Showing posts with label tđ 23 bđq. Show all posts
Showing posts with label tđ 23 bđq. Show all posts

Tuesday, August 5, 2025

 Trận đánh oai hùng này của TĐ 23 BĐQ được Shelby Stanton ghi lại trong “Rangers at War” trang 263: 

“Sáng 4 tháng 4 TĐ 23 tiến quân qua các khu rừng rậm, chiếm đóng đồi 763, dàn quân phòng thủ và lập một bãi đáp trực thăng phía Bắc khu đóng quân. Trung đoàn 28 CSBV đang chiếm ngự đồi 1043 về phía Tây và căn cứ của BĐQ nằm trọn trong tầm hỏa lực của pháo binh CS. Cộng quân pháo ngay trưa 4 tháng 4 vào bộ Chỉ huy TĐ: trong đợt cối đầu tiên 20 quả đạn, đã gây tử thương cho TĐ trưởng và Cố vấn phụ tá, Cố vấn trưởng và cố vấn súng nặng đều bị thương nặng xem như bị loại khỏi vòng chiến. Cố vấn duy nhất còn lại là Gary Littrell. Littrell đã cố gắng tái tổ chức hàng ngũ phòng thủ, di chuyển các binh sĩ bị thương ra khu bãi đáp tải thương... và nhận đạn và tiếp phẩm cùng Tr úy Nguyễn ngọc Khoan (ban 3 TĐ). Littrell sau đó giúp điều hành không trợ và cùng chiến đấu với Đ úy Nguyễn Công Bảo, ĐĐ trưởng ĐĐ 2/23. Cộng quân tiến đánh các vị trí của TĐ 23 từ trưa 5 tháng 4, đặc công CS phá rối suốt đêm và pháo kích liên tục vào bãi đáp trực thăng gây trở ngại cho việc tản thương. TĐ 23 đẩy lui hai đợt tấn công của CS trong các ngày 6 và 7 cùng các đợt pháo kích liên tục.. Ngày 7 tháng 4, ĐĐ trưởng ĐĐ 1/23 trúng pháo kích bị thương.. Littrell đã giúp di tản Đ. úy Trần Mừng... Cộng quân vẫn bị BĐQ đẩy lui dù bị tấn công và thiếu hụt đạn dược, KQ HK đã yểm trợ rất hữu hiệu... BĐQ hầu như cạn đạn vào sáng 8 tháng 4 và được lệnh rút quân lúc 10 giờ 30 qua đồi 743, băng rừng rồi vượt sông Dak Poko tìm về vị trí của TĐ 22 BĐQ.. . Cuộc rút quân bắt đầu từ 11 giờ.. Littrell giữ nhiệm vụ liên lạc cùng cố vấn TĐ 22 để điều hành trực thăng và khu trục yểm trợ rút quân..Sau khi đánh tan được 2 cuộc phục kích của CS, lực lượng còn lại của TĐ 23 qua sông Poko về khu an toàn .. TĐ 23 có 218 hy sinh và 19 mất tích.. “ Các phi vụ tiếp tế cho Trại Dak Seang bằng Caribou được ghi chép rất đầy đủ trong Tạp chí của C-7A Caribou Association số April 2010 . Các chi tiết kỹ thuật. danh sách nhân viên phi hành trong tổng số 100 phi vụ (58 ban ngày/42 đêm) và nhân viên hy sinh đều..đươc liệt kê.

• Tiểu đoàn 90 BĐQ : Trong chương trình rút khỏi Việt Nam, Trại biên phòng Dak Seang được chuyển cho BĐQ VN vào ngày 30 tháng 11 năm 1970. Quân số tại Trại gồm 431 người được chuyển thành Tiểu đoàn 90 Biệt Động Quân Biên phòng.. TĐ 90 được đưa đi huấn luyện tại Dục Mỹ và không trở về Dak Seang ..TĐ 90 BĐQ trở thành một TĐ lưu động và trực thuộc Bộ Chỉ Huy BĐQ vùng 2 CT. Trại Dak Seang trở thành một tiền đồn do ĐPQ Kontum trấn giữ. (Theo Tướng Tất , khi còn là Đ tá, TĐ 90 BĐQ tham dự trận đánh Chupao ngày 23-7-72 cùng LĐ 2 BĐQ và là đơn vị thanh toán đỉnh Chupao)
• Dak Seang 1972 Trong trận Tổng tiến công Hè 1972 tại Vùng 2 CT : Cộng quân tiến đánh DakTo và Tân Cảnh : 24 tháng 4, 1972 Cộng quân chiếm Tân Cảnh và sau đó tiến công Kon Tum . DakTo bị chiếm ngày 13 tháng 10..Dak Seang trở thành Tiền đồn duy nhất còn lại trong khu vực bị CS chiếm đóng..và Cộng quân thanh toán nốt Dak Seang để chiếm trọn vùng Ba biên giới , sửa soạn cho Hiệp định ngưng bắn “da beo” Paris ! Ngày 23 tháng 10, 1972 CS tập trung Tr Đ 66 và Tr Đ Pháo 40 CS (đưa 3 khẩu 105, 1 khẩu 155, 1 cối 160 và 1 khẩu 85 ) bao vây Dak Seang và tấn công Trại ngày 30 tháng 10.. Dưới mưa pháo , không chi viện .. Trại thất thủ trong ngày (Tác giả Lê Xuân Nhị có bài viết về trận này).
Vĩnh biệt Dak Seang.
• Liên đoàn 25 Biệt Động Quân : Đầu năm 1974, Bộ TTM QLVNCH đã tái tổ chức Binh chủng BĐQ gồm 45 Tiểu đoàn chia thành 15 Liên đoàn..Quân khu II có 5 Liên Đoàn (21 đến 25) Và LĐ 25 BĐQ gồm các TĐ 67, 76 và 90. (TĐ 67 từ CIDG của Trại Thạnh Trị Mộc Hóa khi chuyển đổi quân số còn 315)
TĐ 76 từ Trại Cái Cai, Mộc Hòa quân số 396 người) Khi chuyển từ CIDG sang BĐQ, các TĐ 67 và 76 BĐQ biên phòng trực thuộc Liên đoàn 41 BĐQ của Vùng 4 CT đóng tại Chi Lăng (LĐ này giải tán vào 1974) Vào thời điểm đầu năm 1975 : Các cấp chỉ huy của LĐ 25 BĐQ gồm :
– Liên đoàn Trưởng : Trung tá Đặng Hưng Long – LĐ Phó : Tr tá Lê Chữ – TĐT TĐ 67 : Th tá Ngô văn Niên – TĐ 76 : Th tá Phạm Công Toại – TĐ 90 : Th tá Phan Bát Giác Với quân cơ hữu được đưa ra Vùng 2 từ Mộc Hóa, Kiến Tường đa số gốc Khmer, khả năng tác chiến và tinh thần rất thấp, bỏ ngũ..Quân số của LĐ 25 thiếu hụt. chỉ tương đương với 2 TĐ (đầy đủ)
Trong cuộc rút quân 1975 , theo Le Gro (VietNam from Cease-fire to Capitulation ) Ngày 16 tháng 3-75 LĐ 7 và LĐ 25 BĐQ vẫn chống đỡ khu vực Tây Pleiku và một phần LĐ 25 bị Cộng quân tấn công mạnh tại Thanh An.. Các LĐ 4 và 25 là các đơn vị sau cùng rút khỏi Thanh An-Pleiku.. Ngày 21 tháng 3 các đơn vị rút quân tập trung tại Củng Sơn..Các LĐ 6, 7 và 22 BĐQ vượt qua đèo Cà Lúi còn các LĐ 4, 23 và 25 bị kẹt lại..
Tướng Phạm Duy Tất trong bài trả lời phỏng vấn của Đỗ Sơn xác nhận : “LĐ 25 BĐQ dự trù là “vật hy sinh cản đường” rút quân cho quân rút khỏi Pleiku, trì hoãn Cộng quân tại Thanh An… tuy nhiên sau cùng LĐ25 cũng rút từ từ khỏi khu vực và không bị SĐ 968 CS đuổi theo và ngày 18 tháng 3 LĐ 25 ..là toán quân đoạn hậu cho đoàn quân của ông Tất. Ông cho biết thêm LĐ 25 đã làm tròn nhiệm vụ cản đường cho cuộc Triệt thoái, sự thiệt hại của LĐ này đã dự liệu trước (?) không có gì là ngạc nhiên !
Liên Đoàn 25 BĐQ chính thức .. tan hàng trên Liên tỉnh lộ 7./.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn

Thursday, July 24, 2025

TRUNG SĨ MỸ ĐIỀU ĐỘNG TĐ BĐQ MỞ ĐƯỜNG MÁU 

- Đó là trung sĩ nhất Gary Littrel cố vấn của TĐ 23 BĐQ VNCH dự trận Dak Seang tháng 4/1970 (với quân số ban đầu là 476 người). Sau 4 ngày bị bao vây bởi trung đoàn 28 CSBV, nhờ phi pháo yểm trợ, TĐ đã mở đường máu phá vòng vây, chỉ còn 41 người sống sót trở về. Trước đó do pháo kích, TĐ trưởng và cố vấn trưởng chết, 2 người kia bị thương nặng nên ông là cố vấn duy nhất còn lành lặn.                

