Showing posts with label tỉnh tây ninh. Show all posts
Showing posts with label tỉnh tây ninh. Show all posts

Monday, September 4, 2023

 

Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh

LTS: Được sự khuyến khích của bằng hữu, chúng tôi xin phép mạo muội ghi lại đôi dòng chiến sự, mà người viết hân hạnh được tham dự trong những ngày cuối tàn cuộc chiến. Người viết, không có tham vọng gì cả, ngoài mục đích muốn vinh danh lực lượng Đia Phương Quân & Nghĩa quân tiểu khu Tây Ninh nói riêng và chiến sĩ QLVNCH nói chung. Vẫn kính mong quí đọc giả xem đây là một nén hương muộn màng, đốt lên tưởng niệm các anh linh đã vị quốc vong thân vì Tổ quốc VNCH thân yêu.

Vào đầu năm 1975, tỉnh lỵ Phước Long, một lần nữa, lại thất thủ về tay Cộng quân. Sau đó, các mặt trận Miền Đông rất yên tĩnh. Yên tĩnh một cách lạ thường tựa hồ như ‘ Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh’ trong Đệ nhị Thế chiến . Đặc biệt vùng Ngũ long ( Tây Ninh) tiếp giáp biên giới Campuchia về hướng Tây Nam, lại càng yên tĩnh hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm chiến trường đã dạy cho chúng ta biết rằng một khi tình hình êm dịu, lắng đọng thì chắc chắn sẽ có một cuộc Tổng công kích lớn diễn ra.

Sơ lược tình hình quân bạn trú phòng. Từ Gò Dầu Hạ ( Quận Hiếu Thiện cũ), đi trên Quốc lộ 1 về hướng Nam Vang 9 cây số, gặp ĐĐ 2/339/ Đ P( tiểu khu Tây Ninh ) đồn trú cách về biên giới Việt- Miên khoảng 1 cây số. Do Tr/uy V.V.L làm Đ.Đ.T. bên kia biên giới Miên -Việt , cũng cách về biên giới độ 1 Km, có một ĐĐ lính Miên ( Cộng Hòa Lolnol ). Chạy dọc sâu vào trong 3 Km có ĐĐ 4/339/ Đ.P đồn trú tại Rừng Dầu ( Tiên Thuận) , do Th/uy N.G.K làm Đ.Đ.T và chúng tôi XHH- Đ.Đ.P. Phía giữa là Long Phi có Đ.Đ 1/339/ Đ.P đồn trú , Tr/uy- N.V.Q làm Đ.Đ.T. Kế bên là B.C.H Tiểu đoàn đồn trú , do Th/ t - N.M.M làm T.Đ.T( K- 23/ SQTBTĐ- đã hy sinh trong trại cải tạo Bắc Việt). Trú đóng trong cùng Long Giang là Đ.Đ 3/339/ Đ.P, do Tr/uy - L.N. H làm Đ.Đ.T( K- 25/ SQTBTĐ - đã tuẫn tiết ngày 14 tháng 3 năm 1975). Tất cả các Delta lớn nầy, đóng cách về biêngiới Việt- Miên trên- dưới 1 Km, làm thành một hành lang an ninh bảo vệ sông Vàm cỏ Đông. Có lần tên Văn tiến Dũng gọi nơi đây là hành lang máu. Ngoài ra, còn có một số Đống Đa nhỏ cấp trung đội không đáng kể.

Đầu tháng 3 năm 1975, chúng tôi và Tr/uy - V.V.L- Đ.Đ.T/ Đ.Đ2/ Đ.P có gặp một vị Th/t ( Phòng 7/ T.T.M) tại đồn Chợ Trời. Ông ta cho biết vào giờ G..........,ngày N........, Cộng quân sẽ tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P cấp Trung đoàn bộ binh, đồng thời có thêm một Tiểu đoàn Pháo đủ loại, Tiểu đoàn Phòng không và vài chục chiếc tăng hỗ trợ. Ông ta từ Saì Gòn lên đây, quan sát địa hình thực tế và xem lại tình hình quân bạn trú phòng để thẩm định lại lần cuối, liệu rằng vùng Bến Cầu nầy có chịu đựng nổi cuộc tấn công vũ bão của Cộng quân sắp thực hiện hay không? Hầu mau chóng tìm biện pháp tiếp ứng. Vì chúng ta biết rõ ràng, nếu Bến Cầu mất, thì dọc theo hành lang nầy có Đức Hoà- Đức Huệ cũng phải mất luôn. Tạo áp lực nặng uy hiếp Sài Gòn và Quốc lộ 4. Nhìn nét mặt lo âu của vị Th/t ( P.7 T.T.M ) , làm cho chúng tôi nghĩ rằng, đây là nguồn tin tình báo có thể khả tin được. Vội vã trở về đơn vị để chỉnh đốn Đ.Đ và chờ đợi. Ông ta còn cho biết thêm, lực lượng địch quân tấn công lần nầy là một trong ba Công trường ( 5,7, và 9). Những Công trường ( Sư đoàn ) nầy là lực lượng chính qui Chủ lực Miền, thuộc Miền Đông Nam Bộ. Bọn chúng từng chuốc lấy thảm bại ê chề tại chiến trường ‘ An Lộc ’ năm xưa ( 1972). Chúng tôi đã đọ sức với bọn nầy vài lần, nhận xét, chúng chẳng có gì đáng ngại.

Ngày11 tháng 3 năm 1975, khoảng 8 giờ sáng, các toán tiền đồn báo cáo về Đ.Đ cho biết: Sinh hoạt trong Xã-Ấp hôm nay rất khác thường, chợ búa, trường học, chùa chiền và đồng án..........v.v đều ngưng hoạt động. Nhận thấy hiện tượng lạ, chúng tôi liền ban lệnh báo động đồng thời quan sát những điểm khả nghi xung quanh Delta. Quả thật, chúng tôi phát hiện địch quân mới vừa đào công sự chiến đấu ( chưa hoàn tất ), vội vã cắm lá ngụy trang lên trên, nằm trong rừng chồi thuộc hướng tây Nam của Delta và cách Delta khoảng 200 mét . Sau khi liên lạc, biết rõ không có đơn vị bạn hoạt động trong vùng trắch nhiệm mình. Chúng tôi liền ban lệnh hành quân. Th/uy N.G.K-Đ.Đ.T, là một Sĩ quan đặc biệt, lớn tuổi, gan dạ, già
giặn kinh nghiệm, dẫn một toán 10 binh sĩ cũng gan dạ không kém, ra ngoài cửa Delta nằm chờ đợi. Ông ta đã ra lệnh cho chúng tôi : ‘ Hãy bắn khoảng 100 quả đạn cối 60 ly kể cả 81 ly ( ngoài cấp số) vào vị trí tình nghi’. Sau khi thi hành đúng lệnh trên, Th/uy - K dẫn toán binh sĩ nhào lên xung phong đánh cận chiến bằng lựu đạn. Kết quả đạt được, địch bỏ xác tại trận 13 tên, một tên chạy thoát được. Phe ta vô sự. Tịch thu được một số vũ khí cá nhân và 2 khẩu Cộng đồng : một cối 82 ly ( bị hư hại bởi đạn pháo ta, không xài được ), một khẩu Phòng không 12 ly 7 và một máy vô tuyến P.R.C - 25, địch lấy của ta trước đây ( cả hai thứ nầy còn xài tốt ). Đơn vị đang tưng bừng náo nhiệt về chiến lợi phẩm vừa tịch thu được thì bỗng nhiên bên ngoài Delta pháo địch ầm ĩ rơi xuống, không nhiều lắm, chỉ vài chục quả đạn pháo đủ loại. Thật ra, bọn chúng đang điều chỉnh tác xạ Pháo binh. Liên lạc với các đơn vị bạn trong cùng T.Đ, các nơi ấy vẫn lắng dịu, chưa có chuyện gì xãy ra. Chúng tôi rất ngỡ ngàng lẫn lo ngại, không biết Cộng quân định đánh chiến thuật gì? Mà giờ nầy, có một toán Việt cộng nhỏ đã vào và bị đánh bại, chết sát bên Delta lớn.

Trung tuần tháng 3 năm 1975, C.S.B.V mở màn chiến dịch ‘Tây nguyên’ bằng cách đánh chiếm Thị xã Ban mê Thuột. Thì tại nơi đây, rạng sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975, vùng Bến Cầu thuộc Tiểu khu Tây Ninh, Cộng quân ồ ạt tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P chúng tôi với cấp độ Trung đoàn trở lên, có Pháo binh, Phòng không, và xe tăng yểm trợ.

Mở đầu cuộc chiến, Cộng quân xử dụng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ, hòng chụp tinh thần chiến đấu của ta. Thú thật, lần đầu tiên đụng phải thứ nầy, chúng tôi hơi bối rối, vì sức công phá mãnh liệt của nó. Nhưng sau đó lấy lại bình tĩnh,điều chỉnh Phở bắc dập tắt được nó. Tiếp theo đó, một đợt mưa pháo đủ loại trút xuống trong- ngoài Delta chúng tôi. Đồng loạt các đơn vị bạn cũng bị pháo tương tự như thế. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ hứng chịu đủ loại đạn pháo địch gồm: Hỏa tiễn 122 ly, hỏa tiễn 107 ly, cối 81 ly & 82 ly, cối 61 ly & 60 ly, và B 40 & B 41. Địch quân bắt đầu xung phong biển người, nhưng mọi đợt xung phong của bọn chúng điều bị quân ta bẻ gãy, đập tan. Kết quả sơ khởi, địch bỏ xác bên ngoài chiến hào, đếm được hơn 30 tên, phe ta bị thương nhẹ vài người, còn tác chiến được. Giờ đây, biết được, Cộng quân đang dùng chiến thuật cổ điển ‘ Tiền pháo hậu xung’ ( C.S dùng biển người). Chúng tôi vô cùng e ngại. Bởi lẽ, chiến thuật ấy đã từng làm đảo lộn các chiến trường. Mà lịch sử cận đại đã chúng minh được điều đó. Cũng chính chiến thuật ‘ Tiền pháo hậu xung ‘ nầy, mà ngày hôm qua ( ngày 11 tháng 3 năm 1975 ), chúng tôi đã gặt hái được kết quả bất ngờ. Chiến thuật ấy, luôn luôn được đưa lên hàng đầu binh thư của Thế giới. Nhận rõ, tầm mức vô cùng lợi hại cuả chiến thuật đó. Th/uy - K- Đ.Đ.T và chúng tôi phân chia nhiệm vụ rõ ràng, hợp đồng tác chiến cho hữu hiệu hơn. Ông ta đảm trách tần số nội bộ và chỉ huy tổng quát bên trong. Còn chúng tôi trách nhiệm Không-Pháo yểm. Không để chậm trễ, liên lạc ngay với ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ đồng thời xin số nhà các tiệm Phở bắc trong vùng. Thông qua Đ/uy - T Sĩ quan Không yểm cho bộ binh đóng tại B.C.H.T.K.T.N. Chúng tôi có được tần số Không - Lục, liên lạc trực tiếp với Không quân bạn bay bao vùng. Mặt khác, lệnh cho khui hầm tiếp liệu dự phòng ra xài khi hữu sự gồm; lương khô, gạo sấy, thịt hộp, bao cát, đạn dược, lựu đạn...........v.v. Phân phát cho binh sĩ, đặc biệt mỗi người lính phải có 3 thùng lựu đạn kế bên hầm chiến đấu, và cũng không quên ra lệnh tất cả lựu đạn phải tháo bỏ chốt an toàn phụ, cùng nấp đậy cho từng quả. Các công tác đó đang thực hiện chưa xong thì khoảng 4 giờ 30 chiều cùng ngày, địch quân tiếp tục pháo kích đợt 2, địch pháo nhiều hơn và lâu hơn ban sáng, sau gần 2 giờ pháo đủ loại, địch ồ ạt xung phong biển người, nhưng đợt nầy, quân ta chận đứng dễ dàng bằng hỏa lực cơ hữu đã chuẩn bị sẳn, đồng thời chúng tôi liên lạc trực tiếp với pháo binh diện địa đóng tại Bến kéo ( Cẩm Giang ) bắn qua, gây cho chúng thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Địch bỏ xác bên ngoài chiến hào khoảng 40 tên. Vào lúc nầy, các đơn vị bạn cũng bị áp lực tương tự, chúng tôi phân biệt rõ tiếng đạn nổ của ta lẫn của địch ầm ĩ vang vội cả bầu trời. Xuyên qua hệ thống máy vô tuyến, được biết, Đ.Đ 2/339/ Đ.P tại đồn ChợTrời bị áp lực địch rất là nặng, nhưng họ đã bắn cháy 2 chiếc xe tăng địch, nằm bất động sát bên ngoài Delta. Sau đó, họ còn phải dang tay ra đón nhận một số đơn vị bạn tá túc, đó là lính Cộng hòa Miên, đã bị tràn ngập tự bao giờ.

Ngày chiến đấu đầu tiên, được Phở bắc nấu đầy đủ, làm ấm lòng các chiến sĩ, quân ta vẫn ghìm tay súng chờ đợi. Một đêm yên tĩnh trôi qua, đoán biết đợt ba, địch quân sẽ tấn công vào lúc 6 hay 7 giờ sáng, nên 5 giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm 1975 cho lệnh tu bổ lại bờ thành, cùng các chiến hào bị hư hại hôm qua bởi đạn Sơn pháo 85 ly của địch, đồng thời tái phối trí kế hoạch phòng thủ cho chặt chẽ hơn. Để tránh cho phòng tuyến không bị vỡ, chúng tôi cho xen kẽ lính B.C.H.Đ.Đ cùng với lính ở trung đội tác chiến. Vừa hoàn tất công việc đó, thì 6 giờ 30 sáng, một lần nữa, địch quân chào mừng quân ta cũng bằng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ hàng loạt. Từ xa vọng lại, nghe rõ tiếng nổ ì đùng ở các đơn vị bạn. Như vậy, rõ ràng, đó là hiệu lệnh tấn công của địch. Chúng tôi nhanh chóng phản pháo địch bằng súng cối cơ hữu và Đại liên 50 (ngoài cấp số) cùng 12 ly 7 lấy được của địch. Giống như hôm qua, địch quân bắt đầu pháo kích dữ dội vào Delta chúng tôi, và hôm nay, địch pháo tương đối chính xác hơn, có lẽ địch đã bố trí xong trận địa. Qua tần số nội bộ, nghe báo cáo, hiện tại Đ.Đ 1/ 339/ Đ.P ở Long Phi và B.C.H.T.Đ ở Long Khánh đang bị tấn công bằng chiến xa. Biết tình thế ngày càng căng thẳng, chúng tôi liền cầu cứu Pháo binh Sư đoàn 25 B.B đóng tại căn cứ Trà Vỏ bắn cản chiến xa địch, có một vài chiếc đang từ từ tiến về hướng Delta chúng tôi. Trong khi ấy, ngoài trời Chim Sắt ta cũng chuẩn bị tham chiến gồm: Oanh tạc cơ Phản lực A- 37, Trực thăng võ trang và L - 19 quan sát. Cộng quân đáp lễ bằng những tràng phòng không đủ loại, mà chúng bố trí vội vàng, ( có một số ít Phòng không địch di động ), để tạo thành một hàng rào lửa, ngăn chận phi cơ yểm trợ. Vào lúc nầy, Cộng quân tăng cường thêm pháo 105 ly, từ bên Miên bắn vào, cũng vào giờ nầy pháo ta, pháo địch hỗn độn, rất khó phân biệt, cường độ pháo, mỗi lúc càng ác liệt, và địch đã pháo không ngừng nghỉ suốt hơn 4 tiếng đồng hồ. Nhìn về hướng biên giới xa xăm, nghe văng vẳng tiếng Depart 105 ly của địch, nhưng vì trên đất bạn, pháo binh ta và phi cơ không thể phản pháo, bây giờ chuyện đó là chuyện nhỏ, chúng tôi cần nỗ lực nhiều hơn, ngoan cường hơn, để đối phó với những đợt xung phong biển người. Chợt nghe tiếng la xung phong inh ỏi bên ngoài Delta, đồng thời pháo địch dịu dần . Những con thiêu thân từ từ ập tới từng cơn, tựa như những con sóng vỗ. Không thể để cho địch tiến gần, hỏa lực cơ hữu chống trả mãnh liệt và Phở bắc 2 nơi nấu đầy đủ. Dĩ nhiên, địch thất bại não nề như hôm qua. Bây giờ, chúng tôi không còn thiết tha đếm xác địch, cảnh tượng thật ghê rợn, xác người tan nát văng tứ tung, chỉ ước lượng mức xung phong mà báo cáo tổn thất địch. Cả hai bên cùng mệt mỏi, nghỉ giải lao, nghỉ ngơi chưa được 3 tiếng, thì 4 giờ chiều cùng ngày, cộng quân tiếp tục pháo kích nữa.

Trong khi mặt trận Bến Cầu đến hồi gay cấn, thì bên kia sông Vàm cỏ Đông, quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Tiếp giáp Dầu Tiếng ( Bình Dương ), Cộng quân bất thần mở đợt tấn công qui mô vào 2 Tiểu đoàn bạn là T.Đ 312/ Đ.P và T.Đ313/ Đ.P, hiện đồn trú tại các trọng điểm : Bến Củi, Suối Ông Hùng, Bào Đồn, Truông Mít. Vì vậy, pháo binh ta bắt buộc phải quay súng sang hướng đó để yểm trợ cho đơn vị bạn. Thế là chiều nay không có ai‘ âu yếm’ chúng ta. Nhưng lạ thay! Áp lực địch giờ đây, dường như giảm nhẹ dần, có lẽ địch tiêu hao nhiều, chờ bổ sung, tiếp tế. Nửa khuya đêm 13 rạng 14, Th/uy K- Đ.Đ.T cho chúng tôi biết tin buồn. Đ.Đ 1/339/ Đ.P đóng ở Long Phi và Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở Long Khánh đã di tản chiến thuật, hơi thất vọng, như để xác minh lời anh ta vừa nói, chúng tôi liền gọi:
* Thanh Thế đây Nguyên Linh, Thanh Thế đây Nguyên Linh.
* Thủy Tinh đây Nguyên Linh, Thủy Tinh đây Nguyên Linh. Tất cả máy vô tuyến đều im lặng,( im lặng giống như sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975).

Sau khi hai đơn vị đó di tản, vô tình đã bỏ ngỏ trống trải cạnh sườn Tây Nam Delta của chúng tôi, qua quan sát thấy rõ, chiến xa địch gồm: Thiết vận xa M-113( địch lấy của ta từ trước), T- 54, P.T- 76, chia thành hai mũi tiến quân. Một, chúng hướng về Long Giang, nơi có Đ.Đ3/339/ Đ.P còn trấn thủ. Hai, chúng hướng về Delta quân ta. Chúng tôi liền gọi về ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ xin phi cơ lên vùng ngay.

Yêu cầu vừa xong, bỗng pháo địch từ xa nhiều hướng dội về. Đã quen rồi, chúng tôi không hề nao núng. Địch không áp dụng chiến thuật ‘ Nhị thức tùng Thiết’ ( Bộ binh - Thiết giáp), mà chỉ ở đằng xa khoảng 400 mét bắn đại bác 100 ly trực xạ vào Delta, với mụch đích làm cho bể bờ thành phòng thủ, hòng phá vỡ B.C.H.Đ.Đ. Nhưng hầm nầy rất kiên cố, sâu ở dưới đất 2 mét, và nổi lên trên mặt đất 2 mét rưỡi, phần trên nầy là vỉ sắt lẫn bao cát xen nhau, được xây dựng bởi Đ/uy - N năm 1972 ( ông đã hy sinh tại chiến trường Bào Đồn tháng 3/1975). Hiện giờ, trên bầu trời có 4 phi tuần A-37 lên vùng, bay gầm thét vang vội như trút cơn thịnh nộ xuống đoàn quân xâm lược. Dưới đất bên ngoài Delta, đủ các phương hướng, Phòng không địch bắt đầu gõ như Roulé trống, liên tục, đồng thời một hỏa lực pháo hùng hậu tiếp tục đổ xuống trong - ngoài Delta. Lúc nầy, súng cối cơ hữu bên trong hư hại cả, không xử dụng được khẩu nào. Nhưng bù lại, chúng tôi đã liên lạc được thêm một tiệm Phở bắc của Sư đoàn 25 B.B, đóng tại Suối Sâu - Suối Cục. Lát nữa đây, khi dứt pháo, bọn chúng xung phong biển người, thì phở bắc nhà ta sẽ luộc bọn chúng như luộc xương bò. Nghĩ như vậy, chúng tôi mở cờ trong bụng. Bỗng nhiên bên ngoài, nhìn lên bầu trời, chúng tôi thấy rõ1 chiếc L-19 quan sát bị bắn rơi lả tả, đang từ từ đáp xuống được, nhưng một vị SQ Pilot và một vị SQ cao cấp của ta bị bắt sống. Tiếp theo sau đó 20 phút, phe ta lại rớt thêm một chiếc trực thăng võ trang ( phi hành đoàn đoàn vô sự ). Như để trả mối hận đó, 4 chiếc A-37 gan lì, vượt vòng lửa đạn truy kích chiến xa và phòng không địch. Kết quả ghi nhận được, qua tần số Không- Lục, cua sắt bị rang muối 5 hay 6 chiếc, nằm lăn lóc cạnh bìa rừng. Chưa hả cơn giận dữ, A-37 tiếp tục lồng lộn trên bầu trời hung hiểm đó và bổ nhào xuống đánh tiếp Pass cuối cùng, trước khi vút lên cao, chúng tôi thấy rõ 3 ổ phòng không bị hất tung lên và tan xác. Tuy đang giao chiến, thỉnh thoảng chúng tôi qua tần số nội bộ để nghe ngóng tình hình bạn. Bây giờ, là 10 giờ 30 sáng ngày 14-3-1975, được biết Đ.Đ 3/ 339/ Đ.P của Tr/uy - H bị tràn ngập. Tràn ngập, một danh từ nghe‘ ướt át’, thế nhưng giới quân sự ít khi nào muốn nghe nhắc đến. Tr/uy- H rút ra ngoài Delta,, chúng tôi đã liên lạc được với ông ta. Chúng tôi có thỉnh cầu ông ta rằng ‘ Anh có thể rút về đây để phụ giúp chúng tôi’. Vì lẽ, chúng tôi sợ rằng với kiến thức quân sự hạn hẹp, không đủ khả năng điều động Không - Pháo yểm. Anh ta chỉ trả lời cho chúng tôi, chỉ vỏn vẹn có một câu: ‘ Tao đang bị bao vây, chắc không tới chổ mầy được’.( Tr/uy- H, Th/uy- K và chúng tôi rất thân thiết nhau, nên thường xưng hô với nhau bằng anh - em hơn là bằng cấp bực). Quay sang gọi Th/uy - T là Đ.Đ. P của Tr/uy - H, cũng không liên lạc được với T. Đột nhiên, nghe nhiều tiếng súng nhỏ vang lên trong máy truyền tin, và sau đó 2 tiếng nổ lớn ầm......ầm......tiếp theo. Sau nầy, được biết, đó là 2 quả lựu đạn do Tr/uy - H bung ra để tự sát cùng với Cộng quân. Thế là, coi như Đ.Đ3/ 339/ Đ.P tan hàng từ đó. ( Đ.Đ3 thiệt hại 70%). CQ và chúng tôi giao tranh suốt 7 tiếng đồng hồ, nhưng bọn chúng cứ tiếp tục xung phong như nhũng con thiêu thân. Có bằng chứng cho thấy CQ dùng thuốc kích thích như một loại trợ chiến để kích động lòng can đảm trong người. Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cường độ giảm dần và tắt hẳn. Vào lúc ấy, chúng tôi nhận được một tin buồn nữa, đó là Đ.Đ 2/ 339/ Đ.P đóng tại Chợ Trời cũng đã di tản lúc 4 giờ chiều. Cả 2 bên đều mệt mỏi, cần nghỉ ngơi. Hiện tại, coi như chúng tôi đang chiến đấu đơn độc, biết vậy, chúng tôi cố gắng nghiên cứu ‘ Sơ đồ hỏa tập’ và bản đồ thêm. Tìm những tọa độ khả nghi mà trong‘ Ước hiệu địa hình’ có nhắc đến, ghi chép ra sẳn sàng, để khi phi cơ lên vùng. Âm thoại viên chúng tôi có thể hướng dẫn dể dàng. Đang làm công tác đó, thì chú lính truyền tin chúng tôi đến kế bên khẽ bảo: Th/uy , Vẹm, nó mò được ‘ Đường lên thiên thai’ và kêu gọi chúng ta ‘ đầu hàng.’ Chúng tôi quay sang đánh thức Th/uy - K, báo cho biết điều đó, anh ta bật dậy như cái lò so, chụp lấy Combiné, khẩu chiến với CQ khoảng nửa tiếng. Sau đó, liền ra lệnh truyền tin lấy bộ K.Đ.C còn lại ra xài. Còn chúng tôi‘ lân la’ các tiệm Phở bắc và T.T.P.H.H.L báo cho họ biết, chúng tôi đổi số nhà mới.

Vừa xong những việc đó, thì khoảng 8 giờ đêm ( 14-3-1975 ), âm thoại viên tên Q đến gần, bảo nhỏ lần nữa: ‘ Th/uy , mình đã sang số nhà mới rồi, thế mà, nãy giờ có ai đó xưng là 63, gọi hoài, chưa xác minh được là ai? Em không dám trả lời. Đoán biết được, là ai? Chụp ống liên hợp, chúng tôi trả lời ngay:

- Nguyên Linh đang nghe Mặt Trời 63.

Ông ta mừng rỡ, vội đáp trả:

- Cho Qua gặp thẩm quyền của thằng Nguyên Linh.

Không do dự, chúng tôi cũng đáp lại ngay:
( Lúc nầy, Th/uy- K bị cơn đau bao tử hành hạ, vì vậy, mọi vấn đề đều do chúng tôi giải quyết).

- Trình Mặt Trời 63, dạ thưa: tôi đây.

Vẫn còn nhớ rõ câu hỏi đầu tiên của ông ta ( T.K.T Tiểu khu T.N ):

- Cấp bậc của mấy em ở dưới là gì? ( Ông ta đang bay C&C )

- Dạ chúng tôi là một mùa xuân hồng hà.

Ông ta khen ngợi:

- Các em làm ăn khá lắm, bầy giờ Qua nói vắn tắt với các em thế nầy nhé: ‘ Các em có giữ nổi Đống đa cho tới sáng ngày 17-3-1975 không? Lúc ấy, sẽ có 2 thằng 2 râu-9 nút lên bắt tay với các em.’

Chúng tôi chần chờ, không hứa hẹn đều đó. Và đã trả lời:

- Trình Mặt trời 63, như Mặt trời đã thấy, áp lực địch rất là nặng, trong khi vùng Bến Cầu bây giờ chỉ còn lại một mình Đ.Đ của chúng tôi. Điều mà Mặt trời yêu cầu, chắc không thể thỏa mãn.

Ông ta lại khẩn thiết yêu cầu:

- Qua lập lại một lần nữa: ‘ Nếu mấy em giữ nổi Delta đến sáng ngày 17-3-1975, thì mọi người ở trong Delta của em, Qua cho lên một cấp.

Để cho xong chuyện, chúng tôi hứa liều với ông ta:

- Trình Mặt Trời 63, chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện điều đó.

Sau đó ông ta bay đi khỏi, để lại bầu không khí cô đơn và lạnh lẽo.
Sáng ngày 15-3-1975, khoảng 7 giờ sáng, chưa thấy pháo địch rót vào, chúng tôi nhìn về hướng Đông , cách Delta gần 1 Km, thấy CQ đang xôn xao. Nhìn rõ hơn, được biết chúng đang bổ sung và bàn giao quân số. Như vậy, địch chuyển sang chiến thuật ‘Xa luân chiến’ , và cũng thấy quân xa địch, chạy từng đoàn đến để thay thế quân. Chúng tôi có gọi pháo binh bắn vào chổ đó, nhưng rất tiếc pháo binh trả lời rằng: ‘ Chúng ta không có đủ đạn để bắn như vậy, chỉ để dành khi các bạn bị tấn công’. Gọi Không quân, cũng trả lời giống như trên.

Trong 2 ngày 15 &16-3-1975, vì biết rõ quân ta tại vùng nầy đã di tản hết, nên CQ dồn tất cả hỏa lực hiện có của chúng, đánh một cú chót để tiêu diệt Delta. Chúng tôi đã chịu một cơn mưa pháo vô cùng kinh khiếp, kể cả Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ,kèm thêm chiến xa địch, vừa bắn Đại bác 100 ly ,vừa tiến. Bụi mịt mù, khói lửa, thuốc súng dầy đặc, không thấy ánh sáng để xem bản đồ, thậm chí phải dùng quạt để thở, vì thiếu không khí, không đủ tay chân để là những động tác đó. Có những lúc tưởng chừng như sụp đổ toàn diện. Còn nhớ rõ, vào giữa trưa ngày 16-3-1975, CQ tấn công biển người vũ bão, có lúc Pháo binh ta bắn không kịp , bởi vì địch quân chi phối hỏa lực của ta bằng cách tiến đánh quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Cho nên pháo binh phải quay hướng súng liên tục, để âu yếm cho nhiều đơn vị bạn bị tấn công cùng một lúc, và có những lúc Pháo binh ta yểm trợ tối đa, thì chúng tôi có thời giờ diệt tăng địch, có một chiếc M-113 liều lĩnh len lỏi đến gần Delta độ 70 mét, bị chúng tôi bắn cháy. Và cũng có những tình huống bi đát, là đương âu yếm thân thiết, chợt Phở bắc báo tin:’ Chúng tôi đang bị mưa rơi và bị thiệt hại, các bạn tự lo liệu lấy’. Gặp tình trạng nầy, chúng tôi qua tần số Không - Lục, nhờ Không quân đánh bom gần Đống Đa để uy hiếp tinh thần địch quân. Có vài lần, chúng tôi sắp bị tràn ngập, mà bất hạnh thay! Các tiệm Phở bắc đều bị mưa rơi nhiều, nên không thể yểm trợ cho quân ta được. Nhưng vì có tiên liệu trước, chuẩn bi lựu đạn đầy đủ, chúng tôi lệnh cho đánh bằng lựu đạn tối đa, nếu cần cũng cho binh sĩ đánh ngược lựu đạn vào trong Delta, bởi vì hiện có một vài tên CQ đã vào được bên trong Delta. Cuối cùng, chúng tôi đã trấn áp được nhiều đợt xung phong biển người của địch. Tuy nhiên, trước khi rút lui hoặc bị lính ta bắn chết CQ đã bắn được vài quả B- 40, B- 41 vào cửa hầm B.C.H.Đ.Đ. Sức nóng 3.000 độ Fahrenheit luồng vào bên trong, làm hư mắt vài thương binh, đã được chúng tôi cho mang lên đây để dưỡng thương. Cũng may, hầm hình chữ CHI ( Zigzag ), nên mãnh đạn không văng vào được. Chiến đấu lẻ loi đến lúc nầy, thật tình, chúng tôi vô cùng mệt mỏi. Trong Delta có 3 cái giếng, tất cả đều bị hư thúi bởi xác CQ, đạn dược đã cạn kiệt, không còn bao nhiêu, trong khi đó hầm tiếp liệu bị sập một lần nữa, và bắt đầu phát hỏa nhỏ, Antenna 292 và 7 đoạn, đều hư hại cả, chỉ xài Anten lá lúa, thời tiết xấu, chỉ nghe được 2 trên 5, rất là trở ngại cho việc điều động không - Pháo yểm. Thay vào đó, chúng tôi có 2 máy PRC-25. Một ở tần số Không - Lục ( lấy của địch ngày đầu ) và một cái nữa ở tần số giải tỏa, nên việc điều động cũng được nhanh nhẹn. Mang danh nghĩa là một Đ.Đ, nhưng quân số trong Delta đang tác chiến, khoảng nửa Đ.Đ. Căn cứ trên‘ Khả năng tham chiến’ lúc ban đầu là 99 người. Nhưng có một toán thám báo và hai trung đội tác chiến hoạt động tiền đồn bên ngoài Delta,( khoảng 54 người). Trong Delta chỉ còn lại 45 người, sau vài ngày chiến đấu,chết và bị thương nặng - nhẹ 9 người. Con số khả dụng được bây giờ, là 36 người. Thế mà CQ vẫn chưa làm gì được chúng ta. Thiết tưởng, điều đó đủ nói lên tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Q.L.V.N.C.H. _

Vào lúc nầy, 6 giờ 45 chiều ngày 16-3-1975, tất cả các loại đạn của ta và địch thi nhau nổ vang rền cả một bầu trời Tây Nam. Cũng bầu trời đó, rực lửa quân thù, được bắn lên bởi những khẩu Phòng không đủ loại, tạo thành một màng lửa đỏ, quyện vào nhau tựa như một tấm lưới đỏ đang hình thành. Quả thật, trực thăng võ trang không thể vào không phận nầy được, mà chỉ ở đằng xa bắn Rocket để yểm trợ cho A-37 đánh bom. Bất chợt, chúng tôi thấy một chiếc A-37 bị hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay S.A-7 bắn rơi ( sau nầy được biết vị đại úy đó đã hy sinh). Lòng chúng tôi nghe đau xót lẫn cảm phục. Nhờ những vị Phi công gan lì, anh dũng nầy, mà chúng tôi không bị đè bẹp nhiều lần bởi chiến xa địch. Cũng như, nhờ vào sự yểm trợ tận tình, nhanh nhẹn, chính xác, và thần kỳ của pháo binh ta, mà chúng tôi không bị tràn ngập nhiều lần.

Nhìn tương quan lực lượng đôi bên. Dĩ nhiên, chúng tôi không tài nào giữ được Delta thêm nữa. Thấy tình thế ngày càng nguy ngập, đành phải chọn giải pháp lui binh. Trên phương diện Chiến thuật & Chiến lược, thì tấn công lúc nào cũng chiếm được thế thượng phong và dễ dàng hơn. Còn phòng ngự hay lui binh thì sẽ gặp vô vàn khó khăn. Chúng tôi đang ở trong tình huống tồi tệ nhất. Đó là chuẩn bị lui binh, nhưng lui bằng cách nào, đó cũng là một vấn đề nan giải. Dù thế nào đi nữa, bắt buộc cũng phải mở đường máu, bằng cách. Lợi dụng trong lúc còn đánh nhau, nhờ Phở bắc, bắn dọn dẹp sạch sẽ phía cuối cánh A, tiếp giáp cánh C của Delta. Và sau khi pháo binh ta dứt tác xạ, chúng tôi liền dẫn một binh sĩ và một âm thoại viên tên Q xông ra ngoài trước, vừa bò, vừa đánh cận chiến bằng lựu đạn. Cuối cùng, chúng tôi đã ra ngoài được an toàn, kiểm lại quân số, bây giờ chỉ còn lại 22 người. Mặc dù đã di tản chiến thuật, nhưng T.Đ 339/ Đ.P ( T.K.T.N ) đã gây cho địch tổn thất nặng nề về nhân mạng. Theo sự phối kiểm của P-3 ( T.K.T.N ), lúc bay C&C chỉ huy và quan sát, chúng tôi ghi nhận được kết quả tổn thất địch như sau: 14 chiếc tăng đủ loại bị rang muối nằm ngổn ngang, hơn 20 ổ Phòng không lẫn Pháo binh địch bị tiêu diệt. Những thứ nầy, hầu hết do Không quân ta đánh và địch bỏlại tại chiến trường khoảng 450 tên. Đó là cái giá phải trả cho hành lang máu nầy. Về phía ta, Pháo binh thiệt hại không đáng kể. Không quân bị rơi 3 chiếc: 1-A-37, 1- L-19, và 1 trực thăng võ trang. Tiểu đoàn 339/ Đ.P thiệt hại 1 phần 3 quân số ( chết, bị thương nặng, bị bắt sống ).

Sau cùng, một lần nữa, thay mặt đơn vị cũ, chúng tôi trân trọng cám ơn các vị cựu SQ và binh sĩ Pháo binh Diện địa T.K.T.N, các vị cựu SQ và binh sĩ Tiểu đoàn 250 & 251 Pháo binh, thuộc Sư đoàn 25 B.B. Cùng toàn thể các vị cựu SQ Pilot anh hùng, thuộc Sư đoàn 3- K.Q ( Biên Hòa), Sư đoàn 5- K.Q ( Tân sơn nhứt ), đã yểm trợ cho chúng tôi tận tình trong những giờ phút ngút ngàn khói lửa.

HA HUU HOI @ ( C.S.V.S.Q/T.B/T.X – K.4/71 ) & H.O - 4 )


- Delta, Đống đa ( đồn bót )
- Số nhà ( Tần số liên lạc )
- Lân la ( Liên lạc )
- Phở bắc ( Pháo binh )
- Đường lên thiên thai ( Đặc lệnh truyền tin )
- Âu yếm thân thiết ( Yểm trợ tận tình )
- Mặt Trời 63 ( Danh hiệu truyền tin của Tiểu khu Trưởng T.K.T.N )
- Thủy tinh ( Danh hiệu truyền tin của B.C.H .T.Đ 339/ Đ.P )
- Thanh thế ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 1/ 339/ Đ. P )
- Nguyên linh ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 4/ 339/ Đ.P )
- Hai thằng 2 râu - 9 nút ( 2 Tiểu đoàn của Sư đoàn 18 B.B )
- Vẹm ( Việt cộng )
- Cua sắt ( Xe tăng )
- Chim sắt ( Phi cơ )
- T.T.P.H.H.L ( Trung tâm phối hợp hỏa lực )
- Mưa rơi ( Bị địch pháo)

( Vì lần đầu tiên, diễn tả cảm nghĩ của mình qua dạng hồi ký, chắc chắn, có nhiều thiếu sót đáng trách. Người viết, kính mong quí Huynh trưởng, quí Chiến hữu, và quí Độc giả niệm tình tha thứ, bỏ qua cho ).

Đa tạ

 

Tuesday, January 19, 2021

 

Tha-La 
một địa danh lịch sử 

***
An-Tiêm Mai Lý Cang
(Paris)

(Paris Xuân Nhâm-Thìn 2012)
Trên đường từ thành phố Hồ-Chí-Minh đi tới cửa khẩu Mộc-Bài theo quốc lộ 22A, qua khỏi khu công nghiệp hiện đại Trảng-Bàng là đến trung tâm thương mại chợ búa huyện lị. Từ chợ thị trấn Trảng-Bàng đi đến trụ sở công quyền của xã An-Hòa chừng một cây số, và cách đó thêm độ vài trăm thước nữa là gặp ngay nhà thờ họ đạo Tha-La nằm ở bên trái ven đường. Xóm đồng ruộng Tha-La tọa lạc trên ấp An-Hội cạnh khu công nghiệp An-Hòa và dòng sông Vàm-Cỏ-Đông nên thơ, nước biếc.


Sông Vàm Cỏ Đông

Nói cách khác, thì Tha-La nằm miền ven biên ở hướng Tây của thị trấn Trảng-Bàng hướng về khu Ba-Thu cạnh vùng biên thùy Mỏ-Vẹt, giáp giới tỉnh Xvay-Riêng của Cam-Pu-Chia. Cách đây hơn quá nửa chừng thế kỷ thì xóm vắng nầy cũng như ngay ở khu đất hoang vu Bình-Thạnh, cũng thuộc vùng địa lý Trảng-Bàng, dù là còn có chứng tích của một nền văn minh cổ là ngôi tháp Chàm đã rêu phong. Vậy mà đối với phần đông nhiều người ở miền Nam, thì đều được họ kể coi như là những địa phương hoàn toàn xa lạ chưa từng nghe biết. Ngay cả đối với những thành phần dân cư bản địa láng giềng cũng vậy. Lúc bấy giờ, ngay tại trung tâm thành phố Trảng-Bàng đã có nhiều người chỉ có từng được nghe nhắc tới cái tên của xóm Tha-La mà thôi, chứ họ chưa bao giờ có dịp để lê bước chân đến tận ở nơi nầy dù rằng từ đây đến đó cách xa nhau chỉ có bằng một đoạn đường ngắn. Lý do, vì lúc ấy nơi đây cảnh quang vắng vẻ đất rộng người thưa, chỉ có độ chừng vài chục nóc gia sinh sống yên lành hằng ngày với bàn tay cuốc bẫm cày bừa bên cạnh một ngôi giáo đường nho nhỏ. Ngược dòng thời gian, nếu khi xưa không có cuộc trường kỳ kháng chiến của toàn dân nổi lên chống lại bọn thực dân đô hộ, thì hình ảnh nên thơ của cục đất Tha-La chẳng khác nào như là những nét đan thanh của gấm vóc ruộng đồng ở các vùng lân cận thuộc huyện Trảng-Bàng. Toạ điểm nầy, từ năm 1868 khi xưa vốn là một trụ sở Ty Hành-Chánh được lập thành thuở dưới thời thuộc địa.

Đường vào bến nước Tha-La cách nay hằng thập niên về trước là một con đường đá đỏ quạch nằm ngay khoảng giữa hai ngôi chùa Phước-Lưu và Phước-Lâm, cạnh sân đá banh và đồng mả hoang vu kéo dài theo lộ trình đi tới bờ sông Vàm-Cỏ-Đông. Dạo ấy, hai bên đưòng người ta chỉ thấy có đồng ruộng ao bèo, trúc tre cao vút và lác đác từng những căn nhà mái tranh vách đất nghèo nàn. Tuy nhiên, không vì thế mà khách nhàn du không thể nào không khỏi cảm khái khi thấy lòng mình bị hòa mình vào trong cảnh vật thiên nhiên giữa bức họa đồng quê êm đềm đầy ấn tượng. Ngoài ra, người ta cũng còn có thể xuống thuyền mượn dòng kinh Gia-Lộc xuôi về cầu Quan để vào thăm đất Tha-La, để thưởng thức mùi vị của vùng có cây xanh trái ngọt và có dịp giao lưu thân thiết với dân cư sở tại vốn chơn chất, từ lâu có truyền thống hiếu khách, hiền hòa.

Suốt trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh, thì hình ảnh của cục đất Tha-La cũng đã được đi vào huyền thoại do một nguyên nhân vô tình tạo ra, và từ đó nó được xem như là một địa danh đặc biệt. Sự kiện nầy, giờ đây đã làm cho nhiều người từ ở khác miền thường hay lưu ý, và họ cố tìm hiểu về thổ ngơi, địa lý cũng như về lịch sử của vùng đất nầy. Và dẫu rằng, trước đây đã có những sách báo nói đến rất nhiều về sự hình thành trở nên địa danh đầy gợi cảm của xóm vắng Tha-La. Nhưng trên thực tế, thì hình ảnh của xóm vắng nầy cần phải được bổ sung thêm nhiều tài liệu loại trừ tính cách chủ quan, để xác thực làm cơ sở vốn có yếu tố khả năng thuyết phục. Do vậy, cho nên trước hết người ta cần phải nên khách quan để đưa ra những nhận định rằng chính rằng thổ âm là một giọng nói riêng quen thuộc của từng địa phương. Do đó, mà hễ khi người ta nghe thổ âm của hai địa phương ở cách xa nhau về địa lý, mà nếu họ có những tiếng nói nào giống in nhau, thì tức là họ đã có một sự liên hệ tương quan ràng buộc với nhau ít nhiều về chủng tộc. Sở dĩ, tôi phải gợi lại vấn đề nầy thêm một lần nữa là vì muốn để được nói rõ ràng, là vùng đất Tây-Ninh khi xưa có rất đông người Khmer cư ngụ, và có nhiều nơi cũng được họ gọi là Schla * mà người Việt mình nói trại ra là Thala. Do vậy, cho nên người ta có thể nói rằng là nguồn gốc của từ Tha-La ở Trảng-Bàng mà từ lâu đã được phổ biến trong dân gian, là được nói trại ra dựa theo âm điệu của từ Schla (ngôn ngữ Khmer). Hơn thế nữa, ngoài những cái tên Tha-La ở Tây-Ninh thì ở những vùng miền Tây-Nam phần còn có người Khmer cư ngụ bây giờ cũng có nhiều nơi hẻo lánh được gọi tên là Tha-La. Tuy nhiên, ngay cả ở cạnh Tây-Ninh là Bình-Dương cũng có ấp tên gọi Tha-La là nơi có thắng cảnh đập Lòng-Hồ, và một hòn núi nhỏ cũng có tên Tha-La nằm trong quần thể của núi Lấp-Vò mà người dân địa phương lâu đời từng quen gọi tên là núi Cậu.

Sau ngày thống nhất nước nhà, thỉnh thoảng tôi được về thăm lại mồ mả tổ tiên, bà con ruột rà, làng mạc quê cũ, thì lần nào tôi cũng có dịp nhìn thấy hình hài yêu mến Tha-La bây giờ không còn nguyên vẹn giống thuở nào. Ngày xưa, khoảng từ một thế hệ đời người thì mảnh đất bé nhỏ nầy vốn đã là vùng nông nghiệp có ruộng lúa xinh tươi, trái cây xanh mượt cam, quít, chuối, chanh. Và cũng không thiếu chi những nông sản phụ như nào là đậu phộng, mía, khoai mì, dưa cà, rau quả v.v cùng nhiều loài cỏ lạ, hoa cau, hoa bưởi hương thơm phảng phất, tỏa ra nhè nhẹ trong bầu không khí trong lành. Ngày nay, thế hệ trẻ sau nầy lớn lên đều có khuynh hướng ly nông, ly hương cho nên phần đông đã về thành phố sinh sống hoặc đi làm công nhân viên cho các khu công nghiệp trong thị trấn Trảng-Bàng. Còn thực tế bây giờ, thì nó đã bị từ từ lột xác, hoàn toàn đổi thịt thay da không còn thơ mộng được như xưa. Phố sá, quán hàng xinh xắn thay nhau mọc lên san sát kéo dài tới cạnh bờ sông Vàm-Cỏ-Đông. Ngoài những đồng ruộng, khoảnh vườn trồng trọt hoa màu còn sót lại, thì nhà cửa thi nhau xây cất, tiệm tùng nhậu nhẹt cũng được tân trang chào đón khách hàng, đặc biệt là món ăn heo mọi quay nướng hiện nay rất có sức hấp dẫn thực khách. Và những trò chơi hội chợ thỉnh thoảng được tổ chức vui nhộn, do nhóm người đồng tính luyến ái kéo nhau tụ tập về đây sinh sống. Nhìn trong tầm mắt ra tới bờ sông từ dưới chân cầu Quan bây giờ là một bãi đậu xe tải chuyển hàng, xe xúc đất làm đường hoạt động không ngừng bên cạnh khu công nghiệp An-Hòa mở rộng có công nhân làm việc ra vào tấp nập. Nói cách khác, hình ảnh sinh hoạt của Tha-La trên con đường hiện đại hóa bây giờ, đã làm cho nhiều du khách phải tỏ ra thất vọng với giấc mộng ngày nào mong sẽ có dịp đến thăm miền đất có "lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay". Và viếng ở ngôi nhà thờ, có những con chiên ngoan đạo nguyện cầu ơn thánh Chúa dưới bầu trời có "gió đùn quanh mây trắng".

Thời tiền chiến 1945, thì đất Tha-La vốn là một trục lộ nhỏ, là vùng địa lý đi vào ngõ cụt do bị dòng Vàm-Cỏ Đông án ngữ. Do vậy, người dân Tha-La may mắn có được rất nhiều yếu tố về địa lợi để hòa mình vào với thiên nhiên và sống một cuộc đời hạnh phúc, an bình. Hơn thế nữa, lúc bấy giờ thì nơi thôn trang vắng vẻ nầy duy nhất chỉ có một cái nhà thờ nhỏ, và chừng vài chục nóc gia có những tín đồ ngoan đạo hằng ngày thường xuyên đến nguyện cầu thọ ân phép lành của Đức Chúa. Họ đạo và nhà thờ Tha-La từ lâu đã có một bề dày lịch sử từ thuở thời ông Coximo Nguyễn-văn-Trí (nguyên là một chức vị cao trong họ đạo) cùng với vài gia đình con chiên ở từ Huế trốn vào Nam để lẩn tránh cuộc truy sát gắt gao của triều đình nhà Nguyễn dưới trước cả thời vua Tự-Đức ban hành sắc dụ 1859 lúc bấy giờ. Sau khi đến đất Tha La, tìm được nơi nương náu an toàn thì ông liền tổ chức khẩn hoang lập xóm, làm ruộng, trồng cây trái, hoa màu. Đồng thời, ông cũng lén lút truyền bá trong công tác hoằng pháp với những gia đình người lương ở láng giềng. Vì là người đầu tiên dấn thân có công gieo trồng hạt giống thiên thần Bác-Ái ở nơi nầy, cho nên về sau ông cùng với một số giáo dân đã phải chịu hi sinh tử vì đạo pháp vào năm 1869 trong ngục thất. Trước lúc bấy giờ, vì tình hình trong hoàn cảnh không gian phức tạp do thỉnh thoảng đã có xảy ra những cuộc xung đột lương giáo. Và cũng để cố che mắt triều đình qua sắc chỉ cấm đạo, cho nên hình thức của nhà thờ dạo ấy thường được ngụy trang dựng lên trong những căn nhà tranh vách đất có gia đình người ở quanh xóm nhỏ dưới chân cầu Bình-Thủy vùng Trường-Đà hoặc ở Vàm Trảng. Và do vậy mà từ trước năm 1840 thì các tín hữu nào muốn nhận được các phép bí tích, thì thường phải đi về tới Chợ-Quán (Sàigòn) hay lên tận Lái-Thiêu (Thủ-Dầu-Một). Về sau, do trục lộ giao thông có phần nào được dễ dàng quen thuộc, cho nên thỉnh thoảng mới có các Cha họ đạo khác đến làm phúc cho các giáo dân. Giờ đây, trải qua bao thế hệ thì con số tín đồ Thiên-Chúa ngày một tăng thêm và hình thể kiến trúc nhà thờ cũng đã được xây cất lại hoàn toàn thay đổi có khác với hình ảnh ngày xưa cảnh cũ. Và bây giờ, theo tổ chức của công giáo thì họ đạo Tha-La trực thuộc địa phận Phú-Cường, huyện Thủ-Dầu-Một, tỉnh lị Bình-Dương.

Tiền đề trên đây nếu chỉ có vậy thôi, thì Schla Trảng-Bàng nào có khác chi với những vùng Schla vắng vẻ quạnh hiu khác ở rải rác miền Tây Nam phần. Vậy nguyên nhân chính nào đã làm cho Tha-La Trảng-Bàng trở thành một địa danh bất hủ. Và dĩ nhiên, thì trước hết phần đông điều mà ai cũng biết đó là do chính nhờ có bài thơ " Tha-La Xóm Đạo" (1) nổi tiếng của thi sĩ Vũ-Anh-Khanh còn để lại sau khi tác giả qua đời. Cũng giống như trường hợp bài thơ tuyệt tác 'Màu Tím Hoa Sim" của thi sĩ Nguyễn-Hữu-Loan đã được phổ thành nhạc để đời. Nhưng bài thơ " Tha-La Xóm Đạo" của Vũ-Anh-Khanh thì thêm vào đó, nó còn có tác dụng hàm chứa ảnh hưởng trải ra bề rộng lớn hơn nhờ vào những yếu tố của nguyên nhân tế nhị khác. Ngoại lệ hi hữu đó, nay cũng lại là một dịp để làm cho người ta thường hay nhắc tới một tác phẩm văn chương rất ngắn khác sau nầy của tác giả Thích-Nhất-Hạnh là "Bông Hồng Cài Áo". Chỉ với nội dung cốt truyện chừng vài trang giấy, chuyên chở ý niệm tuyệt vời về tình yêu Mẹ, mà bây giờ nó đã có tác dụng được truyền bá sâu rộng vào trong ảnh hưởng phong tục của dân gian.

Trở lại thân thế của Vũ-Anh-Khanh và tư liệu về bài thơ nổi danh đặc biệt đó, thì hiện nay mọi sự việc đánh giá sưu khảo vẫn còn được coi như là đang ở trong tình trạng bỏ ngõ, để mong đón chờ mọi sự đóng góp ý kiến toàn bích bổ sung. Tuy nhiên, như mọi người đều biết về địa lý thì Tha-La cũng như các cục đất quanh vùng Trảng-Bàng đều giống in nhau, có nghĩa là nơi đây không có núi non, thành quách cổ xưa gì để có thể được gọi là danh lam thắng cảnh. Ngoại trừ dấu tích của một ngôi tháp cổ mà dân làng quen gọi là tháp Chàm nho nhỏ, nhưng được các nhà khảo cổ nghiên cứu cho là di sản của nền văn hóa, văn minh Óc-Eo hoang phế hàng thế kỷ đã rêu phong ở Bình-Thạnh.


Tháp cổ Bình-Thạnh

Ngay cả trong suốt thời kỳ chiến tranh trước năm 1954, dù Tha-La không bao giờ quay lưng với cộng đồng dân tộc nhưng trên thực tế lúc bấy giờ, thì cục đất Tha-La cũng chưa hề có dấu vết của chiến tranh tàn phá nặng nề đến nỗi như "bao năm qua khói loạn phủ mịt mù" mà ở đây cũng lúc bấy giờ, Tha-La lại có niềm tự hào tình tự khác hơn là đã có những "người nước Việt ra đi vì nước Việt". Và đó mới là hình ảnh nét đẹp lưu truyền của các chàng trai Tha-La anh tuấn năm xưa đã xếp việc bút nghiên, để hăng hái lên đường theo tiếng gọi của hồn thiêng tổ quốc.

Trong bài thơ đầy cảm hứng tuyệt vời của họ Vũ đã có sức gợi cảm nhiệt tình cho người thưởng thức, và làm cho họ phải bị chi phối rất nhiều về mặt tinh thần. Với ý thơ ngọt ngào, lời thơ bình dị, nồng nàn, nhịp thơ nhẹ nhàng, gần gũi, hồn thơ man mác có tác động mãnh liệt làm lay chuyển vào được tâm hồn nhạy cảm của con người. Và người ta còn có dịp, để tìm thấy tận đáy lòng của ông đã chứa chan một niềm tâm sự gói ghém nhiệt thành trong tình yêu thánh Chúa. Và nghĩa vụ, với bổn phận của những người con yêu đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống giặc xâm lăng tàn phá quê hương. Do vậy, có thể rất nhiều người từ lâu chưa từng được đặt chân đến đất nước Tha-La, thì có thể dễ dàng bị tình cảm con tim xung động qua màu sắc thiên nhiên hòa quyện trữ tình ở chỗ nào là " đây rừng xanh rừng xanh", nào là "đây mênh mông xóm đạo với rừng già". Cho nên, có thể họ lại còn càng tưởng tượng ra thêm về bối cảnh của không gian địa lý nầy, lúc bấy giờ, thực tế vốn đã là một mảnh đất ruộng đồng xanh tươi, cây trái sum suê đã phải bị vô tình trở thành một nơi hoang vắng có cây cối âm u, rậm rạp.

Hơn thế nữa, cùng với ảnh hưởng lưu truyền của những bài ca, tiếng hát được phổ nhạc ra từ bài thơ "Tha La Xóm Đạo", cho nên cục đất nầy nghiễm nhiên đã được rất nhiều người nghe biết. Và họ lại vội vã kết luận khẳng định cho rằng, là chỉ có Vũ-Anh-Khanh là người duy nhất đã biến cục đất nầy trở thành một địa danh lịch sử. Sự kiện nầy cần phải được đánh giá nghiêm túc lại, để nghiên cứu, đào sâu làm sáng tỏ nhiều hơn nữa. Vả lại, nếu xưa nay công trình nghiên cứu lịch sử của vấn đề được coi như là một bức tranh công phu cần phải được tô bồi bằng những nét vẽ đứt quảng. Và nếu quả vậy, thì người ta lại càng không thể loại trừ ảnh hưởng sâu đậm trong mấy vần thơ sau đây trong bài " Tha-La Xóm Đạo" đã có tác dụng gợi ý mạnh mẽ về quan niệm nhân sinh vào trong cuốn tiểu thuyết "Đời Tươi Thắm" của nhà văn Thẩm-Thệ-Hà xuất bản vào năm 1956.

" Ờ ơ hơ...có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy
Lạy đức thánh Cha
Lạy đức thánh Mẹ
Lạy đức thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân
Rồi...cởi trả áo tu
Rồi...xếp kinh cầu nguyện
Rồi...nhẹ bước trở về trần"

Tác phẩm nầy, được tác giả dàn dựng lên trong khung cảnh ở ngay cạnh tại giáo đường Tha-La nên thơ vắng vẻ. Và cũng nhằm có mục đích, là để đối chọi lại với quan niệm về nhân sinh ở phần kết cuộc với cuốn tiểu thuyết lừng danh của nhà văn Khái-Hưng trong Tự-Lực Văn-Đoàn. Nếu nói thêm về tình tiết, thì dạo ấy cuốn sách nầy bán rất chạy, vì đây là lần đầu tiên đã có một nhà văn miền Nam nhập cuộc gián tiếp chỉ trích, phê bình cuốn tiểu thuyết "Hồn Bướm Mơ Tiên" lúc bấy giờ vốn là một loại cảo thơm đang được các giáo sư sử dụng khai thác, để giảng dạy trong chương trình giáo dục học đường. Tuy nhiên, người ta cũng đừng quên rằng, dạo ấy, chính cây bút sắc bén, có tầm cỡ của miền Nam là Thẩm-Thệ-Hà lúc bấy giờ cũng từng đã có những tác phẩm văn chương vị nhân sinh cá biệt chuyên chở rất nhiều trọng lượng về văn học, mà người ta được biết qua các sách vở và báo chí hằng ngày. Vì thế, mà ảnh hưởng của câu chuyện mối tình rực nắng trong độ tuổi đôi mươi bên Tha-La xóm đạo được lồng vào trong cuốn tiểu thuyết " Đời Tươi Thắm" của ông rất có nhiều tiếng vang, do được nhiều nguời ham mộ. Và làm cho hàng độc giả bốn phương phải biết tới nhà thờ và họ đạo Tha-La trên mảnh đất yên lành, nên thơ, hoang vắng. Chúng ta chỉ thử lướt qua một đoạn văn ngắn súc tích, tả về cảnh các giáo dân quanh vùng tưng bừng nô nức, vui vẻ rủ nhau đi xem lễ ở giáo đường Tha-La trong ngày trọng đại đón mừng giáng sinh Đức Chúa ra đời:

(Trên con đường đỏ quạch, từng đám dân lành lũ lượt kéo nhau đi. Ánh nắng mai lỗ đỗ rụng trên đầu. Tiếng chim ca ngợi bình minh và tiếng gíó reo vui trên cành lá. Những câu chuyện thân mật vang lên hòa nhịp như một khúc thanh bình)...

Cuốn sách nổi tiếng "Đời Tươi Thắm" của Thẩm-Thệ-Hà ra đời và được phổ biến rộng rải, sau thời điểm của hiệp định đình chiến Genève vừa đã phân chia đất nước Việt-Nam. Còn tác giả của cuốn sách "Nửa Bồ Xương Khô" là Vũ-Anh-Khanh, thì đã tập kết ra Bắc vào mùa Thu năm 1954. Do vậy, dạo ấy tại miền Nam các tác phẩm của ông đều được hạn chế lưu hành. Và điều nầy, đã làm cho những từng lớp thành phần thế hệ nào đó chưa thể có dịp, để được đọc qua bài thơ "Tha-La Xóm Đạo", vốn được coi như là khúc nhạc dạo đầu của cuốn tiểu thuyết lừng danh một thuở của nhà văn nặng ký Vũ-Anh-Khanh. Do vậy, dù không cần đem ra để đánh giá, đo lường về ảnh hưởng của hai cuốn tiểu thuyết đã nặn ra một hình ảnh diệu hiền của xóm đạo Tha-La. Nhưng người ta cũng không thể nào dám lên tiếng phủ nhận, về nguyên nhân đã đưa đến sự kết thành được một mẫu số chung về tình cảm yêu thương, trữ tình bên Tha-La xóm đạo.

Hơn thế nữa, ngược dòng thời gian kể từ thời kỳ từ năm 1947 trở về sau thì tình bạn giữa Thẩm-Thệ-Hà và Vũ-Anh-Khanh càng trở nên thân thiết hơn, do cùng khuynh hướng với nhau trong chủ trương sáng tác văn nghệ và cùng làm báo. Vẫn ngược dòng thời gian trước đó nhiều tháng còn trong năm 1949, trước lúc xảy ra đám tang của Trần-Văn-Ơn (9-1-1950) khi mà chính quyền thuộc địa dạo ấy đã lập tức đóng cửa các phòng trọ dành cho học sinh nội trú tại các trường trung học lớn ở Sài-Gòn như Pétrus-Ký, Gia-Long, vì sợ các cuộc tập họp được dễ dàng để gây sách động tham gia các cuộc biểu tình đòi yêu sách. Và cũng trước khi nổ ra sự cố đấu tranh quyết liệt của sinh viên, học sinh trong bối cảnh lịch sử ngột ngạt lúc bấy giờ. Tình trạng đó, đã làm cho nhiều nhà báo yêu nước từng dấn thân dùng ngòi bút đấu tranh cho lý tưởng tự do, giành độc lập cho quê hương không khỏi phải thêm suy tư, trăn trở. Chính ngay vào trong thời điểm không gian ấy, mà lần đầu tiên Vũ-Anh-Khanh mới có dịp về quê hương của Thẩm-Thệ-Hà. Và lưu lại ở đây khá lâu, để cùng ăn Tết luôn trong năm đó tại Trảng-Bàng.

Trong thời gian lưu trú tại đây, ngày nào Thẩm-Thệ-Hà cũng chèo ghe đưa Vũ-Anh-Khanh ngao du theo sông rạch để thư dãn bơi lội câu cá, hái sim, khi thì đèo ông trên chiếc xe đạp chạy ra các làng thôn cách xa ngoài thành phố để dạo chơi ngắm cảnh. Thuở ấy, Trảng-Bàng còn quê mùa, không được mở mang và dân cư thưa thớt. Có hai địa điểm được hai ông đến chơi thích thú và thường trở đi, trở lại để tìm nguồn cảm hứng tâm hồn. Đó là xóm vắng Tha-La và Sông Đua. Và như tôi đã có dịp trình bày ở phần trên, là thân thế của tác giả cũng như tư liệu về bài thơ " Tha-La Xóm Đạo" hiện nay còn đang bỏ ngõ vì lý do có thể cần phải được hiệu đính lại điều sai sót bởi tác giả của nó đã qua đời? Và điều nầy, cũng không sao có thể tránh khỏi được với trường hợp đặc biệt về bài thơ "Trường Thành Sông Đua" của Thẩm-Thệ-Hà.

Tóm lại, dầu sao thì ngày xưa khi Tha-La còn cái hồn làng mạc chơn chất, thì tình người nơi đây vẫn đẹp, duyên quê duyên dáng, hài hòa cuộc sống người người, thật là lý tưởng cho những ai muốn tìm về hạnh phúc ở tâm hồn, nhất là bên cạnh ngôi giáo đường bé nhỏ xinh xinh, tôn nghiêm phụng thờ ơn thánh Chúa. Cho nên vào lúc bấy giờ, Tha-La thủy chung đương nhiên cũng vẫn lại là một địa danh đích thực, mà không cần đến một phương cách ca tụng hóa trang được tô son điểm phấn của bất cứ những loại hình thể văn chương bóng bẩy nào.

Tuy nhiên, thế rồi bẳng đi sau một thời gian nhiều năm dài ngủ yên, thì cục đất Tha-La lại trở mình thức gấc. Đó thờì kỳ mà Tha-La đã bỗng dưng trở thành mảnh đất dụng võ của đảng phái, đã chọn lựa vùng đất nơi nầy để làm thí điểm địa bàn nhằm đẩy mạnh phong trào, phát triển cơ sở. Dạo ấy, địa danh Tha-La lại càng được thêm nhiều người biết đến vì màu sắc động đậy về chính trị hơn là xóm đạo, dù là sự kiện nầy chỉ xảy ra trong một giai đoạn ngắn ngủi mà thôi. Tuy nhiên, nguời ta phải thực tế khách quan nói rằng lấy cái mốc thời gian của định mệnh lịch sử được kể từ vào đầu Xuân 1974, và mùa Xuân 1988. Với những đề tài thời sự nhạy cảm được cập nhật hóa trên bình diện quốc tế, về vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở biển Đông giữa các quốc gia liên quan trong khu vực lúc bấy giờ, thì địa danh Tha-La mới vĩnh viễn được coi như là đã đi vào huyền thoại.

Sự kiện nầy, từ lâu đều đã được hầu hết nhân dân, tất cả đồng bào ai cũng biết. Đó là do có sự quyết tâm chiến đấu bảo vệ lãnh thổ của dân tộc, xảy ra trong những trường hợp trùng ngẫu đặc biệt khác thường. Và ý nghĩa tinh thần tiêu biểu về sứ mạng trung thành hi sinh cho tổ quốc của bao người chiến sĩ đó, xưa nay, không khác gì với lại hình ảnh của những vị Bồ-Tát vị tha từng ra tay bác ái để lấy thân mình cứu khổ, độ nhân trong lúc tai biến hiểm nguy. Và sự kỳ diệu nầy, đã vô tình đan kết tạo thành một bức tranh in hình tấm huy chương "vị quốc vong thân" chói rạng về mặt tinh thần, nghĩa vụ của hàng hàng đứa con gương mẫu từng đứng lên thề nguyền dấn thân làm đẹp quê hương, tận trung báo quốc. Và nếu phải nói theo thể xác định về danh dự ở hàng đầu đó, thì chính là do có sự đóng góp hi sinh cao quý của hầu hết những vị anh hùng liệt sĩ đã can đảm, hiên ngang cùng nhau nhất tề quyết tâm bảo vệ non sông tổ quốc từ vùng trời, vùng đất, vùng bể khơi, hải đảo.

Do vậy, trong mọi trường hợp nào tôi cũng xin kính cẩn được nghiêng mình trước vong linh của những vị anh hùng chiến sĩ vô danh, vị quốc vong thân. Và thành tâm tạ tội, vì không thể biết hết được tất cả quý danh của từng những đứa con yêu mến của dân tộc để tôn vinh.

Chính vì lẽ đó mà tôi chỉ còn lại cơ hội duy nhất, để nói về nguyên khí miền đất thiêng liêng Tha-La xóm đạo của quê hương tôi từng tự hào. Vì nó đã từng có dịp hiến dâng một đứa con ưu tú, tài hoa làm rạng rỡ xóm làng, một người bạn đồng hương gần gũi, chân thành, thân thiết. Một vị anh hùng chiến sĩ can cường, bất khuất đã hiên ngang xả thân quyết tâm chiến đấu với giặc xâm lăng để bảo vệ non sông trên hải đảo Hoàng-Sa trong một trận thư hùng. Và oanh liệt phi thường, cho đến phút cuối cùng đã anh dũng hi sinh đền nợ nước, để lại tấm gương mãi mãi nghìn thu bằng những nét son tô đậm được vinh danh ghi tạc ở bia vàng **.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris Xuân Nhâm-Thìn 2012)
(*) - Schla có nghĩa là khu nhà mát, nhà lồng, hay cái trạm hoặc cái trại.

(**) - Ngụy-văn-Thà, cố Trung-Tá Hải-Quân Hạm Trưởng Nhựt-Tảo HQ10 sinh trưởng tại Tha-La, nguyên là học sinh trường Cao-Đẳng Trảng-Bàng, Tây-Ninh.

- Ghi chú:

- Đề tài thời sự nhạy cảm tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông, hiện nay đã được hầu hết các phương tiện truyền thông quốc tế thường xuyên theo dõi tình hình diễn biến. Đặc biệt, là về hai trận hải chiến ở quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa giữa Việt-Nam và Trung-Quốc. Và có dịp phổ biến rộng rãi về trường hợp của vị hạm trưởng anh hùng, đã tuẫn tiết theo chiến hạm Nhựt-Tảo HQ10.

(1)-Sau đây là nguyên văn của bài thơ Tha-La Xóm Đạo"

Đây Tha-La xóm đạo
Có trái ngọt, cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh
Ngậm ngùi Tha-La bảo:
Đây rừng xanh, rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng
Khói đùn quanh nóc tranh
Gió đùn quanh mây trắng
Và lửa loạn xây thành
Viễn khách ơi! Hãy dừngchân cho hỏi?
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng
Đây Tha-La, một xóm đạo ven rừng
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá
Con đường đỏ, bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa. Tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cuối đầu
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi? Khách buồn nơi đây vắng!
Không. Tôi buồn vì mây trời đây trắng!
Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch
Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha-La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha-La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng
Đang đón mây xa...khách bỗng ngại ngần:
Kính thưa Cụ, vì sao Tha-La vắng?
Cụ ngạo nghễ, cười rung rung râu trắng
Nhẹ bảo chàng:- Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua, khói loạn phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha-La vắng, vì Tha-La đã biết
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than

Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh ...ờ...ơ...hơ...tiếng hát
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc
Tiếng hát rằng:
Tha-La hận quốc thù
Tha-La buồn tiếng kiếm
Não nùng chưa! Tha-La nguyện hi sinh
Ờ...ơ...hơ...có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa, một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy
Lạy đức thánh Cha
Lạy đức thánh Mẹ
Lạy đức thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân
Rồi...cởi trả áo tu
Rồi...xếp kinh cầu nguyện
Rồi...nhẹ bước trở về trần
Viễn khách ơi ! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân
Nghe Tha-La kể...nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha-La vần vũ đám mây tang
Vui gì đâu mà tâm sự!
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
Ờ...ơ...hơ, ờ...ơ...hơ...tiếng hát
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha-La thương người viễn khách quá đi thôi!

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Là rừng cao vàng rụng, lá rừng bay...
Giờ khách đi, Tha-La nhắn câu nầy:
Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha-La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió, nhớ quanh quanh...

Vũ-Anh-Khanh

Nhà thờ Tha-La Trảng-Bàng

(Chú thích thêm :- Các hình ảnh đẹp trong bài nầy được trích ra từ trên mạng).

***********************


 

Thursday, December 17, 2020

 TỰ DO, NHỮNG KHOảNH KHẮC CÒN LẠI


Nhận xét : bài này có nhiều lỗi về hỏi ngã nhưng nội dung có giá trị  -- Tài Trần . 


-----------


Phần 3


Cuộc tiến công năm 1975 của Cộng Sản BV tại miền Nam Việt Nam được phối hợp đồng bộ trên toàn quốc. Song song với những đợt tấn công tại QK 1 và QK 2, Bắc quân mở đầu chiến dịch tỗng công kích tại QK3 bằng cuộc tấn công vào Trị Tâm, quận lỵ quận Dầu Tiếng, nằm về phía tây nam đồn điền cao su Michelin. Phía tây Trị Tâm, bên kia sông Sàigòn, Tỉnh Lộ 239 đi xuyên qua đồn điền Bến Củi, trước khi nhập vào LTL 26, chạy dài về phía tây bắc vào thị xã Tây Ninh và xuôi huớng đông nam tới tận một tiền cứ của quân lực miền Nam tại Khiêm Hạnh. Tất cả mọi giao thông đi lại đều phải ngang qua Liên Tỉnh Lộ 26 và Lộ 239, do các tiền đồn của lực lượng diện địa kiểm soát. Quận lỵ Trị Tâm được phòng thủ bởi 3 tiểu đoàn Điạ Phương Quân và 9 trung đội Nghĩa Quân. Bộ Tư Lệnh QĐ3/QK3 dự đoán Bắc quân sẽ tấn công vào Trị Tâm do tin tức tình báo thu lượm được về việc các đơn vị thuộc SĐ 9 chính qui BV đang tập trung tại phía bắc thị trấn này, nên ngày 10 tháng Ba, đã tăng cường cho lực lượng phòng thũ tại đây thêm hai đại đội ĐPQ.


Cuộc tấn công vào Trị Tâm khởi sự lúc 6 giờ sáng ngày 11 tháng Ba với những đợt dập pháo dữ dội và các đợt xung phong ác liệt của quân bộ chiến tùng thiết địch vào vị trí quân ta. Trước đó, Bắc quân đã tấn công cắt đứt mọi đường liên lạc, tiếp vận của quân đồn trú; vào lúc 3:30 sáng bộ binh và chiến xa T54 địch tràn ngập môt tiền đồn của đơn vị ĐPQ trên TL 239, khoảng 10 km phía tây Trị Tâm. Bộ Chỉ Huy TK Tây Ninh lập tức điều động 2 tiểu đoàn ĐPQ tiến về phía đông, dọc theo lộ 239 về hướng Bến Củi, nhưng lực lượng này đã bị chận đứng bởi hỏa lực dữ dội của địch khi gần đến tiền đồn ĐPQ bị địch chiếm giữ. Chiến xa địch đã xuất hiện ở khu vực đồn điền Bến Củi, yểm trợ cho lực lượng bộ binh địch, nhưng các đơn vị diện địa bảo vệ quận lỵ Trị Tâm, vẫn giữ vững vị trí, đẩy lui những cuộc xung phong ác liệt của Cộng quân, bắn cháy hai chiến xa T54 ngay trong khu vực thị xã. Mũi tấn công chính của Bắc quân vào Trị Tâm phát xuất từ hướng đông nên lực lượng phòng thủ tại đây đã cho nổ sập cây cầu trên lộ 239, phía đông thị trấn để ngăn chặn chiến xa địch. Giao tranh tiếp diễn dữ dội suốt đêm; cho đến hừng sáng 12 tháng Ba, quân trú phòng vẫn còn giữ vững Trị Tâm. Nhưng trong ngày 12 tháng Ba, lực lượng Bắc quân thuộc hai Trung Đoàn 95 C và 272 BV, được yểm trợ bởi một chi đoàn T54 cùng một trung đoàn pháo, mỡ những đợt tấn công liên tục, cuối cùng đã tràn ngập tuyến phòng thủ của quân diện địa trú phòng tại đây.


Bộ Tư Lệnh QĐ3 lập tức tăng viện cho chiến trường Trị Tâm một lực lượng đặc nhiệm. Chiến Đoàn Đặc Nhiệm 318 gồm các đơn vị chiến xa và thiết quân vận thuộc Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh, với Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân tùng thiết, đã bị chặn đứng bởi hỏa lực B40, 41 và pháo tầm xa 130 ly của địch khi tiến quân gần đến khu vực Trị Tâm. Với Trị Tâm trong tay, Bắc quân đã kiểm soát được hành lang sông Sàigòn chạy dài từ thượng nguồn sông, gần căn cứ Tống Lê Chân, cho tới tận tiền đồn của quân lực miền Nam tại Rạch Bắp trong vùng Tam giác Sắt. Khiêm Hạnh, một tiền cứ của QLVNCH, nằm gần một giang cảng trọng yếu, và khu giao lộ tại Gò Dầu Hạ, với nhiệm vụ chính là ngăn chặn các đơn vị quân BV tiếp cận QL22 và QL1, đã nằm trong tầm pháo địch. Trị Tâm nay trở thành mục tiêu chính trong chiến dịch nhằm cô lập Tây Ninh với thủ đô Sàigòn. Trước đêm tấn công vào Trị Tâm, ba tiểu đoàn chính qui BV D14, 15, 18, với sự yểm trợ của Trung Đoàn 101, cùng Sư Đoàn 75 Pháo Binh BV, đã cắt đứt QL 22 giữa Gò Dầu Hạ và thị xã Tây Ninh. SĐ 75 Pháo Binh BV gồm 5 Trung Đoàn pháo hoạt động tại Tây Ninh trong chiến dịch này. Riêng SĐ 377 Phòng Không địch có khoảng 15-tiểu đoàn pháo cao xạ, mà một số các đơn vị của SĐ này đã yểm trợ trực tiếp cho bộ binh xung kích địch. 


Trong khi các tiểu đoàn quân chính qui BV tại Tây Ninh cắt đứt QL22, phía bắc Gò Dầu Hạ, lực lượng thuộc Trung Đoàn 6 và 174, SĐ 5 Bắc quân, từ Kampuchia tràn qua biên giới, tấn công căn cứ Bến Cầu, phía tây bắc Gò Dầu Hạ, nằm giữa đường biên giới Viêt-Miên và sông Vàm Cỏ Đông. Những đợt tấn công đầu tiên của địch bị đẩy lui, với 2 chiến xa PT-76 bị bắn cháy. Ngày 12 tháng Ba, một lực lượng lớn chiến xa địch bị phát gìác tại phía tây Gò Dầu Hạ; các chiến đấu cơ của ta được gọi tới oanh kích phá hủy 8 tăng địch và làm hư hại 9 chiếc khác. Tuy nhiên, ngày 14 tháng Ba, các đơn vị diện địa phòng thủ Bến Cầu đã rút lui trước áp lực nặng của địch quân. Bến Cầu chỉ là một trong 8 tiền đồn nằm về phía tây sông Vàm Cỏ Đông bị địch tấn kích nặng nề vào ngày 12 tháng Ba. Hầu hết các cuộc tấn công vào các tiền đồn đều bị đẩy lui, nhưng đến ngày 14 tháng Ba, Bắc quân đã chiếm trọn các cứ điểm này. 


Tướng Toàn, Tư Lệnh QĐ3 cho tăng cường lực lượng phòng thủ Khiêm Hạnh và dọc theo QL1 và QL22. Ông cho điều Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ với ba thiết đoàn cơ hữu, cùng hai Tiểu Đoàn 64, 92 Biệt Động Quân, và Trung Đoàn 48, SĐ18BB, đuợc tăng cường bởi các Thiết Vận Xa thuộc lực lượng trừ bị Quân Đoàn đóng tại Long Bình, Biên Hòa tới Khiêm Hạnh.và Gò Dầu Hạ. Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 7, SĐ 5BB tại Lai Khê cũng được tăng phái cho chiến trường Khiêm Hạnh. Trong lúc một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 48BB tấn công về phía tây Gò Dầu Hạ để khai thông đoạn QL 1 dẫn từ Gò Dầu tới vùng biên giới Việt-Miên, Trung Đoàn 46BB tấn công về phía bắc dọc theo đường 22 để trợ lực các đơn vị diện địa khai thông đoạn đường dẫn về Tây Ninh đã gặp sự kháng cự và hoả lực pháo dữ dội của địch. Pháo phòng không địch dày đặc đến nổi trực thăng chỉ huy của Tướng Toàn không thể nào đáp xuống Gò Dầu Hạ trong ngày 13 tháng Ba được. QL 22, đoạn giữa Gò Dầu Hạ và Tây Ninh vẫn bị địch quân phong toả.


Quốc Lộ 4 nối liền thủ đô Sàigòn và Vùng 4 Chiến Thuật, con đuờng huyết mạch trọng yếu dẫn về vùng châu thổ sông Cửu Long cũng bị đe doạ bởi các cuộc đụng độ đang lan rộng khắp QK3. QL 4 đi qua một vùng dân cư đông đúc với các ruộng lúa màu mỡ, bạt ngàn và các vườn thơm khóm của tỉnh Long An, nằm giữa ranh giới hai Vùng 3 và 4 Chiến Thuật. Lực lượng diện địa của TK Long An là một trong những lực lượng địa phương thiên chiến nhất trên toàn quốc, đã chứng tỏ thực lực của mình qua việc đè bẹp các tiểu đoàn chủ lực địa phương của địch tại đây trong những trận giao tranh khốc liệt diễn ra vào đầu tháng Ba với những tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Nhận thấy tầm mức quan trọng của việc bảo vệ giao thông trên QL4, Bộ TTM đã tăng phái hai Tiểu Đoàn 14 và 16 thuộc LĐ TQLC mới thành lập để tăng cường phòng thủ khu vực Long An. Các đơn vị TQLC và ĐPQ Long An đã mỡ những cuộc hành quân phối hợp chặt chẽ, duy trì an ninh cho tỉnh Long An trong suốt tháng Ba, 1975. 


Trong khi Tướng Toàn tung hơn phân nữa lực lượng của QĐ3 để bảo vệ cạnh sườn phía tây, Bắc quân mỡ những đợt tấn công vào khu vực phía Đông và vùng trung tâm QK3. Các lực lượng còn lại của quân lực miền Nam hầu như không đủ để đối phó với những cuộc công kích càng lúc càng lan rộng của Cộng quân. Quân miền Nam được lịnh bỏ các cứ điểm tại An Lộc và Chơn Thành vì không còn giá trị về mặt chính trị và quân sự chiến lựơc, để tăng cường phòng vệ các khu vực đang bị áp lực nặng nề của địch. Lúc này lực lượng địch đã tăng cường thêm một SĐ, SĐ341 tỗng trừ bị, mới xâm nhập từ miền Bắc vào. Để bảo toàn lực lượng cho các đơn vị BĐQ và diện địa tại An Lộc và Chơn Thành Tướng Toàn đã cho lịnh di tản lực lượng này khỏi các cứ điểm tại hai khu vực trên cùng 12 khẩu pháo 105 ly Howitzer. Riêng 5 trọng pháo 155 mm được phá hủy tại chỗ vì Không Quân không có trực thăng loại nặng để bốc những loại pháo này. Nhìn chung, tình hình tại vùng trung tâm QK3 vẫn tương đối yên tĩnh, mặc dầu có sự xuất hiện của SĐ 341 và Trung Đoàn 273 BV mới xâm nhập vào miền Nam. Áp lực nặng nề nhât của địch tại Vùng 3 Chiến Thuật tập trung ở cạnh sườn phía đông. 


Ngay trước khi Bắc quân mỡ đợt tỗng công kích, lực lượng của SĐ18BB được phân bổ theo nhu cầu chiến trường. Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43BB, nằm bảo vệ QL20, phía bắc thị xã Xuân Lộc, tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh. Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn này, nằm ở phía nam Định Quán, và Tiểu Đoàn 3 đóng tại quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy. Trung Đoàn 52BB, với Tiểu Đoàn 3 đóng dọc QL1, đoạn giữa Biên Hòa và Xuân Lộc; trong lúc hai tiểu đoàn còn lại của Trung Đoàn 52BB hoạt động tại khu vực tây bắc thị xã Xuân Lộc. Riêng Trung Đoàn 48BB vẫn tăng phái cho SĐ 25BB tại Tây Ninh. 

Lực lượng Bắc quân tại Nam Bộ mỡ đầu chiến dịch Bình Tuy-Long Khánh bằng những cuộc tấn công dữ dội vào các vị trí của ta dọc theo QL 1 và 20, hai tuyến liên lạc, tiếp vận chính trong vùng. Địch tấn công các tiền đồn, thị trấn, cầu cống tại phía bắc và phía tây thị xã Xuân Lộc. Ngày 17 tháng Ba, Trung Đoàn 209 chính qui BV, được yểm trợ bởi Trung Đoàn 210 Pháo Binh, thuộc SĐ 7 Bắc Quân, đã mỡ đầu cho đợt công kích đẫm máu và khốc liệt nhất trong cuộc chiến, trận thư hùng sống mái với các đơn vị thiện chiến của quân lực miền Nam tại thị xã Xuân Lộc, bằng cuộc tấn kích vào Định Quán, phía bắc Xuân Lộc, và tại cầu La Ngà, phía tây Định Quán. Địch xữ dụng 8 chiến xa T54 để yểm trợ cho đợt tấn công mỡ màn vào vị trí bố phòng của các đơn vị thuộc SĐ18 BB tại Định Quán. Pháo binh địch tác xạ phá hủy 4 trọng pháo 155 ly Howitzers đang bắn yểm trợ cho các đơn vị diện điạ của ta tại đây. Tướng Đảo, Tư Lệnh SĐ 18BB, tiên liệu trước cuộc tấn công của địch, đã cho tăng cường phòng thủ cầu La Ngà, nhưng trước hỏa lực dữ dội của pháo binh địch, quân trú phòng tại đây buộc phải bỏ vị trí. Ngày 18 tháng Ba, sau những đợt tiền pháo hậu xung ác liệt, Trung Đoàn 209 Bắc quân tiến vào Định Quán. Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43 BB và Tiểu Đoàn ĐPQ, bảo vệ Định Quán, bị thiệt hại nặng, buộc phải rút lui. Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 43BB cũng đụng độ nặng với địch quân tại tây bắc Hoài Đức, giết chết 10 lính BV trong ngày 17 tháng Ba. Trong lúc đó, một tiền đồn khác của Xuân Lộc do một đại đội ĐPQ và một trung đội pháo binh trấn giữ bị địch pháo và tấn công dữ dội. Cuộc tấn công của quân BV bị đẩy lui với những tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Một đại đội ĐPQ được gởi tới tăng viện cho tiền đồn này bị chặn đánh và thiệt hại nặng trên đường số 1(QL1), phía tây Ông Đồn. Trung Đoàn 24, SĐ 6 chính qui BV mỡ những đợt tấn công dữ dội vào vị trí của quân ta tại Gia Ray, về phía bắc Ông Đồn, trên lộ 333. Tới lúc này thì Bắc quân đã tung vào mặt trận Long Khánh 2 SĐ 6, và 7 chính qui BV. Đặc công CS cũng phá sập một cây cầu taị khu vực giao lộ giữa QL1 và TL332, cô lập hoàn toàn các đơn vị ta tại phía tây Lộ 332 với thị xã Xuân Lộc. 


Phiá Bắc Xuân Lộc, trên đường 20, các ấp xã dọc trục lộ đã bị Bắc quân chiếm đóng, đồng thời một tiền đồn ĐPQ về phía cực bắc Long Khánh, giáp ranh tỉnh Lâm Đồng cũng bị địch tràn ngập. Tướng Đảo quyết định phản công với Trung Đoàn 52 trừ gồm hai tiểu đoàn bộ chiến, được tăng cường bởi Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh điều từ Tây Ninh qua. Chiến Đoàn 52 được lịnh hành quân khai thông QL20 đoạn từ Long Khánh tới Định Quán. Nhưng lực lượng này đã bị chận đứng bởi sức kháng cự dữ dội và hỏa lực pháo nặng của địch. Bắc quân cho tăng cưòng lực lượng tấn công tại mặt trận Long Khánh. Trung Đoàn 141, SĐ 7 chính qui BV, cùng Trung Đoàn 209 BV, tấn kích Định Quán. Trong lúc đó, Trung Đoàn 812, SĐ 6 chính qui BV tấn công tràn ngập quận Hoài Đức, Bình Tuy; hai trung đoàn còn lại của Sư Đoàn 6 Bắc quân, Trung Đoàn 33 và 274 tiến chiếm Gia Ray. Cứ điểm và là trạm quan sát của quân ta trên đỉnh núi Chứa Chan cao trên 2200 bộ cũng rơi vào tay các đơn vị thuộc SĐ 6 chính qui BV. Bắc quân bắt đầu nã trọng pháo vào thị xã Xuân Lộc. Tướng Toàn lập tức rút một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 48 BB, về tăng viện cho mặt trận phía đông của QK3.


Hai tiểu đoàn còn lại của Trung Đoàn 48 BB vẫn nằm án ngữ bảo vệ Gò Dầu Hạ. Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 48BB đụng độ với một đơn vị cấp đại đội quân chính qui BV tại phía tây sông Vàm Cỏ Đông vào ngày 17 tháng Ba, giết chết 36 lính BV, tịch thu một số vũ khí và đan dược. Nhưng tiền đồn Cầu Khói, phòng thủ bởi Tiểu Đoàn 351 ĐPQ, trên LTL 26, về phía bắc thị xã Tây Ninh đã bị Bắc quân tràn ngập. Tuyến phòng vệ ngoại vi của Tây Ninh và Hậu Nghĩa bắt đầu gãy vụn nhanh chóng sau khi Cầu Khói bị địch chiếm. Sau những trận mưa pháo dữ dội, Trung Đoàn Đặc Công 367, SĐ 5 chính qui BV tiến vào Đức Huệ ngày 21 tháng Ba, chiếm các vị trí tại phía tây nam của thị trấn trọng yếu Trảng Bàng trên QL1. Nếu Bắc quân chiếm được Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ và toàn vùng Tây Ninh sẽ bị cô lập. Bảo vệ cho mặt bắc của phi trường Tây ninh là một tiền đồn chính trên QL13. Ngày 22 tháng Ba, Bắc quân tấn công tràn ngập tiền đồn này. Quân trú phòng tại đây rút lui về một vị trí phòng thủ khác tại phía nam. Nhưng ngày 23, Công quân tiếp tục tấn công chiếm giữ vị trí này, như vậy chu vi phòng thủ tại khu vực bắc Tây Ninh chỉ còn trong phạm vi hạn hẹp 10 km chiều sâu.


Tại khu vực phía đông Tây Ninh, Bắc quân vẫn tiếp tục duy trì áp lực vào cứ điểm trọng yếu Khiêm Hạnh. Nằm ngay phía bắc Gò Dầu Hạ, Khiêm Hạnh là một cứ điểm quan trọng, với nhiệm vụ ngăn chặn các đơn vị Cộng quân tiếp cận QL1 từ phía bắc, cũng như chiếm Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng. Từ Trảng Bàng, QL1 là trục lộ giao thông nhanh chóng nhất đi qua Bộ Tư Lệnh SĐ 25 tại Củ Chi, và thẳng về phi cảng Tân Sơn Nhất của thủ đô Sàigòn. Ngày 23 tháng Ba, chiến xa và quân bộ chiến VNCH đã đụng độ với Bắc quân gần Trường Mít, phía tây bắc Khiêm Hạnh. Lực lượng địch vươt qua cứ điểm Cầu Khói trên đường 26, tràn xuống. Ngày 24 tháng Ba, những trận giao tranh đẫm máu đã diển ra với số thương vong nặng nề cho cả hai bên. Tiểu Đoàn 3,Trung Đoàn 7, SĐ 5 BB, tăng phái cho SĐ 25 BB, đã thiệt hạ i hơn 400 người, vừa chết, bị thương và mất tích. Riêng lực lượng tấn kich, Trung Đoàn 271, thuộc SĐ 9 chính qui BV đã tổn thất nặng nề, với hơn 200 xác bỏ lại chiến trường. Hỏa lực của pháo binh và chiến xa địch bắn rất dữ dội. Trung Đoàn 271 Bắc quân được tăng cường Trung Đoàn 42 Pháo Binh BV, với các sơn pháo 85ly và 122mm, cùng một tiểu đoàn pháo cao xạ 37-ly bắn trực xạ yểm trợ chiến trường. Để đề phòng địch quân đánh bọc sườn các vị trí dọc hành lang sông Sàigòn, Tướng Toàn cho điều Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7 BB về tăng cường phòng thủ căn cứ Rạch Bắp, phía tây khu Tam Giác Sắt. Tướng Toàn cũng yêu cầu Bộ TTM tăng phái một Lữ Đoàn Dù để phản công tái chiếm Trường Mít, nhưng Bộ TTM từ chối vì không thể tăng phái đơn vị tỗng trừ bị cuối cùng này cho QĐ 3 đuợc trong khi Tướng Toàn vẫn còn một số đơn vị trừ bị trong tay. Ngày 25 và 26 tháng Ba, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh cùng với các đơn vị thuộc SĐ 25BB, mỡ những cuộc phản công nhắm vào Trung Đoàn 271 chính qui BV tại Trường Mít, đã đánh bật Bắc quân ra khỏi khu vực này, và gây thiệt hại nặng nề cho địch. Tướng Toàn cho điều Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 48, SĐ 18BB, cùng 2 tiểu đoàn bộ chiến tới Khiêm Hạnh để tăng cường phòng thủ cứ điểm này.


Ngày 24 tháng Ba, trong lúc cuộc triệt thoái khỏi Bình Long của QĐ3 đang tiến hành thì lực lượng Cộng quân thuộc 2 SĐ 9 và 341 chính qui BV, được sự yểm trợ của một thiết đoàn tăng T54, tấn kích Chơn Thành. Liên Đoàn 31 và 32 Biệt Động Quân, với sự yểm trợ của Không Quân, đã đẩy lui Bắc quân, bắn cháy 7 chiến xa địch. Ngày 26 tháng Ba, SĐ 341 BV lại mỡ cuộc tấn công vào Chơn Thành nhằm thu hồi những T54 bị bắn cháy, nhưng BĐQ, một lần nữa lại đẩy lui quân địch. Ngày 27 tháng Ba, cuộc di tãn khỏi An Lộc, Bình Long hoàn tất; BĐQ vẫn nằm án ngữ bảo vệ Chơn Thành. Ngày 31 tháng Ba, SĐ 341Bắc quân, được tăng cường bởi Trung Đoàn 273 chính qui độc lập, tấn công dữ dội vào cứ điểm này. Sau khi dập hơn 3000 quả pháo vào Chơn Thành, Băc quân với sự yểm trợ của một thiết đoàn chiến xa, đã ào ạt tràn vào Chơn Thành. Nhưng lính Mũ Nâu lại một lần nữa, đánh bật lực lượng tấn kích của Cộng quân, bắn cháy thêm 11 T54. Để bảo toàn lực lượng chiến đấu của 2 LĐ BĐQ sẽ rất cần thiết cho những trận giao tranh sắp tới, Bộ Tư Lệnh QĐ 3 quyết định rút BĐQ ra khỏi cứ điểm Chơn Thành. Ngày 31 tháng Ba, Không Quân với 52 phi xuất đã oanh kích, bắn phá dữ dội khu vực đóng quân của SĐ 341, sư đoàn Bắc quân đã tả tơi trong những trận đọ sức đẫm máu với Biệt Động Quân, để các trực thăng có thể bốc toàn bộ Liên Đoàn 32 BĐQ ra khỏi Chơn Thành về tăng cường cho một điểm nóng khác, Khiêm Hạnh, Tây Ninh. Đêm 31 tháng Ba, 3-tiểu-đoàn thuộc Liên Đoàn 31BĐQ và một tiểu đoàn ĐPQ còn lại rút khỏi Chơn Thành về Bầu Bàng và Lai Khê; cùng rút theo họ là các đơn vị pháo và các chi đoàn chiến xa M41. Tới lúc này thì tuyến phòng ngự mặt bắc của Sàigòn chỉ còn cách Bộ Tư Lệnh SĐ 5 BB đóng tại Lai Khê, chừng 14 km về phía bắc. Áp lực của các sư đoàn Bắc quân càng lúc càng đè nặng quanh thủ đô Sàigòn, và các tuyến tiếp vận, liên lạc trọng yếu với lực lượng phòng thủ ngoại vi đã bị đe dọa nghiêm trọng. 


Vấp phải sự kháng cự và phản kích quyết liệt của quân miền Nam tại Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long và Long Khánh, Bắc quân buộc phải rút lui để chấn chỉnh đội ngũ. Lợi dụng sự tạm lắng của chiến trường trong tuần lể đầu tháng Tư, quân miền Nam lo tái tổ chức và tái phối trí các đơn vị đã tả tơi trong chiến trận, triệt thoái về từ QK1 và 2, để sẵn sàng cho những cuộc giao tranh sắp tới với Bắc quân. Ngày 1 tháng Tư, Tướng Toàn cho trả 2 tiểu đoàn cùng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 48 BB từ Tây Ninh về lại SĐ 18BB. Trung Đoàn 48 BB di chuyễn tới thị xã Xuân Lộc. Một tiểu đoàn của Trung Đoàn này được tăng phái cho thị xã Hàm Tân, thành phố nằm trên vùng duyên hải của tỉnh Bình Tuy, để bảo vệ an ninh cho thành phố cảng này, trong lúc hàng trăm ngàn dân tỵ nạn từ phía bắc đang tràn về. Khoãng 500 binh sĩ sống sót của SĐ 2BB từ QK1 di tản về sẽ được tái phối trí và trang bị để thay thế tiểu đoàn thuộc SĐ 18BB, bảo vệ Hàm Tân. 

Trong lúc đó, Trung Đoàn 52, SĐ 18BB, tiến quân trên QL20, phía nam Định Quán đã đụng nặng với lực lượng Bắc quân, giết chết 50 lính BV. Trung đoàn còn lại của SĐ18BB, tấn công về phía đông dọc theo QL1, gần Xuân Lộc cũng đụng độ với một lực lượng lớn của Bắc quân đang có mặt tại đây. Tướng Toàn cho trả Trung Đoàn 7BB đang phụ trách hành quân tại khu vực QL1 gần Gò Dầu Hạ về cho SĐ 5BB tại Lai Khê. Như vậy chỉ còn các đơn vị thuộc SĐ 25BB, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh, BĐQ, và ĐPQ phụ trách việc phòng thủ, bảo vệ Tây Ninh cùng các tuyến tiếp vận liên lạc trọng yếu trong vùng. 


Bị choáng váng bởi việc triệt thoái hổn loạn các lực lượng chính qui và diện điạ tại QK1 và QK2; bị đè nặng bởi hoang mang do những trận ác chiến bùng nổ trong ngay trong phạm vi an toàn của thủ đô Sàigòn, cộng thêm vào sự mờ mịt về tin tức khả tín liên quan đến tình trạng của các đơn vị di tản hay tan rả, và nhất là nổi âu lo cho những thảm kịch cuả cá nhân hay của gia đình đã đè nặng lên tâm trí các sĩ quan tham mưu trong Bộ Tỗng Tham Mưu tại Sàigòn, khiến họ gần như bị tê liệt, không phản ứng được gì cho tới giờ phút chót. Mãi tới ngày 27 tháng Ba, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tỗng Cục Trưởng Tỗng Cục Tiếp Vận, Bộ TTM, và Đại Tướng Viên, Tỗng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, mới chấp thuận kế hoạch tái tổ chức và phối trí lại các lực lượng quân sự di tản về từ Vùng 1 và 2 Chiến Thuật, bao gồm cả nhu cầu cấp bách thay thế các chiến cụ, trang bị, quân trang, quân dụng bị hư hỏng, thiệt hại trong chiến đấu. 


Ngày 2 tháng Tư, những thành phần sống sót của SĐ TQLC được đổ xuống Vũng Tàu. Tướng Lân, Tư Lệnh SĐ cho toàn bộ đơn vị di chuyễn về hậu cứ của Tiểu Đoàn 4 TQLC để tái tổ chức và trang bị. Trong tỗng số 12000 binh sĩ TQLC được phối trí tại chiến trường QK1, chỉ còn lại khoãng 4000 là về đến Vũng Tàu. Các khí cụ, quân trang, quân dụng cần thiết cho việc tái trang bị lại SĐ TQLC có sẵn tại tỗng kho Long Bình, nhưng vấn đề chuyễn vận rất khó khăn. Một vấn đề quan trọng khác là sự thiếu hụt trầm trọng cấp chỉ huy cho các tiểu đoàn bộ chiến. Năm Tiểu Đoàn Trưởng và khoãng 40 Đại Đội Trưởng TQLC đã tử trận trong các cuộc giao tranh trong hai tháng Ba và tháng Tư. Tuy vậy việc tái tổ chức và phối trí SĐ TQLC được tiến hành rất nhanh. Một Lữ Đoàn gồm ba tiểu đoàn bộ chiến và một tiểu đoàn pháo binh đã sẵn sàng để nhận trang bị chỉ trong vòng ba ngày. Mười ngày sau đó, thêm một Lữ Đoàn nữa được tái tổ chức và trang bị.


Trong lúc đó, vào ngày 1 tháng Tư, việc di tản khỏi Nha Trang chấm dứt, khi quân chính qui BV chiếm Cảng Nha Trang. Việc di tản tại Cam Ranh vẫn được tiếp tục. Sâu về phía nam, căn cứ Không Quân Phan Rang dưới áp lực nặng nề của địch đã bắt đầu di tản, dù SĐ 6KQ tại đây vẫn tiếp tục các hoạt động hành quân giới hạn. Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của QĐ3/QK3 được thành lập tại Phan Rang, đặt dưới quyền trách nhiệm của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, cựu Tư Lệnh QĐ4/QK4, và ngày 7 tháng Tư, Lữ Đoàn 2 Dù được không vận ra Phan Rang để tăng cường tuyến phòng thủ từ xa này. Ngày 9 tháng Tư, LĐ Dù di chuyễn ra Du Long, phía bắc Phan Rang trên đường số 1 để chặn đánh SĐ 10 Bắc quân đang ào ạt từ Cam Ranh tiến vào. Ngày 14 và 15 tháng Tư, SĐ 10 BV được sự yễm trợ của Trung Đoàn Pháo Binh 689, và chiến xa T54 đã tấn công phi trường Phan Rang cùng các cứ điểm phòng thũ khác của quân ta tại Phan Rang. Lực lượng phòng vệ Phan Rang gồm hai tiểu đoàn của LĐ 2 Dù, Liên Đoàn 33 BĐQ, hai trung đoàn trừ vừa được tái phối trí của SĐ 2BB, SĐ 6KQ và một số thiết quân vận M113 đã chống trả quyết liệt, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Bắc quân tiếp tục tăng cường lực lượng quyết dứt điểm phi trường Phan Rang. Đến ngày 16 tháng Tư, Phan Rang thất thủ. Tướng Nghi, Tư Lệnh Mặt Trận Phan Rang, Tướng Sang Tư Lệnh SĐ 6KQ và một số sĩ quan cao cấp khác đã lọt vào tay địch. Phan Thiết, thành phố thuộc tỉnh Bình Thuận, nằm về phía tây nam Phan Rang cũng bị địch tấn công dữ dội. Mặc dầu ba tiểu đoàn ĐPQ và 20-trung đội Nghĩa Quân Tiểu Khu Bình Thuận đã chống trả thật kiên cường dũng cảm, nhưng không thể nào ngăn chặn được môt lực lượng lớn quân chính qui BV tràn xuống từ vùng núi đồi phía bắc. Ngày 12 tháng Tư, Phan Thiết bị tràn ngập!

nguồn : mạng

                               




Sunday, March 8, 2020

Dầu Tiếng: Chiến Tranh và Hòa Bình
Lưu Thanh Bình
1. Dấu lặng trước cơn bão :
Năm 1972, năm thứ tám Mỹ đổ quân trực tiếp vào miền Nam, khi ấy dư luận Mỹ đã quá ngán ngẫm về một cuộc chiến tranh xa xôi tốn kém về người và của, nên Hiệp Định Paris là lối thoát hợp lý nhất, Hoa Kỳ chấp nhận hy sinh đồng minh để rút quân trong danh dự. Sau ngày 27.1.1973, ngày Hiệp Định có hiệu lực thì tình trạng ngưng chiến theo kiểu da beo xảy ra khắp miền Nam, dù hoà bình chỉ là tạm thời nhưng cũng thắp lên hy vọng vọng cho bao người, bao gia đình. Tại Dầu Tiếng, ranh giới là suối Dứa và suối Làng Hai. Hai bên bờ suối là hai màu cờ khác nhau. Buổi chiều, bên này bên kia ngầm thỏa thuận để lần lượt xuống suối tắm giặt. Trong kia là vùng an dưỡng, bệnh xá Miền. Còn chợ Trị Tâm thì hàng hoá đầy ắp vì đường liên tỉnh từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng thông suốt, xe đò Sài Gòn - Dầu Tiếng, Bình Dương - Dầu Tiếng chạy liên tục, dĩ nhiên phải mượn đường qua Tây Ninh ( Khiêm Hanh) vì Bến Súc đã là vùng giải phóng từ lâu. Do phải chạy vòng nên đường xa gấp đôi và giá cước cũng gấp đôi. Ai cũng biết phân nửa số hàng hoá đó đi về đâu, nhất là xà bông, pin đèn, vải nylon (để may võng), thuốc tây, hàng gia dụng và lương thực thực phẩm. Thân nhân ra vô thăm viếng nhau cũng dễ hơn. Và dĩ nhiên buôn lậu vô “trỏng” là nghề một vốn bốn lời, nhất là thuốc tây nên nếu gọi Trị Tâm là một thị trấn hậu cần của Mặt Trận GPMN cũng không ngoa. Khi đó bán kính an ninh của Trị Tâm chỉ có hơn 2 km mà thôi. Trên bản đồ, nhà đánh dấu đỏ chi chít. Đường Trường Sơn, Molotova mở đèn chạy sáng đêm mà không còn sợ B52 nữa. Giống như dân đi biển nhìn trời và bọt sóng có thể đoán trước cơn bão, người Dầu Tiếng bình thường cũng có thể đoán được những gì đang diễn ra trong rừng cao su với những dòng chảy tiếp tế liên tục không dứt từ ngoài thị trấn vào. Đó là dấu hiệu báo trước một cơn bão sấm sét sẽ đổ ụp xuống nay mai.
Sau Tết Ất Mão1975, Dầu Tiếng bước vào mùa khô, nắng gay gắt và bụi mù bốc lên theo từng chuyến xe hối hả chạy xuôi ngược. Không khí của Dầu Tiếng giống với vùng cao hơn là đồng bằng, nhiệt độ ngày đêm chênh lệch rất lớn, nhất là cái nắng khô hanh ban ngày rất khó chịu. Những dãy nhà mái tôn đứng im lìm, không gian nóng bức như đặc quánh lại. Buổi tối, gió núi và sương mù từ đồn điền cao su mênh mông thổi về, nghe như trong gió có tiếng xôn xao mơ hồ. Ban ngày, người ta gia cố vòng đai phòng thủ bằng những bao cát cao chất ngất. Radio loan báo tin thất thủ Phước Long kèm mấy bài hát rên rỉ nghe não lòng. Khi ấy, chương trình viện trợ khẩn cấp 300 triệu đô cho miền Nam đang nằm trên bàn họp của lưỡng viện Hoa Kỳ, và phái đoàn đại biểu sắp sang Sài Gòn. Chính quyền toan dùng lá bài thất thủ PhướcLong làm áp lực với Mỹ, nhưng đó chính là con dao hai lưởi, và quả nhiên chì mất mà chài cũng chẳng còn. Tiền không có mà tinh thần chiến đấu thì sa sút thảm hại. Cộng thêm phán đoán sai lầm về hướng tiến công chủ lực của quân đội miền Bắc (Ban Mê Thuột chứ không phải Pleiku), xem như số phận đã an bài. Và số phận cũng đã chọn quê hương Dầu Tiếng phải đổ nát tan hoang để Sài Gòn còn được nguyên vẹn.
2. Chiều 11 tháng 3 bên kia sông nhìn về Dầu Tiếng:
Tôi vẫn còn nhớ nắm cơm do sư cô ân cần trao cho chiều hôm đó, chỉ kèm chút muối đậu mà sao ngon quá. Sáng tinh mơ, do chạy trối chết băng sông nên trên mình tôi chỉ có bộ pyjama và quơ vội cái mắt kiếng cận. Lúc ra đến bờ sông đứng chờ đò, tôi mới thấy tiếc cái đồng hồ Longins mới sắm và cái bóp trong có giấy tờ tùy thân cùng tiền bạc. Nhưng biết làm sao, vầy là cũng hơn bao người rồi. Ngoảnh nhìn về bên kia sông, một vùng trời đầy tang thương, từng bựng khói đen bốc lên kèm tiếng ì đùng không dứt. Quanh tôi là những ánh mắt lo lắng đăm đắm nhìn về thị trấn, nơi ấy còn tài sản tích cóp bao nhiêu năm, còn những người thân kẹt lại giữa hai làn đạn. Và bọn người hôi của đang thả sức lùng sục. Trời gần về chiều, dòng người qua sông càng lúc càng đông mang theo bao nhiêu tin tức mới, càng gây thêm hoang mang lo lắng. Cánh đồng Bến Củi đông nghịt người hỗn độn xuôi ngược tới lui tìm thân nhân bị tản lạc và lo chỗ trú qua đêm.
Xế chiều thì có tiếng máy bay gầm rú nghe đinh tai điếc óc. Những chùm đạn pháo phòng không nổ lụp bụp trên bầu trời, in lên nền trời xanh những cụm mây trắng nhỏ. Hai chiếc F5 đảo lượn vài vòng rồi chúi xuống trút bom khu vực cổng Hãng, nơi có mấy chiếc T54 đậu trong sân. Rồi nghiêng cánh bay thẳng về Biên Hoà. Ngay tại đầu cầu Tàu, có một lô cốt dã chiến bằng bao cát, mái tôn. Chiều hôm đó, mấy chiếc tăng T54 lù lù bò từ trong ấp 4 ra và thong thả chỉnh hạ nòng trực xạ. Những quầng lửa đỏ pha cam phụt ra từ nòng súng trông như hoa chuối. Chỉ hai lượt là thổi bay nóc và còn trơ mấy bao cát vương vãi.
Dân Dầu Tiếng quá quen với tiếng đề pa của trọng pháo, nếu là một tiếng cốc khô khốc thì nhanh chóng cúi xuống, khoảng vài giây sẽ có tiếng rít xẹt ngang trên đầu. Còn nếu viên đạn rơi xuống gần thì dĩ nhiên không thể nghe được tiếng đề pa mà chỉ nghe ( hoặc không còn được nghe mãi mãi) tiếng ầm ầm cùng đất cát văng đầy người.
Có rất đông người trú trong một lò gạch ven sông, đêm hôm đó một số đã bị thương vong do một quả pháo lạc. Tôi may mắn đã rút ra ngoài đám ruộng trống từ chiều, do không chịu được không khí ồn ào chật hẹp. Không ai ngủ được vì tâm trạng rối bời, vì đạn pháo, những tiếng la hoảng bất chợt, tiếng trẻ nít khóc và hoả châu giăng đầy trời. Tiếng súng giao tranh chỉ còn nghe nhiều hướng chi khu, nhất là lựu đạn còn các nơi khác nghe rời rạc hoặc im hẳn tiếng súng.
Khi trời sáng thì đám đông hàng ngàn người rùng rùng chuyển động, không ai bảo ai cùng kéo về hướng làng 2 Bến Củi, về sau mới biết do quân Giải Phóng mở một khoản trống cho người dân chạy lánh nạn khỏi vùng chiến sự. Lần đầu tiên tôi thấy tận mắt nón tai bèo, súng AK băng cong báng gỗ và cờ xanh đỏ. Rất nhiều người ở trần chỉ mặc độc chiếc quần xà lỏn, nhìn biết ngay lính đào ngũ nhưng đối phương cũng chỉ khoác tay cho qua, không ai bị bắt giữ. Có lẽ vì đông quá (khoảng 5 ngàn người). Qua khỏi Bến Củi chừng hai km thì tôi và người bạn phát hiện ông quận trưởng bận quần xà lỏn đội nón lá rách tay cầm roi chăn bò lẫn trong đàn bò và đoàn người lánh nạn trong khi phía sau lưng, bên kia sông tiếng súng đạn đánh nhau còn ầm ầm (đa số sĩ quan chi khu đều chết vùi thây trong giao thông hào. Sau này chỉ phân biệt được nhờ tấm thẻ bài). Cũng giống như vậy là đồn suối Dứa, do bị vây bốn phía nên hầu như tất cả đều nằm lại tại đồn.Riêng hai đại đội tăng phái của tiểu đoàn ĐPQ 354 đóng ở vòng ngoài đều trở thành tù binh, bị dẫn bộ cắt rừng về Kà Tum trước khi thanh lọc. Riêng đồn pháo binh đóng tại ấp Một, mãi đến đêm 13 mới tự động tan hàng, khi đó quân số chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
3. Sau ngày 30.4.1975:
Hồi đó thỉnh thoảng có một chiếc xe chạy vòng vòng quanh thị trấn giống như quảng cáo tuồng hát xưa kia, nhưng không phải quảng cáo mà là thông báo dân chúng tập trung “4 giờ chiều sân bay” để xem toà án quân sự cách mạng xét xử công khai. Chiếc xe này (hiệu Daihatsu) của một người buôn bán ngoài chợ, sau này cũng được trưng dụng trong chiến dịch đổi tiền và cải tạo tư sản công thương nghiệp. Cụm từ “4 giờ chiều sân bay” một thời rất nổi tiếng, cùng với những phiên toà không luật sư và thẩm phán.
H. nguyên là nhà thầu củi cao su, cưa cây gãy đổ và già cỗi, cũng là nhân vật trung gian giữa Tây chủ đồn điền và bộ phận kinh tài Mặt Trận GPMN. Nghĩa là nhận tiền thuế từ Hãng Michelin rồi đem vô rừng nộp. Nhưng không đưa đủ mà ngắt lại một khúc. Đồng thời làm gián điệp cho cả hai bên, nên công cũng lắm mà tội cũng nhiều. Khi bị toà án quân sự Thủ Dầu Một tuyên án tử hình thì ông khụy xuống, đi không nổi phải có người dìu lên xe ( không hiểu sao khi tội nhân đứng nghe đọc bản án thì được nhìn tự do, chỉ khi tuyên án xong thì mới bị bịt mắt).
Một ông khác là sĩ quan Ban hai (An ninh điều tra), nghĩa là “có nợ máu với nhân dân”. Bị cán bộ Dầu Tiếng xuống Sài Gòn lùng bắt và chở về xử tội. Khi nghe tuyên án thì ông đứng thẳng người, đưa mắt nhìn quanh và khẽ nhếch mép. Theo lời kể lại, khi đến hiện trường trong lô cao su ông ta còn xin ba điều: một là cho vợ con lãnh xác về chôn, hai là cho uống một ngụm nước (?), và ba là xin xử bắn chứ đừng chém. Vừa dứt lời thì một người bước ra nạt lớn : “ĐM mày, trước kia mày tra khảo ba tao tới chết mày có cho ổng uống nước không? …”
( bỏ một đoạn)
Thực ra bộ đội chính quy miền Bắc rất thân thiện và dễ gần, thậm chí còn hơi… ngây thơ nữa. Họ nhìn quanh cái gì cũng lạ lẫm cả. Ngán nhất là mấy tay 30, chỉ cần nghe tiếng nhạc vàng phát ra từ nhà ai là đàng hoàng bước vô tịch thu cái máy hát ngay. Khi đó người ta định nghĩa nhạc vàng rất đơn giản: tất cả nhạc nào không phải nhạc đỏ ( nhạc cách mạng ) là nhạc vàng. Cũng như toàn bộ sách ngoại văn đều là phản động, kể cả từ điển. Đường từ Dầu Tiếng về Bình Dương qua Bến Súc đã lưu thông trở lại mặc dù rất xấu, đá xanh lởm chởm, ổ gà ổ voi lu bù nên bác tài cho xe chạy tránh bên phải rồi lại đánh tay lái qua trái liên tục. Mỗi xã, mỗi ấp đều đổ ra đường làm cổng chào và chốt gác, quan trọng nhất là một cây tre đực làm barie sơ sài nhưng bất khả xâm phạm, một đầu cột một tảng đá to, đầu kia cột ghịt vào một cây cọc cắm sâu xuống đất, khi thả lỏng dây ra là tự nhiên thanh chắn sẽ ngóc đầu lên. Đường thì xấu, xe thì chật cứng người ta và hàng hoá, lại cứ dừng liên tục vì chốt gác nên từ Dầu Tiếng đến Bình Dương chỉ 60 km mà bò từ sáng đến xế trưa mới tới. Đến bây giờ tôi vẫn còn ớn khi hồi tưởng lại hình ảnh của mấy tay du kích quàng khăn sọc carô đen trắng, súng lăm lăm cầm tay, mặt hầm hầm như đang tìm kẻ thù giai cấp trên xe. Tất cả hành khách đều phải xuống xe đi hàng một qua trạm, bên trong có mấy cặp mắt nhìn lom lom thấy ghê. Trong khi đó một người lên xe đi suốt từ đầu trên xuống đầu dưới, quan sát kỹ cả dưới gầm ghế, không bỏ sót một vật gì. Rồi có tiếng quát: bịch -gạo -ai -đâây, bao - than - ai - đâây? (im lặng). Như vậy là đồ vô chủ, đáng phải bị tịch thu (bây giờ tôi nghĩ họ cũng còn sống cả vì khi ấy họ còn trẻ lắm. Có khi nào họ nhớ lại và cảm thấy xấu hổ không nhỉ? Thực ra họ cũng chỉ là cấp thừa hành). Nhiều khi hành khách đã đi bộ qua trạm, lên xe gần đủ nhưng phải chờ một hai người còn kẹt đứng năn nỉ bỏ qua cho một hai món hàng cấm. Bị cấm nghiêm ngặt nhất là thịt bò, thịt trâu vì đó là sức kéo nông nghiệp. Nhà nào muốn hạ thịt thì phải làm đơn xin phép. Nên lúc bấy giờ bò bị rắn cắn, bò đạp trái, bò té giếng …lu bù, toàn là lý do chính đáng cả.
Xin kể câu chuyện đố vui về bắt dế nhủi. Đầu đề như sau: có 10 tàn thuốc, biết rằng cứ 3 tàn thì quấn ( hút) được 1 điếu.Vây làm sao với 10 tàn thì quấn (hút) được 5 điếu ? Thoạt tiên thì nhiều bạn nghĩ dễ ẹt : lấy 9 tàn quấn hút được 3 điếu. Hút xong còn lại 3 tàn thì quấn hút được 1 điếu nữa. Vị chi là đã được 4 điếu.Và còn 2 cái tàn. Đến đây là bí chắc. Lời giải như sau : mượn ai đó một cái tàn , gộp lại 3 tàn quấn thành một điếu.Hút xong trả lại cái tàn cho người ta!!.
4. Số phận thầy cô giáo Dầu Tiếng:
Sau ngày hoà bình, tôi theo dòng người hồi cư trở về Dầu Tiếng trình diện chính quyền mới. Giáo chức được xếp chung loại với thơ ký quận, thông tin chiêu hồi, nhân viên bưu điện, y tá … bỏ chung vào một rổ gọi là nguỵ quyền. Không phải sinh hoạt chính trị ba ngày mà là tập trung học tập tại chỗ. Chúng tôi bước vào bài học thứ nhất: đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta. Xen kẻ là những ngày lao động cực nhọc: lá tranh được những người lính đang học tập cải tạo cắt và sau đó xe máy kéo của công ty cao su chở về sân trường, phần còn lại là của thầy cô giáo: chẻ lạt, đánh thành tấm và đưa lên lợp mái. Cả tỉnh Bình Dương khi ấy chỉ ở Dầu Tiếng mới có cảnh tập trung cải tạo thầy cô giáo. Một mảnh đất đầy thù hận và bạo lực. Vậy mà khi có lịnh từ Ty Tiểu Học, thả thầy cô giáo ra chuẩn bị khai giảng năm học mới, nhiều người vẫn còn hậm hực (!). Sau này khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1990, qua báo chí tôi được biết không hề có phân biệt đối xử giữa người Đông Đức và Tây Đức. Thậm chí nhà nước Tây Đức (CHLB Đức) vẫn trả lương hưu cho công chức Đông Đức bình thường bằng quỹ của CHLB Đức. Và cũng vì không có phân biệt đối xử nên bà Merkel, một người sinh ra và lớn lên dưới chế độ XHCN Đông Đức mới trở thành Thủ tướng Đức, một quốc gia có nền kinh tế đứng đầu châu Âu. Hay ở Nam Phi, khi chế độ Apartheid sụp đổ, dưới chế độ hoà giải hoà hợp của Nelson Mandela không hề có tịch thu tài sản hay trả thù dân da trắng, cũng như ông vẫn duy trì bộ máy chính quyền gồm rất nhiều người trí thức, những công dân ưu tú của quốc gia. Vì vậy ông mới được trao giải Nobel hoà bình. Cũng xin nhắc lại ông Nelson Mandela đã phải chịu ngồi tù 27 năm ròng rã vì tội đấu tranh cho quyền bình đẵng của người da đen. Và Nam Phi nay là một cường quốc ở lục địa Phi Châu. Giờ nhìn sang nước láng giềng Campuchia, chế độ Polpot từng bị lên án là khát máu, là dã man, là diệt chủng, là bài tập thực hành chủ nghĩa Mao trên xương máu của người dân vô tội, nhưng bây giờ chỉ có lèo tèo mấy ông già sắp xuống lỗ phải ra toà, và Campuchia là một quốc gia đã bãi bỏ án tử hình từ lâu. Trở lại chuyện Dầu Tiếng, những năm sau đó, giáo viên bỏ nghề hàng loạt vì đồng lương dưới - mức - sống - tối - thiểu. Đồ đạc trong nhà lần lượt đội nón ra đi. Những đồ cổ nay tái xuất giang hồ: cối đá, xe ngựa, xe than, thuốc rê, Xuyên Tâm Liên trị bá bệnh. Thầy giáo áo bỏ ngoài quần, mang dép lê. Phần các cô thì áo dài cắt thành áo ngắn, không còn đâu cảnh những tà áo dài tha thướt, yểu điệu đi giữa sân trường, tay cầm cây dù màu sặc sỡ nữa. Có lần tôi xót xa nhìn các cô đứng túm tụm, chia nhau từng thìa nhỏ bột ngọt, đó là tiêu chuẩn của mỗi người/tháng. Đúng là “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Ôi những con người chấp nhận số phận, nhẫn nhịn chịu đựng và nuốt cục nghẹn vào trong. Giờ điểm lại: người còn kẻ mất, kẻ ra nước ngoài người về thành phố, kẻ chuyển nghề người bỏ dạy. Chuyện cũ như nước trôi qua cầu, nay hầu hết tóc đã muối nhiều hơn tiêu, hồi tưởng lại sao luống ngậm ngùi. Còn những người cao giọng giảng về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản; những người đã từng nổi giận vì bị chê Phòng Giáo Dục giống sạp trái cây Cầu Ngang thì giờ đây sở hữu hàng trăm héc ta cao su, đi xe hơi ở nhà biệt thự. Cũng có (tuy hơi hiếm) những con ngưòi ngay thẳng bộc trực sống cuộc đời liêm khiết như anh Ba H, khi sát nhập Dầu Tiếng và Bến Cát làm một huyện thì anh là Trưởng Phòng Giáo Dục, sau đó chuyển về làm trưởng phòng tổ chức công ty cao su Dầu Tiếng đến khi về hưu. Một cuộc đời đạm bạc và không màng tư lợi.
5. Vài kỷ niệm thời dạy học ở Dầu Tiếng:
Có người nói nghề dạy học là nghề đưa đò, vì các em ngày một tiến bộ: cấp hai, cấp ba, đại học và đi làm, còn thầy năm này qua tháng nọ cứ lấy sự tiến bộ của mấy lứa học trò làm vui. Vui vì được thấy em thành đạt, vui hơn khi được thấy em ngày thành gia thất, bây giờ càng vui hơn vì được các em mời thầy đến mừng các em ngồi làm sui. Bởi vì thầy cô tiểu học là người khai tâm mở trí thuở ban đầu cho con trẻ. Mỗi người phụ trách một lớp vài mươi em, dạy tất tần tật các môn, gặp nhau mỗi ngày nên học trò cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ hành vi thái độ ứng xử đến những điều căn bản như nét chữ viết, bản cửu chương, cách bao bìa dán nhãn, bảo quản tập sách, dạ thưa, chào hỏi, nói chung là học ăn học nói, học gói học mở… Các bạn nào đã từng có con nhỏ học tiểu học đều biết các cháu xem lời thầy cô là đúng tuyệt đối, nói gì là răm rắp nghe theo, phụ huynh không được “nghi ngờ”. Nên kỷ niệm về thầy cô tiểu học cũng in sâu đậm trong trí các em hơn là các thầy cô dạy môn sau này. Ở Dầu Tiếng, ngày 2 tháng 9 hàng năm là ngày các em mời thầy cô cũ về họp mặt. Rất nhiều em giờ là cán bộ lãnh đạo trong ngành cao su. Nhớ lại năm1978 khi tôi đang dạy học ở làng 18 (hiệu trưởng cũng phải đứng lớp vì thiếu giáo viên), khoảng 10 giờ sáng thì nghe xôn xao cuối lớp, hỏi thì có em nhanh nhảu trả lời dạ thưa thầy nó bị…xỉu. Sao vậy, sao xỉu? Dạ thưa thầy nó đói. Trời ơi, con trẻ sao khổ thế này! Tôi muốn rớt nước mắt mà phải kìm lại, giả lảng qua chuyện khác: xức dầu, bắt gió và cho em về sớm. Thực ra lúc đó tôi cũng đâu có ăn sáng (và chắc nhiều người cũng vậy). Không biết bây giờ em có còn nhớ thầy không, nhưng chuyện hôm đó theo tôi đến tận bây giờ. Tôi còn nhớ chỉ vài ngày sau thì trên radio có thông báo bộ đội Việt Nam đánh qua Campuchia.
Năm 1976 tôi dạy lớp năm trường Định Thành, lớp cuối cấp một vì có nghiệp vụ sư phạm chính quy. Lớp toàn học sinh nam, học rất giỏi; mặc dù trường lớp tạm bợ vì sau chiến tranh, lớp chỉ còn mấy bức tường, mái lợp tạm bằng tranh. Thường đến tiết cuối là thầy trò đều oải, nên tôi phải hâm nóng bằng mấy bài hát. Không hiểu sao chúng khoái hát bài “Bão nổi lên rồi” lắm, sau mới phát hiện chúng trêu người bạn tên Sơn có cha tên Hai Bảo. Biết vậy mà Sơn cũng gân cổ đập bàn hát to không kém ai. (Đúng là phong cách Hướng Đạo. Bạn trêu ta thì ta trêu lại!). Sơn bị sốt bại liệt từ nhỏ, cả hai chân đều teo tóp, đi lại phải chống hai tay mà lết. Nhà ba má em nghèo (ở ấp Hai) nhưng cũng cố cho con ăn học, mong em có chút chữ nghĩa nuôi thân. Tiếc là khi đó đã có máy tính, Internet gì đâu. Em học lực chỉ trung bình nhưng ngoan và vui. Thường làm trò bằng cách vắt hai chân lên cổ tức cười lắm. Một em học chung (tên gì tôi quên mất) thường đến nhà chở bạn bằng xe đạp, Sơn tự trèo lên baga một mình không nhờ ai, cũng có khi bạn cõng em về. Giờ em ngồi sửa quẹt bơm ga ở ngã ba cây Vừng , gần chợ chiều. Hôm rồi về thăm Dầu Tiếng thầy trò có chụp chung nhau một tấm hình kỷ niệm.
Mấy năm ở Dầu Tiếng tôi tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống… còn, nhất là lĩnh vực nông nghiệp: sạ, cấy, cắt, đập lúa; trỉa lúa gò, trỉa đậu, đặt hom khoai mì; quơ củi trong lô, làm cỏ mía, đặt trúm đặt lợp, đặt sa mùa cá chạy, thả đáy,trút đục, đánh bẫy lủi. Nhậu rượu đế mồi cua đinh, cá chạch, tép sống. Xin nói thêm về mùa cá chạy. Tháng năm, khi những cơn mưa lớn đầu mùa đổ nước trắng đồng và chảy ra sông suối, ấy là lúc cá sông ngược dòng tìm nơi đẻ trứng. Cuối năm, khi trời dứt mưa và trở gió thì cá lại theo nước xuống tìm đường ra sông lớn. Đó là quy luật ngàn năm của tạo hoá. Và con người cứ theo quy luật đó mà thâu tóm sản vật của đất trời. Những cơn gió chướng (gió Bấc) hiu hiu thổi vào lúc nắng sớm, người ta đặt những cái lợp làm bằng tre đan tại những nút thắt, cá theo dòng nước đổ chui vào nằm đó chờ người ta trút lợp, bao nhiêu tôm tép, cá lớn cá nhỏ đều nhảy tưng tưng (hoặc không đặt lợp mà thay bằng sàn tre đan khít cũng được). Thêm bánh tráng rau sống nước mắm ớt là được một bữa huy hoàng tại chỗ.
Có một dụng cụ để làm cỏ gốc khi cây cao su còn nhỏ, dân Dầu Tiếng không gọi là cái cuốc mà gọi là cái “xạc lai”. Hình chữ nhật cở hai bàn tay người lớn, một góc có tai để tra vào cán. Rất nhẹ, dễ dẫy cỏ, gom đống, kéo rê… đồng thời cũng dùng để làm cỏ đậu, dễ luồn lách giữa hai gốc, hai hàng đậu. Chỉ có dân làm cao su mới biết, khi hỏi dân xứ khác có biết cái xạc lai không thì họ hỏi lại “hả”, trông ngố lắm.
6. Xin giữ màu xanh cho quê hương:
Kinh tế Bến Cát bây giờ đã bỏ xa Dầu Tiếng rồi. GDP đầu người cao hơn gấp hai, gấp ba Dầu Tiếng, giao thông hết sức thuận lợi nên các dịch vụ như xây dựng, địa ốc, ngân hàng, bệnh viện, vận tải… rất phát triển, tư nhân sắm được xe hơi cũng nhiều hơn. Thị trấn Mỹ Phước dành hẳn phân nữa đất đai cho các khu công nghiệp, khu dân cư mới. Bây giờ nhìn chợ Bến Cát (cũ) đứng khép nép sao mà tội nghiệp trong khi khu dân cư mới với mấy khu phố thương mại, siêu thị thật hoành tráng. Nhưng cũng có một bộ phận mất đất đai nhà cửa nghề nghiệp cho công nghiệp hoá, cho các khu công nghiệp và hạ tầng giao thông. Rõ ràng người ta chấp nhận hy sinh quyền lợi của một bộ phận dân cư này để một bộ phận dân cư khác làm giàu. Tôi rất nghi ngờ hiệu quả của việc tái định cư. Cầm bó bạc đền bù và chun vô mấy cái nhà hộp bốn bề bê tông tường gạch ư?. Những người đã quen với cái cuốc, máy bơm tưới, liếp rau luống cải, quen với cái liềm cắt lúa cắt cỏ, giàn dưa leo, chiếc xe bò và những liếp bánh tráng. Những người đã quen với việc tiện đâu đái đó, đê mê ngữa mặt nhìn trời và thưởng thức gió mát hiu hiu thổi, bây giờ tập làm quen với bô tiểu bồn cầu. (Xin các bạn đừng cười, nếu ai đó nói đái đường không khoái thì tôi nói thật, đó là nói láo). Chuyển đổi nghề nghiệp ư? Có ai thống kê dùm đời sống người dân vài năm sau giải tỏa như thế nào ? Bao nhiêu % thành công, bao nhiêu % thất bại ? Khi trao tiền đền bù là xong phần trách nhiệm của nhà đầu tư rồi ư? Lái xe ôm, cất nhà trọ, buôn bán nhỏ,… Người ta cứ hay đưa lên gương điển hình như trồng chăm sóc hoa kiểng trong các khu công nghiệp, tiểu thương, chủ nhà trọ… nhưng bỏ qua cảnh ly tán, cốt nhục tương tàn vì đồng tiền đền bù giải tỏa rẻ mạt, đó là chưa kể nguy cơ tha hoá do có tiền đột xuất. Tôi biết có một trường hợp chồng chăn vịt chạy đồng, vợ trồng lài (hái nhụy ướp trà), ngủ một đêm thức dậy thành triệu phú. Việc đầu tiên là sắm ngay sợi dây chuyền vàng đeo xệ cổ và chiếc xe Dream II, vô nhà hàng karaoke, bia ôm mà gót chân còn nứt và móng còn dính phèn. Tự nhiên bạn bè nhiều vô kể. Và “người ta” sao mà thơm quá còn vợ mình thì chua lè.Và chuyện gì phải đến thì đã đến… Đã lâu tôi không còn nghe nói về anh ta nữa. Gọi là nạn nhân thì cũng đúng mà cũng có thể không đúng. Trở lại chuyện quê nhà, Dầu Tiếng có thể còn người nghèo, có thể còn cảnh chạy gạo từng bữa , có thể còn có những em nghèo học giỏi phải bỏ học dỡ dang vì gia cảnh. Nhưng những cảnh đó không điển hình. Nếu hai vợ chồng cùng là công nhân cao su, thì có thể lo ăn học tươm tất cho hai đứa con. Làng 14, làng 18 đã có trung học cơ sở (hết lớp 9), và làng 10 đã có trường PTTH ( hết lớp 12). Cầu trời mấy ông quy hoạch đừng “hoạch” quê hương (vợ) tôi, xin hãy giữ màu xanh cho con cháu, xem như của để dành. Thế mạnh của Dầu Tiếng là phát triển bền vững nhờ cây cao su, và du lịch sinh thái. Đó là con đường thoát nghèo căn cơ lâu dài. Nếu con đường Suối Giữa - Cầu Ông Cộ - Bến Súc hoàn thành thì từ Sài Gòn, Thị Xã TDM đi Dầu Tiếng có xa xôi gì ? Hồ Dầu Tiếng – Núi Cậu – Chùa Thái Sơn - Hồ Cần Nôm là một khu du lịch liên hoàn, ngay bây giờ đã là một nơi hành hương nổi tiếng, các tour du lịch viếng núi Bà Đen luôn luôn phải ghé qua núi Cậu trên đường về. Chỉ hơi tiếc là trước chùa có hàng trăm sạp bán hàng , quà lưu niệm mà có cái nào của Dầu Tiếng đâu: muối ớt Trảng Bàng, bánh tráng sữa, bánh tráng phơi sương, bánh tráng mè, khô cá, khô bò, vòng mã não, chuổi tràng hạt, hàng sơn mài, hàng đồi mồi, nón quạt lá buông,thú nhồi bông, kẹo dừa Bến Tre, quần áo sida ( second hand), mắt kiếng, dây nịt, cây củ rễ thuốc Nam vô bịch…. toàn là đem nơi khác tới. Hàng mây tre lá vắng bóng hẳn (đủa tre, đủa xới cơm, rổ rá rế, liềm cuốc, đục, nơm, lồng chim, giỏ bội…) trong khi chính đây lại là truyền thống của Dầu Tiếng. Mỗi năm, Dầu Tiếng đều có tổ chức cuộc thi chạy việt dã leo núi Cậu. (Một trong bốn cuộc thi leo núi truyền thống đầu Xuân, ba cuộc thi kia là: Núi Chứa Chan, Núi Bà Đen và núi Bà Rá). Một hình thức quảng bá du lịch địa phương rất tốt. Hôm rồi tôi khám phá được một bãi bồi ven hồ cỏ xanh mướt rượt, tôi cứ đứng nhìn bồi hồi ước gì được đưa các em Hướng Đạo Sinh đến đây tham quan cắm trại. Chỉ lo nếu các nhà làm quy hoạch biết được, lên dự án làm sân gôn hay trại ngựa giống thì…hu hu.

Hồ Dầu Tiếng
7. Ngày Tết, quê hương, đất nước, ông bà:
Thầy Gia Quang (ba của bạn Nguyễn Vinh Quy, tôi có nhắc tới trong bài Sân trường yêu dấu) hiệu phó trường Định Thành là bậc cha chú, khi bất đồng ý kiến là ông quát : Mày biết cái gì? Lúc tao đi dạy thì mày còn đang ở …Cuba lận. (Có khi còn ở dưới đầu gối của ba chớ không được Cuba nữa). Ngẫm cho kỹ ông nói cũng đúng. Thân xác này là hoa của đất, lớn lên từ đất mà. Hai tiếng quê hương, đất nước, ông bà… coi vậy mà thiêng liêng lắm. Nhất là chúng ta, những người được nuôi lớn lên từ sản vật của đất Dầu Tiếng và nước mát của nguồn sông Sài Gòn… Nếu lỡ có trăm tuổi thì hồn phách cũng vượt đại dương mà về nơi chôn nhau cắt rún. Ở dưới chắc không phân biệt địch ta gì đâu. Ngày 25 Tết đi dẫy cỏ mả ông bà, tôi thấy ai cũng tiện tay thắp vài nén nhang cho những nấm mồ bên cạnh cho đỡ hiu quạnh, cũng là truyền thống hoà hợp tốt đẹp của dân tộc ta đó. Riêng tôi thì cứ theo đúng lệ cũ : mồng một Tết cha, mùng hai Tết vợ mùng ba Tết Thầy. Nên mùng hai Tết về Dầu Tiếng là phải nghiêm chỉnh chấp hành nếu muốn chơi xả láng mấy mùng còn lại, có khi qua mùng tới mền cũng chơi luôn. Ngày ba mươi cuối năm nay là ngày Thứ Bảy 13.2.2010. Thường lệ, chiều hôm đó nhà của người Việt nào cũng có mâm cơm cúng ông bà gồm thịt kho hột vịt, dưa giá, bánh tét, tô canh khổ qua… mà rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Khấn hương xong, bạn hãy đứng nhìn làn khói tỏa xem có lên cao thẳng như sợi chỉ không. Ấy là ông bà đang chứng minh cho lòng thành của bạn đó. Không biết bên Mỹ có mảng cầu dừa vừa đu đủ xoài xài không. Đó là ngụ ý muốn xin “ ngó lên thì không bằng ai, ngó xuống nhiều “ai” không bằng mình” đó mà. Xin nói thêm về trái khổ qua. Ba ngày Tết, đến nhà ai cũng thịt kho tàu, hột vịt, dưa giá, củ kiệu, bánh tét, củ cải mặn, bánh tráng… thét phát ngán tới cổ họng. Chỉ còn canh khổ qua là húp được. Đăng đắng hợp với khẩu vị đám cháu ông Lưu Linh. Mà sao bây giờ trái lớn, dầy cơm, và ít đắng quá. Một người bạn (là anh Giàu, rể của lớp B5) chỉ cho bí quyết giữ cho trái khổ qua không rục vì hâm đi hâm lại: bỏ nồi canh khổ qua vô tủ lạnh, ăn tới đâu múc ra hâm lại tới đó ( nếu có lò vi sóng thì càng tốt) như vậy lúc nào võ cũng dòn (hình như ai cũng khoái ăn võ hơn ăn thịt). Hồi nhỏ, tôi vừa mong Tết mau tới mà cũng sợ muốn chết vì cái khổ chùi lư. Một bọc trái khế chua để trước mặt kèm theo mớ giẻ vụn và chai dầu hôi. Chà đi xát lại còn hơn Mỹ đi càn mà nó không chịu bóng. “Teng” (xỉ đồng) ra đen thui cả mấy ngón tay. Xong rồi đem phơi nắng, lau lại lần chót trước khi đưa lên bàn thờ. Bây giờ có dịch vụ chùi lư rồi, người ta treo bảng chùi lư … lấy liền đầy đường. Sướng thiệt. Thứ hai là ngắt đuôi cọng giá trước khi làm dưa (ngâm nước muối). Trời đất ơi. Chị em tôi cứ vừa làm vừa thở dài sườn sượt như con gái bị ép gã vậy. Thứ ba là lặt lá mai. Xong rồi phải hốt dọn gom đốt nữa chứ. Giờ có dịch vụ cho mướn chậu mai ba ngày Tết hoặc mướn bảo quản chăm sóc suốt năm, chớ nhà chung cư hoặc phố liên kế lấy đâu ra mặt bằng mà chứa. Cuối cùng là rửa nhà. Nghĩa là muốn lấy được tiền lì xì cũng chua lắm. Ngày nay, đến Tết trai thanh gái lịch Dầu Tiếng và vùng lân cận hay rũ nhau đi chơi núi Cậu, lễ chùa Thái Sơn và tụ tập sinh hoạt tại hồ Than Thở. Vui lắm. Tôi có đứa cháu vợ năm rồi phải bỏ thầu cả trăm triệu mới được giữ xe khu du lịch Núi Cậu. Nếu được bỏ phiếu chọn biểu tượng Dầu Tiếng tôi sẽ chọn hình ảnh dãy núi Cậu và hồ Dầu Tiếng.Và con chim đa đa.
Lưu Thanh Bình
12 - 2009