Showing posts with label hải quân. Show all posts
Showing posts with label hải quân. Show all posts

Wednesday, April 10, 2024

TRẬN ĐÁNH TẠI CĂN CỨ HẢI QUÂN SÔNG ÔNG ĐỐC

                                     


Dù các chính khách Mỹ đã bỏ rơi VNCH qua việc ép buộc TT Thiệu phải ký Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam, nhưng người Việt hải ngoại cũng luôn nhớ ơn những người Mỹ đã hy sinh hay mất một phần thân thể hay vẫn còn mất tích khi cùng chiến đấu với quân dân miền Nam từ năm 1954-1973, để bảo vệ tự do cho nhân dân miền nam, mà điển hình là trận đánh tại căn cứ hải quân Sông Ông Đốc tại tỉnh Cà Mau tháng 10/1970. Bài này chưa từng đăng trên báo chí VN tại hải ngoại.
Sau đây là phần chuyển ngữ.
======

"Nằm ở bờ biển phía tây của vùng Châu thổ Sông Cửu Long của Nam Việt Nam, Căn cứ Yểm trợ Chiến thuật Tiền tiêu hay ATSB tại Sông Ông Đốc được dùng trong một thời gian ngắn trong Chiến tranh VN như là một căn cứ hành quân (HQ) cho các lực lượng giang thuyền Mỹ và VN. Trong năm 1970, các đv hải quân đồng minh đã tuần tiểu nhiều thủy lộ trong khu vực như một phần của chiến lược Sea Lords (Vua Biển) để ngăn chặn các đường tiếp tế và chuyển quân của VC. Như là một phần của chương trình Việt Nam hóa, căn cứ Sông Ông Đốc sau đó đã hoàn toàn chuyển giao cho quân đội VN.

Vào đêm của ngày 20/10/1970, căn cứ Sông Ông Đốc, mà người Mỹ đặt tên BREEZE COVE đã bị hư hại đáng kể bởi một đại đội bộ binh VC trang bị súng cối, súng không giựt.

CUỘC TẤN CÔNG

Trong năm 1969-70, vài đv hải quân Mỹ-Việt đã dùng căn cứ yểm trợ chiến thuật tiền tiêu này nằm ở cửa Sông Ông Đốc, xem bản đồ. Tính tới tháng 7/1970, những đv này gồm có Giang đoàn Tuần thám (River Patrol Group 62) VNCH có cố vấn Mỹ đi kèm. Ngoài ra còn có hai trực thăng Sói Biển thuộc toán 6 của HAL-3, và một toán tác chiến điện tử trang bị các cảm biến, và một đv yểm trợ tiếp vận, đều của hải quân Mỹ. Đây là một căn cứ NỔI gồm các sà-lan hay cầu phao AMMI buộc với nhau. Trên bờ, sát với các sà-lan này, là một bãi đáp trực thăng và các tòa nhà của toán Seawoft hay Sói Biển*. 

Căn cứ nổi Sông Ông Đốc


Căn cứ Sông Ông Đốc hay Breezy Cove là một phần của liên quân Việt-Mỹ và chỉ huy bởi Cyrus Christensen, một sĩ quan hải quân Mỹ. Cố vấn của Giang đoàn 62 là trung úy Bill Dannheim. Dưới quyền Dannheim có một sq và 6 hạ sĩ quan. Nhiệm vụ của các đv hải quân Việt-Mỹ là ngăn chận các di chuyển của địch từ rừng U-Minh ở phía bắc vượt Sông Ông Đốc xuống bán đảo Cà Mau ở phía nam -- nơi mà hải quân Việt Mỹ mở cuộc hành quân Seafloat/Solid Anchor, xuất phát từ căn cứ Năm Căn trên Sông Cửa Lớn.

                           


Những đv này cũng có nhiệm vụ thông thương thủy lộ cho thuyền bè dân sự đi từ Vịnh Thái Lan vào tỉnh lỵ của tỉnh Cà Mau. 
Các quân nhân của Giang đoàn tuần thám 62 VNCH đã có mặt tại căn cứ từ tháng sáu 1969 khi họ đến với 10 chiếc PBR, xem hình, như một phần của chương trình tăng tốc chuyển giao của hải quân Mỹ cho hải quân VNCH. Thêm vào đó là 10 chiếc BPR của đoàn 572 của hải quân Mỹ.
Một trong những lịnh đầu tiên của chỉ huy căn cứ là di chuyển những đạn dược chất chứa trên các sà-lan AMMI trừ những đạn dược sẵn sàng để phòng thủ căn cứ. Những người lính đã cực nhọc khuân vác đạn dược trong 3 ngày dưới trời nóng khi phải đi cầu ván (gangplank) từ sà-lan lên bờ. Sau khi đạn dược đã di chuyển, chỉ huy căn cứ đã bắt đầu xúc tiến kế hoạch phòng thủ căn cứ. Ông nghĩ rằng căn cứ dễ bị tấn công bất ngờ và những thứ quan trọng nhứt của căn cứ là người và các tàu của họ. Ông ra lịnh, nếu căn cứ bị tấn công, mọi quân nhân Mỹ-Việt phải cấp tốc lên tàu để chống trả địch.
Một chiếc BPR


Nói thêm về BPR: đây là một loại tàu đa năng với thân tàu hoàn toàn bằng sợi thủy tinh và hệ thống truyền động bằng tia nước cho phép nó hoạt động ở những con sông nông, đầy cỏ dại. Dù chở nặng, nó chỉ chìm dưới nước 6 tấc. Bộ phận truyền động có thể được xoay theo hướng ngược lại, quay tàu theo chiều dài của chính nó hoặc tàu dừng lại từ tốc độ tối đa trong khoảng cách bằng vài lần chiều dài tàu. Trị giá của tàu là 400 ngàn đô và thủy thủ đoàn 4 người với vũ khí:
- 1 đại liên 12.7 ly hai nòng, loại M2HB Browning, ở phía trước tàu.
- 1 đại liên 12.7 ly nòng đơn, loại M2HB ở phía sau tàu.
- 1 hoặc 2 đại liên M-60 (gắn bên hông).
- 1 súng phóng lựu 40 ly Mk 18.
Ngoài ra, xạ thủ đại liên 12.7 ly hai nòng ở phía trước, được bảo vệ bởi pháo tháp hình tròn xoay được, làm bằng sợi gương, xem hình; và thép dầy 1/4-inch để bảo vệ phòng của thuyền trưởng (coxswain). 

