Showing posts with label dscđ. Show all posts
Showing posts with label dscđ. Show all posts

Friday, July 18, 2025

 

https://www.virtualwall.org/dm/0MontanaRx01a.htm

Rosendo là 1 người lính chuyên nghiệp, quê ở Big Spring, Texas, vào lính từ 1964, từng phục vụ 1 nhiệm kỳ tại vn từ 1966-67.

Rosendo là 1 người lính dò đường và là thành phần của toán an ninh của đoàn 17 không vận. (Lính dò đường thuộc BĐQ Mỹ, có nhiệm vụ tìm và an ninh bãi đáp -- ND). Ngày 15/4/1970, Rosendo đã bị trúng đạn tử thương khi ông tìm cách đổ quân vnch vào bãi đáp Orange để đối phó với việc tập trung quân csbv chung quanh trại LLĐB ở Dak Seang, khoảng 20 dặm bắc của Dak to. Ông là âm thoại viên và cùng với 1 lính Mỹ và 1 toán lính vnch là toán đầu tiên đổ xuống và sao đó bảo vệ an ninh bãi đáp cho những toán khác khi đột nhiên 1 chiếc trực thăng thứ hai cũng đến để đổ quân nhưng bị trúng đạn từ dưới đất bắn lên. Chiếc này bị bắn rơi. Chuyên viên Montana bị thương và tiếp tục tái lập liên lạc truyền tin. Ông đã tử trận khi 1 loạt đạn bắn vào ông.

===

Tình hình tại trại LLĐB Dak Seang thì hơi phức tạp 1 chút so với mô tả trên. Trại này đang bị tấn công và người ta quyết định đổ quân với TĐ 3/42 VNCH, vào 1 nơi hơi cao khoảng 1 dặm từ trại để giảm áp lực cho trại này. Như đã nói, đại đội 170 trực thăng tấn công, viết tắt là AHC, nhận trách nhiệm này. Dù cơ bản Bắc quân đã bao vây bãi đáp dự trù này nhưng phi công ko thấy vì chúng núp trong công sự ngụy trang kỹ lưỡng - và khi chúng để cho chiếc UH-1 đáp xuống mà ko nổ súng khiến phi công nghĩ rằng đây là 1 bãi đáp "nguội". (Đại đội 170 AHC đóng tại Pleiku với 8 chiếc gunship UH-1 B và 20 chiếc chở quân UH-1D, ngoài ra còn tăng phải bởi 1 toán vận chuyển, 1 toán truyền tin, và 1 toán quân y. đại đội này đổ toán biệt kích sang Lào và KPC-- ND). 

Chiếc Huey đầu tiên chở 2 lính dò đường Mỹ (Chuyên viên bậc 5 Rosendo Montana và hạ sĩ Herndon Bivens) và 6 lính VN. Chiếc Huey thứ hai, UH-1H số đuôi 68-16203, trúng đạn và rơi giữa bãi đáp. Dù 2 lính VN chết do máy bay rơi, 4 phi hành đoàn Mỹ và 4 lính VNCH khác chỉ bị thương nhẹ và chạy khỏi máy bay. Viên phi công, chuẩn úy Albert Barthelme, bị thương nặng nhưng được khiêng tới 1 một hố bom gần đó. Chuẩn úy Roger Miller (copilot), chuyên viên 4 Vincent Davis và chuyên viên 5 Donald Summers, và 4 lính VN ở với Barthelme; những người lính vn sống sót từ chiếc đầu tiên ở gần đó. Tất cả đều bị hỏa lực mạnh của bắc quân. Các cố gắng cấp thời để triệt xuất họ đều bị cản trở bởi 3 yếu tố:

- Trừ chiếc Huey chở Montana và Bivens, các chiếc trực thăng trong khu vực đều đầy lính VNCH hay gunship - vì mang nhiều rocket và đạn 7.62 ly cho hai khẩu M-60 nên ngoài phi hành đoàn 4 người,  gunship ko thể chở thêm người như loại chở quân (slick) -- ND). 

- Bãi đáp nằm trên đỉnh đồi này phần nào tắc nghẽn bởi xác chiếc 68-16203; và

- Toàn khu vực bãi đáp giờ đây dưới hỏa lực từ lính csbv núp trong công sự bao gồm đại liên 4 nòng 12.8 ly và 23 ly phòng không.

Một lực lượng tìm và cấp cứu, gọi tắt là SAR, gồm 1 chiếc A-1 Skyraider và hai chiếc trực thăng khổng lồ HH-3, biệt danh Giant Jolly Green, xem hình, (tốc độ tối đa của máy bay là 164 dặm/giờ, phi hành đoàn 4 người, chở được 28 người hay 6.500 cân Anh). 



3 chiếc này đã vội vả xuất phát từ Đà Nẳng và bay đến khu vực. Trong khi chiếc A-1 Skyraider tìm cách khống chế các khẩu đại liên, chiếc HH-3H (Jolly Green 27, số đuôi 66-13280) dẫn đầu, định đáp xuống nhưng 2 lần đầu ko thành công. Ở lần đáp thứ 3, 1 khẩu 12.8 ly từ 1 nơi kín đáo nào đó đã nổ súng và bắn rơi chiếc này. Phi công Travis Scott, chết tại chỗ. Thiếu tá Travis Wofford, copilot, bị thương tương đối nhẹ, kéo 2 phi hành đoàn bị phỏng nặng rời xa chỗ máy bay rơi. Chỗ chiếc HH-3 này rơi ko xa hai chiếc kia, tuy ko bị hỏa lực dữ dội của csbv, nhưng lại ko thể yểm trợ lẫn nhau. May mắn thay, chiếc HH-3E thứ hai, số đuôi 68-10360, có thể đáp xuống kế nơi máy bay rơi và cứu Wofford và 2 phi hành đoàn bị thương từ chiếc 66-13280 trước khi bị trúng đạn phòng không 23 ly, xem hình và buộc phải rời chiến trường.

Hai chiếc UH-1D, ko chở quân, của đại đội 170 trực thăng tấn công đã đến. Một chiếc, lái bởi chuẩn úy Bill McDonald, đáp xuống dưới hỏa lực dữ dội của địch và mang chuyên viên 4 Davis và chuyên viên 5 Summer từ chiếc UH-1H số đuôi 68-16203 lên máy bay. Dù chiếc của McDonald bị hư hại do hỏa lực địch, phi công đã cố gắng đáp vào bên trong trại. Chiếc UH-1 thứ hai, đáp xuống kế chiếc của McDonald, cứu phi hành đoàn, và cất cánh với những kẻ bị thương khác. Vào lúc này, Davis và Summers được báo rằng 1 trong 2 người lính dò đường Mỹ đã chết và chuẩn úy Barthelme bị thương nặng.

