Saturday, July 18, 2026

 

TRẬN PLEI ME 1965: LÍNH MỸ NGẠC NHIÊN TRƯỚC SỰ KIÊN CƯỜNG CỦA KẺ THÙ

Chuyển ngữ từ bài The Siege at Pleime: Americans Marvel at Toughness of Foe trên báo New York Times ngày 28/10/1965.

-  Lời nói đầu: Nhật báo New York Times là một trong những tờ báo hàng đầu của Mỹ. Tôi đã cố gắng bám sát nội dung dưới đây của bài viết vì biết rằng nội dung này có thể gây tranh cãi nơi người đọc. Nhưng cũng nhờ đó, chúng ta cũng biết QUAN ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ MỸ VÀO NĂM 1965, mà tờ báo này là một ví dụ điển hình. Năm 1965 là năm mà người Mỹ đã bắt đầu đổ quân ồ ạt vào VNCH với đầu tiên là TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng, sau đó là lữ đoàn 173 Dù, và kế đó là sđ 1 Không kỵ, v.v... vì trước đó chỉ có CỐ VẤN MỸ đi theo các đơn vị VCNH. Theo tổ chức của QĐ Mỹ, TQLC, Nhảy Dù, và LLĐB là thiện chiến nhứt vì toàn dân tình nguyện; trong khi đó, các đơn vị khác gồm lính quân dịch và tình nguyện. 

--- Thiếu tá Beckwith, người thành lập Project Delta vào năm 1964 tại Nha Trang, (với các toán viễn toán (recondo team), viết tắt là RT, chỉ có sáu người -- ND), đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." (Thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất đã chỉ huy khoảng hai đại đội Biệt Cách Dù (BCD) thuộc Project Delta đến tiếp cứu trại Plei Me. Do cấp bậc lớn hơn trưởng trại nên Beckwith đã nắm quyền chỉ huy trại.—ND).

    Sau đây là phần chuyển ngữ từ nhật báo này, với hình ảnh lấy từ nhiều nguồn trên mạng. 

-

Trại Plei Me có hình tam giác đều.

Trại gia binh ở bên ngoài trại, nhưng khi chiến sự bùng nổ, gia đình binh sĩ đã chạy vào trại để trú ẩn.

-     

" Plei Me, Nam VN, ngày 27/10/1965 – Hôm nay một Tiểu đoàn (TĐ) thuộc sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ đã nhảy từ trực thăng xuống một sườn núi bị đốt cháy và đầy hố do bom đạn gây ra, nằm bên ngoài hàng rào của trại LLĐB Plei Me, đã bị tấn công 8 ngày. Lính của sư đoàn 1 Không kỵ, đã tiến quân qua hố bom và các hố chiến đấu cá nhân chứa những xác cháy đen của quân du kích và lục soát chung quanh mặt tây của trại. Nhưng họ đã ít chạm súng với kẻ thù. Nhưng dường như trận Plei me đã kết thúc vào buổi trưa hôm qua khi 17 lính LLĐB Mỹ, râu mọc xồm xàm, phủ đầy bụi đất, ngồi nghỉ chung quanh ngôi nhà của toán. Nhưng súng đã đột ngột nổ vang, và những lính Mỹ này, từng huấn luyện về chiến tranh chống du kích, nay trải qua 1 giờ dưới hầm hố khi khoảng 2.000 đạn súng trường và liên thanh bắn phá doanh trại của họ. Sau đó họ đã chứng kiến lính Không Kỵ đổ quân và đưa xác lính Nam VN lên trực thăng.

Khi một phóng viên đến trại ngày thứ Hai, y hỏi một trung sĩ LLĐB rằng thiếu tá Charles Beckwith ở đâu. “Khi bạn thấy một người to lớn đang la hét ‘tiếp tục tiến lên’, đó là ổng,” trung sĩ nói.  Cảm giác đầu tiên và nổi bật nhất ở Plei Me là mức độ sâu sắc của sự tôn trọng mà người Mỹ dành cho kẻ thù của họ, trong số đó có hàng trăm bộ đội chánh quy bắc VN. Thiếu tá Beckwith đã gọi quân tấn công là “những người lính giỏi nhứt mà tôi thấy trên thế giới, ngoài lính Mỹ. Tôi mong ước, tôi có thể tuyển mộ họ. Tôi mong ước, tôi biết họ đã uống thuốc gì đã khiến họ chiến đấu như vậy. Họ có động lực rất cao và chiến đấu hết mình." Trận Plei Me đã bắt đầu vào tối ngày thứ ba 19/10 khi tấn công xảy ra vào căn cứ hình tam giác này, khoảng 350 km, đông bắc của Sài Gòn, được bảo vệ bởi 350 lính Thượng với 9 cố vấn LLĐB Mỹ. Trại đã cầm cự và ngày thứ Sáu đã được tăng cường bởi 14 lính LLĐB Mỹ và khoảng 250 lính biệt kích nam VN. (Trong trận này, trại được tăng cường bởi khoảng 2 đại đội biệt cách dù VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Beckwith và thiếu tá Phạm duy Tất – ND).

Trong 4 ngày kế, quân chánh quy CSBV và quân trú phòng đã đụng độ sát bên ngoài hàng rào kẽm gai. Suốt ngày thứ Bảy những đơn vị của quân csbv đã phục kích và phần nào tràn ngập một đơn vị (đv) lớn quân tiếp viện gồm thiết giáp và bộ binh ở cách trại Plei Me gần 9 km. Hai hàng rào phòng thủ và mặt đất của Plei me đã loang lổ những hố bom và hố đại bác, phủ đầy đất đỏ, và lớp bụi đỏ này đã khiến lớp da đầy mồ hôi của quân trú phòng có màu đồng đỏ. Sự bẩn thỉu của căn cứ bị bao vây này đang gây kinh hoàng (appal). Mỗi tối, cả trăm con chuột quấy rối (scuttle) giấc ngủ của quân trú phòng, và chấy rận chui vào đồng phục chưa giặt sạch của họ.

Những thùng đạn rỗng và những cánh dù màu sắc sáng chói nằm rải rác khắp trại.

QUÁ ÍT NƯỚC ĐỂ TẮM GIẶT

Nước được thả dù bằng máy bay, quá hiếm hoi để cho quân trú phòng tắm rửa và cạo râu. Một buổi tối, hai người lính vừa làm một ấm cà-phê lớn thì địch tấn công khiến họ chạy nhanh đến hầm trú ẩn để lấy võ khí. Khi họ trở lại thì ấm cà-phê đã nguội lạnh. Họ dùng nước cà phê này để rửa chân.

Ban ngày, lính Mỹ rời trại để tấn công các vị trí súng máy và hầm trú ẩn của địch, xem ảnh minh họa.

