Showing posts with label huỳnh ngọc thương. Show all posts
Showing posts with label huỳnh ngọc thương. Show all posts

Sunday, January 17, 2021

 

Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến

Lâm Hoài Thạch

(NV) – Cuối năm 1969, Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương được nhậm chức trưởng toán Bắc Bình của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, trong đó có những toán khác như Thăng Long, Lê Lợi, Lê Lai, Bạch Đằng… Mỗi toán gồm một sĩ quan chỉ huy, một hạ sĩ quan phụ tá và khoảng bốn quân nhân Xung Kích Lôi Hổ. Song song đó cũng có những toán Biệt Kích Mũ Xanh của Hoa Kỳ.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Cuối năm 1970, ông Thương được thăng cấp thiếu úy và vẫn giữ chức vụ trưởng toán Bắc Bình.

Ông Thương kể: “Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn đều nằm dưới sự chỉ huy của Nha Kỹ Thuật, mà Nha Kỹ Thuật lại nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại Tướng Cao Văn Viên, tư lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, và tư lệnh đã thường xuyên báo cáo tình hình quân sự với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Các toán Xung Kích Lôi Hổ của Nha Kỹ Thuật đều có ám số đặc biệt khi hành quân, trong đó có những toán viên bị thất lạc hoặc bị Cộng Sản bắt giữ. Vì thế, một số những ám số danh hiệu của các toán và những tổ chức của các đơn vị hành quân bị bại lộ.”

Ông Thương kể tiếp: “Tổng thống mới ký sắc lệnh cho đơn vị của chúng tôi là đơn vị ‘Hành Quân Tác Chiến Ngoại Lệ,’ cũng có nghĩa là những toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuộc không tác chiến trong lãnh thổ miền Nam, mà chỉ hành quân vượt biên giới của miền Nam. Cho nên những cuộc hành quân của Lôi Hổ được giữ kín hơn, sau khi công tác được hoàn tất cũng không được tiết lộ ra ngoài truyền thông báo chí để đăng tải. Vì thế sự mất còn, sự thành công hay thất bại đối với các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ đều không ai biết được, ngoại trừ cấp chỉ huy của họ.”

Tham chiến trận Lam Sơn 719, Hạ Lào

Những ngày đầu Tháng Hai, 1971, mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi động qua cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, dưới sự chỉ huy của Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I. Mục đích của cuộc hành quân này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) với trọng trách hành quân sang Lào để cắt đứt đường tiếp liệu đạn dược, lương thực của địch quân đang hiện diện tại Tchepone, Lào. Và đây cũng là điểm xuất phát của những sư đoàn chính quy Bắc Việt để xâm nhập vào miền Nam Việt Nam.

Cũng từ nhiệm vụ đó, Quân Đoàn I mới đem hết lực lượng sang Hạ Lào và có thêm lực lượng của tổng trừ bị như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 1, Thiết Giáp, Pháo Binh kể cả Không Quân VNCH và Không Quân Hoa Kỳ sang Hạ Lào để tham chiến mặt trận này. Riêng các chiến sĩ của ba chiến đoàn Biệt Kích Lô Hổ có nhiệm vụ phá hủy các đường ống dẫn dầu của địch.

Thiếu Úy Huỳnh Ngọc Thương tại Căn Cứ Non Nước, Đà Nẵng. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Thiếu Úy Thương kể: “Toán Biệt Kích Lôi Hổ của chúng tôi được lệnh nhảy từ sông Tchepone rồi vượt qua Cánh Đồng Chum để đến điểm hành quân. Lúc đó, Lữ Đoàn 3 Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Văn Thọ đóng quân tại đồi 30 và đồi 31. Điểm của hai ngọn đồi này là từ Quảng Trị đi xuống đường 9 Nam Lào được cắt đứt tại Bản Đôn, tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị.”

“Lúc đó, đơn vị của chúng dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Thế Nhã. Chúng tôi nhảy xuống một đỉnh cao cách đồi 31 khoảng sáu cây số. Nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ quan sát tình hình của địch để báo cáo về Bộ Tổng Tham Mưu, rồi sau đó, họ mới báo lại cho Đại Tá Thọ,” ông cho biết thêm.

Cũng theo Thiếu Úy Thương, toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông lúc đó chỉ có sáu người, nên không thể chạm địch quân đang di chuyển, và họ đã phát giác có chiến xa quân Bắc Việt đang xâm nhập vào vùng này. Khi mặt trận Hạ Lào bắt đầu khởi chiến, toán của ông Thương được lệnh rút về doanh trại Non Nước, Đà Nẵng.