Ông sanh năm 1944, nếu còn sống tới giờ thì 81 tuổi. 

- Theo bài số 2: "...Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo theo 2 người khác bằng cách để họ bám vào dây ba chạc, xem hình, của mình, Littrel và phần còn lại của TĐ bơi qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 BĐQ có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích...".

SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN LLĐB HAY QUÂN ĐỘI ÚC TẠI VIỆT NAM.
GIẤY BÁO TỬ GỬI ĐẾN GIA ĐÌNH CỦA QUÂN NHÂN ÚC CHẾT ĐẦU TIÊN VÀO NĂM 1966.

ĐÔ TRẬN CỦA BIỆT KÍCH ÚC HAY SAS.


NHỮNG KỶ VẬT CỦA ĐẠI ÚY SHILSTON LÚC CÒN LÀM CỐ VẤN CHO MIKE FORCE TẠI VN.

- Ảnh dưới: "đồ nghề" của 1 xạ thủ M-79 của đ.đ. Papa BĐQ (thuộc trung đoàn 75 BĐQ) tại VN trước khi HQ kéo dài 7 ngày. Đồ nghề có thể nặng quá 85 cân hay 38.5 kí.




LỜI NÓI ĐẦU: Hai bài sau đây nói về hoạt động của TĐ 23 BĐQ khi tiếp viện trại Dak Seang tháng 4/1970. Ghi chú: Bài viết dùng giờ quân sự hay giờ liên tục, mỗi ngày chia làm 24 giờ, bắt đầu từ 00:00 và chấm dứt lúc 23:59, rất tiện lợi và chính xác vì ko cần chữ am, pm, hay dễ gây hiểu nhầm.

Sau đây chuyển ngữ từ 2 bài về TĐ 23 BĐQ.

Bài thứ nhất 

"Dù nhiệm vụ chỉ là cố vấn, nhưng có những tình huống đã khiến 1 số cố vấn BĐQ hành động vượt quá trách nhiệm của họ. Sau đây là 1 ví dụ.

 Ngày 4/4/1970, trung sĩ nhất (SFC) Gary Littrel là người cố vấn BĐQ duy nhất ko bị thương sau một đợt pháo bằng cối của trung đoàn 28 csbv vào vị trí phòng thủ của TĐ 23 BĐQ VNCH trên đỉnh đồi 763 tại tỉnh Kontum. Một chiếc trực thăng định xuống tải thương theo yêu cầu của Littrel nhưng ko thể thực hiện do hỏa lực súng nhỏ. Lúc đó người cố vấn BĐQ này đang đứng ngoài đồng trống giữa trời tối, cầm đèn nhấp nháy. Để bảo vệ thương binh, Littrel tiếp tục hướng dẫn không trợ tiếp cận suốt đêm và tới sáng hôm sau.

Khi trời sáng, một đợt pháo kích nặng nề vào TĐ BĐQ bị vây hãm này. Littrel di chuyển tới lui trong (move about) chu vi phòng thủ để sơ cứu, hướng dẫn không kích, và di chuyển thương binh. Một trực thăng tiếp tế đáp xuống khoảng 1000 sáng. Littrel đưa ba cố vấn BĐQ bị thương lên máy bay cùng với vài lính BĐQ trong khi 1 cố vấn BĐQ khác, chuyên viên bậc 5 Raymond Dieterle, được tăng cường HQ, nhảy xuống từ máy bay với đạn tiếp tế.

Trong phần còn lại của ngày, hai cố vấn BĐQ này di chuyển tới lui trong chu vi phòng thủ, gọi không yểm, điều chỉnh pháo binh (bắn từ các căn cứ hỏa lực (CCHL) như Tango, nằm trên bờ tây Sông Poko và kế cận QL-14, cách đó khoảng 6-7 km đường chim bay, theo hồi ký Trận Dak Seang 1970 của Vương mộng Long -- ND), và cổ võ tinh thần cho các chiến hữu BĐQ VN của họ. Áp lực vào chu vi phòng thủ càng lúc càng tăng khi trời sắp tối. Các tấn công thăm dò của đặc công bị đẩy lui bởi súng nhỏ, pháo binh và không quân.

Sáng ngày 6/4/1970 mở đầu bởi 1 đợt tấn công của bắc quân nhưng bị đẩy lui. Suốt ngày đó, bắc quân tiếp tục pháo dữ dội vào lực lượng bị bao vây (beleaguered) trong khi 2 cố vấn tiếp tục kiểm tra (make his round) chu vi phòng thủ, nâng cao tinh thần lính VN (snore up). Lúc 0630 ngày kế, một đợt pháo kích dữ dội rơi xuống đỉnh đồi. Một đợt xung phong xuất phát từ khu rừng, đã bị các trực thăng, do Littrel hướng dẫn, chặn đứng. Dù bị không kích, nhưng sau đó nửa giờ, đợt tấn công biển người đã gần như chọc thủng chu vi. Sự chiến đấu quả cảm của những người lính mệt mỏi và can đảm của cố vấn đã đẩy lui chúng. 

Lính BĐQ VN đã cố thủ trước những đợt tấn công đêm đó. Cuối cùng, lúc 1030 ngày 8/4/1970TĐ kiệt quệ này được lịnh rút xuống đồi, đi xuyên rừng, vượt sông Dak Poko, để bắt tay với TĐ 22 bđq. Hai cố vấn này bắt đầu tổ chức việc di chuyển, phân phối súng đạn, và chăm lo thương binh và người chết mà họ phải mang theo (to be brought). 

TĐ di chuyển lúc 1100, dưới quyền của TĐ trưởng đang trong tình trạng bàng hoàng hay mê mụ (dazed). Ông này bắt đầu di chuyển TĐ xuống 1 nhánh núi (spur), dù 2 cố vấn cảnh báo vì quá gần vị trí địch. Ở chân núi, ông này lại ra lịnh dừng quân 5 phút để nghỉ ngơi (tea break).

Ngay lập tức, TĐ đã bị pháo cối dồn dập. Tuy nhiên Littrel vẫn có thể liên lạc với TĐ 22 BĐQ và hướng dẫn phản pháo chống lại địch. Yêu cầu gunship yểm trợ ko được thỏa đáng vì họ ưu tiên phục vụ nơi khác khiến ông TĐ trưởng hoảng loạn và bỏ chạy. Thấy ông này bỏ chạy, lính BĐQ chạy tán loạn (scatter), bỏ người chết và bị thương ở lại.

Với câu nói "Hãy đội mũ và tiến lên", Littrel cùng với Dieterle từ từ tập hợp những BĐQ đang phân tán. Với đám tàn quân này, hai cố vấn bắt đầu hướng dẫn đội hình xuyên rừng trong vài giờ tới 1 nơi an toàn. Vì bắc quân truy đuổi, cố vấn BĐQ đã hướng dẫn cối bắn cản đường. Trong lúc đẩy lùi 1 đợt tấn công, Littrel và bạn ông đã ngả xuống đất vì sức ép của quả bom 500 cân mà cố vấn này đã yêu cầu thả gần đó. 

Trong lúc chỉ huy lính BĐQ thoát 2 cuộc phục kích, hai người Mỹ này tiếp tục cổ võ tinh thần lính BĐQ, và mang theo thương binh. Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo theo 2 người khác bằng cách để họ bám vào dây ba chạc, xem hình, của mình, Littrel và phần còn lại của TĐ qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 BĐQ có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích. Do hành động dũng cảm và vượt quá trách nhiệm, trung sĩ nhất Gary Littrel được trao tặng Anh dũng Bội tinh.                     

Dây ba chạc

Chú thích: Vào lúc cuối của sự dính líu của Mỹ tại VN năm 1973, đ.đ. A và B của trung đoàn 75 bộ binh là hai đ.đ. duy nhất về BĐQ/Viễn Thám vẫn còn hoạt động. Đây là những đv cung cấp cố vấn cho LLĐB hay BĐQ VNCH.

===

Bài thứ hai 

Ngày 4/4/1970 TĐ 23 BĐQ tiến về nam hướng tới biên giới Cam bốt để tìm và diệt kẻ thù. Tối hôm đó, khi tới 1 đỉnh đồi, họ nhận ra rằng bị bao vây bởi khoảng 5 ngàn Bắc quân. Trong khi đó, đ.v. này của Littrel, quân số chỉ có 473 lính nam VN với 3 cố vấn Mỹ khác.

Ngay khi họ lập xong 1 chu vi phòng thủ, địch đã pháo dữ dội bằng cối làm chết TĐ trưởng và 1 cố vấn, 2 cố vấn bị thương nặng.

Littrel, 25 tuổi, là người Mỹ duy nhất có thể chiến đấu.

Rất may, ông nói được tiếng Việt nhờ học ở Viện Ngôn ngữ Quốc phòng, hình như ở tp Monterey ven biển của bang California - ND, trước khi sang VN, do vậy có thể giao tiếp với lính BĐQ.

