Showing posts with label đại tá honeycutt. Show all posts
Showing posts with label đại tá honeycutt. Show all posts

Friday, December 25, 2020

 Chương 9 - Cuộc hành quân lục soát đầu tiên


- "Xin đừng để con tôi bị thương. Làm ơn, làm ơn, chăm nom nó. Nó là tất cả của tôi."-- Thư của bà mẹ của một binh nhứt gửi trung đội trưởng của y.

- Hai trực thăng Cobra, do lầm lẩn, đã tấn công bằng hỏa tiển vào BCH của TĐ 3/187, gây hai chết và trên 10 bị thương nặng nhẹ. 

- Trực thăng C and C của tướng Smith, phụ tá hành quân của sđ 101 Dù đã xuống bãi đáp trong lúc bị pháo kích bởi cối csbv để tải thương.  

===

Phần trước: Sau khi đổ quân xuống gần Động Ấp Bia, đ.đ. Bravo của đại úy Littnann được lịnh của trung tá Honeycutt, TĐ trưởng của TĐ 3/187, phải chiếm đỉnh núi này để ông dời BCH TĐ lên đó. Ở phần đầu của đoạn đường 1.000 mét này, Bravo đã chạm địch và bị thương mấy người. Sau khi kêu hai máy bay Skyraider oanh tạc, đốt cháy khoảng 100 mét của đường mòn, đ.đ. đã dừng quân và nghỉ qua đêm. 

Sau đây là phần kế.

================.

. . . 

ĐẠI ĐỘI BRAVO CỦA ĐẠI ÚY LITTNANN TIẾP TỤC LỤC SOÁT

"Trung tá Honeycutt đã ko coi trọng cuộc chạm súng nhỏ này. Dù ông ko có cách nào để biết chắc chắn, ông đã giả định rằng quân CSBV mà đ.đ. Bravo đã đụng là một toán trinh sát (trail watcher) nhỏ. Honeycutt đã đoán chừng (figure) rằng những lính csbv này, khi thấy trực thăng, đã quyết định chạy xuống núi và dọ thám bãi đáp. Tuy nhiên, họ đã đụng đầu với trung đội dẫn đầu của đ.đ. Bravo. Đó chỉ là một giả thuyết, nhưng ông ko có lý do nào để giả định điều khác. Dù gì đi nữa, ông vẫn muốn BCH của ông có mặt trên Động Ấp Bia vào giờ đầu của buổi chiều và gọi máy ra lịnh cho đại úy Littnann tiếp tục tiến lên núi. 

Đại đội Bravo của đại úy Littnann đã di chuyển một giờ rưởi sau bình minh, với trung đội 1 của trung úy Boccia đi đầu, kế đó là trung đội 4, và BCH đ.đ., và cuối cùng là trung đội 2. Binh nhì Terry Gann là khinh binh 1 của trung đội 1, và Boccia đi thứ ba. //Nói thêm: Theo kỹ thuật viễn thám Mỹ, mỗi toán dò đường (pathfinder) thường là 6 người: người đi đầu là point man (tạm gọi khinh binh 1), người kế là slack man (tạm gọi khinh binh 2), kế đó là trưởng toán, kế đó là người mang máy, kế đó là một người mang M79, người đi cuối cùng là toán phó--có nhiệm vụ xóa mọi dấu vết và có cấp bậc chỉ thua toán trưởng. Dù ko phải là viễn thám nhưng trung đội của Boccia khi được lịnh dẫn đầu đại đội cũng sắp xếp như vậy--người dịch)//. Lúc 0747 giờ, khinh binh Gann đã đi xuống một yên ngựa và đang bắt đầu đi lên bằng cách bò từ từ. Con đường mòn trước mặt đầy các mảnh vỡ như--cây cối đứt gẫy (splintered), những mảnh vỡ của tre gẫy, lá cọ (palm frond), và giây leo (tangled vine) - và mùi khó thở của thuốc súng (gagging smell of cordite) vẫn còn vương vấn trong không khí. 

Gann từ từ bò qua các mảnh vỡ này. Có nhiều lổ lớn ở tán lá (canopy), và các tia nắng buổi sáng chiếu qua các lổ này. Gann đã bò khoảng 50 m, nhưng cuối cùng đã ngừng vì một bụi tre lớn, do trúng bom đã nằm vắt ngang con đường. Y đẩy một số mảnh vỡ này sang một bên và đã thấy rằng cây tre khi ngả đã lộ ra một đường hầm đi xuống giữa tâm của đường mòn. Y nhìn cửa hầm và nhìn lại Boccia: "Ông muốn tôi làm gì?"

Boccia tiến lên cạnh khinh binh 2. "Hãy kiểm tra nó."

Gann bò và lát sau gọi vọng về, "Tôi thấy vài xác ở đây."

Boccia kêu sáu binh sĩ tiến về trước và canh giữ hai bên của đường mòn, và bò theo khinh binh Gann.

Có ba xác CSBV nằm cách cửa hầm khoảng 5 mét và gần đó có thêm một xác. Tất cả đều trẻ, mặc đồng phục mới tinh, ko có quân hàm, với tóc ngắn, kiểu tân binh. Nằm gần họ là hai AK47, một phóng lựu B40 và sáu đạn phóng lựu.

Boccia quan sát kỹ lưỡng các xác này. Y giả định rằng họ mới đến khu rừng núi này vì ko có vết cắt do cây rừng hay tre. Họ đều bị bắn vào lưng bởi đại bác 20 ly, có lẽ trong khi cố gắng chạy lên núi thì bị máy bay Skyraider tấn công bằng đại bác 20 ly. 

Trong túi áo của một người, có vẻ là một sĩ quan, Boccia thấy một ảnh của người này và vợ và một xấp tài liệu. Trong ba-lô của một kẻ khác, Boccia thấy một xấp những thư chưa gửi. Dĩ nhiên đây là thư gửi về gia đình, và Boccia cảm thấy buồn mang mác khi biết rằng gia đình của người này sẽ ko bao giờ nhận thư. Lúc đầu Boccia có ý nghĩ sẽ giữ các thư này và ngày nào đó sẽ gửi đi, nhưng cuối cùng y cột chung với các tài liệu trên đây và gửi về bch của TĐ.

Sau khi nghỉ một lát, Boccia cho chuyên viên bậc 4 Phil Nelson đi khinh binh 1 và binh nhứt Nate Hyde đi khinh binh 2. Gann là một khinh binh giỏi nhưng Nelson và Hyde là hai kẻ dò đường (tracker) kinh nghiệm nhứt của trung đội. Cả hai đều lớn lên ở khu vực nông thôn, Nelson ở bang Virginia và Hyde ở Louisiana, và trong thời gian qua đã có khả năng lạ lùng (uncanny) là thấy vật trong rừng mà người khác ko làm được.

Lúc 0913 giờ, Nelson bắt đầu trèo lên dốc núi 25 độ này. Ở một khoảng ngắn từ khu đã bị ném bom trước đó, y đã khám phá một số vết máu, tất cả đều hướng lên núi. Một lát sau, y lại thấy một đống băng cứu thương nằm giữa đường mòn này, rồi dấu chân người, và cuối cùng, xa hơn một chút, một đống băng cứu thương khác. 

Nelson và Hyde ngừng lại để xem xét, và Boccia bò lên.

"Trung úy, hãy nhìn xem," Hyde nói. "Chúng đã chỉ đường cho chúng ta."

"Có điều gì đó bất thường ở đây, trung úy, " Nelson nói thêm.

Họ đã nói đúng, Boccia suy nghĩ. Boccia đã nhiều lần biết rằng, ngay cả khi kéo nhiều xác chết và bị thương, Bắc quân ko để lại dấu vết gì kể cả một nhánh cây gẫy.

Lúc đó hiệu thính viên gọi y. Đó là đại úy Littnan trên máy. "Tại sao anh ko thể đi nhanh hơn?

- Tôi đã cố gắng đi nhanh.

- Nhưng tôi thấy anh đi rất chậm.

- Tôi đi chậm vì tôi nghĩ có gì đó ở đây.

- Tiểu đoàn trưởng (TĐT) ở sau lưng tôi. Ông ta muốn biết tại sao anh đi chậm. 

- Tôi đã cố gắng hết sức.

- Tôi hiểu. Nếu anh ko chắc chắn điều gì phía trước thì cứ từ từ tiến lên. Nhưng tôi cho anh biết TĐT đang theo dỏi.

- Tôi hiểu.

Nelson lần nữa di chuyển rất chậm (at a creep) và lần nữa nhích từng tấc trên đường mòn chật hẹp vì đầy mảnh vỡ cây rừng. Y đã vượt 100 m trong một giờ. Tới rìa của một đồi nhỏ (knoll), y ra dấu cho trung đội đứng lại và ra dấu kêu Boccia. Có một KHOẢNG TRỐNG NHỎ trên đỉnh của đồi nhỏ này, và ngay giữa nó, là một ba-lô đầy cơm vắt (rice ball), một súng AK47 mới tinh còn trong túi da, một chồng kẹp đạn, và hai lựu đạn TC. 

Boccia suy nghĩ rất nhiều: "Tại sao Bắc quân, luôn luôn cẩn thận với trang bị của họ, nay để lại những thứ này để làm gì?"

CÁC TÀI LIỆU NÓI GÌ?

Trong khi đó, tại bch TĐ, Honeycutt và đại úy Charles Addison, ban 2, đang quì gối cạnh các máy truyền tin và đọc các tài liệu - mà trước đó đã lấy từ xác một cán binh.

Honeycutt cho gọi Vinh, một cựu hồi chánh viên nay làm thám báo (Kit Carson Scout) của TĐ. Khi y đến, ông đưa tài liệu và nhờ y đọc.

Honeycutt ko thích Vinh hay chánh sách dùng cựu cán binh CSBV làm thám báo. Theo ông, kẻ đã phản bội đất nước của y cũng sẽ phản bội nước khác. Tuy nhiên, vì muốn biết tài liệu nói gì trước khi gửi về lữ đoàn, ông đã gọi Vinh.

Vinh bắt đầu đọc rất chậm. Khi được khoảng nửa trang giấy đầu tiên, mắt y mở to với kích động. Ở trang hai, y đọc to bằng tiếng Việt, và tới trang ba, y đã nói lảm nhảm trong kích động (babble excitely) với Honeycutt và Addison.

"Chuck, y nói cái gì?"

Addison dùng rất ít tiếng Việt mà ông biết để hỏi Vinh, nhưng tên cựu HCV này có vẻ ko đáp ứng. Mặt y xám lên (ashe) vì sợ, y ko trả lời Addison và tiếp tục lảm nhảm bằng tiếng Việt, trong lúc lắc đầu liên tục. 

"Chuck, thằng này nói gì?"

"Tôi ko biết."

"Bảo nó bình tỉnh lại."

Addison lại hỏi Vinh và khuyên y lấy lại bình tỉnh và cuối cùng Vinh nói, nửa Mỹ nửa Việt.

Addison nhanh chóng thông dịch. "Y nói rằng những kẻ mà chúng ta đã giết là lính của trung đoàn 29 csbv - có biệt danh là Niềm Tự Hào của HCM. Có thể họ là một trong những trung đoàn giỏi nhứt của quân csbv. Vinh cũng nói rằng 'họ là dũng sĩ diệt Mỹ' và chúng ta nên rút ra khỏi khu này vì cả trung đoàn đang ở chung quanh đây. Y nói 'Nhiều, nhiều cán binh khắp nơi. Hàng trăm cán binh.' "

"Nói với thằng chó đẻ này rằng tôi rất vui khi biết họ chung quanh đây. Nói với y rằng tại sao chúng ta đến đây-- là để giết bọn csbv-- và nếu chúng ở quanh đây, chúng đã cho chúng ta một cơ hội tốt." Honeycutt nói. 

Khi Addison dịch lại câu nói của Honeycutt, Vinh nhìn trung tá một cách nghi ngờ, chỉ vào tài liệu, và lại bắt đầu nói lảm nhảm.  

HYDE LÀM KHINH BINH

Ở trên đường mòn, đại úy Littnan cho đ.đ. ngừng 15 phút ăn trưa, và lại chờ thêm 15 phút vì một cơn mưa đột ngột. Tuy nhiên, lúc 1220 giờ, đ.đ. lại di chuyển, lần này Hyde làm khinh binh. Khi y dẫn đ.đ. từ từ lên núi, địa thế bắt đầu thay đổi từ từ. Rừng tre từng bám sát hai bên đường mòn nay từ từ biến dạng. Thay vào đó, những cây gỗ teak khổng lồ, nhiều cây cao hơn 100 feet hay 30 m, bắt đầu xuất hiện khắp nơi. Những cây này to lớn, thô tháp (gnarled), có thân và ngọn đan với nhau trên đường mòn, tạo nên một mái vòm (vaulted ceiling). Tầm nhìn trước đây chỉ nhìn trên dưới một mét nhưng nay, ở nhiều chỗ, từ đường mòn, Hyde có thể nhìn xa hơn 50 m. 

Hyde tiếp tục bò, tốc độ như sên. Bực bội vì quá chậm, đại úy Littnann gọi Boccia và bảo trung đội ngừng lại. Theo sau bởi trung úy Denholm, Littnann chạy nhanh lên đường mòn tới khi gặp Frank Boccia.

"Frank, anh phải nhanh lên," Littnann nói. "Chúng ta phải nhanh hơn."

"Thưa sếp, như tôi đã nói, tôi đang cần thời gian. Ông đã thấy đường mòn. Ông đã thấy những gì chúng tôi vừa thấy. Tôi cảm thấy rằng sẽ ko thoải mái nếu tiến nhanh hơn."

"Tôi ko cần biết anh cảm thấy gì, Frank," Littnann nói, ko dấu sự giận dữ. "Anh phải tiến nhanh hơn vì TĐT sau lưng tôi, và ổng nói chúng ta phải ở núi này lúc 15:30 giờ. Anh nghe tôi nói ko?"

"Vâng, thưa sếp."

"Vậy tiến lên."

Nghe lịnh của Littnan, hiệu thính viên của Boccia, đang ngồi dựa gốc cây, vụt đứng dậy và lấy máy truyền tin. Tuy nhiên, trong khi đeo máy vào người, một dây đeo bị đứt và máy rớt xuống đất. Vì thấy anh lính truyền tin ko sửa được dây đeo, đại úy Litnann nói với Boccia, "Frank, tôi ko thể chờ anh," và quay sang trung úy Denholm, "Trung đội của anh thế trung đội của Boccia."

Boccia cho lính tạt ngang hông đường mòn để lính của Denholm vượt qua trong im lặng. 

TRUNG ĐỘI TRƯỞNG DENHOLM CHO STEVENS LÀM KHINH BINH

Denholm cho binh nhứt Stevens làm khinh binh 1 và chuyên viên bậc 4 Rosenstreich làm khinh binh 2, kế đó là chuyên viên bậc 4  McCarrell và kế đó là y. Dù tới phiên Stevens làm khinh binh, Denholm rất ngần ngại khi để Stevens làm như vậy. Anh lính trẻ này thường xuyên sợ sệt và lo âu và có lúc đã phản ứng vụng về lúc chạm địch. Hơn nữa, Denholm đã nhận thư của mẹ của anh chàng này vài ngày trước, trong đó có câu "Xin đừng để con tôi bị thương. Làm ơn, làm ơn, chăm sóc nó. Nó là tất cả của tôi."

Denholm biết rằng y ko thể để tình cảm xen vào công việc chỉ huy trung đội, nhưng y cũng ko thể ko bị tác động bởi lá thư này. Tuy nhiên, vì công bằng, y ko có chọn lựa nào khác là để Stevens làm khinh binh khi tới phiên nó. 

Đó là một quyết định mà Denholm đã hối tiếc gần như tức thời. Stevens đã tiến một cách ngập ngừng, và sau khi bò được 10 m đã ngừng. Y nhìn ngược lại Denholm, vẻ mặt đầy sợ hãi, nhưng Denholm ra dấu cho y tiến lên. Stevens bò thêm khoảng 5 hay 10 m rồi quì xuống. Lần này y ko nhìn ra sau.

Denholm vội bò tới y. "Cái gì vậy?"

"Tôi sợ lắm," Stevens nói lắp bắp (mumble).

"Lấy lại bình tình," Denholm nói, vừa đặt tay lên vai Stevens. "Chúng ta ko vội vả. Không có gì phải sợ." Denholm xô nhẹ y về phía trước. "Đi. Chúng ta tiếp tục di chuyển."

Denholm trở về phía sau và Stevens bắt đầu bò về phía trước. Tuy nhiên, mới chỉ vài mét, một tên bắn sẻ ở đâu đó nổ súng vào trung đội. Ba hay bốn viên cắt ngang ngọn cây, và mọi người nhào xuống hai bên đường mòn.

Rosenstreich và McCarrell đã phản ứng nhanh chóng. Chỉ sau vài giây, cả hai đã dùng M16 bắn vào cây rừng 2 bên. Họ thấy tên bắn sẻ từ gốc cây ven đường, chạy nhanh lên núi. 

Denholm gọi máy cho Littnann và nghe lịnh: "Tiếp tục di chuyển!"

Stevens, lại lần nữa ngần ngại (balk) khi được lịnh tiến lên. "Tôi ko thể," y nói, tay y rung, hơi thở giật từng cơn. 

"Anh phải tiến lên," Denholm quát to. "Hãy tiến lên!"

Nét mặt Stevens nhăn nhó và có vẻ sắp khóc , nhưng cuối cùng nó quay chung quanh và bắt đầu tiến lên. Tên bắn sẻ nổ súng nhưng ko trúng.