Vài ngày sau, mặt trận Hạ Lào trở nên khốc liệt, trận đánh được kéo dài trên một tháng rưỡi. Quân Lực VNCH coi như đã thành công mặt trận này. Nhưng, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Phạm Văn Đính bị quân Cộng Sản bắt làm tù bình; Đại Úy Pháo Binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Đương và nhiều vị sĩ quan khác đã hy sinh.

Toán Biệt Kích Quân Lôi Hổ của FOB-1. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận Quảng Trị 1972

Vào khoảng gần cuối Tháng Ba, 1972, trước khi trận Quảng Trị khởi động, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống vùng phi quân sự tại Cửa Việt bên kia sông Bến Hải, để khảo sát lực lượng xâm nhập của quân Bắc Việt nhiều ít như thế nào. Vì phải nhảy xuống vùng phi quân sự thì mới phát hiện quân Bắc Việt vượt tuyến đến Lao Bảo, Gio Linh, Làng Vei…, và nhiều nơi khác để tấn công Cổ Thành Quảng Trị.

Cuối Tháng Ba, 1972, ba sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt tấn công vào các căn cứ phòng thủ của Quân Lực VNCH ở phía Bắc và phía Tây của tỉnh Quảng Trị.

Nhiệm vụ của toán Biệt Kích Lôi Hổ của ông Thương là bí mật bám theo sự điều quân của Cộng Sản Bắc Việt, và báo cáo về cho Bộ Tổng Tham Mưu. Đây cũng là dự kiến của Bộ Tổng Tham Mưu nhằm có khái niệm để điều quân tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Sau đó, toán ông Thương được lệnh trở về căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Cùng lúc sư đoàn Nhảy Dù được lệnh đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị, cùng nhiêu quân binh chủng khác. Đơn vị cuối cùng tham chiến trận này là Thủy Quân Lục Chiến.

Cùng lúc đó, ba sư đoàn khác của Cộng Sản tấn công vào An Lộc, Bình Long ở Vùng 3 Chiến Thuật.

Ông Thương cho biết: “Sau trận Quảng Trị, chúng tôi được lệnh bàn giao doanh trại Non Nước, Đà Nẵng cho Sở Công Tác. Sau đó, Hải Quân đưa chúng tôi đến Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Lúc đó tôi được thăng cấp Trung Úy.”

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (giữa) và hai cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Thọ (trái), và Trần Nhung Nguyên. Họ đều là cựu trưởng toán Biệt Kích Lôi Hổ. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận An Lộc, Bình Long

Cuối năm 1972, toán của ông Thương được lệnh nhảy xuống An Lộc. Nơi đóng quân đầu tiên là phi trường Quảng Lợi, Bình Long. Vì nơi này đã bị nhiều áp lực của địch quân nên đơn vị của ông phải di chuyển về trung tâm huấn luyện Quyết Thắng, Long Thành của Biệt Kích Lôi Hổ.

Ông Thương kể: “Không bao lâu, lệnh của Đại Tướng Cao Văn Viên cho đơn vị của chúng tôi về đóng quân ở bộ chỉ huy của Sở Liên Lạc gần Cổng Phi Long của phi trường Tân Sơn Nhứt để trực chiến ban đêm cho Bộ Tổng Tham Mưu, và ban ngày, toán vẫn tiếp tục đi công tác để thám sát các khu vực từ Đồng Xoài, Bù Gia Mập, Rừng Lạnh, Tống Lê Chân, Phú Riềng, Nha Bích, Bình Long, Phước Long…”

Vì trong năm 1972, đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ không còn nữa, nên đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ không được yểm trợ để hành quân ngoài biên giới, mà chỉ hành quân trong nội địa miền Nam. Lúc đó, các anh em Biệt Kích Quân cũng bị giải tán, có một số được thuyên chuyển về những đơn vị khác. Đơn vị Chiến Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ không còn được xem là chiến đoàn mà trở thành Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ, vì quân số một đoàn chỉ trên dưới 160 quân nhân của Quân Lực VNCH.

Gần cuối năm 1973, toán của Trung Úy Thương được lệnh nhảy xuống vùng Hậu Nghĩa, Châu Đốc, An Giang, nhiều nhất tại hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Đầu năm 1974, Đại Tá Lưu Yểm, tỉnh trưởng Biên Hòa, cho Đoàn 1 Biệt Kích Lôi Hổ trú quân tại Suối Máu, Biên Hòa.

Tháng Bảy, 1974, đoàn Đặc Công K-9 của địch đã tấn công đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ tại Suối Máu, đơn vị của ông đã chiến thắng trận này. Sau đó, đoàn của ông được di chuyển về đóng quân tại Chợ Sặc, Biên Hòa.