Lính Mỹ thuộc lữ đoàn 173 Dù núp trong

1 bunker của quân csbv tại Dakto,

ngày 22/11/1967. Các bunker này có nắp

ngang mặt đất, trên phủ lá cây còn tươi nên đã bị bỏ sót trong lúc lục soát, do đó dễ bị đánh bọc hậu. Theo BĐQ Vương Mộng Long, các TĐ BĐQ đã bị thiệt hại khi bỏ sót các hầm trú ẩn loại này khi hành quân ở tây nam của Dakto cùng năm.

 

Hai lính Mỹ lục soát một bunker tại gần Qui Nhơn năm 1967.

Nhưng vào ban đêm, họ ngồi dựa vào những bao cát và nói chuyện vãn (chat). Một trung sĩ gầy ốm nói: “Tôi sẽ ko làm công việc này nữa. Tôi sắp trở thành một thư ký đánh máy nhanh nhất thế giới.” Khi một quân nhân nghiêm chỉnh nói về những gánh nặng không bình đẳng của một quốc gia thời chiến, thiếu tá Beckwith đã lập tức gầm lên (growl): “Câm miệng. Đây là thứ mà chúng ta được trả lương để làm.” “Vâng”, ai đó cười trong bóng tối, “những ai ko thích món ăn này có thể ra khỏi cổng.”

NÓI VỚI ÔNG TA RẰNG CHÚNG TA ĐANG BỊ SA LẦY.

Vào tối thứ Hai, đài phát thanh nói rằng Tổng thống Johnson đã “bày tỏ quan tâm” về Pleime và rằng các tướng Mỹ ở SG đã muốn 1 báo cáo mới về tình hình để trình lên Johnson. Một số người đã cười rộ. “Hãy nói với ổng rằng chúng ta đang sa lầy,” một người lính nói. Nhưng cũng đêm thứ Hai này, cường độ tấn công của địch sút giảm nhiều, và ko người lính LLĐB Mỹ nào để ý đến 5 phát đạn ko giựt và 8 đạn cối rơi vào trại. Ngoài những nguy hiểm này từ địch, có những nguy hiểm từ các đơn vị bạn. Chẳng hạn, hai người đã chết vì thùng tiếp tế do máy bay thả dù rơi trúng, và mái nhà của phòng ăn bị thủng một lổ do nguyên nhân như trên.

Suốt thời gian trại bị bao vây, máy bay của Không quân, Hải quân và TQLC Mỹ đã thả hàng trăm tấn bom rất gần trại, đến nổi miểng rơi khắp trại. Hai lính phòng thủ bị thương vì bom. Nhưng vị trưởng trại, thiếu tá Charles Thompson đã nói trong lúc không kích: “Tôi thích lắm, tôi thích lắm, không quân đã cứu chúng ta.” Nhưng không quân cũng có giới hạn. Lính phòng thủ đã nói rằng oanh kích không làm câm họng súng liên thanh của địch.

“VC đã đứng trong hố của chúng và tiếp tục bắn vào Không quân,” một người nói. Hai trực thăng bị phòng không bắn rơi và 8 người chết. Hai máy bay A-1E Skyraider và một máy bay không ảnh RB-66 bị rơi. Trong những ngày đầu, trung sĩ nhứt Joseph Bailey, mượn 1 lá cờ Mỹ nhỏ có rìa (fring) vàng của binh nhứt Eugene Tafoya và treo nó bên dưới là cờ vàng 3 sọc đỏ của nam VN. “Nếu chúng ta sắp chết, chúng ta sẽ chết dưới lá cờ của chúng ta,” trung sĩ Bailey nói. Một giờ sau đó, y đã chết.

Lúc 5:40 chiều thứ hai, đoàn xe thiết giáp cứu viện đã xuất hiện ở chỏm núi (crest) của đồi bắc và ồ ạt tiến về trại. Lính Thượng và biệt cách Dù Nam VN (đã đến trại vào ngày thứ Sáu) đã chào mừng họ và vẩy khăn cổ màu vàng. Trẻ con của lính Thượng đang chơi trong giao thông hào hay bám vào váy của mẹ chúng. Hơn 100 vợ lính Thượng và một số ko thể xác định con em lính Thượng đang sống trong giao thông hào hay hầm trú ẩn với chồng và cha họ. Nhiều đứa trẻ còn mang cả súng. Nổi tiếng nhứt là 1 đứa bé mới 12 tuổi tên John, đội nón sắt, mặc quân phục và trang bị lựu đạn và súng cạc-bin. Sáng thứ Hai, một trẻ em Thượng đã chết trong 1 hố súng cối. Và khi đoàn thiết giáp tiếp viện tới trại, chiến tranh có vẻ chấm dứt ở Pleime. Sáng ngày hôm qua, LLĐB và hai đại đội biệt cách dù Nam VN đã tiến về sườn phía bắc, nơi từng có 6 vị trí đại liên của địch. Trong 4 lần xuất kích trước đây, lính Mỹ đã chết khi chiếm 3 khẩu 12.7 ly, và những kẻ sống sót phải rút về trại. Họ ko thể quên trận đánh vào ngày thứ Bảy khi một tên lính VC đơn độc đã nhô lên từ hố cá nhân, tấn công hai tiểu đội lính Thượng chỉ với 1 quả lựu đạn, khiến họ rút lui.

Thiếu tá Beckwith đã bắn 7 phát đạn vào lưng tên địch này, nhưng ông đã nói, “Đó là một chiến sĩ thực sự.”

Trong lục soát hôm qua, xác của khoảng 40 VC được tìm thấy. Một số tên núp trong những hầm hàm ếch (L-shaped hole) được đào trong lớp hàng rào kẻm gai dài gần 60 mét của trại, và ko ai có thể giải thích làm thế chúng có thể đào những hố như vậy mà ko bị phát hiện.

Trong rừng, quân phòng thủ trại đã bắt 1 tiểu đội trưởng (thuộc 1 trung đoàn csbv) đã bị bỏ lại vì bịnh. Y rung rẩy nhưng đã được đối xử tử tế và cho thuốc lá.

Một người Mỹ nói: “Chúng ta nên đặt gã này ở hàng rào phía bắc của trại và đuổi những binh lính Chính phủ này đi. Có lẽ một mình hắn cũng có thể giữ được nó. Nếu chúng ta có thể kiếm thêm hai người nữa, tất cả các hàng rào sẽ được bảo vệ." (Trại Pleime hình tam giác – ND).