Một làng nhỏ khoảng 2.000 người, còn gọi là Sông Ông Đốc Mới, mọc kế căn cứ. Cũng có những người lính ĐPQ/NQ đi tuần quanh làng nhằm bảo vệ căn cứ. Nhưng Christensen đã nghi ngờ hiệu quả và trung thành của họ. Căn cứ đã dùng đại liên 12.7 ly hay đại liên 50, lựu đạn, cối 81 và 60 ly để phòng thủ. Cối cũng được bắn định kỳ vào các cảm biến để thử chúng còn kích hoạt hay không. Rất ít người trong căn cứ nghĩ rằng việc các cảm biến ngày càng gia tăng kích hoạt là do "thú rừng hay gió". Họ biết rằng VC chuẩn bị tấn công họ. 
Vào khuya của ngày 20.10.1970, căn cứ đã bị tấn công bởi VC mà sau này ước lượng khoảng một đại đội, có tăng cường súng nặng. VC đã bắt đầu tấn công bằng súng không giựt 57 ly và cối từ hai hướng: hướng bắc từ khu rừng ở sát căn cứ và phía nam từ các cánh đầm lầy oanh kích tự do bên kia sông. Ngoài súng cối và không giựt, VC còn dùng đại liên 12.7 ly và súng nhỏ tấn công căn cứ. 
Đạn đã rơi khắp nơi và làm chìm hai chiếc BPR cột bên hông các sà-lan. Trung úy Danheim đang ở trung tâm hành quân (TTHQ) của căn cứ lập tức gọi không trợ. Hai chiếc trực thăng võ trang thuộc Phân đội 6 của Sói Biển đang đậu ở căn cứ hải quân Năm Căn đã nhanh chóng có mặt cùng với các máy bay OV-10 Bronco xuất phát từ sân bay Bình Thủy ở Cần Thơ. Khi trận đánh đang tiếp diển, máy bay trực thăng thuộc ba toán Sói Biển -- từ Toán 1 ở Năm Căn, Toán 3 ở Cà Mau, và Toán 6 ở Sông Ông Đốc, đều lên vùng.
(Nói thêm về sự ra đời của các trực thăng Seawofl hay Sói Biển.
Năm 1966, sự yểm trợ của trực thăng đã bắt nguồn như một phần của đáp ứng cho chiến tranh đang diễn ra ở Nam VN. Bắt đầu với Phi đoàn trực thăng yểm trợ chiến đấu số 1, gọi tắt là HC-1, các toán trực thăng võ trang đã được chuyển giao cho hải quân Mỹ để tiến hành các cuộc hành quân (HQ) trong vùng Châu thổ Sông Cửu Long ở nam VN. Mỗi toán có 2 trực thăng võ trang UH-1B của Lục quân Mỹ, đậu tại căn cứ trên bờ hay các tàu tuần duyên (patrol craft tender). Nhờ phản ứng nhanh, và vai trò yểm trợ tiếp cận cho các đv giang thuyền của hải quân Mỹ, nên hiệu quả của các phi vụ này đã được cấp trên Mỹ Việt đánh giá cao. 
Để đáp ứng nhu cầu, hải quân Mỹ đã bắt đầu mở rộng chương trình này. Vào tháng 4/1967, Phi đoàn trực thăng yểm trợ chiến đấu số 1 đã chia làm 4 đv riêng biệt: Phi đoàn số 3 lo về tiếp vận, Phi đoàn số 5 và 7 lo về tìm kiếm và cấp cứu, và phi đoàn trực thăng tấn công số 3, viết tắt là HAL-3, với biệt danh Sói Biển (Seawofl). 
Năm 1966, hải quân Mỹ kêu gọi các phi công tình nguyện về HAL-3 hay Sói Biển. Có 80 phi công được chọn để gửi tới VN. Ngày 1/4/1967, phi đoàn số 3 chính thức được thành lập tại Nam VN với các Sói Biển đầu tiên, dưới chỉ huy của thiếu tá hải quân (lieutenant commander/LCDR) Joseph Howard.
Con sói trên phù hiệu của đv được cảm hứng từ hình con sư tử trên một loại bia của Đức; tay phải của nó cầm một cái xiên có 3 mủi nhọn tượng trưng cho hải quân Mỹ; tay trái cầm một cái khiên giống lá bích (spad) tượng trưng cho thần chết với màu đỏ và vàng của cờ VNCH -- người dịch).

Phù hiệu của HAL-3

Ba toán Sói Biển gồm 6 chiếc võ trang đã đẩy lui cuộc tấn công ngày 20.10.70, trong đó có 2 chiếc từ tàu USS Garrett County (LST-786). Trong trận này, tàu đã cung cấp xăng dầu và đạn dược cho sáu trực thăng dự trận.
Một cặp OV-10A Bronco xuất phát từ sân bay Bình Thủy Cần Thơ. Chiếc lead đang bắn rocket Zuni 5-inch, xem hình. Đây là loại máy bay thám thính, đã đc quân đội Mỹ dùng rất lâu tại VN, nhưng ko bàn giao cho VNCH.  
              