Cựu Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương (trái) và các chiến hữu tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Tham chiến trận cuối cùng ở Phan Rang

Đầu Tháng Ba, 1975, đơn vị của ông được lệnh ra hành quân tại Phan Rang, dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Đoàn 3. Ông Thương kể: “Chúng tôi được lệnh theo Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh bộ chỉ huy tiền phương để tham dự mặt trận Phan Rang, với nhiệm vụ lập trận tuyến để ngăn chặn quân Bắc Việt tiến vào Nam từ miền Trung. Nhưng lúc đó quân bố phòng không đủ để thực hiện công tác này, và Lữ Đoàn 2 Dù đang tham chiến trận Khánh Dương bị thất bại, nên đơn vị của tôi được lệnh đi đón những toán quân Nhảy Dù bị thất lạc về phi trường Thanh Sơn, Phan Rang.”

Ông Thương được thăng cấp đại úy vào ngày 8 Tháng Ba, 1975, tại Phan Rang.

Ngày 16 Tháng Tư, 1975, tuyến Phan Rang bị thất thủ! Đây cũng là trận chiến cuối cùng của Đại Úy Huỳnh Ngọc Thương trong suốt hơn 10 năm chiến đấu.

Sau hơn tám năm trong trại “cải tạo” của chính quyền Cộng Sản, ông Thương được về Huế hành nghề Đông y và xem phong thủy, vì đây là nghề gia truyền lâu đời tại Huế của gia đình ông.

Năm 2002, ông được định cư tại Orange County, California cho đến bây giờ và đang sống bằng nghề xem phong thủy. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/biet-kich-loi-ho-huynh-ngoc-thuong-va-nhung-lan-tham-chien/

Monday, January 11, 2021

 

Huỳnh Ngọc Thương dấn thân vào Biệt Kích Quân

Lâm Hoài Thạch

(NV) – Những Biệt Kích Quân có nhiệm vụ đi nhảy toán ngoài biên giới. Họ còn được danh xưng là Biệt Kích Lôi Hổ. Nhiệm vụ của họ chỉ đi lẻ tẻ từ bốn đến sáu người vào lòng địch để thu thập tin tức, chiếm giữ tài liệu hay bắt sống địch quân.

Ông Huỳnh Ngọc Thương tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Họ là những chiến sĩ vô danh, những bóng ma biên giới, một lần đi không hẹn ngày về! Nhưng nhiệm vụ ấy vẫn thôi thúc nhiều chàng trai trẻ tham gia, trong đó có ông Huỳnh Ngọc Thương.

REPORT THIS AD

Năm 1965, ở tuổi 19, chàng trai Huỳnh Ngọc Thương tình nguyện vào đơn vị Biệt Kích Quân của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Mỹ tại Phú Bài (FOB-1) còn gọi là đơn vị Tiền Danh 1 là một trong năm căn cứ tiền danh của FOB (Forward Operating Base).

Sở dĩ ông chọn Phú Bài vì nơi này thuộc Huế, là nơi ông sinh ra và lớn lên. Ngoài Tiền Doanh 1, FOB còn bốn căn cứ khác là FOB-2 đóng tại Non Nước, FOB-3 đóng tại Ái Tử, FOB-4 đóng tại Khe Sanh, và FOB-5 đóng tại Nông Sơn.

Ông Thương kể: “Lúc đó, tại FOB-1 Phú Bài, với sự chỉ huy của các sĩ quan như Đại Úy Ngụy Hiền, Đại Úy Đoàn Kim Tuấn, Đại Úy Lê Minh, Đại Úy Phạm Văn Hy, Trung Úy Nguyễn Cao Vỹ, Trung Úy Tống Hồ Huấn… Từ năm 1965, tại miền Nam đã từng xảy ra phong trào ‘phản chiến,’ vì một số dân miền Nam biểu tình chống các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Trần Thiện Khiêm. Trước đó, tôi đang là một sinh viên y khoa (Đông y), nhưng bị bãi khóa vì biến động của phong trào ‘phản chiến,’ nên đường học vấn của tôi bị trở ngại.”

Khi chính phủ miền Nam ra lệnh tổng động viên, ông Thương rơi vào tài nguyên Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 21 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, nhưng ông không nhập khóa này, vì ông đang là một Biệt Kích Quân.

REPORT THIS AD

Lúc đó, Bộ Chỉ Huy Biệt Kích Quân Lôi Hổ lập một danh sách để trình lên Bộ Quốc Phòng Miền Nam, nên những quân nhân này được Bộ Quốc Phòng cho miễn dịch lệnh tổng động viên, vì họ đang thi hành nhiệm vụ nhảy toán cho đơn vị Biệt Kích Quân Lôi Hổ. Vì thế, ông Thương được miễn tội là một sinh viên sĩ quan bất phục tùng của Nha Quân Pháp Miền Nam.