Stevens nhảy khỏi đường mòn và núp sau một khúc cây, trong khi Rosenstreich và McCarrell nổ súng vào hàng cây. Tên bắn sẻ ngừng bắn lập tức.

Denholm bò tới và thúc dục Stevens. "Hãy tiến lên, Billy."

"Tôi ko thể tiến thêm. Tôi sợ quá. . . Tôi ko thể. . . ", Stevens nói.

ROSENSTREICH THAY THẾ STEVENS

Rosenstreich nói với Denholm. "Để tôi làm khinh binh."

"OK, Rosey," trung úy Denholm nói. Y nhìn Stevens rất lâu và cuối cùng nói với giận dữ, "Đi ra đằng sau."

Stevens vụt chạy về sau (scamper) như con chó bị quất roi, và Denholm đặt tay lên vai Rosenstreich. "Cẩn thận, Rosey."

"Đừng lo cho tôi, trung úy, tôi biết tôi phải làm gì."

"Tôi biết."

Rosenstreich đã bắt đầu tiến lên lúc 13:00 giờ: khi thì bò khi thì đi và trong 30 phút được 100 m. Gần một cây teak lớn, y ngừng và dấu cho trung đội ngừng. Y chui vào bên cạnh đường mòn, dùng tay sờ soạng một nhúm tre và giây leo cho tới khi đụng cái gì đó, y ra dấu cho McCarrell và Denholm bò tới.

"Hãy nhìn," Rosenstreich nói, trong lúc cầm một dây điện có vỏ dầy, "nếu có dây điện thoại chạy qua đây, trên kia phải có đơn vị lớn của địch."

Denholm quan sát kỹ sợi dây và thấy dây gắn với một cây nhỏ bằng một miếng cách điện. Y thấy dây chạy về phía đông bắc tới đỉnh của Động Ấp Bia và thẳng về về phía tây xuống một thông thủy (draw) lớn ở bên phải của đường mòn và hướng tới Lào. Denholm gọi Littnann và Littnann nói sẽ lên xem.

Trong khi Litnann đi theo đường mòn để xem dây điện thoại, trung tá Honeycutt đang chờ đại úy Fredericks, sq tình báo của lữ đoàn, với bản dịch đầy đủ của tài liệu đã kể ở trên. 

"Đại úy, anh thấy điều gì?" Honeycutt hỏi.

"Thưa trung tá," Fredericks nói, "có nhiều cộng quân ở nơi nào đó trong khu vực này -- to chuyện rồi!"

"Tôi đã nghĩ tới điều đó. Nhưng chúng ở đâu?

"Tôi ko biết. Tài liệu ko nói. Chúng chỉ nói đv hoạt động ở khu này là trung đoàn 29 csbv."

"Vinh đã nói điều đó."

"Theo tôi ước tính, chúng khoảng 1.200 đến 1.800 tên, tăng cường bởi vũ khí nặng. Chúng rời Hà Nội gần đây và có lịnh rõ ràng là tấn công một vài đv Mỹ trong vùng núi này. Sau đó, chúng có thể xâm nhập xuống đồng bằng và tấn công Huế. Tài liệu ko nói NƠI và KHI NÀO chúng sẽ tấn công, nhưng điều rõ ràng là chúng sẽ đánh lớn."

"Tốt," Honeycutt trả lời. "Đấy là điều tôi cũng đang trông chờ-- một trận đánh lớn!"

ĐẠI ĐỘI ALPHA 

Trong khi đ.đ. Bravo lục soát về hướng đông nam tới đỉnh của Động Ấp Bia, đ.đ. Alpha cũng đi theo cùng sống núi nhưng hướng ngược lại, theo hướng tây bắc tới biên giới Lào và Sông Trung Phạm. Khi sống núi này hạ thấp cao độ khi tới thung lũng Sông Trung Phạm, đ.đ. Alpha chia thành từng trung đội và bắt đầu tiến tới biên giới theo ba mủi. Một trong các mủi này là trung đội 1 của trung úy Frank McGreevy. Họ bắt đầu đi xuống thung lũng của sông này lúc 08:00 giờ, và ngay từ lúc bắt đầu tiến quân đã khó khăn. Vì sợ phục kích, vị trung úy 24 tuổi này đã tránh những đường mòn và cho trung đội băng đồng, với khinh binh mở đường bằng dao rựa. Vì vậy, họ phải tốn khoảng 4 giờ để đi từ sống núi xuống thung lũng của sông này. Tới đây trung úy cho trung đội đổi về hướng bắc và bắt đầu lại băng đồng xuống giữa thung lũng này. 

Trung đội di chuyển khoảng 3 giờ vô sự, cho tới khoảng 14:00 giờ, khi khinh binh, trong lúc chặt một cụm dây leo và lách qua một bụi tre dầy (stand of bamboo), đã lọt ngay giữa một con đường lớn của bắc quân. 

SIÊU XA LỘ

McGreevy, khinh binh 1 và 2 quan sát con đường. Lính Mỹ gọi nó là "siêu xa lộ" và dù ở Việt Nam 11 tháng nhưng McGreevy chưa thấy một con đường như vậy. Mặt đường nện rất cứng và rộng đủ cho xe tải chạy. Phía trên, cây rừng đan vào nhau tạo thành mái che, khiến ko thể thấy từ trên không. 

McGreevy cảm thấy một cơn lạnh chạy dọc xương sống và nghĩ: "Chúng ta đang trên đất của chúng. Phải có nhiều người mới làm con đường như vậy. Phải có nhiều người!"

Đi theo con đường, họ thấy nó chạy thẳng hướng tây tới Sông Trung Phạm và hướng đông tới phía rìa phía đông của Động Ấp Bia. McGreevy đặt mỗi tiểu đội ở một bên của siêu xa lộ này và một tiểu đội đi theo con đường, và cả trung đội đi về hướng tây tới sông này. Con đường đi thẳng vào một cụm các túp lều và ở phía sau các lều là một hầm trú ẩn hay bunker có nhiều gà con, quần áo và đạn dược. Lửa còn cháy trong bếp chứng tỏ ai đó đã ở đây và vội vả rút lui. 

Chỉ huy bởi trung úy Daniel Bresnahan, trung đội 3 của đ.đ. Alpha đã lục soát xuống Sông Trung Phạm, xa hơn về phía nam. Trong khi McGreevy lục soát siêu xa lộ, trung đội 3 tiến về phía bắc dọc theo một đường mòn song song với sông này. Cũng như McGreevy, họ cũng ý thức rằng họ đang ở giữa một căn cứ địch. Dù chưa chạm súng, nhưng có nhiều dấu hiệu địch có mặt khắp nơi. 

KHINH BINH JAMES MAYNARD

Khoảng 14:20 giờ, trung đội 3 đã quẹo về hướng tây và bắt đầu hướng về con sông này. Chuyên viên bậc 4 James Maynard làm khinh binh 1, chuyên viên bậc 4 Michael Vallone làm khinh binh 2. Khoảng 50 mét sau đó, Maynard đột nhiên la lên "VC", và một loạt súng liên thanh cắt ngang cây tre và cỏ voi ở hai bên của trung đội.

Mọi người trong trung đội 3 đều nằm sát đất trừ khinh binh 2 Vallone: y đã bò về phía phải khoảng 20 mét để bọc suờn kẻ đã bắn. Khi y nhìn lên ngọn của vài cây tre, y đã thấy một lính địch đang đưa khẩu B40 lên vai. Vallone lập tức nổ súng. Tên địch ngả về phía trước và viên đạn nổ ngay chân y. Một tiếng nổ vang dội và Vallone thấy các phần của tên này rải rác khắp nơi. 

Cùng lúc, Maynard và hai người khác xung phong vào vị trí địch ở xa hơn trên đường mòn. Hai lính CSBV nhảy khỏi vị trí và bỏ chạy. Maynard đã quạt một loạt đạn M16, nhưng một tên đã chạy thoát vào rừng. Trung đội 3 theo dấu máu trong khoảng năm phút, nhưng, do sợ phục kích, cuối cùng ngừng lại và trở lại đường mòn. 

Vài phút sau đó, trung úy Bresnahan cho trung đội 3 lục soát đường mòn khác, hướng về sông này. Lần này Maynard và Vallone ko còn làm khinh binh của trung đội; Vallone đã lo lắng (rattle by) vì cuộc đụng độ vừa rồi, và y đã nghĩ rằng đi ở cuối hàng quân sẽ giúp y có sự an bình. Y đã lầm. Trung đội 3 đã di chuyển khoảng 100 mét, và khi nhìn xuống một đường thông thủy ko sâu lắm ở phía trái, y đã thấy một lính csbv ở khoảng cách 20 mét. Tên này đang quỳ gối một chân và đang lắp đạn cho khẩu B40. Nhắm kỹ, Vallone bắn năm tới bảy viên. Đạn trúng túi đạn và làm 2 hay 3 viên B40 nổ một lúc. Và tên lính bắc quân này đã tan xác.

Nửa giờ sau, trung đội 3 đã tới sông này. Cũng như trung đội 1, họ đã khám phá một số lều và có lẽ là trạm trung chuyển (way station), nhưng địch đã nhanh chóng bỏ chạy.

Trên núi, đại úy Littnan đã kiểm tra dây điện thoại và gửi một tiểu đội từ trung đội 2 đi theo dây này, dây chạy theo đường thông thủy để xem nó đi tới đâu. Lúc 14:00 giờ khinh binh Rosenstreich lại bắt đầu leo dốc. Y di chuyển thận trọng. Khác với Stevens, y rất chuyên nghiệp. Y đã sợ, nhưng y đã học cách làm chủ nỗi sợ hãi. Y di chuyển chừng bước, kiểm tra từng tảng đá, từng lá cọ, từng cành lá thấp, từng khúc gỗ mục nát. Thỉnh thoảng y ngừng lại và gọi McCarrell hay Denholm để cùng y quan sát và bàn luận với hai người này, nhưng sau đó y lại tiếp tục tiến bước. 

Lúc 15:00 giờ, tên bắn sẻ lại nổ súng. Đường đạn đi cao và Rosenstreich đã đáp trả bằng cách quét một băng đạn vào những cây phía trước. Y lại lắp đạn và tiếp tục bắn. Để súng ở bán tự động, y đi bộ chầm chậm và bắn từng phát một (snap off shots) ở các vị trí như - bụi cây, bụi tre, hay cỏ voi, tất cả những gì mà một người có thể núp. 

Trong khi Rosenstreich đang bắn, một lính bắc quân xuất hiện ở một hố cá nhân ở giữa đường mòn và, với khẩu AK47 để tự động, đã bắn trúng ngực anh khinh binh này. Loạt đạn đã khiến Rosenstreich ngả vật xuống đường mòn. Cùng lúc một lính Bắc quân xuất hiện từ một bunker xa hơn trên đường mòn và bắn B40. Quả đạn đã trúng ngực McCarrell, nổ tung, và làm nổ quả mìn claymore mà khinh binh thứ hai này để trong túi vãi đeo vai. Tiếng nổ đã phá nát thân thể của McCarrell và khiến Denholm văng xa 10 feet. Denholm bị ù tai, ngả quỵ (tumble to his feet) và bất tỉnh, sau đó bò về phía trước. Y biết rằng y đã trúng nhiều miểng B40, nhưng ko thấy đau. Bằng trực giác, y la lên,"Lấy khẩu 60 ly!"

Vừa bò, Denholm tiến về phía trước, vừa nghĩ rằng, "Tôi phải làm điều gì. Điều gì. Bất cứ điều gì."Tai y vẫn còn ù, và y đã cảm thấy giống như đầu bị đập bởi một gậy bóng dã cầu (ball bat). Đại liên M60 quét đạn vào hàng cây, và B40 bắn trả. Mọi thứ gần như điên cuồng. Denholm bò qua nơi mà McCarrell và Rosenstreich đã gục ngả. Rosenstreich đang dựa vào một cây lớn ở bên trái của đường mòn. Y đang thở hổn hết và chết từ từ. Denholm cố gắng tháo ba-lô khỏi lưng của Rosenstreich để y có thể nằm ngửa trên mặt đất nhưng ko được. Y phải rút con dao Bowie, một loại dao đi rừng, để cắt dây đai của ba-lô. Y để Rosenstreich nằm cạnh cây này, và sau đó vài giây đã qua đời. Viên trung úy đặt tay lên đầu Rosenstreich và suy nghĩ trong giận dữ: Chúng đã giết lính tôi! Bọn khốn kiếp!

Trong cảnh hổn độn này, y lại hét lên, "Lấy khẩu 60 nhanh lên!"

Nghe lịnh, chuyên viên bậc 4 Terry Larson phóng nhanh về phía trước, bắn vài quả. Chuyên viên bậc 4 Donald Mills, xạ thủ M60, vừa chạy theo y vừa bắn. Cách đó 10 mét, tên Bắc quân đã giết Rosenstreich lại xuất hiện và bắn trúng ngực Mills. Mills ngả xuống sau một khúc cây, nằm đó vài giây, sau đó đứng dậy và hét lên,"Thằng chó đẻ đã bắn tôi, thằng chó đẻ chết tiệt này đã bắn tôi!" Mills đã nhặt lại khẩu M60, nhưng khám phá rằng súng kẹt đạn. Y chụp khẩu M16 của Larson và tiến lên đường mòn, và dù gần 10 vết thương trên ngực, đã đi tới hố cá nhân của tên bắn sẻ và bắn một loạt đạn vào tên này."Tên khốn kiếp nhầy nhụa này (You slimy bastard)", y vừa bắn vừa hét. Khi súng hết đạn, y ném súng và loạng choạng đi trở lại. 

Đằng sau một cây gần Rosenstreich, Denholm có một túi lựu đạn và ném liên tục vào các vị trí địch. Sau đó y thấy trung sĩ nhứt William Murtiff của đại đội, và trung sĩ Louis Garza của trung đội 4, và một toán lính đang cố gắng tiến lên, dọc theo phía phải của sống núi. Họ vừa bắn và tiến chậm chạp. Ở bên phải của đường mòn, có 2 hay 3 người bị thương. Một y tá chạy đến cứu họ nhưng bị trúng đạn. Denholm chạy nhanh tới giữa đường và nằm xuống, sau đó bò tới một kẻ bị thương khi một lính Bắc Việt đột ngột xuất hiện từ một hố cá nhân ở bên phải của đường mòn. 

Tên lính bắn một loạt AK47 và bỏ chạy: một viên trúng nón sắt và viên khác làm bể kính cận của Denholm. Denholm chuyển nhanh về bụi cỏ voi bên phải. Y ném hai quả về hố cá nhân này nhưng ko kết quả. 

Denholm vừa bò vừa kiếm hố này.

Cách đó chưa tới một mét, núp kỹ trong một bụi cỏ tranh, tên lính csbv này lại xuất hiện từ một hố cá nhân. Tên này nhìn xuống đường mòn để tìm mục tiêu, đạn đã lên nòng. Denholm định giết tên này, nhưng sựt nhớ rằng ko biết bỏ súng ở đâu; nhưng y đã nhanh chóng rút dao Bowie và đâm mạnh vào họng tên lính bắc quân. Dù bị thương nặng, tên lính này đã biến mất. Denholm bò trở lại trung đội.

Ở 50 mét phía dưới đường mòn, đại úy Littnann đang đứng kế hiệu thính viên hay RTL. Trong năm phút, y nghe súng nổ ở phía trên nhưng ko biết điều gì xảy ra. Y đang quay số để nói chuyện với trung đội trưởng Denholm thì thấy một binh sĩ lùn và mập (stocky) mang kiếng cận, chạy nhanh theo đường mòn về phía bch của đại đội. Người binh sĩ, là Stevens đã kể ở trên, chạy qua, Littnann định bắt lại nhưng ko kịp nên la to, "Ai đó chận tên này!"

Sau đó hai binh sĩ khác đã chận tên này và đè y xuống đất. Tên lính vẫn hoảng loạn, la hét và cố gắng vùng vẫy (squirm) khỏi hai người lính.  

"Điều gì đã xảy ra?" Littnann hỏi.

Tên lính ko còn chống cự. Y nhìn Littnann và có vẻ định nói điều gì, và bắt đầu khóc, ngực nhấp nhô, thở hổn hển. Littnann nhìn xuống người lính và suy nghĩ: Trời ơi, chúng ta đã gặp điều gì ở đây?

Sau đó Littnann đã biết tại sao người lính này khóc. Stevens, đã đứng cách McCarrell khoảng một mét khi quả B40 trúng ngực của McCarrell.

Trên đường mòn, trung đội 4 đang rút lui. Garza giữ đoạn hậu. Trước nhứt y gửi một tiểu đội để bắt tay với Denholm ở bên phải của đường mòn, và một tiểu đội ở bên trái. Trong khi hai tiểu đội này áp đảo hỏa lực địch, y cho từng nhóm 2 hay 3 người chạy nhanh về phía trước để bắt đầu kéo ba xác chết và bảy người bị thương từ giữa đường mòn.

Đây là một việc khó khăn. Lính csbv chứng tỏ rất gan lỳ vì khi hai tiểu đội lính Mỹ bắn họ, họ cũng trả đủa. Lúc 1645, cả trung đội đã đi khỏi yên ngựa.

Trung úy Boccia, mà trung đội ở hàng thứ hai trong đội hình, đã đứng giữa đường mòn và nghe súng nổ nhưng ko biết điều gì xảy ra. Nay y thấy những lính bị thương đi về bch TĐ, kế đó các kẻ khiêng cáng, và sau đó là trung úy Denholm.