Nguyên là tàu tiếp tế cho máy bay của hải quân (seaplane tender), tàu Bering Strait, đã hạ thủy tháng 1/1944, chuyển giao cho tuần duyên Mỹ từ tháng 9/1948 với ký hiệu USCGC Bering Strait (WAVP-382). Tới tháng 5/1966, tàu mang ký hiệu WHEC-382. Thủy thủ đoàn gồm 13 sq, và 138 hsq và bs vào năm 1966. Tháng 1 năm 1971 giao cho hải quân VNCH và mang tên Trần quang Khải HQ-02. Di tản tháng 4/75 sang Philippines. Ngày 22 - 23/5/1975, 1 toán thanh của Tuần duyên Mỹ đã thanh tra tàu và 5 tàu đi cùng với nó. Một thanh tra ghi nhận: "Những tàu này đã mang vài trăm người tị nạn và thường rất nhiều chuột (rat-infested). Bên dưới sàn tàu giống như một sà-lan (scow) chở rác." 
Trong trận Sông Ông Đốc tàu đã bắn đạn 5-in hay 127 ly vào các điểm ở phía nam sông. Như đã dặn dò trước, nhân viên trong căn cứ đã chạy nhanh lên tàu và phối hợp tác chiến với các tàu BPR và các tàu tác chiến còn lại. 
Khi trung tâm hành quân (TTHQ) của căn cứ bị trúng đạn pháo kích, dầu và đạn dược đã bắt đầu nổ. Trung úy Dannheim đã gọi một BPR và chỉ huy nhóm thuyền ngược sông. Cùng lúc đó, trung úy Wahler đi cùng đoàn thuyền từ căn cứ xuôi dòng sông. Các cố vấn Mỹ, gồm huấn luyện viên vũ khí (GMG2) Wayne Palmer, thợ máy cấp 3 (EN3) Joe Flowers và thợ máy cấp 3 Joe Brown, cùng với các thuyền viên giang đoàn VN đã bắn trả hiệu quả. Trên đầu họ, trực thăng võ trang và 2 chiếc OV-10 Bronco bắn vào quân tấn công của địch.
Sau một giờ, súng đã giảm dần (taper off) và các tàu đã bắt đầu tuần tiểu xa hơn trên sông đề phòng VC dự định vượt sông. Nhiều người bị thương được đưa lên tàu Garrett County để chăm sóc. Các trực thăng võ trang Sói Biển đã dùng tàu này làm điểm để tiếp xăng và nạp đạn. Sau cuộc tấn công ngày 20/10 này, các tàu đã tiếp xăng và nhận đạn dược từ chiếc Garrett County cho tới khi một căn cứ mới trên bờ (ashore) được lập cách đó vài dặm về phía thượng nguồn, bằng cách dùng các sà-lan AMMI từ căn cứ Năm Căn cũ. Một số thuyền viên đã trở lại bờ để sống và ăn uống trên doanh trại đổ nát của căn cứ Sông Ông Đốc, hay sống trên tàu của họ khi ko đi tuần. Bãi đáp trực thăng và các lều trên bờ đã ko được dùng.
Sáng ngày 21/10, các tàu đã trở lại căn cứ. Chỉ huy Christensen kiểm kê thiệt hại. Tất cả những cầu phao (pontoon) đều bị trúng đạn hay chìm. Các tòa nhà đều bị cháy vì xăng dầu hay phá hủy hay thiệt hại nặng bởi hỏa lực địch. Hai lính Mỹ thiệt mạng tại chỗ gồm huấn luyện viên vũ khí cấp 3 (GMG3) Thomas McGarry, 26 tuổi thuộc tp Springville bang Tennesse, và hiệu thính viên hải quân (RMSN) John Drake, 19 tuổi, thuộc tp Stockton Cali. 26 người Mỹ và thuyền viên VN bị thương.
Ảnh: Căn cứ hải quân Sông Ông Đốc vào buổi sáng hôm sau. Mọi tòa nhà đều bị cháy hay thiệt hại nặng và các sà-lan AMMI bị chìm hay đang chìm. Lửa tiếp tục cháy âm ỉ (smolder) trong ảnh.




Vài tuần sau, một số những cầu phao AMMI cũ cũng với những cầu phao AMMI mới (có bọc giáp) đã được kéo từ căn cứ Năm Căn tới làng Sông Ông Đốc, nơi mà các hành quân đã tiếp tục cho tới khi mọi tàu được chuyển về căn cứ trên bờ ở Cà Mau. Tàu tiếp tế RAS-15 đã rời Sông Ông Đốc tháng 11/1970 và căn cứ này đã trở thành căn cứ hải quân Mỹ cuối cùng bàn giao cho hải quân VN.
Trung úy Dannheim được ân thưởng Hải Dũng Bội Tinh (Navy Cross) cho chiến công trong cuộc tấn công. Vài cố vấn khác được trao thưởng Ngôi Sao đồng và các Huy Chương của Hải quân (Navy Commendation Medal).
Chuyển ngữ từ bài : U.S. Naval Riverine Operational Base Sông Ông Đốc (1970).
San Jose ngày thứ năm 11/4/2024 và cập nhật ngày 23/4/2024.
Tài Trần







 

Sunday, November 14, 2021

 (Lời mở đầu: Qua những trao đổi với các chiến hữu thuộc thuỷ thủ đoàn HQ 11, hồi ký Trận Chiến vùng Cà Ná, mũi Dinh Phan Rang được bổ túc thêm dữ kiện. HQ 503 bị bắn vào ngày 18.4.1975 thay vì 19.4.1975. 