Trong 4 ngày kế, Littrel và TĐ BĐQ này đã chiến đấu vì sự sống còn của họ. Theo bản tuyên dương công trạng, ông đã chứng tỏ "sức mạnh gần như siêu nhân" bằng cách nhiều lần đi vào tuyến lửa (line of fire) để hướng dẫn phi pháo suốt ngày. Ban đêm, ông làm như vậy để đánh dấu vị trí của đv. Sự dũng cảm, tài lãnh đạo chỉ huy và ý chí của ông đã truyền cảm hứng cho các chiến hữu BĐQ tiếp tục chiến đấu.

"Công việc chánh của tôi là chỉ huy và kiểm soát, bằng cách cố gắng cổ võ anh em BĐQ tiếp tục chiến đấu," Littrel đã nói trong 1 phỏng vấn của Dự án Lịch sử Cựu Chiến binh.

TĐ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong trong khi Littrel tiếp tục di chuyển tới những vị trí nguy hiểm nhất để phân phối đạn, củng cố 1 vài phòng tuyến đang bị chao đảo (falter), chăm sóc thương binh và tiếp tục cổ võ các chiến hữu tiếp tục chiến đấu.

Littrel nói cơn khổ nạn (ordeal) này và thiếu ngủ đã làm ông kiệt sức khiến ông chỉ nhớ 1 phần những gì xảy ra trong 1 thời gian dài.

Trong ngày cuối cùng mắc kẹt trên đồi, chỉ huy của Littrel cho ông biết phi pháo sẽ liên tục chuyển xạ để bảo vệ đường rút lui cho TĐ.

Dù bị phục kích vài lần, nhưng họ thoát được (stave off) nhờ gunship bảo vệ cạnh sườn.

Littrel liên tục nhận lịnh giữa cơn hỗn loạn và hướng dẫn máy bay tấn công kẻ thù, vài lần chỉ cách vị trí của ông 50 m.

Sau 8 km đầy nguy hiểm, TĐ đã bắt tay quân bạn. Sau này Littrel biết rằng, từ quân số 476 người, kể cả cố vấn, chỉ còn 41 sống sót trở về. Nhờ can đảm và tài lãnh đạo chỉ huy, ông đã cứu nhiều người.

Ngày 15.10.73, Littrel được trao tăng huy chương cao quý nhất của đất nước.

"Tôi mang huy chương này cho khoảng hơn 400 người đã chết trong 4 ngày," ông nói trong 1 phỏng vấn.

"Tôi chỉ là người đại diện của họ. Họ đã được trao tặng huy chương này. Tôi đã được chọn đã nhận cho họ".

Ông đã phục vụ trong QĐ tới khi hồi hưu tháng 10/1973. Ông từng phục vụ kỳ 2 ở VN năm 1974.

Littrel và vợ sống tại St Pete Beach, Florida. Trong năm 2015, một cây cầu ở đây được đặt theo tên ông để vinh danh.

BÀI THỨ 3 - ĐỠ ĐẺ TẠI TRẠI ĐAK SEANG 

- Xảy ra khoảng cuối năm 1970, được đăng trong hồi ký của Mũ Nâu Nguyễn công Minh, cựu trưởng ban 3 của TĐ 82 BĐQ, từng dự trận Plei Me 1974. 

...

"Câu chuyện thứ 2 này cũng là chuyện lạ: vợ một người lính Thượng đẻ khó, y sĩ (medic) của 2 toán VN và Mỹ không đủ phương tiện can thiệp, 12 giờ đêm xin 1 trực thăng cấp cứu … Máy bay lên nhưng do gặp sương mù dày đặc, đâm vô núi phi hành đoàn gồm: 2 phi-công, một y-sĩ quân-y, 2 xạ thủ đại liên tất cả tử nạn...Tôi chia xẻ nỗi buồn cùng Hat (trưởng toán A ở trại Dak Seang), ông ta nói: cái giá đắt quá, để cứu người phụ nữ và cháu bé người dân tộc Sedang ra đời, nước Mỹ đã hy sinh 5 quân nhân ưu tú … và Hat vẫn gọi về BCH/LLĐB Mỹ tại Nha-Trang xin tiếp phi cơ cấp cứu. Hơn 2 giờ sáng một trực thăng “cán gáo” (OH-6, xem hình) đã an toàn đáp xuống và làm tròn nhiệm vụ tản thương, cũng cần nói thêm loại trực thăng này chỉ dành cho những “ca” rất đặc-biệt và nó cũng chỉ dành cho các VIP… Tôi không ca tụng người Mỹ, nhưng với riêng tôi, những quân nhân Mỹ mà tôi có dịp tiếp-xúc cùng họ trong chiến-cuộc, tôi có nhận xét: tinh thần trách nhiệm là rất cao, họ thượng tôn kỷ luật, sự tự do cá nhân là tiêu chuẩn số 1…


=====

SJ ngày 25/7/25, cập nhật ngày 27/7/25.

Tài Trần

========

1/ https://armyranger.com/vietnam-war/

2/ Medal of Honor Monday: Army Command Sgt. Maj. Gary Littrell > U.S. Department of Defense > Story



Friday, July 18, 2025

 

https://www.virtualwall.org/dm/0MontanaRx01a.htm

Rosendo là 1 người lính chuyên nghiệp, quê ở Big Spring, Texas, vào lính từ 1964, từng phục vụ 1 nhiệm kỳ tại vn từ 1966-67.

Rosendo là 1 người lính dò đường và là thành phần của toán an ninh của đoàn 17 không vận. (Lính dò đường thuộc BĐQ Mỹ, có nhiệm vụ tìm và an ninh bãi đáp -- ND). Ngày 15/4/1970, Rosendo đã bị trúng đạn tử thương khi ông tìm cách đổ quân vnch vào bãi đáp Orange để đối phó với việc tập trung quân csbv chung quanh trại LLĐB ở Dak Seang, khoảng 20 dặm bắc của Dak to. Ông là âm thoại viên và cùng với 1 lính Mỹ và 1 toán lính vnch là toán đầu tiên đổ xuống và sao đó bảo vệ an ninh bãi đáp cho những toán khác khi đột nhiên 1 chiếc trực thăng thứ hai cũng đến để đổ quân nhưng bị trúng đạn từ dưới đất bắn lên. Chiếc này bị bắn rơi. Chuyên viên Montana bị thương và tiếp tục tái lập liên lạc truyền tin. Ông đã tử trận khi 1 loạt đạn bắn vào ông.

===

Tình hình tại trại LLĐB Dak Seang thì hơi phức tạp 1 chút so với mô tả trên. Trại này đang bị tấn công và người ta quyết định đổ quân với TĐ 3/42 VNCH, vào 1 nơi hơi cao khoảng 1 dặm từ trại để giảm áp lực cho trại này. Như đã nói, đại đội 170 trực thăng tấn công, viết tắt là AHC, nhận trách nhiệm này. Dù cơ bản Bắc quân đã bao vây bãi đáp dự trù này nhưng phi công ko thấy vì chúng núp trong công sự ngụy trang kỹ lưỡng - và khi chúng để cho chiếc UH-1 đáp xuống mà ko nổ súng khiến phi công nghĩ rằng đây là 1 bãi đáp "nguội". (Đại đội 170 AHC đóng tại Pleiku với 8 chiếc gunship UH-1 B và 20 chiếc chở quân UH-1D, ngoài ra còn tăng phải bởi 1 toán vận chuyển, 1 toán truyền tin, và 1 toán quân y. đại đội này đổ toán biệt kích sang Lào và KPC-- ND). 

Chiếc Huey đầu tiên chở 2 lính dò đường Mỹ (Chuyên viên bậc 5 Rosendo Montana và hạ sĩ Herndon Bivens) và 6 lính VN. Chiếc Huey thứ hai, UH-1H số đuôi 68-16203, trúng đạn và rơi giữa bãi đáp. Dù 2 lính VN chết do máy bay rơi, 4 phi hành đoàn Mỹ và 4 lính VNCH khác chỉ bị thương nhẹ và chạy khỏi máy bay. Viên phi công, chuẩn úy Albert Barthelme, bị thương nặng nhưng được khiêng tới 1 một hố bom gần đó. Chuẩn úy Roger Miller (copilot), chuyên viên 4 Vincent Davis và chuyên viên 5 Donald Summers, và 4 lính VN ở với Barthelme; những người lính vn sống sót từ chiếc đầu tiên ở gần đó. Tất cả đều bị hỏa lực mạnh của bắc quân. Các cố gắng cấp thời để triệt xuất họ đều bị cản trở bởi 3 yếu tố:

- Trừ chiếc Huey chở Montana và Bivens, các chiếc trực thăng trong khu vực đều đầy lính VNCH hay gunship - vì mang nhiều rocket và đạn 7.62 ly cho hai khẩu M-60 nên ngoài phi hành đoàn 4 người,  gunship ko thể chở thêm người như loại chở quân (slick) -- ND). 