Cuộc hành quân này đã chấm dứt đột ngột khi 1 tên bắn sẻ bắn trúng 1 lính nam VN. Trong khi đó, đoàn xe thiết giáp tiếp viện và bộ binh cũng đã tự tin tiến ra lục soát phía nam của trại. Nhưng một toán du kích đã bắt đầu bắn vào trại, và đoàn xe thiết giáp tiếp viện, gồm 16 tăng, nhiều thiết vận xa M-113 và khoảng 800 lính bộ binh VNCH, buộc phải rút về Pleime trước một quân số ít ỏi nhưng có hầm hố vững chắc của VC. Năm cố vấn bị thương, được khiêng vào trại, 1 người sắp chết. Xác 19 lính VNCH và nhiều kẻ bị thương được mang vào trại. Cuộc bao vây Pleime chưa thực sự chấm dứt. Trong buổi chiều, lính bắn sẽ VC đã tiếp tục bắn gục (pick off) một lính VNCH. Trực thăng cứu thương bắt đầu kéo đến, nữ đại úy quân y Lanny Hunter của LLĐB Mỹ phải cố gắng xua đuổi nhiều lính nam VN, (có lẽ là lính Thượng, vì lính BCD rất có kỷ luật – ND), dù ko bị thương hay bị thương rất nhẹ, đã dành lên trực thăng với kẻ bị thương nặng. Buổi tối đã trở lại yên tỉnh khi chỉ có 5 đạn cối bắn vào trại. Hôm nay chuyên viên bậc 7 Leo Drake, cũng là y tá của trại nói đã tìm thấy 240 xác VC. Phe VNCH nói có thêm 124 VC bị giết sau khi họ phục kích đoàn xe thiết giáp VNCH vào ngày thứ Bảy, và phía Mỹ lại nói ko thể kiểm chứng con số này. Lính phòng thủ đã cười và nói rằng tin của VNCH về xác VC “treo trên hàng rào kẻm gai” tại Pleime là tin giả. Tổn thất của quân chánh phủ khá cao, nhưng thấp hơn con số do VC đưa ra".

San Jose ngày 8 July 2026. Cập nhựt ngày 18 July 2026.

Tài Trần

Sunday, July 12, 2026


Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
BỐN CÂU THƠ ĐẦU TIÊN CỦA TÁC PHẨM "ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH" CỦA NGUYỄN DU, ĐÃ ỨNG VÀO CUỘC ĐỜI CỦA ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM, CỰU TGĐ CỦA FPT
, VÀ MỚI NHỨT LÀ BÀ NGUYỄN THÚY HẰNG. HỌ LÀ 5 NGƯỜI BỊ BẮT TRONG VỤ SÁCH PHẠM HÚY "CHUYỆN VỚI THANH"."

Saturday, July 11, 2026

 

GẶP Ổ KIẾN LỬA: THẤT BẠI NẶNG NỀ CỦA VIỄN THÁM DELTA TẠI THUNG LŨNG AN LÃO.

Bài này chuyễn ngữ từ nhiều nguồn khác nhau.

Bồng Sơn là một làng nằm dọc theo con sông lớn nhưng ko sâu, có tên Sông Lại Giang. QL-1 băng qua sông này ở đây với 2 cầu. Bồng Sơn là một ổ (hotbed) của VC trong 20 năm trước khi quân Mỹ tới đây mùa thu năm 1965. Ảnh chụp năm 1969.

THUNG LŨNG AN LÃO

Đây là một căn cứ địa vững chắc của VC/CSBV. Thung lũng đặt theo tên con suối chạy dọc theo thung lũng. Lữ đoàn 173 Dù từng hoạt động nhiều lần ở đây, với căn cứ đặt tại bãi đáp English, hay Đệ Đức, khoảng 10 km đông bắc của đầu phía nam của thung lũng.

 

1/ Phần nói đầu: Project Delta, với các toán viễn thám 6 người, là một đơn vị về Hành quân Đặc biệt thành công nhất trong chiến tranh VN. Tuy vậy rất ít người Mỹ biết đơn vị (đv) này, và họ là tiền thân của Delta Force sau này.

Thành lập từ năm 1964 tại Nha Trang, nhiệm vụ của Project Delta, mà tên chính thức là Toán B-52, là thực hiện các nhiệm vụ thám sát đặc biệt khắp VNCH theo lịnh của MACV và Bộ Tổng Tham mưu VNCH.

Họ làm theo yêu cầu của cấp sư đoàn (sđ) hay quân đoàn (qđ). Khi đó họ sẽ dưới quyền chỉ huy của đv đã yêu cầu.

Nhiệm vụ của họ rất đa dạng gồm việc thám sát vào các khu vực của VC để thu lượm tin tức tình báo chiến thuật hay chiến lược; hướng dẫn không kích vào những mục tiêu bình thường khó tiếp cận hay phát hiện 1 tập trung đông đảo của đối phương; tiến hành việc Đánh giá Thiệt hại do oanh kích gây ra, viết tắt là BDA trên vùng địch kiểm soát; giải cứu tù binh đồng minh và phi công lâm nạn; bắt tù binh để khai thác; đặt máy nghe lén vào dây điện thoại của địch; đặt mìn trên đường chuyển quân của địch; chụp hình bằng không ảnh và công tác tâm lý chiến. Họ thường hoạt động gần các căn cứ địa hay đường xâm nhập ở khu vực biên gới. Hoạt động của họ chỉ được giải mã năm 1996.

Quân số của Project Delta hay B-52 thay đổi theo thời gian, nhưng thông thường gồm 11 sĩ quan và 82 hạ sĩ quan của lực lượng đặc biệt (LLĐB) Mỹ; một đại đội an ninh gồm 105 lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) gốc Nùng – canh giữ doanh trại; một toán Đánh giá Thiệt hại do Oanh kích gây ra gồm 4 người Mỹ và 20 DSCĐ, 20 sĩ quan và 78 hạ sĩ quan/binh sĩ của LLĐB VNCH; một đại đội Roadrunner gồm 123 lính DSCĐ; và TĐ 81 Biệt Cách Dù gồm 43 sĩ quan và 763 hạ sĩ quan/binh sĩ VNCH. TĐ này là lực lượng phản ứng của Project Delta. Trong Tết 1968, họ đã chiến đấu trong tỉnh Gia Định.

Trong phần lớn các trường hợp, các thành phần của Đại đội 281 Trực thăng Tấn công (AHC) được lịnh yểm trợ cho họ. Các tiền sát viên không quân hay FAC cũng phối hợp với họ.

Các toán viễn thám, viết tắt là RT, gồm LLĐB Mỹ và VNCH; và các toán Roadrunner (thuộc LLĐB VNCH với trang bị quần áo và vũ khí địch) là nguồn cung cấp tình báo chánh của Project Delta. Việc xâm nhập lúc đầu thực hiện bởi Trung đội 145 Không vận của Mỹ, viết tắt là 145 AVN PLT và sau này bởi đại đội 281 Trực thăng Tấn công của Mỹ.

2/ Sau đây là cuộc hành quân viễn thám vào thung lũng An Lão tháng 1/1966.

Ảnh: Trung sĩ nhứt (SSGT) Frank Neil Badolati (tử trận trong trận này), là một thành viên của Project Delta, Liên đoàn 5 LLĐB Mỹ.

