Showing posts with label malaya. Show all posts
Showing posts with label malaya. Show all posts

Monday, August 31, 2020

Bản đồ Malaya năm 1963, lúc đó Singapore và Brunei vẫn còn trong liên bang này.
Diện tích: hơn 336.000 km2, lớn hơn VN, dân số 11 triệu. Kinh tế : thiếc (tin), cao su, dầu hỏa, v.v...



Khác nhau giữa chiến tranh VN và Mã Lai (Malaya, nay gọi là Malaysia) Chiến tranh tại Mã Lai và VN đã được nhiều lần so sánh và đã đc các sử gia đặt câu hỏi làm thế nào một lực lượng lính Anh chỉ có 35.000 ng lại thành công trong khi hơn 1/2 triệu lính Mỹ lại thất bạo trên một khu vực nhỏ hơn. Hai cuộc chiến khác nhau ở các điểm sau . 1/ Trong khi MNLA, tên tắt của tên tiếng Anh của Quân đội Dân tộc Giải phóng Mã lai, chỉ có hơn 8.000 du kích, quân CS Bắc Việt có hơn 250.000 người, cộng thêm khoảng 100.000 du kích Việt cộng. Ngoài ra, sự hỗ trợ của LX và CHND Trung Hoa đã cung cấp một lượng lớn vũ khí mới nhứt, yểm trợ hậu cần, người và huấn luyện cho Bắc VN. Hơn nữa, Bắc VN, cùng chung biên giới với đồng minh TQ, cho phép sự giúp đỡ và tái tiếp tế liên tục. Trong khi đó, lực lượng MNLA bị cô lập và ko có sự giúp đỡ từ bên ngoài (external supporter). Lực lượng này đã cô lập về chính trị với phần lớn người dân. Như đã nói ở trên, đây là một phong trào chính trị hầu như CHỈ CÓ Hoa kiều tham gia; sự hỗ trợ từ người Mã Lai theo Hồi giáo và các bộ lạc nhỏ hơn thì rải rác. Người Mã Lai ủng hộ người Anh vì được hứa sẽ độc lập trong một nhà nước Mã Lai; một chiến thắng của MNLA sẽ bao hàm (imply) một nhà nước khống chế bởi Hoa kiều, và có thể là một nhà nước bù nhìn của Bắc kinh hay Moscow. Nước Anh chưa bao giờ xem cuộc chiến chống Mã Cộng là chiến tranh qui ước và nhanh chóng thực thi một kế hoạch hữu hiệu gồm: 1/ tình báo (lãnh đạo bởi nghành CS Đặc Biệt của Mã Lai để chống lại nhánh chánh trị của phong trào du kích này) và 2/ "dân vận và chiêu hồi" (hearts and minds). Nhiều ng Mã Lai đã chiến đấu với người Anh chống lại Nhật trong Thế Chiến 2, gồm Chin Peng, lãnh đạo của MNLA. Tương phản với Đông Dương khi các viên chức Pháp ko chiến đấu chống Nhật, điều này đã kích động người VN theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Pháp. Yếu tố về lòng tin này giữa dân địa phương và đế quốc Anh đã giúp Anh có thuận lợi hơn Pháp và sau này, Mỹ tại VN, đã ko có sự tin tưởng như vậy từ người VN? Về mặt thuần túy QS, lính Anh nhìn nhận rằng trong một chiến tranh cường độ thấp (low-intensity war), kỹ năng và chịu đựng của cá nhân người lính thì quan trọng hơn là hỏa lực áp đảo (pháo binh, máy bay, v.v...). Dù cho nhiều lính Anh là lính quân dịch (conscripted), kỹ năng và thái độ (attitude) cần thiết lại được dạy thêm ở trường chiến tranh rừng núi, (nơi đây) cũng đã áp dụng những chiến thuật tối ưu dựa trên kinh nghiệm chiến trường. Tại VN, người và vũ khí đươcc chuyển qua nước thứ 3 như Lào và Cambodia trong khi quân Mỹ ko được phép vào 2 nước này. Điều này cho phép lính CSVN có chỗ núp an toàn đối với mọi tấn công của Mỹ. Phe MNLA chỉ có biên giới Thái, nơi mà họ đã trú ẩn lúc gần kết cuộc chiến. Dịch từ Wikipedia. Ảnh minh họa từ NAT GEO tháng 11 1963.
Cập nhựt ngày Sep 28 2022





