Showing posts with label năm 1964. Show all posts
Showing posts with label năm 1964. Show all posts

Tuesday, August 25, 2026

 

TẤN CÔNG VÀO ĐẦU NÃO BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA QUÂN KHU 5 CS THÁNG 4/1964

==

LỜI NÓI ĐẦU: Đây là cuộc hành quân (HQ) đầu tiên của liên quân Việt-Mỹ tấn công vào mật khu Đỗ Xá tháng tư năm 1964 – mà ngay cả trước năm 1954, quân Pháp cũng chưa bao giờ tấn công mật khu này, do địa thế rừng núi quá hiểm trở.

Những hình ảnh dưới đây: ngoài một số thuộc bài viết, còn lại lượm lặt trên mạng.

               

Ảnh: mật khu Đỗ Xá nằm ở nơi tiếp giáp của ba tỉnh Quảng Tín, Kontum và Quảng Ngải. 

Ảnh: Bản đồ các quân khu của CS, trong đó có QK-5, mà đầu não ở Đỗ Xá. Chấm đỏ là nơi đóng quân cấp TĐ, hình tam giác là nơi đóng quân cấp trung đoàn.

Ảnh: Lc quân và TQLC M khám xét các v trí đặt súng ca VC ti Đỗ Xá sau cuc hành quân Quyết Thng 202 được tiến hành bi QĐVNCH tháng 4/1964. Rt nhiu cây quế b hư hng bi bom đạn khiến cho c vùng có mùi thơm. Mt s lính VNCH đã thu nht v quế vì h bán giá cao ch.


Ảnh: Trung tướng Đỗ Cao Trí, TL của QĐ 3, nói chuyện với các sĩ quan Việt Mỹ, trong một hành quân ở Kampuchia khoảng năm 1970. Dù ở nơi tuyến đầu, lúc nào ông cũng đội mũ đánh golf với 3 sao trắng. Năm 1964, là TL của QĐ 2, ông mở cuộc hành quân vào mật khu Đỗ Xá.

Ảnh trên: Đại tá Nguyễn văn Hiếu, tham mưu trưởng của QĐ 2, và thiếu tướng Lữ Lan, tư lịnh phó về hành quân, chụp tại triển lãm chiến lợi phẩm từ trận Đỗ Xá tháng 4 1964.

Ba ảnh dưới: Chiến lợi phẩm được triển lãm tại Đà Nẳng. Ở mật khu Đỗ Xá có một bịnh viện dã chiến với các sách y khoa viết tay. Vũ khí các loại của nhiều nước với các bản chỉ dẫn viết tay (để biết cách tháo ráp).


Ảnh: H-34 là trực thăng đầu tiên có hệ thống tự động bay đứng một chỗ (auto-hovering system). Có bọc giáp để bảo vệ phi hành đoàn và động cơ—và nhờ động cơ đặt ở mủi máy bay nên tản nhiệt tốt và dễ sửa chữa. Do vậy dù bay chậm nhưng vẫn được TQLC và Lục quân Mỹ xử dụng.

Ảnh trên: H-34 cũng được dùng để thả biệt kích Mỹ và VNCH -- như phi đoàn 219 nổi tiếng vì gan dạ, ảnh dưới.

Ảnh: Các bao gạo được bốc dở từ một trực thăng H-34 của Air America, để phân phối cho dân tị nạn Hmong ở Phou Khao Khouay, Lào.

Ảnh: Một H-34 của hãng Air America chuẩn bị câu một chiếc Helio Courier, bị rơi tại Lào tháng 1/1966.

Ảnh trên: Trực thăng H-34 của TQLC Mỹ bị rơi khi dự trận Đỗ Xá. Ảnh dưới: trong trận này, một bánh lái giúp-trực-thăng-giữ-thăng-bằng bị sút ra.

 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ bài viết của Phi đội trực thăng HMM-364 của TQLC Mỹ, đồn trú tại Đà Nẳng.

I/ CHUẨN BỊ HÀNH QUÂN

“Dựa trên thông tin tình báo nhận được, ngày 27/4/1964, các BTL quân đồng minh đang đồng thời chuẩn bị cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào các cứ điểm tình nghi của VC. Một nằm ở 15 dặm Anh tây tây bắc của Quảng Ngải, gần làng Đỗ Xá, và một ở khoảng 30 dặm xa hơn về phía tây.

Ở những doanh trại cũ của Pháp tại Đà Nẳng, tiếng kẻng vang lên đã đánh thức các TQLC của phi đội trực thăng 364 TQLC hay HMM-364. Họ gồm có phi công, xạ thủ, cơ phi. Họ đang được chở ra đường băng trên các chiếc xe tải 6 bánh mà họ trìu mến gọi là "Sweetlips", xem hình.

Phi đội này gồm có 19 chiếc UH-34 “Dog” (võ trang bằng M-60), bao gồm 1 chiếc UH-34 của trung tá John Lavoy, chỉ huy phi đội, xem hình.

Ngoài ra còn có 2 chiếc H-34 lo về tìm kiếm và cấp cứu, gọi tắt là SAR của thiếu tá Braddon chuẩn úy (CWO) McKee. Hai chiếc này còn có phụ tùng thay thế và thợ máy để sửa máy bay tại chỗ khi cần.

Ảnh: Thiếu tá Braddon đã rất can đảm vượt bực trong trận này vì từng cấp cứu hai trực thăng H-34 ở bãi đáp, một H-34 đáp xuống sông, và một Skyraider đáp khẩn cấp xuống tiền đồn.

Trong khi đó, ở đầu phía đông nam của phi đạo dài 5.000 bộ của sân bay Đà Nẳng, có năm chiếc gunship loại UH-1B “Huey” cũng đang chuẩn bị cất cánh. Họ thuộc Dragon Flight của TĐ 52 không vận (52nd aviation battalion) của lục quân Mỹ. Danh hiệu truyền tin của các chiếc này lần lượt là “Dragon 1,2,3, 4 và Dragon Six”. Chỉ huy của 5 chiếc này là đại úy Jack Woodmansee, xem hình dưới.

Ảnh của hai chiếc UH-1 hay Huey đang bảo vệ hai chiếc H-34.

The Team, Headed Out For Day's Work

Ở đâu đó trong sân bay là hai chiếc A-1H “Skyraider” của không quân VNCH, xem hình, đang chuẩn bị để yểm trợ nếu cần.