                

 (Nói thêm: Trong trận Pleime từ 19 đến 25/10/1965, sáng 21/10, một lực lượng 175 người, phần lớn là BĐQ VNCH thuộc Project Delta, dưới quyền của thiếu tá Charles Beckwith và Phạm duy Tất đã được trực thăng đổ xuống cách trại khoảng 5 km. Ngày hôm sau, đơn vị này tiến ra khỏi trại nhưng bị đẩy lui, chết 14 người, và phải lui về trại – ND).

Hành quân Masher (24-1 tới 6-3-1966), xem bản đồ, là một cuộc hành quân lùng và diệt lớn nhứt vào thời điểm đó. Project Delta được giao nhiệm vụ thám sát phía bắc của thung lũng An Lão. (Trên bản đồ ta thấy lữ đoàn 2 và 3 của 1 Không kỵ Mỹ hoạt động phía bắc thung lũng; TĐ 2/40 VNCH án ngữ ở phía nam. CCHL Brass và Steel và bãi đáp Papa yểm trợ cho cuộc hành quân, mà BCH tiền phương đặt tại Bồng Sơn. SĐ 3 CSBV hoạt động ở vùng này. Hương lộ 514, có từ đời Pháp, chạy suốt thung lũng. Quận lỵ An Lão, tượng trưng bởi chấm đen lớn, đã bị CS, đánh chiếm tháng 12/1964 – ND).

 

Khu vực này của thung lũng An Lão được che phủ bởi thảm thực vật rậm rạp, phần lớn là cỏ voi, cao từ 9 tấc đến 1,2 mét, và xen kẻ với các ruộng lúa. Các sườn dốc bao quanh 2 bên của thung lũng với các vị trí phòng không của VC. Tin tình báo cho biết hai trung đoàn csbv đóng trong thung lũng, với yểm trợ của quân nổi dậy VC. Với tình hình như vậy, cựu chỉ huy của Project Delta, thiếu tá Art Strange, đã cảnh báo người kế nhiệm của mình, thiếu tá Beckwith vào tháng 7/1965 “Tránh xa thung lũng An Lão. Chúng có nhiều hệ thống báo động tinh vi và chó săn.”

Người lập kế hoạch cho hành quân Masher và Beckwith đã coi thường ý kiến này. Họ yêu cầu viễn thám thám sát thung lũng nhưng nhiều rắc rối đã xảy ra. Beckwith không muốn có người VN trong toán viễn thám -- dù phải có trong bảng cấp số tổ chức; tình báo thực địa chưa được xác nhận, thời tiết xấu, yểm trợ của trực thăng và gunship bị giới hạn do súng phòng không, và, như đã nói trước đây, VC đã kiểm soát thung lũng này. Lần cuối cùng mà quân VNCH ở đây là năm 1958.

Beckwith đã cho 3 toán xâm nhập gồm toàn lính LLĐB Mỹ. Trung sĩ nhứt Badolati đi với toán ROADRUNNER cùng với trung sĩ nhứt (SFC) Marcus Huston (trưởng toán), trung sĩ Billy McKeith, trung sĩ Wiley Gray, trung sĩ Ron Terry và trung sĩ Cecil Hodgson (mỗi toán sáu người).

Nhiệm vụ của họ đã nhanh chóng thất bại. Toán ESKIMO phải hủy bỏ với 1 người bị thương. Toán CAPITOL bị 1 người lấy củi trông thấy nên bị phục kích, mất 4 người và 2 bị thương.

Toán ROADRUNNER chạm địch lúc 09:00 ngày 28/1 và lần hai lúc 12:30. Trưa hôm đó, Badolati đã trúng đạn ở phần trên của tay trái, khiến tay gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson buộc ga-rô cho Badolati trong khi toán bị tấn công. Toán đã đoạn chiến và di chuyển khoảng 550 mét, sau đó ngừng lại để chăm sóc cho Badolati. Họ lập tức bị tấn công. Toán phải tách làm hai để tránh đối phương đuổi theo.

Nhóm 1 gồm Gray, Hodgson và Terry và nhóm 2 gồm Badolati, Huston và McKeith. Nhóm 2 của Badolati cố gắng núp dọc theo sườn dốc và sau tối đã đi trên lòng suối để mất dấu. Cuối cùng Badolati đã nói y “ko thể đi nữa” và để y ở lại. Huston và McKeith ko đồng ý, và dừng ở 1 vị trí kín đáo ở cách bờ suối khoảng 1 mét. Dù vết thương ở tay được chăm sóc cẩn thận, tình trạng của Badolati tiếp tục suy sụp và chết vào lúc sáng sớm ngày 29/1/1966. Hai người còn lại trong nhóm đã dấu xác của Badolati dưới những bụi cây bên cạnh những tảng đá lớn, với hy vọng toán Tìm kiếm (SAR) sẽ tìm thấy. Họ đã được trực thăng cứu sau đó.

Nhóm 1 của Gray, Hodgson và Terry đã lẩn trốn suốt ngày và tìm chỗ núp để qua đêm. Khi trời vừa sáng của ngày 29, ba người đã bắt đầu di chuyển và ko chạm địch cho tới 4:30 giờ chiều. Trong khi núp trong cỏ voi, họ đã thấy bảy VC đứng cách họ khoảng 1,2 mét ở bên phải và phía sau họ. Họ nổ súng, giết ba tên. Ngay sau đó, Gray đã nghe Terry hét lên rằng y trúng đạn và thấy Terry cong người khi trúng đạn lần nữa; viên đạn này đã kết liểu cuộc đời Terry.

Gray ko biết Hodgson núp ở đâu và quyết định di chuyển khoảng 6 mét tới 1 vị trí tốt để phục kích. Một lát sau, y nghe súng nổ và sau đó im lặng. Gray tiếp tục lẩn trốn và được trực thăng cứu ngày hôm sau.

Thiếu tá Beckwith bị thương trong khi ngồi trên gunship và rời Project Delta tuần kế. Trong 17 người vào thung lũng An Lão, có 7 chết và 3 bị thương.

=======

3/ Sau đây là tường trình của 1 cơ trưởng trực thăng về việc cứu toán viễn thám này.

 Biến cố ở thung lũng An Lão 

Trung đội không vận 145, đã kể ở trên, đã hoạt động vài ngày ở trại LLĐB Bồng Sơn để yểm trợ cho Project Delta đang viễn thám Thung lũng An Lão. Tôi là cơ trưởng của 1 trực thăng chở quân hay "slick", với số đuôi là 62045, danh hiệu truyền tin là "Mardi Grass 6". Xạ thủ là Rusell Issaacs. Trung đội trực thăng có sáu chiếc chở quân, hai chiếc võ trang, và một chiếc UH-1C trang bị đầy đủ, còn gọi là "hog" (con heo); trong khi chiếc thứ 10 phải trở về phi trường Nha Trang do trục trặc. Nhiệm vụ của chúng tôi là bí mật đưa toán Delta này vào thung lũng, yểm trợ họ bằng gunship, và bốc họ khi được lịnh. Nhiệm vụ của toán này là tìm vị trí của một lực lượng lượng lớn của VC và CSBV, để sau đó một lữ đoàn của sư đoàn 1 không kỵ, đang hành quân ở vùng nông thôn Bồng Sơn gần đó, sẽ được đổ xuống để tiêu diệt.