Những giống nhau giữa cuộc chiến tại Mã Lai (Malaya)* và VN Ngoài việc ném bom và rải thuốc khai quang, còn có 2 điểm tương tự. 1/ CT tái định cư Nước Anh đã lập chương trình (CT) "tái định cư" đã cung cấp một khuôn mẫu cho CT Ấp Chiến Lược tại VN. Trong cuộc chiến Mã Lai lần đầu, 450 khu tái định cư đc lập và khoảng 470.509 người - gồm 400 ngàn người Hoa - đã ở trong đó. Một biện pháp chiến tranh của Anh là tạo sự trừng phạt tập thể *** đối với làng mà người dân đc cho rằng (deem) giúp đỡ phe nổi dậy. Ở Tanjong Malim tháng 3/1952, Trung Tướng Templer, TL quân Anh ở Malaya thời đó, áp đặt (impose) giới nghiêm 24 giờ**, cấm rời khỏi làng, đóng cửa trường, ngừng dịch vụ xe bus và giảm khẩu phần gạo cho 20 ngàn người. Biện pháp cuối đã khiến Trường Vệ Sinh và Bịnh Nhiệt Đới London viết thư tới VP Thuộc Địa nhận xét rằng "người dân Mã Lai suy dinh dưỡng kinh niên" dẫn đến cái chết. "Biện pháp này ko những chỉ làm gia tăng bịnh tật nhưng cả chết chóc, đặc biệt các bà mẹ và trẻ thơ". Một số người bị phạt vì rời nhà để đi cầu bên ngoài! Một trừng phạt tập thể khác - tại Sengei Pelek vào tháng kế - gồm giới nghiêm, cắt khẩu 40/100 khẩu phần gạo và dựng hàng rào (chain-link) cao 22 yard hay 20,1 m bên ngoài hàng rào kẽm gai (barbed wire) chung quanh làng này. Viên chức giải thích rằng làm như vậy đối với 4.000 dân làng vì "sự tiếp tục tiếp tế lương thực" cho phe nổi dậy và "vì họ ko cung cấp thông tin cho nhà cầm quyền". 2/ Tìm và diệt . Cũng như lính Mỹ tại VN, lính Anh cũng thường đốt những làng bị kết tội tiếp tế cho phe nổi dậy, bắt giữ hàng ngàn người tình nghi là cộng tác với nổi dậy, hầu ko còn chỗ cho phe nổi dậy ẩn náo. Nếu khám phá người dân giúp đỡ phe nổi dậy thì lính Anh sẽ giữ và điều tra họ để biết nơi đóng quân của nổi dậy. Phe nổi dậy có nhiều thuận lợi hơn lính Anh; họ sống gần người dân, đôi khi có thân nhân hay bạn thân trong làng, và họ ko ngại dùng bạo động hay tra tấn hay giết các trưởng làng để làm gương cho kẻ khác, buộc người dân phải giúp họ lương thực và thông tin. Vì vậy lính Anh có đe dọa kép: phe nổi dậy và mạng lưới thầm lặng trong làng, dù muốn dù ko, hổ trợ phe nổi dậy. Trong khi phe nổi dậy ít khi đụng độ với lính Anh, họ lại dùng chiến thuật khủng bố để làm dân sợ và phải giúp đỡ vật chất cho họ. Lính Anh thường mô tả sự kinh hãi (terror) khi đi hành quân trong rừng; ngoài việc để ý/canh chừng quân nổi dậy, họ phải di chuyển trên địa thế khó khăn và tránh động vật và côn trùng nguy hiểm. Nhiều toán phải ở trong rừng nhiều ngày, ngay cả nhiều tuần, ko đụng địch và kế đó, trong khoảnh khắc ngắn ngủi lại lọt ổ phục kích. Lính Anh, ko thể phân biệt bạn thù, phải điều chỉnh với nguy cơ thường xuyên bị phe nổi dậy tấn công. Những tình huống này dẫn đến sự kiện ô nhục (infamous incident) tại Batang Kali khi 24 dân làng ko võ trang bị giết bởi lính Anh . * Hiện nay gọi là Malaysia . ** Áp dụng bên ngoài làng, bên trong làng chỉ giới nghiêm ban đêm. *** Điều này ko có tại VN. Lính Úc, do có kinh nghiệm chiến đấu ở Mã Lai (vì trong khối Liên hiệp Anh), khi đóng quân ở Phước Tuy đã làm chủ tình hình 100/100. Thời đó tỉnh này là yên nhứt trong các tỉnh ở VN. Họ đánh theo lối du kích, ví dụ: tiến quân vào một làng, sau đó rút lui nhưng "ém" lại một trung đội. Lính CS tưởng rút hết, lò mò trở về thì bị phục kích. Theo báo Úc, có lần họ đã cột 1 xác lính CS vào sau xe M-113 để cảnh cáo dân làng "nếu ai theo VC sẽ có số phận như vậy".
Cập nhật ngày Sep 28 2022.