Denholm đầy máu và đi loạng choạng như kẻ say rượu. Hai tay buông thỏng (hang limsy), và mắt nhìn xa xăm.

"Chuck. . . điều gì đã xảy ra?"

Denholm trống rổng nhìn Boccia và lẩm bẩm, "Rosey ở đâu? McCarrell và Larson ở đâu. . . ?"

Boccia ko biết phải trả lời cách nào. Y định chào nhưng Denholm đã chập choạng đi qua. 

GỌI PHÁO BINH VÀ COBRA

Với trung đội 4 đi hết (down off) đường mòn, tiền sát viên của đ.đ. Bravo đã bò khá xa trên đường mòn, đủ để xác định các vị trí của địch, rồi gọi pháo binh. Trong 15 phút, pháo đã dập khu vực này. Khi pháo dứt, tiền sát viên đã bò về phía trước và đánh dấu vị trí của y với lựu đạn khói, rồi gọi hai trực thăng Cobra để tấn công các vị trị địch với hỏa tiển nổ cao hay HE.

MÁY BAY BẮN LẦM VÀO BCH CỦA HONEYCUTT

Điều gì xảy ra tới đây sẽ ko bao giờ có thể giải thích đầy đủ. Ở BCH TĐ, Honeycutt đã ko biết về yêu cầu trên đây của tiền sát viên. Khi hai chiếc này hover trên Động Ấp Bia, trung tá quay qua đại úy Addison,"Chuck, bọn này sắp làm gì ở đây? Bọn chúng đang bay vào tầm đạn pháo binh. Chúng có điên ko?"

Trong khi Honeycutt nói, hai chiếc này, có vẻ đang hướng về đỉnh của Động Ấp Bia, đột nhiên đổi hướng và nhắm vào bch của TĐ. "Trời ơi, những thằng hề này đang bắn chúng ta," Honeycutt la lên.

Honeycutt cầm ống liên hợp (handset) của một trong những máy truyền tin và đã cố gắng trong vô vọng để nói chuyện với phi công qua tần số không lực. Đó là một việc làm vô ích, vì một chiếc đã nghiêng mình (bank) và phóng một loạt hỏa tiển.

"Nằm xuống!" Honeycutt la lên cho gần 15 người đang đứng gần BCH. "Pháo kích! Pháo kích!"

Hỏa tiển đã nổ ở ngọn cây, và miểng đã rơi như mưa xuống một khu vực 30-mét. Vài người đã gục xuống, chồng lên nhau, và những người khác nhanh chóng tản mác để tìm chỗ núp ở rìa của vị trí này. Honeycutt đã bị một miểng hỏa tiển bằng ngón tay cái ở lưng. Ông đã ngả gục xuống và khi đứng dậy, ông thấy hai chân đều bị tê. Ông đi khó khăn tới dàn máy truyền tin và chụp ống liên hiệp. Trong khi ông quay số, chiếc Cobra thứ hai lại phóng hỏa tiển. Bốn hay năm hỏa tiển đã nổ trên ngọn cây, và miểng văng khắp BCH, làm hai hay ba người gục ngả. 

Honeycutt la to trong ống liên hợp ,"Ngừng bắn! Các anh đã bắn lầm! Ngưng ngay!"

Khi cuối cùng phi công nhận ra lỗi lầm, họ cố gắng xin lỗi, nhưng ĐT từ chối. "Các anh đi chỗ khác. Các anh nghe ko? Nếu ko tôi sẽ bắn rơi máy bay."

. . . Hỏa tiển đã giết 2 người, làm bị thương 35 người khác. Trung sĩ thường vụ TĐ Bernie Meehan, sĩ quan liên lạc pháo binh James Deleathe; và 10 người khác giữ vai trò quan trọng trong BCH đều bị thương nặng, cần di tản gấp. BCH TĐ bây giờ giống như trạm cứu thương sau một trận đánh lớn. 

Đã vậy, cối 120 ly của csbv, dấu bên kia biên giới, lại bắn 5 hay 6 quả vào bch TĐ. 

Cùng lúc đó, trong khi cối địch còn rơi, 5 cán binh csbv xuất hiện từ đường thông thủy phía nam BCH TĐ, tấn công bằng AK47. Đại úy Addison nhanh chóng phản ứng. Ông quạt một băng đạn M16 khiến 3 tên ngả gục, hai tên còn lại chạy xuống thông thủy. Đại úy đuổi theo, nhưng sau đó trở về bch TĐ.

. . . Sau khi cơn giận dữ nguội dần (vent), Honeycutt nghĩ cách giải quyết trường hợp của Bravo. Lúc đầu, ông chỉ muốn tạm thời rút đ.đ. này để giao mục tiêu cho pháo, trực thăng võ trang và oanh tạc cơ giải quyết. Sau khi đã dần mềm mục tiêu này, ông muốn đại úy Littnann gửi một trung đội vào mục tiêu và-- trong khi quân csbv bấn loạn vì bị không kích-- sẽ nhanh chóng tràn ngập các hầm trú ẩn và hố cá nhân chung quanh hai đồi nhỏ. 

Nay với bch tan tác, ông nghĩ rằng ko thể nào tổ chức một tấn công như vậy. Nếu đại đội Bravo gặp một đơn vị địch mạnh hơn mà họ vừa gặp mới đây, ông ko còn viện quân để giúp họ hay phối hợp không và pháo yểm cho họ. Do vậy ông gọi đại úy Littnann rút đ.đ. về phía sau 100 mét và đào hầm hố phòng thủ qua đêm. 

Trong khi ông quì gối kế bên các máy truyền tin--chung quanh ông các y tá chăm sóc thương binh--ông buộc phải có những kết luận nhanh và lấy lại tinh thần. Lúc đầu ông đã nghi ngờ Động Ấp Bia chỉ được bảo vệ bởi một toán thám báo nhỏ hay có thể một nhóm những tên bắn sẻ. Khám phá dây điện thoại của đ.đ. Bravo, kết hợp với đụng độ của đ.đ. này, giờ đây đã thuyết phục ông rằng ở đó phải có ít nhứt là một trung đội cộng, hay có thể là nguyên một đ.đ. Ông đã nghi ngờ họ thuộc trung đoàn 29 csbv , nhưng ko có cách chứng minh điều đó.

Ông định tìm một cách chính xác điều gì ở Động Ấp Bia-- và ko chỉ với một đ.đ., chỉ có thể lục soát một khu vực giới hạn, nhưng với ba đ.đ., mỗi đ.đ. tiến lên núi theo một hướng khác nhau. Nếu có hơn một trung đội địch trên núi này, ông hy vọng sẽ biết điều đó trong vài ngày.

Ông liền gọi đại úy Dean Johnson chỉ huy đ.đ. Charlie, và nói y ngừng hành quân dọc sông Trung Phạm và bắt đầu một lục soát cấp đ.đ. theo hướng đông thăng tới Động Ấp Bia. Họ phải tiến lên một sống núi lớn bắt đầu gần bờ sông và từ từ tới một giao điểm nơi sống núi này gặp Động Ấp Bia, nằm giữa Đồi 900 và 937. 

Kế đó ông gọi đại úy Gerald Harkins và ra lịnh cho y phải ngừng hành quân gần sông Trung Phạm và theo sống núi lớn để về bảo vệ BCH TĐ, thay thế đ.đ. Delta. Và đ.đ. Delta, vào buổi sáng, sẽ phải đi xuống một khe núi lớn ở phía đông bắc của bch và bắt đầu một cuộc lục soát khác lên sườn bắc của Đồi 937. Nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, Honeycutt sẽ có ba đ.đ. vào vị trí vào buổi sáng của NGÀY 13 TÂY để phối hợp tiến lên núi này.

Từ vị trí phòng thủ đêm hay NDP (night defensive position) ở phía nam của yên ngựa sâu này, lính của đ.đ. Bravo đã thấy một Skyraider gầm thét (growl) bay qua đầu và chúi xuống những vị trí địch ở trên họ 200 mét. Những quả bom 500-cân Anh rời cánh và lao xuống rừng núi. Tiếng nổ sắc gọn, và lính tráng bị xóc nảy lên (jolt) vì chấn động. Hai cuộn khói nâu bốc lên từ khu rừng. Sau 30 phút bắn phá các vị trí địch, chiếc Skyraider cuối cùng của 4 chiếc, quay đầu về hướng đông để ra biển. 

Ở BCH, một lát sau khi ném bom, đ.u. Littnann được lịnh của Honeycutt phải báo cáo tình trạng của đ.đ. Littnann do dự một lát và báo cáo ko có thương vong nhưng có hai M60 bỏ lại trên đồi. 

"Anh biết nó ở đâu?"

"Chúng tôi biết khu vực mà hai khẩu M60 bỏ lại."

"Anh gửi người lên đó bây giờ, và mang súng về. Và ngay bây giờ! Vì chúng ta ko thể bỏ súng như vậy."

Littnann đã gặp khó khăn khi chon người cho một nhiệm vụ nguy hiểm như vậy và rất vui khi trung úy Marshall Eward và 2 người thuộc trung đội 2 tình nguyện. Chờ trời tối, ba người, ko nón sắt và súng, đã rời vị trí phòng thủ đêm và im lặng đi lên đường mòn.

Chỉ sau 30 phút chờ đợi, cả ba trở về, mang theo hai khẩu M60, và đ.u. Littnan cảm thấy nhẹ nhỏm.

Thở một cách nặng nề và đầy lo lắng, trung úy Eward ngồi trên một khúc cây và nói, "Địch quân có mặt khắp nơi, thưa đ.u. Chúng ko phải là bọn dò đường mà là lính chính quy Bắc Việt. Tôi đã nghe họ nói và đi lại trên đó. Trời ạ, tôi ko muốn làm một lần như vậy nữa."

Khám phá của Eward ko là một sự kiên riêng lẻ, vì quân csbv, sau gần 48 giờ thu mình tránh né, nay đang ra mặt khắp nơi ở bắc A Shau và sẵn sàng tấn công. Đó cũng là một thực tế mà TĐ 1/506 cũng thuộc sđ 101 nhảy dù sắp khám phá.

BÃI ĐÁP CỦA TĐ 1/506 BỊ PHÁO CỐI

Cũng như TĐ 3/187 của trung tá Honeycutt, hai ngày qua họ đã lục soát bắc A Shau. Khu vực hành quân của họ ở ngay phía bắc của làng Bou Ải Ha và phía đông của Sông Trung Phạm. Trung tá John Bowers, chỉ huy TĐ, đặt bch của ông trên đỉnh một đồi nhỏ khoảng 500 mét đông của giới Lào Việt. Từ đồi này, bốn đ.đ. của ông đã lục soát vừa hướng về biên giới và vừa vào thung lũng.

Được lịnh canh gác chu vi phòng thủ của tđ vào tối NGÀY 11 TÂY là trung úy Ian Schumaker và ba trung đội của đ.đ. Charlie. Do đ.u. William Stumiest, đ.đ. trưởng bị thương vào buổi sáng nên Schumaker làm đ.đ. trưởng.

Vị sĩ quan 22 tuổi này đã đi phục kích đêm vào tối NGÀY 10 TÂY gần biên giới và trong ngày kế đã lục soát dọc theo bờ sông Trung Phạm, nơi trung đội đã khám phá và đốt một trang trại lớn của địch. Y chỉ tới bch TĐ vào xế trưa, nhưng bị sốc với những gì y thấy. Đầu tiên y sốc vì biết rằng TĐ đã ở hai đêm liên tiếp tại cùng một vị trí, nghĩa là mời gọi một cuộc tấn công bằng cối. Y chắc chắn rằng, các xạ thủ csbv đã có tọa độ của vị trí này và có thể đã hướng nòng súng vào đó. 

Nhưng Schumaker còn sốc vì tình trạng của bãi đáp. Hai trung đội bộ binh canh gác vị trí này vào NGÀY 10 TÂY vẫn chưa củng cố chu vi phòng thủ có hình thuôn dài (oblong). Chỉ có vài người đào hố chiến đấu, nhưng quá cạn. Và trong khi một số mìn claymore rải rác chu vi phòng thủ, ko ai buồn để cài một lựu đạn chiếu sáng. 

Viên trung úy đã dùng thời gian còn lại của buổi chiều để củng cố chu vi. Y ra lịnh mỗi lính trên chu vi phải đào một hố sâu ít nhứt sáu bộ Anh, phải có nắp che và một đống lựu đạn kế bên. Và phải cài lựu đạn chiếu sáng khắp vị trí. Dù rất xa lý tưởng, nhưng chỉ trong hai giờ, chu vi phòng thủ có thể chấp nhận được.

Nhưng có những kẻ, chống đối việc đào hố. Như trung đội súng cối, nại lý do rất bận rộn với nhiệm vụ nên ko có thời giờ. Lúc đầu Schumaker định báo với trung tá Bowers nhưng sau đó bỏ ý định này. Y còn nhiều việc phải lo cho đ.đ. của y.

Y cũng khuyên một phóng viên của báo Stars and Stripes, tương tự như báo Tiền Tuyến của VNCH-- người dịch, đã ở lại đêm nay tại bãi đáp. Là một người béo lùn (pudgy) với tóc che cổ áo, y đã cười trước lời khuyên của Schumaker.

"Cái gì? Đào một cái hố? Anh muốn tôi đào một cái hố?"

"Vâng. Tôi nghĩ rằng anh nên làm như vậy. Chúng ta có thể bị pháo bằng cối tối nay."

"Nếu điều đó xảy ra, hãy để tôi tự lo."

Khi Schumaker cố gắng thuyết phục, phóng viên đã phản ứng," Trung úy, anh ra lịnh cho tôi? Anh hãy lo cho lính anh, và để tôi tự lo. OK?" 

"OK"

"Tốt"

Schumaker bỏ đi trong giận dữ. Sau đó ông tập họp ba trung đội trưởng và kể lại vụ này."Nếu chúng ta bị tấn công đêm nay--hãy nói cho lính tráng điều này--trong mọi tình huống ko ai được phép cho tên khốn kiếp này nhảy vào lổ của mình. Đây là lịnh."

Trận tấn công bằng cối đã xảy ra như sĩ quan này trông đợi. Ngay trước khi trời tối, trong khi y đang đứng gần bch ở trung tâm của bãi đáp, y đã nghe những tiếng nổ từ những ngọn đồi chung. Trong chớp nhoáng, 15 đến 20 viên đạn cối đã rơi trúng những ổ súng lộ thiên, hạ gục nhiều pháo thủ. Trong chưa tới một phút, phân nửa của 30 pháo thủ đã bị thương vong vì miểng pháo. Sau đợt pháo đầu tiên, các xạ thủ địch đã ngưng một lúc, sau đó bắt đầu rải đạn cối từ đầu đến cuối của bãi đáp. Trong ánh chớp của tiếng nổ, Schumaker đã nhìn thấy nhiều người bị tung lên khỏi mặt đất và gục ngả rải rác quanh các ụ súng. Ngay lúc đó hàng chục tiếng rên la vì đau đớn và gọi y tá. Một số ít ko bị thương đã hướng súng về vị trí đặt cối của địch và bắn trả.

Schumaker đã bắt đầu chạy vòng quanh chu vi phòng thu để kiểm tra tình hình, kêu gọi lính tráng coi chừng bộ binh địch tấn công. Và bây giờ, địch pháo khắp bãi đáp. Trong khi di chuyển trong bãi đáp, Schumaker đã hai lần té ngả vì pháo. Y nhìn thấy đạn cối nổ khắp nơi.

Khi trở về bch của y, viên trung úy đã thấy một kẻ rên rỉ cách y mười bộ Anh và đang hấp tấp đào đất bằng tay. Y đã quì xuống bên cạnh để giúp người này, và nhận ra đó là anh phóng viên. Quần áo anh này rách bươm và cháy xém, và lại còn bị trúng vài mảnh cối. 

"Tôi có băng cá nhân," Schumaker nói. "Anh muốn tôi băng bó cho anh?"

"Không," người này nói, trong khi vẫn đào. "Tôi cũng ko muốn biết tôi đã bị thương như thế nào."

Schumaker trở lại bch và lấy một cái xẻng và mang lại cho anh phóng viên. "Thử cái này. Tôi nghĩ anh sẽ làm tốt hơn."

Schumaker mong rằng sẽ tìm được một an ủi nào đó trên gương mặt anh nhà báo này, nhưng y ko thấy. Tình hình tại bãi đổ quân quá thảm. Người bị thương khắp nơi, và pháo kích ngày càng gia tăng.

Schumaker cảm thấy rằng y phải làm điều gì để ngừng việc này và đã quyết định thử một mẹo mà y đã học từ một trung sĩ già tại Fort Benning về làm thế nào để đo (gauge) hướng và khoảng cách của một vị trí cối của địch. Đứng ở trung tâm của bãi đổ quân, y đã thấy hai quả cối rơi trúng và lấy ngay địa bàn đo đạt; sau đó chạy đến bch tđ để cung cấp thông tin này cho sĩ quan phối hợp hỏa lực. Tuy nhiên, người này ko đếm xỉa đến y và vẫn cứ núp trong hố.

"Trở về đ.đ. của anh," một sĩ quan khác trong bch la lên. ""Anh đang kéo pháo về chúng tôi."

Giận dữ vì lời quở trách (rebuff) này và cảm thấy minh khờ dại thế nào đó, y đã trở lại bch của mình. Đi được 5 mét y đã gục ngả hai lần bởi miểng cối, nhưng ko bị thương.