Một chiếc L-19 “Bird Dog” của không quân Mỹ, với một sĩ quan điều không hay FAC người Mỹ ngồi ghế trước và một FAC người Việt ngồi ghế sau, cũng đang sẵn sàng.

Ở sân bay Quảng Ngải, 100 dặm phía nam của Đà nẳng, khoảng 640 người lính VNCH đang lau chùi võ khí cá nhân, hay coi lại trang bị của họ. Họ xếp từng toán 10 người để nhanh chóng lên máy bay khi trực thăng tới.

Ở Đà Nẳng, trung tá Lavoy, phi đội trưởng của HMM-364, danh hiệu truyền tin Yankee Kilo Six, kiểm tra máy truyền tin với 18 chiếc trực thăng còn lại, và 5 chiếc gunship của Lục quân. Kiểm soát Mặt đất của Đà Nẳng cho phép họ ra phi đạo và sau đó họ được phép cất cánh bay về Quảng Ngải bởi Kiểm soát Không lưu.

Các H-34 bay theo đội hình mỗi nhóm 4 chiếc, và hai chiếc H-34 lo về cấp cứu bay cuối cùng – hai chiếc này do thiếu tá John Braddon và chuẩn úy Denis Mckee chỉ huy.

Năm chiếc gunship cũng hướng về thị xã Quảng Ngải.

2/ CHUẨN BỊ ĐỔ QUÂN.

Thời tiết hôm đó rất đẹp với trần mây và tầm nhìn ko hạn chế, viết tắt là CAVU. Ngay khi tới Quảng Ngải, 18 chiếc H-34 và 5 chiếc gunship đổ xăng. Một thuyết trình chi tiết được tiến hành tại đây với các phi công của máy bay H-34 TQLC, máy bay UH-1 Lục quân, các chỉ huy của VN, và của hai máy bay H-34 VNCH—2 chiếc này sẽ tham dự vào đoạn cuối của chuyến bay. Đại tá Robert Merchant sẽ chỉ huy cuộc hành quân SHUFLY có nhiệm vụ tìm và diệt này. Ngay sau buổi thuyết trình, các lính của đợt đổ quân đầu tiên sẽ lên 18 chiếc H-34 (gồm 16 của TQLC Mỹ và hai của VNCH).

Ngay khi tới bãi đổ, có tên là Đỗ Xá, họ thấy khu vực rất hiểm trở, chỉ có 1 bãi đáp hay LZ, xem hình, đủ chỗ cho 18 chiếc H-34 xuống 1 lượt.

Do Xa LZ from Capt. Woodmansee's Cockpit

ẢNH bãi đáp chụp từ xa, từ phòng lái của đại úy Woodmansee. Ảnh dưới là cận ảnh của bãi đáp.

Bãi đáp này, trừ mặt phía tây là bằng phẳng, ba mặt còn lại là núi cao, với nhiều hang động trên vách đá. Gió mạnh thổi từ phía nam, khiến trực thăng phải bay từ phía bắc để đổ quân. Chiếc L-19 bay vòng vòng trên cao, có lẽ cao hơn 2.500 bộ. Ở độ cao 5.000 bộ hay cao hơn, là 1 chiếc Helio Courier STOL, xem hình, của CIA, trên đó có đại tá Merchant và một ĐT lục quân, có lẽ là ĐT Sullivan, cố vấn trưởng của QĐ 1. (Theo báo New York Times, thời điểm xảy ra trận này, TL của QĐ 2 là tướng Đỗ cao Trí, tham mưu trưởng là ĐT Nguyễn văn Hiếu. Hai người từng làm việc rất ăn ý. Đầu năm 1971, Tướng Trí, TL của QĐ 3, tử nạn, khi chuẩn bị thế tướng Lãm để chỉ huy hành quân Lam Sơn 719, còn tướng Hiếu tử nạn ngày 8/4/75 vì tai nạn “súng cướp cò”. Cả hai đều ra đi trong tiếc thương của toàn quân và toàn dân VNCH – ND).

 

Ảnh của chiếc Helio Courier: Nổi tiếng vì có thể cất cánh và vọt lên từ 1 phi đạo dài 30 tới 61 mét.

3/ BÃI ĐÁP NÓNG

 Đại úy Woodmansee, sau này là trung tướng, kể lại: “Bốn gunship của tôi chia làm hai toán: 2 chiếc bay phía trước, 1 chiếc bên phải và 1 chiếc bên trái của máy bay của tôi. (Máy bay trực thăng hay khu trục cơ, luôn luôn bay từng cặp, để bảo vệ lẫn nhau: một chiếc bay phía trước, gọi là lead, một chiếc bay phía sau gọi là wing-- ND). Các chiếc H-34 bay phía sau tôi. Chúng tôi bay rất nhanh với đội hình chữ V ngược, với cao độ thấp. Hai chiếc gun lo hướng 6 giờ và mặt bắc của bãi đáp. Hai chiếc còn lại lo mặt phải hay mặt nam và hướng 12 giờ của bãi đáp.

Tôi bay phía sau để quan sát. Nếu gunship nào bị dưới đất bắn lên, xạ thủ của chiếc đó phải ném lựu đạn khói. Chiếc trực thăng bay phía sau, sẽ bắn vào nơi khói xuất phát”.

“Trong pass đầu tiên, bay thấp ở khoảng 100 bộ, bốn gunship đều ném lựu đạn khói ở 2 bên của máy bay. Tôi có thể thấy đạn vạch đường hay đạn tracer của VC đan chéo từ 2 bên của thung lũng (trong 1 dây đạn, cứ 5 viên thì có 1 viên tracer). Cũng lúc đó, đạn của VC bắn từ sườn đồi hai bên, ko phải từ bãi đáp. Tôi gọi ngay Yankee Kilo Six hay trung tá LaVoy và yêu cầu ông hủy bỏ việc tiếp cận bãi đáp, để chúng tôi khống chế hỏa lực đối phương. Máy bay ông liền bốc cao, ngoài tầm đạn của kẻ thù. Chúng tôi bắt đầu tác xạ chung quanh bãi đáp bằng rocket và đại liên. Trong lần bay từ tây sang đông, tôi bị bắn bằng đại liên 50 hay 12.7 ly từ bên phải.  Một loạt đạn tracer bay dưới máy bay của tôi khoảng 10 bộ trong ít nhứt 10 giây.  Một chiếc gun thấy khẩu này và bắn trả bằng rocket và đại liên.