- Bãi đáp nằm trên đỉnh đồi này phần nào tắc nghẽn bởi xác chiếc 68-16203; và

- Toàn khu vực bãi đáp giờ đây dưới hỏa lực từ lính csbv núp trong công sự bao gồm đại liên 4 nòng 12.8 ly và 23 ly phòng không.

Một lực lượng tìm và cấp cứu, gọi tắt là SAR, gồm 1 chiếc A-1 Skyraider và hai chiếc trực thăng khổng lồ HH-3, biệt danh Giant Jolly Green, xem hình, (tốc độ tối đa của máy bay là 164 dặm/giờ, phi hành đoàn 4 người, chở được 28 người hay 6.500 cân Anh). 



3 chiếc này đã vội vả xuất phát từ Đà Nẳng và bay đến khu vực. Trong khi chiếc A-1 Skyraider tìm cách khống chế các khẩu đại liên, chiếc HH-3H (Jolly Green 27, số đuôi 66-13280) dẫn đầu, định đáp xuống nhưng 2 lần đầu ko thành công. Ở lần đáp thứ 3, 1 khẩu 12.8 ly từ 1 nơi kín đáo nào đó đã nổ súng và bắn rơi chiếc này. Phi công Travis Scott, chết tại chỗ. Thiếu tá Travis Wofford, copilot, bị thương tương đối nhẹ, kéo 2 phi hành đoàn bị phỏng nặng rời xa chỗ máy bay rơi. Chỗ chiếc HH-3 này rơi ko xa hai chiếc kia, tuy ko bị hỏa lực dữ dội của csbv, nhưng lại ko thể yểm trợ lẫn nhau. May mắn thay, chiếc HH-3E thứ hai, số đuôi 68-10360, có thể đáp xuống kế nơi máy bay rơi và cứu Wofford và 2 phi hành đoàn bị thương từ chiếc 66-13280 trước khi bị trúng đạn phòng không 23 ly, xem hình và buộc phải rời chiến trường.

Hai chiếc UH-1D, ko chở quân, của đại đội 170 trực thăng tấn công đã đến. Một chiếc, lái bởi chuẩn úy Bill McDonald, đáp xuống dưới hỏa lực dữ dội của địch và mang chuyên viên 4 Davis và chuyên viên 5 Summer từ chiếc UH-1H số đuôi 68-16203 lên máy bay. Dù chiếc của McDonald bị hư hại do hỏa lực địch, phi công đã cố gắng đáp vào bên trong trại. Chiếc UH-1 thứ hai, đáp xuống kế chiếc của McDonald, cứu phi hành đoàn, và cất cánh với những kẻ bị thương khác. Vào lúc này, Davis và Summers được báo rằng 1 trong 2 người lính dò đường Mỹ đã chết và chuẩn úy Barthelme bị thương nặng.

Khi trời tối, trại LLĐB lại bị tấn công, và ko còn hy vọng nào để triệt xuất lính Mỹ và VN trên đỉnh đồi kể trên. Trong đêm tối, vài lính VNCH cố gắng vào trại và 2 người thành công. Miller và Bivens được yêu cầu ở lại chỗ chiếc UH-1 bị rơi với chuẩn úy Barthelme, vì ông này ko thể di chuyển, và chờ đợi sáng. Những cố gắng của toán SAR (tìm và cấp cứu) đã bắt đầu từ sáng sớm, nhưng vô ích - vì ko thấy nơi ẩn núp của những người lính Mỹ Việt trên đây. 

Tới ngày 29/4/1970 quân bạn đã tới bãi đáp này và tìm thấy xác của chuẩn úy Barthelme và chuyên viên 5 Montana. Ko có dấu vết của chuẩn úy Miller và hạ sĩ Bivens. 

Sau này người ta biết chuẩn úy Miller bị bắt, và được thả bởi bắc quân ngày 5/3/1973. Ông cho biết rằng trong đêm đó, sau khi Barthelme chết, cả hai cố gắng vào trại nhưng bị phục kích dọc đường. Bivens đã trúng nhiều phát ở ngực, và Miller được kể lại rằng Bivens đã chết 2 giờ sau khi bị bắt.

Tóm lại, 2 lính bộ binh Mỹ, 8 phi hành đoàn Mỹ, và 12 lính vnch đã xuống đất, nhưng chỉ có 6 người sống sót.

- Chiếc UH-1 số đuôi 68-16203: chuẩn úy Barthelme tử trận. Chuẩn úy Miller, tù binh, thả ngày 5/3/1973. Chuyên viên 5 Summers, bị thương, được tìm thấy. Chuyên viên 4 Davis, bị thương, được tìm thấy.

- Chiếc Huey thứ hai: chuyên viên 5 Montana, chết. đại úy Bivens, bị thương, nhưng chết sau khi bị bắt, ko thấy xác.

- Chiếc trực thăng khổng lồ HH-3E, thuộc đệ Thất Không lực: Đại úy Scott, phi công, tử trận. Thiếu tá Wofford, copilot, bị thương. Trung sĩ nhất (SSGT) Davis, chết vì thương tích ngày 25/5/1970. Trung sĩ kỹ thuật Hartzel, chết vì thương tích ngày 20/4/1970/

- Thuộc TĐ 3/42 VNCH: có 10 chết, ko rõ tên. Hai sống sót, ko rõ tên.

===

 

 476 NGƯỜI CỦA TĐ 23 BĐQ DỰ TRẬN DAK SEANG, SAU 4 NGÀY, CHỈ CÒN 41 SỐNG SÓT TRỞ VỀ

Dù nhiệm vụ là cố vấn, nhưng có những tình huống đã khiến 1 số cố vấn BĐQ ra tuyến đầu. Ngày 4/4/1970, trung sĩ nhất Gary Littrel là người cố vấn BĐQ duy nhất ko bị thương sau một đợt pháo bằng cối của trung đoàn 28 csbv vào vị trí phòng thủ của TĐ 23 BĐQ VNCH trên đỉnh đồi 763 tại tỉnh Kontum. Một chiếc trực thăng định xuống tải thương theo yêu cầu của Littrel nhưng ko thực hiện do hỏa lực súng nhỏ. Lúc đó người cố vấn BĐQ này đang đứng ngoài đồng trống cầm đèn nhấp nháy. Để bảo vệ người bị thương, Littrel đã điều khiển yểm trợ tiếp cận suốt đêm và tới sáng hôm sau.

Khi trời sáng, một đợt pháo kích nặng nề vào TĐ VNCH bị vây hãm này. Littrel di chuyển ra chu vi phòng thủ để sơ cứu, hướng dẫn không kích, và di chuyển thương binh. Một trực thăng tiếp tế đáp xuống khoảng 1000. Littrel đưa ba cố vấn BĐQ bị thương lên máy bay cùng với vài lính BĐQ trong khi cố vấn BĐQ khác, chuyên viên 5 Raymond Dieterle, nhảy xuống từ máy bay.

Trong phần còn lại của ngày, hai cố vấn BĐQ này di chuyển ra chu vi phòng thủ, gọi không yểm, điều chỉnh pháo binh (bắn từ các căn cứ hỏa lực (CCHL) như Tango cách đó 6-7 km, theo hồi ký Trận Dak Seang 1970 của Vương mộng Long -- ND), và cổ võ tinh thần cho các chiến hưu BĐQ VN của họ. Áp lực vào chu vi phòng thủ càng lúc càng tăng khi trời sắp tối. Các tấn công thăm dò của đặc công bị đẩy lui bởi súng nhỏ, pháo binh và Hỏa Long AC-47.

Sáng ngày 6/4/1970 mở đầu bởi 1 đợt tấn công của bắc quân nhưng bị đẩy lui. Suốt ngày đó, bắc quân tiếp tục pháo vào lực lượng bị bao vây (beleaguered) trong khi 2 cố vấn tiếp tục kiểm tra (make his round) chu vi phòng thủ, nâng cao tinh thần lính VN (snore up). Lúc 0630 ngày kế, một đợt pháo kích dữ dội rơi xuống đỉnh đồi. Một đợt xung phong xuất phát từ khu rừng, đã bị các trực thăng, do Littrel hướng dẫn, chặn đứng. Dù bị không kích, sau đó nửa giờ, đợt tấn công biển người đã gần như chọc thủng chu vi. Sự chiến đấu quả cảm của những người lính mệt mỏi và can đảm của cố vấn đã đẩy lui chúng. 

Lính BĐQ VN đã cố thủ trước những đợt tấn công đêm đó. Cuối cùng, lúc 1030 ngày 8/4/1970, TĐ kiệt quệ này được lịnh rút xuống đồi, đi xuyên rừng, vượt sông Dak Poko, để bắt tay với TĐ 22 bđq. Hai cố vấn này bắt đầu tổ chức việc di chuyển, phân phối súng đạn, và chăm lo thương binh và người chết mà họ mang theo.

TĐ di chuyển lúc 1100, dưới quyền của TĐ trưởng đang trong tình trạng bàng hoàng. Ông cho TĐ di chuyển xuống 1 nhánh núi (spur), dù 2 cố vấn cảnh báo vì gần vị trí địch. Ở chân đồi, ông này cho lịnh dừng quân 5 phút để uống trà.

