Showing posts with label tiểu đoàn 82 bđq. Show all posts
Showing posts with label tiểu đoàn 82 bđq. Show all posts

Friday, January 28, 2022

 Tiêu diệt chốt cầu 20 trên tỉnh lộ 8B

- 03 tháng 11, 2021 - 21:43

Từ trận đánh đồn Đạo Trung 31-1-1974…


http://cuuchienbinh.vn/tieu-diet-chot-cau-20-tren-tinh-lo-8b/


Từ sau khi quân ta tiến công và giải phóng Bù Bông ngày 4-11-1973, đoạn quốc lộ 14 từ Đắk Song đến Kiến Đức ta làm chủ hoàn toàn; do vậy việc đi lại từ Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Quảng Đức, địch chỉ dựa vào tỉnh lộ 8B. Đường 8B trở thành huyết mạch sống còn của địch. Và đồn Đạo Trung, trấn giữa đoạn đường từ Đắk Song về Gia Nghĩa, là “cái gai” đầu tiên ta phải nhổ.


Đồn Đạo Trung nay thuộc xã Nam BRang, huyện Đắk Song, là một chốt nằm cạnh cua hình chữ U sát tỉnh lộ 8B về phía đông, gần thị trấn Đức An tính từ Đắk Song đi Gia Nghĩa, cách ngã ba Thuận Hạnh nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh lộ 8B gặp quốc 14 chừng 8km, cách cầu 20 khoảng 4km.


Đồn Đạo Trung cao gần như nhất khu vực, về hướng tây có thể nhìn tới tận Bù Bông, còn hướng đông có thể khống chế các hoạt động trên dãy núi Nam Nung - nơi đặt các cơ quan giải phóng tỉnh Quảng Đức. Do chốt đặt ở khúc đường cua nên phía bắc địch nhìn thấy rất rõ mọi hoạt động của ta. Còn về hướng nam cũng dễ dàng phát hiện mọi thứ trong tầm mắt, địa hình phức tạp dễ thủ, khó công vì ba mặt dốc đường, hướng đông nam hơi thoai thoải, nhưng muốn đánh được thì quân ta phải vượt qua tỉnh lộ 8B, với đội hình đông người rất khó triển khai.


Bố trí của địch ở đây là Tiểu đoàn bảo an số 259 gồm 83 quân, chốt rải rác ở các quả đồi lân cận. Đồn Đạo Trung có một trung đội pháo binh trang bị hai khẩu 105 ly, một khẩu ĐK57, một khẩu cối 81. Bao bọc quanh đồn có 3 hàng rào đơn, 1 hàng rào mái nhà hẹp; giao thông hào chạy quanh chốt... Từ năm 1969, địch đã học được cách chống đặc công của ta nên chúng làm nhiều lô cốt giả, cần ăng-ten giả. Vào ban đêm, chúng bí mật kéo thêm một hàng rào đơn cắt ngang quả đồi giữa lô cốt giả và lô cốt thật, nếu điều nghiên không kỹ, khi ta đã cắt hết các hàng rào bên ngoài mà tấn công vào sẽ bất ngờ gặp hàng rào ban đêm chúng mới kéo ra; khi đó bộ đội sẽ bị kẹt ở giữa.


Muốn cô lập được thị xã Gia Nghĩa, Đắk Song, Đức Lập, quân ta phải tiêu diệt được Đạo Trung. Diệt được Đạo Trung sẽ hạn chế được rất nhiều việc địch bắn phá và đưa quân càn quét vùng giải phóng, nhất là khu vực núi Nam  Nung …


Đầu tháng 1-1974, Trung đoàn đặc công 429 cùng trinh sát Trung đoàn 271 ba lần đi trinh sát điều nghiên thực địa, vào chốt  kiểm tra kỹ cách bố phòng của địch; sau đó đắp sa bàn hướng dẫn các mũi tiềm nhập tấn công; ban ngày trinh sát đặc công đặt đài theo dõi các hoạt động của địch bên trong chốt.


Đêm 31-1, rạng sáng ngày 1-2-1974, Tiểu đoàn 14 Trung đoàn 429 đặc công và Tiểu đòn 4 Trung đoàn 271 bộ binh phối hợp tiến công đồn Đạo Trung, nhưng do bị lộ ngay trên đường tiềm nhập, các mũi tiến công không phát triển theo kế hoạch. Mặc dù các chiến sĩ của 2 tiểu đoàn chiến đấu rất kiên cường, dũng cảm xung phong, nhưng trận đánh không thành công. 39 cán bộ, chiến sĩ của hai đơn vị đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trận.


…Đến chiến thắng chốt cầu 20 ngày 18-9-1974


Cuối tháng 6-1974, các đơn vị của Trung đoàn 271 thay nhau chốt các cao điểm để bảo vệ hành lang đường 14 đoạn Đắk Song - Kiến Đức. Riêng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 271  được điều về phía đông Bù Bông để huấn luyện và làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu của Trung đoàn.


Đầu tháng 8-1974, Trung đoàn 271 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 2 đi điều nghiên các vị trí địch trên tỉnh lộ 8B (đoạn từ Đạo Trung đi Gia Nghĩa), để tổ chức một số trận địa phục kích nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.


Từ Bù Bông cắt về đường 8B khá xa. Rừng núi điệp trùng, bộ đội phải đi một ngày mới tới. Tiểu đoàn 2 cũng không dự kiến đánh đồn Đạo Trung, vì biết rằng sau bị tập kích ngày 31-1-1974 địch đã tăng cường bố phòng và cảnh giác cao độ.Tiểu đoàn cử nhiều đoàn cán bộ, trinh sát, điều nghiên bám nắm địch và tổ chức đặt đài quan sát để theo dõi địch trên tỉnh lộ 8B cả ngày lẫn đêm, nắm cho được quy luật hoạt động của địch. Tuy vậy chỉ phát hiện được từng tốp lính khi đi bộ, khi có xe chở đi tuần tiễu. Thỉnh thoảng mới có một xe quân sự chở hàng. Nói chung địch hoạt động không có quy luật.


Địa hình phức tạp nên tổ chức trận địa mai phục cũng gặp nhiều khó khăn Trong khi ta đang tìm chỗ phục, thì bất ngờ từ đài quan sát, anh em phát hiện một đại đội địch được mấy chiếc xe GMC chở đến. Sau đó, chúng hành quân lên một quả đồi trọc sát mép đường, đào hầm, xây dựng trận địa chốt để bảo vệ cầu 20 trên tỉnh lộ 8B. Tiểu đoàn 2 quyết định chọn chốt này làm mục tiêu tiến công.



Chốt cầu 20 nằm ở phía nam đồn Đạo Trung, nằm sát cầu 20, phía tây tỉnh lộ 8B, cách đồn Đạo Trung khoảng 3km theo đường chim bay, khoảng 4km theo đường 8B. Chốt do một đại đội quân ngụy Sài Gòn hành quân dã chiến chiếm giữ. Chốt được rào bằng gỗ và có một hàng rào dây thép gai phía trong. Địch đã xây dựng hầm hào công sự, nhưng chưa xây dựng kiên cố. Địch còn ở trong nhà che bằng ni lông.


Chốt cầu 20 từ khi địch đóng quân đã được Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 271 giám sát hằng ngày và tổ chức trinh sát nhiều lần, sau đó lên sơ đồ tác chiến thông qua chỉ huy Trung đoàn. Lực lượng tác chiến của ta chủ yếu là Tiểu đoàn 2 được tăng cường 2 đại đội phối thuộc là Đại đội cối 16, Đại đội công binh 19 và 2 khẩu đội ĐKZ 82 của Đại đội 17. Tiểu đoàn phân công như sau: Đại đội 3 làm chủ công, trực tiếp sử dụng 2 khẩu đội ĐKZ 82 phối thuộc, đánh từ trên đỉnh đồi xuống, Đại đội 1 đánh hướng bên trái, từ sườn đồi vào, Đại đội 2 để 2 trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn, cho 1 trung đội chốt chặn, phục kích đánh địch từ hướng đồn Đạo Trung xuống chi viện cho chốt cầu 20. Đại đội 19 của Trung đoàn tăng cường chốt chặn, phục kích sẵn sàng đánh địch từ hướng Gia Nghĩa lên. Không sử dụng pháo cối chi viện cho đơn vị đánh chốt cầu 20, mà Tiểu đoàn dùng cả 2 đại đội hỏa lực là Đại đội 4 của tiểu đoàn và Đại đội cối 16 của Trung đoàn tăng cường để tập kích và kiềm chế pháo từ đồn Đạo Trung. Pháo mặt trận sẽ kiềm chế pháo từ trận địa địch ở núi Lửa.


Đêm 17-9-1974, Tiểu đoàn 2 vào chiếm lĩnh trận địa. Trong quá trình tiềm nhập, hướng Đại đội 3 có đồng chí Lê Thanh Hải, trinh sát Đại đội 21 dẫn đường đạp phải mìn, hy sinh, nhưng đơn vị tiếp tục chiếm lĩnh trận địa. Ban đầu, địch có nghi ngờ nhưng có lẽ nghĩ là thú rừng đạp mìn và không dám đi kiểm tra, nên quân ta vẫn giữ được bí mật.


Khoảng 5 giờ sáng ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công. Mặc dù quân địch chống trả điên cuồng, chúng tập trung bắn trả cả vào 2 hướng cửa mở của quân ta; mìn ĐH.10 không quét được hàng rào gỗ, nhưng các chiến sĩ ta vẫn dũng mãnh xông lên đột kích từ 2 hướng như đã phân công. Bộ đội kiên trì hạ từng hỏa điểm địch bằng B.40, B.41 hoặc lựu đạn, thủ pháo. Lần lượt chiếm từng đoạn công sự… Ở mũi Đại đôi 3, khẩu đội ĐKZ của Đại đội 17 phối thuộc do đồng chí Nguyễn Hoàng Phương - sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội làm Khẩu đội trưởng đã phát huy uy lực, bắn liên tiếp gần chục viên đạn, xóa sổ nhiều ổ đề kháng của địch. Sau trận này Phương được đơn vị đề nghị khen thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.


Sau 20 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 2 làm chủ trận địa. Toàn bộ đại đội địch 91 tên, một số bị tiêu diệt, số bị thương, 6 tên bị bắt sống, không một tên nào chạy thoát. Lính địch bị thương được quân ta băng bó rồi phóng thích tại trận địa.


Chốt bảo an cấp tiểu đội của địch ở ngay đầu cầu bị Đại đội 2 diệt ngay khi Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công Chốt Cầu 20.


Cùng lúc Tiểu đoàn 2 nổ súng tiến công chốt cầu 20. Đạn cối của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 và Đại đội 16 phối thuộc đồng loạt bắn chế áp pháo địch ở đồn Đạo Trung. Sau này ta được biết, tên sĩ quan chỉ huy pháo binh đồn Đạo Trung bị chết ngay từ loạt đạn đầu và do cối ta bắn cấp tập, chính xác nên pháo cối của đồn Đạo Trung hầu như không chi viện được gì cho bọn địch ở chốt cầu 20.


Một lực lượng bộ binh địch từ đồn Đạo Trung cơ động lên định chi viện cho chốt cầu 20 đã bị Đại đội 19 phục kích đánh phải tháo chạy.


Sau khi quân ta rút khỏi chốt cầu 20, Đại đội 2 triển khai bố trí đội hình dọc bìa rừng chân chốt. Mất chốt, địch dùng pháo các loại bắn dữ dội nhiều đợt vào gần khu vức chốt của Đại đội 2. Địch cho 2 xe tăng và đổ quân đến để giải vây, nhưng xe tăng địch không dám vượt cầu, vì sợ ta gài mìn. Chập choạng tối, địch cho quân cắt bìa rừng đánh tập kích vào khu vực chốt của Đại đội 2, nhưng bị nổ súng đánh trả quyêt liệt, địch không lên được phải rút lui. Ngay đêm đó vì trận địa chốt bị lộ, để bảo toàn lực lượng, Đại đội 2 được lệnh rút về tuyến sau để củng cố.


Bên ta, 10 đồng chí hy sinh trong trận đánh chốt cầu 20, gồm 5 đồng chí Đại đội 2 hy sinh trong trận đánh (Trần Văn Thắng, Nguyễn Huy Mão, Lê Sĩ Mão, Trần Văn Chuyên, Nguyễn Hữu Tư), 1 đồng chí hy sinh khi đi trinh sát (Nguyễn Thế Cải hy sinh ngày 3-9). Bốn đồng chí nữa của các đơn vị khác trong Trung đoàn hy sinh ở khu vực Đạo Trung là: Trịnh Xuân Lâm (Đại đội 19), Lê Thanh Hải (Đại đội 21), Phan Văn Thành (Đại đội 16) và Nguyễn Đình Vận (Đại đội 17).


Như thế, ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 tiến công chốt cầu 20 và chiến thắng giòn giã; đồng thời dùng cối tập kích đồn Đạo Trung, gây cho địch nhiều tổn thất, không dám cho quân ứng cứu chốt cầu 20.


Xuân Tảo, Hà Nội, ngày 19-8-2021


Chu Đức Tính - CCB Trung đoàn 271

Monday, May 3, 2021

 SƯ ĐOÀN 18 VNCH TẠI MẶT TRÂN XUÂN LỘC THÁNG 4/75 

Viết nhân sự ra đi mới đây của tướng Lê Minh Đảo, TL sư đoàn

(Dịch từ trang 438-444 của sách Black April của George Veith)

". . .Tuy nhiên chuẩn tướng Lê Minh Đảo, TL của sđ 18 VNCH, đang chờ cuộc tấn công của bắc Việt Nam (North Vietnam). Sau cuộc tấn công của quân csbv tại Định Quán ngày 18/3, tướng Đảo đã cảm nhận một tấn công sắp xảy ra (imminent) vào Xuân Lộc. Những nghi ngờ của ông đầu tiên đã xuất hiện vào tháng hai khi một tiền đồn của ĐPQ tại núi Chứa Chan phục kích và giết một toán tiền sát pháo binh của Quân Đoàn 4 CSBV. Trực giác của ông đã củng cố sau những trận đánh trên QL 20 (Sài Gòn - Đà Lạt) vào cuối tháng ba trong đó các bs đã bắt vài tù binh. Khi điều tra các tù binh, ông đã ngạc nhiên khi khi họ quá trẻ. Có vẻ, miền bắc VN đã VÉT HẾT DÂN ĐỂ ĐƯA VÀO NAM  (scrap the bottom of the manpower barrel in north VN). Nhiều tù binh chỉ ở TUỔI 16, nhưng họ mang vũ khí và trang bị mới của Khối Sô Viết, xem hình. Khi biết chúng thuộc sđ 341 CSBV, tướng Đảo đã biết chắc có BA SƯ ĐOÀN quân chính qui (main-force) CSBV trong khu vực.