Trong 1 lần bay gần ngọn đồi ở phía nam bãi đáp, trực thăng chúng tôi đã bị một đại liên của vc nổ súng bất ngờ với khoảng cách rất gần. Người xạ thủ của tôi đã bắn 1 băng đạn từ súng M-14, xem hình, để câm họng nó”.

Ảnh của súng trường M-14.

4/ 12.7 LY CỦA VC BỊ CÂM HỌNG BỞI GUNSHIP

“Chúng tôi sắp hết đạn và tôi hỏi tiền sát viên không quân hay FAC liệu y có thể hướng dẫn Skyraider vào các mục tiêu. Y trả lời L-19 bay quá cao nên ko thể thấy gì và yêu cầu tôi có thể đánh dấu mục tiêu. Tôi ko thể tin vào điều mình vừa nghe và mấy phút sau mới định thần. Khi lấy lại điềm tỉnh (composure), tôi bắt đầu bay từ nam lên bắc, bay rất thấp ngang sống núi (ridge) phía nam, dưới vị trí đặt súng ở phía bắc mà tôi sắp đánh dấu. Tôi bay nhanh ngang vị trí súng và xạ thủ bên phải ném ngay lựu đạn khói vào vị trí. Đó là một khẩu đại liên 12.7 ly với thiết bị nhắm, như trên các tàu thời đệ nhị thế chiến. Lính VC mặc đồ ngụy trang và đội nón cối.

Có những đường mương hay giao thông hào dẫn lên các hang động trên núi. Chúng tôi chỉ cách VC khoảng 25 bộ. Khi xạ thủ bên phải của tôi ném lựu đạn khói, bọn Việt Cộng đang trèo lên khỏi mương, và một tên đang xoay khẩu đại liên 12,7 ly về phía chúng tôi nổ súng. Tôi liền gọi thiếu úy Bert Coalson, chỉ huy 2 chiếc gun, ở cách tôi 1.000 bộ và hướng 6 giờ.

Bốn khẩu súng M-60 từ 2 chiếc gun này, có khả năng hạ nòng 60 độ, xoay 12 độ vào phía trong và xoay 45 độ ra phía ngoài. Bert chỉ cần cho máy bay hạ xuống cao độ 1000 bộ để các đại liên M-60 bắn chung quanh mục tiêu, tức lựu đạn khói. VC sẽ khó ẩn nấp trong giao thông hào khi trực thăng ở ngay trên đầu của họ. Vị trí súng này đã câm họng từ lúc đó”.

5/ SKYRAIDER TRÚNG ĐẠN PHẢI ĐÁP KHẨN CẤP

“Khi chiếc Skyraider tấn công đối phương, nó ko thể đánh trúng khẩu 12.7 ly đặt trên một gò đất nhỏ (hillock), nhô ra từ sống núi phía bắc vào thung lũng. Sau vài lần lao xuống ở góc 40 độ, chiếc Skyraider đã trúng đạn từ bờ nam của thung lũng và bỏ đi với khói đen bốc cuồn cuộn (billow) từ động cơ Wright B-3350 có sức mạnh 2.700 mã lực.”

Thiếu tá Braddon, bay trên chiếc H-34 tìm kiếm và cấp cứu SAR, khi thấy chiếc Skyraider bốc khói rời mục tiêu để đi Quảng Ngải, đã bay theo. Ông thấy chiếc này trên 1 phi đạo ko tráng nhựa của một trại LLĐB. Phi công đã ko thể hạ bánh đáp. Y đã đập mặt vào bảng điều khiển khiến mặt bị thương tích. Braddon đã chở y đến Quảng ngải và trở lại Đỗ Xá.

Ảnh: Chiếc AH-1 bị hư nặng.

6/ GUNSHIP BAY VỀ QUẢNG NGẢI ĐỂ TIẾP ĐẠN

Chuyện kể của Dragon Six tiếp tục như sau: “Trung tá LaVoy, theo lịnh của ĐT Merchant bay ở phía trên, yêu cầu tôi cho đổ quân. Tôi báo cáo rằng các gun đã bắn hết đạn, nên phải về Quảng Ngải để tiếp đạn. Tôi gợi ý rằng nên để các Skyraider của VN tấn công mục tiêu trước khi tôi trở lại. Tôi nói thêm, chúng ta nên kiếm bãi đáp khác. Vì chúng tôi sẽ bay vào 1 ổ phục kích nếu dùng bãi đáp lần nữa, (tôi đã nói điều này với vị tỉnh trưởng). Tôi không tin rằng chúng tôi đã gây được thiệt hại đáng kể cho kẻ thù sau đợt tấn công vừa rồi.

“Trong khi chúng tôi nạp đạn và tiếp xăng ở Quảng Ngãi, tôi được biết có 1 sai lầm (screw up) chết người đang xảy ra ở khoảng 30 dặm phía tây của khu vực chúng tôi. Các chiếc trực thăng đã đổ quân xuống bãi đáp trước khi các chiếc gun tới. Và các chiếc này đã bắn lầm vào lính VNCH ở bãi đáp.

7/ TIỀN SÁT VIÊN VÔ TÍCH SỰ

“Trung tá LaVoy quyết định (theo lịnh của ĐT Merchant) rằng chúng tôi phải trở lại Đỗ Xá và đến bãi đáp chỉ định. Trong khi hướng về khu vực đổ quân, tôi cố gắng gọi tiền sát viên của không quân hay FAC để đưa các Skyraider khả dụng vào bãi đáp này, nhưng tôi rất bất mãn (chagrin) khi nghe FAC đầu tiên đã trở về Đà Nẳng để “nghỉ ngơi”. Y nói đã bay từ 6 g sáng, khoảng thời gian chúng tôi cất cánh, và ko thể bay thêm. Viên FAC mới thì ko biết gì về khu vực hành quân, cũng như ko biết gì về tình hình bạn và địch, lẽ ra phải được truyền đạt từ FAC cũ; tóm lại y là kẻ vô tích sự (worthless). Tôi tức giận và áp huyết lại tăng.”