TƯỚNG JIM SMITH ĐẾN BÃI ĐÁP TRONG LÚC PHÁO KÍCH 

Trên đường đi, y đã dừng ở một vị trí đặt cối, lúc đó đang hoảng loạn. Chỉ có một khẩu còn bắn, nhưng bàn tiếp hậu (base plate) đã lún sâu một bộ Anh. Trong khi y đứng ở đó, một trực thăng đã đáp xuống ngay phía bắc của các ụ súng này. Đó là một trực thăng C-and- C của tướng Jim Smith, phụ tá tư lịnh của sđ 101 Nhảy Dù. 

Trong khi các y tá đưa thương binh lên trực thăng của tướng Smith, Schumaker đã cố gắng thông báo (apprise) tình hình cho tướng quân. Nhưng tướng ko cần. Vào lúc đó, một hỏa châu, bắn đi từ một căn cứ hỏa lực ở phía đông của thung lũng, nổ trên đầu. Dưới ánh sáng này, tướng Smith đã thấy điều ông muốn thấy. Với ánh mắt ko có thần (blankly), ông đã nhìn ba pháo thủ nằm nghiêng, chân cẳng cong quẹo do trúng pháo, rồi ông nhìn người bị thương khắp nơi và nói,"Đây là một tấn công bằng đạn cối mà tôi chưa bao giờ thấy." Ngay cả trong lúc tướng Smith nói, hai hay ba quả cối đã rơi gần máy bay của ông làm máy bay trúng miểng. 

May mắn cho bãi đổ quân này, một máy bay Hỏa Long AC-47 Spooky đã tới kịp thời. Nó bay vòng rất chậm trên bãi đáp này, hai động cơ kêu o o như ong kêu. Schumaker kêu hiệu thính viên và nói chuyện với phi công góc phương vị (azimuth) và tầm đạn, mà y đã tính khoảng 3.000 mét.

Máy bay quat về phía bắc và chẳng bao lâu đã ở trên vị trí địch. Thật lạ lùng, dù thấy máy bay Hỏa Long, các xạ thủ địch đã ko bỏ chạy, mà còn tiếp tục bỏ đạn vào nòng. Sau chưa tới một phút trên khu vực, phi công đã nhận ra tia chớp từ các nòng súng. Y lướt xuống trả thù bằng những khẩu minigun 6-nòng. Hai mươi giây sau đó, máy bay đã bắn trúng nơi chứa đạn cối khiến một tiếng nổ vang dội đã xé nát khu rừng chung quanh, xóa tan (oblirate) vị trí này và những người trên đó.

Khi nghe tiếng nổ và sau đó nói chuyện với phi công Hỏa Long, Schumaker đã cảm thấy nhẹ nhỏm, nhưng y ko có gì hãnh diện. Bãi đáp của TĐ chỉ còn là đống đổ nát và sĩ quan này nghĩ rằng nếu bộ binh địch đã phối hợp nhịp nhàng với tấn công bằng cối, chúng có thể giết hay làm bị thương mọi người ở bãi đáp này. Y đã cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy khắp xương sống. 

Dịch từ trang 75-98 của Hamburger Hill hay Đồi Thịt Bầm của Samuel Zaffiri.

San Jose ngày 25 tháng 12 năm 2020

Tài Trần

Saturday, December 5, 2020

MỘT CUỘC HÀNH QUÂN ĐIỂN HÌNH CỦA QUÂN MỸ TẠI VIỆT NAM.

Chương 8 - Hành quân Apache Snow tháng 5/1969 tại thung lũng A Shau, phía tây tỉnh Thừa Thiên


- Dù các lãnh đạo của nước Mỹ bỏ rơi VNCH, nhưng chúng ta ko quên ơn những chiến sĩ Mỹ đã hy sinh cho đất nước này. 


LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi TĐ 3/187 của  trung tá Honeycutt chiếm được núi Động Ngải, họ đã xây dựng căn cứ hỏa lực (CCHL) Airborne và ngày 8/5 cả TĐ được trực thăng vận về căn cứ Evans ở bắc Huế. Đại đội Alpha của TĐ 2/501, cũng thuộc sđ đã thay họ canh giữ CCHL này và chỉ sau đó bốn ngày, căn cứ đã bị đặc công csbv tấn công, đã kể trong bài trước. Riêng TĐ của trung tá Honeycutt, ngày 10/5, nghĩa là hai ngày trước khi CCHL này bị tấn công, đã cùng bốn TĐ khác, trong đó của hai TĐ của VNCH, tham dự cuộc HQ Apache Snow, được mô tả trong phần chuyển ngữ dưới đây từ quyển Hamburger Hill.

===

"Lúc 0710 công tác bắn dọn bãi của pháo binh đã chấm dứt (có năm bãi đáp cho năm TĐ). Vài phút sau, một cặp Cobra đã xuất hiện trên mỗi bãi đáp hay LZ (landing zone) và bắt đầu bắn dọn bãi lần cuối. Trong khi chiếc thứ nhứt hover hay bay đứng một chỗ bên hông của bãi đáp để làm nhiệm vụ bảo vệ, chiếc thứ hai nhào xuống phóng từng đợt hỏa tiển loại nổ cao hay HE (high explosive) xuống bãi đáp và khu rừng chung quanh, và sau đó liên tục tưới đạn minigun 7.62 ly xuống khu vực. (Nói thêm: quân đội Việt-Mỹ đã từng dùng súng trường Garand M-1 bắn đạn 7.62 ly và đại liên 50 bắn đạn 12,7 ly. Sở dĩ có số lẻ như vậy vì đường kính lần lượt của đạn 7.62 ly và 12,7 ly bằng 30/100 và 50/100 của một inch trong khi một inch bằng 25,4 ly -- người dịch). Khi chiếc thứ nhứt bắn hết đạn, chiếc thứ hai nhào xuống làm tiếp công việc.

Khi đó, các đoàn trực thăng chỡ quân chỉ còn cách bãi đáp vài giây. Khi mỗi đoàn này tới gần bãi đáp, chiếc Cobra dẫn đầu của đoàn nhẹ nhàng tách rời đoàn và liên tục tưới đạn minigun 7.62 ly, kế đó lại bắn tiếp đạn phóng lựu 40 ly và cuối cùng là một hay hai đợt rocket chống biển người (flechette rocket). Mỗi rocket chống biển người loại Hydra 70 chứa 1179 mũi tên nhỏ, mỗi mủi tên nặng 3.9 gram. Cùng lúc đó, bốn chiếc Cobra đang bảo vệ cạnh sườn của đoàn máy bay này bay tới bên hông bãi đáp tưới thêm đạn minigun xuống bãi, sau đó là hỏa tiển chống biển người và đạn phóng lựu 40 ly. 

Việc bắn dọn bãi này KÉO DÀI LIÊN TỤC TRONG 74 PHÚT. Đúng 0710, mọi Cobra ngừng bắn và rời bãi và hover (bay đứng một chỗ) bên cạnh bãi đáp, sẵn sàng nổ súng khi cần. 

Trong đội hình chữ V, các máy bay chỡ quân loại UH-1 nảy giờ đang hover gần đó để chờ Cobra dọn bãi, nay bắt đầu vào. Tất cả năm bãi đáp đều quá nhỏ cho 16 chiếc trong mỗi đoàn xuống một lần nên máy bay chỉ xuống mỗi lần 1 hay 2 chiếc. Vì bãi đáp đầy hố bom hay hố đại bác và cây cối đổ vỡ nên máy bay bay đứng một chỗ cách mặt đất 1.5 m tới 3 m để xạ thủ bắn đạn 7.62 ly lần chót. Sau đó, các binh sĩ, với ba lô nặng gần 30 kí, nhảy xuống đất và nhanh chóng bung rộng để lập chu vi phòng thủ. Khi có người xuống thêm, chu vi phòng thủ càng mở rộng. 

Thật là lạ, hầu như việc đổ quân ko gặp trở ngại. Chỉ có TĐ 4/1 của VNCH đã bị bắn sẻ khi an ninh bãi đáp ở đỉnh Núi Trần Lây, và một đ.đ. của TĐ 2/1 VNCH mất một Chinook khi họ bắt đầu xây CCHL Tiger ở núi Ka Lou. Nhưng 3 TĐ Mỹ đổ quân thì ko gặp địch, và đến 9 g sáng họ đã bảo vệ an toàn bãi đáp và đang chuẩn bị tiến tới mục tiêu hay đã tiến tới mục tiêu. Nhiệm vụ cơ bản của 5 TĐ này đều giống nhau, đều hành quân lục soát kỹ lưỡng về hướng tây tới biên giới Lào-Việt và về hướng đông tới thung lũng A Shau. 

Tuy nhiên có 3 TĐ có nhiệm vụ hơi khác. Ở xa về phía bắc, TĐ 2/1 của VNCH phải cắt tỉnh lộ 548, có từ đời Pháp, và ngăn chận mọi địch quân rút lui từ thung lũng, và ở phía nam, TĐ 1/506 của sđ 101 Dù phải ngăn chận xa lộ 923 đi từ biên giới Lào tại giao điểm với tỉnh lộ 548. Ở giữa, tđ 3/187 của trung tá Honeycutt có nhiệm vụ lục soát Động Ấp Bia, mà phòng tình báo của lữ đoàn và sđ 101 nghĩ rằng đã được dùng làm trạm trung chuyển (way station) hàng hóa giữa căn cứ 611 gần đó và mạng lưới dầy đặc các đường mòn ở thung lũng.  

Trung tá Honeycutt rất ngạc nhiên về đợt đổ quân vô sự này vì chỉ 2 tuần trước, trong đợt đổ quân đầu tiên đã rớt 3 máy bay và một số khác hư hại. Ông đã nghĩ rằng sẽ gặp hỏa lực địch hôm nay và rất ngạc nhiên khi cuộc đổ quân quá dễ dàng. 

Thật đúng như vậy. Lúc 0801, đ.đ. Delta của đại úy Luther Sanders, xuống đầu tiên, kế đó là đ.đ. Alpha và Charlie. Trong khi Charlie đang an ninh chu vi bãi đáp thì Delta và Alpha đã bắt đầu hành quân lục soát hai hướng dối diện dọc theo sống núi lớn (large ridge) mà trên đó có bãi đáp: Alpha đi phía tây bắc về biên giới, và Delta đi hướng đông nam về đỉnh của Động Ấp Bia. Honeycutt và bộ tham mưu xuống bãi đáp lúc 0930, ông ra lịnh cho đ.đ. Charlie của đại úy Dean Johnson ko làm an ninh bãi đáp nữa mà bắt đầu hành quân lục soát dọc theo một đường thông thủy (draw) lớn chạy theo hướng tây bắc, hướng về biên giới. Rồi với bộ tham mưu và trung đội cối 81 ly, trung tá Honeycutt đi lên sống núi, hướng về tây bắc, theo sau Delta. 

...

Honeycutt đã bắt tay với đ.đ. Delta của đ.u. Sanders lúc 12 g ở khoảng 1000 m cách đỉnh của Động Ấp Bia. Ở đấy mọi người chuẩn bị một bãi đáp và bch TĐ. Ngày kế trung tá đã dự định lập một bch thường trực hơn trên đỉnh của Động Ấp Bia, nhưng giờ đây ông cần một bch đủ gần để chỉ huy hai đ.đ. Alpha và Charlie đang phối hợp lục soát hướng về biên giới Lào-Việt.

Trên sống núi chật hẹp này, quân sĩ của Honeycutt đã nhanh chóng chuẩn bị một vị trí có hình thuông (oblong). Ở đầu tây bắc của vị trí này, lính công binh với cưa máy đã chặt cả chục cây cao trên 30 mét và những cây thấp hơn và một bãi đáp chỉ đủ một chiếc trực thăng đáp xuống. Ở giữa của vị trí này, các lính công binh đã tạo một lổ hổng trong rừng cây để khẫu cối 81 ly có thể bắn, kế đó ở đầu đông nam của vị trí họ đã dùng dao rựa để cắt bỏ một bụi tre dầy (thick stand of bamboo) để làm chỗ cho bch TĐ. Trong khi những lính công binh làm việc dưới nhiệt độ 100 độ F hay 37.7 độ C, chín mươi tư người lính của đ.đ. Delta đã bao quanh vị trí này với những hố chiến đấu, mìn chiếu sáng và mìn claymore, và đã bắt đầu mở những lục soát nhỏ ở những hẽm núi (ravine) và đường thông thủy (draw) chung quanh để bảo đảm rằng ko có địch quân. 

Những biến cố đã xảy ra nhanh chóng khắp vùng bắc A Shau. Dù cả hai đ.đ. Alpha và Charlie chỉ di chuyển vài trăm mét từ bãi đáp đầu tiên, họ đã khám phá những lều và công sự phòng thủ của địch dọc theo đường tiến quân của họ. Một số lều này lớn - đủ chứa cả một trung đội, với những khu vườn chăm sóc cẩn thận ở phía sau và các công sự sâu và rộng. Đại đội Charlie còn thấy lửa cháy dở dang (smoldering) trong một lều chứng tỏ địch quân đã rời khu vực vài phút trước khi đ.đ. tới. 

Trong khi đó, các phi công của các máy bay quan sát OH-6 Loach, trong khi bay sát ngọn cây để họ có thể nhìn qua những lổ trống trong rừng cây dầy đặc, cũng đã trông thấy nhiều lều và công sự phòng thủ khắp nơi chung quanh Động Ấp Bia. (NÓI THÊM: dù là trực thăng quan sát nhưng chiếc OH-6 có thể trang bị một minigun M134 sáu-nòng bắn đạn 7.62 ly hay một phóng lựu M129 bắn lựu đạn 40 ly. Trong số 1.422 chiếc OH-6 dùng trong chiến tranh VN, đã có 964 chiếc rơi vì hỏa lực địch-- người dịch).  

                 

 MỘT TOÁN SĂN VÀ DIỆT GỒM HAI CHIẾC OH-6 LOACH VÀ HAI CHIẾC AH-1 COBRA 

MINIGUN SÁU NÒNG BẮN ĐẠN 7.62 LY
Vào khoảng1400, một trong những chiếc quan sát nhẹ OH-6, trong một Tổ Săn-Diệt (Hunter-Killer Team) với hai chiếc Cobra, đã phát hiện địch. Trong khi bay đứng một chỗ (hover) trên một khu rừng, ở hai ngàn mét phía tây của Động Ấp Bia, phi công của chiếc OH-6 này, trong khi dùng cánh quạt thổi mạnh để tạo một lổ hổng trong rừng cây, đã thấy 5 hay 6 cán binh csbv chạy khỏi một lều và phóng nhanh xuống một đường mòn gần đó. Phi công đã gọi Cobra, đang bay vòng vòng trong khu vực, và họ đã bắt đầu bắn minigun xuống đường mòn này. Một trong hai Cobra đã hạ hai địch quân, nhưng những tên khác đã trốn thoát vào rừng sâu. 

 Vài phút sau, một quan sát cơ (FAC plane) khác, trong khi bay lòng vòng trên một khu ở đông của Động Ấp Bia, bị bắn bằng phòng không 12.7 ly. Sau khi suýt bị bắn rơi, phi công này đã gọi cầu cứu. Hai oanh tạc cơ đã đến, và sau khi vị trí được đánh dấu bởi chiếc quan sát cơ này, đã ném bốn quả 500 cân Anh. Một quả bom đã rơi đúng vị trí, và phi công quan sát thấy các phần của súng phòng không đã văng cao hơn 9 mét lên trời. 

Khi ông nghe hai sự kiện này và so sánh với những dấu hiệu ngày càng gia tăng của địch mà Alpha và Bravo đã khám phá, trung tá Honeycutt đã ko có chọn lựa nào ngoài kết luận rằng TĐ của ông đã nằm (set down) ngay trung tâm của một loại căn cứ nào đó của địch. Ông chỉ có thể phỏng đoán căn cứ lớn cỡ nào hay bao nhiêu lính địch đóng quân tại đó, nhưng ông đã biết rằng địch có thể tấn công họ bất cứ lúc nào chúng muốn. 

Và đó là điều ông lo nhứt. Nếu quân CSBV đã quyết định chiến đấu tại khu vực này, ông sẽ phải cần thêm viện quân, và họ sẽ phải đổ quân vào những bãi đáp nóng. Và ông nghĩ rằng tốt hơn hết là đổ thêm viện quân vào lúc này trong lúc bãi đáp chưa nóng hơn là lúc diển ra trận chiến. 

Từ lâu đại đội Bravo bị giữ làm trừ bị của lữ đoàn 3 tại CCHL Blaze, nên trung tá Honeycutt đã gọi ĐT Joseph Conny, TL lữ đoàn 3, xin trả lại đ.đ. cho TĐ. Không do dự, Conny đã đồng ý đã nhả đ.đ. Bravo, và lúc 1400 toàn đ.đ. này được trực thăng vận vào A Shau. 