Khi trời tối, trại LLĐB lại bị tấn công, và ko còn hy vọng nào để triệt xuất lính Mỹ và VN trên đỉnh đồi kể trên. Trong đêm tối, vài lính VNCH cố gắng vào trại và 2 người thành công. Miller và Bivens được yêu cầu ở lại chỗ chiếc UH-1 bị rơi với chuẩn úy Barthelme, vì ông này ko thể di chuyển, và chờ đợi sáng. Những cố gắng của toán SAR (tìm và cấp cứu) đã bắt đầu từ sáng sớm, nhưng vô ích - vì ko thấy nơi ẩn núp của những người lính Mỹ Việt trên đây. 

Tới ngày 29/4/1970 quân bạn đã tới bãi đáp này và tìm thấy xác của chuẩn úy Barthelme và chuyên viên 5 Montana. Ko có dấu vết của chuẩn úy Miller và hạ sĩ Bivens. 

Sau này người ta biết chuẩn úy Miller bị bắt, và được thả bởi bắc quân ngày 5/3/1973. Ông cho biết rằng trong đêm đó, sau khi Barthelme chết, cả hai cố gắng vào trại nhưng bị phục kích dọc đường. Bivens đã trúng nhiều phát ở ngực, và Miller được kể lại rằng Bivens đã chết 2 giờ sau khi bị bắt.

Tóm lại, 2 lính bộ binh Mỹ, 8 phi hành đoàn Mỹ, và 12 lính vnch đã xuống đất, nhưng chỉ có 6 người sống sót.

- Chiếc UH-1 số đuôi 68-16203: chuẩn úy Barthelme tử trận. Chuẩn úy Miller, tù binh, thả ngày 5/3/1973. Chuyên viên 5 Summers, bị thương, được tìm thấy. Chuyên viên 4 Davis, bị thương, được tìm thấy.

- Chiếc Huey thứ hai: chuyên viên 5 Montana, chết. đại úy Bivens, bị thương, nhưng chết sau khi bị bắt, ko thấy xác.

- Chiếc trực thăng khổng lồ HH-3E, thuộc đệ Thất Không lực: Đại úy Scott, phi công, tử trận. Thiếu tá Wofford, copilot, bị thương. Trung sĩ nhất (SSGT) Davis, chết vì thương tích ngày 25/5/1970. Trung sĩ kỹ thuật Hartzel, chết vì thương tích ngày 20/4/1970/

- Thuộc TĐ 3/42 VNCH: có 10 chết, ko rõ tên. Hai sống sót, ko rõ tên.

===

 

 476 NGƯỜI CỦA TĐ 23 BĐQ DỰ TRẬN DAK SEANG, SAU 4 NGÀY, CHỈ CÒN 41 SỐNG SÓT TRỞ VỀ

Dù nhiệm vụ là cố vấn, nhưng có những tình huống đã khiến 1 số cố vấn BĐQ ra tuyến đầu. Ngày 4/4/1970, trung sĩ nhất Gary Littrel là người cố vấn BĐQ duy nhất ko bị thương sau một đợt pháo bằng cối của trung đoàn 28 csbv vào vị trí phòng thủ của TĐ 23 BĐQ VNCH trên đỉnh đồi 763 tại tỉnh Kontum. Một chiếc trực thăng định xuống tải thương theo yêu cầu của Littrel nhưng ko thực hiện do hỏa lực súng nhỏ. Lúc đó người cố vấn BĐQ này đang đứng ngoài đồng trống cầm đèn nhấp nháy. Để bảo vệ người bị thương, Littrel đã điều khiển yểm trợ tiếp cận suốt đêm và tới sáng hôm sau.

Khi trời sáng, một đợt pháo kích nặng nề vào TĐ VNCH bị vây hãm này. Littrel di chuyển ra chu vi phòng thủ để sơ cứu, hướng dẫn không kích, và di chuyển thương binh. Một trực thăng tiếp tế đáp xuống khoảng 1000. Littrel đưa ba cố vấn BĐQ bị thương lên máy bay cùng với vài lính BĐQ trong khi cố vấn BĐQ khác, chuyên viên 5 Raymond Dieterle, nhảy xuống từ máy bay.

Trong phần còn lại của ngày, hai cố vấn BĐQ này di chuyển ra chu vi phòng thủ, gọi không yểm, điều chỉnh pháo binh (bắn từ các căn cứ hỏa lực (CCHL) như Tango cách đó 6-7 km, theo hồi ký Trận Dak Seang 1970 của Vương mộng Long -- ND), và cổ võ tinh thần cho các chiến hưu BĐQ VN của họ. Áp lực vào chu vi phòng thủ càng lúc càng tăng khi trời sắp tối. Các tấn công thăm dò của đặc công bị đẩy lui bởi súng nhỏ, pháo binh và Hỏa Long AC-47.

Sáng ngày 6/4/1970 mở đầu bởi 1 đợt tấn công của bắc quân nhưng bị đẩy lui. Suốt ngày đó, bắc quân tiếp tục pháo vào lực lượng bị bao vây (beleaguered) trong khi 2 cố vấn tiếp tục kiểm tra (make his round) chu vi phòng thủ, nâng cao tinh thần lính VN (snore up). Lúc 0630 ngày kế, một đợt pháo kích dữ dội rơi xuống đỉnh đồi. Một đợt xung phong xuất phát từ khu rừng, đã bị các trực thăng, do Littrel hướng dẫn, chặn đứng. Dù bị không kích, sau đó nửa giờ, đợt tấn công biển người đã gần như chọc thủng chu vi. Sự chiến đấu quả cảm của những người lính mệt mỏi và can đảm của cố vấn đã đẩy lui chúng. 

Lính BĐQ VN đã cố thủ trước những đợt tấn công đêm đó. Cuối cùng, lúc 1030 ngày 8/4/1970, TĐ kiệt quệ này được lịnh rút xuống đồi, đi xuyên rừng, vượt sông Dak Poko, để bắt tay với TĐ 22 bđq. Hai cố vấn này bắt đầu tổ chức việc di chuyển, phân phối súng đạn, và chăm lo thương binh và người chết mà họ mang theo.

TĐ di chuyển lúc 1100, dưới quyền của TĐ trưởng đang trong tình trạng bàng hoàng. Ông cho TĐ di chuyển xuống 1 nhánh núi (spur), dù 2 cố vấn cảnh báo vì gần vị trí địch. Ở chân đồi, ông này cho lịnh dừng quân 5 phút để uống trà.