Nhớ lại năm xưa, không những riêng tôi mà thiết nghĩ cả thuỷ thủ đoàn HQ 503 đang còn hiện diện trên cỏi đời nầy rất biết ơn tất cả các Hạm trưởng và toàn thể thuỷ thủ đoàn của các chiến hạm như HQ 11, HQ 231, HQ 3, HQ 17, HQ 07 và tất cả chiến hạm hiện diện tại vùng Cà Ná, mũi Dinh đã tham dự trận chiến ngày 18.4.1975, đã cứu nguy HQ 503 ra khỏi vùng chiến đấu. Nếu không có sự tiếp cứu của các chiến hạm, có thể HQ 503 sẽ bị thiệt hại nặng hơn, số tử vong có thể gia tăng và chiến hạm có thể là mục tiêu sẽ bị bắn chìm vì HQ 503 không có đại pháo 76,2 ly hay 127 ly để chống trả đối phương. Xin một phút nghiêng mình tưởng niệm đến các Chiến Sĩ thuộc Thuỷ Thủ Đoàn HQ 503, HQ11 đã Vị Quốc Vong Thân.
Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn quý Niên trưởng, quý chiến hữu Hải Quân đã cung cấp cho tôi nhiều dữ kiện hửu ích để cho hồi ký được hoàn hảo hơn.)   

Mời xem lời Tâm Tình 

*****

Kể từ chiều 30 tết Ất Mão tức là ngày 10.02.1975, HQ 503 được lệnh phân tán mỏng, từ Sài Gòn ra thả neo tại Vũng Tàu. Rồi sau đó chiến hạm đi công tác liên tục. Hết ra miền Trung, rồi xuống tận Phú Quốc, Côn sơn. Hết ra Quy Nhơn, rồi đến Nha Trang, Cam Ranh, Hàm Tân, Vũng Tàu. Khi chiến hạm có chuyến công tác di tản quân dân cán chính về Sài Gòn thì còn gì vui hơn cho thuỷ thủ đoàn HQ503 vì họ có dịp về thăm gia đình, bạn bè, người yêu. Ở ngoài biển, trăng đại dương không đủ ánh sáng để viết thư đêm. Lần nầy tàu về bến, lính biển hẹn người tình đi ăn kem, dạo phố. Thế thì tuyệt vời. Nhưng vào đầu Xuân năm ấy tình hình chiến sự ngày càng gia tăng. Quân dân cán chính ở những nơi bị địch xâm chiếm đang mong chờ sự tiếp ứng, cứu vớt, di tản của chiến hạm. Thế là, trong vài ngày ở bến, chiến hạm tiếp nhận nhiên liệu, mua sắm thực phẩm rồi lên đường công tác tiếp.

 
Ngày xưa và bây giờ: Nguyễn văn Phảy

Tình hình Phan Rang:

Phan Rang thất thủ ngày 16.4.1975. Lúc bấy giờ chiến hạm tôi đang hoạt động trong khu vực chiến đấu cùng với nhiều tàu chiến khác ở vùng biển thuộc vịnh Cà Ná, Mũi Dinh tỉnh Phan Rang trong nhiều tuần lễ qua để cứu vớt quân cán chính và đồng bào đang đổ xô ra biển bằng ghe chạy tỵ nạn cộng sản. Chiến hạm tôi cùng với những chiến hạm khác trong vùng còn có nhiệm vụ chận đứng hoặc giảm thiểu tối đa áp lực tấn công của cộng quân hướng vào Phan Thiết.

bấy giờ Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Hải Quân vùng 2 Duyên Hải. 

Tuy nhiên, cho tới trước ngày 17.4.1975, khi những chiến hạm HQ 3 và HQ 17.v.v. chưa đến tăng viện chiến trường vùng Cà Ná, Phan Rang, thì Hạm trưởng HQ 503 là Hải quân Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) có cấp bậc thâm niên cao nhất tại vùng nhận quyền chỉ huy chiến thuật OTC (officer in tactical command) trong vùng trách nhiệm. 

Vào đêm 16.4.1975 chúng tôi nhìn thấy trên quốc lộ 1 nằm sát bờ biển có rất nhiều ánh sáng di động cách nhau từ khoảng 50m đến 70m từ Phan Rang hướng về Phan Thiết. Trợ chiến hạm HQ 231, Hộ tống hạm HQ 11 cũng như nhiều loại chiến đỉnh khác được lệnh dùng hoả lực chận đứng sự di chuyển của cộng quân bằng các loại quân xa chở bộ đội hướng về Phan Thiết vào ban đêm trên quốc lộ 1 sát biển. 

Hai chiến hạm nầy đã dùng hoả lực mạnh, đại bác 76,2 ly và đại bác 40 ly để tấn công đoàn xe cộng quân. HQ Thiếu tá Nguyễn văn Phước (K15 SQHQNT), Hạm trưởng Trợ chiến hạm HQ 231 đã tham dự trận chiến kể lại:

„…Ban đêm, quốc lộ 1 sáng rực lên, kéo thành một vệt dài như con rắn, uốn khúc theo sườn núi. Quân xa của địch, mở đèn sáng trưng, chạy nườm nượp như vào chỗ không người. Tôi thở dài: Phan Thiết chắc chắn rồi sẽ mất. Nhưng là chiến sĩ là phải chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. HQ 11 và HQ 231 tắt đèn tối om, tiến vào bờ và bắn trực xạ vào cái đám lúc nhúc đó. Nghe tiếng đại bác, chúng vội vàng tắt đèn đứng im. Chúng tôi cũng ngừng bắn vì không thấy bọn chúng. Khi chúng mở đèn tiếp tục chạy, chúng tôi lại bắn. Thỉnh thoảng một chiếc xe cháy đỏ rực lên là biết trúng đạn của chiến hạm. Địch hoạt động suốt đêm. Chúng tôi cũng bắn phá suốt đêm không biết mệt vì nghỉ đến sự sống còn của đất nước. Chắc có lẻ địch bị thiệt hại nặng và bị ngăn chận không tiến nhanh được.