Ngay lập tức, TĐ đã bị pháo cối dồn dập. Tuy nhiên Littrel vẫn liên lạc với TĐ 22 BĐQ và nhờ họ phản pháo vào cối của địch. Yêu cầu gunship yểm trợ ko được thỏa đáng vì họ ưu tiên phục vụ nơi khác khiến TĐ trưởng hoảng loạn và bỏ chạy. Thấy ông này bỏ chạy, lính BĐQ chạy tán loạn (scatter), bỏ người chết và bị thương ở lại.

Với câu nói "Hãy đội mũ và tiến lên", Littrel nắm tay Dieterle và từ từ tập hợp những BĐQ đang phân tán. Với đám tàn quân này, hai cố vấn đã hướng dẫn đội hình xuyên rừng trong vài giờ tới 1 nơi toàn. Vì bắc quân truy đuổi, BĐQ đã hướng dẫn cối bắn cản đường. Trong lúc đẩy lùi 1 đợt tấn công, Littrel và bạn ông đã ngả xuống đất vì sức ép của quả bom 500 mà cố vấn này đã yêu cầu thả gần đó. 

Trong lúc chỉ huy lính BĐQ thoát 2 cuộc phục kích, hai người Mỹ này tiếp tục cổ võ tinh thần lính BĐQ, và mang theo thương binh. Tại điểm phục kích cuối cùng, Littrel ngừng lại để giúp 3 thương binh BĐQ. Mang người bị thương nặng nhất trên lưng và kéo 2 người khác, Littrel và phần còn lại của TĐ qua sông Dak Poko để tới nơi an toàn. Trong trận này, TĐ 23 bđq có 218 vừa chết vừa bị thương và 19 mất tích. 

===

https://www.defense.gov/News/Feature-Stories/Story/Article/2549011/medal-of-honor-monday-army-command-sgt-maj-gary-littrell/

Ngày 4/4/1970 TĐ 23 BĐQ tiến về nam hướng tới biên giới cam bốt để tìm và diệt kẻ thù. Tối hôm đó, khi tới 1 đỉnh đồi, họ nhận ra rằng bị bao vây bởi khoảng 5 ngàn bắc quân. Trong khi đó, đ.v. của Littrel, quân số chỉ có 473 lính nam VN với 3 cố vấn Mỹ khác.

Ngay khi họ lập xong 1 chu vi phòng thủ, địch đã pháo dữ dội bằng cối làm chết TĐ trưởng và 1 cố vấn, 2 cố vấn bị thương nặng.

Littrel, 25 tuổi, là người Mỹ duy nhất có thể chiến đấu.

Rất may, ông nói được tiếng Việt nhờ học ở Viện Ngôn ngữ Quốc phòng, hình như ở tp Monterey ven biển của bang Cali, trước khi sang VN, do vậy có thể giao tiếp với lính BĐQ.

Trong 4 ngày kế, Littrel và TĐ BĐQ này đã chiến đấu vì sự sống còn của họ. Theo bản tuyên dương công trạng, ông đã chứng tỏ "sức mạnh gần như siêu nhân" bằng cách nhiều lần đi vào tuyến lửa (line of fire) để hướng dẫn phi pháo suốt ngày. Ban đêm, ông làm như vậy để đánh dấu vị trí của đv. Sự dũng cảm, lãnh đạo chỉ huy và ý chí của ông đã truyền cảm các chiến hữu BĐQ tiếp tục chiến đấu.

"Công việc chánh của tôi chỉ là chỉ huy và kiểm soát, bằng cách cố gắng cổ võ anh em BĐQ tiếp tục chiến đấu," Littrel đã nói trong 1 phỏng vấn của Dự án Lịch sử Cựu Chiến binh.

TĐ đã đẩy lui nhiều đợt xung phong trong khi Littrel tiếp tục di chuyển tới những vị trí nguy hiểm nhất để phân phối đạn, cũng cố 1 vài phòng tuyến đang bị chao đảo (falter), chăm sóc thương binh và tiếp tục cổ võ các chiến hữu tiếp tục chiến đấu.

Littrel nói cơn khổ (ordeal) này và thiếu ngủ đã làm ông kiệt sức khiến ông chỉ nhớ 1 phần những gì xảy ra trong thời gian dài.

Trong ngày cuối cùng mắc kẹt trên đồi, chỉ huy của Littrel cho ông biết phi pháo sẽ liên tục chuyển xạ để bảo vệ đường rút lui cho tđ.

Dù bị phục kích vài lần, nhưng họ thoát được (stave off) nhờ gunship bảo vệ cạnh sườn.

Littrel liên tục nhận lịnh giữa cơn hỗn loạn và hướng dẫn máy bay tấn công kẻ thù, vài lần chỉ cách vị trí của ông 50 m.

Sau 8 km đầy nguy hiểm, TĐ đã bắt tay quân bạn. sau này Littrel biết rằng, từ quân số 476 người, kể cả cố vấn, chỉ còn 41 sống sót trở về. Nhờ can đảm và tài lãnh đạo chỉ huy, ông đã cứu nhiều người.

Ngày 15.10.73, Littrel được trao tăng huy chương cao quý nhất của đất nước.

"Tôi mang huy chương này cho khoảng hơn 400 người đã chết trong 4 ngày," ông nói trong 1 phỏng vấn.

"Tôi chỉ là người đại diện của họ. Họ đã được trao tặng huy chương này. Tôi đã được chọn đã nhận cho họ".

Ông đã phục vụ trong QĐ tới khi hồi hưu tháng 10/1973. Ông từng phục vụ kỳ 2 ở VN năm 1974.

Littrel và vợ sống tại St Pete Beach, Florida. Trong 2015, một cây cầu ở đây được đặt theo tên ông để vinh danh.

SJ ngày 24/7/2025.

Tài Trần


Sunday, July 13, 2025

 Vietnam War – ARMY RANGERS

Though they were suppose to operate only in an advisory capacity, there were those situations that thrust some Ranger advisors to the forefront. On 4 April 1970, Sergeant First Class Gary L. Littrell found himself the only unwounded American Ranger advisor left after a surprise mortar barrage by the 28th North Vietnamese Regiment struck the 23rd ARVN Ranger Battalion in their defensive positions on top of Hill 763 in Kontum Province. An attempted helicopter extraction of the wounded Americans by Littrell failed as the helicopters could not penetrate the small arms fire to land near the Ranger NCO, who was standing in the open, exposed, holding a strobe light. Securing the wounded, Littrell proceeded to direct close air support throughout the night and into the next morning.

The light of dawn was met with another heavy mortar barrage against the besieged RVN battalion. Littrell moved about the perimeter administering first aid, directing fires, and moving casualties. A resupply helicopter was able to make it into the LZ around 1000. Littrell loaded the three wounded American Ranger advisors on board along with some ARVN Rangers as another American Ranger, Specialist 5 Raymond Dieterle, disembarked from the helicopter with ammunition.

For the remainder of the day, the two Ranger advisors moved about the perimeter, calling in air strikes, adjusting artillery strikes, and encouraging their South Vietnamese Ranger compatriots. The pressure against the perimeter grew along with the night. Sapper probes were driven back by indirect, aerial, and small arms fire.

The morning of 6 April opened with a North Vietnamese Army (NVA) attack that was repelled. Throughout that day, the NVA continued to rain heavy weapons and mortar fire down on the beleaguered force while the two American Rangers continued to make their rounds of the perimeter, shoring up the Vietnamese’s spirits. At 0630 the following morning, another firestorm of explosive volleys swept the hilltop. A massed assault staging in the woods was met by helicopter strikes directed by Littrell at the point of attack. Despite the air strikes, the human-wave attack a half hour later nearly breached the perimeter. Only a stoic defense by the fatigued defenders and the advisors’ bravery repelled the charge.

The Rangers were able to hold against a series of attacks that night. Finally, at 1030 on 8 April, the depleted and exhausted battalion was ordered to withdraw down the hill, through the jungle, across the Dak Poko River, to reach the 22nd ARVN Ranger Battalion. The two Ranger advisors set about organizing the movement, redistributing ammunition, and seeing that the dead and wounded were brought along.

The battalion moved out at 1100, under the command of the dazed ARVN battalion executive officer who proceeded to move down the wrong spur of the hill…despite the warning of the two American Rangers…and closer to the enemy position. At the bottom of the hill, the executive officer incredulously halted his formation for a five-minute tea break.

Immediately, the battalion was inundated with mortar fire. Littrell was able to establish radio contact with the 22nd ARVN Ranger Battalion and direct counter-fires against the enemy mortars. Requests for gunship support brought the word that none was immediately available, which prompted the battalion executive officer to panic and run. Seeing their commander flee, the remainder of the South Vietnamese Rangers began to scatter, leaving their dead and wounded behind.

With a “Come on, partner, let’s hat up,” Littrell grabbed Dieterle and slowly gathered up the dispersed Rangers. With the remnants of the battalion regrouped, the two Rangers proceeded to lead the formation through the jungle for several hours toward the proper objective. As the North Vietnamese pursued, the Rangers directed mortar fires “danger close” to keep the enemy at bay. During the repulse of one assault, Littrell and his partner were knocked to the ground by the force of 500-pound bombs the senior Ranger had called in nearby.

