẩu đại bác không giựt 75 ly. Ta chỉ có 6 chiến sĩ hy sinh và 1 thiết vận xa phòng thủ phi trường bị chây. Trung tướng Nghi tưởng thưởng ngay huy chương Anh dũng bội tinh cho các quân nhân hữu công.
Khoảng trưa, Tướng Nghi và tôi cùng Đại tá Lương chạy xe thong thả từ phi trường đến Ba Tháp, Ba Râu và Du Long thị sát công việc phòng thủ. Tại Du Long Tướng Nghi có tập họp và trấn an số Nghĩa quđn có mặt tại đây.
Tóm lại, mặc dầu hôm nay có các cuộc đánh thăm dò của địch, mặt trận vẫn đứng vững như những ngày qua. .
Ngày 15.4.1975 từ sáng sớm địch liên tục pháo từng chập văo căn cứ. Buổi chiều khoảng 2 giờ, có phái đoàn của Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng trưởng Quốc phòng và Trung tướng Nguyễn Văn Toăn Tư lệnh Quân đoàn 3 đến thị sát mặt trận. Sau khi thăm thị xả, nghe Tướng Nghi thuyết trình tình hình và ghi nhận các đề nghị, Trung tướng Tổng trưởng Quốc phòng tỏ vẻ chú trọng đến việc phòng thủ Phan Rang và hứa sẽ tìm mọi cách bổ sung đầy đủ mọi trang thiết bị thiếu hụt.
Từ chiều trở đi, Trung tướng Nghi liên tiếp nhận được tin địch sẽ tập trung tấn công đêm nay. Một trong những công điện của Bộ chỉ huy địch với danh hiệu Sông Hồng, đóng tại Ba Râu, cho hay địch sẽ tấn công vào Phan Rang lúc 5 giờ sáng. Tiến quân theo đường rầy xe lửa cùng với 300 chiến xa, theo quốc lộ 1 phát xuất từ rừng dừa ở Ba Ngòi. Biết ý định của địch, Trung tướng Nghi báo động ngay mọi nơi đề phòng, đặc biệt là Liên đoàn 31 Biệt động quân có nhiệm vụ án ngữ ở Du Long.
Quả nhiên, sau 8 giờ tối địch gia tăng cường độ pháo vào phi trường, đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh v.v…Chúng vượt đồi Du Long, chủ yếu chỉ để tràn qua phòng tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn 31 Biệt động quân mà tiến nhanh về hướng Nam. Tiểu đoàn 31 đã ở tại chổ chiến đấu gan dạ mặc dầu đoàn xe địch vượt được qua. Tại Ba Râu, Ba Tháp và Cá Đú, từ địa điểm đóng quân chờ di chuyển về hậu cứ, từ 2 giờ sáng trở đi, Tiểu đoàn 11 Dù trừ và Tiểu đoàn 3 Dù, cùng với Tiểu đoàn 36 Biệt động quân vừa trám chổ, chạm địch ác liệt, làm chậm sức tấn công ồ ạt của đoàn cơ giới địch. Liên tục bị oanh kích, chúng tẻ xuống đường, tắt đèn và lại tiến tới. Phi cơ A-37 không ngớt tung xuống đợt oanh tạc ngăn chăn, nhưng vì không đủ phương tiện soi sâng và hỏa long, nên chúng vẫn tràn qua, sau khi bị tổn thất khá nặng nề. Bên ta có 4 A-37 bị bắn bể bình xăng phải về đáp. Trận nầy Không đoàn 92/Chiến thuật đã tung toàn lực phi cơ cơ hữu kể cả 4 A-1 của Phi đoàn 530.
