Showing posts with label thảm sát. Show all posts
Showing posts with label thảm sát. Show all posts

Monday, June 16, 2025

NGÀY GIỔ CỦA TRUNG ĐOÀN 7 SƯ ĐOÀN 4NGÀY ĐỊNH MẠNG CỦA TRUNG ĐOÀN 7 SƯ ĐOÀN 5 BỘ BINH VNCH.  

HÌNH 1

HÌNH 2 
HÌNH 3
HÌNH 4
Hình 5
HÌNH 6
HÌNH 7
HÌNH 8
 HÌNH 9. Bản đồ các CCHL của Mỹ:  BIG722400X2400FSBS.jpg (2400×2400)

Tôi viết bài này với đam mê về khảo cổ vì ko muốn trận đánh hay cuộc thảm sát này chìm vào quên lãng, dù chỉ xảy ra chưa tới 60 năm. Ngày 27/11/1965 là ngày giỗ của trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH. Tôi có nhiều bạn thuộc sđ 5, có người từng là đại đội trưởng trinh sát, nhưng vì nặng trĩu buồn phiền nên họ ko muốn viết hồi ký. 

- Ngày hôm đó, BCH của trung đoàn 7 và TĐ 1/7, bao gồm tất cả bảy cố vấn Mỹ đi kèm, bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ trong tám giờ tại một nơi trong đồn điền Michelin và cách Dầu Tiếng vài dặm về phía đông bắc, xem bản đồ. Thiệt hại của quân bạn ngày đó là 249 chết, 213 bị thương và 140 mất tích. 

Theo Thiếu úy Nguyễn văn Khôi (tiền sát viên của TĐ 5 pháo binh, đi theo TĐ 2/7): ngoài trung đoàn trưởng (trung tá Nguyễn văn Tư) còn có trung đoàn phó, sĩ quan ban 2 và ban 3, trung úy y sĩ trưởng Nguyễn văn Nhứt, đại úy Giỏi sq liên lạc pháo binh làm việc tại BCH trung đoàn và nhiều sq, hạ sq, và binh sĩ tử trận -- ND.

Cũng theo thiếu úy Khôi, ước tính trong trận có khoảng 800 quân nhân tử trận. Lý do: có nội tuyến - tên này là trung sĩ ở ban truyền tin sđ, do đó bao nhiêu lệnh lạc đều bị VC biết trước. Theo thiếu úy Khôi, trung đoàn 7 với TĐ 2/7 đi đầu, đã tiến từ Bến Cát đến Dầu Tiếng, sau đó  TĐ 2 ở lại Dầu Tiếng nghỉ ngơi làm trừ bị vì đã đi đầu, còn bao nhiêu tiến về Làng 13 bis thuộc đồn điền Michelin -- ND.

Nói thêm về TĐ 1/7: Trước trận này, trong trận Đồng Xoài tháng 6/1965, TĐ đã bị thiệt hại nặng ngay sau khi đổ quân vì VC giả dạng thường dân chờ họ ở bãi đổ quân. Tháng 12/1974, TĐ lại bị thiệt nặng khi bảo vệ tỉnh lỵ Phước Long và sau đó tan hàng tại Truông Mít gần Dầu Tiếng tháng 3/1975 -- ND)       

Sau đây là phần chuyển ngữ.

PHẦN I 

LỜI NÓI ĐẦU: Ngày thứ bảy 27/11/1965, một trung đoàn tăng cường (quân số nhiều hơn 1 trung đoàn bình thường) của quân CSBV đã tấn công và tiêu diệt trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH trong đồn điền cao su Michelin cách Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương) của nam VN vài dặm về phía đông bắc. Trước đó, trung đoàn VNCH này đã cố gắng tìm và diệt các thành phần của sđ 9 tân lập của CSBV đang hoạt động trong khu vực. Sư đoàn này gồm các trung đoàn 271, 272, và 273 của Lực lượng Võ trang Giải phóng miền Nam, viết tắt theo tiếng Anh là PLAF, lấy từ các lực lượng VC địa phương. (Nói thêm: Trong trận Bình Giả cuối năm 1964 và đầu năm 1965, trung đoàn 271 và 272 đã dự trận, như đã kể trong bài mới đây. Sau này do quân giải phóng miền Nam chết nhiều, họ được thay thế bởi quân CSBV, viết tắt theo tiếng Anh là PAVN, dù danh xưng vẫn là Lực lượng Võ trang Giải phóng miền Nam -- ND).  