Đ.đ. Bravo đã ko gặp may mắn như các đ.đ. khác của TĐ. Mười lăm của 16 chiếc chỡ đ.đ. này đáp xuống bãi đáp ko gặp khó khăn, nhưng chiếc cuối, chỡ trung úy Charles Denholm và BCH đ.đ., bị trúng đạn, khiến phi công đáp khẩn cấp xuống thung lũng. Một trực thăng khác đến vài phút sau đó để bốc họ, nhưng cũng gặp rắc rối. Khi chiếc này bốc lên cao, hướng về phía tây tới Động Ấp Bia, nó bị bắn bởi một số súng phòng không, đặt từ cửa của các hang động ở phía tây của A Shau. Hai hay ba đạn loại proximity của địch đã nổ gần đuôi của chiếc này khiến nó đã xoáy tròn (reel) trong vài giây trước khi phi công làm chủ được máy bay. //Nói thêm: ngòi nổ proximity của đạn này sẽ tự động nổ khi khoảng cách tới mục tiêu nhỏ hơn trị số định trước, nghĩa là ko cần chạm mục tiêu.  Ngòi nổ đã gia tăng sức tàn phá từ 5 đến 10 lần so với những ngòi nổ khác trong đó có ngòi nổ chạm nổ (contact fuze) hay ngòi nổ canh giờ (timed fuze)--người dịch.//

Khi trung úy Denholm và bch của đ.đ. cuối cùng đã xuống đất và gặp lại phần còn lại của đ.đ. Bravo và bắt đầu đi bộ 800 mét tới bch của TĐ. Một giờ sau, họ gặp Honeycutt: ông này lấy viết chì mỡ và bản đồ bọc plastic và vẽ con đường mà ông muốn Bravo đi từ bch TĐ hiện tại tới đỉnh của Động Ấp Bia. 

"Tôi chưa chắc anh làm được việc này tối nay," Honeycutt, "nhưng vào lúc nào đó trong buổi sáng tôi muốn chuyển bch lên đó."

"Không có chi."

"Cẩn thận."

"Đừng lo, thưa trung tá."

Đại úy Littnan đã ko lo ngại (unconcerned) về nhiệm vụ an ninh núi nầy. Vị sĩ quan 29 tuổi này đã ở VN một năm với trung đội cối 81 ly và nắm đ.đ. này được ba tháng, và suốt thời gian này ông đã thực hiện hàng chục nhiệm vụ như vậy mà ko trở ngại. Dù y biết rằng mọi người ở A Shau đều phải cẩn thận, y chưa cảm thấy điềm báo trước về một nguy hiểm nào đó. Đối với Littnan, y và lính của y đã bắt đầu cái mà lính bộ binh gọi là "chỉ là chuyến đi bộ dưới ánh mặt trời."

Cảm giác của Littnan đã được chia sẻ bởi phần lớn người trong đ.đ. Khi tin về nhiệm vụ này truyền xuống đ.đ., mọi người đã bắt đầu nói đùa và chúc mừng lẫn nhau về sự may mắn đột ngột này. 

Phần lớn trước đó đã nghĩ rằng trong một hay hai tuần tới với ba-lô nặng 60 lb hay 27 kg, họ sẽ leo lên leo xuống các dốc núi của vùng bắc A Shau, dễ bị phục kích và chết bất ngờ ở từng khúc quanh của đường mòn, nhưng sắp tới đây họ lại có nhiệm vụ bảo vệ bch TĐ. Đây là nhiệm vụ mà họ đã gọi một cách mĩa mai là "canh gác dinh tổng thống" (palace guard). 

"Sau chiến đấu ác liệt tại Động Ngải," trung úy Frank Boccia, chỉ huy trung đội 1, sau này đã nói, "công việc an ninh ngọn núi cho bch TĐ giống như đi phép hai tuần mỗi năm. Như mọi người khác, tôi đã thực sự nhìn thấy một tuần lễ êm đẹp ở đó."

Bất kể (regardless) sự lạc quan của họ, những người này vẫn có một ngàn mét để vượt qua trước khi tới đỉnh của núi này, là một ngàn mét mà họ phải leo trên một đường mòn hẹp, dốc và đầy nghẹt cây cối, tre, và dây leo gẫy đổ - hậu quả của những vụ bắn phá trước đây của máy bay và trực thăng.

Họ bắt đầu lúc 1620, trung đội 2 của  trung úy Marshall Edward, đi đầu, kế đó là trung đội 1, và bch đ.đ., và cuối cùng là trung đội 4. Edward cho tiểu đội 2 đi đầu và chuyên viên bậc 4 Ron Storm làm khinh binh 1 và chuyên viên bậc 4 James Rocker làm khinh binh 2. Storm đã bắt đầu đi chậm chạp và cẩn thận trên đường mòn, cân nhắc (deliberate) trong mỗi bước đi, y quan sát cẩn thận hai bên đường mòn, sẵn sàng đáp ứng mọi chuyển động nhỏ nhứt. Y để khẫu M16 ở vị thế tự động, hướng súng về trước, sẵn sàng bắn hết băng đạn 20 viên trong một giây. Rocker theo sau, cách y 10 mét, im lặng như một con mèo, bước chầm chậm trên những tảng đá và những khúc cây, di chuyển nhẹ nhàng dưới những giây leo và những cành thấp. 

Đường mòn lúc này giống như một đường hầm với những lá cọ (palm frond) mọc de ra đường như những bàn tay lớn. Dây leo bám đầy các cây. Vì tàn lá dầy nên ánh sáng yếu (wan) và xám, không khí ẩm lạnh (dank) và có mùi khó chịu. 

Storm tiến được 100 mét, và thêm 200 mét. Chẳng bao lâu họ ra khỏi cao địa nơi đặt bch TĐ và gặp một yên ngựa nhỏ và thấp, kế đó một vùng đất bằng phẳng. Ba trăm mét sau đó, Storm tới rìa một yên ngựa thứ hai. Tuy nhiên, cái này sâu hơn cái đầu tiên. Có Rocker bảo vệ y, y xuống được 20 m, rồi ra dấu cho Rocker để phần còn lại của đ.đ. tiến lên.

Storm di chuyển qua khỏi đáy của yên ngựa, và bắt đầu đi lên. Phần lớn của tiểu đội 2 đã qua khỏi yên ngựa và đi lên núi khi một B-40 phụt ra (whoosh) từ một điểm trên đường mòn ở phía trước họ và đã nổ đinh tai nhức óc khi đụng một cây ở bên trái Storm. Sức nổ đã đẩy y khỏi đường mòn, và nằm sóng sượt (sprawl) trên dốc núi bên phải. Y bị choáng (pass out) trong vài giây, rồi kế đó là âm thanh quen thuộc của hỏa lực AK-47. Storm nhìn lên sống núi để xem sự hỗn loạn trên đường mòn. Ba người bị bắn gục, và một người đang liên tiếp la hét, "Tôi bị thương!". Một số người đang bò về phía trước để cứu người bị thương trong khi những người khác bắn vào hàng cây hai bên đường.

Cùng lúc đó, một xạ thủ địch đã thấy Storm và nổ súng. Storm ngả ngửa xuống đất để tránh đạn, và một giây sau một quả B40 đã trúng cây trên đầu y, làm vỏ và lá cây rớt đầy trên đầu y. Y quét mắt phía trên sống núi trong một giây để cố gắng tìm kiếm vị trí của khẩu B40 và thay vào đó thấy 3 hay 4 xạ thủ địch điều khiển một vị trí ở bên trái của sống núi khoảng 25 mét. Y gọi những người còn đứng bên dưới tiến lên, và khinh binh số 2 James Rocker và các binh nhứt Anthony Tolle, Alan Bork, và James Prefundo chạy nhanh đến. Kế đó Storm dẫn toán này tiến thêm khoảng 30 mét, cho tới khi ở phía đối diện và phía sau của vị trí địch.

Storm nhìn nhanh và đã nghĩ rằng y đã thấy 4 hay 5 lính địch ở phía kia. Họ ở sau một cây lớn và được che dấu một phần bởi những nhánh và lá cọ thấp. Lúc đầu, y nghĩ rằng có thể bắn họ, nhưng họ bảo vệ quá kỹ nên điều đó rất khó. Thay vào đó, y đề nghị toán của y nên dùng lựu đạn, và họ đồng ý. Từ một dấu hiệu của Storm, năm người này đã rút chốt lựu đạn và ném một lượt, và tìm chỗ nấp khi phía trái của đường mòn đã rung chuyển bởi một tiếng nổ lớn. 

Tụi nó bị rồi, Storm nghĩ như vậy khi y nhìn lên lổ lớn tạo ra ở phía trên vị trí của địch. Để chắc ăn, tất cả lại ném lựu đạn vào vị trí đó lần nữa, và phía trái của đường mòn đã rung lên lần nữa.

Chẳng bao lâu cả toán bị tấn công mạnh bởi một vị trí ở xa hơn trên đường mòn. Khi một quả B40 nổ trên đầu họ, Storm ra lịnh cho toán trở lại tiểu đội và thấy y tá đang săn sóc ba người bị thương ở bên lề đường trong khi phần còn lại của tiểu đội bắn dữ dội (wildly) về vị trí địch ở phía trước.

"Họ đang kêu máy bay," Storm nghe ai đó la lên. "Chúng ta phải ra khỏi đây."

Storm và phần còn lại của tiểu đội theo đ.đ. vượt qua yên ngựa để về phía sau. Ở đây, trung đội 2 của trung úy Marshall Edward nhanh chóng tạo một chu vi phòng thủ hai bên đường mòn. 

Lời yêu cầu oanh kích đã được đồng ý bởi Honeycutt. Khoảng 5 phút sau, một quan sát cơ xuất hiện, kế đó là hai A-1 Skyraider. Thay vì đánh dấu vị trí của mình bằng lựu đạn khói, đại úy Littnan chỉ dẫn phi công của quan sát cơ cho Skyraider đánh theo sống núi và bắt đầu từ bờ nam của yên ngựa , và đánh từ từ lên cao. 

Một trong hai chiếc Skyraider, theo ý của Littnan, bay nhưng ko ném bom, và khi đc đồng ý, chiếc thứ hai, bay sát ngọn cây và bay theo sống núi, vừa nhả đạn đại bác 20 ly. Chiếc đầu tiên, chỉ vài giây sau chiếc thứ hai, đã tiếp tục bắn đại bác, và chiếc thứ hai trở lại với hai quả 500 cân Anh loại nổ phá và sát thương (high drag bom). 

Máy bay ném bom và bắn phá khoảng 15 phút. Chúng rời mục tiêu lúc 1900, đã biến phần trên của yên ngựa đổ nát và bốc khói. Bom đã đánh gục một số cây cao 30 mét, tạo những lổ to (gaping hole) trên tán lá dầy đặc, và đốn ngả những bụi tre dầy ở 20 mét của hai bên đường mòn. 

Honeycutt đã muốn gửi một toán đi lên đường mòn để kiểm tra thiệt hại, nhưng đã bỏ ý định này vì trời sắp tới. Thay vào đó, ông ra lịnh cho đại úy Littnan lập một vị trí phòng thủ đêm hay NDP ở bờ bắc của yên ngựa này và tiếp tục hành quân lục soát hướng về Động Ấp Bia. 

Sau khi đào hố chiến đấu và đặt các tiền đồn, 107 người của đ.đ. Bravo đã trải một đêm ko an bình. Trong suy nghĩ, phần lớn họ đã cố gắng quân bình niềm lạc quan mà họ đã có trước khi bắt đầu đi vào đường mòn với cú sốc của trận đánh tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này. Đây là một sự việc riêng biệt hay một linh cảm (presage) về một điều rất xấu sắp xảy ra? Đây là một câu hỏi mà nhiều người đã tự hỏi đêm nay./.

Chuyển ngữ từ trang 63-73 của quyển Hamburger Hill của Samuel Zaffira.

San Jose ngày 9 Dec 2020

Tài Trần




MỘT VÍ DỤ VỀ MỘT ĐƯỜNG THÔNG THỦY TRÊN MỘT BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH. NẾU BẠN ĐỨNG TRÊN MỘT ĐƯỜNG THÔNG THỦY, MẶT ĐẤT SẼ LÊN CAO Ở BA HƯỚNG VÀ ĐI XUỐNG Ở MỘT HƯỚNG. 




Sunday, November 22, 2020

CHƯƠNG 11 - ĐẶC CÔNG CSBV TẬP KÍCH CĂN CỨ HỎA LỰC AIRBORNE CỦA SƯ ĐOÀN 101 NHẢY DÙ MỸ   

- Dù các lãnh đạo Mỹ đã bỏ rơi VNCH nhưng chúng ta cũng ko quên các người lính Mỹ đã hy sinh cho đất nước này.

Lời nói đầu: Trong đầu năm 1969, các đơn vị thuộc sđ 1 Không Kỵ (Air Cav) sđ 101 Dù Mỹ, trong đó có TĐ 3/187, đã hành quân trong vùng thung lũng A Shau ở bắc tỉnh Thừa Thiên, nhằm phá tan các căn cứ hậu cần của csbv nằm sát biên giới Lào-Việt. Bên kia biên giới cũng là những căn cứ hậu cần rất lớn và rất an toàn của CSBV vì quân Đồng minh ko thể vượt biên giới để tấn công. Thung lũng này có tỉnh lộ 548 có từ thời Pháp, chạy theo hướng bắc-nam và sau này là một nhánh của đường mòn HCM; từ thung lũng cũng có tỉnh lộ 547 chạy đến Huế (hai TL này thời chiến tranh bị bỏ hoang); thung lũng cũng là nơi xuất phát người và vũ khí để tấn công Huế năm Mậu Thân 1968. Các đơn vị Mỹ đã đụng độ ác liệt với quân csbv tại một ngọn núi cao có tên là Động Ngải và trước đó quân Mỹ đã lập căn cứ hỏa lực (CCHL) Airborne, xem bản đồ, để yểm trợ cho TĐ 3/187. Từ đó trở đi các TL Mỹ đã nhận định rằng, ko như các nơi khác, quân csbv thường né tránh đụng độ với lính Mỹ vì sợ phi pháo, ở đây Bắc quân đã bất chấp phi pháo, CHẤP NHẬN GIAO CHIẾN với Mỹ, nên thiệt hại của hai bên đều cao mà đỉnh điểm là trận đánh tại Động Ấp Bia - ác liệt đến độ sau này mang tên là Đồi Thịt Bầm (hamburger Hill) và còn được quay thành phim! Do thương vong cao, trận đánh ở nơi hẻo lánh này đã tác động đến dư luận và quốc hội Mỹ, đã khiến các TL Mỹ tại VN đã thay đổi cách đánh bằng cách hạn chế dùng bộ binh, nhằm giảm thương vong cho lính Mỹ.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

========

                      

...

"Trong khi quân sĩ của trung tá* Honeycutt tiểu đoàn trưởng của TĐ 3/187 trải qua một đêm ngủ ko ngon (uneasy), quân csbv tại phía bắc của trại LLĐB A Shau đang chuẩn bị để đi tấn công. Tuy nhiên, mục tiêu của họ, ko phải là những vị trí phòng thủ đêm, viết tắt là NDP (night defensive position) của TĐ này, nằm rải rác dưới Động Ấp Bia (dân Quảng Trị hay Thừa Thiên gọi núi là động, do đó có thể gọi là Núi Ấp Bia - người dịch), nhưng lại là CCHL Airborne, một trong năm căn cứ pháo binh yểm trợ cho TĐ 3/187 Mỹ.

*Honeycutt chỉ là Trung tá (Lieutenant Colonel hay LTC), nhưng tác giả ghi là Đại tá (Colonel hay Col).

 Chỉ trong vài giờ nữa sẽ xảy ra một trong những tấn công bằng đặc công, đẫm máu nhứt, và đối với người Mỹ cũng là THÊ THẢM NHỨT, trong lịch sử chiến tranh VN. Cuộc tấn công này sẽ xác nhận sự nghi ngờ mà nhiều sq cao cấp của sđ này đã nghĩ rằng (entertain) rằng quân csbv giờ đây là có ý định chiến đấu, và chiến đấu dữ dội, để giữ phía bắc A Shau (vì khu vực Động Ấp Bia ở phía bắc của trại LLĐB A Shau -- người dịch), xem bản đồ.

Tuy nhiên, để hiểu những biến cố sắp tới tại Airborne, chúng ta cần trở lui 20 ngày trước. Trong những giờ đầu của sáng 22/4/1969, một máy bay quan sát, trong một phi vụ thám thính thường lệ trên phía bắc A Shau, đã thấy vài lều ở cao độ 2.000 m bên dưới của đỉnh của Động Ngải. Đây ko phải là khám phá đặc biệt (exceptional), vì nó đã ở trong một khu vực mà lính của sđ 101 dù Mỹ gọi là "khu vực nhà kho", một khu vực rộng 10 km2 của rừng núi ở phía đông của trại A Shau, nơi xuất phát một phần tiếp tế và đạn dược cho địch trong tỉnh Thừa Thiên.

Một lục soát kỹ lưỡng (thorough) khu vực này sẽ có thể tìm thấy hàng chục các túp lều bằng tre và nứa (bamboo and thatch) như vậy, đó có thể là một phần của một căn cứ địch đang hoạt động hay bỏ hoang lâu rồi.  

Dù sao đi nữa (either way), những túp lều này là những mục tiêu cho phép tấn công, và vài phút sau đó, các oanh tạc cơ đã bắt đầu ném các quả bom 250 và 500 cân Anh xuống khu vực chung quanh những lều này.  Đợt oanh kích đầu tiên của máy bay chỉ tạo những lổ hổng trong rừng rậm, nhưng từ đợt oanh kích thứ hai và ba, một loạt tiếng nổ PHỤ đã làm rung chuyển khu vực này giống như núi lửa đang phun. Những quả cầu lửa đã phun lên từ ngọn cây, và những tia chớp màu đỏ do bom nổ đã tạo nên những đợt sóng khắp khu vực núi rừng này. 

Lính csbv đang cố thủ trong những núi non bao quanh các lều này, và dù họ có thể dễ dàng bắn vào các máy bay này, họ ko làm như vậy. Họ đã quyết định chờ tình hình thuận lợi khi quân Mỹ tiến vào. 