8/ MỌI THỨ ĐỀU BÙNG NỔ, MỘT H-34 RƠI

“Khi chúng tôi sắp tới bãi đáp, trung tá LaVoy ra lịnh các gunship phải bắt đầu trấn áp bãi đáp trước khi các UH-34 đổ quân. Với các UH-34 bay phía sau, chúng tôi rải đạn như mưa xuống (rake) bãi đáp và đột nhiên mọi thứ đều bùng nổ (all hell broke loose). Chúng tôi đều nổ súng. Tất cả các xạ thủ trực thăng H-34 đều nhả đạn trong khi binh lính QLVNCH nhảy xuống từ các chiếc này và nhanh chóng chạy ra khỏi khu vực kế bên để tìm chỗ ẩn nấp”. Ở toán thứ ba của H-34 (mỗi lần chỉ xuống 4 chiếc vì bãi đáp hay LZ ko an toàn), chiếc đầu tiên bị rớt, do đại úy Cunningham lái. Có lẽ khẩu đại liên ở vị trí móng ngựa trên bìa rừng phía bắc nhìn xuống bãi đáp là thủ phạm”.

9/ MỘT CHIẾC H-34 KHÁC PHẢI ĐÁP XUỐNG TIỀN ĐỒN GẦN ĐÓ

Thiếu tá Albert Allen đang dẫn đầu toán thứ tư (cũng gồm 4 chiếc H-34), hôm sau kể lại.

“Có vẻ đại úy Cunningham và tôi bị trúng đạn cùng lúc. Y đang đưa máy bay lên cao, để né tránh các cây to đã chết khô và tôi cũng chuẩn bị đáp xuống. Do bị phân tâm bởi các đường đạn bay xuyên qua máy bay, tôi ko để ý máy bay của Cunningham đang trước mặt tôi. Khi nhìn về phía trước lần nữa, tôi thấy rõ ràng là y đang rơi xuống. Tôi đang lao thẳng về đúng vị trí mà y sẽ rơi vào. Ba chiếc còn lại đều ra khỏi vùng. Tôi cất cánh ngay khi lính tráng rời máy bay. Cơ phi cho biết máy bay của tôi trúng nhiều phát bên trái với đạn vào chỗ thấp nhưng ra ở chỗ cao. Một viên đã làm hư động cư servo chánh, xem hình, khiến dầu thủy lực văng khắp nơi. (Động cơ servo là loại động cơ có hộp số gắn liền ko thể tách rời – ND).

Cơ phi cũng xác định được rằng một thanh của giá đỡ chuyển tiếp chính đã bị đứt lìa. Tôi biết rằng tôi phải tìm chỗ đáp để xem xét lại máy bay. Khoảng 1 dặm cách bãi đáp, tôi thấy một bãi cát nhỏ ven sông nên định đáp xuống. Nhưng khi bay gần tới thì bị bắn nên ko đáp. Tôi còn nhớ, lúc trên đường tới bãi đáp, tôi đã thấy một tiền đồn VNCH, nên quyết định đáp xuống đó. Chẳng bao lâu, máy bay sửa chữa của chuẩn úy McKee tới. Sau khi thợ máy kiểm tra máy móc, y nói với tôi, nếu là y, y sẽ lái chiếc này tới Quảng Ngải. Nhưng sau đó y đổi ý. Ngày hôm sau, máy bay được sửa chữa.  

Ảnh trên: chiếc H-34 của thiếu tá Albert Allen đáp xuống sông, ảnh dưới, sau khi được câu lên bờ.

HU-34 Dries Out After Stream Landing

 

10/ BRADDON ĐÁP XUỐNG CỨU CUNNINGHAM

Trở lại Đỗ Xá, chuyện kể (narrative) của Dragon Six, ám danh của đại úy Woodmansee, chỉ huy của 4 chiếc gun tiếp tục: “Chỉ 1 lát sau khi chiếc trực thăng của Cunningham bị rơi, thiếu tá Braddon, đang bay phía trên, cho biết ông sẽ đáp xuống. Ông đã làm điều này ko một phút do dự. Ông ấy được huấn luyện để phản ứng, chứ không phải suy nghĩ. Ông giảm ga, thả cần điều khiển và bắt đầu để máy bay hạ xuống về phía chiếc UH-34 bị bắn rơi. Tôi, tức Woodmansee, bảo John nói với xạ thủ bên trái rằng gunship của tôi sẽ bay lơ lửng ở vị trí 7 giờ của anh ấy và dặn xạ thủ không được bắn vào tôi. Tôi đặt trực thăng của mình giữa John và vị trí súng máy VC ở quả đồi hình móng ngựa. Chúng tôi bắn vài quả rocket vào những tán cây phía trên vị trí đó để tạo ra những vụ nổ trên không (airburst), và nả đạn vào khu vực này trong khi John kiên nhẫn chờ đợi để phi hành đoàn lên máy bay. Sau đó, tôi nghe thấy John Braddon gọi, "Dragon Six, Yankee Kilo (trung tá LaVoy) đang đến", tôi quay lại theo anh ấy và bắn phía dưới anh ấy khi anh ấy đang bay lên. Bốn máy bay UH-1 của tôi yểm trợ cho John ở cả hai bên sườn trái và phải và chúng tôi thoát ra mà không hề hấn gì, nhưng John báo cáo rằng anh ấy đã trúng vài phát đạn, một số là đạn cỡ lớn, nhưng không ai bị thương. Đó là một phép lạ.

Bộ phận làm mát dầu máy của trực thăng của đại úy Cunningham đã bị phá hủy bởi đạn của vc. Điều này có lẽ xảy ra trong lúc máy bay vào bãi đáp nhưng, giờ đây đó là một máy bay hư hỏng nặng với khói bốc lên từ buồng máy và tất cả dầu đã cạn hết trong 1 thời gian ngắn.

11/ BRADDON ĐƯA PHI HÀNH ĐOÀN CUNNINGHAM ĐẾN NƠI AN TOÀN

Chuyện kể của thiếu tá Braddon tiếp tục: “Máy bay tôi trúng nhiều đạn. Khi tôi rời vùng với phi hành đoàn của Cunningham, tôi nhận thấy một số bộ phận điện không hoạt động và có những âm thanh khủng khiếp phát ra từ khoang động cơ. Chúng tôi rời khỏi khu vực theo cùng hướng với những chiếc máy bay không chở người, nhưng vì quá nặng nên chúng tôi không thể vượt qua ngọn đồi thẳng phía trước. Tôi quyết định bay vòng quanh một mỏm đất nhô ra khu vực hạ cánh và men theo lòng suối. Trên mỏm đất đó có rất nhiều lính Việt Cộng và chúng tôi được chứng kiến ​​một cảnh tượng ngoạn mục của những tia lửa từ nòng súng, suốt dọc đường đi. Chúng tôi đáp xuống 1 bãi đáp của VNCH khoảng giữa đường tới Quảng Ngải để kiểm tra kỹ lưỡng mức độ của thiệt hại của máy bay. Tôi nhận thấy một viên đạn 12.7 ly đã bắn trúng hộp đấu nối vách ngăn (firewall junction box), làm điện bị trục trặc. Một viên 12.7 ly khác đã tạo một lổ trong hệ thống thoát khí. Cuối cùng tôi quyết định rằng ngoài hư hỏng về điện và hệ thống thoát khí, máy bay của tôi vẫn còn mạnh, hệ thống truyền động và máy móc truyền tin còn tốt, nên có thể tiếp tục nhiệm vụ”.  