Trận đánh bắt đầu vào sáng sớm và kéo dài 8 tiếng đẫm máu. Bảy cố vấn Mỹ tử trận và trung đoàn VNCH này đã hoàn toàn bị quét sạch

NỘI DUNG CHÍNH: Đồn điền Michelin này là đồn điền cao su lớn nhứt nam VN. Nó bao phủ 31.000 acre (mỗi acre bằng 4.046,86 mét vuông) hay 125 km2 của tỉnh Bình Dương và nơi ở của hàng trăm công nhân, sống rải rác trong 22 ấp của đồn điền. CS đã duy trì một hiện diện mạnh mẻ ở đây. Đồn điền là một nguồn thuế lợi tức đáng kể cho chính quyền nam VN, nhưng cũng chịu thuế của VC. Vào tháng 10/1965, Ban Giám đốc của đồn điền đã ko chịu đựng nỗi đòi hỏi tài chánh của VC địa phương, và nghĩ rằng ko còn lợi nhuận khi khai thác đồn điền. Do đó họ ko trả thuế cho VC.

Để trả đũa, VC dùng súng ko giựt (SKZ) 57-ly bắn vào nhà của viên quản lý. BGĐ và quản lý ngừng mọi hoạt động, bay về SG và yêu cầu chính phủ can thiệp. Họ cũng lo lắng khi để hàng trăm công nhân thất nghiệp và lợi tức cạn kiệt.

Chánh phủ VNCH, trợ giúp bởi BTL quân viện Mỹ tại VN, viết tắt là MACV, đã giao trách nhiệm cho trung đoàn 7 của sđ 5 VCNCH và sđ 1 bộ binh Mỹ phải mở đường vào đồn điền, quét sạch VC và tái lập trật tự và an ninh.

Tháng 11 1965, QL/VNCH và lục quân Mỹ đã lần lượt tiến hành các nỗ lực bình định có tên là XÂY DỰNG 10 và 11, và cuộc hành quân (HQ) BUSHMASTER 1. Các HQ này đã thành công và chánh phủ đã quyết tâm tận dụng (capitalize) những thành tựu và mở rộng những nỗ lực này vào khu vực xung quanh, đặc biệt vùng đất cao dọc theo sông SG. 

Ngày 26/11, các TĐ 1, 3, và 4 của trung đoàn 7 VNCH bắt đầu rời quận lỵ Dầu Tiếng, hướng về núi Cầu Cống, ở phía tây của đồn điền. Họ định sẽ khai thác kết quả ném bom của B-52, dự trù diễn ra sáng ngày kế. TĐ 2 của trung đoàn, cùng với một TĐ BĐQ, một pháo đội, và một chi đoàn thiết vận xa M-113 được dùng làm trừ bị. Chiều hôm đó, trung đoàn trưởng, chia cắt lực lượng, bằng cách gửi TĐ 3 đi trước trung đoàn. Các TĐ đã nghỉ qua đêm trong vị trí phòng thủ ở Ấp Nhà Mát, và chuẩn bị sẽ di chuyển khi trời sáng. Nhưng kế hoạch của họ đã bị gián đoạn lúc bình minh, khi 1 trung đoàn tăng cường của CS đã mở các cuộc xung phong riêng lẻ nhưng phối hợp vào BCH của trung đoàn, hai TĐ chánh quy và TĐ 3. 