Sinh viên y khoa Huỳnh Ngọc Thương. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Những cuộc hành quân ban đầu

REPORT THIS AD

Biệt Kích Quân Huỳnh Ngọc Thương và đồng đội có rất nhiều cuộc hành quân ngoài biên giới miền Nam.

Ông kể: “Trong năm 1967, chúng tôi đã nhảy toán nhiều lần. Phần nhiều, điểm xuất phát là từ Nam Đông, Huế. Nơi này cũng có một căn cứ Biệt Kích của Hoa Kỳ yểm trợ cho chúng tôi. Từ căn cứ Nam Đông chúng tôi vượt biên sang Hạ Lào, Cambodia, nhiều nhất là ở vùng Tam Biên, Krachie. Trong những cuộc hành quân này, phần nhiều chúng tôi không nổ súng, vì nhiệm vụ toán Biệt Kích chỉ xông vào lòng địch để thám sát hoặc lấy tài liệu về cho bộ chỉ huy. Hơn thế nữa, nếu khi chạm địch, bắt buộc chúng tôi phải nổ súng, thì 90% chúng tôi không thể toàn vẹn trở về, vì địch quá đông mà toán chúng tôi cao nhất chỉ có sáu người.”

Ngoài ra, toán của ông cũng đã từng nhảy ra Bắc Việt.

“Đầu năm 1968, toán chúng tôi được lệnh nhảy xuống Quảng Bình. Lúc đó, tôi là trưởng toán cùng với năm đoàn viên. Vì địa điểm hành quân là một cồn cát ở Quảng Bình cập bên bờ sông Nhật Lệ, nên lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ đã trang bị cho chúng tôi những mặt nạ bằng nhựa có ống hơi để thở khi chúng tôi ẩn nắp dưới cồn cát. Trong cuộc hành quân này, toán Biệt Kích Quân xâm nhập bằng đường không vận lúc đêm tối trời. Đến khi trời sáng, vì sợ lộ diện nên chúng tôi phải đào hố để nằm dưới cát, và chỉ được thở bằng những ống hơi được ngụy trang như những ống cỏ gắn liền với mặt nạ đặc biệt này. Ngoài ra, chúng tôi còn được trang bị những loại thuốc đặc biệt dùng thoa lên quần áo và vũ khí để tránh muỗi hoặc tránh những mùi của quân trang mà loài chó thuộc Quân Khuyển của địch có thể phát giác,” ông kể tiếp.

Biệt Kích Quân Huỳnh Ngọc Thương chụp hình năm 1965 tại Phú Bài. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

“Mục tiêu gần một đồn Công An Biên Phòng của địch quân. Nơi này, chúng tôi phát hiện ra những chiến tàu Hải Thuyền của Hải Quân Bắc Việt, nhiệm vụ của những chiếc tàu này là xâm nhập vào Nam để tiếp tế cho quân Giải Phóng Miền Nam. Và, nhiệm vụ của chúng tôi là phải đặt mìn hoặc sử dụng súng cối M-60 để tiêu diệt đoàn Hải Thuyền của địch. Nhưng trong chuyến hành quân này chúng tôi không thành công. Sau đó, trung tâm hành quân Biệt Kích Lôi Hổ mới giao nhiệm vụ này cho đơn vị Biệt Hải, với sự chỉ huy của Hải Quân Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại,” ông kể thêm.

REPORT THIS AD

Khi nhắc đến đơn vị Biệt Hải của Biệt Kích Lôi Hổ, ông Thương chia sẻ: “Đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ lúc đó có năm sở, bao gồm Sở Liên Lạc có ba chiến đoàn, và Sở Công Tác có năm đoàn, gồm Đoàn 11, Đoàn 68, Đoàn 71, Đoàn 72 và Đoàn 75, những đoàn này đều có nhiệm vụ hành quân tác chiến như Sở Liên Lạc, và tôi thuộc Sở Liên Lạc. Sở thứ ba là Sở Tâm Lý Chiến, sở này gồm có hai đài radio, đó là ‘Đài Gươm Thiêng Ái Quốc’ và ‘Đài Mẹ Việt Nam.’ Thứ tư là Sở Không Yểm, trong đó có hai Phi Đoàn 219 và 110 được biệt phái cho Nha Kỹ Thuật để đi thả toán Biệt Kích Lôi Hổ. Sở thứ năm là Sở Phòng Vệ Duyên Hải trong đó có lực lượng Biệt Hải, lực lượng này khác với lực lượng Biệt Hải của Hải Quân.”

