Showing posts with label lữ đoàn 3 dù. Show all posts
Showing posts with label lữ đoàn 3 dù. Show all posts

Sunday, December 4, 2022

         Chuyện Kỷ Niệm 40 năm trận chiến  

                Khánh Dương tháng 3 1975

 

                Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột
          Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương
                                                        Chậm chân người hởi nhè nhẹ bước
                   Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

                  Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.
                  Sao đành để lại một mình tôi
                 Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi
                Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

 

                           Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

      Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm. Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ,Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm. Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. Tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ/Tiền Sát/TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

           Hai thằng sĩ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17,18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra . Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong.Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền,nhưng 2 cô nói : Hai anh đợi ba em một chút ,còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy.Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

            Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì,thuốc lá , đồ hộp v.v. toàn là đồ ăn liền . Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn ,tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình.Một lát tôi mới có thể nói :Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc . Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình .Một lát sau bánh mì ,thuốc lá ,đồ hộp được phát ra cho anh em..

             Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây ,từng gói một quăng lên xe cho anh em .Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù .Bao nhiêu mệt mỏi ,thất vọng,bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan,vất vả tại Thường Đức tan biến hết .Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có . LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN . Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể.Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ. 


               Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra .Lãnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ, trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND, tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè, kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: "Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh". Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe.Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi: Đi đâu vậy ? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời :Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ . Ông bảo :Nhớ về đơn vị sớm .Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to :Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ,hú hồn. Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.

                   Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh ,xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê.Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay .Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt,

 Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết chứ ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6, tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC, tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo, họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

       Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, Hiệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác). Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt, họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6. Quân số ít ỏi, không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là điều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành, TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

       ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều. Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối. Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm, cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất. Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống.Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK và dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối, cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt vào ổ VC mà chúng cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

      Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ. Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. Trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2 ,2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái .Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú "tấp pi" đầu tiên của VC, chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới .

      Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi. Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác.Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan, người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi." Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được." Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. "Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh "-- tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ



 


                                                                                  Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

                                                                              Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

                                                                                   Vũ trụ mình ta chân đạp gió

                                                                                   Không gian lơ lửng bắt mây trôi

                                                                                   Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

                                                                                   Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

                                                                                   Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

                                                                                    Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

                                                                                    Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

                                                                                    Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

                                                                                   Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

                                                                                    Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

                                                                                     Một không sáu hai đầy xác cộng

                                                                                    Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

                                                                                    Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

                                                                                    Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

                                                                                   Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

                                                                                   Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam 

                                                                                   Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

                                                                                   Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

                                                                                   Về mái trường xưa qua Đồng Đế

                                                                                   Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

                                                                                  Có người em gái nằm xỏa tóc 

                                                                                  Để đợi anh về dẩu trăm năm

                                                                                  Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

                                                                                  Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

                                                                                  Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7 

                                                                                  Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

                                                                                  Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

                                                                                  Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

                                                                                  Tứ bề thọ địch Đèo M'Rack

                                                                                  Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

                                                                                  Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

                                                                                  Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi                                                                               


                                                                                  Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

                                                                                  Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

                                                                                  Chí trai vị quốc không danh lợi 

                                                                                  Vong thân bất nhục đáng anh hùng

                                                                                  Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

                                                                                  Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

                                                                                  Nợ nước muôn đời trên vai nặng

                                                                                  Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.


             Những ngày cuối tháng 3 / 2015


                                   Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí


Wednesday, November 11, 2020

 TRẬN ĐÁNH GIỮA SĐ 10 CSBV VÀ LỮ ĐOÀN 3 NHẢY DÙ TẠI ĐÈO M'DRAK CUỐI THÁNG 3.75

- "Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá tồi" và "Trong chiến đấu, tinh thần của quân sĩ gấp ba lần sức mạnh của đơn vị". -- Hoàng đế Napoléon của Pháp.

Lời nói đầu: Vừa rồi tôi đã giới thiệu KỲ TÍCH của SĐ 22 bộ binh VNCH, có thể nói là ko thể tưởng tượng, trong cuộc quyết chiến ko cân sức kéo dài 25 ngày của tháng 3/75 với sđ 3 CSBV và các đv địa phương của CS, để bảo vệ QL-19 và QL-1, trên đường rút quân về tỉnh lỵ Qui Nhơn của Bình Định. Dù bị thiệt hại nặng, đặc biệt là trung đoàn 47, họ đã thể hiện tinh thần chiến đấu cao, bất chấp khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm như trung đoàn 47 đi bộ 45 km! (vì ko xe chuyên chỡ) hay cả SĐ chỉ được cấp một máy bay L-19 ba giờ mỗi ngày hay bốn tiểu đoàn trưởng của TĐ 2/47 tử trận trong chín ngày... ĐT Lê Cầu trung đoàn trưởng, dù bị thương vì dẫm phải mìn, bảo lính bỏ mặc ông, nhưng họ vẫn mang ông đi, cuối cùng cả toán bị bắt. ĐT Nguyễn Hữu Thông của tr.đ. 42, sau khi lính đã lên tàu, ông ở lại bãi biển Qui Nhơn và tự sát

Hôm nay tôi xin giới thiệu trận đánh của lữ đoàn 3 Dù tại Đèo M'Drak. Ngày 29/3, sđ 10 csbv bắt đầu tấn công bằng pháo. Trận đánh tái tục bằng bộ binh ngày 30/3: TĐ 5 Dù ở đầu đèo phía tây và TĐ 6 Dù ở giữa đèo còn đứng vững nhưng TĐ 2 ở đầu đèo phía đông bị bao vây chia cắt và thiệt hại nặng. Tối hôm đó lữ đoàn trưởng là trung tá Phát xin rút nhưng tướng Phú ko cho và hứa sẽ gửi viện quân. Sáng ngày 31/3, ba trung đoàn của sđ 10 csbv đã tấn công dứt điểm ba tđ Dù...

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 335-40 của quyển Black April (Tháng Tư Đen) của tác giả George J. Veith. 

....

"Sau khi cùng các sđ khác của CSBV tấn chiếm thành công tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac, sau vài ngày nghỉ ngơi, sđ này được lịnh tiến về phía đông, dọc theo QL-21, con đường đi từ Ban Mê Thuột tới Nha Trang.  

Quốc lộ 21 (QL-21) từ Ban Mê Thuột đi Nha Trang

SĐ 10 csbv, còn gọi là sđ F10, có ba trung đoàn (tr.đ.) bộ binh cơ hữu, gồm các tr.đ. 24, 28, và 66, cùng với các đv xe tăng T-54, phòng không, pháo, hợp lực với tr.đ. 25 - vừa mới tăng phái. Nhưng chiếm đèo M'Drak ko phải là việc dễ dàng. Đèo này chạy ngang một nhánh của rặng Trường Sơn chia cách quận lỵ Khánh Dương với quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa ở bờ biển. Địa thế rất hiểm trở, vì đường đèo có nhiều chỗ quẹo cua rất gắt khi chạy qua các hẻm núi (canyon) và nhiều cầu và cống nước (culvert). Để trì hoãn bước tiến của Bắc quân, trung tá Lê văn Phát, chỉ huy lữ đoàn 3 Dù VNCH, đã chỉ thị cấp dưới phải phá các cầu trên QL-21, ở phía tây của Đèo sau khi đv cuối cùng của VNCH qua cầu. Tuy nhiên, ông Phát đã ko tính tới khả năng vượt bực về xây dựng cầu đường của công binh csbv. Quân sử của sđ 10 sau này đã viết, "các đv công binh và trinh sát đã nhanh chóng hoàn tất một con đường ở phía TÂY của đèo này... đồng thời mở rộng một ĐƯỜNG MÒN (footpath) từ Khánh Dương phía tây ... để xe tải có thể dùng. Tr.đ. 24, đã được lịnh chiếm một vị trí ở ĐÔNG của đèo để án ngử, đã dùng con đường hoàn thành trước đó bởi công binh."