Hỏa lực dữ dội của cối, súng đại liên và các xung phong biển người đã gây tác hại lớn lao. VC đã rút kinh nghiệm cay đắng rằng họ phải bám sát đối phương để giảm thiểu tối đa tác động của phi pháo Việt-Mỹ. Chiến thuật này có hiệu quả. TĐ 4 đã bị cắt làm hai: khoảng phân nửa bị giết và phân nửa kia, bao gồm cố vấn Mỹ, bị thương. Riêng TĐ 3, theo kế hoạch sẽ dụ đối phương vào bẫy, cũng bị thiệt hại khủng khiếp. Ba trong số bốn cố vấn bị thương. Chỉ có 45 người của TĐ 3 vô sự, bao gồm cố vấn thứ 4. BCH trung đoàn và TĐ 1, bao gồm bảy cố vấn đi kèm, đã hoàn toàn bị tiêu diệt (annihilate). Thiệt hại quân bạn ngày đó là 249 chết, 213 bị thương và 140 mất tích. (Để so sánh, trong 10 ngày từ 28/12/64 đến 6/1/65 tại mặt trận Bình Giả mà chiến tuyến kéo dài hàng chục km, quân VNCH chỉ chết 201, 192 bị thương, 68 mất tích. Mỹ có 5 chết, 8 bị thương, 3 mất tích hay bị bắt -- ND).

Tiểu sử của 7 cố vấn Mỹ tử trận:

1/ Thiếu tá Guy McCarey, Jr, toán cố vấn 70 của MACV. 

2/ Đại úy James McNeely, cũng thuộc toán 70, từng là trung đội trưởng thiết giáp và phục vụ nhiệm kỳ thứ 2 ở VN. Khi chết để lại ngoài 6 con; vợ đang có bầu sanh đôi. 

3/ Thiếu úy Carl Gray, toán 79, từng học tiếng Lào trước khi tình nguyện sang VN phục vụ Lực lượng Đặc biệt (LLĐB). 

4/ Thượng sĩ (sergeant first class) Phillip Vander Weg, cùng toán 70, từng ở Toán Nhảy dù biểu diễn Golden Knights của lục quân; để lại 1 vợ 3 con. (Thượng sĩ trên trung sĩ nhất (staff sergeant) nhưng dưới thượng sĩ nhứt (master sergeant) -- ND. 

5/ Trung sĩ William Crisman, cùng toán 70, vào lính 4 năm. Đến VN chỉ 5 tuần trước khi chết; để lại 1 vợ và 1 con trai.

6/ Binh nhất John Grasso, thuộc phòng giao tế dân sự hay thông tin báo chí của MACV, cũng là âm thoại viên. 

7/ Binh nhất Lester Kersten, cùng toán 70, là âm thoại viên.

Sau này được biết, quân tấn công là 1 trung đoàn tăng cường thiện chiến của CSBV. Dù quân số chủ yếu là VC, trung đoàn này cũng bao gồm những cựu chiến binh dày dạn (seasoned) với vũ khí mới nhứt của LX

Trong khi đó, quân nam VN, được đào tạo để chiến đấu chống lại một đội quân nghèo nàn với những người lính ko chính quy, huấn luyện sơ sài và quân nam VN được trang bị vũ khí cũ của quân Mỹ thời đệ nhị thế chiến. Do vậy những ai nghĩ rằng trung đoàn CS này không là đối thủ của quân đội Việt-Mỹ là nói ko đúng với thực tế.  (understatement). 

Chuyển ngữ từ: Week of November 27, 2022 | Vietnam War Commemoration

PHẦN II

Nhiếp ảnh gia Horst Faas tháp tùng quân tiếp viện Nam VN tới nơi trung đoàn VNCH bị tàn sát tại 1 đồn điền cao su 45 dặm bắc của SG. Sau đây là bài của ông.

"DẦU TIẾNG, Việt Nam-(AP) Trung đoàn 7 của Nam VN đã bị xóa sổ lúc 8 g ngày thứ bảy.

Cố vấn trưởng của trung đoàn đã chết tại đồn điền cao su Michelin mênh mông này sau khi cố gắng trong vô vọng để đẩy lui các đợt xung phong của lính CS xuyên qua rừng cao su.

Phần lớn các người lính VN, cùng với cố vấn Mỹ, đã chết đấu tới viên đạn cuối cùng.