Các toán Delta đã bị lâm nguy (compromise) ngay từ phút đầu và tôi được Phi Dũng Bội Tinh nhờ thả dây và yểm trợ để bốc 5 người ở sườn núi vào ngày 28/12/1966.

Vào sáng ngày 29.2, phần lớn trung đội đang hoạt động trong và chung quanh thung lũng. Thiếu tá Kevin Murphy, trung đội trưởng đã đến trại LLĐB Bồng Sơn để gặp thiếu tá Charlie Beckwith. Trực thăng của tôi đậu gần đấy trong 1 nghĩa trang - nơi mà chúng tôi đã qua vài đêm ở đó; tôi và Isaacs đang kiểm tra máy móc và vũ khí. Đột nhiên thiếu tá Murphy xuất hiện và nói với chúng tôi "cho máy nổ". Một toán viễn thám đã đụng và cần triệt xuất gấp. Thiếu tá Beckwith đã đến với 3 thành viên Delta khác gồm 1 trung sĩ nhứt, một âm thoại viên, và 1 sĩ quan khác, tôi nghĩ như vậy. Chúng tôi lập tức mở máy và thiếu tá Murphy gọi các trực thăng còn lại của trung đội. Họ có thể đã đổ quân hay bay về trại LLĐB Bồng Sơn để đổ xăng hay nạp thêm đạn, nên ko thể đi cùng chúng tôi. Thế là chiếc 045 của tôi phải bay lập tức và nhanh chóng tìm toán viễn thám lâm nạn. Chúng tôi sẽ trở thành máy bay C-and-C trong khi các chiếc khác sẽ bốc viễn thám hay yểm trợ họ. Phi hành đoàn có 4 người gồm thiếu tá Murphy, co-pilot là chuẩn úy Southwell, Issaacs và tôi; và 4 thành viên Delta.

Lúc đó trời lạnh, mây thấp với trần mây dưới 300 mét, và có mưa.

Do trần mây quá thấp, chúng tôi bay ở độ cao khoảng 90 tới 120 mét phía trên khu vực ngay bên ngoài trại SF rồi tiếp tục bay qua một số cánh đồng, đồng thời tăng tốc khi bay. Ngồi ở cửa khoang (phía phi công), tôi mặc áo khoác dã chiến, bên ngoài của áo giáp đạn (flak jacket) và tấm giáp che ngực (chicken plate), xem hình.

Và tôi hạ tấm kính che trên nón visor, xem hình, để cố giữ ấm và che mưa.

Mỗi giọt mưa rơi trúng người đều đau rát. Dù trang bị như trên, tôi vẫn bị mưa vẫn tạt vào tay và cằm tôi, trong khi nước chảy dọc visor, cổ và chui vào trong áo. Tầm nhìn không tốt, nhưng từ độ cao đó tôi vẫn có thể nhìn khá rõ mặt đất. Ít người xuất hiện trong tầm nhìn, nhưng những người mà tôi thấy trông như nông dân đang trên đường đi đâu đó. Không xa sân bay Bồng Son và trước khi chúng tôi vào phần hẹp của thung lũng, chúng tôi bất ngờ thấy vài khu ruộng lúa trống trải. Độ cao của chúng tôi vẫn chỉ vài trăm feet, và phía trước hơi lệch về bên trái là một bờ ruộng có hàng dừa cao, cùng một bờ ruộng khác ở xa bên trái. Tôi không thấy ai cả.

Gần như ngay lập tức, tôi nghe thấy tiếng nổ chát chúa, của súng bộ binh và súng tự động, và tôi nhận ra rằng chúng tôi đang bị bắn từ hàng cây dọc theo bờ ruộng mà chúng tôi đang bay tới theo góc khoảng 30 độ. Tôi bắt đầu khai hỏa bằng khẩu M-60 vào hàng cây, quét từ phải sang trái. Thiếu tá Beckwith, người ngồi cạnh tôi, bắt đầu bắn M-16 qua vai phải tôi, và Trung sĩ nhất, người ngồi dưới sàn trước mặt tôi, cũng bắt đầu khai hỏa. Tôi nghiêng người về phía trước trên ghế, hai tay giữ khẩu M-60, khuỷu tay phải tựa lên đầu gối phải và tay trái đỡ bên dưới súng để ổn định khi bắn. Tôi chỉ kịp bắn khoảng 20 hoặc 30 viên thì “RẦM!”—tay phải tôi bị hất văng khỏi tay cầm của súng M-60 và tôi cảm thấy một cú va chạm gần như tương tự ở đùi phải. Cả thế giới hình như đầy những chấm đỏ, và cơn đau vượt quá khả năng diễn tả của tôi. Khoảnh khắc đó, thời gian như chậm lại.

Tôi nhìn xuống tay mình và thấy khói bốc ra từ vết thương. Tôi liếc sang thiếu tá Beckwith và lập tức nhận ra ông ấy bị thương ở bụng và nặng hơn tôi rất nhiều. Sau đó tôi nhìn lên Trung sĩ nhất, và thấy vẻ kinh ngạc tột độ trên mặt ông ấy; cùng với những vết đỏ khắp mặt và đầu ông ấy khiến tôi bật cười, không phải vì buồn cười mà vì đau đớn. Tôi đưa tay ra phía ông ấy vì muốn ông cầm máu giúp tôi. Tôi chắc ông ấy không hiểu tôi đang làm gì, nhưng cuối cùng ông ấy cũng siết chặt cánh tay tôi và làm chậm việc mất máu.