Đầu tháng TƯ, ông bắt đầu tổ chức phòng thủ. Đầu tiên, ông xem xét kỷ lưởng (closely) địa hình quanh TP.  Xuân Lộc nằm giữa các đồn điền chuối và cao su ở đáy của đầu cuối phía nam của Rặng Trường Sơn (Annamite Moutains), đi từ TQ hướng ra Biển Đông, tạo nên xương sống của bán đảo Đông Dương. Địa hình đồi núi phía tây của TP được che phủ bởi rừng già và chằn chịt (crisscross) bởi vài sông và suối nhỏ. Phía đông đất trống trải hơn (more open), nhưng khống chế bởi Núi Chứa Chan. 

Trong khi ông có hơn một tuần để chuẩn bị cuộc tấn công được chờ đợi, lực lượng của ông đã bị căng mỏng (were stretched thin). Hai của ba trung đoàn của ông ở ngoài TP: tr.đ. 52 giữ QL 20, trong khi tr.đ. 48 ở tỉnh Tây Ninh, cách Xuân Lộc 70 dặm. Trong đầu tháng TƯ, ông chỉ có tr.đ. 43, lính hậu cứ (rearbase personel), thiết giáp, và đại đội trinh sát của sđ bảo vệ TP. Bốn tđ ĐPQ giữ mặt bắc của TP và khu vực chung quanh BCH tiểu khu. Tuy nhiên, mặt nam của TP rất trống trải - đây chính là điểm sđ 7 CSBV sẽ tấn công. 

Ông đã biết ông sẽ cần toàn bộ sđ để ngăn cản tấn công của bắc quân, và ông có cơ hội đó khi trung tướng Toàn đến thăm NGÀY 3 THÁNG 4. Sau khi thuyết trình, ông yêu cầu tướng Toàn trả tr.đ. 48, tướng Toàn đã từ chối, nhưng ông kì kèo, nói với tướng rằng nếu QK 3 muốn ông giữ Xuân Lộc, ông phải bảo vệ mặt nam của TP. Để thuyết phục tướng Toàn, ông đã nói dối: rằng ông có ý dùng tr.đ. 48 để tảo thanh (clear) trên QL 1 từ Tân Phong và chiếm lại Núi Chứa Chan. Tướng Toàn đồng ý nhưng bảo ông gửi một tđ tới TP Hàm Tân (Bình Tuy) để bảo vệ an ninh cho đoàn người di tản từ QK 2. 

Tr.đ. 48 trở về NGÀY 4 THÁNG TƯ. Ngày 7/4, ông cho tr.đ. này tảo thanh trên QL 1 và để t.đ. 3/48 ở vùng núi này, và rút tđ 1/48 về giữ NGÃ TƯ TÂN PHONG, ở nam của TP, cùng với hai chi đoàn của Thiết đoàn 5 của sđ 18. Đây là trừ bị của ông. Ông cũng ý thức rõ về các thảm họa ở QK 1 và 2 khi nhiều đv tan rả toàn bộ vì bs đào ngũ để lo cho vợ con (hội chứng gia đình/family syndrome). Ông cho chuyển càng nhiều càng tốt gia đình bs và viên chức địa phương về Long Bình, căn cứ tiếp vận khổng lồ gần Biên Hòa. Những viên chức còn lại phải ở trong công sự gần BCH tiểu khu. 

Quan trọng hơn, ông đưa bs ra ngoại vi của tp vì nghĩ rằng quân CS sẽ tập trung pháo vào trung tâm tp. Ông cho đ.đ. trinh sát súng đại liên 50 và đóng trên trường trung học ở hướng tây bắc của tp. Ông cũng tạo ra ba BCH riêng rẻ: cái thứ nhứt đặt nhà ông trong tp, cái thứ hai tại Tân Phong, cái thứ ba ở vườn cây ăn trái gần đó. Trong khi binh sĩ đào hầm hố, ông chợt nghĩ (it dawned on him) rằng ko nghi ngờ gì địch quân sẽ lại dùng những đường tiến quân - đã dùng khi chúng tấn công Xuân Lộc năm 1968, với chỉnh sửa chút đỉnh dựa trên tình hình hiện nay. Đó là một thẩm định đúng (correct appraisal).

Vì vậy, ông đã giăng bẩy (laid a trap for them). Pháo binh của sđ (gồm 24 khẩu 105 ly và 12 khẩu 155 ly) đã lấy yếu tố tác xạ những nơi có thể là trục tiến quân của địch. Ông cho xe ủi đất đào các hầm để bảo vệ súng. Ông cũng mở rộng hệ thống công sự và giao thông hào. . . 

Tuy nhiên, do dự trữ (stockpile) về nhiên liệu và đạn dược của VNCH, đặc biệt là đạn pháo, rất thấp, kể từ đầu THÁNG HAI, ông đã thực thi hai chương trình. Thứ nhứt, ông đã bắt đầu dự trữ đạn pháo binh (vi phạm trực tiếp các điều lịnh của BTTM) khi giảm 20/100 số đạn xử dụng mỗi ngày (by reducing his arty expenditure by 20%). Thứ hai, ông cho lập một trung đội viễn thám ở mỗi tđ. Ngày 6/4, một trung đội đã phục kích và diệt một toán trinh sát địch ở NÚI MA, một cao điểm tây bắc của tp. Ông cho lính chiếm các núi khác để ngừa CS dùng nó làm đài quan sát. 

Vào trưa 6/4, ông được tin tđ 82 BĐQ (của thiếu tá VƯƠNG MỘNG LONG -- người dịch) vừa đến khu vực chính phủ sau nhiều ngày băng rừng từ Quảng Đức. Tướng Toàn (do biết tiếng tđ này từ trận Pleime 1974 --người dịch) đã cho trực thăng bốc về Xuân Lộc, đóng ở phi trường, dưới chỉ huy của tr.đ. 43. Tướng Toàn còn nói rằng ngày hôm sau tđ này sẽ về Sài Gòn để PHỤC HỒI (reconstitution). 

TỐI NGÀY 8 THÁNG 4, quân của ông bố trí như sau: tr.đ. 52 và một chi đoàn M-113 của thiết đoàn 5 bảo vệ QL-20 và ngã ba Dầu Giây. Một tđ ở nam Dầu Giây tại ấp Phan Bội Châu. Thành phần xa nhứt ở phía bắc là một đ.đ. trên đỉnh Đồi Móng Ngựa, một đồi nhỏ ở đông QL-20 gần Núi Ma. TĐ 2/43, bảo vệ Núi Thị, cao điểm phía tây tp. Điều này tạo ra một khoảng trống đáng ngại giữa tuyến của tr.đ. 52 và tp - chỉ được hỗ trợ bởi pháo. Đại đội TS của sđ giữ trường trung học ở tây bắc tp, với hai tđ ĐPQ ở sườn phải. Hai đv ĐPQ khác chiếm các vị trí trong tp. TĐ 1 và 3/43 bảo vệ phía đông của tp. TĐ 1/48, và hai chi đoàn của thiết đoàn 5 làm trừ bị, trong khi tđ 2/48 tăng phái đi Hàm Tân. TĐ 3/48 đóng hai bên QL 1 phía đông của tp. TĐ 82 bđq bảo vệ sân bay Xuân Lộc. 

Vào buổi sáng của NGÀY 9 THÁNG TƯ, các thành phần CSBV đã vào vị trí chuẩn bị chiến đấu. SĐ 6 CSBV vượt qua TL 2 nam Xuân Lộc mà ko bị phát hiện và di chuyển nhanh chóng về phía bắc qua các đồn điền cao su hướng tới QL1. SĐ 7 và 341 CSBV tiến gần tới chu vi phòng thủ của QLVNCH. Lúc 5 g sáng, các đv này báo cáo đã tới vị trí ấn định ấn định. Pháo binh bắc quân chờ lịnh nổ súng. Ở khu của sđ 341 CSBV, trước giờ nổ súng, các quan sát viên pháo binh nhận thấy sương mù vẫn còn nên xin hoãn 10 phút. ĐÚNG 5:40 SÁNG, QK 4 ra lịnh, pháo của sđ và pháo của qk đồng loạt nổ. Trận Xuân Lộc bắt đầu.

Một trong những đạn pháo đầu tiên rơi trực tiếp xuống nhà tướng Đảo. Đó là ngôi nhà nhỏ hai từng, đối diện với nhà của tỉnh trưởng Long Khánh, kế nhà thờ Công giáo giữa tp. Đạn xuyên qua nóc và nổ trong phòng ngủ, chứng tỏ sự CHÍNH XÁC ko thể tưởng của pháo csbv. May mắn thay, ông ko ở nhà. TRONG MỘT GIỜ, CSBV rải đạn pháo, cối và hỏa tiển vào tp. Họ giả nát trung tâm tp và biến nhiều tòa nhà thành gạch vụn. Tuy nhiên, dù có thám sát trước, bắc quân đã ko biết quân VNCH đã dời ra ngoại ô. Phần lớn đạn trúng nhà dân, trong khi lính của ông vô sự (unscathed) trong hầm hào. Tổng cộng có 2.000 quả. Lúc 6:40, hai pháo sáng màu đỏ bắn lên trời, báo hiệu cho bộ binh và chiến xa tiến vào. 

Ở khu phía đông, tr.đ. 165 CSBV tấn công dữ dội (onslaught) với 4 tăng dẫn đầu, với 4 tăng khác đi với tr.đ. 209. Nghĩ rằng quân nam VN sẽ chạy trốn ngay khi ngừng pháo, lính BV tự tin (confidently) tiến về phía trươc. Nhưng họ đã lầm, lính của sđ 18 VNCH đã cố thủ. Mặt đông của tp rất trống trải, và tướng Đảo đã chuẩn bị trước với các công trình phòng thủ vững chắc. SĐ 7 CSBV đã phải tiến lên đồi, băng ngang những cánh đồng trống trải, vượt qua TÁM hàng rào kẻm gai, vài bãi mìn, và leo qua một mô đất (earthen berm) trước khi đến được giao thông hào của lính sđ 18. 

Bằng một hiệu lịnh, những bs của sđ 18 bắt đầu nổ súng đại bác và liên thanh vào quân csbv. Cuộc tấn công thứ nhứt của tr.đ. 165 nhanh chóng bị sa lầy (bogged down). Chiếc T-54 dẫn đầu cán mìn chống tăng, đứt xích bên trái và bất động. Khi trời sáng tỏ, phản lực VNCH bắt đầu oanh kích lính csbv. 

Dù bị pháo nặng, lính csbv mở đợt hai. Khi tăng tới gần, lính của tr.đ. 43 đã có ngạc nhiên khác chờ họ: các phi đạn 2.75-inch, thường dùng bởi trực thăng võ trang, được gắn trên giá đỡ có hai chân (bipod) và điêù khiển bằng pin. Quân VNCH bắn cháy hai tăng và địch ngừng tấn công. Tr.đ. 209, tiến trên QL 1 từ hướng đông vào tp, đụng với tđ 82 BĐQ tại sân bay và bị bắn cháy thêm hai tăng. 

Lực lượng tấn công chánh của tướng CSBV Hoàng Cầm bị cầm chân. Họ bị chận đứng ko chỉ bởi KQ và pháo, nhưng bởi lính bộ binh đầy quyết tâm. (còn tiếp) 

Lúc 11:20 tối 3/5/2020.


                                           










Saturday, April 17, 2021

VƯƠNG = 66753 = 27 = 9

MỘNG = 4753 = 19 = 10 = 1

LONG = 3753 = 18 = 9 

Cộng lại; 9 1 9 = 19 = cực kỳ may mắn. 

Wednesday, April 7, 2021

 Theo hồi ký của Trung úy D. (Biệt Động Quân): “Những trang sử bi thảm của một quân đội kiêu hùng”


Đoàn xe GMC của Trường Bộ binh Thủ Đức ngừng lại tại ngã tư Trương Minh Giảng-Tú Xương; trên đoàn xe là những sinh viên sĩ quan khóa 1/72 trừ bị. Họ đã nhập ngũ theo lịnh “Tổng động viên” sau Mùa Hè Đỏ Lửa. Tất cả vội vàng nhảy xuống xe rồi tản mát đi khắp hướng của Saigon. Hôm nay cũng là ngày Hiệp định Ba-Lê có hiệu lực trên toàn cõi VN; tôi là một trong những sinh viên sĩ quan ấy. Tôi lững thững tản bộ về nhà để tận hưởng cái cảm giác thoải mái sau những ngày ép mình với kỷ luật của Quân trường. Trời Saigon đã sẫm tối, từ dốc cầu Trương Minh Giảng về hướng phi trường Tân Sơn Nhất, cả một rừng cờ treo trước cửa của nhà dọc hai bên đường, trên những cao ốc. Tiếng hát ca sĩ Khánh Ly vọng ra hè phố từ một quán càfé bên cạnh khu Đại học Vạn Hạnh “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn cờ bay... Mặt đất rung rinh, tin hòa bình bay về khắp hướng”. Nghe những điệu nhạc này tôi lâng lâng thoáng chút hy vọng khi nghĩ đến hai chữ Hoà Bình.


Chút thoáng hy vọng về Hoà Bình ấy thực sự đã tiêu tan khi tôi đặt chân lên đất Pleiku. Pleiku, thành phố của lính. Pleiku với thơ mộng trong một bài hát “Em Pleiku má đỏ môi hồng”. Chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt trên lãnh thổ Quân Khu. Đặc biệt tại vùng Pleiku-Kontum và Phân Khu Bắc Bình Định-Bồng Sơn-Tam Quan. Từ Bộ chỉ huy Biệt Động Quân, tôi nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu đoàn 42 Biệt Động do Thiếu Tá Phạm Văn Tiến làm Tiểu đoàn trưởng. Lúc này Tiểu đoàn đang trách nhiệm tại vùng sở trà Kafeka, quận Thạnh An. Trong một lần dẫn Trung đội đánh chiếm cao điểm 30, tôi bị thương khá nặng, xuất viện tôi được thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Biệt Động Quân (BĐQ) Quân khu 2 và nhận nhiệm vụ Sĩ quan Hành quân tại Trung tâm hành quân cho đến ngày cuối cùng khi Quân doàn II di tản trên Liên tỉnh lộ 7B.