Đèo M'Drak 

Vì thấy rằng địa thế rất hiểm trở, một cuộc tấn công trực diện trên đường đèo rất khó, do đó sđ 10 csbv dự định sẽ đi vòng bên hông của Nhảy Dù. SĐ sẽ gửi tr.đ. 24 đi vòng quanh (loop) Nhảy Dù để CHẶN phía đông của đèo. Một tr.đ. thứ hai sẽ tấn công đầu đèo phía tây - đang trấn giữ bởi TĐ 5 Dù. Tr.đ. thứ ba sẽ đi về phía bắc và sau đó QUAY ĐẦU để tấn công giữa đèo. 

Dù lính Nhảy Dù đã đào hầm hố và chờ đợi, trung tá Phát, nhờ những toán viễn thám, đã sớm biết rằng ông đang đối diện những đv CSBV ưu thế hơn đang cố gắng bọc sườn Nhảy Dù từ HAI hướng. Và khả năng của ông rất ít. Vì ba tiểu đoàn của ông ko thể kiểm soát ngọn đèo dài 14.50 km này và cũng ko thể kiểm soát cạnh sườn của lữ đoàn. Khi một đoàn công-voa tiếp tế của Dù bị phục kích NGÀY 28 THÁNG BA ở phía ĐÔNG của đèo, ông biết rằng một tấn công toàn diện của địch là hiển nhiên. Nhận biết rằng ko thể để Bắc quân cắt đường rút lui, ông đã ra lịnh TĐ 2 Dù, đang đóng ở GIỮA đèo, tiến về cuối đèo để kiểm soát con đường đến trung tâm huấn luyện BĐQ tại Dục Mỹ. TĐ 5 Dù vẫn tiếp tục giữ đầu đèo phía tây, trong khi TĐ 6 Dù làm đoạn hậu của TĐ 5. 

Trực giác của Phát đã đúng. LÚC 3:00 sáng NGÀY 29 THÁNG 3, sđ 10 csbv tấn công ồ ạt bằng pháo binh. TRONG GẦN 6 GIỜ, các pháo đội Nhảy Dù đã pháo chiến với pháo binh csbv - phần lớn là đại bác cũ của VNCH bị chiếm ở Ban Mê Thuột, cùng với những xe tải chỡ đầy đạn lấy từ kho đạn Mai Hắc Đế cũng ở BMT. 

LÚC 9:30 SÁNG NGÀY KẾ TỨC NGÀY 30/3, 3 trung đoàn Bắc quân đồng loạt 3 TĐ Dù. Ác chiến diển ra cả ngày, nhưng TĐ 5 và 6 Dù, nhờ nhiều đợt ném bom của không quân (KQ), vẫn giữ được vị trí. Tuy nhiên, ở đầu đèo phía ĐÔNG, TĐ 2 Dù bị thiệt hại nặng. Một đv lớn của bắc quân đã tấn công bộ chỉ huy TĐ này, bảo vệ bởi 30 lính Dù: với lực lượng nhỏ như vậy, thiếu tá Trần Công Hạnh, TĐ trưởng, khó mà giữ được. Trong khi ông cố gắng đẩy lui cuộc tấn công đầu tiên này, chẳng bao lâu ông nghe loa phóng thanh (bullhorn) kêu gọi đầu hàng. Ông từ chối, và với đám lính chuyên về tiếp vận ở BCH TĐ, ông liều mạng phá vòng vây xuyên qua phòng tuyến địch (mad dash through ennemy line). VC đã đuổi toán của ông trong 8 KM. Cuối cùng, ông đã liên lạc qua máy truyền tin với trung tá Trần đăng Khôi, chỉ huy phó Lữ đoàn, và ông và đồng đội được trực thăng cứu. Các đại đội tác chiến của TĐ 2 Dù, đóng đơn độc trên những ngọn đồi chung quanh, đã lần lượt bị tấn công riêng lẻ bởi các TĐ csbv và bị thiệt hại nặng

Trong khi TĐ 2 Dù ở đầu phía đông đèo BỊ BAO VÂY CHIA CẮT, quân Dù của hai TĐ 5 và 6 đã chận đứng cuộc tấn công đầu tiên. Dù được (notwithstanding) không quân hỗ trợ dồi dào, Phát đã biết rằng ông ko thể chống đỡ nếu ko có VIỆN QUÂN. Ba tù binh csbv cho biết toàn thể mọi binh sĩ của sđ 10 csbv đã hạ quyết tâm rằng cùng với chiến xa, họ sẽ chiếm cho bằng được đèo này, nên TỐI 30 THÁNG 3, Phát đã gọi QUÂN ĐOÀN 2 xin được rút quân. Tướng Phú từ chối, và hứa sẽ gấp rút tìm viện quân cho Phát. 

Đơn vị kỹ thuật của sđ 10 csbv đã nghe được cuộc gọi này nên sđ 10 csbv lập tức tấn công. SÁNG SỚM NGÀY 31/3, một trung đoàn có tăng T-54 yểm trợ đã tấn công TĐ 5 Dù ở đầu đèo phía tây. Trung đoàn thứ hai, từ phía bắc tấn công TĐ 6 Dù, trong khi trung đoàn 24 từ trên núi tràn xuống và CHIẾM QL-21, cắt đường rút lui của lữ đoàn 3 Dù. TĐ 72 BĐQ thuộc Liên đoàn 21 BĐQ, đang bổ sung quân số tại TTHL Dục Mỹ sau khi rút lui từ Ban Mê Thuột, đã cố gắng PHÁ VÒNG VÂY và cứu Nhảy Dù. Trung tá Lê Quí Dậu, LĐ trưởng, đã xác nhận rằng "Tôi được lịnh phải đặt TĐ 72 BĐQ dưới quyền LĐ 3 Nhảy Dù, nhưng đã quá trể trong tình hình này, dù cho chúng tôi đã cố gắng hết mức. Phần lớn các tiền đồn của Nhảy Dù đã bị cắt đường rút lui. Trong cuộc hành quân này, TĐ 72 BĐQ đã bị thiệt hại đáng kể vì không có yểm trợ nào ngoài vũ khí cơ hữu của TĐ, trong khi tinh thần của địch thì cao và tiếp tế dối dào."

Quân sử của sđ 10 csbv sau này, đã xác nhận mô tả của Dậu, khi viết: "Lúc bình minh, địch đã tập trung pháo... để tấn công các vị trí án ngữ của tr.đ. 24. Pháo địch đã phối hợp chặc chẻ với oanh kích dữ dội của không quân địch... Các máy bay A-37, hết chiếc này tới chiếc khác, đã ném bom thường và napalm vào các vị trí của tr.đ. 24. Bộ binh địch đã quyết tử (death-defying charge) trong cố gắng đẩy lui tr.đ. 24 để mở đường rút lui." SĐ 10 đã ra lịnh cho một tr.đ., đang cùng với 4 xe tăng T-54 tấn công TĐ 6 Dù, phải tăng viện cho tr.đ. 24. 