Ngay lập tức, TĐ đã bị pháo cối dồn dập. Tuy nhiên Littrel vẫn liên lạc với TĐ 22 BĐQ và nhờ họ phản pháo vào cối của địch. Yêu cầu gunship yểm trợ ko được thỏa đáng vì họ ưu tiên phục vụ nơi khác khiến TĐ trưởng hoảng loạn và bỏ chạy. Thấy ông này bỏ chạy, lính BĐQ chạy tán loạn (scatter), bỏ người chết và bị thương ở lại.

Với câu nói "Hãy đội mũ và tiến lên", Littrel nắm tay Dieterle và từ từ tập hợp những BĐQ đang phân tán. Với đám tàn quân này, hai cố vấn đã hướng dẫn đội hình xuyên rừng trong vài giờ tới 1 nơi toàn. Vì bắc quân truy đuổi, BĐQ đã hướng dẫn cối bắn cản đường. Trong lúc đẩy lùi 1 đợt tấn công, Littrel và bạn ông đã ngả xuống đất vì sức ép của quả bom 500 mà cố vấn này đã yêu cầu thả gần đó. 

Trong lúc chỉ huy lính BĐQ thoát 2 cuộc phục kích, hai người Mỹ này tiếp tục cổ võ tinh thần lính BĐQ, và mang theo thương binh. Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo 2 người khác, Littrel và phần còn lại của TĐ qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 bđq có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích. 

===

https://www.defense.gov/News/Feature-Stories/Story/Article/2549011/medal-of-honor-monday-army-command-sgt-maj-gary-littrell/

Ngày 4/4/1970 TĐ 23 BĐQ tiến về nam hướng tới biên giới cam bốt để tìm và diệt kẻ thù. Tối hôm đó, khi tới 1 đỉnh đồi, họ nhận ra rằng bị bao vây bởi khoảng 5 ngàn bắc quân. Trong khi đó, đ.v. của Littrel, quân số chỉ có 473 lính nam VN với 3 cố vấn Mỹ khác.

Ngay khi họ lập xong 1 chu vi phòng thủ, địch đã pháo dữ dội bằng cối làm chết TĐ trưởng và 1 cố vấn, 2 cố vấn bị thương nặng.

Littrel, 25 tuổi, là người Mỹ duy nhất có thể chiến đấu.

Rất may, ông nói được tiếng Việt nhờ học ở Viện Ngôn ngữ Quốc phòng, hình như ở tp Monterey ven biển của bang Cali, trước khi sang VN, do vậy có thể giao tiếp với lính BĐQ.

Trong 4 ngày kế, Littrel và TĐ BĐQ này đã chiến đấu vì sự sống còn của họ. Theo bản tuyên dương công trạng, ông đã chứng tỏ "sức mạnh gần như siêu nhân" bằng cách nhiều lần đi vào tuyến lửa (line of fire) để hướng dẫn phi pháo suốt ngày. Ban đêm, ông làm như vậy để đánh dấu vị trí của đv. Sự dũng cảm, lãnh đạo chỉ huy và ý chí của ông đã truyền cảm các chiến hữu BĐQ tiếp tục chiến đấu.

"Công việc chánh của tôi chỉ là chỉ huy và kiểm soát, bằng cách cố gắng cổ võ anh em BĐQ tiếp tục chiến đấu," Littrel đã nói trong 1 phỏng vấn của Dự án Lịch sử Cựu Chiến binh.

TĐ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong trong khi Littrel tiếp tục di chuyển tới những vị trí nguy hiểm nhất để phân phối đạn, cũng cố 1 vài phòng tuyến đang bị chao đảo (falter), chăm sóc thương binh và tiếp tục cổ võ các chiến hữu tiếp tục chiến đấu.

Littrel nói cơn khổ (ordeal) này và thiếu ngủ đã làm ông kiệt sức khiến ông chỉ nhớ 1 phần những gì xảy ra trong thời gian dài.

Trong ngày cuối cùng mắc kẹt trên đồi, chỉ huy của Littrel cho ông biết phi pháo sẽ liên tục chuyển xạ để bảo vệ đường rút lui cho tđ.

Dù bị phục kích vài lần, nhưng họ thoát được (stave off) nhờ gunship bảo vệ cạnh sườn.

Littrel liên tục nhận lịnh giữa cơn hỗn loạn và hướng dẫn máy bay tấn công kẻ thù, vài lần chỉ cách vị trí của ông 50 m.

Sau 8 km đầy nguy hiểm, TĐ đã bắt tay quân bạn. sau này Littrel biết rằng, từ quân số 476 người, kể cả cố vấn, chỉ còn 41 sống sót trở về. Nhờ can đảm và tài lãnh đạo chỉ huy, ông đã cứu nhiều người.

Ngày 15.10.73, Littrel được trao tăng huy chương cao quý nhất của đất nước.

"Tôi mang huy chương này cho khoảng hơn 400 người đã chết trong 4 ngày," ông nói trong 1 phỏng vấn.

"Tôi chỉ là người đại diện của họ. Họ đã được trao tặng huy chương này. Tôi đã được chọn đã nhận cho họ".

Ông đã phục vụ trong QĐ tới khi hồi hưu tháng 10/1973. Ông từng phục vụ kỳ 2 ở VN năm 1974.

Littrel và vợ sống tại St Pete Beach, Florida. Trong 2015, một cây cầu ở đây được đặt theo tên ông để vinh danh.

SJ ngày 24/7/2025.

Tài Trần


Thursday, July 17, 2025

 “There was only one MIKE Force battalion activated as it was, by COMUS MACV [Commander U.S. MACV] letter order,” said retired Brigadier General Stringham. “The order was sent from 5th Group that directed C-3 to form one reaction force battalion.19 Time was critical. A-302 was given less than two weeks to train the new unit. Filling the ranks with new recruits, issuing equipment, and training had to be accomplished by 22 June 1965. After that date, the battalion was to be on call to respond to emergencies in the hotly disputed III CTZ

LTC Miguel “Mike” de la Peña
LTC Miguel “Mike” de la Peña

“The unit was named the MIKE Force. This came from LTC Miguel ‘Mike’ de la Peña. ‘Mike’ was his code name,” said Stringham.20 The MIKE Force was composed of three 150-man companies. With 348 Company as the nucleus, A-302 recruited Nungs to fill the ranks of the other companies. Nungs were also hired to form the reconnaissance platoon.21 There were no Vietnamese CIDG or Special Forces in the first MIKE Force. The strong family ties among the Nungs made the recruitment easy and virtually eliminated the security problems.