Tháng 12/1974, Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2 đuợc chỉ định làm Tư lịnh mặt trận Kontum, do đó tất cả quân nhân thuộc Phòng 2, Phòng 3 và Trung tâm hành quân được điều động lên Kontum để thành lập Bộ tư lịnh Mặt Trận.


Những tháng cuối năm 1974, Mặt trận Kontum không có những trận đánh lớn, tình hình tương đối yên tĩnh một cách không bình thường. Nhân dịp gần đến cuối năm, phòng Chiến tranh chánh trị (CTCT) đã mời một số ca sĩ như Khánh Ly, Ngọc Minh lên Kontum hát tại những tuyến đầu của Mặt trận. Những ngày Tết đã êm đềm trôi qua, Cộng quân không pháo kích vào thị xã và Bộ tư lịnh.


Ngày 12/3/75, Thiếu tá Khôi, Trung tâm trưởng Trung tâm hành quân ra lịnh cho chúng tôi thu dọn gấp để kịp dời Kontum ngày hôm sau về lại Pleiku. Bộ Tư lịnh hành quân sẽ đóng tại Hàm Rồng nơi đặt Bộ Tư lịnh Mặt trận Nam Pleiku của Tư lịnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Tất kiêm nhiệm Tư lịnh Mặt trận Nam Pleiku.


Đoàn xe chỡ chúng tôi cùng với Liên đoàn 4 BĐQ di chuyển ngang qua thị xã, dân chúng ngơ ngác nhìn với ánh mắt lo âu. Dân chúng ở đây đã quen nhiều với chiến tranh, họ thường vui mừng khi thấy quân vào Kontum và thoáng lo âu khi thấy bất cứ một đơn vị quân chủ lực nào rút đi. Thực sự giờ phút đó tôi cũng không hiểu tại sao mà toàn bộ BĐQ chúng tôi lại hối hả rút đi như thế lại không có đơn vị nào hoán đổi vùng trách nhiệm như thường lệ từ trước đến nay. Kontum đã bỏ ngỏ từ ngày hôm ấy khi toàn bộ quân chủ lực được rút đi.


Đơn vị chúng tôi về tới Hàm Rồng chưa đầy 5 ngày thì ngày 17/3/75 Quân đoàn II bắt đầu di tản theo Liên tỉnh lộ 7B về Tuy Hòa. Bộ Tư lịnh Quân đoàn được không vận về Nha Trang. Nhưng Bộ Tư lịnh Mặt trận của Tướng Tất chúng tôi vẫn làm việc kỷ luật và bình thường. Những ngày này Tướng Tất luôn luôn hỏi đến hai Liên đoàn 4 và 25 rút các đứa con khỏi trận địa vùng Thạnh An và Pleiku. Tướng Tất chỉ huy Đoàn quân trên liên tỉnh lộ vào trưa về Bộ tư lịnh; vào chiều đó, ông lại bay trên đoàn quân di tản để chỉ huy.


Chín giờ sáng ngày 20/3/75, những quân nhân cuối cùng của Bộ Tư lịnh Mặt trận băt đầu rút khỏi căn cứ Hàm Rồng. Tôi được lịnh đi trên chiêc xe tăng M113 chỉ huy của Tướng Tất. Đoàn xe dời Hàm Rồng chạy qua phố chính của thị xã Pleiku phố xá vắng tanh. Những cửa tiệm bị cướp phá tan hoang. Một thành phố chết. Tôi ngồi trên xe đưa mắt nhìn về hướng Bộ Tư lịnh Quân đoàn và phi trường Cù Hanh thấy những cột khói đang bốc cao tại hai nơi này.


Tướng Tất hằn rõ nét ưu tư trên khuông mặt đen xạm của ông. Ông là vị tướng mới nhất của QLVNCH và cũng là vị tướng duy nhất của Quân đoàn II cùng Bộ Tham mưu triệt thoái bằng đường bộ. Các cuộc điện đàm liên tiếp giữa Tướng Tất và các Đơn vị trưởng đang di chuyển trên Liên tỉnh lộ 7B cho tôi hiểu lệnh của ông đã không được thi hành đúng. Thực sự đến ngày hôm nay 20/3/75, lệnh của ông chỉ còn hữu hiệu với các đơn vị BĐQ mà thôi. Tướng Tất đã dùng các Tiểu đoàn BĐQ thiện chiến nhất của Liên đoàn 4 (một Liên đoàn nổi danh đã làm VC phải khiếp sợ tại vùng châu thổ sông Cửu Long -Tiểu đoàn 42 “Cọp Ba Đầu Rằn”). Hành quân bọc hậu, đây là một trong những cố gắng sau cùng của Tướng Tất nhưng sự hỗn độn vô cùng của quân và dân xen kẽ nhau, tắc nghẽn xe cộ đã làm tiêu tan mọi hy vọng của vị Tướng chỉ huy đoàn quân triệt thoái này.


Khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, chúng tôi đến được tỉnh lỵ Phú Bổn. Tướng Tất ngồi trên mũi trước chiếc M113 cho xe chạy vòng quanh phố tỉnh nhỏ xíu này rồi đậu trong sân trường tiểu học. Từ chiếc máy truyền tin trong xe Đại tá Hồng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn II Kỵ binh, và Đại tá Tây, Liên đoàn trưởng Liên đoàn BĐQ đang liên tiếp báo cáo với Tướng Tất diễn tiến đánh diệt các chốt chận cấp Tiểu đoàn của địch gồm các Tiểu đoàn K13, K9, K2 và các Tiểu đoàn chủ lực miền của Cộng quân. Tiếp sau là một phi tuần A39 đánh bom lầm vào đơn vị bạn, vụ đánh lầm này đã gây bất hòa về chỉ huy giữa hai Đại tá.


Ánh nắng lại gần tắt, mặt trời đã xuống tới đỉnh núi ở xa xa thì tin từ Nha Trang cho biết sư đoàn 320 do tên Đại tá Bắc Việt Vũ Lăng làm Tư lệnh đang gấp rút bôn tập về Phú Bổn để chặn đánh quân ta. Trên khuôn mặt đã xạm đen vì nắng cháy, Tướng Tất nén tiếng thở dài. Ông đang nghĩ gì...??


Trong gần hai năm làm việc tại Trung tâm Hành quân, tôi thường được tiếp xúc với ông khi chiến trường sôi bỏng. Tại Bộ Tư lịnh tiền phương trên đồi 37 Pháo binh (Pleiku), ông đoán quyết với Thiếu tá Long, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 Biệt Động, bằng mọi giá phải giữ vững căn cứ Pleime khi bị 3 Trung đoàn quân chính quy Cộng sản Bắc Việt vây hãm. Cùng thời gian khi căn cứ Pleime đang bị địch xung phong biển người, chúng hy vọng dứt điểm căn cứ này thì 3 căn cứ hỏa lực khác là 522-433-711 bị cộng quân tràn ngập trong đêm. Tướng Tất đã điều Tiểu đoàn 90 với Thiếu tá Phan Bát Giác, người Tiểu đoàn trưởng tài bà này đã dùng quân theo lối đánh của “Tổ Tam Tam” lấy lại ba căn cứ hỏa lực trên ngay trong ngày hôm sau. Pleime vẫn đứng vững ngạo nghễ sau đợt tấn công biển người. Chưa bao giờ tôi cảm nhận được ở ông nỗi thất vọng chua chát như trong tiếng thở dài của buổi chiều hôm đó...


Ánh nắng chiều đã tắt hẳn, Tướng Tất ngã mình trên chiếc võng căng trong xe. Tôi trực máy truyền tin trong xe. Khoảng 5 giờ chiều, tiếng máy truyền tin gọi rè rè “Trường An - Hiệp Tình”. Trường An là ám danh đàm thoại của Tướng Tất, Hiệp Tình là Tướng Phú, Tư lịnh Quân đoàn. Tôi cầm máy trả lời “Trình Mặt Trời - Trường An nghe”, tôi chưa kịp lên tiếng gọi Tướng Tất vì lúc đó ông vừa như thiếp đi trên võng thì tiếp theo một vọng nói thật nhanh “Anh nói với Trường An - Đạp lên mà đi”. Là một sĩ quan hành quân, tôi hiểu đó là lệnh sau cùng khi không còn cách nào khác để cứu vãn tình thế hiện tại, giờ khai tử của đoàn quân bị tắc nghẽn tại Phú Bổn này đã điểm, tôi xúc động lặng đi trong giây phút thì Tướng Tất chợt tỉnh. Ông hỏi :”Có gì không?”. Tôi trả lời cho ông nguyên văn lệnh của Quân đoàn. Tướng Tất ngồi dậy bước ra khỏi chiếc M113. Ông cho gọi tất cả đến rồi dặn dò với chúng tôi một câu ngắn gọn “Các anh theo Trung tá Huấn, Tôi sẽ cho C&C bốc các anh”.


Trời lúc này đã xẫm tối khoảng 17 giờ 30, một trực thăng đáp xuống sân trường Tiểu học Phú Bổn bốc Tướng Tất, Đại tá Hoàng Thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku. Chiếc trực thăng cất cánh mang theo điểm tựa và niềm hy vọng sau cùng của chúng tôi.


Tướng Tất đi rồi, Trung tá Huấn, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 22 BĐQ nói với chúng tôi là phải gấp rút dời xa Phú Bổn càng nhanh càng tốt vì sau đó sẽ có những phi tuần phá hủy những quân và chiến cụ đang kẹt ứ tại đây. Chúng tôi tạt vào rừng nhắm hướng Tuy Hòa mà đi, trong số này tôi còn nhớ có Trung tá Lộc, Tham mưu trưởng, Thiếu tá Khôi, Trưởng phòng 3, Trung úy Thành của Phòng 2, Thiếu úy Chương phòng CTCT, tôi, Thiếu úy Chúc, Chuẩn úy Phước của Trung tâm Hành quân... Từ lúc này tôi không còn nhớ tới giờ giấc của thời gian nữa. Khi đi sâu vào rừng núi Phú Bổn được 2-3 giờ lúc vượt qua một đỉnh đồi cao nhìn lại Phú Bổn những cột lửa loé sáng rực, trên trời là 2 chiếc A37 đang nhào lộn bắn phá.


Đêm xuống thật nhanh với núi rừng, Trung tá Huấn và Lộc nói là không thể đi đông như thế này vì dễ bị lộ nên tách ra làm hai. Các quân nhân của Liên đoàn theo Trung Tá Huấn, Ban Tham mưu BĐQ theo Trung tá Lộc. Qua đêm trời hừng sáng, tôi thật vô cùng ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều đoàn quân cũng tạt vào rừng theo đoàn quân chúng tôi hôm qua. Thật tội nghiệp cho họ, vợ chồng, con cái cha mẹ anh em dắt dìu nhau. Họ không mang theo được bất cứ một thứ gì cả, là dân của phố thị, họ hoàn toàn không hiểu được sự khắc nghiệt ghê gớm của thời tiết tháng 4 trong cánh rừng già bạt ngàn như thế này. Những đám dân tội nghiệp ấy cứ lếch thếch đi theo hướng chúng tôi đi. Họ sẽ không theo kịp những quân nhân chuyên nghiệp như chúng tôi.


Sau ba bốn lần bị truy kích qua mấy ngày tôi không còn nhớ nữa, chỉ thấy sức đã kiệt vì đói và khát. Chúng tôi còn lại 5 người đến bên một con sông (có lẽ đó là sông Ba). Trong đêm tối trời, tôi đã hoàn toàn kiệt sức nhìn bên kia bờ sông hy vọng gặp quân bạn. Ba người trong chúng tôi đã bơi được qua bờ bên kia con sông dâng cuồn cuộn nước chảy. Tôi không nhớ rõ 3 người ấy là ai vì chúng tôi vừa bị truy kích chạy tán loạn trong lúc đó Cộng quân lại bắn xối xả vào đoàn người chúng tôi.


Bên này con sông chỉ còn lại tôi và Trung sĩ Thành Phòng 2. Thành còn rất trẻ khoảng 21-22. Thành bảo tôi “Cố gắng bơi qua đi Trung úy”. Nhìn sông tôi hiểu sức mình không thể qua nổi. Tôi bảo với Thành :”Tôi ở lại bên này”. Thành nói :”Vậy tui qua nhe”. Thành xuống nước; khi ra tới dòng nước cuồn cuộn tôi thấy Thành chới với rồi chìm hẳn. Chứng kiến Thành chết chìm trong đêm tịch mịch của núi rừng, tôi đứng lên vô tri vô giác lê từng bước bên con sông ấy. Trên người tôi không còn cái gì ngoài bộ đồ trận tả tơi đang mặc. Tôi cứ đi đi mãi khi nắng loé lên sau những ngọn cây cao. Một tiếng quát giọng Bắc đặt sệt :”Biệt Động Ngụy giơ tay nên”, tôi thẩn thờ quay ngang nhìn “Lính chính quy Bắc Việt”.


Tại Trại Đào Bá Phước, Bộ chỉ huy BĐQ ở Saigon đã trả lời mẹ tôi khi bà đến hỏi tin của tôi “Trung úy D. được ghi nhận mất tích trên Liên tỉnh lộ 7B”.