Sau khi hoàn tất đợt đổ quân đầu tiên, trừ 2 chiếc chở quân và chiếc của Braddon, số máy bay còn lại trở về Quảng Ngải để tiếp xăng, nạp đạn và chở quân. Ngay khi tới Quảng Ngải, thêm vài chiếc UH-34 ko thể bay tiếp.

12/ BÃI ĐÁP NÓNG VÌ BỘ BINH KHÔNG BẢO VỆ

Phần kể chuyện của Woodmansee tiếp tục:

“Khi trở lại bãi đáp hay LZ vào buổi chiều, chúng tôi không bắn vào LZ này vì có lính VN ở đó. Thay vào đó, để bảo vệ các H-34 bay vào LZ, chúng tôi bay ở độ cao 1.000 bộ với 2 gunship ở hướng 9 giờ của LZ và 2 chiếc ở hướng 3 giờ của LZ. Ngay trước khi các chiếc H-34 dẫn đầu thả trái khói, họ bị bắn trả dữ dội. Ngoài những vị trí mà tôi biết trước, nay có 1 vị trí mới ở chu vi phía bắc của LZ. Chúng tôi lại giao tranh ác liệt không kém gì đợt đụng độ mà tốp trực thăng UH-34 đầu tiên đã gặp phải khi đổ quân xuống LZ. Thật khó hiểu khi phải hứng chịu hỏa lực dữ dội như vậy ngay lúc quân ta đang có mặt tại khu vực, chẳng khác gì tình cảnh 45 phút trước đó khi chưa hề có quân ta ở đây. Nhớ lại sự việc bi thảm vừa xảy ra cách đó 30 dặm về phía tây, có lúc tôi đã nghĩ liệu có phải chúng tôi đang vướng vào một vụ "bắn nhầm" giữa phe ta với nhau hay không. Tuy nhiên, suy nghĩ đó nhanh chóng bị gạt bỏ, bởi lẽ chúng tôi đang bị bắn xối xả từ ngay trong LZ và buộc phải nổ súng đáp trả”.

“Cuối cùng tôi nhận ra rằng đợt lính bộ binh đầu tiên xuống LZ, đã chạy nhanh lên sống núi ở cạnh bắc của LZ. Nhưng họ ko để ai ở lại để bảo vệ LZ. Điều này đã cho phép VC đưa súng máy đến chu vi phía bắc của LZ. Do đó rất nhiều máy bay bị trúng đạn, kể cả gunship. Tuy vậy các phi công can đảm của H-34 vẫn đổ quân đợt hai và sau đó bay về thị xã. Trên đường đi, chúng tôi thấy Thiếu tá John Braddon quay lại nhập vào đội hình. Tôi nghe thấy Yankee Kilo Six hỏi liệu ông có thể tiếp tục bay được không. John báo cáo tình trạng hư hại cho sếp nhưng khẳng định rằng mình vẫn "sẵn sàng tiếp tục".

Tại Quảng Ngải: một số máy bay hư nặng, có chiếc phải đáp xuống suối. Phi đội trở lại Đỗ Xá lần này với 5 chiếc gun, khoảng 9 chiếc H-34 của TQLC, 2 chiếc H-34 của VN, và 2 chiếc cấp cứu hay SAR.

13/ BÃI ĐÁP ĐÃ BỚT NÓNG

Lần đổ quân thứ ba này gặp hỏa lực của VC yếu hơn. Một số chiếc trúng đạn, nhưng ko bị rơi hay ko ai bị thương, nếu có, cũng nhẹ.

Thiếu tá Braddon nhớ lại: “Woodmansee ra lịnh bắn rocket vào các vị trí súng bên trong và chung quanh của LZ, và để một tiền sát viên ở dưới đất để chỉnh pháo cũng như chỉ rõ vị trí để gunship trả đủa bằng từng chùm hỏa tiển 2.75-inch EFAR.

Ảnh: Rocket 2.75-in trên trực thăng Cobra. Được bắn từng chùm (salvo). Ảnh dưới: 4 rocket 2.75-in kế cận một phi đạn AGM-114 Hellfire.

 

14/ MỘT H-34 VNCH BỊ BẮN RƠI

Trong đợt đổ quân thứ 4 và cuối cùng, 1 chiếc UH-34 của VN bị trúng đạn và rơi, khiến thiếu tá Braddon phải xuống cứu phi hành đoàn (giờ đây trên LZ có 2 chiếc H-34).

ẢNH: nhìn kỹ sẽ thấy 2 chiếc H-34 bị rơi trên LZ.

Thiếu tá Braddon kể lại: “Các chiếc H-34 này trang bị đại liên M-1919, xem hình dưới, thay vì M-60 trên H-34 của TQLC Mỹ. (Đây là đại liên 30 hay 7.62 ly, giải nhiệt bằng không khí, dùng rất nhiều ở VN, trước khi thay thế bởi M-60 nhẹ hơn rất nhiều, vào khoảng năm 1968 -- ND). Phi hành đoàn VNCH đã tháo khẩu đại liên 30 chuyển qua máy bay tôi. Mỗi lần họ bắn, họ làm mũ bay tung lên (bounce) trên đầu tôi.

Ảnh đại liên 30 trên trực thăng H-34.

Thiếu tá Braddon kể: “Khi cứu chiếc H-34 của Cunningham, máy bay chúng tôi rất nặng khi rời vùng. Chiếc máy bay cứu hộ hay SAR của tôi đã có 2 pilot, 1 cơ trưởng, 1 xạ thủ, 2 thợ máy, nay lại thêm 4 người của Cunningham và 1 thùng đồ nghề và phụ tùng nặng 500 cân Anh.

Vào lúc cuối của đợt đổ quân thứ 4, hỏa lực VC đã bị triệt tiêu tại khu vực phụ cận của LZ. Cuối cùng lính vnch đã làm chủ LZ. Phi đội đã bay đến Quảng Ngải để bốc các phi hành đoàn thất nghiệp (vì máy bay đã hư hỏng) để đưa họ về Đà nẳng.