Wednesday, January 31, 2018

Nếu Malaya nằm kế TC thì không có Singapore như hôm nay ; đăng ngày 31/1/16 .
Thưa bạn XYZ : xin bạn xem lại cuộc chiến chống Mã Cộng (MC) từ 1948-61 và 1968-89 tại Malaya - tiền thân của Malaysia bây giờ . Lực lượng MC phần lớn là người Hoa và lãnh tụ của họ cũng là người Hoa , và Singapore từng là một HANG Ổ của MC . Sở dỉ MC không thành công tại Malaya vì lực lượng (LL) này KHÔNG tiếp nhận vũ khí ồ ạt và liên tục từ TRUNG CỘNG - như ĐCSVN đã nhận từ đầu thập niên 1950 . Nếu Malaya tiếp giáp với TQ thì MƯỜI ông Lý Quang Diệu cũng không thể biến Singapore như hôm nay (sic) ! Đây là yếu tố quan trọng .
Lực lượng MC chưa tới 10.000 TAY SÚNG + 150.000 CẢM TÌNH VIÊN (trong cuộc chiến lần 1 từ 1948-61) và khoảng 1.000 tay súng (trong lần 2 từ 1968-89) ; trong khi LL của CP Malaya đông gấp nhiều chục lần , có trợ giúp của Anh , Úc , và các LL trong Liên Hiệp Anh ; mà phải mất nhiều năm mới dẹp ! . . .Do vậy , nếu ko nhắc tới yếu tố địa lý trên đây thì mọi sự so sánh giửa ng VN và Sing đều khấp khểnh !
Nếu VNCH không bị CSBV đưa HÀNG TRIỆU QUÂN xâm nhập để "giải phóng miền Nam" thì ngày nay VNCH không kém gì Sing bây giờ ! (sic) .
(Viết sau khi đọc bài của bạn XYZ nói về Singapore của cụ Lý Quang Diệu) .
Thưa bạn NNHĐ : xin bạn xem lại cuộc chiến chống Mã Cộng (MC) từ 1948-61 và 1968-89 tại Malaya - tiền thân của Malaysia bây giờ . Lực lượng MC phần lớn là người Hoa và lãnh tụ của họ cũng là người Hoa , và Singapore từng là một Ổ của MC . Sở dỉ MC không thành công tại Malaya vì lực lượng (LL) này ko tiếp nhận vũ khí ồ ạt và liên tục từ TRUNG CỘNG - như ĐCSVN đã nhận từ đầu thập niên 1950 . Nếu Malaya tiếp giáp với TQ thì MƯỜI ông Lý Quang Diệu cũng không biến Singapore thành như hôm nay (sic) !
Lực lượng MC chưa tới 10.000 TAY SÚNG + 150.000 CẢM TÌNH VIÊN (trong cuộc chiến lần 1 từ 1948-61) và khoảng 1.000 tay súng (trong lần 2 từ 1968-89) ; trong khi LL của CP Malaya đông gấp nhiều chục lần , có trợ giúp của ANH , ÚC , và các LL trong Liên Hiệp Anh ; mà phải mất nhiều năm mới dẹp ! . . .Do vậy , nếu ko nhắc tới yếu tố TỐI QUAN TRỌNG này thì mọi sự so sánh giửa ng VN và SING đều khấp khểnh !
Nếu VNCH ko bị CSBV đưa HÀNG TRIỆU QUÂN xâm nhập để "giải phóng miền Nam" thì ngày nay VNCH KHÔNG KÉM GÌ SINGAPORE BÂY GIỜ ! (sic) .
Xin xem cuộc chiến chống Mã Cộng .
http://vi.wikipedia.org/…/T%C3%ACnh_tr%E1%BA%A1ng_kh%E1%BA%…
http://vi.wikipedia.org/…/N%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_c%E1%BB%9… . (Hết)
Viết sau khi đọc bài của bạn NNHĐ nói về Singapore của cụ Lý Quang Diệu .