Liên Tinh Lo 7B (Khuyet Danh) (orgfree.com)

Tuesday, February 11, 2020

Cuộc rút quân khỏi Tiểu Khu Quảng Đức
Posted on March 29, 2016 by dongsongcu
Cựu Thiếu Tá Trần Văn Bường
Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham Mưu Phó Hành Quân Tiểu Khu Quảng Đức
Giới thiệu tỉnh Quảng Đức




Sau khi thắng trận đánh thừa chết thiếu sống tại Căn cứ 42A (đèo Chu Pao – Pleiku), ngày 19/6/1972, tôi được vinh thăng Thiếu Tá đặc cách tại mặt trận. Đó là một phần thưỡng cao quý nhất tôi may mắn được (vì lên cấp tại mặt trận rất hiếm hoi đối với quân đội,đặc biệt binh chủng Pháo Binh (PB) như tôi lại càng khó khăn gấp trăm lần). Một tháng sau, tôi rời Tiểu đoàn 233 PB sang làm Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn 69 PB đóng tại Biển Hồ Pleiku. Với chức vụ mới này tôi thường đi hành quân với tư cách sỉ quan liên lạc Pháo Binh cạnh Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân (BĐQ) Quân Khu II của Đại Tá Phạm Duy Tất (sau lên Chuẫn Tướng), hoặc Bộ Chỉ Huy tiền phương của QĐII.
Vào giữa tháng 12/73,từ Pleiku tôi theo bộ chỉ huy Tiền Phương Quân Đoàn II do Đại Tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy bay đến Tiểu khu Quảng Đức (TK/QĐ) điều động cuộc hành quân giải tỏa áp lực địch tại căn cứ (trại LLĐB) Bu Prang (quận Kiến Đức). Căn cứ này nằm cạnh Quốc Lộ 14 sát ranh giới Campuchia,cách thị xã Gia Nghĩa tỉnh Quảng Đức chừng ba mươi cây số,được bảo vệ bởi Liên đoàn Địa phương Quân (ĐPQ) của Tiểu khu Khánh Hòa và Tiểu khu Quảng Đức. Vừa đến trung tâm hành TK/QĐ chưa tới hai đêm, căn cứ Buprang bị thất thủ bởi đặc công địch được xe tăng T54 yểm trợ. Thiếu Tá Nguyễn Hưũ Nghiã (Phan Thiết) – Chỉ huy Trưởng PB/TK/QĐ bị mất tích trong trận này. Tôi nhận lệnh thay thế thiếu tá Nghĩa ngay hôm đó. Một tuần sau, Đại Tá Phạm Văn Nghìn về làm Tỉnh Trưởng Quảng Đức thay thế Trung Tá Nguyễn văn Thiện và sau đó ông giao tôi kiêm nhiệm luôn chức vụ Tham Mưu Phó Hành Quân Tiểu khu. Vì vậy tôi có dịp đi lại nhiều nơi, biết nhiều điều đặc biệt về quân sự thuộc TK/QĐ từ lúc tới cho đến khi rút quân.
Trước khi trình bày cuộc rút quân của TKQĐ, tôi xin nói sơ lược về tỉnh này. Quảng Đức là một tỉnh nhỏ được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm nằm dọc theo Quốc Lộ 14 giáp ranh Campuchia và các Tiểu khu Phước Long, Lâm Đồng,Tuyên Đức và Ban Mê Thuột. Tỉnh có ba quận: Kiến Đức, Đức Lập, Khiêm Đức (Gia Nghĩa), và Chi khu biệt lập Đức Xuyên. Dân chúng hầu hết là người Thượng sống về nghề làm rẫy và săn bắn thú rừng, còn lại là người Kinh. Hầu hết là gia đình quân nhân, công chức và dân buôn từ miền xuôi lên. Đặc biệt quận Đức Lập nằm về hướng Bắc của tỉnh Quảng Đức, giáp với tỉnh Ban Mê Thuột, đất đai màu mỡ, dân chúng phần nhiều là người Miền Trung di cư vào lập nghiệp từ năm 1954, sau ngày chia đôi đất nước, sống về nghề trồng trà và café rất thịnh vượng. Quảng Đức là một tỉnh nhỏ và nằm sát ranh giới Campuchia – hành lang xâm nhập của quân Bắc Việt- nên chịu áp lực của Cộng Quân rất nặng nề. Từ năm 1972, quốc lộ 14 nằm song song và sát với ranh giới Miên Việt xuyên qua ba tỉnh Phước Long, Quảng Đức, Ban Mê Thuột,bị gián đoạn giửa ranh giới Phước Long và Quảng Đức. Vì vậy Quảng Đức chỉ còn sử dụng được đoạn đường bộ duy nhất từ Bù Binh xuyên qua thị xã Gia Nghĩa đi Ban Mê Thuột mà thôi. Tỉnh Phước Long rơi vào tay địch đầu năm 1974.
Trận đánh mở màn “Chiến dịch mùa Xuân của VC”
Theo tin tình báo cũng như tài liệu thu được tại chỗ do Pháo Binh bắn quấy rối và hệ thống điện tử chung quanh chi khu Đức Lập cho biết: sư đoàn 968 tân lập cùng sư đoàn 10 Bắc Việt có thể sắp tấn công Ban Mê Thuột. Tiểu khu Trưởng Tiểu Khu Quảng Đức, Đại Tá Phạm Văn Nghìn đã xin thêm quân phòng thủ quận Đức Lập nhưng chưa được. Sáng ngày thứ bảy (8/3/75),tôi tháp tùng Đại Tá Nghìn đáp trực thăng ra quận Đức Lập có gặp đại Tá Vũ Thế Quang -Tư Lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ Binh (BB)- cũng đến đây thị sát tình hình. Sáng hôm đó,Đại Tá Nghìn chỉ thị trung tá Trần Nguyên Khoa (k18ĐL) – Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 BB- đang chỉ huy trung đoàn trừ đóng gần chi khu Đức Lập, phải dời bộ chỉ huy nhẹ của ông cùng các đơn vị bảo vệ vào căn cứ Daksak (trại LLĐB Bon Sar Pa ở tây nam của Đức Lập) – một căn cứ thật kiên cố do lực lượng đặc biệt Mỹ để lại- cách vị trí đóng quân hiện tại chừng ba cây số. Hiện Trung đoàn 53 BB trừ đang được tăng phái cho Tiểu Khu Quảng Đức.
Nói là Trung đoàn trừ (-) chứ thực sự quân phòng thủ tại bộ chỉ huy nhẹ này chỉ có một Chi đoàn trừ (-) 1/8 thiết vận xa M-113 của Đại uý Tánh, Đại đội Trinh Sát của trung đoàn mà phân nửa đã hoạt động bên ngoài tìm tin tức, một trung đội Pháo Binh 105 ly (TĐ 231PB), một Trung đội PB155 ly thuộc Tiểu đoàn 230 PB và một ít bệnh binh của tiểu đoàn 2/53BB. Thám sát xong nhận thấy không có đủ thời gian, việc di chuyển dời lại sáng hôm sau (9/3/75). Nào ngờ, khoảng năm giờ sáng, trước giờ quân ta chuẩn bị di chuyển vào căn cứ Daksak như dự định, Cộng quân bắt đầu pháo ào ạt rồi sau đó tấn công biển người vào các đơn vị ta.
Đáng tiếc thay những đợt pháo đầu tiên lại trúng ngay vào bộ chỉ huy nhẹ của Trung Tá Trần Nguyên Khoa. Dù ông là một sỉ quan giỏi, lanh lợi, đã từng được thăng cấp tại mặt trận, nhưng vì nơi đóng quân hiện tại là một căn cứ dả chiến hầm hố không được kiên cố lắm nên không chịu nổi sức công phá của các loại pháo địch, đặc biệt Pháo 130 ly. Cầm cự không lâu, hơn phân nửa số thiết vận xa bão vệ bộ chỉ huy nhẹ bị tê liệt, hầm chỉ huy của Trung Tá Khoa bị sập. Đại uý Buì Minh Ngọc (Phanthiết) -sỉ quan liên lạc pháo binh của trung đoàn 53 BB- bị thương nặng và chết ngay sau đó. Trung Tá Trần Nguyên Khoa bị thương ở sau ót và cánh tay trái gảy gần đứt lìa được lính pháo binh dìu ra khỏi căn cứ nhưng rồi bị bắt làm tù binh ngày hôm sau. Nếu.. nếu… hôm đó (8/3/75), bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 53 di chuyển đi, Việt Cộng không điều nghiên kịp mục tiêu, tình hình có thể khác. Điều này rất đúng với câu ta từng nghe: “không nên để lại ngày mai những gì có thể làm hôm nay”.
Chi khu Đức Lập gần đó cũng bị pháo và tấn công tơi bời cùng một lúc, nhưng nhờ hầm hố kiên cố cộng với sự gan lì,mưu lược của Trung Tá Quận Trưởng Nguyễn Cao Vực (K13ĐL),Việt Cộng không làm gì được lại bỏ đầy xác ngoài bờ rào quận. Cũng lúc này, tại căn cứ Núi Lửa cách chi khu Đức Lập về phía Tây chừng sáu cây số, nơi trung đội pháo binh 105 ly của Trung úy Nguyễn Văn Quý (Phan Thiêt) đóng, được bảo vệ bởi đại đội chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 261 ĐPQ/QĐ (các đại đội tác chiến hoạt động bên ngoài) của Thiếu Tá Bùi Ngọc Long cũng bị pháo khủng khiếp.
Tóm lại Việt Cộng đồng loạt tấn công ba nơi trên cùng một lúc với những cơn mưa pháo tới tấp khiến chúng ta không thể yểm trợ hỗ tương nhau được. Chúng đã áp dụng tiền pháo hậu xung biển người trận này rất hiệu quả. Khoảng bảy giờ sáng, sau khi nhận được chiếc trực thăng tăng phái từ phi đoàn 235 trực thăng Pleiku, tôi tháp tùng đại tá Nghìn bay về hướng Đức Lập. Trước khi rời trung tâm hành quân tiểu khu ra trực thăng, tôi còn nghe Trung uý Quý (căn cứ Núi Lửa) vừa nói vừa cười báo cáo thành tích hạ địch của đơn vị mình: “Bắn đã tay quá Bắc Bình ơi”.. Bắc Bình là danh hiệu tôi thường dùng trong nội bộ Pháo Binh. Tôi mừng thầm lên phi cơ gọi tiếp anh để biết tình hình nhưng không thấy trung úy Qúy trả lời. Bên tần số bộ binh bảo vệ anh cũng không liên lạc được. Bay gần tới căn cứ Núi Lửa cũng không thấy hồi âm mà chỉ thấy một làn khói trắng từ căn cứ bốc lên. Làn khói đó chính địch đã đánh dấu cho phe chúng biết đã chiếm được mục tiêu Núi Lửa. Thấy làn khói bốc lên chúng tôi nhìn nhau không ai nói gì ngoài sự ngậm ngùi thương xót số phận đau thương chết chóc của quân mình, thuôc cấp mình và chỉ còn có cách báo cáo lên thượng cấp và xin tăng viện từ Sư Đoàn 23BB và Quân đoàn II.
Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói rõ hơn về sự mất liên lạc đột ngột nói trên. Cuối năm 1983,sau khi được phóng thích khỏi trại tù cải tạo (từ Nam ra Bắc), trên đường về Phan Thiết thăm Ba Má tôi, tình cờ gặp anh Nguyễn Văn Quý (Trung đội trưởng PB Núi Lửa nói trên) đang bán quán café chồm hổm tại bến xe đò Phan Thiêt- Sài Gòn. Anh em nhìn nhau nghẹn ngào trong lần tái ngộ đau thương giữa cuộc đổi đời cay nghiệt. Anh mời tôi dùng ly càfê đen gọi là tình nghĩa thầy trò thuở nào trong đơn vị. Nhắc lại chuyện mất liên lạc tại căn cứ Núi Lửa năm nào. Anh trầm ngâm một lát, ánh mắt hướng về nơi xa xăm dường như để hồi tưởng lại quá khứ đầy u ám rồi cho biết: “Sở dỉ mất liên lạc với tôi vì đang bắn địch ngon lành, bỗng dưng đài tác xạ bị pháo sập chết mấy quân nhân và địch ùa vào từ lưng đồi phía sau bất ngờ không trở tay kịp đành phải tìm đường tẩu mã”. Anh vừa nói vừa cười một cách chua chát, đắng cay vì phải dùng từ “tẩu mã”. Tôi hỏi anh: “Anh bắn hay quá,sao để chúng bắn sập hầm chỉ huy?” Mặc dù biết tôi đùa nhưng anh cũng giải thích cho vui: “Chúng trốn chui trốn nhủi nơi nào mình đâu có biết ,trong khi đó mình đóng quân một chỗ trơ trơ chúng bắn điều chỉnh hoài phải trúng thôi”. Và… cũng tại bến xe đò Phan Thiết – SàiGòn đó, năm nay (11/2006) khi từ Mỹ trở về thăm gia đình, người chạy Honda ôm cho tôi biết anh Quý đã ra người thiên cổ. Tôi không còn cơ hội mời lại anh dùng một ít chất cay. Tôi tìm đến gia đình anh hầu thắp một nén nhang cho người em vắng số nhưng không thấy. Rồi! Lại một đàn em vắng số ra đi. Vĩnh biệt Quý,một chiến hữu đáng mến từng chung chiến đấu thuở nào.