KQ VNCH đã diệt bốn xe tăng này và Bắc quân gửi thêm bốn thiết vận xa M-113 chiếm được của VNCH. Quân tăng viện này đã giúp Bắc quân giữ được đầu đèo phía đông. Lữ đoàn 3 Dù bị cắt đường rút lui và có nguy cơ BỊ TRÀN NGẬP. 

Suốt ngày Phát đã gọi quân đoàn 2 để xin viện binh và Phú đã cố gắng TRONG TUYỆT VỌNG để tìm kiếm viện quân. Vào sáng sớm NGÀY TRƯỚC ĐÓ (TỨC 30 THÁNG 3), chuẩn tướng Trần đình Thọ, trưởng phòng 3 TTM gọi Phú và hứa rằng "SĐ TQLC sẽ đổ bộ lên Vịnh Cam Ranh bằng tàu LST vào BUỔI CHIỀU. Và một Lữ Đoàn sẽ lập tức đc tái tổ chức và tái trang bị để tăng viện cho mặt trận Khánh Dương. Tướng Phú đón nhận tin này với hân hoan tột độ (great jubilation)." Tuy nhiên, niềm lạc quan này của Phú đã vụt tắt khi Tướng Niệm, TL SĐ 22 bộ binh, bay đến vào buổi TRƯA báo cáo Phú rằng tình hình Bình định NGUY NGẬP (critical). Dù 3 trung đoàn của ông vẫn còn làm chủ tình hình (hold sth at bay), nhưng quân VC địa phương đã đột ngột tấn công hậu quân của ông GẦN Qui Nhơn cũng như các đv ĐPQ rải rác. Phú bảo Niệm cố giữ quân cảng Qui Nhơn và bảo vệ TP. 

Cùng CHIỀU 30/3, Phú bay tới Cam Ranh gặp tướng Trưởng, vừa mới tới từ Đà Nẳng. Trưởng từng là xếp của Phú năm 1972 khi Phú chỉ huy SĐ 1 bb. Phú muốn Trưởng cho TQLC lên bờ nhưng Trưởng ko nói chuyện với ông. Đây là một hành động LẠ LÙNG NHỨT của Trưởng vì nếu ko có TQLC, Phú ko còn cơ may nào hết, để cứu LĐ 3 Dù. Lý do chánh mà Trưởng nổi giận với Phú vì cuộc rút quân thảm hại tại Cao Nguyên, gây ảnh hưởng xấu khiến QĐ 1 sụp đổ theo. 

Tuy nhiên, Trưởng, lúc đó cũng rất suy sụp (depressed). Theo một báo cáo của CIA, ông cần "tiêm tỉnh mạch và khổ sở vì đau dạ dầy; ông cũng có vẻ chán nản (deject) và xuống tinh thần vì mất QĐ 1." Khi BTTM ra lịnh cho TQLC đổ bộ lên Cam Ranh và nói Trưởng phải về Sài Gòn một mình, ông đã từ chối. Ông nhờ hạm trưởng "gọi BTTM để yêu cầu TQLC cùng về SG với tôi để dưỡng quân. Nếu yêu cầu này bị từ chối, tôi sẽ ở lại Cam Ranh với TQLC và tôi sẽ chiến đấu với họ." Trưởng có lẽ sợ rằng nếu trở về một mình, ông sẽ bị Thiệu bắt giam vì để mất QĐ 1. Ông muốn ở lại với TQLC vì họ sẽ bảo vệ ông. Trưởng ko phải là kẻ hèn nhát, nhưng cũng phải là kẻ ngu. BTTM nhanh chóng hủy bỏ (rescind) lịnh này và nói TQLC lên tàu và về SG. NGÀY KẾ 31/3, tàu HQ chỡ TQLC ra khơi và hy vọng cuối cùng của Phú về viện quân từ bên ngoài QĐ 2 đã tan biến! 

Tướng Phú ngày càng hoảng loạn trong khi tuyệt vọng tìm kiếm viện quân. Ông chỉ còn tr.đ. 40 TRỪ (vì một TĐ ở lại Bình Định) thuộc sđ 22, nhưng họ phải giữ ngoại ô phía tây của Nha Trang. Dù cho Nhảy Dù ngăn ko cho Bắc quân tiến qua đèo M'Drak, CS vẫn có thể đi vòng bằng cách dùng đường xe be (logging road) cũ tới thẳng tp này. 

Phú gửi Tướng Trần văn Cẩm, TLP QĐ 2 tới Tuy Hòa để tổ chức bảo vệ TP này. Ông này phải bảo vệ quốc lộ 1 đoạn từ Tuy Hòa tới Đèo Cả, ở 29 km nam của tp. Ngọn đèo rất quan trọng này dài hơn 11 km, một bên là núi đá rất dốc, bên kia là biển. Một đv phòng thủ, nếu được hỗ trợ bởi không và hải pháo sẽ dễ dàng giữ đèo dù địch đông cở nào. Nếu Cẩm giữ được Tuy Hòa và Đèo Cả, CSBV sẽ ko thể tiến về phía nam. NGÀY 30 THÁNG 3, Phú đã nói với một phóng viên Việt Tấn Xã rằng BĐQ đã biến Đèo Cả thành "một tuyến phòng thủ mạnh mẻ."

Đó chỉ là tưởng tượng: vì chỉ có TĐ 34 BĐQ giữ đèo, dù đã quá kiệt sức do vừa rút lui trên LTL-7B. Dù có lịnh của Phú, những BĐQ sống sót sau cuộc KHỔ NẠN trên LT-7B đã ko được tái tổ chức. Một số được gởi tới TTHL Dục Mỹ, nhưng vị chỉ huy trưởng vẫn lo cho những đv của TTHL hơn là tái tổ chức đám tàn quân này thành những đv bảo vệ vùng này. 

Việc tái tổ chức những tàn quân của sđ 23 cũng khá chậm chạp. Họ đc tập hợp tại một trại LLĐB cũ trên QL-1 gần Cam Ranh. Mặc dù nhiều cố gắng của ĐT Lê Hữu Đức quyền TL sđ 23, (thay thế chuẩn tướng Lê trung Tường bị thương), để biến đám tàn quân của sđ 23 thành một đv có thể chiến đấu nhưng họ chỉ là một đám người hỗn tạp (disorganized rabble). Hơn nữa, phần lớn các nguồn lực của tỉnh Khánh Hòa còn phải lo cho hơn 13.000 dân thường đang ở trại tị nạn ở cách Nha Trang gần 5 km. Nhưng dù bất cứ lý do gì khiến QLVNCH không thể tái tổ chức những binh sĩ đã sống sót sau cuộc rút lui thảm hại trên LTL-7B hay Ql-21 - như mất tinh thần, thiếu thời gian và nguồn lực, hay cả hai - sự thất bại này sẽ là TAI HỌA cho nam VN. 