Tuesday, December 19, 2017

hải tặc thái lan
https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/777194755627686
Some 12,000 to 20,000 Thai fishing vessels cruise the Gulf of Siam. Many of these are honest fishermen. But some occasionally turn to piracy either out of sheer greed or because of declining living standards caused by rising diesel fuel prices and increasingly fishd-out seas.
Face to face with a vessel loaded with helpless refugees, there may be an overwhelming temptation for the Thais to steal. Some Thais strongly dislike Vietnamese. And all-men fishing crews sometimes see Vietnamese women as targets for abuse.
So, even with the aid of the UN vessel, the underequipped Thai Navy faces a formidable task in determining just which vessels are manned by honest fishermen and which are manned by pirates.
Also there is a growing ring of professional full-time pirates, possibly linked to syndicates in Bangkok, according to some sources. These run in packs capable of scouting out weak, unarmed refugee vessels and then pouncing.
Many devoutly Buddhist Thais abhor the brutality of the pirates. But the Thai Navy is more heavily concerned with patrolling the waters near Vietnamese-occupied Cambodia.
The three Thai patrol boats stationed in Songkhla have had little effect. One reason frequently given is maintenance problems, which the United States has tried to help remedly with technical aid.
Others suggest that gangster elements in the Songkhla region are so strong that any police or naval officer who vigorously tracked down pirates might be shot in the back.
Another school of thought believes the Thai government is not that eager to clean up the piracy problem because the presence of pirates may deter an even greater number of Vietnamese refugees from landing on Thai shores.
Some Thai officials are reported less concerned over the anti-Vietnamese piracy because they believe refugee ships contain communist agents sent to join communist-leaning Vietnamese already living in Thailand.
Still the pirates, who are both Malay and Thai, do not prey on Vietnamese alone. Thai fishermen are frequently targets.
So far a significant effort has been made by the US. Four-engine P-3 Orion anti-submarine planes frequently overfly the Gulf of Siam. If they spot trouble , they pass on an alert. US Navy ships have picked up nearly 700 refugees in the area.
But the gradual movement of the American Navy to the Indian Ocean to deal with the Iran and Afghanistan problems has meant a declined presence in the Gulf of Siam.
This gives the pirates a freer hand.
Nguồn : The Christian Science Monitor , ko ghi ngày .