Ngày kế, B-52 đã tấn công mạnh hơn, với hàng trăm tấn bom loại 1000 cân anh. Lần nửa, những tiếng nổ phụ lớn lao, là bằng chứng thuyết phục đối với tình báo Mỹ rằng địch đã dùng phần lớn khu vực tây nam của Động Ngải để chứa vũ khí đạn dược. 

Để khai thác mục tiêu và xem kho đạn lớn cở nào, một trung đội xung kích đường không (aerial rifle platoon) của TĐ 2/17 thuộc sđ 1 không kỵ Mỹ được đưa vào. Cả trung đội đi trên một CH-47 Chinook. Trong khi chiếc trực thăng khổng lồ đang đung đưa trên một hố bom, để cho bs xuống bằng thang dây qua một lổ nhỏ của rừng cây dầy đặc, tàu bay bị bắn trúng bởi hỏa lực dữ dội từ dưới đất khiến nó rơi xuống những ngọn cây cao 30m. Bảy người chết tại chỗ và hai bị thương nặng. Những kẻ sống sót, bị sốc dữ dội, chỉ đủ thời gian để lập một chu vi phòng thủ trước một lực lượng địch cở tr.đội từ núi tràn xuống và cố gắng tràn ngập. Lính Mỹ đã giết hay làm bị thương khoảng 1/2 của lực lượng địch, nhưng mất thêm 5 người và khẩn cấp gọi cứu viện.

Hai trung đội khác của TĐ 2/17 không kỵ đc trực thăng vận tới đó để phản công, nhưng họ tưởng như đã lạc vào cơn bão lửa (fire storm). Họ cố gắng đáp xuống đất nhưng rớt thêm hai chiếc và bị thương 10 người. Viện quân này có thể mở rộng chu vi, nhưng chẳng bao lâu bị tấn công dữ dội bởi những nhóm nhỏ quân CSBV. 

Sợ rằng TĐ 2/17 không kỵ có nguy cơ bị tràn ngập, tướng Zais, TL sđ 101 Dù Mỹ, gọi TT Honeycutt đến trại Eagle ở gần Phú Bài Huế. Trong cuộc gặp vội vả, tướng Zais nói với Honeycutt rằng tình hình tại Động Ngải nghiêm trọng và TĐ 2/17 không kỵ bị thiệt hại nặng nên cần được thay quân (relieve) lập tức. Sau khi thay thế 2/17 không kỵ, Honeycutt được lịnh phải tấn công Động Ngải và dọn sạch những hầm hố và giao thông hào trên núi này. 

Dù cho bị rơi hai trực thăng quan sát và một trực thăng Cobra vì hỏa lực địch, tđ 2/17 không kỵ đã cố thủ trong đêm đó. Vào sáng sớm NGÀY 25 THÁNG 4, Honeycutt đã đưa đ.đ. Bravo tới CCHL Blaze, nơi họ nhanh chóng chuẩn bị mở cuộc tấn công lên núi này, ám chỉ Động Ngải. (QĐ Mỹ dùng các chữ Alpha, Bravo, Charlie, và Delta để thay thế chữ A, B, C, và D trong danh xưng các đại đội để tránh nhầm lẩn -- người dịch). 

CCHL Blaze, đ.u. Robinson, chỉ huy đ.đ. Bravo, sẽ được thay thế trong vài ngày tới bởi đ.u. Littnan, tập hợp các trung đội trưởng và thuyết trình về tình hình Động Ngải. Các trung úy (lieutenant)  Boccia, Eward, Dickey, và Denholm đứng im lặng khi đ.u. nói. "2/17 Thiết kỵ đã bị thiệt hại," ông nói vắn tắt. "Kể từ sáng hôm qua, họ mất hơn 40 người, và nếu chúng ta ko tới đó để giúp họ, họ sẽ bị quét sạch (wiped out). Rất xấu ở đó, và tôi lập lại rất xấu!"

Con số thương vong này đã gây kinh ngạc các sq hiện diện, dù họ đã nghe tin này rồi. Trong khi 4 trung úy chuẩn bị người cho phản công, đ.u. Robinson nhận lịnh mới từ TĐ trưởng Honeycutt về thay đổi kế hoạch. Chỉ trong GIỜ QUA, TĐ 2/17 không kỵ này đã mất thêm 40 NGƯỜI khi đẩy lui một tấn công dữ dội (savage) của bộ binh địch. Chu vi phòng thủ của họ bị chọc thủng (beleaguered) đến nỗi Honeycutt nghĩ rằng sẽ ko an toàn nếu đưa quân đến phản công. Ông đã quyết định thả đ.đ. Bravo và Delta xuống đỉnh của Động Ngải và từ đó đánh xuống hướng về phía TĐ 2/17, tạo gọng kềm để từ từ siết chặc địch. 

Không quân (KQ) đã dọn một BÃI ĐÁP (LZ) khoảng 200 MÉT TỪ ĐỈNH của Động Ngải, và ông nói đ.u. Robinson sẽ dùng nó cho cuộc tấn công đầu tiên. Một khi toàn đ.đ. Bravo đã xuống và chiếm đỉnh núi, đ.đ. Delta sẽ trực thăng vận (to CA) vào.

Kế hoạch có vẻ tốt đẹp trên giấy, nhưng khi tr.úy Boccia nghe rằng trung đội của y sẽ vào trước, ông phải cố gắng để tránh hoảng loạn (had to fight off a feeling of panic). Nếu bắc quân có phòng không ở những dốc núi (slope) thấp của Động Ngải, chúng cũng sẽ có phòng không ở gần đỉnh, và Boccia hình như chắc chắn rằng đ.đ. Bravo sẽ được thả xuống một bãi đáp (LZ) NÓNG. 

Bỏ qua điềm báo trước, Boccia nhanh chóng đưa lính lên sáu trực thăng, và lúc 1530 họ cất cánh đi về bắc của A Shau, tiếp sau đó là những chiếc chỡ phần còn lại của đ.đ. Bravo. Boccia đi trong chiếc đầu, cùng với các chuyên viên bậc 4 như Helms, Logan, Hyde, Walton, và Onge. Trực thăng phải bay gần 10 phút trong khoảng cách 13 km từ CCHL Blaze tới Động Ngải. Khi họ tới, toàn đội hình đã bay chậm (hover) trên thung lũng trong khi hai oanh tạc cơ ném các bom 500 cân Anh xuống khu vực chung quanh bãi đáp.

Lúc 1600, sau khi dọn bãi lần cuối (final prep) bởi trực thăng võ trang, chiếc trực thăng dẫn đầu bay vào bãi đáp. Điềm báo trước của Boccia đã đúng. Khi trực thăng còn cách bãi đáp khoảng 1.000 m, xạ thủ ở phía trái, binh nhứt (Pfc) Fleagane, đã phát hiện những họng súng (muzzle) khạc đạn từ những cây ở bên phải của bãi đáp. Y đếm từ 5 đến 6 họng súng, nhưng khi trực thăng chỉ còn 500 m, số này gấp đôi. Khi trực thăng còn 250 m, phi công phụ nói vào máy bộ đàm, "Nổ súng ngay lập tức!"

Fleagane ko cần ai ra lịnh. Trước khi đ.u. này nói hết câu, viên binh nhứt trẻ tuổi đã bóp cò khẩu M-60 và ria đạn vào hàng cây bên dưới. Trưởng phi cơ cũng nổ khẩu M-60. 

Fleagane lúc đầu giữ cò súng trong 30 giây, sau đó giữ trong 20 giây. Nhưng y thấy ko đủ. Mọi nơi trên bãi đáp đều có thêm nhiều họng súng của địch đang nhả đạn. Y tiếp tục bắn vào sườn núi. 

Khi trực thăng chỉ còn cách bãi đáp khoảng 100 m, y bắt đầu thấy những hầm trú ẩn và hố chiến đấu cá nhân (spider hole) ở khắp nơi trên sườn núi và y cũng thấy vài thang tre mà những tên bắn sẻ dùng để leo lên ngọn cây. Y bắn vài loạt vào những ngọn cây này nơi mà y nghĩ có lính bắn sẻ, nhưng quá nhiều mục tiêu cho khẩu súng của y.

Ở khoảng cách 60 m, trực thăng bị trúng một loạt đạn. Fleagane và trưởng phi cơ tiếp tục bắn, ria đạn chung quanh bãi đáp, trong khi thiếu tá Daugherty trưởng phi cơ cho máy bay đáp xuống.  

Bãi đáp chật chội và đầy những mảnh vụn của cây, và Daugherty chỉ còn khoảng một mét là cánh quạt đụng cây hai bên. Với đạn tiếp tục bắn vào máy bay, Daugherty cho máy bay chòng chềnh cách mặt đất khoảng 3m. Nhanh như chớp, Logan, Onge, Helms, Hyde, và Walton nhảy ra khỏi máy bay và chạy nhanh vào rừng chung quanh. Khi tới phiên trung úy Boccia, túi đeo mặt nạ hơi cay của ông bị vướn vào một móc trên sàn máy bay và ông ko thể cử động. Với máy bay đang trúng đạn, đ.u. Watson nhìn quanh và hét lớn với Fleagane, "Đẩy ông ta ra."

Ngay khi Fleagane bắt đầu đẩy Boccia, máy bay đột nhiên bay lệch khoảng một thước khỏi đường đỉnh của núi khiến Boccia rơi vào khoảng không thay vì rớt xuống đất. Trung úy Boccia rơi vào một khúc gỗ, rồi lăn thêm (tumble) gần 5 mét xuống hố trước khi ngừng lại. 

Ở bên trên, thiếu tá Daugherty cho máy bay bốc lên cao, và Fleagane nhào tới khẩu M-60. Ở bên trái của y, ko xa hơn 20 m, y thấy hai lính BV núp sau một khúc gỗ. Y quay súng về họ và bắt đầu bóp cò nhưng một quả B-40 trúng ngay dưới ghế ngồi của phi công. Fleagane nghe một tiếng nổ ở sàn máy bay giống như một cây búa khổng lồ vừa đập vào. Y nhìn vào phòng lái thấy tiếng nổ đã thổi bay cánh tay trái của đ.u. Watson và phòng lái tung tóe máu.

Trực thăng đã rớt như viên đá, cánh quạt chặt cây trước khi sút ra và rớt (careen) xuống rừng. Máy bay đã đụng đất với một lực mạnh đến nỗi càng của nó kẹt cứng vào mặt đất và bộ phận truyền động của máy bay phá nát tay trái của Fleagane.

Người xạ thủ này, choáng váng, ngồi trên sàn trực thăng một lúc, và đã thấy điều gì đó sẽ ám ảnh y suốt đời. Dù chảy máu nhiều (profusely), đ.u. Watson rút một dao rựa từ dưới ghế, rời ghế và lao lên núi tới vị trí của địch. Ông chạy chưa được 15 m và chỉ cách Onge chưa tới một m, đang đứng núp một cây, thì một quả B-40 trúng vào ngực của đ.u. Tiếng nổ đã tung xác ông và Onge thành từng mảnh rơi lả chả xuống đất. 

Fleagane bò qua cửa bên kia của trực thăng và bắt đầu kéo Daugherty khỏi ghế. Một tên bắn sẻ nổ súng và trúng đầu gối của thiếu tá Daugherty. Fleagane đã đưa thiếu tá đến sau một khúc gỗ, nhưng một giây sau, tên bắn sẽ này đã bắn trúng lưng thiếu tá. 

May mắn cho thiếu tá và Fleagane vì Boccia và đồng đội đã lập một chu vi chung quanh chiếc trực thăng rơi, và giúp đưa 2 người tới một hố bom. Trong khi đồng đội nằm sát đất để tránh hỏa lực địch từ các vị trí trên cao, Boccia gọi trực thăng Cobra. Trong khi Cobra bắn vào khu vực đó, Boccia gọi trực thăng cứu thương vào để bốc Fleagane và thiếu tá Daugherty. 

Vài phút sau đó, TĐ trưởng Honeycutt bay bên trên và điều khiển một đợt gồm 7 chiếc chuẩn bị đáp xuống phía tây của núi. Ông đối diện một khó khăn. Nếu ông ko tăng viện cho vị trí của Boccia, họ sẽ bị tràn ngập. Nhưng gửi thêm viện quân vào một bãi đáp nóng như vầy sẽ có thêm thương vong. Ông đã quyết định tăng viện. Mặc dù bị bắn dữ dội, chiếc đầu tiên thả xuống sáu người và bay đi. Tuy nhiên phi công của chiếc thứ hai đã hoảng loạn khi máy bay bắt đầu trúng đạn và máy bay rơi xuống một cái cây. Máy bay nghiêng qua một bên và rớt xuống rừng bên trái của bãi đáp. Chiếc thứ ba thả xuống thêm sáu người, nhưng phi công của chiếc thứ tư, có lẽ mất tinh thần (unnerved) do hỏa lực dầy đặc của địch bắn vào máy bay, đã bay thụt lui khiến cánh quạt đuôi đụng cây và rớt xuống rừng ở bên phải của bãi đáp. Chiếc thứ năm, dù ko trúng đạn, nhưng mất sức quay (torque) trong khi lơ lửng trên cây để thả lính và rớt ngay xuống bãi đáp, khiến bãi đáp ko thể dùng được nữa. 

Boccia buộc lòng phải hủy bỏ mọi tăng viện. Với buổi tối sắp đến, y ra lịnh tháo các đại liên trên bốn máy bay rơi và lập một chu vi với 7 người bị thương nằm ở giữa. Sau đó một chút, một trung đội địch quân bắt đầu thăm dò chu vi phòng thủ. Quân của ông đẩy lui nhưng chúng tiếp tục thăm dò suốt đêm. 

Vào buổi sáng hôm sau, TĐ trưởng Honeycutt đã nhanh chóng trực thăng vận phần còn lại của đ.đ. Bravo và hai tr.đ. của đ.đ. Alpha vào bãi đáp DƯỚI. Sau khi lập chu vi phòng thủ và giúp TĐ 2/7 thiết kỵ tải thương và mang đi người chết, cả hai đ.đ. bắt đầu gửi những toán tuần tiểu cấp tiểu đội đi ngược lên núi để thăm dò vị trí địch. 

Với bãi đáp dưới đã an ninh , TĐ trưởng gọi oanh tạc cơ và trực thăng võ trang tấn công vị trí địch ở phía trên chu vi của Boccia. Kế đó, sau khi chờ các phi công của chiếc máy bay rơi sửa chữa và dọn sạch bãi đáp, ông ra lịnh cho đ.u. Sanders trực thăng vận đ.đ. Delta vào tăng viện cho Boccia. Năm chiếc đầu tiên chỡ đ.đ. Delta đã thả lính xuống an toàn nhưng hai chiếc kế bị bắn rơi, và bãi đáp lần nữa ko xử dụng. 

Lúc 1540, TĐ trưởng đích thân đáp xuống bãi đáp DƯỚI và chỉ huy trực tiếp. Ông vừa lập xong bch TĐ thì cả vị trí bị pháo dữ dội bằng cối. Pháo cối kéo dài hơn một giờ. Một đ.đ. địch trang bị AK47 tấn công chu vi từ hai hướng khác nhau. Các xạ thủ M-79 và súng không giựt phản công bằng đạn chống biển người (flechette) và bẻ gẫy đợt tấn công. 30 phút sau đó, địch tập hợp tấn công lần nữa. Có một lúc, địch đã chọc thủng phía bắc chu vi và hình như bắt đầu tràn ngập, nhưng TĐ trưởng đã gọi máy bay dùng bom napalm thả xuống cách vị trí quân Mỹ chưa tới 50 m. Một quả bom đã đốt cháy một tiểu đội địch khi họ chuẩn bị tấn công. Lúc gần tối, địch bắt đầu rút lui về phía núi cao, để lại 10 xác chết. 

VÀO BUỔI SÁNG NGÀY 26/4, ĐT Honeycutt ra lịnh cho TĐ 3/187 tấn công. Đ.u. Harkins, chỉ huy đ.đ. Alpha, ngay từ sáng sớm sẽ dùng trực thăng xuống bãi đáp TRÊN và chỉ huy đám tàn quân ô hợp (hodgepodge) ở đó. Ngay khi tới nơi, ông họp với các sq của ông, "Tôi ko thể nhớ đã thấy được một hổn độn như vầy, " Harkins nói vừa chỉ tay vào bãi đáp với những trực thăng nằm rải rác. "Nó giống như một phim Keystone Kops tồi."

Harkins liền nhanh chóng tổ chức họ thành các trung đội và lập tức mở cuộc tấn công. Sau khi kiểm soát các vị trí cao chung quanh bãi đáp, ông mở rộng chu vi, rồi ra lịnh cho trung úy Boccia và trung đội 3 của trung úy Bresnahan, bắt đầu tấn công xuống núi. 

Với bãi đáp trên đã an ninh, TĐ trưởng Honeycutt ra lịnh mỗi đ.đ. Bravo, Alpha và Delta, cử một tr.đội từ bãi đáp dưới tấn công ngược lên núi. Trước đó Honeycutt đã cho ném bom ồ ạt, với nhiều tiếng nổ phụ, do đạn pháo của địch bị nổ. Sau khi oanh kích, trung đội của đ.đ. Delta đã chiếm một kho vũ khí địch chỉ cách bãi đáp DƯỚI chưa tới 200 m. Trong đó có hơn 10.000 LỰU ĐẠN TRUNG CỘNG và 20.000 ĐẠN SÚNG NHỎ. 