Mọi cố gắng của Phú để giữ bờ biển này, ý nói Nha Trang, đã bắt đầu tan rã (desintegrate) vào SÁNG 31 THÁNG BA khi hỏa tiển csbv rơi vào TTHL Dục Mỹ, khiến một số doanh trại của tân binh bị cháy. Cảm thấy sự thất bại của Nhảy Dù là hiển nhiên, và hy vọng bảo vệ các tân binh, chỉ huy TTHL đã quyết định bỏ chạy. Chuyển thực phẩm lên vài xe tải, hàng trăm cán bộ và tân binh của TTHL đã lên đường trong TỐI ĐÓ và bắt đầu đi bộ về Nha Trang, nơi mà họ đến vào sáng 1 THÁNG TƯ. Họ đã gặp một tp đang nhanh chóng tan rã. Vì vào xế chiều HÔM TRƯỚC tức ngày 31/3, bạo loạn đã diển ra khi lính tráng - đổ xuống từ các tàu di tản từ QĐ 1 - đã bắt đầu hôi của và cướp bóc dân thường. Nay khi thấy đoàn lính BĐQ từ Dục Mỹ tràn xuống, hàng ngàn dân tị nạn trong trại vừa kể cũng bắt đầu đổ vào tp. Nhiều cố gắng để chấm dứt HỖN LOẠN và xử tử những binh sĩ vô kỷ luật tại chỗ, nhưng cảnh sát chỉ có thể ổn định một phần của tp Nha Trang. Mọi cơ may để ngăn ngừa một "Đà Nẳng thứ hai" ở Nha Trang đã tuột khỏi tầm tay.

...

SJ ngày 11 Nov 2020.

Người dịch Tài Trần.

Wednesday, October 14, 2020

LÀM CON DÊ TẾ THẦN KHI TĐ 6 DÙ THUỘC ĐỊA NHẢY XUỐNG TƯ-LỆ THÁNG 10.1952

- Để tưởng nhớ các chiến sĩ Lữ đoàn 3 Dù VNCH đã anh dũng chiến đấu trong trận đánh cuối cùng của cuộc đời tại Khánh Dương tháng 3.1975.

- Tôi biết nhiều bạn trẻ ko ưa thực dân Pháp, nhưng xin các bạn nhớ rằng trước khi trao trả độc lập cho VN năm 1954, thì vào năm 1950, họ đã bắt đầu thành lập các đv toàn lính VN với sĩ quan (sq) và hạ sĩ quan (hsq) Pháp chỉ huy trong giai đoạn đầu, sau đó sẽ thay thế bằng sq và hsq VN. Các danh tướng hay sĩ quan cao cấp như Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trương Quang Ân, Phạm văn Phú, trung tá Lê văn Phát (chỉ huy lữ đoàn 3 Dù), trung tá Đào văn Hùng (chỉ huy lữ đoàn 2 dù), v.v... từng làm tiểu đội trưởngtrung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, v.v... của những đv này. Được biết: Tiểu đoàn 1 Nhảy dù được thành lập ngày 1/5/1951 bởi quyết định 1547/EMIFT/1 (Etat Major Interarmées et des Forces Terrestres), ban đầu do các sĩ quan người Pháp chỉ huy. Ngày 7/9/1952, Đại úy Lê Quang Triệu là sĩ quan người Việt đầu tiên được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng đến ngày 20/1/1952, kế tiếp là Đại úy Nguyễn Khánh chỉ huy đến ngày 22/2/1952. Sau đó, kể từ ngày 23/2/1952 đến 1/8/1954, Tiểu đoàn do các sĩ quan người Pháp chỉ huy.

Từ ngày 1/8/1954, Tiểu đoàn 1 Nhảy dù chính thức được người Pháp bàn giao sang Quân đội Quốc gi

Riêng đại úy Nguyễn văn Viên, với đv đầu đời là TĐ 5 Nhảy Dù, đã nhảy xuống mặt trận Điện biên phủ hai lần. Lần đầu ngày 23/11/1953. Lần 2 ngày 14/3/1954: là sĩ quan phụ tá đứng hàng thứ ba trong TĐ, trung úy Viên bị thương nặng, được chở về Hà Nội cấp cứu. Toàn bộ TĐ của ông, trong đó có trung úy Phạm văn Phú đại đội trưởng, đã tiếp tục chiến đấu tới giờ cuối. Sau khi người Pháp về nước, ông là TĐ trưởng người VN đầu tiên của TĐ 5 Dù. Năm 1957, đang là chỉ huy của TĐ 6 Dù, vì một sai lầm của cấp dưới, ông buộc phải giải ngũ. Năm 1972 ông được lịnh tái ngũ, nhưng người ta khó giao công việc cho ông vì các đồng đội cũ (từ cùng là thiếu úy) nay đã là TL của sđ 3 bộ binh như chuẩn tướng Vũ văn Giai hay TL của sđ Dù như Lê Quang Lưởng. Tướng Trưởng, TL quân khu 4, từng là thiếu úy dưới quyền ông. Sau ngày 30/4, ông tham gia lực lượng Phục Quốc, do bị nội tuyến nên bị bắt, bị tra tấn dã man và bắn chết. Cha Nguyễn văn Vàng, bị xử chung thân. 



Lời nói đầu: Sau khi vượt Sông Hương (Red River), sđ 308 Việt Minh Cộng Sản (VMCS) đã quét sạch các đồn bót nhỏ và chỉ còn cách TP Nghĩa Lộ khoảng 64 km. BTL Pháp ở Hà Nội quyết định: thả một TĐ Dù xuống Tư Lệ, 32 km tây bắc Nghĩa Lộ, nhằm mục đích thu hút nỗ lực chánh của sđ này và mua thời gian để các đv lớn hơn và chậm chạp hơn của Pháp rút về Sông Đà (Black River). Và TĐ 6 Dù thiện chiến của Thiếu tá Bigeard được chọn làm Dê Tế Thần. (Nói thêm: Sau khi quân đội Pháp về nước, đầu năm 1954, khi TĐ 6 Dù của quân đội quốc gia VN được thành lập, thiếu tá Đỗ Cao Trí là TĐ trưởng đầu tiên của TĐ này -- người dịch).

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 63 đến 76 của quyển Street Without Joy của Bernard Fall.

......

"Trận đánh vùng núi rừng xứ Thái đã bắt đầu ngày 11/10/1952, với ba sđ quân VMCS - gồm 308, 312, và 316 - vượt sông Hồng và tiến theo ba trục trên một mặt trận rộng 64 km; SĐ 308 và 316 đã để lại một trung đoàn của mỗi sđ (trung đoàn 176 và 36), làm tổng trừ bị chung quanh hành lang (passage) chiến lược của sông Hồng; ở phía bắc của ba sđ này, trung đoàn độc lập 148 đã tiến riêng rẻ về hướng tây với vòng cung rộng. Một dãy các đồn bót của Pháp nằm kế phía tây sông Hồng vẫn yếu và mỏng manh (tenuous) như trước đây và tp Nghĩa Lộ, dù phần nào đó đã tăng cường hầm hào kiên cố (fortifie) và bây giờ được bảo vệ bởi 700 lính, vẫn ko là đối thủ của một cuộc tấn công đầy quyết tâm (determined) của CS với 10.000 quân trang bị đại bác không giật, còn gọi là ĐKZ, và cối 120 ly.