15/ BRADDON BẢO VỆ H-34 TẢI THƯƠNG

Khi được biết vài phi vụ H-34 tải thương của VNCH tại vùng Đỗ Xá, thiếu tá Braddon đề nghị dùng gunship UH-1 để yểm trợ. Khi tới LZ, hai chiếc này đều bị trục trặc nên đáp xuống. Woodmansee đã đến bắt tay Braddon vì sự dũng cảm của Braddon. (Vì H-34 hỏa lực yếu và bay chậm hơn gunship – ND).

Braddon và Dragon Six hộ tống các chiếc tải thương tới Quảng Ngải, dù trời đã tối.

Braddon nói: “Chúng tôi đổ xăng cho chiếc Dog (H-34) đầy lổ đạn của tôi, với hệ thống điện hư nặng và động cơ kêu như máy đập lúa (thresh) và, với gunship của Jack là wing của tôi, bay trở về Đà Nẳng. Tôi bay dọc bờ biển, phòng lái với đèn chớp tắt liên tục báo hiệu máy móc trục trặc, và hy vọng chiếc H-34 đầy thương tích về tới nhà. Tất cả chúng tôi trở về Đà Nẳng lúc trời tối.

16/ BÃI ĐÁP ĐÃ AN TOÀN

Tối hôm đó, trung tá LaVoy cho biết phi đội H-34 sẽ phải đến LZ cũ vào sáng sớm ngày mai. Tôi báo cáo tôi cần trời sáng tỏ để xem xét kỹ lưỡng những hư hỏng mà gunship đã bị do trúng đạn. Tôi nói, sau khi làm tiền-phi trong 2 g, các gunship sẽ đến Quảng ngải lúc 1000. Các H-34 đã đến đó trước và chờ tôi. TĐ 52 không vận, mà tôi thống thuộc, đề nghị cung cấp gunship khác để yểm trợ cho các H-34, nhưng bên H-34 trả lời họ thích hành quân với gunship chúng tôi”.

“Ngày kế chúng tôi lên đường với 4 chiếc UH-1. Ngay khi tới LZ, chúng tôi vui lòng khi thấy lính VNCH từng rời LZ đêm trước, nay đã lục soát LZ và VC đã trở lại núi. Ngày đó chúng tôi ko gặp kẻ thù.”

Nhận xét của nhiều TQLC có mặt tại Đỗ Xá: Họ đã ca ngợi đại úy Woodmansee, chỉ huy các chiếc gun đã phục vụ hết mình, đặc biệt ngày 27/4/64.

17/ TÔNG TÍCH CỦA PHI CÔNG VNCH DỰ TRẬN ĐỖ XÁ:

Trung úy Phạm văn Hòa đã tiếp tục chiến đấu đến khi chiến tranh kết thúc. Một tuần trước khi SG sụp đổ, ông Hòa đã đưa vợ và 4 con vào khoang hàng của 1 C-130 bay ra khỏi nước. Con trai ông, tên Quang, giờ đây chủ một dot-com ở Newport Beach, lúc đó 10 tuổi. Các con gái lúc đó lần lượt là 11, 6, và 2.

Trong khi gia đình ông sống chen chúc ở các trại tị nạn ở Philippines, Guam, Fort Chafee bang Arkansas, Hòa đã ở lại để dự trận chiến vô ích và cuối cùng này, và nhanh chóng bị bắt và gửi đến 1 trại cải tạo. Ông đã trải qua 12 năm trong những vùng nông thôn khắc nghiệt của bắc VN, lao động khổ sai và đói khát mỗi ngày. Và được cai tù liên tục nhắc lại các tội ác của đế quốc Mỹ.

Cuối cùng, năm 1987, Hòa được thả và sống với mẹ vợ ở SG trong khi chờ thủ tục đi Mỹ. Trong 5 năm, ông thường xuyên bị theo dỏi và ko được phép làm việc.

Khi ông đến California, các con ông đã lớn, học vấn đàng hoàng và thành đạt. Con trai ông, Quang X., nay là một phi công trực thăng TQLC Mỹ, đóng tại Tustin. Quang đã lập một website để tưởng niệm người cha quá cố ở: www.phamvanhoa.com.

Chuyển ngữ từ: Do Xa Troop Insert by the Purple Foxes of HMM-364 đăng ngày 15 tháng 5 2004.

San Jose ngày 18/8/2026, cập nhật ngày 25/8.

Tài Trần

 

 

Wednesday, October 29, 2025

 

TRONG THÁNG 11/1964, KHOẢNG 7 NGÀN NGƯỜI CHẾT VÌ BẢO LỤT TẠI VIỆT NAM.

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong tháng 11 1964, xuất hiện liên tục của 3 cơn bão lớn gồm Iris, Joan, và Kate--đã gây lụt lội rộng lớn tại Việt Nam. Ba cơn bão này đã đổ xuống đất liền tại Nam Việt Nam trong thời gian 12 ngày. Nơi nặng nhứt là các tỉnh miền trung của Nam Việt Nam khi bão tiến vào bờ (ashore). Khoảng 7 NGÀN người đã chết và hơn 1 TRIỆU người phải di dời do hơn 20.000 km vuông bị ngập lụt. Khoảng 54.000 nhà bị phá hủy.

Bão Iris, Joan, và Kate đã lần lượt đổ bộ vào bờ biển Việt Nam vào ngày 4, ngày 8, và 16 tháng 11. Joan là cơn bão tàn phá nhứt. Phần lớn thương vong đã xảy ra tại tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín. Mưa nhiều đã khiến nước sông tràn bờ, hủy hoại nhiều làng mạc và gây rất nhiều thương vong. Tổn thất nặng nề lại còn gia tăng (sustain) do chưa thu hoạch mùa lúa tại miền trung Việt Nam. Các viên chức Mỹ - Việt đã nhận định thiên tai này đã gây thiệt hại cho các nỗ lực chiến tranh của họ hơn cả Việt Cộng. Một nỗ lực cứu trợ gồm nhiều nước tham dự bắt đầu ngay sau khi bão dứt, đã gặp nhiều thách thức trong việc phân phối lương thực, chỗ ở, và vật phẩm y tế trong một khu vực đang có chiến tranh.