    Sáng tờ mờ đã thấy nhiều chiếc T54 của chúng xuất hiện. HQ ThiếTá San quả thật là một hạm trưởng gan lì và nhiệt huyết. Ông cho tàu tiến gần sát bờ đấu súng  với T54. Nhưng chiến hạm bị bất lợi vì mục tiêu lồ lộ, còn bọn chúng núp vào khe núi bắn ra. Chúng tôi còn một bất lợi nữa là muốn tác xạ chính xác, chiến hạm phải luôn luôn di chuyển để giữ đúng huớng. Ngừng tại chỗ, gió và sóng biển sẽ làm chiến hạm xoay, không thể bắn chính xác được. Còn nếu tiếp tục chạy đưa mũi tàu vào bờ, đến một lúc nào đó, phải quay ra, lúc đó là mục tiêu cho địch bắn. Cho tàu chạy song song với  bờ thì cũng là mục tiêu tốt cho địch.

Chúng tôi chỉ có hai, còn chúng vô số kể. Tàu HQ 11 bị bắn trúng pháo tháp 40 ly và hầm máy. Một thượng sĩ đứt đầu chết tại chỗ, vài thủy thủ bị thương nặng. Trong khi đó, một trung đoàn của sư đoàn 2 bộ binh, án ngữ mũi Cà Ná, bị VC tràn ngập, các đơn vị của ta rút xuống biển, Dương vận hạm HQ503, Hạm trưởng Trung tá Nguyễn văn Lộc, có nhiệm vụ bốc các chiến sĩ của ta lên. …“


Trợ Chiến Hạm
 Nguyn Đức Bổng HQ 231

Đúng vậy, sáng sớm hôm sau 17.4.1975, lútôi đang đi phiên và hiện diện trên đài chỉ huy thì được biết Hộ Tống Hạm HQ 11, HQ Thiếu tá Phạm Đình San (K10 SQHQNT) là Hạm trưởng, đang tiến vào bờ để quan sát tình hình.


Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ 11

Vì khoảng cách giữa HQ 503 và HQ 11 hơi xa nên tôi không nhận diện rõ vị trí của HQ 11. Qua vô tuyến tôi có nghe các Hạm trưởng liên lạc với nhau. Trong phút chc chúng tôi nghe đạn pháo từ bờ bắn ra chiến hạm. Theo như nhân viên thuỷ thủ đoàn đã hiện diện trên đài chỉ huy HQ 11 lúc bấy giờ cho biết thì đó là pháo từ những xe tăng T54 của cộng quân trên bờ bắn ra hướng về chiến hạm HQ 11. Cũng qua vô tuyến tôi được nghe từ HQ 11 cho biết rằng chiến hạm HQ 11 đã bị trúng đạn làm cho 1 thượng sĩ tử thương và 2 thuỷ thủ bị thương. Tức thời, tất cả chiến hạm đang hiện diện gần bờ đã nhanh chóng rút ra xa khỏi bờ. Được biết, cộng quân đã dùng cả xe quân sự lẫn xe dân sự để chuyển quân vào Phan Thiết sau khi Phan Rang lọt vào tay cộng quân.

Chiến hạm HQ 503 lúc đó đang thả neo cách xa bờ để cho dễ dàng liên lạc và tiếp nhận quân cán chính từ bờ được chuyển bằng ghe nhỏ ra chiến hạm. HQ 503 cũng vội nhổ neo và di chuyển lên hướng mũi Dinh để tiếp tục cứu vớt quân dân cán chính đang tìm cách di chuyển ra chiến hạm.  

  
Phóng đồ những Trận Chiến tại vùng Cà Ná, mũi Dinh từ ngày 16 đến 18.04.1975

Kể từ chiều ngày 17.4.1975, Tuần Dương Hạm HQ 17, HQ 3 đến tăng viện cho chiến trường. Hải quân Trung tá Trương Hửu Quýnh (K11 SQ HQNT) là Hạm trưởng HQ 17 có cấp bậc thâm niên nhất, nhận quyền chỉ huy chiến thuật (OTC) tại vùng Cà Ná thay thế Hạm trưởng HQ 503. Tuy vậy, lúc bấy giờ Hạm trưởng Tuần Dương Hạm Nhật Duật HQ 3 là HQ Trung Tá Nguyễn Kim Triệu (K7 SQHQNT) và có sự hiện diện của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh trên HQ 3 nên HQ 3 được xem như Soái Hạm cho toàn chiến dịch.

Tuần Dương Hạm Ngô Quyền HQ 17

Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duyệt HQ 3

Cũng theo như HQ 11 cho biết, khi HQ 17 và HQ 3 nhập vào vùng chiến cũng bị cộng quân từ bờ bắn ra, nhưng may mắn các chiến hạm không bị trúng đạn của cộng quân.

HQ 503 khi còn là OTC, từ những ngày trước, chiến hạm tôi nhận lệnh phải cứu Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đang lẩn tránh trong núi và tìm cách lên tàu. Lúc bấy giờ ông dùng biệt hiệu là Vương Hồng và liên lạc qua hệ thống truyền tin bằng âm thoại (máy PRC 25) với chiến hạm của tôi sau khi Phan Rang thất thủ.