Ông này đã được tìm thấy vào ngày chủ nhật, chết sóng soài bên cạnh 1 hố chiến đấu. Vị trung đoàn trưởng cũng nằm chết gần đó. Lúc 7 g sáng thứ bảy định mạng, ông đã nói qua máy truyền tin với 1 cố vấn của TĐ BĐQ gần đó: "Âm thoại viên (ATV) của tôi vừa chết, và chúng tôi ko thể cầm cự lâu hơn nếu ko có không yểm ngay bây giờ. Hãy ném bom xuống đầu chúng tôi, vì CS đang tràn ngập."

Vài phút sau, vị cố vấn này, giọng ông vẫn bình tỉnh, gọi, "Tôi phải rút khỏi đây. Gấp lắm (fold up)."

Nhưng ông đã ko thể làm điều ấy.

Một xạ thủ đại liên, nằm sóng soài trong hố cá nhân, vỏ đạn ngập đến đầu gối. VC đã bắn bể (shoot off) nòng súng, rồi giết ông bằng 1 viên đạn xuyên óc. (Có lẽ là súng đại liên 30, số hiệu M1919A4 Browning, xem hình, nặng 14 kí, bắn đạn 7.62. Băng đạn 250 viên. Trước 1968, là súng liên thanh của các đv VNCH. Sau năm 1968, vì quá nặng, nên được thay thế bởi M-60 -- ND).

Trung liên BAR, xem hình, nặng khoảng 9 kí, bắn đạn 7.62, hộp đạn 20 viên hay 40 viên. Súng này được dùng trong giai đoạn đầu của chiến tranh VN bởi quân VNCH và đồng minh, kể cả DSCĐ. Theo 1 cố vấn LLĐB, họ nói súng này rất tốt, ko bị kẹt đạn như M-16.           



Một số lính đã định rút chạy, nhưng đã bị bao vây và tàn sát bởi VC, 1 cố vấn bị thương kể lại.

Người chết nằm rải rác ở giữa những nhánh cây rơi và trong những hố chiến đấu khá sâu mà họ đã đào trong 4 ngày đóng tại khu vực này

Phần lớn chết vì trúng đạn ở đầu và cổ.

Không thấy xác VC. Họ đã mang theo xác chết và thương binh.

Lính BĐQ vừa được tăng viện ko còn tìm thấy kẻ thù. Họ đang tìm các đồng đội. Ngay sau buổi chiều, họ đã thu nhặt cả trăm xác. Còn nhiều nữa.

PHẦN 3 - LÁ THƯ CỦA MẸ NÓI VỀ LỄ GIÁNG SINH

Đồn điền cao su Michelin, Việt Nam - (AP)

Những trang của lá thư này bay đu đưa (flutter) giữa những mảnh vụn của trận đánh.

Gần đó, nằm nửa trong nửa ngoài của 1 hố chiến đấu, là xác của 1 trung sĩ trẻ của lục quân Mỹ. Thân xác to lớn của y đã co rúm (crumple) trong bóng của cây rừng, tay y vung ra (fling out).

Lá thư này đã được tung ra (scatter) bởi những tên VC giết ông và nhiều người lính VN vào ngày thứ Bảy trong hai giờ đẫm máu trên đồn điền này. Chúng đã lục lọi (go through) các ví của người chết và lấy đi tiền và những gì quý giá.

Chúng đã để lại thơ này.

Đó là thơ của mẹ trung sĩ.

"Trung sĩ thân yêu," bà đã viết 1 cách trìu mến. Bà nói về những dự định bà làm cho lễ Giáng Sinh. Bà đã ko trông đợi y về nhà vì y còn vài tháng phải phục vụ tại VN. (Mỗi lính Mỹ trong 12 tháng tại VN, kể cả sĩ quan -- ND).

Nhưng bà biết y sẽ quan tâm đến lễ Giáng Sinh tại quê nhà.

Nhưng bà quay sang những vấn đề quan trọng hơn,

"Gia đình đã đọc thư con, và gia đình hiểu những khó khăn ở đó.

"Rất nhiều bà mẹ và vợ và con tại Mỹ năm nay không muốn người thân của họ trở về trong ngày Giáng Sinh."