BỐI CẢNH VÀ TÓM TẮT

Mùa bão lớn (typhoon) năm 1964  được các cơ quan khí tượng ghi nhận là mùa bão lụt mạnh nhứt ở Thái Bình Dương. Theo tạp chí Mariners Weather Log, sáu cơn lốc xoáy (cyclone) đã thành hình ở tây Thái bình Dương trong tháng 11/1964, mà bốn cơn biến thành bão lớn; điều này tượng trưng cho hoạt động bão nhiệt đới cao một cách không bình thường của tháng này. Trước đó trong năm, Việt Nam đã bị ba cơn bão lớn khác gồm Tilda, Winnie, và Violet, cùng với Iris, Joan, và Kate trong tháng 11, tổng cộng thành 6 bão lớn tàn phá đất nước này giữa vĩ tuyến 11 và 22 bắc trong năm 1964. 

Bão Iris, Joan, và Kate đã đổ bộ vào Việt Nam trong 12 ngày của tháng 11. Cơn bão Iris, đã phát triển từ áp thấp (disturbance) nhiệt đới phía đông của Samar thuộc Philippines từ ngày 31/10 theo Cơ quan Khí tượng Nhật (JMA). Các đài quan sát đã phát hiện hệ thống này, đặt tên là Iris, khi nó hướng về Biển Nam Trung Hoa vào đầu tháng 11. Vào ngày 4 tháng 10, cơn bão Iris đã mạnh lên thành một cơn bão cấp thấp (low-end) với sức gió duy trì tối đa trong một phút là 120 km giờ theo ước tính của Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC), ngay trước khi đổ bộ vào miền Nam Việt Nam gần Qui Nhơn. Bão đã nhanh chóng yếu đi khi đi qua vùng đất hiểm trở của Đông Nam Á, và tiêu tan trên đất liền vào ngày 5 tháng 11. 

Cũng như Iris, bão Joan có thể đã bắt đầu phát triển phía đông của Philippines vào ngày 4/11 theo dữ liệu của JMA. Hệ thống này đã di chuyển về phía tây vào Biển Nam Trung Hoa hay Biển Dông, và ngày 6/11 các tàu bè báo cáo một cơn bão nhiệt đới xuất hiện với gió 75 km giờ. Hệ thống này, với tên Joan, trở thành bão lớn vào 8/11 và đạt tốc độ 130 km giờ  trước khi đổ bộ vào bắc của Nha Trang cùng ngày. Mưa lớn đã xuất hiện tại Việt Nam trước khi Joan đổ bộ. Joan đã nhanh chóng yếu đi trong đất liền, dù tàn dư (remnant) của nó vẫn còn ở Vịnh Thái Lan thêm 5 ngày. 

Bão Kate đã hình thành ở Biển Đông vào giữa tháng 11 và biến thành bão nhiệt đới vào ngày 13/11. Lúc đầu nó di chuyển khó đoán (erratic), đảo ngược và chuyển hướng vài lần trước khi theo hướng tây-tây bắc vào ngày 15/11. Kate đã thành bão lớn vào cuối ngày và đổ vào bờ biển Việt Nam gần Nha Trang ngày 16/11, sức gió ước lượng khoảng 120 km giờ trước khi đổ vào đất liền.

ẢNH HƯỞNG VÀ HẬU QUẢ

BẢY NGÀN NGƯỜI CHẾT và hơn 1 triệu người mất nhà cửa bởi ba con bão này tại các tỉnh miền trung của nam Việt Nam. Những ước lượng ban đầu cho thấy số người mất nhà cửa từ 800 ngàn đến 1 triệu hai người. Khoảng 1.000 mi li mét nước mưa đổ xuống trong 10 ngày đầu của tháng 11. Một vài khu vực ghi nhận mưa liên tiếp trong 15 ngày. Hơn 20 ngàn km vuông đất, có chiều dài 320 km, đã bị ngập lụt. Trận lụt khủng khiếp (deluge) này, là tàn phá nhứt trong ít nhứt là 6 thập niên, đã xóa sạch (obliterate) nhiều xã ấp tại các thung lũng miền núi và đồng bằng ven biển và quét sạch mùa thu hoạch lúa ở miền trung Việt Nam. Một số khu vực đã mất hoàn toàn hoa màu. Tuy nhiên nhiều khu vực đã giảm thiểu tổn thất nhờ gặt lúa trước khi bão lũ. Nhiều khu vực trồng lúa đã ngâm trong nước lũ cao 6 mét. Hàng ngàn trâu bò đã chết đuối, đóng góp phần lớn trong tổn thất về gia súc tại Quảng Nam và ba tỉnh khác, một vài khu vực đã mất 80 phần 100 gia súc.

Ước lượng có 90 phần trăm nhà cửa khắp 3 tỉnh bị thiệt hại. Báo chí miền Nam Việt nam ước lượng 54 ngàn căn nhà bị phá hủy. Ở tỉnh Quảng Tín có 14 ngàn căn nhà bị phá hủy và khoảng 1 ngàn 400 căn nhà bị phá hủy và 36 ngàn căn nhà bị hư hại tại Quảng Nam. Dọc theo bờ biển, nhiều tàu bè của lực lượng tuần duyên của Việt Nam Cộng Hòa bị phá hủy hay hư hại. Hãng thông tấn UPI đã mô tả đó là "thiên tai tệ hại nhứt trong lịch sử Nam Việt nam". Quy mô của bão đã làm gián đoạn Cuộc chiến Việt Nam khi lực lượng tham chiến của 2 bên đều tham gia cứu trợ. Giới chức quân sự Mỹ và Việt Nam đã báo cáo rằng lũ lụt đã gây cho họ thiệt hại nhiều hơn Việt cộng đã làm từ 1954. Một cố vấn quân sự Mỹ nói rằng lũ lụt "đã tàn phá hệ thống truyền tin của Mỹ nhiều hơn hàng ngàn tấn thuốc nổ mà Việt Cộng có thể làm." Nước lũ đã phá cầu cống và làm tê liệt (hamstring) vận chuyển bằng đường sắt và đường bộ của liên quân Việt Mỹ. Gần 320 km đường sắt, dọc quốc lộ 1, bị cuốn trôi. Một cầu nối Đà Nẳng và bán đảo nơi có căn cứ của sư đoàn 2 Việt nam Cộng hòa bị cuốn trôi. Các doanh trại và kho tiếp tế của liên quân Việt- mỹ bị hư hại bởi bão. Để so sánh, tình báo Mỹ đã tin rằng quân cộng sản bắc việt đã bị thiệt hại ít hơn; giới quân sự nam Việt Nam tin rằng các kho chứa dưới đất và kho súng đạn được dùng bởi quân du kích đã bị lũ lụt làm hư hại, có khả nằng làm trì hoãn một đợt tấn công mùa đông ít nhứt là 2 tháng. 