Tóm lại,lúc bấy giờ chỉ còn chi khu Đức Lập của Trung Tá Nguyễn Cao Vực, dù không được yểm trợ của quân bạn vẫn cầm cự với địch. Ngoài việc kêu gào cấp trên tăng viện gấp, Đại Tá Tỉnh Trưởng vẫn bay vòng vòng rất thấp trên khu vực quận Đức Lập đến trưa để hướng dẫn, trấn an và khuyến khích Trung Tá Vực và thuộc hạ cố gắng phòng thủ chờ quân ta tiếp viện. Xa xa đằng kia,cũng tại vùng trời Đức Lập, Trung Tá Võ Ân (K12 TĐ), trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB (lên đại tá trước ngày quân ta nhận lệnh đầu hàng) cũng đang bay tìm quân của bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 53 BB đang thất lạc. Hình như anh đã tử bệnh tại Mỹ sau nhiều năm năm bị Cộng Sản bắt đi tù đày hành hạ đói rét. Khác với những lần trước, mỗi khi bị địch tấn công mạnh, ngoài lực lượng Pháo Binh sẵn có, phi cơ yểm trợ đủ loại bay đầy trời;lần này,mấy ngày nay vùng trời Đức Lập phẳng lặng,vắng vẻ làm sao!Tàu bay tàu bò biến đâu cả ngoài hai chiếc trực thăng chỉ huy nói trên. Trong khi đó tại Ngã Ba Dakson cách căn cứ Núi Lửa chừng tám cây số về hướng Tây Nam do Tiểu đoàn 2/53 BB của Đại úy Nguyễn Tiên (k11 TĐ vừa thay thế Thiếu Tá Võ Đức Lai) và một trung đội pháo binh 105 ly đóng quân, không thấy đấm đá gì, nhưng không hiểu tại sao chúng tôi không liên lạc được họ. (Núi Lửa giữa chi khu Đức Lập và Ngã Ba Dakson). Quá đau lòng trước sự thất thủ của quân bạn gần đó không được yểm trợ nên sau khi Đại Tá Phạm Văn Nghìn quay về trung tâm hành quân tiểu khu, tôi cùng phi hành đoàn mỗi người một khúc bánh mì bay trở lai hướng Ngã Ba Dakson.
Trực thăng bay vòng nhiều lần trên vùng này, càng lúc càng thấp để cố gắng liên lạc và quan sát tình hình. Thấy tiểu đoàn 2/53BB vẫn đang tư thế bố trí sẵn sàng chiến đấu, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Hùng Thầy Tu hay anh Vệ ) tìm cách đáp xuống. Sau khi được lệnh, anh bay thêm mấy vòng để xem hướng nào thuận tiện và an toàn, rồi anh… đột nhiên nhào xuống rất nhanh trông như chú diều hâu đang sà xuống gắp mồi dưới đất. Đang tư thế sắp đậu, bỗng nhiên nhiều loạt pháo đối phương rớt cạnh máy bay khiến anh ta cho tàu lướt về phía trước cất cánh lên nhanh, xém đụng rừng cây trước mặt. Một phen xém chết đã qua! Anh quay lại nhìn tôi với nét mặt thầm trách “nguy hiểm vậy mà bảo đáp”. Anh phi công này rất lanh lợi và bình tĩnh, nếu không thì cả đám không chết vì pháo địch cũng chết vì các cành cây. Từ đó đến khi rút bỏ tiểu khu Quảng Đức,tôi không liên lạc được với cánh quân này.
Ngày thứ nhất trôi qua, ngày thứ hai trông chờ quân ta tăng viện như cấp trên đã định. Bất hạnh thay! Ngày thứ hai dài lê thê đó lại là ngày thất vọng nhất khi Cộng quân tấn công thẳng vào thị xã Banmêthuột và phi trường Phụng Vực. Riêng các lực lượng khác của ta đồn trú tại Quảng Đức đều bị địch cầm chân cả không thể nào lấy đi giúp Đức Lập được. Càng chờ đợi, sự tổn thất càng tăng lên trước những loạt pháo đủ cỡ cuả địch. Mặt khác không còn trông chờ vào sự tăng viện của quân bạn được nửa, trung tá Vực cùng thuộc cấp đành rút khỏi quận, băng rừng về căn cứ Đạo Trung mấy ngày sau và được trực thăng đón về TK/Quảng Đức. (Đạo Trung cách QĐ trên 15 cây số).
Rút quân
Đức Lập và Ban Mê Thuột đã mất. Như vậy từ trái (tỉnh Phước Long) sang phải,cả về hướng trước mặt của tỉnh Quảng Đức đã hoàn toàn lọt vào tay VC, chỉ còn một phần phía sau xa, giáp với tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng,phân ranh bởi con sông Kinh Đà. Con lộ duy nhất nối liền hai tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng đã bỏ phế từ lâu chỉ có dân “xe be” sữ dụng và do VC kiểm soát).
Như vậy tỉnh Quảng Đức đã mất gần phân nửa lãnh thổ. Trước tình trạng tỉnh bị cô lập ba hướng lại không còn được yểm trợ quân sự và địch ngày càng bám sát đánh phá ta nhiều nơi trong tỉnh, khiến tinh thần chiến đấu quân dân có phần sa sút. Các vị thân hào nhân sĩ trong tỉnh đã liên lạc với trung ương xin tỉnh Quảng Đức được rút bỏ sớm hầu giảm thiểu sự thiệt hại. Chưa thấy kết quả ra sao, bỗng trưa ngày 25 tháng 3 năm 1975, khi biết tin quân đoàn II bị tổn thất nặng nề lúc rút lui và toán liên lạc không quân (ALO của Đại úy Cầu) đặt tại tiểu khu Quảng Đức đột nhiên lên trực thăng rời tỉnh, mang theo tất cả phương tiện điều động Không yểm, khiến tinh thần quân dân trong tỉnh đã nao núng càng nao núng thêm. Lúc đó, Đại Tá Phạm Văn Nghìn đang đi họp ở QĐ II chưa về, Trung Tá Phạm Đức Dư vừa chuyển về làm Tham Mưu Trưởng tiểu khu, liền tổ chức buổi họp khẩn cấp. Ngoài sự hiện diện của trung tá Dư còn có trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn trưởng Liên đoàn 24 BĐQ đóng tại quận Kiến Đức; Thiếu Tá Trần Văn Bường Chỉ huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham mưu Phó Hành quân Tiểu khu; Thiếu Tá Phạm Văn Tư Trưởng phòng 3 TK (đừng nhằm với Thiếu tá Phạm Văn Tư khóa 19 Đà Lạt Trưởng phòng hai tiểu khu vượt ngục bị bắn chết tại trại tù Suối Máu Biên Hòa năm 1976). Vừa vào họp Trung Tá Dư tuyên bố: “Hôm nay chúng ta hành quân về phương Đông”. Chỉ một câu đơn giản ai cũng hiểu đó là lệnh rút lui, không cần sơ đồ phóng đồ gì cả. Thành ra,với vị trí đóng quân hiện tại, Liên đoàn 24 BĐQ đi theo phương giác từ, từ quận Kiến Đức về Lâm Đồng, các đơn vị cơ hữu hoặc tăng phái tiểu khu cũng từ nơi đóng quân di chuyển về Lâm Đồng theo phương giác từ.
Sau khi rời phòng họp, tôi cho lệnh thiếu tá trưởng phòng 3, Phạm Văn Tư ra lệnh các đơn vị tăng phái cũng như các đơn vị trực thuộc đóng quân quanh thị xã, đi theo đường mòn xe be đến bờ phà sông Kinh Đà về quận Di Linh (Lâm Đồng), các đơn vị còn lại tùy tình trạng an ninh tại chỗ rút về Lâm Đồng. Trung tâm Hành quân, Trung tâm Tiếp vận Tiểu khu, đặc biệt kho xăng và kho đạn phải phá huỷ. Không được phá phách bệnh viện, phố xá, chợ búa. Cần nói thêm, trong thời gian này tiểu khu Ninh Thuận tăng phái cho tiểu khu Quảng Đức hai đại đội biệt lập (4 đại đội luân phiên), một của Đại uý Nguyễn Văn Đức (Phan Thiết K20 ĐL), một của Đại uý Tôn Thất Kỳ (Huế), Đại uý Trần Công Triệt (Phan Rang,K18ĐL) và… Riêng Pháo Binh, tôi cho lệnh các Trung đội Trưởng phá huỷ súng bằng loại lựu đạn M-14. (lựu đạn có chứa chất chì đặc biệt chảy ra bám vào nòng súng đại bác không sữ dụng được). Chỉ có Trung đội Pháo binh của Trung uý Bá đóng trên đường hành quân được giữ nguyên kéo theo đoàn quân mà thôi.
Đoàn quân dân rời bộ chỉ huy Quảng Đức được khoảng năm giờ đồng hồ, một tin không vui đưa đến. Từ đầu máy bên kia,trung úy Bá báo cáo: “chiếc cầu nhỏ bắc qua suối bị hư không thể nào kéo súng qua được Bắc Bình ơi”! (Bắc Bình là danh hiệu của tôi trong đơn vị). Chết cha! Đi hành quân không có đại bác yểm trợ là cả một sự bất lợi khi địch xuất hiện ngoài tầm vũ khí cá nhân hay bị tấn công bằng biển người. Tôi than thầm như vậy,nhưng mặt khác vẫn cố giử bình tỉnh ra lệnh cho anh Bá cố gắng thám sát hai bên cầu tìm mọi cách kéo súng qua. Trời vừa tối,ánh hoàng hôn cuối cùng vừa khuất sau rặng núi cao,mọi người hầu như mệt mỏi. Tôi cho đoàn quân tạm nghỉ chờ. Chừng nửa giờ sau, Trung úy Bá cho biết không có nơi nào đem súng qua được. Con rạch tuy nhỏ nhưng đất mềm xe và súng nặng dễ bị lún. Tôi đành cho lệnh phá súng pháo binh và tiếp tục bám sát theo đoàn quân trước. Đi được hơn một giờ đồng hồ đoàn quân nghỉ qua đêm và tới bờ sông Kinh Đà khoảng năm giờ chiều ngày hôm sau.
Đang chuẩn bị vượt sông để theo đường mòn về hướng Quận Di linh như lời đề nghị của Thiếu Tá Nguyễn văn Ấn (Quận trưởng Di Linh cùng K18 ĐL với Trần Nguyên Khoa và tôi), bổng từ bên kia bờ sông có tiếng la của đám VC dội lại:“Muốn qua sông phải bỏ súng xuống, đi từng người một,đưa hai tay lên đầu”. Nghe chúng hô “Đưa tay lên đầu”, mình đâm tức xổ nho: “Đ.. M… đầu hàng cái …”. Quan sát kỹ thấy chúng chỉ có chừng mươi lăm người nối tiếp nhau đi chung quanh các gốc cây cổ thụ bên bờ sông để chúng ta lầm tưởng họ nhiều lắm. Biết vậy, nhưng vì khúc sông này rộng khoảng bốn năm trăm thước; nước sâu tới rốn chảy hơi mạnh khó lòng vượt nhanh để lấn áp chúng. Tôi tiếc thầm, nếu súng Pháo Binh không bị hủy, ta chỉ cần trực xạ mấy quả cha con chúng nhảy hết, tha hồ lội qua sông. Nhưng dù sao cũng may cho chúng ta phát hiện được chúng bên đó, nếu không, đoàn quân ta cứ tà tà lội qua như chỗ không người thì sẽ… nếu không bị bắt làm tù binh thì cũng bị đi mò tôm cả đám giữa giòng sông.
“Biết Người biết Ta trăm trận trăm thắng”, ông bà ta nói như vậy. Biết mình ở thế bất lợi,thôi đành nhịn nhục tìm đường khác đi để tránh thiệt hại,đó là thắng vậy. Sau khi thảo luận với Trung Tá Dư, tôi cho lệnh Đại úy Ngô văn Nhị (K12TĐ), Chỉ huy Phó của tôi, hướng dẫn toán quân hỗn hợp Địa phương quân và pháo binh đi lui về sau, dùng phương giác từ đi về hướng Tây dọc theo bờ sông tìm chỗ vượt sông dễ hơn để đánh bộc hậu địch cho đoàn quân sau vượt qua. Mục đích cho đi luì về sau để đánh lạc hướng địch và dân chúng khỏi bám theo. Nếu dân chúng bám theo sẽ làm lộ kế hoạch; hơn nửa họ không thể gồng gánh, bồng bế con cái lên đồi xuống dốc được. Bảo vệ an ninh họ, phía sau còn có quân của chi khu Khiêm Đức do Thiếu Tá Quận trưởng Nguyễn Khắc Hiếu (K19 ĐL) chỉ huy, bên cạnh đó còn có mặt cả hai vị Trưởng và Phó ty An Ninh Quân Đội (Thiếu tá Đậu Văn Đề, Thiếu tá Nguyễn văn Điệp) và nhóm Cảnh Sát Quốc Gia của Trung Tá Giang.
Trong khi cánh quân của tôi đi về phía phải (hướng Tây) thì Tiểu đoàn 259 ĐPQ của Thiếu tá Phan Văn Giỏi đi về phía trái (hướng Đông) dọc sông Kinh Đà về cầu Đại Ninh ( ranh giới Đà Lạt và Lâm Đồng). Đi nhiều hướng địch không thể theo dỏi và bám sát hết. Trời vùa tối, màn đêm dầy đặc, đoàn quân di chuyển rất chậm, nhiều lúc phải xữ dụng đèn pin tìm lối đi. Thỉnh thoảng nghe nhiều tiếng kêu “oan oát” từ xa của các chú mang (nai con) lạc đàn hoặc thấy những đôi mắt ngơ ngác dại khờ của các chị mển đang nhìn chăm chăm ánh đèn pin. Bình thường gặp như vậy số mạng các chị xem như đã xong, đơn vị có bửa thịt rừng ngon lành rồi. Đằng này có lệnh không được nổ súng chỉ trừ trường hợp gặp địch thôi. Nhờ vậy các chị được thêm tuổi thọ. Lội suốt đêm gần tới năm giờ sáng, Đại úy Ngô Văn Nhị báo cáo đã tới khúc sông cạn hẹp có thể vượt được. Đại úy Nguyễn Duy Huynh, xử lý thường vụ Chị Huy Trưởng trung tâm tiếp vận (thay thế thiếu tá Trương Minh Dũng đi học),tiến về phía trước tăng cường cho Đại úy Nhị tìm cách vượt sông. Vì đường đồi lên xuống khó khăn,t ối om như mực lại đi theo phương giác từ trong màn sương bao phủ nên khi gặp bờ sông, chỉ cách điểm đứng chiều hôm qua ba bốn cây số thôi. Khúc sông hơi cạn, đá lỏm chỏm, nước chảy hơi siết có thể vượt được. Đại úy Nhị cho anh hạ sĩ quan Pháo Binh buộc sợi dây thừng lội qua bờ sông bên kia cột vào gốc thông nào đó cho đoàn quân sau nắm đi qua. Chẳng may anh này bị trượt chân bị nước cuốn trôi chết giửa giòng sông. Toán quân gần đó đổ xô tới tiếp cứu nhưng vô vọng. Sợ bị lộ điểm vượt sông bởi những tiếng la ồn ào khi tiếp cứu,đoàn quân tiếp tục theo đường mòn đi về hướng Tây tìm nơi an toàn hơn để vượt. Đi mải đến chiều mới gặp khúc sông sâu rộng, nước chảy lờ đờ có thể vượt qua dễ hơn.