Mẹ của y đã viết những cuộc biểu tình tại Mỹ phản đối sự can thiệp của Mỹ tại VN.

"Nhiều người ở Mỹ có vẻ chống lại những gì con đang làm, nhưng gia đình biết con làm điều đúng. 

"Gia đình cầu nguyện cho con sẽ đạt những gì con nghĩ là đúng ở đó. Mẹ muốn bảo đảm với con rằng trong mùa Giáng Sinh này, mẹ và gia đình hoàn toàn và luôn luôn (all the way) đứng sau con.

"Nhưng gia đình ko cần phải nói cho con điều ấy. Con đã biết tất cả."

Phần này chuyển ngữ từ: https://www.virtualwall.org/dv/VanderwegPJ01a.htm

CẬP NHẬT NGÀY July 3 2025.

1/ Hai TĐ Mỹ có pháo binh đã tiếp viện trung đoàn 7.

Trích từ trang 88 của 'Stemming the Tide, May 1965 - 0ctober 1966'. Tạm dịch: "Trong những giờ đầu của ngày 27/11, trung đoàn 271 và 273 đã tấn công các thành phần của trung đoàn 7 của sư đoàn 5 gần đồn điền. Quân tấn công VC, theo tướng Seaman, "thực tế đã quét sạch trung đoàn 7". Để trả đũa, Seaman đã ra lịnh cho lữ đoàn 3 của ĐT Brodbeck, với hai TĐ và pháo binh, tiến vào và bảo vệ trung đoàn này trong lúc họ đã tập họp lại. Trong ngày thứ ba của cuộc hành quân, Seaman đã thay đổi nhiệm vụ của Brodbeck." NHẬN XÉT: Như bạn đã thấy, 1 trận đánh lớn như vậy mà quân sử chính thống của Mỹ chỉ GHI VÀI GIÒNG NGẮN NGỦI. Họ chỉ cho biết, sau khi tấn công trung đoàn 7, VC đã rút nhanh vì sợ trả đũa. Do vậy trong hai ngày đầu, các đv Mỹ trên đây đã ko gặp VC./.

2/ - Theo ông Triệu Vũ, thuộc đại đội quân nhu của sđ 5 bộ binh, trong 1 hồi ký đã viết: dù đã mang lên bãi chiến trường ở làng 13 bis Dầu Tiếng300 túi đựng xác và 100 poncho nhưng do ko đủ túi đựng xác chết hay poncho, nên cuối ngày 28/11, vì là ngày cuối để lấy xác, các quân nhân thu dọn chiến trường phải khiêng xác chết đã sình thối vì phơi nắng 2 ngày (chết từ sáng sớm ngày 27/11), xem hình, bỏ lên máy bay C-47 ở sân bay đồn điền Dầu Tiếng để chở về SG. Như vậy số người chết phải trên 400. Sau đó họ được đưa về nghĩa trang Gò Vấp (lúc đó chưa có NT Biên Hòa), có phòng máy lạnh để chứa xác và tắm rửa xác chết trước khi cho thân nhân gặp mặt để khâm liệm.

SJ ngày July 3 2025, cập nhật ngày 22/7/25.