Directing the fight through two ambushes, the Americans continued to lead, cajole, and drag the ARVN soldiers along. At the last ambush site, Littrell stopped to assist three wounded Vietnamese Rangers. Carrying the most seriously wounded one on his back, Littrell ended up dragging the other two behind him and across the Dak Poko River as they held on to his web gear and were led to safety by Littrell with the remainder of the battalion.

Total losses for the ARVN Ranger Battalion were 218 casualties and nineteen MIA. For conduct above and beyond the call of duty, Sergeant First Class Gary L. Littrell was awarded the Medal of Honor.


By the end of United States involvement in Vietnam in 1973, Companies A and B of the 75th Infantry Regiment were the only two active duty Ranger/LRRP companies still in existence.


Tuesday, July 28, 2020

Từ Polei Kleng Đến Ben Het Liên Đoàn 2 BĐQ Trong Thung Lũng Plei Trap 1971 - Vũ Đình Hiếu

Posted by   January 22, 2019  1555
Từ Polei Kleng Đến Ben Het Liên Đoàn 2 BĐQ Trong Thung Lũng Plei Trap 1971 - Vũ Đình Hiếu
Sau quyết định chuyển giao các trại Lực Lượng Đặc Biệt qua Biệt Động Quân, các trại này trở thành các tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng. Trại Polei Kleng (Lệ Khánh) trở thành tiểu đoàn 62 BĐQ/BP, trại Ben Het (Bạch Hổ) trở thành tiểu đoàn 95 BĐQ/BP, trại Dak Pek (Đức Phong) trở thành tiểu đoàn 88 BĐQ/BP. Các tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng này sẽ lần lượt được đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ để tái huấn luyện bổ túc chiến thuật tác chiến của binh chủng Biệt Động Quân. Trong khi các tiểu đoàn biên phòng về Dục Mỹ thụ huấn, các tiểu đoàn 22, 23 thuộc liên đoàn 2 BĐQ được đưa lên phòng thủ các trại biên phòng.
Trong tháng Giêng, Hai năm 1971, tôi theo chân tiểu đoàn 23/BĐQ lên phòng thủ trại biên phòng Polei Kleng, một căn cứ nằm nơi cuối thung lũng Plei Trap, gần biên giới Miên và cách vùng tam biên (biên giới Việt-Miên-Lào) khoảng 50 cây số về hướng nam, đông nam. Khu vực có vị trí chiến thuật, ngăn chặn đường xâm nhập của các đơn vị chính quy Bắc Việt trên hệ thống đường mòn HCM, nên đã xẩy ra nhiều trận đánh trước đây. Tiểu đoàn 23/BĐQ được đưa từ Pleiku lên trại Polei Kleng và phòng thủ căn cứ.
Trong khi chúng tôi vào đóng quân trong căn cứ, ở bên ngoài một cuộc hành quân cấp lớn đang diễn ra, bao gồm các đơn vị thuộc: sư đoàn Không Vận (Air Cav) Hoa Kỳ, hai pháo đội A và B, tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ (175 ly), bốn tiểu đoàn Bộ Binh QLVNCH. Ba trong số bốn tiểu đoàn Việt Nam là Bộ Binh và tiểu đoàn 22/BĐQ. Những khẩu đại bác 175 ly cơ động (gắn trên xe thiết giáp) bố trí ngay bên ngoài hàng rào phòng thủ trại. Sư đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ lập bãi tiếp tế đạn dược, tiếp vận trên phi đạo (các trại LLĐB thường có một phi đạo ngắn để tiếp tế). Với đủ loại máy bay, phi cơ trực thăng Chinooks, Hueys và Cobras trên bầu trời, trại LLĐB Polei Kleng trông như một tổ ong. (Quân đội Hoa Kỳ rất hãnh diện về sư đoàn Không Vận ‘Đệ Nhất Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận – First Air Cavalry’. Sư đoàn này chứng tỏ sức mạnh cơ động, với rất nhiều trực thăng đủ loại để chuyển quân, cùng đồ tiếp vận).
Tin tức tình báo, sư đoàn Không Kỵ thâu thập được cho biết, có đơn vị Bắc Việt hiện diện trong vùng. Chúng tôi biết địch quân đang hoạt động trong khu vực giữa Polei Kleng và biên giới Miên. Tuy nhiên các sĩ quan tình báo vẫn chưa đoán ra được ý định của địch. Trong khi đó hai pháo đội thuộc tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ bắn yểm trợ hằng đêm.
Chỉ được lệnh bảo vệ căn cứ, tiểu đoàn 23/BĐQ không phải ra ngoài tham dự cuộc hành quân. Chúng tôi bỗng dưng trở thành... khán giả bất đắc dĩ, theo dõi hai võ sĩ trên võ đài.
Tôi vào trong lều thuyết trình hôm Chuẩn Tướng Wear (Tướng văn phòng của MACV), cố vấn trưởng Quân Đoàn II cùng với vị tư lệnh quân đoàn, làm một quyết định mà làm thay đổi tất cả. Ông Tướng Việt Nam ra lệnh cuộc hành quân phải được đưa lên phiá bắc thung lũng Plei Trap, tiến quân về hướng trại LLĐB Ben Het (tiếng đồng âm là Been Hit, đã bị trúng đòn), trong vùng tam biên, một điểm nóng (có nhiều dấu hiệu các hoạt động của địch).
Khi ông Tướng tư lệnh quân đoàn nói sẽ xử dụng trực thăng đưa bốn tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam lên Ben Het, câu trả lời của Chuẩn Tướng Wear, tôi sẽ không bao giờ quên “Tại sao lại phí phạm phương tiện không trợ? Ra lệnh cho họ LỘI BỘ trong thung lũng lên đến Ben Het!” Lộ trình di chuyển từ Polei Kleng lên đến Ben Het dài 40 cây số, xuyên qua những cánh rừng rậm và ngang qua những nhánh nhỏ trong hệ thống đường mòn HCM. Ngoài ra, một vấn đề quan trọng khác là họ (quân Việt Nam) đã ra khỏi tầm tác xạ yểm trợ của pháo binh Hoa Kỳ. Điều này làm xuống tinh thần các binh sĩ VNCH, và rất nguy hiểm cho họ.
Theo lệnh của các cấp chỉ huy Việt Mỹ, tất cả các đơn vị, sư đoàn Không Vận, Pháo Binh, cùng với tiếp vận của họ “khăn gói quả mướp”, rời Polei Kleng. Đúng trong thời gian đó, đơn vị “chủ nhà” (tiểu đoàn 62 BĐQ/BP) đã thụ huấn xong khóa huấn luyện BĐQ/Dục Mỹ trở về. Tiểu đoàn 23/BĐQ xong nhiệm vụ và chúng tôi lại lên đoàn xe GMC trở về hậu cứ ở Pleiku trên con đường đã bị hư hỏng nhiều, bụi mù.
Ở đây cần nói rõ thêm, trước khi có “lệnh” của các cấp chỉ huy cấp “quân đoàn”, viên cố vấn trưởng tiểu đoàn 22/BĐQ được nghỉ phép sáu ngày (R&R). Ông ta cùng với một hạ sĩ quan trong toán cố vấn được trực thăng “bốc ra” đưa về Pleiku. Trung úy Orie Dubbeld chỉ còn chưa tới 30 ngày phục vụ tại Việt Nam vào thay, cùng với Trung Sĩ Nhất James Edward Duncan, người vừa đến Việt Nam được một tuần.
Tôi ra bãi đáp trực thăng, trên phi đạo, đón Dubbeld và Duncan khi họ được trực thăng đưa vào vùng hành quân, và cũng là người chứng kiến họ được một trực thăng chuyển quân khác đưa vào tiểu đoàn 22/BĐQ, lúc đó đang “lội” trong thung lũng Plei Trap. Trung Úy Dubbeld không được vui, anh ta đã gần hết thời gian phục vụ... sao lại phải tham dự cuộc hành quân này...? Tôi sẽ không bao giờ gặp lại cả hai người Dubbeld và Duncan. Bạn có thể tiên đoán, chuyện gì sẽ xẩy ra. Tiểu đoàn 22/BĐQ cùng với ba tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam di chuyển bộ trong thung lũng Plei Trap lên hướng bắc (Ben Het), đúng vào nơi đóng quân của ba trung đoàn chính quy Bắc Việt, 28, 40 và 66. Địch đang tập trung trong thung lũng để chuẩn bị tấn công trại LLĐB Ben Het. Ba tiểu đoàn Bộ Binh Việt Nam bị “tàn sát”, có thể nói họ “biến mất” trong quân sử.