Gần cuối năm 1968, Không Quân Hoa Kỳ đưa toán của ông Thương gồm sáu người nhảy dù xâm nhập vào Đèo Ngang, Nghệ An, rồi từ đó toán của ông vượt biên sang Lào, với nhiệm vụ duy nhất là đặt mìn để tiêu hủy đoàn xe của địch trên đường di chuyển từ Bắc Việt xuống miền Nam theo đường biên giới của Lào.

Toán Biệt Kích Lôi Hổ nhảy xuống Tam Biên (biên giới Việt-Miên-Lào). (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Ông Thương kể: “Khi đến mục tiêu, chúng tôi được lệnh đặt hai trái mìn vô tuyến chỉ lớn bằng cục xà bông tại điểm đầu và điểm cuối cách nhau khoảng trên năm cây số để phá hoại đoàn xe này. Ngoài hai trái mìn vô tuyến ở hai đầu mục tiêu, chúng tôi còn phải đặt thêm nhiều mìn, mỗi trái mìn được cài đặt cách nhau khoảng 25-30 mét theo lối đăng chéo của hai bên đường. Tất cả những loại mìn này được điều khiển bằng đường vô tuyến, mà chỉ có bộ chỉ huy của lực lượng Biệt Kích Hoa Kỳ mới cho kích hoạt được.”

REPORT THIS AD

Khi xong nhiệm vụ đặt mìn thì trực thăng của Không Quân Hoa Kỳ đến “bốc” toán của ông về Bắc Xế, trên đất Lào. Khi đến Bắc Xế thì một sĩ quan vô tuyến của Hoa Kỳ cho ông Thương vào phòng kín có bày biện nhiều máy vô tuyến.

Ông Thương nói: “Vị sĩ quan Hoa Kỳ cho tôi xem trên màn ảnh vô tuyến để xác nhận những gì chúng tôi đã thực hiện trong chuyến công tác này. Không bao lâu, trên màn ảnh vô tuyến hiện ra đoàn xe của quân Bắc Việt đã hoàn toàn lọt trọn vào mục tiêu mìn bẫy của toán Biệt Kích Quân đã cài đặt. Vì hệ thống vô tuyến lúc đó con thô sơ, nên trên màn ảnh chỉ hiện ra hai chấm đỏ của hai trái mìn vô tuyến đặt tại hai đầu mục tiêu, và ngay khoảng giữa có nhiều vạch nhỏ màu trắng hiện ra, đó là đoàn xe của của địch. Ông sĩ quan vô tuyến Hoa Kỳ mới bấm vào một nút đỏ trên bàn điều khiển vô tuyến, thì những điểm đỏ và trắng trên màn ảnh bị nổ tung tóe trước khi bị xóa sạch. Sau đó vị sĩ quan này cho chúng tôi biết là mìn đã nổ và đoàn xe đã bị hủy.”

“Đến ba ngày sau, chúng tôi được lệnh tái xâm nhập mục tiêu để chụp hình và tịch thu những tài liệu quan trọng. Sở dĩ toán chúng tôi đến ba ngày sau mới xâm nhập vào mục tiêu, vì nếu đến ngay hiện trường thì có thể toán chúng tôi chạm địch khi chúng đang tải thương hay mang xác chết của bộ đội Bắc Việt đi nơi khác. Khi chúng tôi đến nơi thì xác của trên 10 chiếc xe đã bị hủy hoại vẫn còn đó, nhưng thây người và thương binh của họ đã chuyển đi nơi khác. Đây là sự thành công cuối cùng của tôi lúc còn là một Biệt Kích Quân,” ông Thương nhớ lại.

Ông Huỳnh Ngọc Thương (phải) cùng Biệt Kích Quân Lôi Hổ tại Căn Cứ FOB-1, Phú Bài. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Được trở về nhiệm sở cũ

REPORT THIS AD

Năm 1968, sau trận chiến Mậu Thân, Huế, ông Huỳnh Ngọc Thương được lệnh về trình diện nhập khóa 4/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Nhập khóa vào đầu năm 1969, ra trường khoảng cuối năm 1969, với tổng số sinh viên sĩ quan trên 1,000 người.