Tài Trần




Saturday, April 20, 2024

 MỘT CUỘC THẢM SÁT ĐƯỢC BÁO TRƯỚC TẠI BÃI ĐÁP HEREFORD








Lời mở đầu: "Ngày 21/5/1966, một trực thăng đáp xuống bãi đáp Hereford, hai sq nhảy ra và đã dẫm ngay một vũng bùn lớn. Một đại úy, râu tóc xồm xàm, giày đầy bùn, đeo súng M-16 ra đón họ. 
Cả ba kéo ra rìa của bãi đáp, đứng cạnh bãi cỏ voi để bớt nắng. Vị thiếu tá mở bản đồ và 3 người thảo luận về một nhiệm vụ. Đó là ĐT Rutland Beard, chỉ huy của TĐ 1/12 của sđ 1 không kỵ, thiếu tá William Roll, trưởng ban 3 và đại úy Don Warren, chỉ huy đại đội (đ.đ.) Charlie của TĐ này. Beard ra lịnh cho Warren để lại trung đội súng cối 20 người tại bãi đáp để yểm trợ cho đ.đ. tiến ra ngoài lục soát.
Warren nài nỉ rằng phải để lại ít nhứt một tiểu đội để bảo vệ trung đội này: "Thưa ĐT, trung đội này chỉ còn 1/2 quân số do bị sốt rét và chỉ trang bị súng M-16 và vài khẩu phóng lựu M-79. Nếu tôi để lại một tiểu đội thì họ có ít nhứt một súng liên thanh M-60 bảo vệ họ".
Beard trả lời trung đội này chỉ ở đây chưa tới một giờ trước khi được bốc sang một bãi đáp khác. Warren nhìn thẳng vào ĐT, "Mọi thứ có thể xảy ra trong một giờ, thưa ĐT." Bực tức vì thái độ gần như ko phục tòng này, Beard cảnh cáo: "Nếu đại úy ko làm theo lịnh tôi, ông sẽ gặp nhiều rắc rối hơn ông tưởng tượng. Hiểu chưa?"
Warren ngần ngừ một lúc trước khi trả lời rõ ràng:" Vâng, ĐT còn nói gì ko?" Beard trả lời không, và Warren quay gót để nói chuyện với các trung đội trưởng. Beard liếc nhìn Roll, lắc đầu và lên trực thăng.
Warren có lý do để lo lắng vì bãi đáp chỉ là một yên ngựa nhỏ có 165 m chiều dài và 45 m chiều ngang, bị vây quanh một phần bởi cỏ tranh cao lút đầu. Ông nghĩ một đ.đ. cũng ko thể bảo vệ bãi đáp này. Ngoài bãi cỏ tranh, nó được bao quanh bởi một địa thế hiểm trở, nguy hiểm nhất là đường đỉnh -- như dao cạo vươn về phía đông bắc hướng về phía một ngọn núi cao gần 1000 feet. Ở chân đường đỉnh, ranh giới phía bắc của bãi đáp bắt đầu hạ thấp cao độ đến rìa phía nam của bãi đáp.
Chỉ vì thái độ tắc trách (negligence) này của ĐT Beard mà sau đó trung đội súng cối đã gần như bị tàn sát, với 13 người chết và 9 mất tích -- sau đó có 3 người tìm về đv.
Muốn hiểu lý do tại sao bãi đáp Hereford được thành lập, chúng ta phải biết chuyện gì xảy ra trước đó sáu ngày tại trại LLĐB Vĩnh Thạnh, nằm ở phía đông của thị xã An Khê, nơi đặt BTL của sđ 1 không kỵ.
Sau đây là phần chuyển ngữ.

=================

"Một nhiệm vụ tìm-và-diệt địch ở vùng núi phía đông của Thung lũng Vĩnh Thạnh đã biến thành một trận đánh ác liệt và mở rộng--gây nhiều thiệt hại cho quân Mỹ và đối phương. 

Hai mươi lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) người Hre (một sắc dân Thượng, sống tập trung ở Bình Định và Quảng Ngải -- người dịch) chỉ huy bởi các trung sĩ (TS) Burton Adams và David Freeman đã lặng lẻ di chuyển qua cổng chánh của trại LLĐB Vĩnh Thạnh, xem bản đồ, vào ngày 15/5/1966, và nhanh chóng mất hút vào bóng tối và sương mù của buổi sáng sớm. Như những toán tuần tiểu đã gửi ra trong tuần qua, họ đang hy vọng tìm thấy bất cứ điều gì để xác nhận lời khai của một tù binh VC rằng một lực lượng hỗn hợp gồm quân csbv/vc sẽ sớm tấn công trại của họ. 

Những người lính này đã đến bờ sông Sông Côn, trèo lên những thuyền nhỏ và chèo qua sông sâu trong im lặng. Khi tới bờ bên kia, họ đã theo một đường mòn đi về phía đông bắc hướng tới những núi cao đầy rừng rậm bị che phủ bởi mây dầy. Chỉ trong vài trăm mét, đường mòn đã hẹp hơn và trở nên dốc hơn và nhiều cây cối rậm rạp hơn. Bóng đêm từ từ nhường chỗ cho ánh sáng của ban ngày.