Tôi cùng Trung tá Lưu đức Thanh Phụ tá Hành quân Sư đoàn 6 KQ đích thân theo dỏi trận đánh suốt đêm. Chúng tôi liên tục đốc thúc phần tham gia của không quân, kể từ lúc các đơn vị bộ binh chạm súng, liên tục báo cáo địch đang xử dụng hàng đoàn xe để đến sáng chạy từ Du Long tràn xuống. Cuối cùng, đoàn xe tắt đèn vượt qua Ba Râu, vă chiếm thị xả lúc 7 giờ sáng ngày16.4.1975.
Tại Bộ chỉ huy tiền phương, Trung tướng Nghi cũng theo dỏi trận chiến suốt đêm và không nhận được tin gì từ Du Long của Liên đoàn 31 Biệt động quân sau 3 giờ sáng. (Sau nầy, Thiếu tá Đào Kim Minh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 36 Biệt động quân và Thiếu tá Nguyễn văn Tú Tiểu đoăn trưởng Tiểu đoàn 31 Biệt động quân có nhiệm vụ trấn giữ Ba Râu và Du Long cho biết không hiểu vì lý do gì mà từ 2 giờ sáng không liên lạc được với Bộ chỉ huy. Sở dỉ cần liên lạc khẩn cấp là vì đã 3 ngày, từ lúc thay quân, cứ liên miíê đụng địch nên cấp số đạn dược mang theo đã gần cạn. Đến sáng, khu vực trách nhiệm vẫn yên tịnh như sau những lần chạm súng. Trên đường vẫn an toàn nhưng nhìn vào phi trường thấy đang bị pháo kích.)
Ngày 16.4.1975, lúc vừa sáng, địch lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tđy. Đến khi phòng không chúng, bắn trúng chiếc phi cơ quan sát O-1 vừa cất cánh quan sát hành quân, phải trở lại đâp khẩn cấp, thì đồng thời chúng gia tăng số lượng pháo kích.
Lúc bấy giờ mới khoảng gần 8 giờ sáng. Đại tá Biết bổng báo cáo là Du long bị mất và địch đã vào thị xã khiến cho Trung tướng Nghi phải tìm phương thế thích nghi. Cùng lúc, Chuẩn tướng Nhựt vừa đặt văn phòng cạnh Văn phòng Trung tướng Nghi, liền được mời tham gia vào việc duyệt xét tình hình. Sau đó Ông đi thị sát mặt trận tại nơi trách nhiệm của đơn vị mình.
Trong khi Trung đoàn 4 Bộ Binh đang án ngữ bên ngoài phía Tây của phi trường và Trung đoàn 5 đang phòng ngự địch tràn lên từ thị xả, thì bên trong căn cứ tình hình bắt đầu có chiều hướng bất lợi. Địch vẫn giữ mức độ pháo kích quấy rối từng chập. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số lớn phi cơ đã rời căn cứ. Còn lại chỉ có một số rất ít trực thăng võ trang và tản thương ở lại đến phút chót.
Khoảng hơn 9 giơ sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiển SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã khá nguy ngập. Trung đoăn 4 báo cáo đang chạm địch. Toán Dù bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương đang thanh toán các toán VC lẻ tẻ chạy lạng quạng gần khu vực Bộ Tư lệnh Tiền phương. Đến lúc nầy, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng văo khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ ngăn chận địch tràn vào cổng số 1 của căn cứ.
Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để tái duyệt xét tình hình. Vì lẽ mặt trận đã bị thủng từ Du Long và địch đang hăm dọa căn cứ nên Trung tướng Nghi dự tính có thể sẽ dời Bộ Tư lệnh Tiền phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới tại đó, nếu địch chọc thủng được phòng tuyến bảo vệ phi trường. Dự trù sẽ đi khỏi phi trường từ cổng số 1 và đi cùng Trung đoàn 5.
Khoảng 10,30 giờ sáng, mãi đến khi các toán quân địch sắp tiến vào Bộ Tư lệnh Tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lịnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới. Trung tướng Nghi, Đại tá Lương, Ông Lewis chuyên viên Tòa Đại sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư lệnh Tiền phương, Sư đoàn 6 Không quân, Lữ đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ của Liên đoàn 3I Biệt động quân lối 400 người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 về hướng Nam.