 Co Ham truong HQ503 Nguyen van Loc

Trong suốt thời gian liên lạc với biệt danh Vương Hồng, chúng tôi thấy trên núi gần bờ biển mũi Dinh có tín hiệu bằng gương phản chiếu ánh sáng mặt trời chiếu ra. Chiến hạm tôi tức thời di chuyển đến gần bờ hơn để nhờ các ghe nhỏ chạy ngang qua vào đón ruớc và sẽ trả tiền hoặc đưa dầu Diesel cho họ.

Lần nầy khi chiến hạm vào gần bờ giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh thì cứu vớt thêm một số quân Biệt Kích từ trong bờ đi ghe nhỏ ra chiến hạm. Số Biệt Kích cho biết trong bờ còn có bạn bè đồng đội nữa. Vì vậy mà chiến hạm tôi di chuyển chậm chạp gần bờ, gần nơi có gương phản chiếu trên bờ, để chờ những ghe chở quân nhân ra chiến hạm tiếp tục. Mặc dù vậy, ở vùng đó HQ 503 không bị pháo của cộng quân.

Ra hải ngoại nhờ xem bản đồ trên google, qua không ảnh của vệ tinh, tôi mới hiểu, sở dĩ cộng quân không thấy chúng tôi là vì đại bác của cộng quân được đặt trụt vào phía trong vịnh Cà Ná. Ngay tại mũi Cà Ná, thì mõm đá gồ ghề, đại pháo của cộng quân không thể kéo ra được và  đặt tại đó. Ngoài ra, cộng quân sợ ta dễ dàng phát hiện vị trí đặt đại pháo của chúng và có thể bị phá huỷ bởi hải pháo của ta. Vì thế tầm quan sát của cộng quân từ bờ ra vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh bị giới hạn. Chúng chỉ có thể quan sát ở phía trước vịnh Cà Ná mà thôi. Nhờ vậy, chúng đã không thể phát giác ra HQ 503 khi cứu vớt quân cán chính lên chiến hạm vì tầm nhìn đã bị đồi núi ở mũi Cà Ná che khuất. Nhưng nếu chiến hạm nào chạy đến gần mũi Cà Ná thì cộng quân có thể phát giác được và có thể bị đại pháo của chúng từ bờ bắn ra vì mục tiêu lọt vào tầm quan sát của chúng.

Thật vậy, vào buổi chiều ngày hôm trước, khi HQ 503 còn ở phía Nam mũi Cà Ná, chúng tôi có xem thấy 1 chiếc PCF vừa di chuyển từ mũi Dinh ở phía Bắc xuống phía Nam. Khi chiến đỉnh PCF vừa chạy ngang qua mũi Cà Ná, cách khoảng 3 hải lý, thì bị đại pháo cộng quân bắn ra. Tôi và các sĩ quan HQ 503 có nhìn thấy vài quả đạn của cộng quân bắn rơi gần chiến đỉnh PCF. Tức thời PCF lấy mũi hướng ra khơi và chạy hết tốc lực. Chốc lát đã thấy PCF rời xa mũi Cà Ná. Cũng chính gần chổ biển nầy mà ngày hôm sau HQ 503 bị bắn.      

HQ 503 bị pháo của cộng quân:

Vào sáng ngày 18.4.1975, HQ 503 trở lại vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh để cứu vớt thêm một số quân cán chính được các ghe đánh cá chở ra chiến hạm. HQ 503 di chuyển lên xuống gần đó.

Khoảng 16:50 giờ chúng tôitất cả sĩ quan trên chiến hạm gồm có Hạm trưởng, Hạm phó, sĩ quan đệ nhất cho tới sĩ quan kém thâm niên nhất trên chiến hạm ngoại trừ các sĩ quan đương phiên đều đang hiện diện trong Carre sĩ quan để dùng cơm chiều. Thông thường như mọi ngày, sau khi ăn cơm xong, sĩ quan nào có nhiệm vụ đi ca thì rời khỏi phòng để chuẩn bị lên thay thế ca đương nhiệm trên đài chỉ huy. Số sĩ quan còn lại thì ngồi trò chuyện trong phòng ăn sĩ quan hoặc tự do. 

Trong lúvừa ăn vừa trò chuyện thì cơ khí trưởng HQ Đại uý Từ Thanh Hà (K18 SQHQNT) cho biết hệ thống nước ngọt của chiến hạm bị hư đang được sửa chữa. Cơ khí trưởng Hà xin phép Hạm trưởng và đề nghị HQ Trung uý Trần Ngọc Điệp (K1 SQOCS) đang trưởng phiên cho tắt máy trong chốc lát để sửa chữa tiếp tục. Đuợc Hạm trưởng chấp thuận, xong bửa ăn, Đại uý Hà rời Carre sĩ quan đi xuống hầm máy. Sau đó Đại uý Hà liên lạc với Trưởng phiên đương nhiệm là Trung uý Điệp và cho ngưng cả 2 máy tả và hửu của chiến hạm. Cá nhân tôi và vài sĩ quan khác cũng sắp sửa rời phòng ăn để chuẩn bị lên đài chỉ huy đổi phiên lúc 17:30 giờ. Trong lúc chiến hạm đang tắt máy và xuôi theo giòng nước khoảng 17:15 giờ, mũi chiến hạm hướng về phía Nam, gần bờ biển mũi Cà Ná, cách bờ khoảng 5-7 cây số thì pháo của địch từ bờ bắn ra.  Thế là nhiệm sở tác chiến được ban hành từ đài chỉ huy khi quả đạn đầu tiên của địch quân rơi gần chiến hạm. Hạm trưởng rời phòng ăn, tức tốc chạy lên đài chỉ huy. Tất cả thuỷ thủ đoàn và sĩ quan trên tàu đều nhanh chóng đến vị trí nhiệm sở tác chiến của mình.