Wednesday, August 16, 2017

Những khác nhau giửa chiến tranh VN và Mã Lai (Malaya , nay gọi là Malaysia)
Chiến tranh tại Mã Lai và VN đã được nhiều lần so sánh và đã được các sử gia đặt câu hỏi làm thế nào 1 lực lượng lính Anh chỉ có 35.000 ng lại thành công trong khi hơn 1/2 triệu lính Mỹ lại thất bại trên 1 khu vực nhỏ hơn . Hai cuộc chiến khác nhau ở các điểm sau .
1/ Trong khi MNLA (quân đội dân tộc giải phóng Mã lai) chỉ có hơn 8.000 du kích , quân CS Bắc Việt có hơn 250.000 ng , cộng thêm khoảng 100.000 dukích Việt cộng .
Sự hổ trợ của LX và CHND Trung Hoa đã cung cấp 1 lượng lớn vũ khí mới nhứt , yểm trợ hậu cần , người và huấn luyện cho Bắc VN . Bắc VN , cùng chung biên giới với đồng minh TQ , cho phép sự giúp đở và tái tiếp tế liên tục .
Lực lượng MNLA
bị cô lập và ko có sự giúp đở từ bên ngoài (external supporter) .
LL này đã cô lập về chính trị với
phần lớn ng dân . Như đã nói ở trên , đây là 1 phong trào chính trị hầu như chỉ có Hoa kiều tham gia ; sự hổ trợ từ ng Mã Lai theo Hồi giáo và các bộ lạc nhỏ hơn thì rải rác . Người ML ủng hộ ng Anh vì đc hứa sẽ độc lập trong 1 nhà nước ML ; 1 chiến thắng của MNLA sẽ bao hàm (imply) 1 nhà nước khống chế bởi Hoa kiều , và có thể là 1 nhà nước bù nhìn của Bắc kinh hay Moscow .
Nước Anh chưa bao giờ xem cuộc chiến chống Mã cộng là chiến tranh qui ước và nhanh chóng thực thi 1 kế hoạch hửu hiệu gồm : 1/ tình báo (lãnh đạo bởi nghành CS Đặc Biệt của ML để chống lại nhánh chánh trị của phong trào du kích này) và 2/ "dân vận và chiêu hồi" (hearts and minds) .
Nhiều ng ML đã chiến đấu cùng ng Anh để chống lại Nhật trong TC 2 , gồm
Chin Peng , lãnh đạo MNLA . Tương phản với Đông Dương khi các viên chức Pháp ko chiến đấu chống Nhật , điều này đã kích động người VN theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Pháp . Yếu tố về lòng tin này giửa dân địa phương và đế quốc Anh đã giúp Anh có thuận lợi hơn Pháp và sau này , Mỹ tại VN , đã ko có sự tin tưởng như vậy từ ng VN ?
Về mặt thuần túy QS , lính Anh nhìn nhận rằng trong 1 chiến tranh cường độ thấp (low-intensity war) , kỹ năng và chịu đựng của cá nhân ng lính thì quan trọng hơn là hỏa lực áp đảo (pháo binh , máy bay , v.v...) . Dù cho nhiều lính Anh là lính quân dịch (conscripted) , kỹ năng và thái độ (attitude) cần thiết lại đc dạy thêm ở trường CT rừng Núi , (nơi đây) cũng đã áp dụng những chiến thuật tối ưu dựa trên kinh nghiệm chiến trường.
Tại VN , ng và vũ khí đc chuyển qua nước thứ 3 như Lào và Cambodia
trong khi quân Mỹ ko đc phép vào 2 nước này . Điều này cho phép lính CSVN có chổ núp an toàn đối với mọi tấn công của Mỹ . Phe MNLA chỉ có biên giới Thái , nơi mà họ đa trú ẩn lúc gần kết cuộc chiến .
Dịch từ Wikipedia . Ảnh minh họa từ NAT GEO tháng 2 1953




 .