Trong vòng chưa tới sáu ngày sau khi vượt sông Hồng, sđ 308 đã quét sạch các tiền đồn nhỏ của Pháp và đã xuất hiện trong rừng 64 km ở trước và chung quanh Nghĩa Lộ. Vài ngày trước khi trận chiến, các làng chung quanh TP này đã bắt đầu vắng người, đầu tiên là người già và đàn ông và sau đó là đàn bà và trẻ em. Sau đó, các "cảm tình viên" của Pháp - những dân thiểu số địa phương từng là tai mắt của quân Pháp, đã ngừng gửi báo cáo, bằng cách gửi vợ đến nói rằng chồng của họ đi xa để săn bắn hay bịnh, hay dự đám cưới bà con. Các sĩ quan (sq) Pháp đã biết rằng địch sắp tấn công. 



                          
Add caption

Chỉ huy quân Pháp tại địa phương đã đáp ứng bằng cách gia tăng tuần tiểu trong khu vực, đặt các toán phục kích trên các đường tiến sát (path of approach) - mà họ nghĩ địch sẽ dùng, và yêu cầu máy bay thám thính bao vùng. Từ ngày 11 tới 17 tháng 10, đã ko phát hiện gì hết. Thực tế, cho tới ngày trước cuộc tấn công của sđ 308 VM, hai đại đội lính Pháp đã lục soát rất kỹ chung quanh TP, bằng cách thăm các làng, và lục soát những vị trí nghi ngờ nhưng ko thấy gì. Tương tự như vậy, máy bay thám thính, trong khi quan sát liên tục các vị trí mà địch có thể tập trung, cũng ko tìm thấy chỉ dấu nào của đại đv của CS. Đó đây (here and there), một nhóm nhỏ người đi hàng một (advance single file) xuyên qua cỏ cao đã lọt vào mắt của phi công máy bay, nhưng khi máy bay vòng trở lại, những kẻ này biến mất.

...

Lại một lần nữa, ngụy trang của CS rất toàn hảo... Đúng 1700 ngày 17.10, một đám mưa đạn cối, rất chính xác và dữ dội đã rơi xuống Đồi Nghĩa-Lộ, phá hủy hàng rào thép gai, mở các cửa mở qua các bãi mìn, và diệt các ổ súng cộng đồng của Pháp. Lúc 1730 g, tiếng hô kinh sợ "Tiến lên" vang lên và lính VM đã xuất hiện bên trên tuyến phòng thủ đã tan nát của Pháp. Trong chưa tới một giờ, tất cả Đồi Nghĩa-Lộ đã lọt vào tay địch. Không quân của Pháp, được báo động vài phút sau khi bắt đầu trận đánh, đã đến kịp thời từ châu thổ sông Hồng, ý nói từ Hà Nội, để chứng kiến đoàn tù binh (TB) Pháp, hai tay dơ cao, đi giữa hai hàng lính canh VM. Vị trí Pháp tại Làng Nghĩa-Lộ gần đó vẫn tiếp tục chiến đấu và giữ tới sáng, nhưng khi máy bay tiếp tế đầu tiên tới vào bình minh (dawn) để thả đạn dược và huyết thanh cần thiết, lá cờ ba màu của Pháp đã ko còn bay trên Nghĩa Lộ đổ nát. Nghĩa Lộ, căn cứ chánh của Pháp tại xứ Thái, xem bản đồ, đã mất trong 24 giờ và bây giờ điều dĩ nhiên là tất cả các đồn Pháp ở bắc và tây Nghĩa Lộ sẽ bị đè bẹp, ko còn hy vọng giúp đỡ (succor) nếu VM tới Sông Đà (Black River) trước khi các đồn này hoàn tất việc rút lui. 

Tin tức về 3 sđ VMCS đã khiến BTL Pháp ở Hà Nội lo lắng vì họ ko còn quân trừ bị để đối phó với diển biến này .(Quân Pháp ở Đông Dương cũng khá đông nhưng phải căng mỏng để bảo vệ các khu đông dân và đường xá. Lực lượng tổng trừ bị của Pháp với 7.500 quân Dù thiện chiến, nhưng Pháp không có nhiều máy bay để chuyển một số lớn quân tổng trừ bị  - như Không Quân Mỹ đã giúp quân VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Thời Pháp chỉ có vận tải cơ C-47 của Mỹ,  chở được 28 lính với đầy đủ súng đạn -- người dịch).

Lại một lần nữa, bóng ma của thảm bại biên giới năm 1950 (ý nói trận phục kích trên Đường Thuộc Địa số 4 (RC-4) khiến ĐT Le Page và ĐT Charton bị bắt sống-- người dịch), lại hiện ra trước mắt BTL tối cao của Pháp: và họ đã quyết định ném vào địch một con dê tế thần - đó là một TĐ Dù, với mục đích thu hút (draw upon) nỗ lực chánh của địch quân và mua thời gian cho các đv lớn và chậm chạp hơn rút về sông Đà. Không có một ảo giác dù nhỏ nhứt (slightest illusion) cho cơ may sống sót của TĐ Dù này; nếu họ còn sống để hoàn thành nhiệm vụ, việc tung TĐ này vào trận đánh cũng nên làm. TĐ được chọn để hy sinh tại xứ Thái này là TĐ 6 Dù Thuộc địa của thiếu tá Bigeard.

Ngày 15, đv này được đặt trong tình trạng báo động và tối hôm đó, TL không quân, ĐT Gilles, đã yêu cầu linh mục Jeandel, tuyên úy nhảy dù, phải sẵn sàng cho hành quân vào lúc 0530 g sáng hôm sau. "Cuộc HQ kéo dài bao lâu, thưa ông?", LM Jeandel nói.

"Tôi ko biết chính xác," Gilles nói. "Xin ông mang theo một bàn thờ nhỏ (portable altar) và bất cứ những gì cần thiết cho lễ Mi-sa. Nếu HQ dài quá dự định, sẽ có rượu lễ và bánh thánh (Mass wine and host) được thả dù xuống cho ông. Chúc may mắn."

Ngày 16/10/1952 lúc 11:20 g, đợt đầu tiên gồm 15 máy bay C-47 Dakota của Mỹ cất cánh từ Hà Nội bay về Tư-Lệ, 32 km tây bắc của Nghĩa Lộ. Đợt kế lúc 1430. Bigeard, như thông lệ, luôn luôn ở chiếc đầu tiên. Mặt mày mọi người đều căng thẳng (taut); ko còn ai nói chuyện đùa hay nói chuyện (joke or crack). Giờ đây họ đã biết nơi họ sắp tới, họ sắp làm cái gì, và rằng chỉ có ít người trong họ có thể sống để kể về điều đó. LM Jeandel, trong quân phục ngụy trang của Dù - với một thập tự giá màu đen tô điểm với hình Chúa bằng bạc đeo ở cổ, thập tự nằm ngay trên dù bụng và một túi nhỏ chứa một bàn thờ nhỏ nằm trên ba-lô của ông - ngồi ko xa thiếu tá Bigeard. Tuyên úy này đã nhảy dù như là một thành viên của BCH. Và đó là Tư-Lệ: những đồi nhỏ hình hạt đậu bao quanh bởi những đồi cao hơn, phủ đầy cây rừng. 