Tôi vội chạy vào phòng ngủ để lấy nón sắt chạy đến nhiệm sở tác chiến. Phòng ngủ của tôi nằm dưới sân thượng và bên phải của chiến hạm. Lúc đó phòng ngủ của tôi nằm hướng bên bờ. Khi vừa rời phòng trong giây lác thì một quả đạn 105 ly rơi trúng ngay phòng tôi nổ tung. Một mảnh đạn bắn xiên lên phòng truyền tin nằm ở chính giữa chiến hạm, phía dưới sân thượng, gần Carre Sĩ quan làm cho HQ Trung uý Nguyễn Anh Kỳ (K21 SQHQNT), trưởng ban Truyền tin, tử thương. Phước lớn cho tôi.

Một quả đạn khác rơi gần khẩu đại bác 40 ly đôi ở phía sau lái của chiến hạm. HQ Trung uý Phạm Nghĩa Vụ (K20 SQHQNT) trưởng khẩu bị thương. May mắn cho Tung uý Vụ thoát khỏi lưởi hái của tử thần.
Loạt đạn pháo kế tiếp của cộng quân được bắn, chiến hạm tôi tiếp tục bị trúng đạn. Một quả pháo 105 ly rơi vào đài chỉ huy, gặp phải ghế ngồi của 
Hạm trưởng, nổ tung làm cho 3 sĩ quan là HQ 
Trung uý Trần Ngọc Điệp (K1 SQOCS), HQ Trung uý NguyĐộ (tương đương K21 SQHQNT) và HQ Thiếu uý Trần Thanh Nghị (K23 SQHQNT) cùng 2 nhân viên gm có H sĩ Giám lộ Huỳnh Phi Hùng và Trung Sĩ Nhất Trọng pháo (đưc b sung làm quan sát viên) đương phiên bị tử trận. (Mời xem thêm phần giải thích ). Hạm trưởng HQ Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) moi xem Dieu Van Loi Chao Cuoi cua ban dong khoa HQ T.Tá Phan Lac Tiep đang đứng ngay ở ống liên lạc trước đài chỉ huy xuống phòng lái điện ở tầng dưới đài chỉ huy để ra lệnh, thì bị những mảnh kiếng của đài chỉ huy vỡ bể cũng như  mảnh đạn nổ văng trúng vào cổ, vào vaio đầu người của Hạm trưởng. Hạm trưởng bị thương và máu chảy ra rất nhiều. May mắn cho Hạm trưởng, đã thoát chết. 

HQ Trung tá  Nguyễn Văn Lộc vừa được thuyên chuyển lên HQ 503 thay thế HQ Trung tá Dương Bá Thế (K10 SQHQNT), nhận quyền chỉ huy và  là tân Hạm trưởng HQ 503 đi chuyến công tác đầu tiên.

Đài chỉ huy của chiến hạm bị hư hại nặng. Hệ thống điện bị trở ngại. Tay lái điện bất khiển dụng. Chiến hạm bị lao đao. Hạm phó là HQ Đại uý ng (K16 SQHQNT), từ phòng truyền tin, chạy lên  phòng lái điện nằm trực tiếp phía dưới đài chỉ huy, thay thế Hạm trưởng để hướng dẫn chiến hạm di chuyển ra khỏi tầm đạn pháo. Lúc bấy giờ chiến hạm phải sử dụng lái tay nằm dưới hầm máy và rất khó khăn khi điều chỉnh mũi chiến hạm hướng ra khơi để xa bờ. Thay vì tàu chạy ra khơi thì mũi tàu lại hướng vào bờ. Mặc dù Hạm trưởng bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng cùng Hạm phó để chỉ huy thuỷ thủ đoàn đưa chiến hạm thoát khỏi vùng nguy hiểm.

Ngay những loạt đạn của cộng quân pháo đầu tiên, Tuần dương hạm HQ 17, HQ 3 và các chiến hạm khác trong vùng đã nhanh chóng tiến đến gần HQ 503 để tiếp cứu, đồng thời nả hải pháo 127 ly và 40 ly vào vị trí đặt đại pháo của cộng quân. Hạm Trưởng HQ 17 cùng khoá 11 SQHQNT với HT HQ 503.  
Theo như HQ 11 cho biết, lúc đó Hộ tống hạm HQ 11 đang công tác tuần tiểu tại phía Nam mũi Cà Ná, cách đó vài, ba hải lý, vội vàng nhấn còi nhiệm sở tác chiến, hai máy tăng tốc tối đa, vừa chạy đến gần HQ 503 để tiếp ứng, vừa nả hải pháo 76,2 ly vào nơi pháo của cộng quân bắn ra. Đồng thời Hạm trưởng HQ 11 Phạm đình San ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn vận chuyển dây thừng cở to từ hầm chứa lên boong để sẵn sàng giòng kéo HQ 503 vì tưởng rằng HQ 503 không thể rời khỏi vùng chiến đấu được.

Tình chiến hữu, tình đồng đội, tình chiến hạm là ở chổ đó!. Mà đúng vậy, Hạm trưởng Phạm Đình San là khoá đàn anh (K10 SQHQNT) và cũng là bố của Hạm trưởng Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) khi còn trong quân trường theo truyền thống (bố concủa Hải Quân VNCH.