Đoàn quân di chuyển trật tự đến cổng số 1 khoảng 11 giờ, để cùng đi với Trung đoàn 5 về Cà Ná như dự định. Tại đây, vì không liên lạc được với Chuẩn tướng Nhựt, nên Trung tướng Nghi quyết định theo đường rào phía Nam, di chuyển dọc theo đường từ Tour Cham đến ngã ba An Phước. Đoàn quân an toàn đến Thôn Mỹ Đức lúc 12 giờ trưa.
Trên đường rút khỏi Ba Tháp, Tiểu đoàn 3 Dù lần xuống bãi biển, tẻ sâu về hướng Nam và không còn thấy Giang đoàn 27, chiến hạm WHEC cùng bất cứ chiếc tău nào khác tại cảng Ninh Chử. Đến một bãi cát xa hơn về hướng Nam của thị xả, đơn vị Dù nầy, gặp và kháng cự với một toán quân địch khác đến bao vây. Sau khi thoát vòng vây với ít nhiều tổn thất, Tiểu đoàn 3 Dù được một đoàn trực thăng, bốc về an toăn. (Đoàn trực thăng cấp cứu nầy, dự trù đón Bộ tư lệnh tiền phương, nhưng vì Trung tướng Nghi không thuận cho đáp vì lý do an toàn bãi đáp, nên trên đường trở về, mới bốc được toán Dù trên.)
Tiểu đoàn 11 Dù còn lại rút được qua sông, phối hợp với toán quân vừa thoát khỏi trận phục kích ở Thôn Phú Qúy về được an toăn.
Liên đoàn 31 Biệt động quân và Sư đoàn 2 Bộ binh với một ít đơn vị cố gắng di chuyển về Nam lại chịu thêm tổn thất trên đường rút lui. Đại tá Lê Thương, Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh, trên đường rút về An Phước nơi có Trung đội Pháo binh đang trú đóng, cũng gặp địch đã đóng làm nút chận tại đây rồi,
Tại phi trường, khi đoàn quân của Trung tướng Nghi di chuyển khá xa, thì Sư đoàn 325 VC phối họp với Sư đoàn 3 VC cùng Đoàn 968 tấn công và chiếm phi trường lúc 11,30 giờ trưa.
Thiệt hại của Sư đoăn 6 không quân rất đáng kể vì mất toàn bộ kho bom đạn và các trang thiết bị phụ thuộc, với lối 10 phi cơ đủ loại không bay được. Tuy nhiên tổn thất hành quân tương đối là nhẹ: 1 A-37 rớt, 4 A-37 bị bắn về đáp an toàn, 2 trực thăng cháy, 1 phi cơ quan sát cùng khá nhiều trực thăng bị bắn nhưng về đáp được an toàn.
Hải quân ta chỉ có một số ít Giang thuyền bị chìm và mộït chiến hạm bị pháo.
Tại Thôn Mỹ Đức lúc khoảng 4 giờ chiều, Trung tướng Nghi được toán truyền tin của Đại tá Lương cho hay có 1 đoàn phi cơ xin xác nhận vị trí để xuống bốc. Lúc bấy giờ, với số gần 700 quân nhân vă thân nhân nên khó bóc hết được, vả lại khi trực thăng đến, khó lòng mà giữ được trật tự, chắc chắn sẽ tạo hổn loạn làm lộ mục tiêu giúp địch đến vây bắt. Vì vậy Trung tướng Nghi quyết định vì sự an toàn cho đồng đội, từng khổ cực chiến đấu với nhau mà không vì an toàn cho bản thân, nên ra lịnh toán cứu cấp đó không nên đâp, và chỉ nên đến ngày hôm sau, tại một địa điểm xa hơn về phía Nam.