Vượt sông Kinh Đà về Bão Lộc
Theo các quân nhân từng sống ở đây cho biết khúc sông này có thể có cá sấu nguy hiểm. Dù vậy,nhưng không thể nào đi xa hơn về hướng Tây sợ bị ngộ nhận với liên đoàn 24BĐQ cũng đi về Lâm Đồng phát xuất từ phi trường Nhơn Cơ. Hơn nửa,càng đi xa về hướng Tây điểm đến Bảo Lộc càng xa, thà vượt sông nơi đây ruổi gặp cá sấu đói chỉ nuốt vài người xấu số còn hơn quanh quẩn lâu trong rừng càng nguy hiểm mà chưa chắc có nơi nào tốt hơn. Lệnh chặt cây kết bè ban hành, chỉ có những người yếu hoặc không biết lội mới được ngồi trên bè thôi.
Bộ chỉ huy qua bờ sông bên kia trời đã khuya. Tất cả đoàn quân nghỉ đêm, đồng thời giử an ninh cho đoàn quân qua sau. Dù hai ngày qua chưa có hạt cơm nào trong bụng nhưng không cảm thấy đói. Phải chăng cái đói nhường chỗ cho sự mệt nhọc lo âu. Qua theo dỏi hệ thông truyền tin, được biết đoàn quân dân hôm qua kẹt tại bờ Kinh Đà, được đại tá tỉnh trưởng lần lượt chuyển qua Bảo Lộc (LĐ) bằng trực thăng, nên ý nghỉ quay lại cứu họ không còn nữa.
Với tình hình hiện tại, tôi nghĩ địch không còn lẩn quẩn trong rừng như trước mà đã ra thị thành uy hiếp quân ta. Nghỉ vậy nên sự e ngại bị phục kích trên đường rút quân không còn cao nên khi gà rừng vừa dứt tiếng gáy báo hiệu bình minh đang đến, tôi cho lệnh đoàn quân phía trước tiếp tục đi theo đường mòn về hướng xã Tân Rai (LĐ) mặc dù phải băng qua các hậu trạm của VC. May mắn không có gì trở ngại trên đường rút quân, nhờ vậy thời gian đến Lâm Đồng rất nhanh chỉ mất ba ngày bốn đêm. Toán quân đi trước băng qua các nhà lô VC chỉ gặp mấy chàng thương binh bệnh hoạn, chúng bắn vài phát súng lẻ tẻ báo động rồi đâm đầu giọt hết. Các trạm này chứa nhiều bao gạo Mỹ còn mới tinh, lính ta đốt bỏ. Trên đường về Tân Rai vài quân nhân cho tôi biết: “đêm vượt sông,khi bè gần đến bờ có nghe vài tiếng la ơi ới rồi buông tay không hiểu nguyên do và cũng không phân biệt được ai vì trời tối thui”. Có thể một vài quân nhân xấu số nào đó bị đuối sức buông tay hay có thể bị cá sấu đói ăn thịt chăng! Chỉ một trong hai điều đó hay cả hai! Thật đáng thương. Trung tá Phạm Đức Dư xuất thân từ sỉ quan tài chánh, làm Tham Mưu Trưởng Tiểu khu Lâm Đồng từ khi còn Đại uý cho đến khi chuyển qua làm tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức gần một tháng thôi (tôi xử lý chức vụ này trước khi ông đến). Trung Tá Dư đã lớn tuổi, chưa quen lội hành quân, thành ra ông đã để tôi điều động tất cả đoàn quân từ lúc bắt đầu di chuyển. Và sau mấy ngày vất vả trong rừng, Trung tá Dư bị mệt xiểu khi đoàn quân vừa tới xã Tân Rai (LĐ). Ông được Nghỉa Quân xã này (đệ tử cũ) đưa ông về nhà riêng của ông tại quận Bảo Lộc chăm sóc. Từ đó tôi không còn gặp ông.
Đến Tân Rai được nữa giờ, bộ chỉ huy nhẹ chúng tôi được Đại tá Nghìn cho trực thăng đón về tỉnh Lâm Đồng. Riêng Đại úy Ngô Văn Nhị vẫn tiếp tục chỉ huy cánh quân về thẳng thị xã Bảo Lộc. Bộ chỉ huy chúng tôi đến phi trường Bảo Lộc trời đã xế chiều. Thời tiết mát diệu với những cơn gió hiu hiu phàn phất mang theo mùi hương thơm ngào ngạt từ các cánh đồng trà vừa mới đâm bông đầy hương sắc. Tình hình rất yên tỉnh, chợ phố sinh hoạt bình thường, chỉ nghe lai rai những tiếng đạn đại bác của ta từ xa dội lại; có thể đang yễm trợ cho một tiền đồn nào đó đang bị địch tấn công. Chúng tôi yên tâm như không có gì xảy ra, thong thả dùng một bửa cơm chiều no nê với lẩu canh chua cá bông lau nóng bỏng, dỉa thịt kho tàu kèm theo ít rau chua thật ngon miệng, bù đắp lại phần nào những ngày đói khác hiểm nguy băng rừng vượt suối. Với tình hình còn sáng sủa đó,sau khi dùng cơm xong chúng tôi vào ngủ một giấc ngon lành đến sáng như chưa bao giò có. Sáng ra, Đại úy Nguyễn Duy Huynh, tôi và các quân nhân thuộc toán chĩ huy ra ăn bún bò tại một quán xập xệ ngoài chợ. Tứ bề yên tỉnh không nghe một tiếng súng nào cả. Dự định ăn xong sẻ dạo phố kiếm đôi giày nhà binh khác thay thế cho đôi giày Mỹ lội mấy ngày nay đã bị há mõ rồi. Nào ngờ,đang ăn ngon miệng bà chủ quán bổng nói “Xe tăng VC vào thành phố từ hôm đến giờ,sao mấy ông còn ngồi đây?” ‘Vậy hả! Bà nói đùa hay nói thật đó?‘ Tôi hỏi lại bà chủ quán.
“Ai đám đùa với mấy ông chuyện quan trọng như vậy.” Bà chủ nói tiếp.
Nghe xong,tôi vẫn bình tĩnh. Tính tiền xong (không thuộc loại cao lâu ăn quỵt thổ đỉ chơi lường), vội rời quán. May thay lúc đó có một chiếc xe Jeep của toán liên lạc không quân (ALO) thuộc tiểu khu Lâm Đồng trờ tới, trong xe chỉ có một anh tài xế thôi. Đại úy Huynh là bạn của thầy anh tài xế này từ lâu nên chận lại hỏi: ‘Thầy mầy đâu rồi?’ “Dạ, ổng bay khi hôm rồi”. Người tài xế trả lờì như vậy. “Vậy mầy theo tao” Đại úy Huynh nói như ra lệnh. Anh tài xế bước ra sau nhường tay lái cho tôi, Huynh ngồi ghế bên cạnh, các quân nhân còn lại ngồi hết phía sau. Tôi trực chỉ ra phi trường Bảo Lộc cách đó không xa vì lính Quảng Đức về tập trung nơi đây từ tối hôm qua. Vừa đến cổng phi trường, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy lính Lâm Đồng từ trong phi trường túa ra. Họ nói tăng VC tới đầu phi đạo rồi,lệnh Trung Tá Tỉnh Trưởng Vương Đăng Phong bảo họ về Đà Lạt. Tôi chưa tin vì tình hình còn yên lặng quá, chỉ thấy phe ta túa ra ngày càng đông mà chả nghe tiếng “xe tăng xe tiết”gì cả.
Đang do dự, bổng thiếu tá Nguyễn Văn Ấn từ quận Di Linh rủ rê tôi: “Mầy đến đâu rồi, đến quận ăn cơm rồi tử thủ với tao”. Tôi trã lời nửa đùa nửa thật: “Mầy lạnh cẳng rồi hay sao rủ tao. Mầy hảy chuẫn bị heo gà nhiều đi, Cậu sẻ đến ngay”. Thế là tôi lái xe hướng về quận Di Linh (Di Linh nằm khoảng giửa Bảo Lộc và ĐL). Xe đang “phon phon” trên đường nhựa, bổng lệnh của Đại Tá Nghìn từ trực thăng bảo tôi: “Sao bây giờ anh mới mở máy” Tôi chưa kịp trã lời, đại tá Nghìn lệnh tiếp: “Anh phải tập trung các đơn vị của mình vào phòng thủ với quận Di Linh”. Nhận được lệnh trên, tôi cố lái xe nhanh hơn (thua cao bồi một xiếu thôi, nếu chậm các xe lính phía trước giọt hết sao!), qua mặt một số xe chở lính đằng trước rồi thắng gấp giửa đường và xuống xe bắt đầu chận các xe chở lính lại. Chiếc xe đầu tiên tôi chận lại là lính thuộc tiểu khu Lâm đồng. Họ thấy tôi mang hia đôi mảo trông oai vệ chứ chưa biết tôi là ai nên còn cự nự chưa muốn xuống xe; viện cớ lệnh Trung Tá Phong bảo họ về Đà Lạt. Nói vậy chứ cuối cùng thấy gương mặt tôi có chút Cô Hồn vương vấn nên họ đành xuống (không phải hiền lành như nai tơ khi gặp các cô đâu). Chỉ có lính Quảng Đức khi thấy tôi ra hiệu tự động xuống xe. Bố trí quân tạm xong, tôi và Huynh vào gặp Quận Ấn. Vừa đi vừa mừng thầm “trong hoàn cảnh này hai thằng cùng khóa,chiến đấu bên nhau càng vững tâm hơn”. Tại quận, chúng tôi tình cờ gặp Trung Tá Tỉnh trưởng Vương Đăng Phong rời Lâm Đồng đến đây từ bao giờ. Tôi chỉ nghe tên ông thôi. Đây là lần đầu tiên được gặp. Tôi chào và trình Trung Tá Phong về ý định phòng thủ của Đại Tá Nghìn. Vừa nghe xong ông hỏi tôi:
– Anh đảm nhận chức vụ gì bên Tiểu khu Quảng Đức?
– Chỉ huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham mưu Phó Hành Quân TK/QĐ. Tôi trã lời.
– Anh có quân đây không?
– Dạ có, đang bố trí ngoài kia. Tôi lại đáp.
-Tỉnh Trưởng anh đang ở đâu? Ông lại hỏi tiếp.
– Đang bay trên vùng để hướng dẫn các cánh quân còn kẹt trong rừng ra. Tôi lại trả lời tiếp như vậy.
Không cần suy nghỉ, Trung Tá Vương Đăng Phong nói: ‘Tình hình như thế này, Tỉnh trưởng anh có máy bay, có chuyện gì ông ta bay đi, còn tôi với anh … thì sao?’ Không cần tôi có ý kiến ông tiếp: ‘Vậy anh muốn ở lại thì ở, tôi đi.‘ Nói xong,ông ra lệnh Thiếu Tá Nguyễn văn Ấn nhổ antenna 292 và chuẫn bị di chuyển. Trầm ngâm một lát, tôi báo cáo Đại tá Nghìn quyết định của Trung Tá Phong như vậy. Im lặng một hồi lâu, Đại tá Nghìn nói:’Thôi, ai sao mình vậy!!!’ Suy nghỉ một lúc không tìm ra kế hoạch nào khác, chúng tôi âm thầm buồn tênh suy nghỉ mông lung quên nói câu nào từ giã người bạn đồng khóa, Nguyễn Văn Ấn. Ra đứng trước thuộc cấp đang bố trí chờ lệnh bên ngoài, tôi chậm rải nói trong nghẹn ngào: “Thôi… các anh tìm mọi phương tiện về Đà Lạt“. Tôi cắn môi than thầm: ”Như vây“Cả đoàn quân rút về từ Quảng Đức ra sau bị kẹt hết rồi”.
Trở lại Đà Lạt
Tới cầu Đại Ninh trời vừa xế bóng. Thấy Trung sĩ Vũ Nguyên Cường đang đứng xớ rớ cạnh hai chiếc xe thiết giáp V100 của Tiểu khu Lâm Đồng. Anh cho biết hai chiếc xe V100 được tăng cường giử cầu Đại Ninh mấy ngày nay và Trung tá Tỉnh trưởng Vương Đăng Phong đã qua cầu rồi. Lúc bấy giờ, Đại úy Ngô Xuân Diên, Yếu khu Trưởng khu cầu Đại Ninh, đứng đầu thành cầu chuyển lệnh trên: “Quân Quảng Đức được qua cầu còn quân Lâm Đồng chưa thấy địch đã bỏ chạy phải ở lại chiến đấu”. Dù không bị ràng buộc bởi lệnh trên, chúng tôi vẫn quanh quẩn nơi đó như còn nuối tiếc một cái gì quý giá lắm vừa đánh rơi. Hơn nửa giờ sau mới bắt đầu về Đa Lạt.
Đã lâu lắm rồi tôi mới trỡ lại xứ sương mù Đà Lạt trong trường hợp ngoài dự định này. Đà Lạt thời tiết mát lạnh quanh năm rất thích hợp với bao loài hao quý kể cả loài “Hoa Biết Yêu”. Nơi đây có nhiều trường Trung học và Đại học nỗi tiếng của cả nước .Về quân sự có Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam thân thương mà bao chàng trai trí thửc ao ước được học. Quân trường đã từng một thời nổi tiếng đẹp và lớn nhất Đông Nam Á (trước năm1975). Ở đó tôi được mặc vào người bộ đồ lính đầu đời, được huấn luyện từ lúc chập chững bước vào đời binh nghiệp đầy gian lao nguy hiểm, bỏ lại sau nếp sống thư sinh nơi SaiGòn hoa lệ. Ở đó tôi vào đời với một niềm tự hào mảnh liệt, một tương lai huy hoàng đầy hứa hẹn của trai thời lọan như ta từng học:
“ Làm trai cho đáng lên trai,
Xuống Đông, Đông tỉnh, lên Đoài, Đoài yên”.