Vì trước đó ông là một quân nhân của đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ, nên khi ra trường, một số sĩ quan chỉ huy tiền nhiệm của FOB-1 đến quân trường Thủ Đức đón tân Chuẩn Úy Huỳnh Ngọc Thương về đơn vị Sở Liên Lạc Biệt Kích Lôi Hổ. Lúc này, Sở Liên Lạc gồm có ba chiến đoàn. Quân số của một chiến đoàn có trên 1,000 Biệt Kích quân, và số sĩ quan, hạ sĩ quan có khoảng trên dưới 150 người. Những quân nhân này được liệt kê vào danh sách của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, với nhiệm vụ là chỉ huy, huấn luyện các đại đội xung kích của Lôi Hổ.

Ông Thương cho biết: “Khi tôi về trình diện đơn vị Biệt Kích Lôi Hổ thì năm căn cứ của FOB đều được di chuyển về căn cứ FOB-2 tại Non Nước, Đà Nẵng. Địa danh này là CCN [CC có nghĩa là Trung Tâm Chỉ Huy và Kiểm Soát, N là North, là Bắc, cũng là trung tâm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ] và hai căn cứ nữa đó là CCC ở Kon Tum [C có nghĩa là center, CCC là Trung Tâm Chỉ Huy Ở Vùng Trung (giữa)] thuộc Chiến Đoàn 2 Xung Kích Lôi Hổ, và tại Ban Mê Thuột là CCS [S là South, là vùng Nam] thuộc Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lôi Hổ.”

REPORT THIS AD

Chuẩn Úy Thương thuộc Chiến Đoàn 1, dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh.

Ông Huỳnh Ngọc Thương (giữa) cùng cựu Đại Úy Nguyễn Thành Nhân, chiến sĩ xuất sắc Sư Đoàn 1 (phải), và nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị, cựu phi công Phi Đoàn 110, tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Theo ông Thương, mỗi chiến đoàn có một đại đội phòng vệ được gọi là Đại Đội C (công vụ), quân số trên 300 người để phòng thủ doanh trại; hậu cần về quân trang quân dụng, ẩm thực…, và hai Đại Đội A và B là hai đại đội tác chiến, mỗi đại đội với quân số trên 200 người. Ngoài ra, hai đại đội A và B còn những đơn vị trừ bị xung kích như A1, A2…, và B1, B2…

REPORT THIS AD

Những đơn vị trừ bị xung kích này, ngoài những chiến sĩ người Việt còn có những chiến sĩ người Nùng, người Thượng kể cả những người Cambodia hay người Lào… Những sĩ quan và các cán bộ huấn luyện các đại đội xung kích này gồm những người lo về văn phòng, hành chánh, truyền tin, huấn luyện… và họ còn nhiệm vụ đặc biệt là đi theo những toán nhảy vào lòng địch mỗi khi cần thiết.

Mỗi chiến đoàn cũng có những đơn vị hậu cần như những đơn vị của các quân, binh chủng khác như Phòng 1 lo về quân số, Phòng 2 lo về tình báo, Phòng 3 lo về hành quân, nhưng không có Phòng 4 lo về tiếp liệu, quân trang, quân dụng… vì tất cả những điều cần thiết này đều do đơn vị Biệt Kích Hoa Kỳ Green Beret (Mũ Xanh) yểm trợ tối đa. Ngoài ra, Chiến Đoàn 1 còn liên hệ với đơn vị Sở Tâm Lý Chiến ở Thanh Lam và Cồn Tẻ, Huế có đài radio được trực thuộc vào Đài Gươm Thiêng Ái Quốc và Đài Mẹ Việt Nam.

Huy hiệu của Nha Kỹ Thuật. (Hình: Huỳnh Ngọc Thương cung cấp)

Trưởng toán Xung Kích Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuật

REPORT THIS AD

Sau Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh thì Thiếu Tá Hồ Châu Tuấn về làm chỉ huy trưởng kế nhiệm của Chiến Đoàn 1 Xung Kích Lôi Hổ.

Chuẩn Úy Thương nói: “Sau này, Chiến Đoàn 1 CCN còn biệt danh là Chiến Đoàn 1 Xung Kích Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, do Sở Liên Lạc được sáp nhập với Nha Kỹ Thuật. Vì trước đó, Sở Liên Lạc là tiền đề Sở Liên Lạc của Phủ Tổng Thống dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung. Sau khi Đại Tá Tung quá vãng trong trận binh biến, thì Sở Liên Lạc này được tách rời ra ngoài và được thành lập Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật. Bộ chỉ huy này có tiền nhiệm của chương trình OP-43, OP-45 (Operation Plan) của Hòa Kỳ.”