Đồn Tư Lệ, nằm ngay giữa một bình nguyên nhỏ, ko khác gì một gác chuông (belfry) thời trung cổ, bảo vệ bởi 10 lớp dây thép gai và một ít giao thông hào lộ thiên, ko có nắp, nhằm nối kết năm ổ súng liên thanh. Vị chỉ huy đồn, đã cho lính dùng đá để viết tên của đồn lên núi với hàng chữ cao 1.8 mét. Bình nguyên này dài khoảng 9.6 km và nối với một làng dân Mèo gần đó bằng con đường đầy bùn. 

Người lính dù đầu tiên chạm đất lúc 1300, và cả TĐ lúc 1600. Họ lập tức đào hố chung quanh đồn Tư Lệ để chuẩn bị trận đánh sắp tới; họ là những người lính thiện chiến, gồm VN và Pháp. Ngày 17, một toán tuần tiểu đầu tiên của TĐ đã báo cáo chạm súng với ba thành phần của sư 312 ở khoảng 8 km cách Tư Lệ. Cùng đêm đó, lính của TĐ này từ Tư Lệ đã im lặng và từ xa chứng kiến cơn hấp hối của Nghĩa Lộ. Tiếng súng ầm ầm (rumble of gunfire) và những ánh chớp của tiếng nổ có thể nghe và thấy từ 32 km phía đông nam. 

Lúc 1800 giờ hôm sau, các thành phần đầu tiên của VM đã tới các chỏm núi (crest) chung quanh Tư Lệ từ hướng nam và đông; TĐ 1 sơn cước người Thái đã rút lui ngày trước đó về hướng bắc và tây; TĐ 17 Tabor toàn lính Ma-rốc và TĐ 3 của trung đoàn 1 bộ binh cũng toàn lính Ma rốc cũng rút về hướng sông Đà. Tuy nhiên, 15 dặm Anh hay 21 km về phía đông nam Tư Lệ, tại Gia Hội, một đại đội bộ binh đơn độc vẫn ngoan cường cố gắng vượt thoát (extricate) mọi phục kích của địch để rút về Tư Lệ. Người ta ko bao giờ biết liệu quyết định của thiếu tá Bigeard phải chờ đại đội này rút từ Gia Hội đã là nguyên nhân chánh khiến TĐ 6 Dù bị vây chặt ở Tư Lệ, nhưng điều rõ ràng rằng lúc 2100 của ngày 19/10, khi Bigeard nhận lịnh phải rút khỏi Tư Lệ hướng về sông Đà, ông đã quyết định cho đại đội này chờ tới sáng để bắt tay với TĐ của ông. 

Ngày 19 là một ngày u ám (gloomy) tại Tư Lệ. Bầu trời bao phủ những đám mây dầy đã ngăn chiến đấu cơ và thám thính cơ hoạt động tại vùng này. Tuy nhiên, nhờ một may mắn hiếm có (by sheer luck), một oanh tạc cơ đã ngăn chặn một đội quân khoảng 600 VM đang hướng về Tư Lệ, nhưng tổn thất này của VM chỉ là một giọt trong sô nước khi so sánh với khối người đang bao vây lính Dù tại Tư Lệ.

Khoảng 0300 ngày 20/10, cuộc tấn công của địch đã bắt đầu với mưa pháo của súng cối, lính Dù vẫn giữ vững. Hai đợt xung phong bị đẩy lui (beaten off); lúc bình minh, quân của Bigeard vẫn giữ vững phòng tuyến sau hàng rào kẽm gai và gác chuông của Tư Lệ. Lại lần nữa, thời tiết đã ko đẹp với lính Pháp; bầu trời trên thung lũng dầy đặc những đám mây tích mưa (cumulus) - đã gây trở ngại cho không yểm. TĐ 6 dù thuộc địa chỉ còn dựa vào sức mình (was strictly on its own). 

Giờ đây dĩ nhiên mọi ý định cố thủ tại Tư Lệ đều vô ích; vì ko những chỉ là hủy diệt cho TĐ, nhưng vì có thể địch sẽ đi vòng quanh TĐ bằng cách dùng vài TĐ để ngăn chặn nó - như VM đã làm trước đây với nhiều đồn Pháp và sau này. 

Nhưng vấn đề bây giờ là thương binh. Có một truyền thống  trong Nhảy Dù là ko để lại thương binh trong vùng địch. Vì họ biết rằng, là một đv thiện chiến, họ sẽ bị VM tra tấn đến chết nếu bị bắt. 

TĐ đã cáng 5 thương binh nặng và chuẩn bị đưa họ về sông Đà. Mỗi băng-ca phải có tám người chia làm 4 cặp để khiêng và bảo vệ. Trời nhiệt đới rất nóng, họ phải đi theo lối mòn có sẵn của dân Mèo, lúc lên đồi lúc xuống đồi, làm hai kẻ khiêng cáng, trong chưa tới 15 phút đã mệt lả với tải trọng 90 kí . Điều này cũng áp dụng với súng cối và liên thanh, máy truyền tin và đạn dược. Gần như mọi lính Dù, kể cả sq, đều mang nặng quá mức thường ngày của họ. 

Việc rút quân đã bắt đầu với dễ dàng ngoài mong đợi. Vì một lý do nào đó VM đã tránh chạm súng và lính Dù đã thành công khi vượt qua dãy đồi đầu tiên (first hill line) trên đường tới Đèo Tư-Lệ, mà ko bị ngăn chặn. Một toán tiền sát đã đi trước TĐ để tới Đèo Tư Lệ ngày hôm trước, gọi máy báo rằng ko chạm địch. Hình như vận may đã đến với người Pháp lần này. Nhưng đơn thuần vì VM đã mua thời gian (had bided its time); thay vì chịu tổn thất nặng khi tấn công ồ ạt lúc khởi đầu trận đánh, sđ 312 đã chọn cách để TĐ Dù rút lui từ Tư Lệ, nơi mà súng của Pháp có thể gây thiệt hại cho quân VM, và sẽ cắt TĐ này thành từng khúc để tiêu diệt. Do vậy toàn TĐ đã bước vào một cái bẫy khổng lồ giữa đèo Tư Lệ và dãy đồi đầu tiên. Cường độ của hỏa lực súng tự động đón tiếp lính Pháp - chưa từng nghe thấy trong chiến tranh Đông Dương; theo thiếu úy Trapp, chỉ huy một trung đội bọc hậu, sau này là tù binh (TB) đã thấy súng địch từ cự ly gần: cứ mỗi 10 lính VM có một trung liên, cứ 5 VM có 1 súng tự động, và rất nhiều súng tiểu liên (sub-machinegun). Trận đánh sớm kết thúc với 2 đại đội bọc hậu, họ đã bị tiêu diệt nhưng hy sinh của họ đã cứu phần còn lại của TĐ, bao gồm thiếu tá Bigeard. Hầu như liên tục chạm súng với địch, vài lần tưởng bị tràn ngập (submerge), Bigeard và lính đã chiến đấu nghiệt ngã (grimly fought) để chạy tới sông Đà. Họ đã tới đó ngày 22/10, đã vượt qua hơn 64 km đường rừng trong chưa tới hai ngày với tổn thất hơn 3/5 TĐ. Họ đã kiệt sức, mất hồn (begrim), bị sốt rét và vắt (leech) cắn, nhưng họ vẫn là một đv chiến đấu. Và họ mang họ tất cả những kẻ bị thương - đã ko bị bắt làm tù binh ở Đèo Tư Lệ.