Sau đó mọi thứ bắt đầu trở nên rối loạn đối với tôi. Khói và hỗn loạn tràn ngập trong trực thăng, cùng với mạng lưới truyền tin đang hoạt động rất mạnh mẻ. Tôi nghĩ rằng Southwell bị mảnh đạn bắn vào mông khi có thứ gì đó xuyên lên từ sàn trực thăng, nhưng tôi không hoàn toàn chắc chuyện gì xảy ra sau khi tôi bị bắn. Trực thăng rung lắc dữ dội khi tiếp tục bay, hơi nghiêng sang phải. Tôi nghe thấy khẩu M-60 của Isaac hoạt động, và cơn đau ở tay cùng nỗi sợ bị bắn thêm hoặc tệ hơn là rơi máy bay khiến tôi quyết định tiếp tục chiến đấu. Tôi dùng tay trái cầm súng và bắt đầu bắn lại, một tay, về phía chân hàng cây, lúc này đã rất gần. Khi chúng tôi lượn qua hàng cây dọc bờ ruộng, tôi thấy những người mặc quân phục đang chĩa vũ khí về phía chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều bắn dữ dội, nhắm vào bất cứ thứ gì chuyển động. Beckwith nằm nửa người trên ghế và đau đớn hơn tôi rất nhiều, và tôi nghe thuộc cấp của ông ấy bảo ông cố gắng chịu đựng. Sĩ quan lực lượng đặc biệt (LLĐB) nói với ông: “Cố lên sếp, ông bị thương nặng rồi. Chúng ta phải đưa ông quay về.” Sau đó ông ta liên lạc vô tuyến và cùng Thiếu tá Murphy quyết định hủy nhiệm vụ và quay thẳng về trại LLĐB.

Chúng tôi bay trở lại Bồng Sơn và hạ cánh ngay bên ngoài hàng rào dây thép của trại LLĐB. Họ đưa Beckwith xuống, và Issacs đi đến bên tôi và đỡ tôi dậy, đặt tay trái tôi lên vai anh ta. Anh ta cõng tôi qua con đường hẹp dẫn vào hàng rào thì gặp một nhà báo đang chặn lối đi. Russell bắt đầu quát anh ta tránh ra, nhưng người đó chỉ đứng đó há hốc miệng, lúng túng với máy ảnh, có lẽ đang cố lấy ra để chụp hình. Khi chúng tôi đến gần, Russell xô anh ta qua hàng dây thép gai, khiến anh ta ngã ngửa lên thêm một lớp dây và rơi xuống đất.

Sau đó Issacs đưa tôi vào trạm cứu thương và ở lại một lúc trong khi một y tá tiêm morphine cho tôi. Mọi thứ bắt đầu trở nên mờ ảo và tôi nhớ họ đang làm việc hết mình cho Beckwith. Một lúc sau tôi nghe Thiếu tá Murphy bắt đầu la hét. Có vẻ ông ấy rất tức giận vì họ không chăm sóc tôi trước, và trực thăng tải thương vẫn chưa đến. Tôi cũng nhớ có người đang cố trấn an ông ấy. Cuối cùng, một trực thăng cấp cứu đến và đưa tôi tới bệnh viện ở Qui Nhơn.

Khi tôi tỉnh lại sau ca phẫu thuật, Đại tá McKean, chỉ huy liên đoàn 5 Lực lượng Đặc biệt, đang ngồi bên giường tôi cùng các thành viên trong ban tham mưu đứng phía sau. Tôi còn khá choáng váng nhưng điều tôi nhớ được trong cuộc trò chuyện là đại đội 145 không vận đã làm tốt nhiệm vụ và đã cứu những người sống sót của toán viễn thám. Thương vong chung của toán viễn thám là rất nặng, nhưng họ đã tìm thấy một số lượng lớn quân VC và McKean đã yêu cầu một không kích bằng B-52 trước khi đối phương kịp rút lui. Khi tôi hỏi về lực lượng yểm trợ mà chúng tôi được hứa, ông nói rằng Sư đoàn 1 không kỵ không thể thực hiện nhiệm vụ của họ vì đang bị kẹt trong một trận đánh ở nơi khác. Tôi cũng nhớ đã hỏi về ông một số thành viên Delta và bày tỏ sự tức giận lớn về việc phải chịu tổn thất như vậy để truy tìm một kẻ địch rồi lại để họ thoát.

Sau này, tôi nghĩ rằng tôi thực sự trân trọng chuyến thăm của ông ấy. Ông khiến tôi cảm thấy mình đã góp phần vào một nhiệm vụ quan trọng và được những người (mà tôi xem là dũng cảm nhất tôi từng gặp) tôn trọng. Đây cũng là lần duy nhất trong cuộc chiến đó có người dành nhiều thời gian giải thích cho tôi các nỗ lực của chúng tôi phù hợp với bức tranh chiến dịch lớn hơn và tại sao nó lại đáng giá.

 Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không biết mình bị bắn bằng gì! Trong bệnh viện, Russell Issacs nói với tôi rằng đó là một viên đạn xuyên giáp cỡ 7.62 ly và nó đã trúng Beckwith. Vì Beckwith ngồi ngay phía sau tôi, bắn qua vai tôi, và viên đạn xuyên qua tay tôi rồi sượt qua đùi phải, nên đó hẳn là cùng một viên đã bắn trúng ông ấy ở bụng. Chúng tôi đều bị trúng cùng một lúc, và trong cuốn sách của mình, Charlie nói rằng ông bị trúng đạn cỡ 12,8 ly. Viên đạn tạo ra một lỗ cỡ M-16 ở mu bàn tay tôi và một vết thoát đạn lớn hơn ở cổ tay. Nếu là đạn 12,8 ly thì có vẻ như tôi đã mất cả bàn tay.

 Dù đã qua một thời gian kể từ sự cố này, tôi vẫn thường xuyên nghĩ về nó. Tôi đã trải qua một năm tại Bệnh viện Quân y Madigan ở Tacoma, bang Washington để phẫu thuật và phục hồi bàn tay. Sau đó tôi trở lại đại học, tốt nghiệp, đi làm, kết hôn và có con. Cuộc sống của tôi đã tốt đẹp, nhưng mỗi ngày tôi vẫn nhớ đến những người tôi đã phục vụ cùng trong Trung đội Vận tải đường không 145.

Tái dựng từ ký ức cách đây 35 năm 

Bởi cựu binh nhất Duane D. Vincent 

Ngày 19 tháng 11 năm 2000

 

========

4/ Bài này đăng trên FB về trận này.

“Hôm nay chúng tôi xin được tưởng nhớ 7 người thuộc toán B-52 (Project Delta) đã tử trận ngày 29/1/1966 tại thung lũng An Lão thuộc tỉnh Bình Định, 12 dặm tây của Tam Quan. Thung lũng này dài và hẹp với những đồng lúa xen kẻ với những cụm cỏ voi. Những núi đầy rừng rậm nằm 2 bên của thung lũng. Lúc đó Toán B-52 được chỉ huy bởi thiếu tá Charlie Beckwith. Ba toán viễn thám sau khi xâm nhập đều bị thiệt hại, khiến Project Delta phải nghỉ một thời gian để tái huấn luyện. Thiếu tá Beckwith đã bị thương khi bay trên trực thăng C-and-C, nhưng sống sót.

Nhiệm vụ của họ là yểm trợ sư đoàn 1 không kỵ với các toán viễn thám, viết tắt là RT. Vùng hoạt động của họ là đầu phía bắc của thung lũng. Họ có nhiệm vụ quan sát các đường di chuyển dẫn đến khu vực này để xác định VC hay CSBV có dùng để tăng cường hay rút lui khi TQLC Mỹ đánh xuống từ phía bắc hay từ sđ 1 Không kỵ và quân VNCH đánh lên từ phía nam.