Gần đó, trung đội 4 của đ.đ. Bravo, chỉ huy bởi trung úy Denholm, đã chiếm một kho vũ khí cũng lớn như vậy. Tuy nhiên, sau đó một chút họ đã ngừng tiến quân lên núi vì bị chặn bởi một trung đội tăng cường của CSBV núp trong khoảng 15 công sự. Denholm gọi máy bay nhưng bom ko hiệu quả mấy. Sau khi dọn đường kỹ lưởng bởi pháo binh, Delholm và đồng đội đã tấn công phòng tuyến này. Dùng súng không giựt 90 ly, họ đã phá hủy phần lớn các công sự trong chưa tới một giờ và giết 15 địch quân.

Ở phía đông, cùng tiến song song với họ, tr.đội 2 của đ.đ. Alpha, chỉ huy bởi trung úy Bennitt, cũng chiếm 10 công sự địch, giết 7 tên và khám phá một kho lớn súng đạn địch. 

Ba trung đội này nghỉ qua đêm ở khoảng 200 m từ bãi đáp trên. Vào sáng sớm ngày 28, sau một giờ oanh kích dọn bãi, họ lần nữa tấn công ngược lên núi. Cùng lúc, một trung đội thuộc đ.đ. Alpha và Bravo bắt đầu tấn công xuống núi. Khoảng 30 tới 40 lính CSBV bị kẹt giữa hai lực lượng này và bị giết. Hai lực lượng này đã bắt tay sau đó vào buổi chiều, và khu vực từ 200 đến 300 m chung quanh bãi đáp trên đã an ninh. 

Khi việc này hoàn tất, TĐ trưởng Honeycutt ra lịnh cho công binh bắt đầu xây dựng CCHL Airborne gần địa điểm của bãi đáp trên. CCHL này cần để yểm trợ cho việc dọn sạch (mop-up) địch quân cuối cùng ở Động Ngải. Các công binh  đã làm suốt đêm 28 để dọn sạch rừng trên núi và chiều ngày 29 - dù vị trí vẫn chưa xong - ba khẩu đại bác đã đưa đến. 

Với đ.đ. Alpha bảo vệ CCHL này, hai đ.đ. Bravo và Delta bắt đầu hành quân để dẹp sạch đến người lính địch cuối cùng trên núi này, ý nói Động Ngải. Không có đ.đ. nào chạm súng đáng kể với địch. Nhưng vào chiều ngày 30, sau một chạm súng ác liệt với một trung đội địch trong công sự, khi chúng tháo chạy (rout), đ.đ. đã khám phá một kho chứa hơn HAI CHỤC TẤN GẠO và HÀNG TRĂM hỏa tiển 122 ly và đạn B-40. 

Bốn ngày kế đó, đ.đ. Delta tiếp tục khám phá những kho nhỏ hơn trong khi đụng độ với những nhóm nhỏ lính bắn sẻ CSBV. VÀO SÁNG 4/5, khi đ.đ. này lục soát phía đông bắc hướng về đỉnh của Đông Ngải, họ đã đụng đầu với một đ.đ. địch có vũ khí nặng trong các công sự. 

Lính của Sanders đã chiếm một số công sự bằng súng không giựt, nhưng  ba lần xung phong đều bị đẩy lui. Sau lần xung phong thứ ba bị thất bại, Sanders đã gọi súng cối, trực thăng võ trang hay gunship, và cuối cùng, máy bay ném bom các công sự này. Cối và gunship tác dụng ít với công sự đào sâu nhưng oanh kích có kết quả. Dùng kỹ thuật ném bom chính xác (pinpoint bombing), máy bay đã đốt cháy các công sự này với gần 30 quả napalm và biến nó thành quả cầu lửa. 

Ngay khi oanh kích chấm dứt, lính cuả đ.đ. Delta tấn công lên núi và lục soát các vị trí CS. Họ ko gặp hỏa lực địch nhưng chỉ gặp mùi nôn mửa của thịt cháy. Trong các hầm hố và giao thông hào, họ khám phá xác 15 địch quân, nhiều tên vẫn còn cháy. Đ.đ. di chuyển nhanh để đuổi theo phần còn lại của đ.đ. này, nhưng hầu hết họ trốn thoát, mang theo họ với các người chết cột vào cây sào tre. Trận đánh này là trận cuối cùng mà quân CSBV cố thủ ở Động Ngải. Sau đó, phần lớn những đv địch trong khu vực đã bỏ vị trí và di chuyển xa hơn về phía tây bắc để đến các nơi đóng quân mới (bivouac). 

TĐ 3/187 của ĐT Honeycutt chỉ CHẾT NĂM NGƯỜI và 54 bị thương trong cuộc chiến 15 ngày tại núi này; nhưng thiệt hại của quân CSBV thì nặng hơn nhiều. Họ ko những chỉ CHẾT HƠN 100 và mất hàng trăm tấn tiếp liệu, họ còn mất sạch một trong những căn cứ tiếp liệu lớn tại A Shau. Tuy nhiên, ngay cả lực lượng họ rút khỏi núi này, các cán bộ của trung đoàn 6 csbv đã sẵn sàng kế hoạch phục thù. 

Các người lính của tiểu đoàn 3/187 này của sđ 101 Dù sau đó sẽ được trao tặng Biểu Chương Đơn Vị Dũng Cảm vì hoạt động của họ tại Động Ngải, nhưng lúc này họ ko có thì giờ để hả hê (gloat) trên chiến thắng. NGÀY 8 THÁNG 5, ko có một chút nghỉ ngơi, cả TĐ được trực thăng chỡ về Trại Evans, căn cứ của Lữ đoàn 3, để họ có thể sẵn sàng cho hành quân (HQ) Apache Snow hai ngày sau đó. Họ được thay thế ở CCHL Airborne bởi đ.đ. Alpha của tđ 2/501, cũng thuộc sđ 101 dù, của đ.u. Johnson. Ba đại đội khác của tđ 2/501 này, cũng được chỉ định tham dự HQ Apache Snow, cũng được chỡ về Trại Evans và từ đó tới CCHL Blaze.  

Honeycutt có mặt tại CCHL Airborne khi đ.đ. Alpha của 2/501 tới nhận căn cứ, và ông ko thích những gì ông thấy. Lính tráng hình như quá ngưỡng mộ ông, và sau khi nói chuyện với vài người, ông đã biết tại sao. Họ đã có cảm tưởng rằng trận chiến ở Động Ngải đã xong, núi này đã an toàn, và họ ở đó để nghỉ ngơi và canh gác một CCHL.

Trước khi rời CCHL này, ĐT đã nói với hai trung úy trẻ và khuyên họ , "Nên đào công sự kỹ lưỡng, căng nhiều mìn hơn, đi tuần nhiều hơn, và nên bắt đầu tích cực phòng thủ nơi này. Chúng tôi chỉ mới đá đít bọn khốn kiếp ra khỏi đây, và chúng sẽ trở lại để trả thù. "

Honeycutt ko biết các sq này có nghe lời ông ko, nhưng ông ko có thời gian để quan tâm điều đó. Lúc này, ông quan tâm về HQ Apache Snow. 

Vị trí của đ.đ. Alpha của TĐ 2/510 ko được lý tưởng lắm. Các công binh đã xây dựng CCHL này trên đầu phía bắc của một ngọn núi song song với thung lũng. Vị trí chánh dài 200 mét và rộng 25 mét, với một pháo đội đại bác 105 ở giữa và hai pháo đội ở hai đầu của CCHL. Ở một đồi (knoll) nhỏ gần đó, khoảng 50 mét cao hơn căn cứ, họ đã dọn quang và cho một trung đội cối 81 với 2 khẩu trấn giữ. Căn cứ chánh nối với ngọn đồi bằng một yên ngựa và cả hai đều bao quanh bởi các hố cá nhân và một vòng dây thép gai. 

Ở vùng đồng bằng một vị trí như vậy sẽ dễ dàng phòng thủ nhưng ở trung tâm một núi đầy rừng rậm như Động Ngải, nó đầy (be fraught) nguy hiểm. Trong khi phía tây và tây bắc của vị trí, sườn núi dốc đứng và có thể dễ dàng phòng thủ, nhưng mặt đông bắc và nam có dốc núi thoai thoải (gradual) và cung cấp cho kẻ tấn công một đường tiến sát dễ dàng tới trung tâm của CCHL. Nguy hiểm hơn nữa, một khu rừng dầy đặc ở cách hàng rào khoảng một mét. Trong khi các lính công binh có thể dọn sạch rừng rậm chung quanh khu vực sát căn cứ, nhưng họ chỉ có thời giờ dọn sạch khoảng một mét rừng kể từ hàng rào. Ngay khi đ.đ. Alpha chiếm giữ vị trí này, họ lập tức cố gắng cải thiện nó. Để củng cố chu vi, họ đào một số hố cá nhân, và những hố mới và hố có sẵn đều có nắp che. Để cung cấp tốt xạ trường, rừng được chặt sạch khoảng 5 mét, và hai hàng kẻm gai, kèm theo lựu đạn chiếu sáng được lập thêm.

Để bảo vệ gần 450 mét của chu vi, đ.u. Johnson chỉ định mỗi trung đội trách nhiệm một khu vực. Ở phía bắc và đông bắc, ông giao cho tr.đội 2 của thiếu úy Pitt; ở phía tây và tây bắc, là tr.đội của thiếu úy Cushing; và ở phía nam, tr.đội 3 của thiếu úy Sanders. Ông cũng có trách nhiệm bảo vệ cho 2 khẩu cối trên đồi nhỏ. 

Nếu người Mỹ biết được khuyết điểm của hệ thống phòng thủ của CCHL Airborne thì các cấp chỉ huy của trung đoàn 6 csbv đang đóng trong hang sâu ở núi Đồi Thông, cách đó 2.5 km cũng biết. Một năm trước đó, trong công kích Tết 1968, tr.đoàn 6 là một trong những đv đã chiếm cố đô Huế, rồi hơn một tháng chiến đấu dữ dội chống lại lực lượng TQLC Mỹ và VNCH cố gắng tái chiếm TP này. Trong trận đánh này, họ chịu tổn thất gần 50/100 và cuối cùng buộc phải rút lui trở về rừng núi. Tuy nhiên, trong năm qua, họ đã bổ sung quân số (rebuilt their depleted ranks) từ nguồn thay thế vững chắc từ đường mòn HCM gần đó và nay sẵn sàng trở lại để tấn công.

Nhờ tù binh CSBV bị bắt sau đó khai báo, quân Mỹ biết rằng khoảng 8 hay 9 THÁNG NĂM ban tham mưu của trung đoàn (tr.đ.) 6 đã lên kế hoạch (draw up) để tràn ngập toàn bộ CCHL Airborne và giết mọi người trong đó. Kế hoạch rất chi tiết và ghi rõ những nhiệm vụ riêng biệt cho từng đv tham chiến. Mủi nhọn (spearhead) của tấn công này là 46 người của TĐ đặc công K12, một đv đã từng chiến đấu ở Huế, và bộ binh thuộc đ.đ. 3 và 4 của TĐ 806. Hỗ trợ cho tấn công là một pháo đội cối 82 ly.

Hướng dẫn bởi một đv trinh sát, lực lượng tấn công rời nơi đóng quân tại Núi Đồi Thông khoảng 17:00 ngày 12 THÁNG NĂM và khi tối xuống, vị trí tấn công của họ chỉ cách hàng rào của CCHL chưa tới 30 MÉT. Dự trù tấn công lúc 01:00 sáng, nhưng do trở ngại về tiếp vận nên hoản lại 2 giờ 30 phút.

Lúc 02:00 sáng các đặc công rời vị trí và bắt đầu bò chậm về hàng rào. Phần lớn họ ko mặc gì trừ quần cụt, nhưng một số thì trần truồng. Họ đều có đôi mắt sắc như thép lạnh và thành thạo công việc. Họ tiến gần tới vị trí chánh của CCHL từ hướng bắc và đông bắc và ở khu đồi nhỏ thì từ hướng bắc, đông và tây bắc. (Xin nhắc lại: căn cứ hỏa lực có căn cứ chánh trên một ngọn núi và căn cứ phụ trên một ngọn đồi tuy nhỏ nhưng cao hơn căn cứ chánh. Căn cứ chánh và phụ nối nhau qua một yên ngựa). 

Một số đặc công đi đầu có nhiệm vụ mở rào, và theo sau họ là các đặc công khác mang các túi chất nổ (satchel charge) và AK-47 và cuối cùng là bộ binh mang AK và B-40, B-41.

Những đặc công mở rào là những người khỏe mạnh (well-built), có sức lực (husky), được chọn lựa đặc biệt cho công tác này do lanh lẹ (agility) - và di chuyển như mèo. Mỗi tên ko mang gì hết ngoài một kéo cắt kẽm gai và vài que tre rất nhỏ (thin strand of bamboo). Mỗi tên đặc công bò tới gần hàng rào kẽm gai, bằng cách trườn tới trước (slither forward) ko một tiếng động như con rắn, mắt và tai theo sát cử động hay âm thanh nhỏ nhứt. Với thân thể uốn lượn, y chuyển động qua một số kẽm gai hay bên dưới các kẽm gai, luôn luôn cảm nhận trước mọi lựu đạn hay mìn chiếu sáng. Khi y tìm thấy một mìn chiếu sáng, y lấy một que tre nhỏ từ miệng và cột lại cái chốt (striker). Khi mỗi tên đã vô hiệu hóa tất cả mìn chiếu sáng trong khu vực của y, y lại trở ra, cắt kẽm gai để tạo lối đi xuyên qua ba lớp hàng rào. Vào lúc 03:00 sáng - các đặc công đã mở những cửa (gap) trong sáu khu vực của căn cứ này - mà ko bị lính Mỹ phát hiện. (Nói thêm: Khoảng năm 1969-70, tôi đã xem đặc công VC biểu diển tại một doanh trại VNCH với nhiều lớp kẽm gai bao bọc, có cỏ cao chừng vài tấc. Anh đặc công hồi chánh viên, đứng ngoài các lớp hàng rào cho chúng tôi thấy rồi bắt đầu bò. Từ đó chúng tôi ko thấy anh ta dù đó là BAN NGÀY. Khi anh vào sát hàng rào cuối cùng, nơi chúng tôi đứng, chúng tôi mới thấy: anh ta cho biết chỉ sợ kẽm gai THẢ RỐI và lựu đạn hay mìn CHIẾU SÁNG. Họ ko sợ chó vì họ dùng BẢ CHÓ (thịt bò có tẩm thuốc độc) nhưng rất sợ NGỖNG vì loại này gặp người thì kêu quang quác.)

Khoảng 03:10 sáng, binh nhứt (pfc) Weston, một xạ thủ cối 81 ly đang canh gác trong một hầm trú ẩn ở phía tây của ngọn đồi, đã nghĩ rằng nghe tiếng động dưới y trong hàng rào. Dù đang điều khiển khẩu M-60, y đã nhận lịnh rằng ko dùng súng này trừ phi bị tấn công trực tiếp. Thay vào đó, y đã ném lựu đạn vào tiếng động này. Lựu đạn nổ khoảng một thước bên ngoài hàng rào, và trong tích tắc sau khi nổ, y nghe một tiếng rên rĩ của kẻ sắp chết. Nghe tiếng nổ này, trung sĩ nhứt Parker của trung đội súng cối, chạy nhanh tới hầm nơi binh nhứt Weston đứng gác. Trong năm phút kế, ông và Weston nhìn rất kỹ qua hàng rào nhưng ko thấy gì hết.

Chuyên viên bậc 4 (sp.4) Bucknor, một lính bộ binh của tr.đội 3, đứng gác trong hố cá nhân ở phía đông của đồi, dù trong HAI GIỜ dán mắt (eyes glued) vào hàng rào, và dù đặc công di chuyển chung quanh, y cũng ko nghe hay thấy gì hết. Nhưng y đã có thể thấy những thứ khác. Trời đêm đó rất trong và đầy sao, và y đã thấy đạn đánh dấu (tracer) màu xanh và đỏ đầy trời chung quanh Động Ấp Bia, cách nơi y đứng chưa tới bảy km. Và bên dưới, trong trung tâm của thung lũng này, y có thể thấy đèn pha của một đoàn xe tải CSBV di chuyển chậm chạp xuôi nam trên xa lộ (highway) 548 hay một trong những nhánh của nó.

Đồng hồ của Bucknor vào khoảng 03:15 sáng, và y đã đánh thức người gác kế, chuyên viên bậc 4 Williams, đang ngủ phía sau hố. Khi Williams đã đứng vào vị trí gác, Bucknor cuộn tròn người trong cái mền poncho chống lại không khí mát lạnh của núi và lập tức ngủ mê.

Tuy nhiên, vài phút sau, y bị lắc mạnh bởi ai đó. Y nhìn lên và thấy Williams đang quì bên cạnh y, la to, "Dậy! Dậy! Chúng ta bị tấn công!"

Bucknor nhảy ngay vào hố chiến đấu bên cạnh Williams, đang có một đống lựu đạn trước mặt y và đang liên tục ném vào hàng rào kẽm gai. Bucknor nhìn xuống vào vị trí chánh (vì đồi nhỏ cao hơn căn cứ chánh) và thấy đạn cối nổ khắp nơi. Một viên đã trúng kho đạn nằm ở trung tâm của căn cứ, và y thấy trong kinh hoàng (horror) hai lính Mỹ bị tung lên trời, tay và chân văng ra mọi phía. Sau khoảng 2 tới 3 phút pháo tập trung, các xạ thủ CSBV đã bắt đầu pháo rải rác khắp căn cứ chánh. Qua tia chớp của tiếng nổ, Weston có thể thấy các lính của các khẩu đại bác bị đốn ngả.