“Trước đó nữa, chương trình OP còn có ngụy danh là ‘Nha Khai Thác Điền Địa,’ sau đổi thành ‘Liên Đoàn Quan Sát Số 1,’ trong đó có danh hiệu Sở Bắc là tiền thân của Biệt Kích Lôi Hổ. Sau này, những cuộc hành quân Sở Bắc được hủy bỏ, vì có khoảng trên 30 toán hành quân Sở Bắc đều bị chính quyền Bắc Việt bắt giữ, trong đó có Đại Úy Luyện (người tù kiệt sức, bất khuất), Đại Úy Kiên (người tù điên),” ông nói thêm. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

REPORT THIS AD

Kỳ cuối: Biệt Kích Lôi Hổ Huỳnh Ngọc Thương và những lần tham chiến

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/huynh-ngoc-thuong-dan-than-vao-biet-kich-quan/

Wednesday, April 1, 2020

HUỲNH NGỌC THƯƠNG
Thưa anh ,
Hôm nay trong khi lướt mạng , tôi đã đọc bài viết của anh về trận Phan Rang . Dù ở sđ 7 bộ binh nhưng tôi có cảm tình với NKT nên tôi rất mến phục các anh , đặc biệt là lần anh Chung tử Ngọc nói chuyện trên đài Hồn Việt (tôi ở tù chung trại với anh Chung tử Bửu) . Vì có nghiên cứu về Numerology nên tôi dùng khoa tử vi này để làm bản tử vi cho anh .
Dựa vào Numerology , tôi phân tách tên họ của anh .
HUỲNH = 5 6 1 5 5 = 22 = giữ nguyên
NGỌC = 5 3 7 3 = 18 = 9
THƯƠNG = 4 5 6 7 5 3 = 30 = 3
Tổng công : 22 + 9 + 3 = 34 .
Số mạng anh sẽ chịu tác động phần nào của số 34 .
I/ Sau đây là ý nghĩa của số 34 (giống số 25) .
Ý NGHĨA CỦA SỐ 25 VÀ 34 : ÓC PHÁN ĐOÁN VÀ PHÂN TÍCH (DISCRIMINATION AND ANALYSIS)
Số 25 ban cho nguời mang số này: a/ sự minh triết về tâm linh (spiritual wisdom), sẽ đạt đuợc thông qua sự quan sát cẩn thận về nguời và việc, và b/ sự thành công về vật chất/trên trần thế (worldly success) bằng cách học hỏi qua kinh nghiệm. Sức mạnh của nguời số 25 đến từ: a/ việc vuợt qua những thất vọng/thất bại (disappointments) trong giai đoạn đầu của cuộc đời (early life) và b/ việc sở hữu một phẩm chất quý hiếm qua việc học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ (past mistakes). Sự phán đoán của nguời này rất xuất sắc, nhưng số này lại không phải là số tạo ra của cải (it's not a material number); vì vậy, những lợi ích của nhu cầu vững mạnh về tài chính (financial benefits of a substantial nature) phải đạt đuợc thông qua sự phân tích thêm của Lý Thuyết Số về ngày sanh và tên họ của nguời này (through other Compound numbers in the full birth and name numerological analysis).
(Dịch từ trang 203 của sách đã dẫn).
II/ Vì tên họ của anh cộng lại bằng 34 nên anh có tánh tình của nhóm 7 .
Tính tình của người số 7
Định nghĩa sau đây áp dụng cho nguời và thực thể. Nguời số 7 có khuynh huớng có những giấc mơ đáng chú ý (remarkable). Đôi khi họ nói về những giấc mơ này – đôi khi họ lại giữ kín. Nhưng họ thuờng nằm mơ nhiều hơn những nguời khác. Một cách kín đáo (secretly), họ có thích thú mãnh liệt về những bí mật thuộc về bí truyền (esoteric), thần thoại, phi thuyền không gian hay vật lạ bay trong không gian (U.F.O.)... và toàn bộ cánh rừng của sự chưa biết (the unknown). Họ thuờng có khả năng trực giác và tiên tri (possesses the gifts of intuition and clairvoyance) và có một phần nào đó sự hấp dẫn làm cho nguời khác cảm thấy dễ chịu/giảm đi sự nóng giận (and a certain quieting, calming magnetism which has a great influence over others). Thuờng thuờng, sự xuất hiện đơn thuần của họ cũng có tác dụng làm cho nguời đang bị rối loạn cảm thấy dễ chịu (their mere presence has a soothing effect on a troubled person). Số 7 thuờng có liên quan về những tư tuởng khác thuờng về tôn giáo, sự không thích đi theo những con đuờng mà nguời khác đã đi, và một khuynh huớng chấp nhận những tư tuởng chính trị độc đáo và phần nào đó không chính thống ( peculiar ideas about religion, a dislike of following the beaten path, and a tendency to adopt political beliefs which are unique and somewhat non-orthodox). Là chuyện bình thuờng nếu một nguời số 7 khám phá, đã tìm thấy, và tin tuởng vào một quan niệm mới về tôn giáo (to discover, found, and believe in a new religious concept).