Trong lúc đó, chiến trường chung quanh Tư Lệ có hơn 100 thương binh Pháp nằm rải rác. LM Jeandel đã ở với họ với hy vọng có thể giúp họ, nhưng đối với phần lớn họ, mọi giúp đỡ đều quá trễ. Đơn giản vì VM đã ko làm gì cho họ. VM chỉ gom thương binh, để họ nằm kế nhau trong bùn, vết thương tiếp xúc với không khí, những tay chân bị đứt do trúng đạn đã ko được chữa trị (left unattended). Họ đã rên rỉ nho nhỏ, cầu xin nước uống hay một cái chết sớm sủa. 

Một sq Pháp, bị bắt làm TB, và đã đi gần đồn này vài ngày sau đó, sau này kể lại:

"Bạn biết đó, điều này còn tệ hơn những gì tôi đã từng thấy trước đây. Toàn cảnh giống như từ tác phẩm Inferno (địa ngục) của thi hào Dante hay từ một tranh vẽ của Goya. Kẻ bị thương vẫn nằm tại chỗ như ngày đầu tiên, xen kẻ (intermingle) với kẻ đã chết vài ngày trước và những xác bắt đầu thối rửa (rot). Họ nằm mà ko ai chăm sóc, dưới mặt trời nhiệt đới, bị cắn hay ăn bởi chuột và kền kền (vulture). Tuy nhiên một số vẫn còn rên rỉ.

Trong 114 lính Dù bị thương nhẹ hay ko bị thương bị bắt làm tù binh ở Tư Lệ và tại đèo cùng tên vào ngày 20 tháng 10, 1952, chỉ có bốn người, bao gồm LM Jeandel, đã vượt qua khổ nạn trong trại tù CS để thấy ngày giải phóng của họ tháng 8.1954. 

Tổn thất của lính Dù tại Tư Lệ là điều cần thiết để giúp họ tránh thêm thiệt hại. Một đồn khác đã hy sinh để giúp cho đv của Bigeard có thêm vài giờ quý giá để nghỉ ngơi và những đồn khác có cơ may sống sót đi đến sông Đà. Định mạng đã rơi xuống đồn nhỏ Mường Chen, 33 km tây bắc Nghĩa Lộ với 80 lính Thái thuộc đại đội phụ lực quân địa phương, dưới quyền chỉ huy của trung sĩ nhứt Peyrol và ba hạ sĩ quan Pháp khác. 

Vào buổi tối 20 tháng 10, quân của Bigeard tới Muờng Chen, nằm trên một đồi nhìn xuống con đường dẫn tới sông Đà, đồn gồm một hầm ngầm (bunker) làm từ những khúc gỗ, hai trại lính nhỏ và một hầm ngầm chưa hoàn tất. Trung Sĩ nhứt Peyrol đã dùng hàng rào tre để thay thế kẽm gai.

"Hãy nhìn đây, Peyrol. Tôi có 500 lính Dù với tôi. Chúng tôi có một nhiệm vụ - cố thủ ở vùng núi này cho tới khi có viện quân cho phòng tuyến Sông Đà. Quân VM chỉ cách chúng tôi một giờ và chúng tôi cần thêm ba giờ. Ông sẽ cho chúng tôi ba giờ đó. Hai trung đội của ông sẽ giúp TĐ tôi và các đồn khác ở xứ Thái này." Bigeard nói.

"Ông sẽ có thêm ít nhứt là ba giờ, và chúng tôi có thể làm điều đó." -- Peyrol trả lời.

Peyrol 34 tuổi, chỉ có 80 lính để chống lại sđ 312 - họ sẽ ko có một bóng ma của cơ may. Và từ quê ông ở Verdun nước Pháp, hôm nay là sinh nhật của con gái nhỏ của ông. Ông đã để dành một chai champagne - tuy nhiên ko thể uống trong cơ hội này. Ông sẽ uống dịp khác, nếu còn có dịp khác!

"Bien, mon Commandant," (Chào, đích thân), Peyrol nói. 

"Cám ơn," Bigeard nói, "Tôi biết các chiến hữu của ông ko làm tôi thất vọng."

Hai người đi vào hoàng hôn, nơi mà lính Dù nằm trên mặt đất, dọc theo con đường, dựa lưng trên ba lô. Họ đã biết họ phải tiếp tục đi trong vài phút với khẩu phần và những băng đạn nặng và người bị thương trên cáng. 

Khoảng 1815 g, người lính Dù trong bộ đồ tác chiến rằn ri (mottled battle dress) đã biến dạng về hướng tây và Trung sĩ nhứt Peyrol và Trung sĩ Cheyron sắp xếp công việc (set about the business) để có được 3 giờ cho Bigeard. Các người lính thân binh/nghĩa quân (parisan) gốc Thái đang im lặng đào hố mới cho ổ súng liên thanh, đào sâu các giao thông hào, và cho thêm cát vào các bao cát đã xẹp do mưa gần đây. Dù họ ko được nghe về nhiệm vụ sắp tới, họ đã biết, bằng một cách bí mật qua đó tin tức truyền lan trong những đất nước mà hầu như ai cũng mù chữ (illiterate); rằng đám đông địch quân sẽ tới; và vì là thợ săn giỏi đã biết cách rình rập con mồi (stalk prey) từ khi họ biết đi, họ đã ước lượng cơ may sống sót của chính họ cũng chính xác như viên thiếu tá này.

Chỉ trong chưa tới một giờ sau khi lính Dù ra đi, những viên đạn cối VM đã bắt đầu dội xuống Mường Chen. Lần nữa, địch quân đã thành công khi có mặt trong tầm bắn mà ko bị phát hiện bởi các tiền đồn - thường đặt trên các đường tiến sát.  Tình báo của VM, lại lần nữa, rất xuất sắc. Mủi tấn công chánh đã nhắm vào hầm ngầm phía nam, nơi đặt những khẩu súng liên thanh của Pháp. Kế đó là một cuộc tấn công vào lô cốt chưa xây xong, đã bị chiếm sau các đợt xung phong của lính VM chỉ xài lựu đạn/thủ pháo. Đầu tiên họ làm nổ tung hàng rào thép gai và tre và giết các tổ điều khiển trung liên BAR (một loại súng trung liên khá phổ thông, sau này đã dùng trong quân đội VNCH, trước khi được thay thế bởi M-60 -- người dịch). Hàng chục lính VM đã chết hay bị thương, nhưng những đợt xung phong sau đó đã dẫm lên họ để tiến vào đồn. 

                    

Trung liên BAR, còn dùng trong QLVNCH trước khi bị thay thế, vào năm 1968, bởi đại liên M-60.