Vài giây sau, các xạ thủ địch cũng nổ súng vào đồi nhỏ. Trong 30 giây, 20 tới 30 đạn cối rới xuống đồi. Và sau đạn cối là hàng loạt đạn B-40 và B-41 bắn từ các vị trí chung quanh căn cứ hỏa lực.

Lính Mỹ từ căn cứ chánh và đồi đã nhảy xuống hầm trú ẩn (bunker), và hố cá nhân để tránh miểng pháo. Trong khi đạn cối rơi xuống và lính Mỹ nằm rúc dưới hầm có nắp để tránh đạn (huddle under cover), các đặc công đã ko một tiếng động, trườn qua các lổ trên hàng rào và xuất hiện rải rác khắp căn cứ.

Sau khi di chuyển qua hàng rào ở đầu phía bắc của căn cứ chánh, các đặc công đã ném các túi chất nổ vào 5 hay 6 hầm trú ẩn, và lạnh lùng bắn các lính Mỹ trong hầm đang rên la vì bị thương. Một toán khác tấn công vào hai pháo đội 105 ly ở gần phía bắc của căn cứ, phá hủy năm khẩu với chất nổ và bắn gục 15 lính pháo binh. Một đặc công bắn một quả B-40 vào một thùng Conex - được dùng làm trung tâm điều khiển pháo binh của một pháo đội. Khi hai lính Mỹ trong thùng này bắt đầu la hét vì đau đớn, hai đặc công khác đứng bên ngoài ria đạn vào thùng. Đại úy Freeman, chỉ huy của pháo đội này (thông thường một pháo đội có sáu khẩu -- người dịch), đã cố gắng tổ chức một chu vi phòng thủ chung quanh một trong những hố chứa đại bác, nhưng bị bắn gục. 

Những đặc công khác, huấn luyện đặc biệt để xâm nhập sâu, đã tiến vào trung tâm của căn cứ chánh. Vài người ko mang gì ngoài các túi chất nổ, và họ đã ném chúng vào bất cứ mục tiêu gì họ gặp trên đường đi. Một số đặc công khác theo sau với súng AK47 bắn vào lính Mỹ đang bị rối loạn (confusion). Họ di chuyển rất nhanh, như những bóng ma, trong bóng tối. Trong lúc rối loạn, lính Mỹ bắn vào các bóng ma này và đôi khi bắn vào nhau!

Các đặc công cũng xâm nhập hàng rào tại nhiều chỗ ở phía đông bắc của đồi nhỏ và khoảng trống giữa đồi nhỏ và căn cứ chánh. Một khi đã vào căn cứ, họ chia nhau ném chất nổ vào chu vi phòng thủ.

Binh nhứt Weston, người đã ném quả lựu đạn đầu tiên ở đồi nhỏ, giờ đang bò rất thấp về vị trí súng cối của y, nhưng một túi chất nổ rơi kế bên y, gây thương tích cho chân phải và mông của y.  Y kêu y tá, nhưng y tá Kreiger lúc đó cũng bị trúng pháo, miểng văng đầy đầu và tay và gây thương tích nặng cho chân trái. 

Trung sĩ nhứt Parker, đang ngồi trong hầm chỉ huy gần hai khúc gỗ trong trung tâm của ngọn đồi, lao nhanh về các khẩu cối của y lúc bắt đầu cuộc tấn công. Trên đường đi, y đã ngả xuống ba lần vì tiếng nổ. Khi tới được vị trí đặt cối, y cùng trung sĩ Branco và ba hay bốn người khác nhanh chóng chỉnh hai khẩu cối để bắn đạn chiếu sáng. Tuy nhiên, trước khi họ bỏ quả đầu tiên vào nòng, hai túi chất nổ đã rơi trước các khẩu này. Sức nổ đã làm ba người bị thương và khiến Parker bất tỉnh. Y ko biết bất tỉnh bao lâu nhưng khi tỉnh dậy thì ko thể đứng dậy. Đầu y mờ mịt và chân rất yếu. Y muốn nằm xuống và nghĩ một phút, nhưng có một giọng nói vô hình từ trong đầu "Mầy phải trở lại khẩu súng để bắn đạn chiếu sáng căn cứ, vì nếu mầy ko thấy bọn khốn kiếp này, chúng sẽ tràn ngập nơi này và giết mọi người."

Ý tưởng này đã khiến Parker trở lại vị trí súng. Với Branco, họ đã cố gắng dựng hai khẩu cối lên, nhưng khám phá rằng chân súng bị bắn cong. Parker nhanh nhẹn, để một nòng súng vào vai trong khi Branco bỏ quả chiếu sáng đầu tiên. Đạn nổ sáng tỏ trên đầu họ, đong đưa nhờ cái dù, và từ từ hạ xuống và chiếu sáng toàn căn cứ hỏa lực. Branco đang chuẩn bị bỏ thêm quả khác thì hai hay ba túi chất nổ rớt ngay trước khẩu cối của họ. Tiếng nổ làm hai người ngả xuống và đốt những túi thuốc bồi (dùng để tống đạn cối đi -- Người dịch) trong ổ súng cối.

"Tôi cần người giúp tôi," Parker la lên.

Bucknor nhảy khỏi ổ chiến đấu mà y đang chia sẻ với Williams và chạy nhanh đến Parker. "Ông muốn tôi làm gì?"

"Hạ những tên này ngay," Parker nói, vừa chỉ xuống chỗ mà các túi chất nổ được ném đi.

Trong khi đó, Branco chạy xuống một hố bom, nơi chứa đạn cối, tách các túi thuốc bồi khỏi viên đạn (Có lẽ muốn đạn nổ sau khi rời nòng, nên ko cần thuốc bồi -- người dịch). Các giây sau, họ đã bắn quả chiếu sáng THỨ HAI. Khi vài đặc công cố gắng tiến về phía trước và ném chất nổ, Bucknor đã dùng súng trường bắn và đẩy lui chúng. 

Cuộc tấn công vào đồi nhỏ có vẻ ngừng trong vài phút, nhưng sau đó bùng nổ trở lại. Xuyên qua hàng rào kẽm gai ở đông bắc của đồi, một nhóm khoảng 5 hay 6 đặc công, theo sau bởi bộ binh, xung phong lên triền đồi thoai thoải, vừa chạy vừa ném chất nổ và lựu đạn vào trước mặt.

Chuyên viên bậc 4 Powel, một xạ thủ súng cối đứng trên một hầm trú ẩn ở phía đông bắc của đồi nhỏ, hướng khẩu M-16 về phía những kẻ đang xung phong và bắn hết một hộp đạn. Hai bên của y, các lính Mỹ khác, như những kẻ điên, bắn, la hét và ném lựu đạn. Hai hay ba đặc công bị bắn hạ, nhưng hai hay ba tên khác đã đến gần chu vi đến độ chất nổ rơi trong chu vi này. Chỉ trong vài giây, hàng chục tiếng nổ đinh tai nhức óc. Powel bị bất tỉnh, và khi tỉnh lại sau đó y thấy ngoài binh nhứt (Pfc) Burnette đang điều khiển khẩu M60 ở bên phải y, mọi người trong khu vực này của chu vi phòng thủ đều chết hay bị thương. Powel dùng M16 bắn tiếp, nhưng vài giây sau bị tung lên không và rớt gần đáy của yên ngựa giữa đồi nhỏ và căn cứ chánh. Y biết rằng mình bị thương nặng, nhưng sợ hãi và hăng máu (adrenaline) đã khiến y ko biết đau. Y nhìn quanh: trên đồi nhỏ này, Burnette là người duy nhứt còn cầm súng. Với khẩu M60, Burnette bắn từng loạt vào đặc công và bộ binh địch đang tràn lên đồi. Y đã bắn trúng vài tên, nhưng các tên khác tránh được và biến mất trong trung tâm của căn cứ.

Trong khi xem Brunette bắn, Powel cảm thấy có gì sau y. Y nhẹ nhàng quay đầu và thấy một đặc công trần truồng chạy nhanh qua y và theo yên ngựa lên phía tây của đồi nhỏ. Sau tên này là ba lính bộ binh đội nón sắt (steel helmet) của Nga, và AK47 ở hông. Powel giả chết, và vài giây sau đó, một toán nhỏ khác, cũng đội nón sắt chạy ngang qua y.

Trên đồi nhỏ, Burnettte đã thấy bọn này và hướng đại liên M60 về chúng. Y hạ hai tên, nhưng một tên đặc công, với túi chất nổ, phóng tới y trước khi rớt xuống. Tiếng nổ đã cắt chân trái của Burnette ngay trên đầu gối và khiến y bất tỉnh. Thay vì giết y, quân CSBV chạy ngang qua y, vừa bắn về mọi hướng. Họ đã giết hai lính Mỹ và làm bị thương một số khác, và ngừng một lát ở giữa đồi nhỏ. Vì thấy vị trí cối này, chúng bắt đầu tràn tới. Tuy nhiên, bốn hay năm lính Mỹ, đã tạo một chu vi ở mặt sau của vị trí để bảo vệ các súng cối này (trên đồi nhỏ chỉ có súng cối -- người dịch). Với M16, họ đã giết hay làm bị thương tất cả những tên CSBV này.

Ở phía tây bắc của đồi nhỏ, một y tá đã thấy Burnette nên cột ga-rô quanh đùi trên để cầm máu. Y tá cố gắng kéo Burnette xa chu vi, nhưng y từ chối rời vị trí. Bằng một chân, y bò trở lại hầm trú ẩn và lại bắt đầu nả súng liên thanh. Khoảng 3 hay 4 lính bộ binh CS chạy nhanh tới vị trí này, nhưng bị bắn hạ. Trong lúc hỗn loạn, một địch quân đã bò bên dưới hầm mà Burnette ko thấy. Đột nhiên, y nhảy lên và giựt súng M-60 khỏi tay Burnette, và chạy nhanh xuống triền đồi với súng. Không sợ hãi (undaunted), Burnette chụp một M-16 gần đó và một dây đeo đạn (bandoleer) và lại bắn. 

Vẫn còn nằm ở đáy của yên ngựa, Powel đã thấy tên CS giựt súng của Burnette. Với khẩu súng M16 nằm gần đó, Powel gượng dậy và bắn tên này. Và khi thấy một toán 4 tên CSBV tiến lên về hướng y, y bỏ súng xuống và lại giả chết. 

Có hai tên trong toán này vừa chạy vừa bắn lên đồi, nhưng 2 tên khác ngừng lại vì thấy Powel. Lúc ấy tim Powel đập mạnh, nghĩ rằng đây là giây phút cuối đời của mình. Hai tên này, đứng kế bên y, nói chuyện đầy kích động. Y đang chờ lưởi lê hay một phát súng vào lưng, nhưng ko thể giải thích được, hai tên này chạy nhanh lên đồi. (Đúng là phép lạ-- người dịch).  Trong những giây sau đó, những gì mà Powel có thể làm là nằm đó và thở hổn hển (gasp), tim đập loạn xạ (heart flutter wildly).  

Căn cứ chánh vẫn còn trong cảnh hỗn loạn, với đặc công chạy khắp căn cứ. Vài tên đã chiếm những hầm trú ẩn ở phía bắc của chu vi phòng thủ và dùng súng liên thanh có sẵn tại đó và bắn liên tục vào trung tâm của căn cứ. Trong khi chúng bắn, những tên khác cố gắng vượt qua hàng rào kẽm gai để chuẩn bị dứt điểm căn cứ (final push). Dù lính Mỹ đã bắn gục một số đặc công, năm hay sáu tên, đeo đầy chất nổ, vẫn ẩn núp chung quanh vị trí này để gây hỗn loạn và chết chóc.

Tuy nhiên, lính Mỹ, đã từ từ hồi phục sau cơn sốc khủng khiếp của trận tấn công này và bắt đầu phản công. Khi thiếu úy Cushing, chỉ huy trung đội 1, bị thương nặng vì B-40, các trung sĩ Counts và Barski, chỉ huy tiểu đội 1 và 2, đã tổ chức một phòng tuyến ở phía tây bắc của chu vi phòng thủ và bắt đầu bắn vào bộ binh địch đang vượt kẽm gai để tăng cường cho các đồng chí của họ. Có một số tàn quân (straggler) Mỹ mất tinh thần quanh các khẩu 105 ly đã bị phá hủy và hai trung sĩ này tập hợp và chỉ huy họ.

Trong khi họ tìm cách đẩy lui địch ở phía bắc của vị trí chánh, địch đã mở tấn công khác nhắm vào hàng rào kẽm gai của trung đội 2 ở đông bắc. Từ khoảng cách hai tới ba chục mét, chúng bắn vào các hầm của trung đội 2 khoảng 30 đạn B-40. Ba viên trúng các hầm. Với tiếng kêu la của lính Mỹ bị thương hay sắp chết, các lính BV xung phong qua 4 lổ cắt của hàng rào. Nhưng hơn 30 lính Mỹ bảo vệ khu vực này của chu vi nả đạn súng nhỏ và liên thanh vào bắc quân. Nhờ ánh sáng của đạn cối chiếu sáng, lính Mỹ đã hạ từng lúc 2 hay 3 tên trong lúc chúng vượt qua ba lớp kẽm gai. Chẳng bao lâu, hàng rào này đầy xác đặc công, và lính CSBV đang chờ bên ngoài bắt đầu rút quân.

Với đe dọa của trung đội 2 ko còn, thiếu úy Pitts lấy bảy người lính của ông và sau đó kết hợp với đám tàn quân của trung sĩ Counts và Barski. Họ đã cùng nhau bắt đầu phản công, đẩy lui địch quân ra khỏi vị trí cố thủ của chúng ở chu vi phía bắc. 

Lúc 0400, một Hỏa Long C-47 đã tới căn cứ. Ở căn cứ chánh và đồi nhỏ, hỏa châu đã soi sáng chu vi phòng thủ. Điều khiển bởi đ.u. Garaney, sĩ quan về không kỵ của TĐ, chiếc này bay vòng quanh chu vi, bắn xuống đất bằng sáu khẩu minigun.

Hỏa lực của chiếc này đã chận quân csbv đưa thêm quân vào phía bắc của chu vi, và những kẻ bên trong đã bắt đầu chạy qua hàng rào để vào rừng. Họ đã bị lính Mỹ theo dõi sát sao. Trên đồi nhỏ, tình hình cũng như vậy, địch quân cũng rút lui. Cuộc chiến vẩn nổ ra từng chập trong giờ kế, nhưng khi hừng đông vừa ló dạng, trừ vài vụ chạm súng rời rạc ở phía nam của căn cứ chánh, nơi lính Mỹ đang chạm súng với các cán binh csbv đang cố thủ trong các hầm hố, còn lại đã yên. Lúc 0600, các phản lực cơ Phantom đã tới và tấn công các đường mòn nơi quân csbv rút chạy với bom 500-cân Anh, napal và đạn đại bác.

Khi trời sáng tỏ, phong cảnh thật là kinh dị. Từ đầu đến cuối căn cứ đầy xác lính Bắc Việt và Mỹ. Mười hai đặc công, mặt bị cháy đen, thân thể lổ chổ đạn, dính trên hàng rào kẽm gai ở phía đông bắc của căn cứ chánh. Một tên tay còn nắm chặt kéo cắt kẽm gai, một tên khác tay còn cầm súng lục. Bảy lính Mỹ nằm chết sóng sượt chung quanh những hố súng đại bác. Hai người khác nằm chết co quắp trong thùng Conex, xác đầy lổ đạn. Một số khác lính Mỹ chết trong hầm trú ẩn của họ. Nhiều người đã chết mà ko biết họ đang bị tấn công. Và mọi nơi đầy mảnh vở, các súng trường, túi chất nổ, và lựu đạn; các đạn B-40 và cối ko nổ; các túi thuốc bồi; các dây đạn liên thanh, đạn M-16 và các đống băng cứu thương đẫm máu. 

Sau khi dọn dẹp kỹ lưỡng, đã thấy 39 xác địch. Hai đặc công bị thương nặng nằm co quắp bên ngoài hàng rào. Một chết sau đó vì vết thương, nhưng tên kia đã sống để kể lại cho sq tình báo của lữ đoàn câu chuyện của trận này theo cái nhìn của y. Không nghi ngờ gì, nhiều địch quân chết và bị thương, được chỉ dấu bởi nhiều vết máu ở khu vực chung quang căn cứ hỏa lực này, nhưng con số bao nhiêu thì ko ai biết. 

Phía Mỹ có 26 chết và 62 bị thương trong trận đánh một giờ rưởi này. Nếu chỉ tính số người chết thì Mỹ thắng, đúng như phát ngôn viên của sđ 101 Dù nói với báo chí. 

Thực tế, phần lớn những sq cao cấp trong sđ bị sốc bởi kết cục của trận đánh. Trong khi ko ai bày tỏ ý kiến này một cách công khai, trong chỗ riêng tư họ nhìn nhận với nhau rằng trận đánh này là một thất bại (debacle). "Chúng tôi đã giữ căn cứ hỏa lực này," ĐT Conmy, TL của lữ đoàn 3, đã nói trong một phỏng vấn sau chiến tranh, "nhưng đó là kết quả tồi tệ nhứt từ một tấn công đặc công mà tôi đã thấy."

Dịch từ trang 107-124 của quyển Hamburger Hill (Đồi Thịt Bầm) của tác giả Samuel Zaffiri.    

San Jose ngày 21 Nov 2020.

Tài Trần