Tuy vậy, tiểu đoàn 22/BĐQ vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu gắn bó của đơn vị, đánh xuyên qua tuyến phục kích cấp trung đoàn của địch, tiếp tục tiến lên hướng bắc thung lũng Plei Trap. Lúc đó, tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam đã ra khỏi tầm mức liên lạc truyền tin của các đơn vị bạn, chỉ còn liên lạc được với phi cơ bay bao vùng. Rừng núi rập rạp cũng làm trở ngại vấn đề liên lạc qua máy truyền tin, xin không trợ hay trực thăng võ trang yểm trợ cho tiểu đoàn. Một phi cơ “Hỏa Long” lên bắn yểm trợ được một lúc, rồi sau đó phải bay về mà không rõ lý do.
Đêm ngày 3 tháng Ba năm 1971, tiểu đoàn 22/BĐQ phá được trận phục kích, đến một ngọn đồi nơi hướng nam trại LLĐB Ben Het, tổ chức phòng thủ đêm. Không “tiêu diệt” được tiểu đoàn Biệt Động Quân, quân Bắc Việt pháo kích như mưa lên ngọn đồi, hàng trăm quả đạn súng cối trong vòng một tiếng đồng hồ. Một quả rơi vào hố chiến đấu của Dubbeld và Duncan.
Bộ tư lệnh Quân Đoàn II, vội vã đưa tiểu đoàn 23/BĐQ (bằng xe!) từ Pleiku lên Tân Cảnh, rồi từ đó sẽ tiến về hướng Ben Het bắt tay với tiểu đoàn 22/BĐQ. Để tiếp cứu đơn vị bạn, tiểu đoàn 23/BĐQ chạy đua với thời gian, từ Tân Cảnh, tới Dak To, rồi xuống tới Ben Het.
Khi vào đến trại LLĐB Ben Het, quân đội Bắc Việt đang pháo kích vào căn cứ, nhiều đám bụi bay lên rải rác, đó đây. Chui vào hầm trung tâm hành quân trại Ben Het, tôi được nghe những lời đối thoại của nhân viên trên hệ thống truyền tin “Đây là Ben Het. Thưa đúng, chúng tôi đang bị pháo kích... Thưa không. Ngay bây giờ. Tôi lập lại ‘Thưa tôi không phải thằng nói láo’...”
Không tới một tiếng đồng hồ sau, trước khi trời xập tối, tiểu đoàn 23/BĐQ ra khỏi trại LLĐB Ben Het, tiến về hướng nam, để bắt tay với tiểu đoàn 22/BĐQ. Tiểu đoàn di chuyển rất thận trọng, nên không có chuyện gì xẩy ra. Đến lúc rạng đông ngày hôm sau, chúng tôi bắt tay với tiểu đoàn bạn, rồi cả hai đon vị, gấp rút quay trở lại trại LLĐB Ben Het.
Sau đó tiểu đoàn 22/BĐQ được một đoàn trực thăng đến đưa về Pleiku. Còn lại tiểu đoàn 23/BĐQ khoảng 300 binh sĩ nằm giữ căn cứ Ben Het. Chúng tôi được biết khoảng mười ngàn quân Bắc Việt đang có mặt trong vùng tam biên. Trại LLĐB Ben Het nằm ngoài tầm tác xạ yểm trợ của Pháo Binh... Không yểm cũng không được quyền ưu tiên. Dubbeld và Duncan đã hy sinh... có thể sẽ đến phiên chúng tôi...
TIỂU ĐOÀN 23 BIỆT ĐỘNG QUÂN
BEN HET, ĐẦU NĂM 1971
... Chúng tôi cảm thấy rất cô đơn, mặc dầu trong trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Ben Het có khoảng ba trăm biệt động quân.
Tiểu đoàn 23 Biệt Động Quân được gửi lên vùng tam biên, nơi đầu thung lũng Plei Trap để bắt tay với tiểu đoàn 22/BĐQ đang hành quân trong vùng. Tiểu đoàn 22/BĐQ cũng được lệnh tiến lên phiá bắc thung lũng. Đối đầu với ba trung đoàn 28, 40 và 66 quân đội Bắc Việt. Tiểu đoàn 22/BĐQ phá vỡ trận phục kích cấp trung đoàn của địch, tiếp tuc tiến về hướng tiền đồn Ben Het. Tiểu đoàn chịu tổn thất hai cố vấn Hoa Kỳ, trung úy Orie Dubbeld, trung sĩ nhất James Duncan vì đạn súng cối và một số binh sĩ biệt động quân.
Tiểu đoàn 23/BĐQ trong đó có tôi, từ Ben Het di chuyển vào trong rừng, thiết lập tuyến phòng thủ đêm, nơi hướng nam căn cứ. Chúng tôi đã đề phòng cẩn thận, không có chuyện gì xẩy ra trong đêm và sáng sớm hôm sau, chúng tôi bắt tay với tiểu đoàn 22/BĐQ. Cả hai tiểu đoàn US Army Special Forces cùng di chuyển vào bên trong trại LLĐB Ben Het, để chỉnh đốn hàng ngũ.
Sau đó tiểu đoàn 22/BĐQ, được đưa về hậu cứ ở Biển Hồ, Pleiku vì đã bị tổn thất trong trận phục kích vừa qua. Tiểu đoàn 23/BĐQ được lệnh nằm lại, chống giữ trại LLĐB, trong khi các binh sĩ trong trại đã được đưa về trung tâm huấn luyện BĐQ Dục Mỹ để tái bổ xung, huấn luyện. (Thực ra, lúc đó trại LLĐB Ben het đã được cải tuyển sang tiểu đoàn 95 Biệt Động Quân Biên Phòng và được đưa về Dục Mỹ huấn luyện).
Trong căn cứ Ben Het lúc đó chỉ có khoảng 300 binh sĩ BĐQ tiểu đoàn 23 và BCH liên đoàn 2/BĐQ. Ở bên ngoài, ba trung đoàn chính quy Bắc Việt đang siết chặt vòng vây. Trại LLĐB biên phòng này nằm gần khu vực ba biên giới, Lào, Miên và Việt Nam, nơi cuối con đường cũ do người Pháp xây trước đây, xa hơn trại LLĐB Dak To. Nói theo văn chương, Ben Het ở cuối con đường, hỏa ngục của các trận đánh đẫm máu. Phiá bên kia biên giới là những nhánh nhỏ trong hệ thống đường mòn HCM.
Xem xét lại tình hình bạn và địch, chúng tôi biết rằng cán cân nghiêng về phiá địch quân. Biệt động quân có hai khẩu 105 ly, cơ hữu của căn cứ và một pháo đội 175 ly của tiểu đoàn 1/92 Pháo Binh Hoa Kỳ. Ngoài ra có vài quân nhân LLĐB còn sót lại, họ thuộc đại đội công vụ, lo trông nom, giữ gìn doanh trại.
Sau khi tiểu đoàn 22/BĐQ vừa đi khỏi, địch quân cắt đứt con đường duy nhất lên Ben Het. Nhóm cố vấn chúng tôi vội vã yêu cầu chuẩn bị cho vấn đề không yểm khi cần thiết, nhưng được trả lời “Không trợ đã được dành cho những mặt trận khác có độ ưu tiên cao hơn”. Chúng tôi có lẽ được một chiếc trực thăng đơn độc đến thăm, đem theo vị sĩ quan tình báo từ Pleiku. Ông ta sẽ di chuyển những chấm đỏ (địch) trên bản đồ và cho chúng tôi biết, trong vùng hành quân có... hàng chục ngàn quân CSBV.
Hai ngày sau, trung tá Bùi Văn Sâm, liên đoàn trưởng LĐ2/BĐQ, đại úy Nguyễn Văn Phương, tiểu đoàn trưởng TĐ23/BĐQ quyết định, đưa một đại đội lên chiếm đóng đồi 880. Ngọn đồi chiến lược quan sát toàn khu vực Ben Het và đường xâm nhập của địch quân nằm bên kia biên giới. Tôi cùng với trung sĩ nhất Acoba đi theo đại đội biệt động quân. Trên đường di chuyển, chúng tôi thấm mệt, lên xuống những hố bom khổng lồ trước khi lên tới đỉnh đồi. Lần leo núi này mệt nhất trong đời, mặc dầu trước đây, tôi đã trải qua hai tuần lễ nơi “Căn Cứ Núi, Ranger Mountain Camp” ở Dahlonga, tiểu bang Georgia, trong khóa huấn luyện Biệt Động Quân Hoa Kỳ. Ngọn đồi này có vị trí chiến lược, là nơi có những trận đánh đẫm máu cho cả đôi bên. Trên đỉnh đồi không có một thân cây nào còn nguyên vẹn, chỉ còn lại mầu đất đỏ cùng với hầm hố, giao thông hào chiến đấu.
Đại đội biệt động quân lên tới đỉnh đồi cũng nằm thở dốc, sau đó rải quân xung quanh ngọn đồi thiết lập tiền đồn phòng thủ. Trên đỉnh đồi hoang tàn, nắng cháy, vấn đề nước uống rất cần thiết. Vài binh sĩ BĐQ lấy nước từ trong hố bom, đục ngầu để uống, kết qủa nằm ôm bụng. Sĩ quan BĐQ đến quan sát hố bom, dùng gậy khuấy lên mới biết, trong hố bom có xác chết mục rữa, chỉ còn xương. Có lẽ xác của một cán binh Bắc Việt, chết trong trận đánh năm ngoái (vùng tam biên, năm nào đến mùa khô, khoảng tháng Ba địch quân thường mở những trận tấn công lớn). May mắn, lúc đó đang có một trực thăng Hoa Kỳ đậu trong căn cứ, các cố vấn Hoa Kỳ gọi máy xin trực thăng tiếp tế nước uống cho đại đội BĐQ tiền đồn.