Những quả đại bác của cộng quân nổ chát chúa khắp nơi xung quanh chiến hạm HQ 503 xảy ra liên tục. Chiến hạm HQ 503, loại Dương vận hạm, vừa to lớn cồng kềnh mà hệ thống điện lại vừa bị hư hại nên di chuyển rất khó khăn. Tưởng rằng chiến hạm khó có thể ra khỏi vùng bị pháo. Mỗi khi chiến hạm bị trúng đại pháo của cộng quân thì khắp nơi trên chiến hạm rung chuyển. Những mảnh đạn pháo trúng vào thành tàu, khung tàu, va chạm lẫn nhau phát ra những âm thanh tử thần vang dội và tưởng rằng chiến hạm có thể bị chìm.

Trong khi chiến hạm chúng tôi đang lạng quạng, mũi đang hướng vào bờ thì bị loạt đạn kế tiếp của cộng quân pháo tới. Nhưng có lẽ xạ thủ của cộng quân tính sai nên nguyên loạt đạn quá tầm. Tất cả rơi ra khơi, rớt xa chiến hạm. Rồi sau đó ngừng hẳn. Có lẽ đại pháo của địch bị trúng đạn hải pháo từ các chiến hạm của ta nên chúng bất khiển dụng.

Sau khoảng 1 giờ 30 phút giao tranh thì cộng quân không còn bắn đại pháo vào chiến hạm tôi nữa, mặc dù chiến hạm tôi vẫn còn nằm trong tầm pháo của cộng quân. Chiến hạm đã bị trúng tổng cộng trên 10 quả pháo. Số lượng đạn cộng quân bắn ra chiến hạm HQ 503 khoảng 40 quả hoặc nhiều hơn. Hầu hết đạn pháo của cộng quân rơi xung quanh chiến hạm. Một số trúng phía sau lái của chiến hạm, từ đài chỉ huy trở về sau. Chỉ có một vài quả đạn trúng bên hông giữa chiến hạm. Nhưng rất may là không quả đạn nào trúng lườn chiến hạm ở dưới mặt nước cả. Chiến hạm không bị vô nước. 

Trên chiến hạm chở khoảng 350 đồng bào chạy tị nạn gồm các quân dân cán chính đã được cứu vớt trước đó mấy ngày nhưng không ai bị thương vì họ tạm trú ở phía trước của boong chiến hạm.

Sau nầy kiểm soát thì thấy những mảnh đạn 105 và 155 ly. Có thể đó là những khẩu đại pháo 105 và 155 ly của quân lực VNCH bị cộng sản tịch thâu được và chúng di chuyển đến bờ biển vùng Cà Ná mũi Dinh, đặt và nguỵ trang tại đó để bắn thẳng vào chiến hạm chúng tôi - Dương Vận Hạm Vũng Tàu HQ 503.

Tất cả thuỷ thủ đoàn và quân dân cán chính trên chiến hạm rất đau buồn và thương tiếc 4 sĩ quan và 2 nhân viên Giám Lộ của chiến hạm đã hy sinh. Thêm vào đó có 18 thuỷ thủ của chiến hạm bị thương. Máu me lai láng ở phòng ăn sĩ quan, phòng ăn đoàn viên được dùng làm nơi để băng bó vết thương cho thương binh ngay cả ở phòng truyền tin và ở nhiều nơi khác trên chiến hạm.

Mặc dù tình hình chiến hạm như vậy, sau khi ngưng tiếng súng, đến vùng an toàn, Hạm trưởng Nguyễn Văn Lộc đã chỉ thị cho nhà bếp nấu cháo cho các em bé và người già có ăn. Thật là một vị hạm trưởng nhân hậu.

HQ 503 trở lại Sài Gòn:

Chiến hạm HQ 503 dần dần ra khỏi vùng chiến đấu và được lệnh trở về Sài Gòn với sự hộ tống của Hộ tống hạm HQ 11. Qua những ngày dài HQ 503 di chuyển một cách chậm chạp, chiến hạm đã về đến Bộ Tự Lệnh Hạm Đội Sài Gòn an toàn. Sau đó chiến hạm được lệnh sửa chữa khẩn cấp.

Sau khi chiến hạm về tới bến, vào những ngày đầu, tất cả sĩ quan và thuỷ thủ đoàn rất bận bịu nhiều công việc. Ngoài việc đi tham dự những buổi Lễ An Táng của 4 Sĩ quan và 2 nhân viên đã Vị Quốc Vong Thân, trên chiến hạm thiếu sĩ quan, tôi được điều động thay thế và trực nhiều ngày ở chiến hạm để chuẩn bị cho chuyến hải hành viễn dương vô thời hạn. Chỉ trong vòng 3 ngày, ban ẩm thực trên chiến hạm đã mua sắm đầy đủ thực phẩm dùng cho 3 tháng. Thuỷ thủ đoàn được thông báo chuẩn bị đi công tác dài hạn.

Trong 2 ngày phép về thăm gia đình từ 28 đến 29 tháng 4 năm 1975, tôi đã cùng với vợ mới cưới vào ngày 30.01.1975 chuẩn bị hành trang để sẵn sàng theo chiến hạm ra đi. Sáng ngày 30.4.1975, hết phép, tôi xuống lại chiến hạm đang đậu tại Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Hải Quân Sài Gòn đ sa cha cp thờthì mới biết hầu hết những chiến hạm khác đã ra khơi trong đêm 29.4.1975. Vì chiến hạm tôi bất khiển dụng nên không thể rời quân cảng được. Thế là hầu hết thuỷ thủ đoàn của chiến hạm HQ 503 bị kẹt ở lại. Những sĩ quan bị bắt đi tù với mỹ từ „học tập cải tạo“...  

KS Nguyễn Văn  Phảy
(Đệ Nhị Song Ngư)
Cựu Trưởng Ban Giám Lộ kiêm Thám Xuất HQ 503
eMail: vgpgermany@gmx.net
Germany, 18.3.2013