“Nepotism was the name of the game,” said Stringham. “Most of the older Nungs were ex-French Foreign Legion [French Colonial Army] guys and they would vouch for the younger ones. It was kind of a ‘self-vetting process,’ but we didn’t have a lot of time.22 New recruits were given a cursory physical by the A-302 team medics to check for diseases and fitness. The troops were issued one set of tiger-stripe fatigues and M-2 carbines. Each company weapons platoon had three M-1919A1 .30 caliber machine guns and three 60 mm mortars.23 For communications, they were issued PRC-25 radios. The equipment for the MIKE Force came from the 5th SFG logistics base at Nha Trang. Being on the MIKE Force was economically advantageous for the troops. MIKE Force Nungs were paid considerably more than their CIDG counterparts. Each man received 6600 piastres ($55.00) per month as opposed to the 1500 p ($12.00) that was the CIDG monthly wage.24

A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.
A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.

“I was the battalion commander,” said Stringham. “Two NCOs [non-commissioned officers] worked with each company. The guys lived with their companies.25 A-302 focused on marksmanship and infantry small-unit tactics to get the MIKE Force operational. That test came on 22 June 1965.

“The first mission was to take three 6-man teams by helicopter into an area between Highway 13 and the Michelin Rubber Plantation to do a [bomb damage] assessment after a B-52 strike,” recalls Stringham. “The B-52s came out of Guam, but due to a mid-air collision during refueling, they missed the target. All they did was knock down enough stuff to make it hard to move through. We got inserted, ran around a while and got picked up. Not a great beginning for the MIKE Force.26 The real combat evaluation came a month later.

On 19 July 1965, orders came from the C detachment to prepare a MIKE Force company to aid the SF team at the CIDG camp at Bu Ghia Map under attack by two VC battalions. The Mike Force mission was to evacuate the SF team and their CIDG strikers. 348 Company, the new 4th Nung company and the recon platoon were trucked to Tan Son Nhut Airbase to load two C-123 aircraft for the flight that night to Bu Ghia Map near the Cambodian border.27

The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

“We went in very light, no rucksacks or food. We landed and it was very dark,” said Stringham. “ I ran off the plane and straight into a ditch. When we got into the camp, I put my people on the perimeter, and got theirs [the camp occupants] off the wall, since they were likely compromised. There was half an A detachment and a handful of strikers there.28 There was little contact the rest of the night. The arrival of the MIKE Force had prompted the VC to switch their main attack to the nearby Bu Dop camp. In the early morning the C Team ordered Bu Ghia Map abandoned and the MIKE Force to move to reinforce Bu Dop.

At daylight on 20 July, the C-123s began to arrive to evacuate the CIDG, the MIKE Force and their SF advisors. Stringham’s team placed explosive charges throughout the camp, on a five-minute delay. After the MIKE Force was flown out to Song Be, CPT Stringham and two NCOs, SSG William Parnell and SSG Elliot Wilson, were to detonate the charges.29 A helicopter picked up the three Americans, just before the explosives went off. Bu Dop had been hit hard the previous night. Two SF advisors and twenty CIDG strikers had been killed.30


USASF Organization

USASF Organization

Tuesday, July 1, 2025

 “There was only one MIKE Force battalion activated as it was, by COMUS MACV [Commander U.S. MACV] letter order,” said retired Brigadier General Stringham. “The order was sent from 5th Group that directed C-3 to form one reaction force battalion.”19 Time was critical. A-302 was given less than two weeks to train the new unit. Filling the ranks with new recruits, issuing equipment, and training had to be accomplished by 22 June 1965. After that date, the battalion was to be on call to respond to emergencies in the hotly disputed III CTZ


LTC Miguel “Mike” de la Peña

LTC Miguel “Mike” de la Peña

“The unit was named the MIKE Force. This came from LTC Miguel ‘Mike’ de la Peña. ‘Mike’ was his code name,” said Stringham.20 The MIKE Force was composed of three 150-man companies. With 348 Company as the nucleus, A-302 recruited Nungs to fill the ranks of the other companies. Nungs were also hired to form the reconnaissance platoon.21 There were no Vietnamese CIDG or Special Forces in the first MIKE Force. The strong family ties among the Nungs made the recruitment easy and virtually eliminated the security problems.


“Nepotism was the name of the game,” said Stringham. “Most of the older Nungs were ex-French Foreign Legion [French Colonial Army] guys and they would vouch for the younger ones. It was kind of a ‘self-vetting process,’ but we didn’t have a lot of time.”22 New recruits were given a cursory physical by the A-302 team medics to check for diseases and fitness. The troops were issued one set of tiger-stripe fatigues and M-2 carbines. Each company weapons platoon had three M-1919A1 .30 caliber machine guns and three 60 mm mortars.23 For communications, they were issued PRC-25 radios. The equipment for the MIKE Force came from the 5th SFG logistics base at Nha Trang. Being on the MIKE Force was economically advantageous for the troops. MIKE Force Nungs were paid considerably more than their CIDG counterparts. Each man received 6600 piastres ($55.00) per month as opposed to the 1500 p ($12.00) that was the CIDG monthly wage.24

              



A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.


“I was the battalion commander,” said Stringham. “Two NCOs [non-commissioned officers] worked with each company. The guys lived with their companies.”25 A-302 focused on marksmanship and infantry small-unit tactics to get the MIKE Force operational. That test came on 22 June 1965.


“The first mission was to take three 6-man teams by helicopter into an area between Highway 13 and the Michelin Rubber Plantation to do a [bomb damage] assessment after a B-52 strike,” recalls Stringham. “The B-52s came out of Guam, but due to a mid-air collision during refueling, they missed the target. All they did was knock down enough stuff to make it hard to move through. We got inserted, ran around a while and got picked up. Not a great beginning for the MIKE Force.”26 The real combat evaluation came a month later.


On 19 July 1965, orders came from the C detachment to prepare a MIKE Force company to aid the SF team at the CIDG camp at Bu Ghia Map under attack by two VC battalions. The Mike Force mission was to evacuate the SF team and their CIDG strikers. 348 Company, the new 4th Nung company and the recon platoon were trucked to Tan Son Nhut Airbase to load two C-123 aircraft for the flight that night to Bu Ghia Map near the Cambodian border.27


The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.

The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.

The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.

The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.

Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

“We went in very light, no rucksacks or food. We landed and it was very dark,” said Stringham. “ I ran off the plane and straight into a ditch. When we got into the camp, I put my people on the perimeter, and got theirs [the camp occupants] off the wall, since they were likely compromised. There was half an A detachment and a handful of strikers there.”28 There was little contact the rest of the night. The arrival of the MIKE Force had prompted the VC to switch their main attack to the nearby Bu Dop camp. In the early morning the C Team ordered Bu Ghia Map abandoned and the MIKE Force to move to reinforce Bu Dop.