Đà Lạt chiều cuối Xuân trời vẫn man mác lạnh. Thỉnh thoảng từng cơn gió nhẹ thổi qua làm bay bay những mái tóc bồng bềnh của các nàng kiều nữ cao nguyên quanh năm môi thắm má hồng, đang rảo bước trên các con đường đồi thoi thỏi quanh co. Hình ảnh gợi tình đó hôm nay hơi vắng so với những ngày thanh bình trước đây; dù vậy vẫn đủ sức quyến rũ khách hữu tình lui tới nơi này. Chung quanh cái hồ nổi tiếng thơ mộng ngàn đời mang tên Nử sĩ tài hoa đầy nhựa sống -Hồ Xuân Hương- hằng ngày thường đầy ấp nam thanh nử tú, những cặp tình nhân, những đôi uyên ương vừa mới kết tóc se duyên, đến đây tâm sự, tay trong tay, cặp từng cặp, dìu nhau theo nhịp đập con tim -nay thưa thớt làm sao!!! Hàng hoa Anh đào tươi mát rộ nở trong khí tiết xuân đang khoe sắc trắng hồng nằm ngạo nghể dọc bên đường từ Hồ đến rạp chiếu bóng Hòa Bình, chắc không mấy ai còn đũ tinh thần chiêm ngưởng hay ca tụng vẻ đẹp kiêu sa đài các của nó.
Rất tiếc,thời gian và hoàn cảnh không cho phép đến thăm lại tất cả những thắng cảnh tươi mát bốn mùa như: Thung Lủng Tình Yêu, Hồ Than Thở, Thác Prenne, Thác Camly, Trại Hầm, Chùa Sư nử… vân vân và vân vân. Những nơi đã từng có ít nhiều vương vấn bao kỹ niệm vui buồn khắc sâu trong tìm thức ở tuổi đôi mươi, lúc còn trong quân trường Đàlạt, nhất là vào những dịp dạo “phố Hoa Đào” cuối tuần. Còn nhớ lúc bấy giờ, có rất nhiều người đẹp từ bốn vùng chiến thuật (thỉnh thoảng trong đám xuân xanh ấy,cũng có mấy Nàng trông khá quen,thuộc dạng Hoa Khôi Xứ Mắm Phan Thiết như Hùynh M, Quỳnh U., Hồng.L.. .v.v.) vào thăm các Chàng Võ bị Hào Hoa. Những đoạn phim tình cảm ngắn ngủi tươi mát đó hiện ra trong tìm thức tôi không lâu,rồi tan biến nhường chỗ cho nổi âu lo của những ngày hiểm nguy sắp đến, như cụ Nguyễn Du đã viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Thật vậy, Đà Lạt đang ngột ngạt trong không khí chiến tranh. Những người giàu có, các sinh viên từ xa đến học hầu như di tản gần hết. Phố xá mở cửa lưa thưa, người bộ hành vội vã trên đường về, thỉnh thoảng đó đây những chiếc xe nhà binh đầy lính chạy tuần tra trên đường phố trong thế sẵn sàn chiến đấu với quân thù. Qua một đêm ngon giấc trên nệm ấm giường êm tại khách sạn cao sang “La Palace” bên cạnh bờ hồ Xuân Hương; sáng hôm sau, sau khi điểm tâm ở cà phê Tùng xong, tôi được lệnh bay về Lâm Đồng hướng dẩn các cánh quân đang trong rừng ra. Bầu trời Lâm Đồng hôm nay rất quang đãng, tầm nhìn rất tốt. Từ trực thăng nhìn xuống thấy đoàn người đang hối hả vừa đi vừa chạy trên đường hướng về Đà Lạt. Trong quận Di Linh loáng thoáng một ít bóng người ăn mặc hỗn tạp ra vào. Trực thăng xuống thấp hơn các bóng người này trốn mất. Đoán chắc đó không phải là quân ta mà cũng không phải là dân hôi của, thành ra khi liên lạc được với các cánh quân bạn, tôi hướng dẫn họ đi xa quận này, về hướng cầu Đại Ninh an toàn hơn. Khi biết tôi đang bay trong vùng Bảo Lộc, từ cánh quân dưới đất thuộc tiểu khu Quảng Đức doThiếu Tá Nguyễn Khắc Hiếu (K19ĐL), quận trưởng quận Châu Thành Quảng Đúc) chỉ huy, gọi tôi. Anh cho biết đã bị sốt rét mấy ngày nay không thể tiếp tục đi được, yêu cầu tôi bốc dùm anh ra khỏi vùng đồng thời cho xin mấy cục pin PRC 25. Anh cho biết đã giao quyền chỉ huy lại cho Đại úy Tích, sĩ quan phụ tá của anh rồi. Quan sát một lúc thấy bải đáp khá trống trải, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Huỳnh Chí Thành hay Trần Hoài phi đoàn 215 trực thăng) đáp cạnh quả đạn khói màu vừa đánh dấu baỉ đá. Thiếu Tá Hiếu vào trực thăng xong, phi hành đoàn cất cánh lên ngay lại bị mấy loạt súng AK47 bắn theo tới tấp. Lại một phen nguy hiểm vì địch bắn ta mà ta không thấy hướng địch. Nếu bắn lại không trúng địch mà trúng quân bạn lại càng ân hận, vì vậy phi cơ chỉ tiếp tục bay. Bình phi xong, trực thăng bay thêm nhiều vòng nửa hầu tìm thêm có cánh quân nào cần giúp không, nhưng vì thiếu tá Hiếu quá mệt chúng tôi phải rời vùng trở về Đà Lạt. (anh Hiếu qua Mỹ dịp tháng 4/75 tại Nam Cali và tử bệnh năm 2003. Một niên đệ thân tình ra đi!). Và ngày hôm sau bộ chỉ huy tiểu khu chúng tôi gồm cả đaị tá tỉnh trưởng, được lệnh đi đường bộ về Nha Trang.
Sở dỉ phải quan sát kỷ quận Di Linh như đã nói trên vì tôi biết chiều hôm qua, sau khi quận này bỏ ngỏ, tiểu đoàn 202 ĐPQ thuộc Tiểu khu Tuyên Đức đóng tại cầu Đại Ninh (Di Linh cách cầu Đại Ninh chừng 60 cây số) được lệnh tái chiếm quận này mà không biết sáng đó đã vào được chưa! Sau này mới biết địch đã chiếm quận rồi và quân ta chưa vào được. Chính Trung uý Nguyễn Thắng Lợi, sĩ quan quân số kiêm Xử lý Thường vụ Trưởng ban ba tiểu đoàn 202ĐPQ xác nhận. Anh cũng cho biết thêm trên đường tiến đến quận Di Linh, tiểu đoàn anh đánh bắt được một chiếc xe be trang bị súng 57 ly không giật,giả làm tăng T54 của địch để hù ta. Tiểu đoàn anh chưa chiếm lại được quận Di Linh, một phần vì các nút chận của địch khá mạnh, một phần vì áp lực tâm lý rút lui của quân bạn lúc đó.
Xin nói thêm,tiểu đoàn 202 ĐPQ của tiểu khu Tuyên Đửc là một đơn vị đánh giặc nổi tiếng ở quân khu II, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Lê Xuân Phong. Anh Phong là một vị chỉ huy dũng cảm và lanh lợi,đã từng hai lần vượt ngục ngoài bắc nhưng không thoát nổi để rồi chịu nhiều trận đòn thù trối chết. Tôi từng ở tù chung với anh tại trại giam huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ Tĩnh vào thập niên 1980. Lúc ở tù anh lao động tà tà cho qua ngày mà mình thường dùng từ “cà nhỏng chống xăm lăng”chứ không phải thuộc diện lao động là vinh quang’ như VC dụ khị.
Liên Đoàn 24 BĐQ
Lâm Đồng mất không chỉ làm cho lực lượng TK/QĐ chới với mà còn làm cho LĐ24 BĐQ một phen xính xáng. Xin mở dấu ngoặc ở đây để giới thiệu sơ qua về LĐ24 BĐQ. Đứng đầu tàu là trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó là trung tá Đào Đức Châu. Liên đoàn gồm ba tiểu đoàn sau:
Thiếu Tá Trần Đình Đàng (K15ĐL) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 63 (TĐ63BĐQ).
Thiếu Tá Hoàng Đình Mẫn (K2 Đồng Đế Nhatrang) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 81 (TĐ81BĐQ)
Thiếu Tá Vương Mộng Long (K20ĐL) – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 82 (TĐ82BĐQ).
Pháo đội Pháo binh 105 ly của Đại úy Giang yễm trợ trực tiếp cho Liên đoàn này..
Như phần trên đã nói, LĐ24 BĐQ được tăng cường cho TK/QĐ, nhiệm vụ chính bão vệ quận Kiến Đức. Sau khi rời phòng họp TK/QĐ, Trung Tá Hoàng Kim Thanh về lệnh cho các đơn vị trực thuộc thi hành kế hoạch như đã định.(không phải TK/QĐ bỏ quên LD24BĐQ). Khi liên đoàn còn ở điểm vượt sông Kinh Đà, quân ta vô ý để lựu đạn nổ khiến Trung Tá Liên đoàn Trưởng và Trung úy Minh – sĩ quan Truyền tin Liên đoàn – và vài binh sĩ bị thương phải chờ tải thương. Ngày hôm sau Thiếu Tá Hoàng Đình Mẫn cũng được rời liên đoàn vì cơn bệnh sốt rét cấp tính và hai ngày sau nửa Trung Tá Đào Đức Châu cáo bệnh cũng được trực thăng bốc đi. Bấy giờ Liên đoàn như rắn mất đầu cụt đuôi (từ của Thiếu Tá Trần Đình Đàng xát nhận tình trạng LĐ lúc đó). Tuy là khóa đàn em, kém thâm niên cấp bậc và quân vụ so với các vị Tiểu đoàn Trưởng khác nhưng nhờ tài chỉ huy, lanh lợi, gan dạ chịu đánh đấm, Thiếu Tá Vương Mộng Long được cấp trên chỉ định chỉ huy Liên đoàn này từ lúc đó. Vì Liên đoàn phải di chuyển theo phương giác từ lại xuyên qua rừng thông rậm rạp và phải chờ tải thương nhiều lần nên khi ra tới Bảo Lộc thấy cờ VC đã “cấm dùi”tự hồi nào, Liên đoàn đành phải chuyển hướng về Đức Trọng, rồi Thiện Giáo (Bình Thuận). Liên đoàn phải lòng vòng trong rừng mất nhiều ngày quần áo tả tơi, lương thừc khô cạn. Mải đến ngày 5 tháng 4 năm 1975, từ chiếc L19 của quân đoàn IÌI, Trung Tá BĐQ Nguyễn Khoa Lộc (K18ĐL) mới liên lạc được với LĐ24BĐQ và khẩn cấp xin trực thăng bốc đơn vị này ra. Sau mấy ngày dưởng thương bình phục, Trung Ta Hoàng Kim Thanh trỡ lại nhiệm vụ, lần lượt trực thăng vận liên đoàn về Phan Thiết an toàn.
Tiểu đoàn 82 BĐQ của Thiếu Tá Vương Mộng Long được xem như đơn vị chủ lực, và cũng là đứa con cưng của Liên đoàn, được Không vận ra trước tiên tại phi trường Phan Thiêt đổ thêm xăng rồi được tăng cường cho Sư đoàn 18BB tại Long Khánh trong ngày 6/4/75. Tại đây tiểu đoàn này đã đánh một trận oai hùng với VC mà chúng ta biết được lúc còn trong tù hay hải ngoại sau này.
Nhưng với tình hình đất nước lúc bấy giờ, dù gan dạ và tài giỏi đến đâu cũng khó lòng chận đứng được sức tiến cũa Cộng Quân. Lúc đó,taị Long Khánh, địch quân bị dội lại vì ăn phải hai quả bom tinh khôn (CPU) bất đắc dĩ của ta mà thôi. Vì không đủ trực thăng bốc Liên đoàn ra cùng ngày nên hai Tiểu đoàn 63 và 81 được chuyển ra sau bảo vệ phi trường Phan Thiết. Sau đó không chịu nổi áp lực địch, hai tiểu đoàn này rút ra hướng biển để được trực thăng vận về Hàm Tân. Không được đi suông sẻ như Tiểu khu Quảng Đức, Liên đoàn 24BĐQ phải trải qua nhiều ngày đói rách tả tơi, băng rừng vượt suốt hiểm nguy, song vẫn duy trì được kỹ luật và tinh thần chiến đấu cao. Đó mới là điểm đáng kính phục. Chính Tiểu đoàn 82 BĐQ đã chứng minh điều đó qua trận đánh với VC tại Long Khánh trong những ngày cuối cùng. Họ chỉ buông súng đầu hàng vào giờ chót vì lệnh thượng cấp. Thật đáng ca ngợi thay!
Nhân đây tôi xin được giới thiệu về Thiếu Tá BĐQ Vương Mộng Long, cựu Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 82 BĐQ.
Năm 1972-1973, tôi thường hành quân với tư cách sĩ quan liên lạc Pháo binh cạnh bộ chỉ huy BĐQ/QKII dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phạm Duy Tất, lúc đó anh Vương Mộng Long là Trưởng phòng 2 của BĐQ quân khu ÌI. Anh đã từng chỉ huy Quân báo nhảy từng toán nhỏ vào sào huyệt địch, đôi lúc anh nhảy cùng với họ để làm gương và tìm những tin tức sốt dẻo. Ngoài trận Long Khánh nói trên, nếu ai đã từng ở Pleiku tháng chín năm 1974 chắc không quên mình đã từng xuống đường chào mừng Tiểu đoàn 82 BĐQ của Thiếu Tá Vương Mộng Long về thành phố khao quân sau trận tử thủ căn cứ Pleime (Pleiku). Tiểu đoàn anh đã đánh tan trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 CSBV khi họ thí mạng cùi tấn công căn cứ này. Khi bị tù ngoài Bắc, với sự can đảm có thừa, anh đã hai lần vượt ngục trốn lâu cả tháng trời nhưng cuối cùng vẫn không vượt khỏi gông cùm Cọng Sãn. Mỗi lần bị bắt lại đều được “đấm bóp” kỷ,bị bề hội đồng xém chết. Dở mủ xin chào lòng dũng cảm đầy gan dạ của anh – Thiếu Tá Vương Mộng Long- khóa 20 Trường Võ Bị Đà Lạt – Con Cọp Độc của Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Đạn khói Pháo Binh trị tăng địch