Tình báo thực địa ko được kiểm chứng, thời tiết rất xấu, hạn chế về không yểm và truyền tin, và điều mọi người người biết là CS đã kiểm soát thung lũng từ 1958. Bộ tham mưu của Delta đã họp ba toán và chỉ nhận người tình nguyện cho nhiệm vụ. 17 người của 3 toán đều tình nguyện và âm thầm xâm nhập lúc chiều tối của ngày 27/1/1966. Kết quả của cuộc viễn thám: 5 chết, 3 bị thương, và hai mất tích. Chi đây là chi tiết:

==

Lúc 0930 ngày 28, toán 1 chạm súng hạ sát 1 VC, 2 tên bị thương, 1 lính Mỹ bị thương.

Toán 2 cũng chạm súng lúc 0930 cùng ngày, và lần hai lúc 1205. Khi ấy trung sĩ Badolati bị trúng dạn ở phần trên của tay trái, khiến tay bị xé nát (mangle), gần như bị cắt đứt (sever). Trung sĩ Hodgson lập tức buộc chặt vết thương (tourniquet) và toán này đoạn chiến. Họ di chuyển khoảng 600 m trước khi ngừng để săn sóc vết thương của Badolati. Ngay khi ngừng, họ lại bị tấn công. Toán nhanh chóng bắn trả và chia làm 2 nhóm (mỗi nhóm 3 người) để lẩn trốn. Trung sĩ Marcus Huston và Billy McKeith ở lại với Badolati. Suốt buổi chiều và tối, họ vừa chăm sóc Badolati vừa di chuyển trên địa thế hiểm trở để né tránh VC. Thỉnh thoảng họ phải ngừng để điều chỉnh dây buộc vết thương ở tay của Badolati. Nếu dây buộc lỏng, máu sẽ trào ra.

Trong bóng đêm, họ đã gặp một lòng suối xuất phát từ phía tây Sông An Lão. Họ đi trên lòng suối, để tránh để lại dấu vết. Cuối cùng, Badolati nói rằng y “ko thể đi nữa” và yêu cầu để y ở lại. Hai người kia đã kiếm 1 vị trí cách bờ suối khoảng ba bộ Anh rất lý tưởng để ẩn náo vì có các bụi cây và đá tảng. Họ đã ở chỗ này từ 0300 đến 0515 giờ sáng. Thời gian đó, hai người đã chăm sóc cánh tay bị thương nặng của Badolati, tuy nhiên tình trạng của y tiếp tục xấu đi. Họ tin rằng y đã chết sáng sớm ngày 29/1/1966. Sau đó, họ buộc phải dấu xác của Badolati tại chỗ để tiếp tục lẩn trốn. Huston và McKeithe đã được triệt xuất sau đó cùng ngày.

Nhóm thứ hai gồm các trung sĩ Wiley Gray, Cecil Hodgson và Ronald Terry đã lẩn trốn suốt ngày 28. Sáng sớm ngày 29, họ đã vào một vị trí phòng thủ, và ngay sau đó (whereupon) đã chạm súng với địch.  Terry bị trúng đạn, và họ đã nghĩ y chết. Sau đó Hodgson biến dạng. Lần cuối mà họ gặp y với súng lục 9 ly cầm tay trong đám cỏ voi, cách Gray và Terry một tầm tay, khi họ nổ súng một một đơn vị địch đang chận đường rút của họ, và mạnh ai nấy chạy. Có nhiều tiếng súng nổ.

Cả toán viễn thám ko thể tìm kiếm Hodgson vì hỏa lực mạnh mẻ của CS, và buộc phải đến điểm tập họp để trực thăng bốc. Họ đã lẩn trốn suốt ngày hôm đó, và cuối cùng được bốc đi. Cuộc tìm kiếm 3 người mất tích kéo dài trong 4 ngày kế nhưng ko kết quả. Hodgson được xếp loại Mất tích trong Chiến đấu (MIA). Badolati được xếp loại Tử trận/Không tìm được xác.

Charles Hiner là thành viên của toán 2 kể lại. “Toán xâm nhập vào thung lũng vào chập tối của ngày 27/1/1966. Hai ngày sau đó mưa lớn, toán chúng tôi gồm 6 người đang ngồi nghỉ chân thì bị một lực lượng lớn của VC tấn công.

Trong những loạt súng đầu, Cook, Webber, và Hoaglund bị trúng đạn, và tôi ko biết, nhưng nghĩ rằng Dotson và Hancock cũng trúng đạn. Tôi ko chắc lắm vì hai người này bảo vệ cạnh sườn.

Tôi trúng đạn khi lên tới đỉnh đồi để đề phòng địch chiếm đỉnh đồi để khống chế chúng tôi.

Hiệu thính viên Cook bảo vệ sườn trái nhưng ko thể xài máy truyền tin do bị thương bất động. Y gọi tôi xuống phía dưới để lấy máy khỏi người y. Có một đống dá ở giữa khu rừng thưa nên tôi đã đưa máy đến đó để gọi. Tôi gọi mọi người bằng tên mẹ của họ để dễ nhận dạng, trong khi đối phương tiếp tục bắn chúng tôi.

Sau khi chúng tôi gặp sĩ quan tiền không thám hay FAC trên máy, tôi cảm thấy an tâm đôi chút và bắt đầu nhìn chung quanh. Tôi có thể nghe Dotson: y bị trúng đạn ở ngực rất nặng. Một kẻ khác, Hancock nằm chết cách tôi khoảng 9 mét. Y đươc băng bó từ cổ chân đến đầu. Hoaglund vẫn còn sống. Cơn hấp hối của Cook có thể kéo dài đến 1 hay 2 giờ trưa hôm đó.

Webber bị trúng 4 viên đạn vào tay, ngay từ loạt đạn đầu tiên và sau đó tôi bị 1 viên vào đầu. Tên VC thủ khẩu AK-47 và tôi nổ súng một lượt vào nhau. Y giật nẩy người (jerk up) trong khi đạn y chỉ cách da đầu tôi khoảng 6 ly. Đạn vào xương, để lại một rãnh sâu.

Tôi đã gọi không yểm ngay vào vị trí để khỏi bị tràn ngập. Vì thà chết còn hơn bị tràn ngập.

Chúng tôi đang chiến đấu, ở lúc gần nhứt, chỉ cách đối phương 10 bộ Anh. Tình hình thật căng. Do đó khi tôi tung lựu đạn và bảo FAC đánh bom chung quanh đó; phi công nói “Tôi ko thể làm như vậy vì bom sẽ rơi xuống anh.” Tôi trả lời, thà như vậy còn hơn bị tràn ngập.