At daylight on 20 July, the C-123s began to arrive to evacuate the CIDG, the MIKE Force and their SF advisors. Stringham’s team placed explosive charges throughout the camp, on a five-minute delay. After the MIKE Force was flown out to Song Be, CPT Stringham and two NCOs, SSG William Parnell and SSG Elliot Wilson, were to detonate the charges.29 A helicopter picked up the three Americans, just before the explosives went off. Bu Dop had been hit hard the previous night. Two SF advisors and twenty CIDG strikers had been killed.30


USASF Organization

USASF Organization

Arriving at Bu Dop in the afternoon of 20 July, Stringham positioned his MIKE Force personnel on the south side of the camp perimeter and relocated the CIDG defenders onto the north side. The assumption of the A-302 members was that a good percentage of the CIDG strikers were turncoats and would give the VC access to the camp. The enemy did attack the camp again that night, but could not penetrate the defenses. In the morning, CPT Stringham, now in command at Bu Dop, sent a reconnaissance platoon under SSGs Parnell and Collins out to find the enemy. Since Bu Dop was very close to the Cambodian border, locating the enemy escape route to safety across the border was not difficult. But there were still problems inside the camp.


The team discovered that the claymore mines emplaced on the perimeter defenses had been reversed during the night aiming them into the camp. Based on this, the SF soldiers began to thoroughly interrogate the civilians and CIDG personnel in the camp. Not surprisingly, there was a mass exodus from Bu Dop. With the MIKE Force to strengthen the defenses and the Communist sympathizers driven off, the threat of further attack was minimal.31 This established the pattern for the employing the MIKE Force that was used at Dong Xoai.32


The Nungs, whose loyalty to the Americans was unquestioned, became a major force multiplier. By November 1965, CPT Stringham and most of the members of A-302 involved in the formation of the original MIKE Force had completed their tours and rotated back to the United States. Their legacy, the III CTZ MIKE Force composed of Nungs, was the genesis of one of the most successful Special Forces initiatives in the Vietnam War.


Drawing on the combat experience and loyalty of the Nungs, the original MIKE Force was a reliable, well-trained hard-hitting combat unit that could be rapidly moved to reinforce or relieve CIDG camps when they were attacked by overwhelming enemy forces. The Special Forces C Teams in the other Corps Tactical Zones were soon directed by 5th SFG Headquarters to establish MIKE Force battalions.33 These MIKE Force elements caused a major shift in CIDG operations from defense to offense against the VC and NVA. Mobile Strike Groups and other variations of the original MIKE Force model quickly proliferated enabling Special Forces and their CIDG strikers to aggressively seek out and destroy the enemy.


The purpose of this article was to show how several successful VC attacks against the III CTZ CIDG camps prompted the organization of the first MIKE Force. The loyal, high-quality Nungs of the 348th Company became the nucleus of the MIKE Force. LTC Miguel “Mike” de la Peña, whose nickname became associated with the original MIKE Force battalion, saw his moniker attached to reaction forces countrywide. As the Vietnam War evolved, the term “MIKE Force” came to be applied to a variety of units at different times and places. Future articles will examine the varied and complex history of these units that were labeled MIKE Forces.


The author would like to thank BG (ret) Joseph Stringham, LTC (ret) Miguel de la Peña, the other former MIKE Force members who reviewed the article, and especially Roy Jacobson for their invaluable assistance.

Saturday, June 28, 2025

 “There was only one MIKE Force battalion activated as it was, by COMUS MACV [Commander U.S. MACV] letter order,” said retired Brigadier General Stringham. “The order was sent from 5th Group that directed C-3 to form one reaction force battalion.19 Time was critical. A-302 was given less than two weeks to train the new unit. Filling the ranks with new recruits, issuing equipment, and training had to be accomplished by 22 June 1965. After that date, the battalion was to be on call to respond to emergencies in the hotly disputed III CTZ

LTC Miguel “Mike” de la Peña
LTC Miguel “Mike” de la Peña

“The unit was named the MIKE Force. This came from LTC Miguel ‘Mike’ de la Peña. ‘Mike’ was his code name,” said Stringham.20 The MIKE Force was composed of three 150-man companies. With 348 Company as the nucleus, A-302 recruited Nungs to fill the ranks of the other companies. Nungs were also hired to form the reconnaissance platoon.21 There were no Vietnamese CIDG or Special Forces in the first MIKE Force. The strong family ties among the Nungs made the recruitment easy and virtually eliminated the security problems.

“Nepotism was the name of the game,” said Stringham. “Most of the older Nungs were ex-French Foreign Legion [French Colonial Army] guys and they would vouch for the younger ones. It was kind of a ‘self-vetting process,’ but we didn’t have a lot of time.22 New recruits were given a cursory physical by the A-302 team medics to check for diseases and fitness. The troops were issued one set of tiger-stripe fatigues and M-2 carbines. Each company weapons platoon had three M-1919A1 .30 caliber machine guns and three 60 mm mortars.23 For communications, they were issued PRC-25 radios. The equipment for the MIKE Force came from the 5th SFG logistics base at Nha Trang. Being on the MIKE Force was economically advantageous for the troops. MIKE Force Nungs were paid considerably more than their CIDG counterparts. Each man received 6600 piastres ($55.00) per month as opposed to the 1500 p ($12.00) that was the CIDG monthly wage.24

A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.
A U.S. Air Force B-52D Stratofortress dropping 500 pound bombs over Vietnam. The first MIKE Force mission was to conduct a bomb damage assessment following a B-52 strike.

“I was the battalion commander,” said Stringham. “Two NCOs [non-commissioned officers] worked with each company. The guys lived with their companies.25 A-302 focused on marksmanship and infantry small-unit tactics to get the MIKE Force operational. That test came on 22 June 1965.

“The first mission was to take three 6-man teams by helicopter into an area between Highway 13 and the Michelin Rubber Plantation to do a [bomb damage] assessment after a B-52 strike,” recalls Stringham. “The B-52s came out of Guam, but due to a mid-air collision during refueling, they missed the target. All they did was knock down enough stuff to make it hard to move through. We got inserted, ran around a while and got picked up. Not a great beginning for the MIKE Force.26 The real combat evaluation came a month later.

On 19 July 1965, orders came from the C detachment to prepare a MIKE Force company to aid the SF team at the CIDG camp at Bu Ghia Map under attack by two VC battalions. The Mike Force mission was to evacuate the SF team and their CIDG strikers. 348 Company, the new 4th Nung company and the recon platoon were trucked to Tan Son Nhut Airbase to load two C-123 aircraft for the flight that night to Bu Ghia Map near the Cambodian border.27

The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The bunker on the northwest corner of the camp at Bu Dop prior to the battle. Strong defensive bunkers were located on all four corners of the camp perimeter. The VC destroyed this bunker with recoilless rifle fire.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
The ruins of the Special Forces team billets at Bu Dop after the battle. Little was left of the camp after the heavy Viet Cong assault.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.
Aerial view of the CIDG camp at Bu Dop. The Viet Cong attacked the north and west sides of the camp. The SF billets were in the center of the camp.

“We went in very light, no rucksacks or food. We landed and it was very dark,” said Stringham. “ I ran off the plane and straight into a ditch. When we got into the camp, I put my people on the perimeter, and got theirs [the camp occupants] off the wall, since they were likely compromised. There was half an A detachment and a handful of strikers there.28 There was little contact the rest of the night. The arrival of the MIKE Force had prompted the VC to switch their main attack to the nearby Bu Dop camp. In the early morning the C Team ordered Bu Ghia Map abandoned and the MIKE Force to move to reinforce Bu Dop.

At daylight on 20 July, the C-123s began to arrive to evacuate the CIDG, the MIKE Force and their SF advisors. Stringham’s team placed explosive charges throughout the camp, on a five-minute delay. After the MIKE Force was flown out to Song Be, CPT Stringham and two NCOs, SSG William Parnell and SSG Elliot Wilson, were to detonate the charges.29 A helicopter picked up the three Americans, just before the explosives went off. Bu Dop had been hit hard the previous night. Two SF advisors and twenty CIDG strikers had been killed.30


USASF Organization

USASF Organization

Arriving at Bu Dop in the afternoon of 20 July, Stringham positioned his MIKE Force personnel on the south side of the camp perimeter and relocated the CIDG defenders onto the north side. The assumption of the A-302 members was that a good percentage of the CIDG strikers were turncoats and would give the VC access to the camp. The enemy did attack the camp again that night, but could not penetrate the defenses. In the morning, CPT Stringham, now in command at Bu Dop, sent a reconnaissance platoon under SSGs Parnell and Collins out to find the enemy. Since Bu Dop was very close to the Cambodian border, locating the enemy escape route to safety across the border was not difficult. But there were still problems inside the camp.

The team discovered that the claymore mines emplaced on the perimeter defenses had been reversed during the night aiming them into the camp. Based on this, the SF soldiers began to thoroughly interrogate the civilians and CIDG personnel in the camp. Not surprisingly, there was a mass exodus from Bu Dop. With the MIKE Force to strengthen the defenses and the Communist sympathizers driven off, the threat of further attack was minimal.31 This established the pattern for the employing the MIKE Force that was used at Dong Xoai.32

The Nungs, whose loyalty to the Americans was unquestioned, became a major force multiplier. By November 1965, CPT Stringham and most of the members of A-302 involved in the formation of the original MIKE Force had completed their tours and rotated back to the United States. Their legacy, the III CTZ MIKE Force composed of Nungs, was the genesis of one of the most successful Special Forces initiatives in the Vietnam War.

Drawing on the combat experience and loyalty of the Nungs, the original MIKE Force was a reliable, well-trained hard-hitting combat unit that could be rapidly moved to reinforce or relieve CIDG camps when they were attacked by overwhelming enemy forces. The Special Forces C Teams in the other Corps Tactical Zones were soon directed by 5th SFG Headquarters to establish MIKE Force battalions.33 These MIKE Force elements caused a major shift in CIDG operations from defense to offense against the VC and NVA. Mobile Strike Groups and other variations of the original MIKE Force model quickly proliferated enabling Special Forces and their CIDG strikers to aggressively seek out and destroy the enemy.

The purpose of this article was to show how several successful VC attacks against the III CTZ CIDG camps prompted the organization of the first MIKE Force. The loyal, high-quality Nungs of the 348th Company became the nucleus of the MIKE Force. LTC Miguel “Mike” de la Peña, whose nickname became associated with the original MIKE Force battalion, saw his moniker attached to reaction forces countrywide. As the Vietnam War evolved, the term “MIKE Force” came to be applied to a variety of units at different times and places. Future articles will examine the varied and complex history of these units that were labeled MIKE Forces.

The author would like to thank BG (ret) Joseph Stringham, LTC (ret) Miguel de la Peña, the other former MIKE Force members who reviewed the article, and especially Roy Jacobson for their invaluable assistance.

Thursday, June 26, 2025

TỪ TRẬN ĐỒNG SỔ, ĐẾN VIỆC THÀNH LẬP MIKE FORCE

    

Huy hiệu đeo vai của MIKE Force

Ảnh 1. Đại úy Joseph Stringham chỉ huy toán A-301 trong nhiệm kỳ 2 tại VN. Được giao nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện 1 lực lượng phản ứng để tiếp cứu các trại Dân sự Chiến đấu (DSCĐ), ông đã lập MIKE Force đầu tiên với lính Nùng tháng 6 1965. Sau này ông lên tới Chuẩn tướng (BG).

Ảnh 2. Không ảnh của trại DSCĐ tại Hồ Ngọc Tảo Thủ Đức; đây là trung tâm huấn luyện cho MIKE Force. 

Ảnh 3. BCH 5 Mike Force, chỉ huy bởi Toán B-55, và đã phục vụ như lực lượng tổng trừ bị của Liên đoàn 5 LLĐB Mỹ. Lúc đầu lực lượng được thành lập vào tháng 8/1965 bằng cách mở rộng đ.đ. người Nùng tuyển mộ trong năm 1964. Lực lượng này gồm người Hoa Chợ Lớn, VN, người Rhade, Raglai, và Koho và được tổ chức thành ba TĐ cộng (quân số nhiều hơn TĐ bình thường) và chỉ huy bởi Toán A-502, A-503, và A-551. Nhiệm vụ lúc đầu của họ chỉ là tiếp viện các trại bị tấn công, nhưng sau đó đã thực hiện hành quân cấp TĐ để bảo vệ những nơi gặp khó khăn và đôi khi hành quân cả ba TĐ. Trong tháng 11 1968, những lính Mike Force đã nhảy dù chiến đấu trên núi Cô Tô để tăng cường cho các hành quân ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ảnh 4. Nhiệm vụ đầu tiên của Mike Force là đánh giá kết quả ném bom của B-52.



Ảnh 5. Trại LLĐB khá lớn ở tỉnh lỵ Sông Bé của Phước Long, bị VC tấn công dữ dội, xuất phát từ khu rừng ở góc trên phải của ảnh. Những tấn công này dẫn đến thành lập MIKE Force. 

Ảnh 6. Trong 2 ngày ác chiến tại Đồng Xoài, Toán A-342, gần như ko làm chủ trại. Lính của TĐ 52 BĐQ chiến đấu ở ngoại vi của trại.

Lời nói đầu: 

Nghề chơi cũng lắm công phu.

Trong bài "trận Bình Giả" mới đăng, có nói rằng, "theo Đài Hà Nội, trong ngày 29/12/1964, họ đã quét sạch 1 TĐ quân biệt kích (có lẽ là DSCĐ) -- tại một ấp chiến đấu có tên là Ben Dong So. Họ nói đã giết 2 người Mỹ và lấy 100 võ khí". Đặt câu hỏi trên Google "1964 in vietnam war" thì tôi biết có trận đánh vào ngày 30.12,1964 tại 1 làng chiến đấu, có tên Đồng Sổ, xem hình, ở Bình Dương, nên tôi tìm tài liệu sau đây để viết về trận này -- ND)

Ảnh 7. Vùng 3 Chiến thuật từng là 1 thành trì (stronghold) của nổi dậy của VC năm 1965. Từ 1 mạng lưới công phu (elaborate) các căn cứ trong Chiến khu C và D và "Tam giác Sắt" VC đã đe dọa thủ đô SG. Lực lượng MIKE Force đầu tiên được lập ở Vùng này, bao gồm thủ đô SG. 


Tưởng cũng nên nhắc lại về việc thành lập DSCĐ.

Ngày 4/11/61, dân Rhade ở Buôn Enao, 1 làng 400 dân cách Ban mê thuột 9.7 km, đã thỏa thuận với QLVNCH và CIA để trở thành 1 làng chiến đấu chống Cộng. Điều kiện của họ là chấm dứt mọi tấn công của QLVNCH vào các làng của họ và láng giềng Jarai; ân xá đối với những người Rhade đã từng giúp đỡ VC và CP sẽ cung cấp trợ giúp về y tế, giáo dục, và nông nghiệp. Đổi lại, Buôn Enao sẽ lập 1 lực lượng tự vệ, lúc đầu trang bị cung tên giáo mác (spear) và củng cố làng này. Nếu chứng tỏ thành công, mô hình Buôn Enao sẽ được sao chép (replicate) khắp nơi tại Cao nguyên miền Trung, chiếm phần lớn khu vực Nam VN, dù họ chỉ có tỉ lệ nhỏ về dân số. Đây là bắt đầu của chương trình DSCĐ.

Ngày 4/12, những lính LLĐB Mỹ đã đến Buôn Enao để bắt đầu chương trình. Những lính LLĐB VN có sẵn trong làng xây 1 bệnh xá và 1 hàng rào bao quanh làng, và huấn luyện một toán tự vệ 30 người. CIA cung cấp súng trường và súng tiểu liên cho toán này. Thí nghiệm Buôn Enao là cách tiếp cận toàn diện đối với đe dọa nổi dậy, vì dựa vào các chương trình xã hội và kinh tế cũng như các biện pháp quân sự để tạo nên 1 phong trào chống cộng trong dân Thượng -- có truyền thống ko tin người Việt dù họ theo phe nào.


Sau đây là phần chuyển ngữ.

1/ BÀI 1 VỀ TRẬN ĐỒNG SỔ: 

...

"Các toán C lực lượng đặc biệt hoạt động trong 4 vùng chiến thuật (VCT) của QLVNCH. VCT số 3 hay Vùng 3 CT là vùng "nóng" nhứt chạy từ biên giới Việt-Miên đến bờ biển và bao gồm thủ đô SG. Trong VCT này có ba mật khu: Chiến khu C và D, và "Tam giác Sắt". Do đó, vài trại DSCĐ đã được lập ở bắc và tây SG nằm vắt ngang (astride) các đường tiếp tế từ Cam bốt tới thủ đô. Những trại này là mục tiêu của vài cuộc tấn công lớn của VC trong 1965. Những tấn công lộ rõ những khiếm khuyết quan trọng của lực lượng DSCĐ.

Các cuộc HQ của LLĐB tại Vùng 3 CT là trách nhiệm của Toán C-3 ở Biên Hòa, chỉ huy bởi trung tá Miguel de la Pena. Tháng Giêng, đại úy (đ.u.) Joseph Stringham nắm quyền chỉ huy Toán A-301 ở trại DSCĐ Bến Cát. Vài cuộc tấn công lớn của VC vào và chung quanh Bến Cát từ 12/1964 đến 5/1965 dẫn đến sự thành lập của MIKE Force.

Trại Bến Cát được xây tháng 9/1964 kế cận Tam giác Sắt ở phía nam và Chiến khu C và D ở phía bắc, xem bản đồ. Ở Bến Cát, Toán A-301 có ba đ.đ. DSCĐ (mỗi đ.đ. 150 người) và 1 toán LLĐB của Nam VN. Hai đ.đ. 348 và 349, toàn người Nùng; còn toán thứ 3 toàn dân Tàu Chợ Lớn.

Trại DSCĐ Bến Cát của toán A-321, chụp khoảng tháng 11/1964. 

"Dân Nùng là người Tàu, đã chạy khỏi TQ, vào VN từ thế kỷ thứ ba trước công nguyên, "đ.u. Stringham nhớ lại. "Ko nghi ngờ về lòng trung thành của họ. Họ 100/100 chống cộng." Những người Nùng cương trực, thiện chiến trở thành hạt nhân của lực lượng MIKE Force sau khi tự chứng tỏ qua 2 trận đánh ác liệt gần Bến Cát.

Trận đánh Đồng Sổ xảy ra ngày 30.12.64. Trong 1 làng nhỏ, đ.đ. 346 DSCĐ với người Việt gốc Hoa (dân Chợ Lớn) với 3 cố vấn LLĐB Mỹ, đã bị tràn ngập, sau 1 trận tấn công đêm của trung đoàn 272 VC, 1 đv chánh quy khoảng 1000 người. Đ.đ. nhanh chóng bị tràn ngập, đến nổi đ.đ. 349 Nùng, ở cách đó 2 km ko kịp cứu họ. Chỉ có 1 cố vấn sống sót, đó là trung sĩ Jacobson. Trong cuối tháng 1/65, vào buổi tối 30 tết, đ.u. Stringham nắm quyền chỉ huy toán A-301 ở Bến Cát. 5 tháng sau đó, 1 thảm họa tương tự Đồng Sổ xảy ra.

"Đ.đ. 349 Nùng của chúng tôi đã bị tràn ngập ngày 22/5/1965, ở giữa trưa," Stringham nói. "Chỉ có đ.đ. 348 Nùng thoát được." Một cuộc phục kích ở trại bò sữa của Bà Nhu 5 km cách Bến Cát đã tiêu diệt đ.đ. 349 giữa đồng trống (open clearing)." Khi trận đánh chấm dứt, toán A-301 gần như tan nát. Hai cuộc tấn công trên đây (tại Đồng Sổ và phục kích gần trại bò sữa) đã làm chết trên 200 DSCĐ. Những người sống sót của A-301, với đ.đ. 348 Nùng và 1 nhóm nhỏ DSCĐ người Miên được lịnh bỏ Bến Cát ngày 6/6/1965 và tái lập ở Hồ Ngọc Tảo, 1 trung tâm huấn luyện gần làng Thủ Đức, gần SG.

Trong khi đó, VC tiếp tục tấn công các trại trong khu vực.

Trong khi toán A-301 đang phục hồi ở Hồ Ngọc Tảo, toán A-342 ở Đồng Xoài bị tấn công ngày 6/6 bởi khoảng 1 trung đoàn VC, trên 1000 người. Ngày 25/5/1965, toán A-324 đến 1 trại bỏ hoang này của BĐQ, ý nói Đồng Xoài, với ba đ.đ. DSCD và 1 toán công binh  hải quân hay SeaBee. Họ bị tấn công trong lúc xây dựng trại. Sau 14 giờ chiến đấu dữ dội, toán A-342 phải di tản. Trưởng trại, thiếu úy Charles Williams được anh dũng bội tinh. Đ.u. Stringham rất thất vọng vì chỉ có thể nghe trên máy mà ko thể làm gì hết.

"Chúng tôi chỉ cách họ 48.28 km mà ko thể làm gì hết," đ.u. Stringham than vãn (lament). "Chúng tôi bị tấn công mà ko thể giúp đỡ lẫn nhau."

Sau trận Đồng Xoài, đ.u. lên BCH C-3 ở Biên Hòa gặp trung tá de la Pena. "Tôi nói với ông tôi có sẵn 1 đ.đ. 150 người thiện chiến mà ko có việc gì để làm". Là 1 cựu chiến binh (CCB) dầy dạn kinh nghiệm của thế chiến 2 (TC) 2 và chiến tranh Cao ly, ông de la Pena đã nói tôi "hãy trở về ngồi xuống, và im lặng." Sau 1 giờ, Stringham được gọi về C-3 để nhận nhiệm vụ mới: thành lập 1 lực lượng phản ứng nhanh.

Những trận Bến Cát, Đồng Xoài, và Sông Bé đã cho thấy nguy cơ của đ.đ. DSCĐ vào ban đêm. Quân nam VN ko hành quân vào buổi tối, họ chỉ tăng viện vào ban ngày. Bóng tối đã ngăn (preclude) yểm trợ tiếp cận của KQ. Các cảm tình viên VC trong hàng ngũ DSCĐ khiến các đ.đ. này ko tin cậy. Từ những làng do VC kiểm soát, chúng có thể tiếp cận trại để tấn công mà ko sợ trừng phạt (impunity). Dân làng ko dám báo cáo hoạt động của VC cho trại. Giải pháp là lập 1 lực lượng phản ứng gồm những lính huấn luyện thuần thục (như biết nhảy dù, vài thế võ cận chiến, và trả lương cao hơn DSCĐ, v.v..) để nhanh chóng tăng viện trại khi bị tấn công. Việc tuyển người, huấn luyện, và chỉ huy lực lượng mới này là nhiệm vụ của toán A-302.

Chuyển ngữ từ: "Colonel Mike", The origin of the MIKE Force in Vietnam. 

====

2/ BÀI HAI VỀ TRẬN ĐỒNG SỐ 

...

 "Như thông lệ, VC luôn luôn có sáng kiến. Trong đêm 29-30/12/1964, trung đoàn 2 (theo sách Colonel MIKE, đó là tr.đ. 272) của Trung ương Cục miền Nam đã tấn công 1 đ.đ. DSCĐ đóng tại ấp Đồng Sổ tỉnh Bình Dương. Với đ.đ. này là 3 cố vấn của Toán A-314, mới đến VN và đặt căn cứ ở Bến Cát, 10 km phía nam của ấp. "VC hàng trăm tên, có mặt khắp nơi," hạ sĩ Roy Jacobson nhớ lại.

" Tôi gần như ko thấy gì cả vì hàng ngàn đạn súng trường và tự động bắn rất gần, từ mọi phía, với tiếng nổ liên tục của cối, đạn phóng lựu, và lựu đạn của chính chúng tôi... Tôi chỉ phân biệt dựa vào hình dáng. Chúng tràn tới bất chấp đạn bắn từ chúng tôi. Lắp băng đạn mới và tiếp tục bắn, càng nhanh càng tốt...Tôi bắn ko cần nhắm vì địch chỉ cách chúng tôi vài mét, từ phía trước, bên hông và phía sau."

Thượng sĩ (master sergeant) William Siegrist, (sau đó đã chết trong trận này), hét vào máy, "VC đã tràn vào cổng làng và có mặt khắp nơi." (Đại đội này đóng trong 1 làng chiến đấu, 1 loại ấp chiến lược -- ND). Ông gọi pháo nhưng vô ích. Trong 150 DSCĐ có 28 chết, 26 bị thương, và 11 mất tích. Siegrist và 1 người Mỹ khác tử trận và được truy thăng Ngôi sao Bạc. Chỉ có Hạ sĩ Jacobson thoát chết. Ông núp trong rừng cạnh QL-13 và trông thấy VC rời chiến trường bằng 1 đám xe gắn máy ba bánh, có lẽ xích-lô máy. Một tên địch ngừng lại và đái vào bụi rậm mà Jacobson trốn. Sáng hôm sau, ông trở làng với viện binh. "Đường sá trong ấp đầy xác lính DSCĐ, nằm chết bên vũng máu trộn bùn. Tôi ko thể tưởng tượng máu nhiều như vậy -- như vũng nước sau cơn mưa lớn. Lính DSCĐ đã bị lột hết giày vớ, quần áo và võ khí. "Không thấy xác địch nhưng quân đồng minh ước lượng chúng thương vong cả trăm tên".

Chuyển ngữ từ Advice and Support: The Middle Years January 1964 - June 1965, trang 396.

3/ Theo 1 nguồn tin của quân sử Mỹ:

Trung sĩ Siegrist là cố vấn của 1 Task Force gồm ba đại đội (đ.đ.), trong 1 hành quân (HQ) mở đường vào ban đêm trên một QL. Sau khi task force lập 1 chu vi phòng thủ và 1 tiền cứ tại Ấp Đồng Sổ, gần Bến Cát, tỉnh Bình Dương, khoảng hai tiểu đoàn (TĐ) đã tấn công họ dữ dội. Khi vị chỉ huy VN tử trận, trung sĩ đã bất chấp hỏa lực địch để gọi pháo binh. Khi địch tràn ngập task force, ông đã dũng cảm gọi pháo bắn 300 quả 105 ly trên vị trí. Ông đã chết vì vết thương trí mạng trong trận cận chiến sau đó. 

Ngày 28/4/1965, ông đã được TT Mỹ truy tặng Ngôi sao Bạc do hành động dũng cảm này.