Nói về xe tăng địch, tôi xin trình bày một sự việc dù muộn màng nhưng mục đích không phải để khoe mình; còn nói để lấy kinh nghiệm thì trể rồi không còn nửa. Giữa tháng 12/1973, tại quận Kiến Đức tỉnh Quảng Đức (nay là tỉnh Đắc Nông), sau khi chiếm đồn Buprang địch thừa thắng xông lên, tăng T54 tiếp tục tiến chiếm đồn Bu-Bông gần đó chừng hai cây số đường chim bay. Trung úy Nguyễn Văn Năm (Bến Tre), Trung đội Trưởng PB 105 ly tại đồn Bu Bông dùng đạn nổ bắn trúng tăng địch nhưng nó vẫn lù lù tiến về căn cứ anh; quá thất vọng anh báo tôi như vậy. Từ bộ chỉ huy nhẹ hành quân của QĐII đặt tại Tiểu khu Quảng Đức, tôi cho lệnh anh nạp đạn khói vào bắn (súng cách xe địch gần hai cây số).
Thế rồi,quả đạn khói thứ nhất đi, một chiếc tăng địch bị khự lại; quả đạn khói thứ hai đi, một chiếc tăng nửa đứng yên và các chiếc tăng còn lại đâm đầu chạy trốn vào rừng gần đó. Đơn vị anh reo hò mừng rỡ. Khi nghe anh báo cáo về trung tâm hành quân đã hạ được hai xe tăng địch (lần đầu tiên PB hạ xe tăng địch bằng đạn khói), chúng tôi rất vui mừng và thấy “cặp lon đại uý sắp lắp lánh trên cổ áo anh”. Nhưng… nhưng tiếc thay, đơn vị bảo vệ trung đội PB của anh bị đánh toe tua không đũ khả năng chống lại tăng T54 địch, buộc anh phải rút, nếu không họ bỏ lại (Pháo Binh không trực tiếp chiến đấu một mình ngoài trường hợp bất khả kháng). Vì vậy, anh đành ngậm ngùi nuối tiếc nếu không nói là ấm ức, phá súng tháp tùng theo họ. Nửa giờ sau các anh không quân vào vùng lại báo cáo hạ được hai tăng địch.!!! (trể rồi anh bạn,nhưng dù sao cũng cám ơn anh đã xác nhận có hai xe tăng địch CHẾT tại trận). Thóang nghỉ của tôi khi cho bắn đạn khói lúc đó là vì trong đạn khói có chất lân tinh (phot pho); khi đạn trúng xe chất lân tinh tỏa ra tứ hướng trúng da thịt người,cháy âm ỉ không chịu nổi hoặc nếu trúng đứt xích,xe sẽ không xữ dụng được. Sách vở cả Mỹ lẫn Việt không có dạy đạn khói pháo binh hạ tăng địch. Tôi cho bắn đạn khói vì vài thoáng nghỉ nói trên, nào ngờ đạn khói lại hiệu quã như vậy. Rất tiếc lực lượng ta lúc bấy giờ không tái chiếm lại đồn Buprang nên không thể khai thác được hiệu quả thật sự của đạn khói như thế nào ngoài việc làm xe tăng địch đứng cứng như trên. Vì trận này quân ta tổn thất khá nặng (mất đồn Buprang) ngoại trừ pháo binh hạ được hai chiếc tăng địch nên thành tich của Trung úy Nguyễn Văn Năm không được cấp trên lưu ý. Anh chỉ được thượng cấp cho đi du lịch Đài Loan năm 1974 trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” qua sự giới thiệu của tôi.
Đầu tháng 1/1974,trước mặt Trung Tướng Nguyễn Xuân Thịnh – Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh quân lực VNCH – tôi xác nhận “đạn khói pháo binh trị được xe tăng” nên sau đó Bộ Chỉ Huy Pháo Binh có ra văn thư về việc phải xử dụng đạn khói pháo binh bắn tăng địch ,nhưng có lẻ văn thư này không được phổ biến rộng rải cho toàn thể quân lực VNCH nên quân ta rất còn e sợ khi nghe có tăng địch xuất hiện. Đã e sợ thì không còn tinh thần chiến đấu. Giới đá gà goị những con gà mới thấy mặt đối phương đã bỏ chạy là gà rót. Thất bại từ tâm lý đó!!!
Về vùng Cát Trắng
Kẻ viết bài này xin được nói rõ hơn một chút về mình sau khi rời Đa Lạt. Chúng tôi về đến Nha Trang trời vừa chạng vạng. Đường xá tấp nập xe chạy. Người đi, hầu hết là quân đội và dân chúng chạy giặc từ cao nguyên về, hoặc từ vùng ngoài vào. Tôi lê la ra quán cơm Viêt Nam nằm sát bờ biển, mục đích không phải để nhìn trăng “di chuyển qua các làn mây” (lúc nhỏ tôi tưởng như vậy) mà cũng không phải để ngắm dáng Chị Hằng phản chiếu dưới mặt nước, hay nghe những tiếng sóng vổ rì rào pha lẫn những tiếng rao “đậu hủ nóng hôn”của các cô bán tào phủ về đêm, mà chỉ muốn cho tâm hồn bớt căng thẳng và kiếm chút gì bỏ bụng sau một ngày mệt mõi. Tình cờ gặp hai người bạn cùng khóa năm xưa (Thiếu Tá Phạm Văn Trung thuộc Trung tâm Huấn luyện Không Quân Nha Trang và Thiếu Tá Huỳnh Văn Giai phòng Tuyển mộ Nhập ngủ Khánh Hoà). Gặp nhau tay bắt mặt mừng nhưng nụ cười không trọn vẹn trên vành môi vì sự bi thảm của đất nước hiện tại. Như đàn chim sau khi đũ lông đũ cánh phải lìa tổ ấm tung bay khắp bốn phương trời. Sau hai năm tròn dồi mài văn võ, chúng tôi đã rời mái trường mẹ thân yêu cuối năm 1963 về phục vụ bốn vùng chiến thuật. Nay tình cờ hội ngộ trong hoàn cảnh éo le này. Tuy nhiên dù hoàn cảnh nào, chúng tôi cũng không quên nhắc nhở những kỹ niệm thời sinh viên sĩ quan, nay thằng nào sống chết ra sao và cũng không quên mời nhau “năm mươi phần trăm em ơi” để vơi đi phần nào nổi lo hiện tại và cũng làm tăng thêm niềm vui cho dịp tao ngộ này. Đang thao thao bất tuyệt những chuyện đánh nhau sống chết, bổng Phạm Văn Trung hỏi tôi: “Vợ con mầy đâu rồi, sẵn sàn sáng mai tao gửi máy bay về Saigòn cho sớm?” Trong hoàn cãnh này, được người bạn nhả ý vậy thật là quá quý. Riêng vợ chồng Giai đã biết gia đình tôi nhiều trong những lần đi học hay nghỉ mát ở Nha Trang rồi, còn Trung chỉ mới gặp lần đầu nên tôi cám ơn và giải thích lòng vòng một tí cho anh biết. “Cám ơn hảo ý của mầy, vợ tao đang làm tại Tổng Cục Du Lịch ở Saìgòn. Riêng hai đứa con vừa được cậu nó đưa lên thăm tao.Thấy tình hình không yên;Tao gửi tụi nó theo trực thăng của cơ quan Dao (cố vấn tiểu khu) về nhà ba má Trần Thiện Thanh ở Bão Lộc để nhờ hai ông bà lo xe cho chúng về Saigòn cách nay gần mươi ngày,nếu trể tụi nó bị lội hành quân với tao rồi”.
Hôm nay, tình hình quân sự tại đèo Khánh Dương hơi bi quan, quân dù đóng tại đèo Khánh Dương có vẻ muốn nhúc nhích. Dù trời chưa khuya nhưng chúng tôi vẫn ý thức được: “vui chơi không quên bổn phận”. Khoảng chín giờ, chúng vội chia tay nhau sớm về lo việc mình. Riêng phần tôi trưa hôm sau vào trình diện Bộ Chỉ Huy/PB/QĐII (trong sân bay Nha Trang) nhận nhiệm vụ mới. Hôm ấy,trước khi vào trình diện BCH/PB/QĐII, Đại Tá Nghìn dặn tôi: “Anh vào xem thấy nhận được thì nên nhận, ngược lại thì ra đây bay trở lại Đà Lạt với tôi nhận nhiệm vụ mới, tôi chỉ chờ anh một tiếng đồng hồ thôi”. Trình diện đúng giờ hẹn, Đại Tá Phan Đình Tùng – Chỉ huy Phó PB/QLVNCH và Trung tá Phạm Hữu Chương- rất vui vẻ đề nghị tôi làm Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 69PB thay thế Trung Tá Chương (tôi từng làm Phó cho ông tại tiểu đoàn này năm 1972). Trung Tá Chương đưa tôi đi quan sát hậu trạm tạm thời của Tiểu đoàn 69 PB trú trong sân bay Nha Trang. Trên đường đi, Trung tá Chương cũng khuyến khích tôi: “Biết khả năng và thâm niên cấp bậc cũa anh nên Đại Tá chỉ định thẳng anh, đây là cơ hội vàng hiếm có để bắt cái lon Trung Tá chứ binh chủng mình khó lên lắm”. Nghe hai tiếng Trung Tá cũng ham nhưng mà.. qua hơn nửa giờ đồng hồ gọi là “thăm lính cho biết sự tình” tôi nhận thấy tiểu đoàn di tản từ Pleiku về đây có vẻ bi thảm quá, súng ống chưa trang bị kịp. Nếu tôi chấp thuận phải đem đơn vị vào căn cứ Động Bà Thìn (giửa đường Nha Trang -Cam Ranh) huấn luyện,trang bị lại. Lâu quá!
Nhận thấy nhiệm vụ quá nặng nề khó lòng thực hiện được trong hoàn cảnh bi đát gấp rút như thế này, tôi từ chối. Ra đến nơi hẹn, đại tá Nghìn chờ không được đã đi Đà Lạt rồi. Thầy trò tôi (tài xế và tôi) nghỉ qua đêm chờ sáng mai đi Đàlạt. Sáng hôm sau,trên đường rời Nha Trang, người và xe cộ hổn độn chật ních, hầu như không còn trật tự lưu thông nửa. Chúng tôi lách đi rất khó khăn mới tới được Phan Rang. Gặp vợ đại uý Trần Công Triệt (họ hàng và cùng khóa 18 ĐL) đang lăng xăng với năm đứa con dại muốn tìm cách vào phi trường về Sàigòn. Riêng Đại úy Triệt đang chỉ huy đại đội trấn thủ trên đập Đa Nhim. Tôi đưa sáu mẹ con bà Triệt (đầy xe jeep 8 người) vào phi trường và được Trung tá Nguyễn Văn Thiệt (K18ĐL) và Thiếu tá Trương Khương (K19ĐL) là Không đoàn Trưởng và Không đoàn Phó Không đoàn Phòng thũ đưa lên phi cơ về Saìgòn mấy phút sau đó. Phần tôi tiếp tục hướng về Đà Lạt. Vừa qua khỏi đèo Sông Pha, bị đoàn xe từ Đà Lạt đổ xuống không thể nào tiếp tục được. Họ cho biết đàlạt đã bỏ ngỏ. Tôi đành quay lại phi trường Phan Rang (2/4/75?). Tối đó quân dù đã nhóm khỏi đèo Khánh Dương và Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn bắt đầu rút. Tướng Phú và Đại Tá Lý Bá Phẩm (Tỉnh Trưởng Nha Trang cũng có mặt tại phi trường Phan Rang đêm đó). Thấy tôi ở đó vài ngày chẳng có nhiệm vụ gì, Trung Tá Nguyễn Văn Thiệt (bạn cùng K18ĐL) và Thiếu Tá Trương Khương giúp tôi về Sàigòn. Tôi trình diện BCH/PB/VNCH và nhận lệnh tăng cường cho PB quân đoàn ÌII phòng thủ tại Long Thành cho đến ngày mất nước, rồi khăn gói đi tù từ Nam ra Bắc. Sang Mỹ theo diện H.O đầu năm 1991.
Kết luận
Đó là một số hiểu biết trong phạm vi trách nhiệm hạn hẹp của tôi tại một vùng cao nguyên hẻo lánh trong giai đoạn đen tối nhục nhã của lịch sữ nước nhà. Cuộc chiến quân sự đã qua dù kêt thúc không theo chiều hướng mong đợi của ta. Ta không thể hoàn toàn trách Mỹ bỏ rơi đồng minh; mà không khe khắt chính mình; đặc biệt những người từng nắm chức vụ chỉ huy cao trước ngày có Hiệp định Paris 1973. Ông bà ta từng nói: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” (Trách mình trước khi trách người). Những đau thương, đói khổ mất tự do của dân Việt Nam từ ngày Miền Nam bị cưởng chiếm đến nay vẫn còn tồn tại. Hình ảnh của những người cùng một chiến tuyến với ta: thượng cấp, thuộc cấp, bạn bè phơi thay nơi trận địa. Những người dân vô tội nằm chết đó đây. Những người chết do bị hành hạ đói khát trong lao tù Cộng Sản, trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập ngoài biển cả trên đường tìm tự do chưa phai mờ trong trí ta. Có những người không chỉ chết một lần. Họ đã hy sinh để cho quê hương Việt Nam Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc, Phú Cường. Là Người Việt Quốc Gia, chúng ta không thể quên ơn Họ. Chúng ta hảy cùng thắp nén hương lòng hướng về Họ và cầu nguyện cho linh hồn Họ sớm về nơi Họ muốn. Chúng ta cũng không quên ơn những“Quân, Cán, Chính, Dân” đã hy sinh đời trai trẻ của mình,đặc biệt không quên các Chú, Bác anh chị thương bệnh binh đang sống đói khổ nhục nhã nơi quê nhà, nơi vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh nào đó. Nếu có dịp đền ơn chúng ta đừng nở làm ngơ, điều mà lương tâm con người, đặc biệt những người từng chịu ơn, không cho phép.
Cựu Thiếu Tá Trần Văn Bường
Houston,Texas Xuân 2005
LTS:
Sinh quán tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận năm 1940.
Xuất thân khóa 18 Đà Lạt với cấp bậc Thiếu uý thực thụ tháng 11/63.
Trung uý thực thụ tháng 11/65.
Đại uý thực thụ 7/1969
Thiếu Tá đặc cách mặt trận 7/72.
Thiếu Tá thực thụ 1/1973