Qui Nhơn cho biết thiệt hại nặng do bão lụt. Khoảng 3 ngàn căn nhà tại thành phố này bởi bão Iris. Gió đã làm tốc mái nhiều nhà và mưa lớn kéo dài vài ngày. Doanh trại của đại đội 117 không vận Mỹ đã bị hư hại bởi bão, đã khiến binh sĩ phải tìm chỗ núp ở các kiến trúc bằng bê-tông. Các điều kiện bất lợi do cơn bão Iris gây ra đã làm gián đoạn các hoạt động cứu trợ lũ lụt, vốn được khởi xướng để ứng phó với các cơn bão vào đầu năm, khiến các chuyến bay của Thủy quân Lục chiến Mỹ không thực hiện được ngoài các trường hợp tải thương khẩn cấp. Bão Joan còn tàn phá hơn Iris và ảnh hưởng những khu vực tương tự. Qui Nhơn lần nữa trở thành trung tâm của tàn phá, và ngập từ 6 đến 9 tấc nước sau khi bão Joan đi qua. Mọi đường giao thông tới thành phố bị hư hại nặng. Có tin những làng gần đó nước cao tới mái nhà, khiến những nhà lợp tranh bị sụp đổ. Một số nhà tranh bị vướng ở ngọn cây cao 10 mét. Ở căn cứ của đại đội 117 không vận, nước ngập từ 1.2 tới 1.5 mét. Hãng tin Reuters mô tả trận lụt ở Quảng Ngãi, nơi mà ít nhứt 1 ngàn người chết, là "trận lụt tệ hại nhứt trong nhiều năm." Sáu làng ven sông trong tỉnh Quảng Nam đã bị xé nát (be rent asunder) bởi nước sông dâng cao, khiến khoảng 2 ngàn người chết; và ít nhứt 2.500 người chết khắp tỉnh. Làng Giang Hòa đã bị hủy diệt do sạt lở làm chết 400 người của 480 cư dân làng. Có ít nhứt 2.600 thương vong, theo ông Bert Fraleigh, phó giám đốc của tổ chức USOM tại Việt Nam. Trước bão Kate, mọi trường học khu vực Sài Gòn đều đóng cửa. Không quân Mỹ di tản các oanh tạc và chiến đấu cơ khỏi căn cứ Tân Sơn Nhứt. Dù được tiên đoán Kate gây ngập lụt đáng kể cho khu vực Sài Gòn, con bão này đã gây thiệt hại ít hơn dự đoán.

                

Từ 5 đến 10 ngàn người di tản đến Tuy Hòa. 

Di tản bằng trực thăng trong lúc lũ lụt được chánh yếu đảm nhận bởi đại đội 119 trực thăng tấn công. Mười tám trực thăng đã chở 854 người đến Cheo Reo trong số 210 chuyến bay trước khi bão. Có lúc, thời tiết xấu khiến trực thăng phải quay lui; các chuyến bay đã gặp hỏa lực của du kích Việt Cộng và trần mây khoảng 90 mét. Hai trực thăng bị trúng đạn khiến 2 bị thương. Đại đội này đã chở 6.350 kí gạo tới những cộng đồng cô lập như 1 phần của cố gắng cứu trợ hỗn hợp Việt Mỹ tại tỉnh Phú Bổn. Một thông báo của chánh phủ nam Việt Nam kêu gọi cứu trợ từ "nhân dân của thế giới tự do" với lý do "tình liên đới quốc gia không đủ để đáp ứng nhu cầu lớn lao của 1 dân tộc bị ảnh hưởng nặng nề bởi bão lụt." Mẫu hạm USS Princeton đã chở 600 tấn tiếp tế cho Qui Nhơn. Ước lượng 500 đến 750 ngàn người cần cứu trợ lương thực, tương đương 45 đến 65 ngàn tấn gạo làm giải pháp tạm thời (stopgap) trước khi có vụ mùa kế. Không quân Mỹ cũng gửi cứu trợ khẩn cấp tới 45.000 người trong khu vực Đà Nẳng. Đồ cứu trợ mang đến từ Okinawa và Philippines.

Sự thiếu hụt lương thực sau lũ lụt đã dẫn đến xung đột về hàng cứu trợ, bao gồm 1 sự kiện khi quân du kích phục kích 1 kho tiếp liệu của Mỹ tại Quảng Ngãi. Đài Hà Nội cáo buộc các lực lượng Việt Mỹ tấn công các cộng đồng bị bão lụt trong khi báo chí Mỹ cáo buộc ngược lại. Lịnh giới nghiêm ban bố tại 6 tỉnh của nam Việt Nam ảnh hưởng bởi bão lụt nhằm cản trở các hoạt động quân sự của Việt Cộng.

Chủ tịch Hồ chí Minh của bắc Việt Nam hứa cung cấp 9 ngàn tấn tiếp liệu y khoa, 18 ngàn tấn gạo, và 1 triệu tám mét vải cho những ai bị ảnh hưởng bởi bão lụt, sẽ được phân phối bởi Việt Cộng và Hồng Thập Tự Quốc Tế. Hồng Thập Tự Mỹ giúp đỡ 15 ngàn đô về lương thực, thuốc men, và chỗ ở. Canada và Anh quốc cung cấp mền và quần áo trong nỗ lực cứu trợ này trong khi chánh phủ New Zealand giúp đỡ 10 ngàn bảng Anh cho nam Việt Nam. Một toán chuyên viên về hậu cần và y tế được lập theo lịnh của tướng Westmoreland của MAC-V. Các thuốc chủng về bịnh dịch (plague), thương hàn, sốt Rickettsia (typhus) được gửi tới miền trung để ngăn ngừa dịch họa. Một số trường hợp dịch tả được ghi nhận trong khu vực bão lụt. 

Thủ tướng Trần văn Hương của nam Việt Nam, phó thủ tướng Nguyễn xuân Oánh, và bộ trưởng xã hội Đàm Sỹ Hiến, và đại sứ Mỹ Maxwell Taylor đã dùng trực thăng để thị sát khu vực bão lụt./.

Dịch từ bài: November 1964 Vietnam floods trên wikipedia. 

San Jose ngày 30/10/2025.

Tài Trần