Từ trái : Cháu Thảo ( con Đại Tá Khương KQ ), Thiếu Tướng Phạm Ngọc Sang ( KQ )- Cháu Trang ( con Đ/Tá Khương ) - Trung Tá Hiếu - Thiếu Tướng Lê Minh Đảo - Đại Tá Bùi Quan Khương ( SĐ4 KQ ) - Đại Tá Nguyễn Xuân Lộc ( CHT Cảnh Sát Vùng 1 CT )
Thăm Nuôi Trại Cải Tạo
Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4.1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Trung tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992.
IV. KẾT LUẬN
Sư đoàn 6 Không quân rời Pleiku ngày 16.3.1975 đến tạm trú tại Nha Trang. Ngày 22.3.1975 được lịnh đến căn cứ Phan Rang đồn trú. Chưa kịp thích nghi với sanh hoạt địa phương thì phải đương đầu với nhiều nổi ưu lự kể từ lúc Nha Trang rút bỏ. Liên tiếp trong 16 ngày, toàn thể quân nhân Sư doăn 6 Không quân đã khắc phục bao khó khăn, trong một hoàn cảnh khác thường của một căn cứ Không quân bổng trở thành một tiền đồn, vừa thi hành các phi vụ, vừa tham gia chiến đấu như bộ binh.
Địa phương quđn và Nghĩa quân Phan Rang có những đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đáng khen, như việc bảo vệ Giáo sứ Hồ Diêm được an toàn là một thí dụ.
Sư đoàn 2 Bộ binh với 2 Trung đoàn 4 và 5, tuy có một số lớn quân nhân hảy còn hoang mang, dao động vì lo lắng cho thân nhân còn kẹt lại khi đơn vị vội vả rút lui, nhưng cũng đã cố gắng tham dự.
Liên đoàn 31 Biệt động quân với 3 Tiểu đoàn 31, 36 và 52, chứng minh được cái tinh thần của người chiến sĩ mũ nâu, mặc dầu sau những trận đánh ác liệt tại Chơn Thành được điều động thẳng ra Phan Rang, không có một ngày nghĩ dưỡng quân, cũng như không được bổ sung quân số, tái trang bị đầy đủ.
Lữ đoăn 2 Dù với các Tiểu đoàn 3, 7 và 11 cùng Tiểu đoàn 5 của Lữ đoàn 3 Dù đã chiến đấu rất tích cực và tạo được sự tin tưởng của nhiều người, quả xứng đáng là những đơn vị thiện chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Với những đơn vị như trên cộng thêm Phan Rang có vị trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, đáng lý Phan Rang không thể bị chiếm quá nhanh như thế được.
Chiếm được Phan Rang, địch mới có lý do tung ra kế hoạch Tổng công kích, mà đáng lý ra theo dự trù, chúng chỉ có thể tung ra vào năm 1976 thay vì năm 1975. Tướng VC Văn Tiến Dũng, sau chiến thắng, đê tuyên bố tại Cuba: ” Khi chiếm được Phan Rang thì coi như chiếm được miền Nam.” Lời tuyên bố nầy chứng minh được việc chọn phòng tuyến Phan Rang là một quyết định đứng đắn của Bộ Tổng tham mưu Quđn lực Việt Nam Cộng Hòa. Việc mất Phan Rang quả đúng là một tổn thất quâ lớn cho công cuộc bảo vệ Miền Nam vậy.
Đã hơn 25 năm, chắc chắn tôi không thể còn nhớ đầy đủ các diễn biến liên quan đến việc phòng thủ Phan Rang. Tôi đã tham khảo một vài tài liệu và tiếp xúc một vài thân hữu. Cộng với ký ức, tôi đã cố gắng ghi lại trong bài viết nầy mọi hiểu biết có thể có và đương nhiên chắc phải có nhiều thiếu sót.

Viết xong ngày 15 tháng 1 năm 2002
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang