Sunday, August 23, 2026

 Căn cứ Nước Là - mật khu Đỗ Xá, trên địa bàn huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam là di tích cấp quốc gia. Một con đường dài 39 km xuyên qua vùng núi non hiểm trở này vừa thông tuyến để nối với huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum)...

Mật khu bất khả xâm phạm

Mật khu Đỗ Xá (*) hay căn cứ Đăk Bla (Nước Là) thành lập từ cuối thập niên 1950 thế kỷ trước nhằm hiện thực hóa đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam của Nghị quyết 15 T.Ư ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Mật khu Đỗ Xá gắn liền với những tên tuổi lừng lẫy một thời của quân Giải phóng miền Nam như Võ Toàn (Võ Chí Công), các tướng Trần Kiên, Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân, Trương Chí Cương, Võ Thứ, Hoàng Minh Thắng, Mười Chấp... Mật khu Đỗ Xá  nay là vùng Tăk Pỏ, Nước Là gần Trung tâm hành chính huyện Nam Trà My ngày nay.

 

Mật khu Đỗ xá nay là huyện lỵ Nam Trà My - Ảnh: T.Đ.T

Ông Nguyễn Văn Cao, nguyên Phó văn phòng Khu ủy 5 lúc đó, nhớ lại: “Trong những năm chiến tranh đặc biệt, địch thường xuyên đưa lực lượng càn quét đánh phá các khu căn cứ của cánh mạng. Mùa hè năm 1964, tướng Sài Gòn Nguyễn Khánh đưa 3 sư đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đánh vào mật khu Đỗ Xá và vùng núi non hiểm trở giáp ranh giữa 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum để tiêu diệt các cơ quan đầu não cách mạng ở khu Trung Trung bộ...”. Tài liệu lưu trữ cho thấy lúc đó, quân đội Sài Gòn đã đổ hàng trăm tấn bom và hàng ngàn quân thiện chiến của Vùng I và II chiến thuật và TQLC nhiều lần tấn công vào Đỗ Xá, nhưng đã bị thiệt hại nặng nề. “Dân quân du kích và đồng bào các dân tộc tổ chức bố phòng bằng chông kín các ngả đường và các điểm cao trọng yếu kể cả xây dựng các trận địa bắn máy bay, sẵn sàng chiến đấu. Hàng trăm lính và hàng chục máy bay trực thăng đã bị ta bắn rơi, buộc chúng phải rút lui... Chiến thắng Đỗ Xá cho thấy ý nghĩa và vai trò lịch sử của mật khu này trong lúc lực lượng vũ trang của quân khu còn non trẻ”, ông Cao kể...

Về phía quân đội Sài Gòn, tham gia vào những đợt tấn công mật khu Đỗ Xá, có các tên tuổi cộm cán sau này như Ngô Quang Trưởng, Bùi Thế Lân, Lê Nguyên Khang lúc đó hãy còn là những sĩ quan cấp úy. Tướng Nguyễn Văn Hiếu của quân đội Sài Gòn thừa nhận trong hồi ký “Hai lần thâm nhập mật khu Đỗ Xá”: Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của trung tá Ngô Dzu, Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhưng họ đã bị thất bại cách ê chề vì đạo quân tung vào bị địch quân đánh dội trở ra sau khi nướng mất trọn một tiểu đoàn...

Ngày 28.4.2004, nhật báo New York Times tường thuật: “Hai mật khu Việt Cộng là Đỗ Xá và Mang Xin, do Cộng sản kiểm soát từ cuộc chiến Đông Dương chống Pháp sau Đệ nhị Thế chiến. Quân lính chính phủ xâm nhập vào vùng này lần đầu tiên năm ngoái, nhưng đã không diệt được sự kháng cự của Việt Cộng...”. Sau đó, hãng tin UPI của Mỹ tường thuật từ Sài Gòn: “QLVNCH cũng đã tổ chức hai cuộc xâm nhập vào mật khu này... Các nguồn tin Hoa Kỳ nói mỗi chiếc trực thăng xử dụng trong cuộc không vận đều bị trúng đạn của hỏa lực Cộng quân bắn từ dưới đất... Các nguồn tin này chối bỏ việc lực lượng chính phủ bị sa lầy, nhưng nhiều báo cáo nói ngược lại...”.

Thế trận lòng dân

Cựu đại tá Đỗ Phú Đáp, tập kết ra Bắc và quay về để kịp có mặt trong những ngày thành lập mật khu kể rằng, ngoài sự lớn mạnh của lực lượng quân sự, “nhân dân các dân tộc Xê Đăng, Bhơ-noong, Ca Dong một lòng một dạ đi theo cách mạng... cung cấp lương thực thực phẩm cho bộ đội, cung cấp thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu. Đó là một trong những nhân tố quan trọng làm chỗ dựa vững chắc cho căn cứ mật khu Đỗ Xá...”. Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Lê Tấn Tỏa, lúc đó công tác ở Ban Tổ chức Khu ủy, kể: “Chúng tôi vào nhà dân, lúc nào dân cũng tiếp đãi rất tử tế. Lúc tôi ở làng Tak Chanh bà con ở các nóc gần đó hàng ngày mang gạo, bắp, củ mì, rau quả đến cho ăn không hết. Có hôm họ còn mời cán bộ sang nhà họ ăn cơm... Họ đi săn được heo hay nai cũng chia cho chúng tôi...”.

Thế trận lòng dân của mật khu Đỗ Xá được nhà báo Võ Thế Ái (TTXVN) ghi lại trong hồi ký Bước chuyển lớn trên Trường Sơn: “Đồng bào bấy lâu chỉ khao khát cách mạng cho lệnh đánh và cướp chính quyền, nay thấy cách mạng kêu gọi đóng góp nuôi quân thì liền hưởng ứng nhiệt liệt. Vượt qua mọi việc dò xét của địch, các buôn làng dựng lên hàng loạt kho gạo cách mạng... Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa, đồng bào còn làm thêm nhiều rẫy sắn dành hẳn cho lực lượng thoát ly, gọi là rẫy cách mạng...”. Ông Hoàng Minh Thắng sau này là Bộ trưởng Bộ Thương mại, đau đáu về những hy sinh to lớn của hàng vạn người dân các dân tộc thiểu số ở đây: “Chúng ta phải có trách nhiệm để người dân, những người từng cưu mang chúng ta để cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, có được cuộc sống no đủ. u đó cũng là sự trả nghĩa cho ho...”.

Từ Đỗ Xá đến Nam Trà My

Bí thư Huyện ủy Hồ Thanh Bá nói: “Nam Trà My là một trong 62 huyện nghèo nhất nước, 64% trong số 24 ngàn dân thuộc đối tượng nghèo theo chuẩn cũ. Nếu tính theo chuẩn mới, con số này lên tới 84%. Đây là vùng núi non hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt nhưng việc đầu tư hạ tầng và các chính sách của nhà nước chưa tương xứng...”.

Nam Trà My hiện có 10 xã với hơn 97% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo tập quán tự sản tự tiêu, không có ruộng lúa nước nên lúa rẫy thường bị mất mùa nếu thời tiết không thuận lợi... Trong 2 năm qua, chúng tôi đã đưa gần 900 thanh niên đi xuất khẩu lao động, nhưng chỉ hơn 1/3 trong số đó đủ tiêu chuẩn vì nhiều người không đủ sức khỏe, bị các bệnh về gan, phổi hoặc không đủ trình độ văn hóa đã bị từ chối! Toàn huyện tuy xã nào cũng có trạm xá nhưng chỉ có mấy y tá vì đầu vào để đào tạo bác sĩ, y sĩ  tốt nghiệp phổ thông trung học là rất hiếm...”.

Người dân Nam Trà My sống bằng cây quế, cây sâm Ngọc Linh và loài cá niêng. Nhưng giống quế thuần chủng bị pha tạp, giá cả tùy thuộc vào tư thương. Bột quế cũng khó tiêu thụ vì bị mất thương hiệu. Cây sâm Ngọc Linh là thế mạnh của vài xã nhưng cũng gặp khó khăn về giống và nạn mất cắp, còn cá niêng thì ngày càng ít đi do môi trường bị xâm hại và nạn đánh bắt theo kiểu hủy diệt. Theo Chủ tịch huyện Hồ Văn Ny, tập quán sản xuất và cơ chế chính sách dành cho đồng bào miền núi chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Đầu tư theo Nghị định 30a của chính phủ mà mỗi năm chỉ rót xuống 20-30 tỉ đồng so với nhu cầu của huyện là 4.000 tỉ đồng, thì tôi tính ra phải mất đến... 111 năm mới hoàn tất!”.

Trên con đường Nam Quảng Nam mới mở nối thị trấn Tăk Pỏ đến huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) với vốn đầu tư gần 1.300 tỉ đồng nhằm phát triển vùng kinh tế Nam Trà My, nhiều ngôi nhà tôn, nhà gạch của nhiều hộ người miền xuôi lên xây dựng và mở cửa hàng buôn bán. Những chiếc xe thồ hàng chở đầy gà vịt, bia rượu từ hướng Tiên Phước lên cung cấp hàng tươi cho các lán trại công nhân cầu đường. Hàng ngàn mét khối gỗ ven những cánh rừng nguyên sinh quanh khu vực Ngọc Linh đã được đốn hạ “tận thu” để làm đường. Các xóm nhà người dân tộc của các xã Trà Mai, Trà Dơn vẫn nằm cách biệt trên những bờ dốc đứng cheo leo, bên những cánh rừng nguyên sinh và những nương rẫy bé tẹo. Dường như họ không quan tâm đến nền “kinh tế thị trường” đang nhộn nhịp bên ngoài. Ông Hồ Văn Ny cho biết: “Nhiều thanh niên địa phương bỏ học, hàng ngày vào rừng bứt mây, lột quế hoặc đi làm công ngày nào đòi tiền ngày ấy chỉ để... uống rượu. Tâm lý ỷ lại nhà nước và thói quen tư duy tự sản tự tiêu cứ mãi kìm hãm sự phát triển của họ...”.

Rõ ràng, rất nhiều sự đầu tư của nhà nước cho vùng cao như Nam Trà My, nhưng sự dàn trải; manh mún trong đầu tư, tư duy ỷ lại và tập quán sản xuất lạc hậu của người dân thiểu số vùng cao đã khiến cho cơ hội hưởng thụ “sự trả nghĩa” của người dân thiểu số ở mật khu xưa, như cách nói của ông Hoàng Minh Thắng, trở nên ít hiệu quả.

Phóng sự Trương Điện Thắng

(*) Theo nhà báo Võ Thế Ái, Đỗ Xá là mật danh của căn cứ Nước Là, cũng có người cho đó là tên của một chiến sĩ hy sinh khi đi tìm vị trí xây dựng căn cứ.

Dành cho bạn

 LÊ = 35 = 8

THỊ = 451 = 10 = 1

PHỈ = 851 = 14 = 5

cộng lại: 8 1 5 = 14.