Ở lúc ngưng chiến gần cuối trận đánh kéo dài 4 giờ này, Hiner bò xuống núi để tháo gở đạn dược từ người chết, gồm Hoaglund, Dotson và Hancock, vì y và Webber sắp hết đạn.

Khi tôi bò tới xác của Hoaglund, tôi thấy y nằm ngửa, bên cạnh một gốc cây, với mủi súng chỉa vào đầu. “Y đã mất một tay, tay kia cũng gần đứt lìa.”

Trong những giờ phút cuối của trận đánh, hai đơn vị tiếp viện đã cuống cuồng di chuyển xuyên qua các bụi rậm để tới vị trí của Hiner. Đơn vị đầu thuộc 1 Không kỵ, và đơn vị kia thuộc Project Delta, chỉ huy bởi trung úy Holland và thượng sĩ nhất (sergeant major) Walt Shumate, người sau này là huyền thoại trong LLĐB khi làm thượng sĩ nhất cho Charlie Beckwith trong các hành quân của LLĐB.

Tường trình của Don Valentine, cựu chiến binh của Toán B-52:

Thiếu úy Guy Holland là sĩ quan trực (OIC) về viễn thám của Project Delta vào lúc đó. Sau khi gọi hết hơi để 1 Không kỵ để cứu toán viễn thám đang nguy ngập, y cần người tình nguyện để vào đó và cứu toán 2 ra.

21 người tình nguyện lấy súng và trang bị và nhảy lên 3 chiếc UH-1. Trong số đó có vài người Nùng. Tôi nhớ 1 người Nùng ngồi cạnh tôi trên máy bay. Khi thấy chúng tôi chạy nhanh ra trực thăng, vũ khí trang bị “tận răng”, y đã hành động như vậy, dù chẳng biết điều gì sắp xảy ra.

Chuyển ngữ từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến trận đánh này.

San Jose ngày 3 tháng 7 2026, cập nhật ngày 11/7/26.

Tài Trần.

Wednesday, July 8, 2026

 

Tough Chief of Rescue Troops; Charlie Beckwith Man in the News The Big Man Yelling 'Press On' Tough Colonel Who Directed Rescue Force

Tough Chief of Rescue Troops; Charlie Beckwith Man in the News The Big Man Yelling 'Press On' Tough Colonel Who Directed Rescue Force
Credit...The New York Times Archives
See the article in its original context from
April 27, 1980, Page 1Buy Reprints
New York Times subscribers* enjoy full access to TimesMachine—view over 150 years of New York Times journalism, as it originally appeared.
*Does not include Games-only or Cooking-only subscribers.
About the Archive
This is a digitized version of an article from The Times’s print archive, before the start of online publication in 1996. To preserve these articles as they originally appeared, The Times does not alter, edit or update them.
Occasionally the digitization process introduces transcription errors or other problems; we are continuing to work to improve these archived versions.

WASHINGTON, April 26 · In Octo- ber 1965 the small garrison of a United States Special Forces camp at Plei Me in the South Vietnamese highlands was besieged by several thousand North Vietnamese regular infantrymen. A 250-man rescue force was inserted by helicopter into the forests a few miles from the triangularly shaped camp. Charlie Beckwith, then an Army major, led this rescue force through the brush, through the North Vietnamese lines and, at a run, into the front gate of Plei Me. He then, characteristically, tried to take the offensive. He ordered three counterattacks in the first day, discovering after each sally was forced back into Plei Me that major units of North Vietnamese regulars had for the first time been committed to the war in South Vietnam.

The Big Man Yelling ‘Press On'

When a reporter arrived at Plei Me a few days later on a medical evacuation helicopter and asked a grizzled sergeant how to find Major Beckwith, the sergeant answered: "When you see a real big man yelling 'press on!' that's him.” This officer, now Colonel Beckwith, was identified yesterday by a Pentagon official as the commander of the force of troops ferried to the Iranian desert where, officials said, an attempt to rescue Americans held hostage in Teheran, some 200 miles away, was aborted. Exactly what happened at the remote Iranian staging area and precisely how the decision to cancel the rescue was reached is not known to public or press. But, while Colonel Beckwith had shown in Vietnam that he was too professional to be foolhardy, any decision not to press on must have seemed both painful and inescapable. Although, in the words of a fellow officer, "it is definitely not the way to make general in the U.S. Army,” Colonel Beckwith has devoted most of his military career to learning and teaching the arcane arts of "special warfare" and special operations. How special was indicated today when the Pentagon refused at a briefing to name the "colonel on the ground" commanding the operation, disclosing only his rank. Asked for biographical information on Colonel Beckwith, the Army records department disclosed only the following: Born Jan. 22, 1929. Attended college. Commissioned 1952. Assignment "classified." Serial Number 258–364046. Even his middle name is classified by the Pentagon. A bit more is known than that skimpy profile. Colonel Beckwith, who lived in Atlanta, at one point helped train Army Ranger candidates in the swamps and piney woods of the American South. An early volunteer for the Army Special Forces, he was assigned to Vietnam in the mid-1960's and by 1965 was in command of the Delta Project. This small but tough unit was composed of several hundred Indochinese (including ethnic Cambodian and ethnic Chinese) mercenary riflemen recruited and paid by the Special Forces with funds supplied by the Central Intelligence Agency. This Delta force was the Special Forces own "dedicated," or specially assigned, rescue force designed to meet contingencies such as the seige of Plei Me. The then Major Beckwith and his unit held Plei Me successfully until, almost a week after he assumed command, large relief forces from the United States and South Vietnamese armies arrived. In the midst of the siege, hundreds of flares were dropped by American aircraft, and Major Beckwith's Special Forces officers and noncommissioned officers sometimes sat drinking whisky on soft beds made from the hundreds of supply parachutes dropped into the camp." Major Beckwith, a large man with a wiry stubble of a beard, once recalled with an enlisted friend their days shooting quail over pointing dogs. Major Beckwith said in the midst of battle: "Good times, sergeant major. We'll have them again.' Major Beckwith was nearly killed in 1966 while directing another rescue operation near Bong Son when ground fire severely wounded him in a helicopter. An Army surgeon later recalled that "Beckwith is one man who saved his own life." The surgeon explained that the seriously wounded officer had sat upright on his litter and shouted that he needed immediate trauma treatment because, "I'm bleeding to death.” "He was right," said the surgeon. “A few more minutes and he would have been dead." The major was promoted to lieutenant colonel and returned to Vietnam in the late 1960's as a battalion Commander in the 101st Airborne Division. Later assigned to the Special Warfare School at Fort Bragg, N.C., Colonel Beckwith was directed four years ago to help train and lead an antiterrorist unit. The hope apparently was that this elite force could be used to deal with airline hijackings and other terrorist difficulties as Israeli commandos had done in freeing hostages at Entebbe.

Tough Colonel Who Directed Rescue Force