Chiếc trực thăng đem nước cho BĐQ cất cánh đúng lúc địch quân pháo kích vào trại LLĐB Ben Het bằng hỏa tiễn 122 ly. Trên đỉnh đồi 880, chúng tôi quan sát rất rõ, nhìn thấy được vị trí đặt hỏa tiễn của địch. Tôi vào tần số báo cáo vào trong căn cứ. Một giọng nói lạ như hét lên, cho biết họ đang bị pháo kích, yêu cầu tôi ra khỏi hệ thống để họ làm việc. May thay, trung tá Toner, cố vấn trưởng liên đoàn 2/BĐQ nhận ra được giọng của tôi, chen vào. Ông ta ra lệnh cho tôi gọi không yểm, ông ta quên rằng, tôi đã xin nhưng không được ưu tiên... phải chờ!
Một “chốt” Biệt động quân nằm dưới chân đồi cũng báo cáo lên cho biết, họ trông thấy lính Bắc Việt đi chặt gỗ trong rừng. Đó là một dấu hiệu không tốt cho BĐQ, điều đó chứng tỏ địch quân vẫn ung dung, không màng tới đơn vị BĐQ đang hiện diện trong vùng hành quân. Chắc chắn quân đội Bắc Việt phải có một đơn vị cỡ lớn trong thung lũng Plei Trap. Biết rõ tình hình địch, đại đội BĐQ đang đóng trên đồi đành nằm chịu, vì không thể bỏ tiền đồn, kéo xuống tấn công mấy tên địch lẻ tẻ... Biết đâu, địch quân chơi trò “điệu hổ ly sơn”. Mắc mưu là kể như vừa mất vị trí chiến lược, vừa bị rơi vào trận phục kích. Tôi gọi không yểm... và một lần nữa bị từ chối. Tôi cùng với trung sĩ nhất Acoba ngủ một “đêm dài” nơi tiền đồn cùng với đại đội BĐQ. May thay, không có chuyện gì xẩy ra trong đêm. Theo sự ước đoán... Địch quân bắt buộc phải... lấy lại vị trí chiến lược bằng mọi giá. Những cảnh hoang tàn đổ nát trên đỉnh và xung quanh ngọn đồi đã chứng minh sự suy luận của tôi.
Sáng hôm sau, một trực thăng đến đón, đưa tôi và Acoba trở vào trong trại LLĐB Ben Het. Những điều tôi đoán đã trở thành sự thực. Đại đội BĐQ chiến đấu anh dũng trong tuyệt vọng. Căn cứ Ben Het đã bị địch bao vây, pháo kích, không thể đưa quân ra ngoài tiếp cứu được, vả lại lội bộ cũng mất mấy tiếng hồng hồ (phải xử dụng trực thăng tiếp tế nước, đưa đón cố vấn Hoa Kỳ). Lính Bắc Việt xung phong lên đỉnh đồi, tràn vào tuyến phòng thủ của đại đội biệt động quân. Hai bên đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn... trước khi mất liên lạc với BCH tiểu đoàn 23/BĐQ trong căn cứ Ben Het.
Bên trong căn cứ Ben Het, tình hình rất căng thẳng, trong vùng tam biên có những đơn vị chính quy Bắc Việt cấp lớn. Quân lực VNCH tăng cường thêm quân lên Dak To và thiết lập một căn cứ hỏa lực trên một ngọn đồi nằm giữa Ben Het và Dak To. Bên trong trại LLĐB Ben Het, đồ tiếp liệu, lương thực, đạn dược cần được tiếp tế hàng ngày bằng xe từ Tân Cảnh. Ngày nào xe tiếp tế cũng bị bắn quấy rối, khi vừa qua khỏi Dak To. Cuối cùng, nhu cầu không yểm cho căn cứ được đáp ứng. Trung tá Toner ra lệnh cho tôi: “Fee, mình được biệt phái trực thăng võ trang Cobra bay bao vùng cho xe tiếp tế. Anh đi theo máy bay, quan sát coi tụi nó phục kích ở đâu, rồi điều động Cobra làm thịt”.
Được biết khu vực không được an toàn, phi công trực thăng bay là trên đầu ngọn cây dọc theo con đường để tránh hỏa lực phòng không của địch. Từ trên không nhìn xuống một ngọn đồi nhỏ trước mặt, thay vì bay vòng để tránh, viên phi công tiếp tục bay thẳng, lên cao tránh ngọn đồi, rồi lại xà thấp xuống. Chúng tôi nhìn rõ trận phục kích ở dưới, ngay trước mắt là một chiếc xe GMC chở đạn đại bác đang bốc cháy và sẽ nổ tung không biết lúc nào. Viên phi công hốt hoảng bay lên cao. Chúng tôi quan sát lại cho kỹ tình hình ở dưới, có khoảng ba chiếc xe trúng đạn bốc cháy, binh sĩ VNCH hộ tống đoàn xe, nằm rải rác dọc theo con đường đang chống trả đám lính Bắc Việt từ hai bên đường, đang sửa soạn tiến lên chỗ đoàn xe đang nằm kẹt trên đường.
Tôi báo cáo về Ben Het, và được bốn chiếc Cobra bay theo đội hình hàng dọc lên bao vùng. Tôi cho họ biết vị trí của địch rồi theo dõi các trực thăng võ trang “làm việc” để báo cáo. Chợt có một chiếc máy bay quan sát FAC (Phi cơ điều không tiền tuyến, Forward Air Control) lên bao vùng. Viên phi công FAC này tôi quen trong phi trường Cù Hanh ở Pleiku, lên tiếng hỏi.
- Tôi giúp được gì không?
- Chắc chắn. Bạn có những gì?
- Loại “bay nhanh” (phản lực). Trên đường “vượt rào” trở về (vượt biên thả bom trên đất Miên).
- “Đồ chơi” (bom) cỡ nào?
- 500 cân Anh.
- Ồ “bạn hiền” (oh, man!). Để tôi cho mấy chiếc Cobra ra khỏi vùng.
Xin cám ơn Thượng Đế. Tôi đang kiếm “bạc cắc” đào được “vàng”. Sau khi các trực thăng Cobra làm cú chót, tôi nói họ bay về hướng quân bạn. Viên phi công FAC cũng khuyên tôi “Bạn cũng nên ra khỏi khu vực luôn”. Biết gặp “thứ dữ”, tôi nói viên phi công trực thăng, đưa tôi trở lại căn cứ Ben Het. Trung tá Sâm, liên đoàn trưởng LĐ2/BĐQ vui vẻ cho biết, trận phục kích đã thất bại và đoàn xe tiếp tế sắp vào đến căn cứ.
Tôi đi theo trung tá Sâm, trung tá Toner, mấy sĩ quan BĐQ leo lên nóc pháo đài, dùng ống nhòm theo dõi trận oanh kích. Sau khi máy bay quan sát FAC bắn đạn khói chỉ điểm mục tiêu, hai phản lực F-4 Phantom chúi xuống thả bom. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Một đại đội biệt động quân được lệnh ra ngoài căn cứ, truy kích đám tàn binh của địch đang trên đường rút lui.
Biệt động quân đem về ba tù binh. Một trong ba người cấp bậc hạ sĩ quan, anh ta có cuốn sổ tay ghi tên và vũ khí trang bị cho các cán binh trong trung đội. Cuốn sổ tay còn cho biết vị trí nhận tiếp tế cho đại đội anh ta. Các tù binh bắt được cùng tài liệu được trực thăng đến đưa về Pleiku. Một điều đáng nói là binh sĩ biệt động quân, đối xử với tù binh rất tốt, cho họ ăn uống và thuốc lá.
Sau trận phục kích, địch quân dường như đã rút quân ra khỏi khu vực tam biên. Có nhiều giả thuyết, có người cho rằng quân đội Bắc Việt dự định tấn công trại LLĐB Ben Het bất ngờ. sau đó đụng tiểu đoàn 22/BĐQ trong thung lũng Plei Trap, rồi được biết có thêm TĐ23/BĐQ vào vùng hành quân, nên địch quân bỏ kế hoạch tấn công.
Vùng tam biên với trại LLĐB Ben Het là điểm nóng trên vùng cao nguyên. Căn cứ hỏa lực vừa mới thiết lập giữa Dak To và Ben Het, chỉ được ít hôm bị địch tràn ngập. các ngọn đồi xung quanh đều thấm máu của cả hai bên. Cho đến mùa hè năm 1972, vùng này hoàn toàn lọt vào tay địch quân.
Theo tài liệu: Patrolling, Fall 2009, trang: 67-69
Dallas, Texas Feb.8, 2009
[B]Vũ Đình Hiếu[/B]
[I]Source:[video]http://xaydunghouston.com/TuyBut/676td23poleiklengoknetnet.htm[/video][/I]