Thursday, August 20, 2026

 Trong khuôn khổ của trận sông Đáy, đồn Yên Cư Hạ, một trong những mắt xích (verrou) của tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi trung đoàn 88, biệt danh “trung đoàn Sông Đáy”. Trong đêm 4 rạng ngày 5/6, quân phòng thủ (gồm một đại đội dân quân hay pạc-ti-dân người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, tăng cường từ ngày 30/5 bởi 120 lính của đại đội thám kích Romary) bị tấn công liên tiếp bởi đạn không giựt SKZ và đạn cối lân tinh trắng. (Đây là lần đầu tiên Việt Minh dùng đạn này. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các người lính quyết tử của VM đã phá hàng rào bằng thuốc nổ lỏm và tấn công tràn ngập tiền đồn; và đồn đã đổi chủ bốn lần và một số pháo đài (casemate) đổi chủ sáu lần. Bên trong đồn, những quân phòng thủ sống sót đã cận chiến trong tuyệt vọng bằng lưởi lê. Trong giờ phút một nhóm nhỏ chiến binh, chỉ huy bởi trung úy Romary (đại đội trưởng thám kích), thì tàu LSSSL số 6 của lực lượng thủy bộ hay Dinassaut số 3 đã xuất hiện trên Sông Đáy, và họ đã khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh tập hậu và cắt đứt đường rút lui của VM bằng đại bác.

(Lúc đó trung úy Romary đã bị trúng đạn bắn thẳng 2 lần, chưa kể miểng đạn pháo kích).

 

ĐỒN YÊN CƯ HẠ: TRONG MỘT ĐÊM ĐÃ ĐỔI CHỦ BỐN LẦN

      

Đức giám muc Lê hữu Từ và HCM duyệt hàng quân tại Hà Đông tháng 2 1951.

Lời nói đầu: Chỉ trong 1 đêm, một tiền đồn gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam (phần lớn là giáo dân) của tỉnh Hưng Yên, ở miền bắc, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 năm 1951 bởi 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary, đã chiến đấu ác liệt chống lại một trung đoàn VM, như tựa của bài viết. (Lính pạc-ti-dăn giống như dân vệ hay ĐPQ ở miền nam trước 1975 -- ND) 

Ảnh trên và dưới: Bản đồ về Trận Sông Đáy.

             

              Bản đồ về mặt trận Ninh Bình.

I/ TRẬN SÔNG ĐÁY 30/5/1951 – 8/6/1951

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) đã về Hà Nội đêm 29 rạng 30/5/1951. Hôm sau TĐ được thả dù xuống Dang Dông, gần Ninh Bình ngày 30/5/1951 và tham dự hành quân với Chiến đoàn 1 tới ngày 8/6/51.

Trong trận chiến Sông Đáy, tiền đồn Yên Cư Hạ, một cứ điểm quan trọng trong tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi Trung đoàn 88 của Việt Minh (VM), có biệt danh là "Trung đoàn Sông Đáy". Vào đêm 4-5 tháng 6, quân đồn trú (gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 với 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary) đã bị pháo kích dữ dội trong hai giờ bằng súng không giật (SKZ) và súng cối. (Đây là lần đầu tiên, Việt Minh (VM) sử dụng đạn cối chứa phốt-pho trắng. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các "quyết tử quân" VM đã phá hoại các bức tường bằng thuốc nổ lỏm, và cuộc tổng tấn công đã tràn ngập vị trí; tiền đồn này đổi chủ bốn lần, và một số lô cốt đổi chủ sáu lần. Những người lính đồn trú sống sót đã chiến đấu tuyệt vọng bằng cận chiến với lưỡi lê ngay trong tiền đồn. Trong khi nhóm nhỏ chiến binh do Trung úy Romary chỉ huy (bị thương bởi hai viên đạn và nhiều mảnh đạn) tưởng chừng như sắp bị tiêu diệt, chiếc LSSL (tàu đổ bộ cỡ lớn) số 6 thuộc hải đoàn (Dinassaut) tấn công số 3 xuất hiện trên sông Đáy, và khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh vào phía sau quân địch và cắt đứt đường rút lui của chúng bằng đại bác.

Ảnh: Các máy bay Bearcat đã ném bom và bắn phá chung quanh núi Ninh Bình, do VM chiếm giữ, với trợ lực của chiến xa.

 

II/ TỔNG KẾT:

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) có 15 chết, trong đó có trung úy Laperrousaz, trung sĩ nhứt Froely và 60 bị thương, xem ảnh.

Tịch thu của VM: 1 đại bác 57 SKZ, 5 trung liên, 18 tiểu liên, 19 súng trường và một số lượng lớn thuốc nổ.

Số lính VM chết: 149 xác đếm được tại hàng rào, 300 xác trên đường rút quân (của trung đoàn 36 thuộc sư 308 và hai TĐ của một trung đoàn khác).

Ảnh: TĐ 7 Dù Thuộc địa rời đồn Yên Cư Hạ và lên tàu LCM.

 

III/ Cuộc tấn công thất bại vào tiền đồn Yên Cư Hạ đã khiến Sư đoàn 308, một đơn vị tinh nhuệ của Việt Minh (nổi tiếng với biệt danh "Sư đoàn Thép"), thiệt hại khoảng một nghìn người. Các tù binh VM được tập trung và chuyên chở bởi các tàu bọc thép chở quân (LCM) của hải đoàn Dinassaut số 3 và tù binh được giao cho Tiểu đoàn 4/7 Khinh chiến của trung đoàn bộ binh người An-giê-ri (IVe BM/7 RTA) chăm sóc. Sau đó, TĐ khinh chiến này đã giúp VM khiêng những người bị thương của họ trong khi đổ bộ lên bờ phải sông Đáy.

Trong khi đó, một số đợt tăng viện được tổ chức để củng cố tiền đồn vừa được tái chiếm. Tàu đổ bộ LSSL số 6, từng đã bị trúng hai phát đạn SKZ trong khi chạy ngược dòng vào ban đêm để nhanh chóng đến Yên Cư Hạ, hiện đang neo đậu không xa tiền đồn. Lính của Tiểu đoàn 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) tiến dọc theo đê chắn sóng sau khi đổ bộ và tiến vào tiền đồn, xem ảnh.

Một lính Dù phụ trách máy truyền tin SCR 694, đang lắp đặt thiết bị giữa đống đổ nát, được các thân binh hay dân quân hỗ trợ, trong khi đồng đội của anh ta kiểm tra một khẩu pháo 155mm ngắn nòng nằm giữa đống đổ nát. Các binh sĩ An-giê-ri hoàn tất việc di chuyển những bộ đội bị thương bằng cáng tự chế hoặc, nếu không có, thì khiêng họ bằng tay.

Đại đội 13 (của Đại úy Sausse) thuộc Tiểu đoàn Dù Thuộc địa số 7 (7th BPC) được đổ bộ bằng tàu đổ bộ LCM và nhanh chóng yểm trợ quân trú phòng. Họ phải dùng thuốc nổ để phá hủy tháp canh nhìn xuống vị trí phòng thủ của cứ điểm, nơi một đại đội VM đang ẩn náu, bị mắc kẹt, nhất quyết không chịu đầu hàng và cuối cùng 55 bộ đội đã đầu hàng. Đóng quân trong đống đổ nát ngổn ngang xác chết tại đồn Yên Cư Hạ, lính Dù Thuộc địa chuẩn bị đẩy lùi một cuộc tấn công khác (dù họ đã đẩy lùi bốn cuộc tấn công trong đêm ngày 5-6 tháng 6 năm 1951).

Sau 1 đêm chiến đấu kể cả cận chiến (bằng lưởi lê, dao, cuốc xẻng, v.v…), cha tôi, người bên phải, ngồi kế bên một xác VM, xem ảnh.

 

Sau những đợt tấn công dữ dội suốt đêm tại đồn Yên Cư Hạ, người ta tìm thấy nhiều xác VM trên hàng rào phòng thủ.

Chuyển ngữ từ tiếng Pháp ở bài sau đây: Le 7ème BPC à La bataille du Day (30 mai/8 juin 1951).

San Jose ngày 7 August 2026, cập nhật ngày 20 August 2026.

Tài Trần

TB. Ảnh này chụp tại nhà ở SG vào đầu thập niên 1990 với cô giáo từng dạy Pháp văn ở đảo Galang (Indonesia). Do em tôi từng ở Galang đã giới thiệu cô này với tôi. 

Hai tủ sách này có trước 1975. Trước 75, khi bạn nói đề tài nào về KHKT, chính trị hay quân sự, tôi có thể lấy một tạp chí hay sách có một bài viết nói về đề tài ấy. Ngoài một sưu tập các nguyệt san National Geographic có từ cuối thập niên 1940 đến số mới nhứt, tôi còn có nhiều tạp chí Science et Vie, Popular Mechanics, Popular Science, Life, Newsweek, Time, Paris-Match, v.v... Historia, v.v...

Trong ảnh này, các tạp chí đã bán gần hết vì lúc đó tôi ko còn tinh thần để đọc. Đặc biệt, sau ngày 30.4.75, các tạp chí về chiến tranh VN đã được ba tôi đốt hay cân ký.



 LÊ = 35 = 8

 HỰU = 566 = 17 = 8

HÀ = 51 = 6

Cộng lại: 8 8 6 = 22

NGUYỄN = 7

TRUNG = 42653 = 20 = 2

CANG = 3153 = 12 = 3

Cộng lại: 7 2 3 = 12 = nạn nhân

Monday, August 17, 2026

 Những quy tắc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam

Tác Giả: Mark Berent - Phi công phản lực tham chiến tại Việt Nam 1965-1973
Chuyển Ngữ: Thái Dương

(Tựa đề bài chuyển ngữ do tác giả thêm cho rõ ý nghĩa của bài viết)

Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân.
Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng.
Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.
Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!
Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường.
Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.
Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.
Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.
Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 cân và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!
Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!
Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miềân Nam mới phải?
Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đấtø. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.
Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
Mark Beren

Saturday, August 15, 2026

TRÍCH HỒI KÝ CỦA 1 PHI CÔNG MỸ 


 

 TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN II TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ

Chiến Dịch Đỗ Xá 1964 .
Đỗ Xá từng là một mật khu bất khả xâm phạm của Cộng sản vì địa thế hiểm trở của nó. Mật khu này là một thung lũng sâu thẳm nằm nép mình vào dãy núi Trường Sơn tại đỉnh núi Ngọc Lĩnh cao vút (2598m), cao đến độ ánh sáng mặt trời không rọi xuống tới mặt đất của thung lũng được. Vì địa danh này nằm ở giáp giới ba tỉnh Kontum, Quảng Tín và Quảng Nam , nên được Cộng sản dùng làm địa điểm xâm nhập quân từ đường mòn Hồ Chí Minh vào nội địa miền Trung ( Quảng Tín nay nhập với bắc tỉnh Quảng Ngãi ). Khu này cũng là khu tồn trữ đạn dược, lương thực và cũng là nơi dưỡng quân và điều trị thương binh. Vì các đơn vị của QLVNCH không tài nào xâm nhập vào vùng này, nên nó được ấn định là vùng oanh kích tự do. Do đó, các phóng pháo cơ, sau các phi vụ yểm trợ trên đường bay trở về căn cứ, được phép tự do trút hết bom đạn dư thừa xuống vùng đất này.
Ngày thứ hai 27 tháng 4 năm 1964, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phát động chiến dịch Đỗ Xá (Hành Quân Quyết Thắng 202) đánh thẳng vào thung lũng Khe Nước Lah, sào huyệt bất khả xâm phạm của tướng Cộng sản Nguyễn Đôn. Tướng Trí giao việc điều nghiên và thiết kế chiến dịch này cho Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, lúc đó giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, với sự trợ lực của Đại Tá Lữ Lan, lúc đó giữ chức Tư Lệnh Phó Hành Quân.
Bộ Chỉ Huy Mặt Trận Tiền Phương được thiết lập tại phi trường Quảng Ngãi. Các đơn vị chủ lực tham dự trong chiến dịch này được chia làm hai toán. Toán A gồm ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Sơn Thương. Toán B gồm các đơn vị của Trung Đoàn 50, thuộc Sư Đoàn 25, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh. Hai toán quân này còn được tăng phái bởi Tiểu Đoàn 5 Dù (Đại Úy Ngô Quang Trưởng được đặc cách vinh thăng Thiếu Tá tại mặt trận trong chiến dịch này). Vì trước đó, khi còn phục vụ tại Quân Đoàn 1 với tư cách phụ trách hành quân, Thiếu Tá Hiếu từng cộng tác mật thiết với Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Đà Nẵng qua trung gian của Thiếu Tá TQLC HK Wagner, cố vấn cho Quân Đoàn 1, nên Đại Tá Hiếu đã khéo ngoại giao với Bộ Tư Lệnh TQLC HK ở Đà Nẵng biệt phái một phi đoàn trực thăng H-34, Phi Đoàn HMM-364 TQLC HK được tăng phái bởi năm trực thăng võ trang UH-1B của QLHK và hai trực thăng UH-34 của KQVN, yểm trợ công tác chuyển vận chiến binh vào mật khu Đỗ Xá. Ngoài ra có thêm Phi Đoàn 52 thuộc Lục Quân Hoa Kỳ yểm trợ chuyên chở các toán quân và KQVN cũng yểm trợ cuộc đổ quân với hai khu trục Skyraider.
Vùng hành quân bao phủ một diện tích rừng rú rộng 60 cây số vuông.
Bước vào ngày thứ hai của cuộc hành quân, ngày 29/4, một đơn vị Biệt Động Quân phá hủy nhiều cơ sở Cộng sản và tịch thu một khẩu đại liên hạng nặng 30 ly, một khẩu đại liên hạng nhẹ 24x29, 11 khẩu súng trường AR-15, sáu khẩu liên thanh và 144 súng cá nhân. Họ cũng tịch thâu và phá hủy 60 kí lô chất nổ TNT, một ngàn bịch chất nổ hạng nặng cùng thêm một số lượng lớn lựu đạn, mìn, đạn dược, tài liệu và quân cụ và năm tấn gạo.
Trung Tướng Lữ Lan còn nhớ trong một phi vụ trinh sát mặt trận, trực thăng chỉ huy chở Tướng Trí, Đại Tá Lữ Lan, Thiếu Tá Minh (sau này là Tư Lệnh Không Quân) và một Đại Tá Cố Vấn Mỹ, khi bay vào thung lũng thì bị cao xạ Cộng sản đặt trên các đồi núi bắn đuổi theo tới tấp. Viên phi công đã tài tình hạ thấp trực thăng xuống bay lướt sát các ngọn cây, khiến địch không điều chỉnh tác xạ bắn theo kịp. Tuy vậy, thân và bụng trực thắng cũng vẫn bị bắn lủng nhiều chỗ.
Hành Quân Đỗ Xá phá hủy hệ thống truyền tin của bộ chỉ huy Cộng sản gồm năm trạm phát thanh, một trạm dùng để liên lạc với phía bắc vĩ tuyến 17, và bốn trạm dùng để liên lạc với các đơn vị Cộng sản hoạt động tại các tỉnh lỵ.
Hành Quân Đỗ Xá kéo dài một tháng và chấm dứt ngày 27/5/1964. Lực lượng QLVNCH tổn thất 23 chết, 87 bị thương, 3 khẩu súng, 4 trực thăng và hai khu trục Skyraider. Địch tổn thất 62 chết, 17 bị bắt, hai súng phòng không 52 ly, một súng liên thanh 30 ly, 69 súng cá nhân, và một số lượng lớn mìn và lựu đạn, các dụng cụ công binh, chất nổ, thuốc men và tài liệu. Ngoài ra, QLVNCH còn phá hủy 185 căn nhà, 17 tấn lương thực và 292 mẫu mùa màng.
Chiến Dịch Đỗ Xá là kết quả của sự phối hợp giữa hùng khí của một tay tác chiến gan dạ - Tướng Đỗ Cao Trí - và tài tham mưu của một tay chiến lược thâm thúy - Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu. Hai anh em Trí/Hiếu đã dám tung một đạo quân cấp Sư Đoàn gồm một Trung Đoàn Bộ Binh, ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và một Tiểu Đoàn Dù vào tận sào huyệt kiên cố của địch quân, một việc táo bạo mà trước nay chưa một Tướng Lãnh nào làm nổi. Thật vậy, trước khi Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Đỗ Cao Trí hoán chuyển Quân Đoàn 2 và Quân Đoàn 1 với nhau, Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của Trung Tá Ngô Dzu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Nhưng đã rút lui vì đạo quân tung vào, bị địch quân CS đánh dội trở ra mất một Tiểu Đoàn.
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ
Đỗ-xá, một vùng rừng núi hiểm-trở, nằm giữa ranh-giới của 3 tỉnh Quảng-nam, Quảng-tín, và Kontum. Địa-hình nơi đó được vẽ bằng những đường đỉnh cong-queo màu nâu sậm, chứ không phải là những vòng cao-độ như những cao-đỉểm khác mà ta thường thấy trên bản-đồ.
Từ thời chiến-tranh Đông-dương lần thứ nhất (1945-1954) cho đến khi cuộc chiến Đông-dương lần thứ nhì (1960-1975) bắt đầu, và kéo dài mãi đến thời điểm của bài này (1963), Đỗ-xá là một mật-khu bất-khả xâm-phạm của quân Cộng-sản. Không một đơn-vị nào của Quân-đội PhápViệt (1945-1954) hoặc của QLVNCH (1960-1963) có thể vào nơi đó. Nhờ địa-thế hiểm-trở với núi rừng bao bọc, dễ thủ khó công nên các đơn-vị quân-đội quốc-gia muốn hành-quân vào Đỗ-xá đều thất bại. Với những lợi-đỉểm trên, Cộng quân đã coi Đỗ-xá là một an-toàn-khu và đã dùng nơi đó làm một hậu-cần to lớn để cất dấu lương-thực, vũ-khí, đạn-dược, cùng xây cất quân-y-viện, và đây cũng là nơi dưỡng-quân lý-tưởng cho bọn chúng.
Vì nghĩ rằng nơi đây là vùng bất-khả xâm-phạm nên cộng sản chỉ dùng một số quân nhỏ để bảo-vệ mật-khu. Nếu chúng ta tấn- công đại-qui-mô vào thì sẽ bị đánh bật ra ngay như chúng ta và quân Liên-hiệp-Pháp đã từng bị.
Để phá tan mật-khu Đỗ-xá, bộ Tổng-tham-mưu QLVNCH, đã lập kế-hoạch hành quân (chiến-dịch Đỗ-xá) bằng cách điều-động các đơn-vị của Quân-đoàn 1 và Quân-đoàn 2 làm lực-lượng án-ngữ, (Blocking forces) bao vây vòng ngoài của mật-khu, và Lữ-đoàn TQLC/VN làm lực-lượng xung-kích (main force) đánh vào Đỗ-xá. (Liên-đoàn TQLC/VN đã được nâng lên cấp Lữ-đoàn từ đầu năm 1962, dưới sự chỉ-huy của Trung-tá Lê-nguyên-Khang làm Tư-lệnh, và Tư-lệnh Phó kiêm Tham-mưu-trưởng là Thiếu-tá Nguyễn-bá-Liên, hai vị này vừa được vinh thăng ngày 1/4/1963; TQLC vẫn còn thống-thuộc Hải-quân VN).
Để thi-hành nhiệm-vụ, Lữ-đoàn TQLC đã xử-dụng các đơn-vị như sau:
- Tiểu đoàn 2 do Đại-úy Nguyễn Thành Yên, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 4 do Đại-úy Bùi Thế Lân, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn Pháo binh do Đại-úy Nguyễn Văn Trước, Tiểu đoàn trưởng.
- Pháo đội A sơn-pháo 75 ly do Trung-úy Đoàn Trọng Cảo, Pháo đội trưởng
- Bộ chỉ huy Lữ-đoàn.
Lực-lượng Mũ-xanh được đặt dưới sự điều-động của Tư-lệnh và Tư-lệnh phó.
Toàn-bộ quân-số và quân-dụng dành cho cuộc hành quân nầy được không vận bởi không quân sự Hoa-kỳ loại C123 từ Saigon đến phi-trường Quảng-Ngãi, sau đó di-chuyển bằng đường bộ đến phi-trường quận Trà-mi tỉnh Quảng-tín, và sau cùng thì nhảy diều-hâu (một chiến-thuật cảm-tử; nhảy xuống ngay đầu của địch-quân và đánh từ trong lòng địch đánh ra, đôi khi phải cân-chiến nếu cần), vào Đỗ-xá với loại trực-thăng H21 của Lục-quân Hoa-kỳ. Đây là một loại trực thăng cũ-kĩ, mỗi lần chuyên -chở được khoảng 8 chiến-binh với đầy đủ vũ-khí. Đợt đỗ quân đầu tiên mấy ‘’con sâu rọm’’ (H21) còn sung-sức nên nó cỏng nổi 8 cọp-biển cùng một lúc, nhưng qua đợt 2 thì chỉ còn chở nổi 5 thủy-thần, và đến những đợt sau nó chỉ còn mang nổi có 3 chiến-sĩ mũ-xanh. Bộ chỉ huy tiểu-đoàn đi vào đợt 3. Toán tiền sát của tôi gồm 5 người, nhưng khi lên trực-thăng chỉ có tôi, người hiệu-thính-viên và một cận-vệ, còn 2 anh ‘’nồi-niêu xoong chảo’’ (hỏa-đầu-quân) phải đi chuyến sau. Vì sức chở của H21 quá yếu như vậy, nên bộ Tư-lệnh đã xin thượng-cấp liên-lạc với TQLC/HK để được chuyển quân bằng những chiếc trực-thăng H34 tối tân hơn. Nhờ vậy mà cuộc hành-quân trực-thăng-vận đã hoàn-tất vào khoảng 4 giờ chiều. Đóng quân tại bãi đỗ-bộ một đêm, sáng hôm sau, đoàn quân lên đường tiến chiếm các mục-tiêu ấn-định. Bản doanh của bộ Tư-lệnh LĐ đóng tại một trung tâm đỉnh núi.
Người viết và Chuẩn-úy Thạnh mập (xin chuyển qua Pháo-binh Nhảy-dù sau khi tái-ngủ cho đến năm 1975) được chỉ-định làm tiền-sát pháo-binh cho TD4/TQLC của Đại-úy Bùi-thế-Lân. Tôi đi với cánh A tiểu-đoàn-trưởng; Thạnh mập đi cánh B tiểu-đoàn phó, do Đại-úy Tôn-thất-Soạn chỉ huy. Tiểu-đoàn được chia làm 2 cánh, cánh B do Đ/u tiểu-đoàn-phó chỉ-huy đi trên đỉnh, Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn cùng 2 đại-đội đi chính-giữa, lưng chừng núi. Để bảo-vệ BCH/TĐ ông TĐT đã cho một đại-đội đi sát chân núi. Địa-thế quá hiểm-trở, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, lỡ trật tay là rơi xuống vực ngay. Chúng tôi phải men theo con đường độc-đạo do toán xích-hầu dùng dao chặt cây để mở đường, đôi khi phải luồn dưới rễ cây mà tiến tới. Sau khi chiếm trọn mọi mục-tiêu chỉ-định mà không có đụng độ, có lẽ các đơn-vị trú phòng của địch quân biết rằng không thể chống cự được với đoàn quân Cọp-biển nên không dám nghênh chiến, và đã rút đi, Tiểu-đoàn được dừng quân nghỉ ngơi lấy sức. Chúng tôi đóng quân tại một nơi, mà dưới chân núi có một con suối lớn chảy qua. Ông Tiểu-đoàn-trưởng đã điều động đại-đội đi phía dưới lội qua bên kia suối, và bảo Đai-đội-trưởng cắt một trung-đội làm tiền-đồn nơi cao-điểm, còn bộ chỉ-huy thì lùi thấp xuống phía dưới để được gần con suối hơn.
Sau khi bố-trí quân, Đại-Úy Lân ra lệnh cho các Đại-đội-trưởng, ban 3 và 2 Tiền-sát-viên Pháo-binh xác-định điểm đứng. Vì địa-hình quá giống nhau giữa những ngọn núi, mà bản đồ không có vẽ vòng cao-độ, chỉ có đường đỉnh mà thôi, nên khi trình kết-quả không tọa-độ nào giống tọa-độ nào! Vì vậy, ông Tiểu-đoàn trưởng phải xin Bộ Tư-lệnh Lữ-đoàn cho phi cơ quan-sát L19 lên xác định giùm điểm đứng của đơn-vị. Sau khi quan-sát-viên phi-cơ cho tọa-dộ chính-xác điểm đóng quân của tiểu-đoàn, thì thấy tất cả tọa độ của mọi người đều chấm sai cả. Tọa-độ gần đúng nhất là của người Đềlô, nhưng khi đem so lại với tọa-độ điểm đứng chính-xác mà người Quan-sát-viên Phi-cơ vừa cho thì tọa-độ của anh chàng pháo-thủ nầy cũng sai đến gần một cây số (700m). Sau khi có được đỉểm đứng chính xác, ông TĐT ra lệnh cho tôi lập những hỏa-tập tiên-liệu và bắn thử cho ông xem. Sau khi tôi gởi điện-văn xin tác-xạ, Pháo-đội của ông Truòng-can, ồ không phải, xin lỗi ông Pháo-đội trưởng PĐA/ TQLC! phải gọi là Can-trường mới đúng, đã bắn chính-xác vào những điểm đã xin và ông TĐT tiểu-đoàn Kình-ngư rất hài lòng.
Trong những ngày dừng quân, chúng tôi xuống suối tắm rửa bơi lội, và cả tiểu-đoàn được tha-hồ mà ăn cá, vì dưới suối rất nhiều cá, chỉ cần một quả lựu-đạn, cả một trung-đội xơi cá mệt nghỉ. Cá suối rất to. Khi tiểu-đoàn tiếp-tục tiến quân, tôi ngửi thấy mùi thối, nhưng không biết vì sao! đến khi đi qua một chỗ sát bờ suối tôi thấy một bộ xương cá dài gần 2 thước, từ đó bốc lên một mùi hôi-thúi nồng nặc, như vậy chứng tỏ cá suối cũng có nhiều con to như cá ở biển, chỉ cần một con thì cả một tiểu-đội có thể vừa ăn cá kho vừa ăn canh cá nấu với lá tàu bay thoải mái.
Chúng tôi lần-lượt tiến chiếm các mục tiêu ấn-định. Có vài binh sĩ bị thương vì đạp phải chông. Nơi đây địch đã thiết lập rất nhiều bãi chông, và hầm chông. Ban ngày băng rừng, leo dốc. Ban đêm trải ‘’poncho’’ ngủ ở lưng-chừng núi. Điều đáng sợ nhất ở Đỗ-xá không phải là quân địch, không phải là những con muỗi rừng, cũng không phải là những cây chông mà là những con vắt . Ngửi thấy hơi người là chúng nó búng lẹ như gió, bám được chỗ nào trên cơ-thể của người chiến-binh là nó không ngần ngại bám vào để hút máu; đến khi no cằng, nó tự nhả ra, nằm lăn trên mặt đất thưởng-thức những gì nó thu-hoạch được. Nếu nó hút máu người chưa đã thì không bao giờ chịu nhả ra, ta phải dùng tay dứt nó ra; nhiều con bám chặt quá chúng ta phải dùng thuốc lá trét lên mình nó, chờ cho nó say, ta mới rứt nó ra được. Nghe mấy bà già nói rằng, nếu một con vắt chui vào lỗ tai, nó sẽ mò vào óc, đẻ một bầy vắt con trong đầu của ta, và làm cho con người bị điên hoặc chết. Điều nầy tôi không biết có đúng không? Nhưng để cho yên trí, lúc nào trước khi ngủ, tôi cũng thoa thuốc trừ muỗi khắp người, và thấm thuốc vào bông gòn rồi nhét vô lỗ tai. Đã kỹ như vậy mà tôi vẩn ‘’tránh trời không khỏi nắng’’. Khi đoàn quân đi ngang qua bản-doanh Bộ Tư-lệnh, Tiểu đoàn được lệnh dừng lại để nhận thêm tiếp-liệu-phẩm. Tiểu-đoàn-trưởng, tiểu-đoàn-phó, Sĩ-quan ban 3, và Đề-lô được lệnh vào họp để nhận lệnh hành-quân của giai-đoạn 2. Khi chúng tôi chui vào lều của Tư-lệnh LĐ, thì Trung-tá Khang hỏi tôi:
- Ông Lộc đạp phải chông hả?
- Đâu có Trung-tá!
- Sao chân ông đầy máu thế?
Nhìn xuống, tôi thấy ống quần dính đầy máu; vén lên, tôi thấy một chú vắt to bằng ngón tay cái đang bám vào đầu gối của tôi để hút máu. Tôi vội lấy gói thuốc Rugby trong túi áo trận ra, rút một điếu, xé giấy quấn, rồi lấy những cọng thuốc thoa khắp mình con vật hút máu người, chờ một lúc lâu, nghĩ rằng con vắt đã say, tôi dùng những ngón tay bấu lấy nó, rồi rứt ra, nhưng nó vẫn bám chặt vào thịt của tôi, cuối cùng tôi phải dùng đến 10 thành công-lực mới dứt dây nó ra được. Khi rứt được con con vắt ra rồi, thì máu từ đầu gối của tôi chảy ra càng nhiều, tội phải lấy cuộn băng cá-nhân quấn vào nơi vắt cắn. Chỗ đó đã để lại trên đầu gối của tôi một vết thẹo, vết thẹo nầy tôi đã mang trên ngưòi suốt mấy chục năm qua và tôi đã gọi nó : Vết thẹo Đỗ-xá.
Cuộc hành-quân dự-trù 15 ngày, tôi đã chuẩn-bị 2 cây thuốc lá Quân-tiếp-vụ loại Rugby đỏ để đủ hút trong những ngày hành-quân, nhưng sau 15 ngày leo núi băng rừng, thì có lệnh triển-hạn thêm 15 ngày nữa!! 90% lính chiến ngày xưa đều ghiền thuốc lá, và có lẽ những bạn ghiền ấy cũng biết nỗi khổ của người hút khi hết thuốc? Nó khổ sở biết chừng nào khi mình muốn hút mà trong túi không còn một điếu thuốc ! Khi tấn-công vào một điểm tiếp-liệu của địch, chúng tôi đã mừng rỡ lúc khám phá ra một kho thuốc lá của cộng quân. Các Cọp-biển chúng ta chia nhau những lá thuốc khô và phun khói ì-xèo. Thằng đệ-tử của tôi (các sĩ-quan thường gọi những binh-sĩ thân-tín dưới quyền một cách thân-mật = đệ-tử, và ngược lại những người lính cũng gọi cấp chỉ-huy của mình với danh-từ thân-thương = ông thầy) chạy đến trao cho tôi một điếu thuốc lá quấn sẵn, và một xấp lá thuốc khô. Sau khi rít một hơi vào, tôi ho săc-sụa vì thuốc nặng quá; tôi trả lại cho thằng đệ-tử, nhưng vẫn giữ lại những lá thuốc khô phòng khi ghiền quá thì đốt lên bập-bập cho đở cơn ghiền.
Chúng tôi tiếp tục tiến quân nhưng không có đụng độ, hành-động chính của chúng tôi lúc đó là phá hủy kho-tàng, cùng những thửa ruộng trồng lúa, bắp, khoai mì, và những hoa-mầu khác. Bên cánh tiểu-đoàn 2 TQLC có đụng-độ lẻ-tẻ và có thu-hoach nhiều hơn. Các Thủy-thần bên đó đã phá-hủy được một quân-y-viện rộng lớn, bắt sống được 1 quân-y-sĩ và 4 y-tá của địch; tịch thu rất nhiều y-dược và dụng cụ y-khoa, cùng trung tâm truyền tin và điện đài, những trại nhà cho quân đội CS trú ngụ.
Sau một tháng dẫm nát mật khu Đỗ-xá, toàn-bộ Lữ-đoàn TQLC hành-quân được trực thăng bốc về Quận-lỵ Sông-cầu, ở phía nam đèo Cù-mông, tỉnh Bình-định, để dưỡng quân, sau đó tiếp-tục hành-quân vào vùng mật-khu An-lão của cộng sản .
Sự tiến-chiếm mật-khu Đỗ-xá của những Thủy-thần Mũ-xanh, trong chiến-dịch Đỗ-xá năm 1963, tuy chỉ thu-hoạch một kết-quả rất khiêm-nhường, nhưng đó là bước khởi đầu cho các Thiên-thần Mũ-đỏ của Sư-đoàn Nhảy-dù VN. cùng các Sơn-thần Mũ-nâu của Quân-đoàn 2 sau nầy nhảy vào Đỗ-xá nhiều lần; và họ đã thu-đoạt được nhiều kết quả về nhân mạng cũng như quân trang, quân-khí của địch quân.
Đỗ-xá không còn là một an-toàn-khu của Cộng-sản nữa.