Nguời số 7 hoặc là sẽ du lịch rất nhiều vào một thời gian nào đó trong cuộc đời hay là đọc rất nhiều sách về những dân tộc và đất nuớc xa lạ ( will either travel extensively at some time in the life or else read avidly books about foreign people or faraway lands). Nhiều nguời ảnh huởng bởi số 7 bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi biển cả và một lúc nào đó lại thích đi thuyền buồm, các môn thể thao trên mặt nuớc, hoặc Hải quân ( sailing, water sports, or the Navy). Họ có khuynh huớng lo âu về tuơng lai, do vậy họ cần biết phải có một cơ nghiệp vững chắc về tài chính, đề phòng những đợt sóng của định mệnh quét tan ( need to know they have a rock of financial security somewhere in the background, lest the waters of fate sweep them away ) .
Tuy vậy, họ quan tâm rất ít về sở hữu vật chất hoặc tích lủy nhiều của cải (they care little about material possessions or accumulating great wealth). Nguời số 7 có thể kiếm đuợc nhiều tiền thông qua những ý nghĩ độc đáo, nhưng họ thích đóng góp đáng kể cho các cơ sở từ thiện. Khi họ cuốn hút (gravitated) bởi nghệ thuật, họ sẽ trở thành những vũ công, ca sĩ, thi sĩ, nam, hoặc nữ diển viên xuất sắc (fine).
Với phong thái trầm lặng, nhàn nhã của họ, dù cho họ có tham vọng, họ cũng không bàn luận với nguời khác, và những tham vọng này đều luôn luôn nhuộm quan điểm triết học (in their own, laid-back way, people influenced by the number 7 have ambitions they don't discuss with others, and these are always tinged with a philosophical outlook). Họ ban ân cho kẻ khác với thiện ý xuất phát từ sự thấu hiểu về tình cảm của họ truớc nỗi đau khổ của kẻ khác (they bless others with the grace of their sympathetic understanding of pain and suffering), do vậy bạn bè, thân nhân, đồng nghiệp thuờng nhờ họ giải quyết những khó khăn của mình ( which is why friends, relatives, and business associates unburden their troubles to the 7 person). Cũng có khuynh huớng rất mạnh về sự riêng tư nơi nguời số 7, và những nguời này thích giữ kín những vấn đề của riêng họ. Họ co lại truớc những câu hỏi có tính buơi móc và họ ghét cay đắng/ghê tởm thái độ “thích theo dõi và điều khiển kẻ khác “ hay bất cứ điều gì mà họ xem như soi mói vào đời tư của họ (they shrink from prying questions, and have a horror of “big brother” or anything they consider to be an invasion of their privacy).
Cách đối xử tao nhã, tính khí nghệ sĩ, và một bản tính dễ xúc cảm tạo nên bản chất của những nguời số 7, và bạn không nên để những nguời này đánh lừa bạn với bản tính đôi khi lầm lì /ít nói của họ . . . bạn sẽ ngạc nhiên nếu bạn biết tất cả những tư tuởng kỳ lạ đang xuất hiện trong tâm trí của họ (refined manners, an artistic temperament, and a sensitive nature make up the 7 essence, and don't let these persons fool you with their sometimes taciturn nature . . . you'd be surprised if you knew all the strange thoughts that swim through their minds when they're communing with themselves). Nếu bạn có thể thuyết phục họ nói về điều họ đang suy nghĩ, bạn chẳng những ngạc nhiên mà còn bị lôi cuốn khi bạn biết đuợc những bí mật của thế giới của sao Hải Vuơng của họ. Nhưng nguời số 7 phải biết rằng bạn đáng tin cậy truớc khi họ chia sẻ những nhận xét/chiêm nghiệm về tâm linh . . . và bạn chỉ có thể có đuợc niềm tin cậy này qua việc chứng tỏ rằng bạn không quá xét đoán/lý luận hay có thành kiến (but the 7 person must find you trustworthy before he or she shares these inner streams of contemplation . . . and you'll have to earn that trust by proving you're not judgmental or prejudged). Nguời số 7 ít khi có hai tính này (7 people are rarely either) ./.
(Dịch xong lúc 08:47 tối ngày 18/02/2010 từ trang 239-240 của quyển Linda Goodman's Star Signs)
NHẬN XÉT : Vì ko biết ngày sanh của anh nên tôi chỉ dựa vào tên họ để làm bản tử vi cho anh . Anh đọc và cho biết bản tử vi này chính xác bao nhiêu phần trăm .