Nhưng Mường Chen, dù bị tan nát và đầy khói súng, vẫn giữ được thêm 3 giờ. Tuy nhiên, lúc 2200, tình hình trở nên vô vọng; tất cả những súng nặng hoặc là hết đạn hay bị hủy diệt và đồn này bắt đầu bị đè bẹp đơn giản chỉ vì sức nặng của lính địch rớt xuống những người lính đang núp trong giao thông hào hay các vị trí súng.  Cái chết hay việc họ bị bắt tại Mường Chen ko thể trì hoản VM được nữa. Peyrol đã quyết phá vỡ vòng vây. Nhờ đã gài mìn tại các hầm ngầm còn lại cũng như kho đạn, họ đã bắn nhanh các vũ khí để mở đường máu rút vào một con đường rừng mà trước đó họ đã chặt cây, và vì lý do này, địch quân ko biết. Tầm nhìn xa của Peyrol được đền bù; trong đêm đen, họ rành đường hơn VM và chẳng bao lâu đã biến dạng trong rừng xanh.

Khi bình minh xuất hiện, họ chỉ còn lại ba người Pháp và khoảng 40 lính sắc tộc Thái. VM đã gửi 2 đại đội để săn đuổi họ trong 12 ngày với lộ trình 200 km đường rừng, bao gồm vượt sông (càng khó khăn hơn khi trung sĩ Cheyron ko biết bơi) và leo qua những núi cao 2.400m. Binh nhì (private) Destaminil chẳng bao lâu phải đi chân trần vì chân y, chảy máu và sưng lên, ko còn xỏ vào giày được. 

Vào ngày thứ hai của cuộc rút lui, một máy bay ném bom đã phát hiện họ và giúp họ thoát khỏi một ổ phục kích của VM, dù phải chết 10 người. Ngày thứ ba, hết lương thực, những người Thái quen đi rừng này đã tìm được ít bắp và rể khoai mì để lót dạ. Cứ mỗi lúc dùng quân, Peyrol đã cố gắng trong vô ích để liên lạc một đồn Pháp nào đó bằng máy truyền tin SCR-300, kỳ diệu thay, vẫn còn chạy tốt. Tuy nhiên, các đồn Pháp còn lại ở vùng tây bắc này đều nằm ngoài tầm của máy này. 

                 

Máy truyền tin (radio set) SCR-300

Một buổi tối, một giọng có vẻ Pháp trả lời họ và chỉ tọa độ bãi thả dù ở phía bắc con đường họ đang đi. Một cuộc tranh cãi xảy ra: liệu đó là thông điệp từ một trong những nhóm viễn thám cảm tử  (GCMA) hoạt động thường xuyên sau phòng tuyến của VM - và họ thường lập một sân bay nhỏ và bí mật để gửi kẻ bị thương và nhận tiếp tế; hay thông điệp này là một cái bẫy của VM, dùng để dụ máy bay Pháp vào để bắn rơi hay dụ máy bay thả dù tiếp tế cho VM thay vì cho lính Pháp? Peyrol đã quyết định: ko trả lời cuộc gọi và cũng ko cho kẻ kia biết họ là ai. 

Sau này mới biết ông đúng, vì đó là một bẫy của VM.

Gần Bất-Chiến, chỉ còn một rặng núi nữa là tới sông Đà, họ suýt rơi vào nơi đóng quân của một trung đội VM. Họ gần như chết cóng trong 5 giờ, chờ đến khi VM nhổ trại, trước khi tiếp tục đi. Giờ đây, suy yếu bởi đói, khát, và kiết lỵ, những người sắc tộc Thái chỉ là những cái bóng rách rưới (ragged shadow), loạng choạng cùng đi (staggering along), và nối kết nhau ko gì khác hơn là quyết tâm nghiệt ngã (grim) đi tới sông Đà. 

Ngày 5 tháng 11, 1952, họ đã vượt qua đỉnh núi cuối cùng, bầu trời xanh trở nên sáng hơn khi tán lá (tree canopy) thưa hơn và kế đó, người lính tiên phuông la lên: "La Rivière Noire" (Sông Đà). 

Họ phải tuột núi khá dốc để tới bờ sông; và trong rừng, tuột xuống thì gay go hơn leo núi. Những người lính mệt đứt hơi (dead-tired) thường té nhiều hơn đi nhưng lúc 1600, họ đã tới đáy của thung lũng. Họ gặp một thổ dân Thái từ làng gần đó.

"Các ông ko thể vượt sông ban ngày và nên trở về rừng chờ đêm xuống. Nhiều toán tuần tiểu VM dọc theo sông nhưng người của các ông ở bên kia. Tôi sẽ trở lại với gạo và chỉ đường."

Y có đáng tin ko? Lính Thái ko biết: VM thưởng nhiều tiền (pay high premium) cho ai bắt được lính Pháp đi lạc (straggler), đặc biệt là vũ khí và máy truyền tin của họ. Giải thưởng vì giúp VM bắt được đám lính này có thể làm cho anh thổ dân này giàu có suốt đời. Nhưng Peyrol và đám lính quá yếu mệt để lo sợ.

Khi đêm xuống, người này trở lại với một rổ đầy nếp chín, thức ăn tiêu chuẩn của dân miền núi. Đám lính ăn ngấu nghiến nếp, uống nước bùn của sông. Tuy nhiên, người này lại nói Peyrol ko nên vượt sông đêm nay.

"Người Pháp ko còn ở gần sông và VM cũng tuần tiểu bên kia sông. Nhưng ngày mai tôi sẽ chỉ nơi để vượt qua. Tôi sẽ tìm bè. Các ông ko thể vượt sông vì nước chảy siết."

Đám lính gần như khóc vì thất vọng: họ quá gần nơi an toàn nhưng lại ko thể đạt tới. Nhưng họ ko có chọn lựa. Một lần nữa họ ngủ trên đất rừng lạnh và ẩm. Ngày kế, một máy bay L-19 bay lòng vòng trên sông. Peyrol và lính đi ra chỗ trống, la lên và vẩy cờ Pháp lấy từ đồn Mường-Chen. Máy bay xuống thấp, thả một cái hộp có hàng chữ: "Đã thấy bạn. Cất cờ đi và ẩn trốn. Sẽ báo quân bạn ở đối diện bạn. Chúc may mắn."

Tối hôm đó, Peyrol và lính đã vượt sông trên các bè tạm làm từ lều của dân mà họ thấy gần bờ sông, nhờ ở người thổ dân tốt bụng này. 

Bóng đêm đổ xuống rừng gần điểm mà họ tấp vào bờ sông. Họ đã nghe giọng nói Pháp quen thuộc; đó là một toán tiếp cứu từ đồn Mường-Bu gần đó - được báo động bởi L-19. Peyrol và lính ngả gục xuống đất, khóc như trẻ con, ko thể bước đi. Họ được xem như đã chết bởi mọi người và Bigeard đã yêu cầu truy thăng cho họ vì đã chiến đấu anh dũng khi đoạn hậu ở Mường Chen. 

Trong 84 người bảo vệ Mương Chen, chỉ có 16 tới được sông Đà. Và Trung sĩ nhứt Peyrol vẫn còn giữ chai champagne." 


Dịch từ: Street without Joy của Bernard Fall, trang 63 - 76. 

San Jose ngày 14 Oct 2020.

Tài Trần