Những người lính đã rút dao rựa để cắt các mớ dây leo (tangle of vines) và tán lá. Sau 3 giờ hết sức vất vả vượt qua thế đất càng lúc càng cao dần, họ đã tìm thấy một đường mòn nhẳn thín dọc theo một sống núi (ridge). TS Adams ra lịnh cho toán tách khỏi đường mòn để ăn trưa. Mọi người im lặng lấy cơm nguội và cá khô để ăn. 

Khi mọi người ăn xong, Adams ra dấu đứng dậy đi tiếp, nhưng Đinh Ghim, người khinh binh đi đầu ra dấu mọi người ngừng lại. Y đã nghe tiếng nói rất nhỏ (muffled) của địch quân. Toán tuần tiểu đã im lặng chia làm 3 tổ đi về 3 phía khác nhau để tìm kẻ thù vô hình. Tổ của Ghim đã tìm thấy chúng ngồi nghỉ trong bóng râm của một nhánh của đường mòn. Y ra dấu cho tổ cho y vào vị trí chiến đấu và ra lịnh nổ súng. Chỉ trong giây lát, năm chiến binh csbv đã tử thương. Mấy chục tên khác đã chạy ào xuống đồi, để lại súng và ba-lô. Khám xét xác chết và ba-lô, họ thấy trên người một trung úy csbv một bản đồ vẽ tay mô tả chi tiết cuộc tấn công vào trại Vĩnh Thạnh. Cuốn sổ tay của y cho thấy các thành phần của trung đoàn 2 gồm quân CSBV và VC sẽ tấn công trại trong một tuần. Một tài liệu khác còn viết rằng một pháo đội CSBV gồm 2 khẩu của TĐ 32 pháo binh sẽ yểm trợ cuộc tấn công. Nhìn lên đỉnh núi, Freeman nói, "Ở nơi nào trên đó có hàng trăm lính VC và CSBV muốn gây thiệt hại nặng cho chúng ta."

Với bằng chứng quá rõ ràng như vậy, Adams liền gọi máy cho đại úy Frank Tinseth, trại trưởng trại Vĩnh Thạnh. Tinseth chuyển tin này cho thượng cấp, người này thông báo cho BTL của sđ 1 Không kỵ ở An Khê, cách đó 20 dặm về phía tây. Thiếu tướng John Norton, người vừa nắm quyền tư lịnh sđ, ra lịnh cho ĐT John Hennesy, chỉ huy lữ đoàn 1 gửi vài đại đội (đ.đ.) bộ binh để thăm dò khu vực nơi mà các tài liệu đã bị tịch thu để xem có lực lượng lớn của địch có mặt.

Sáng sớm ngày kế, 16/5, đ.đ. Bravo của TĐ 2/8 không kỵ, của đại úy J. D. Coleman tập hợp tại sân bay An Khê để chờ trực thăng chở quân. Cùng với họ là TS nhứt LLĐB Mỹ Thomas Welsh, với TS tình báo người Việt của y và một thông dịch. Khoảng 9g sáng, 6 chiếc trực thăng đầu tiên đã tới để bốc Coleman và 40 người lính bay về phía đông ở tới một bãi đáp ở vùng núi cao của tỉnh Bình Định. Sau đó là cả đ.đ. 126 người được bốc. 

Bãi đáp Hereford rất chật đã khiến chỉ có một chiếc  đổ quân xuống và nhanh chóng bay đi để chỗ cho chiếc khác. Tuy vậy chỉ trong hơn một g, cả đ.đ. của Coleman đã xuống đất. Lúc 11g, đ.đ. Bravo bắt đầu đi dọc một đường mòn quanh co, nhẳn thín và càng lúc càng dốc chạy dọc theo một sống núi dài. Càng lên cao, đường mòn càng hẹp, những người lính quân trang và vũ khí nặng nề đã cực nhọc và chậm chạp đi trên bùn, ngang qua các dây leo và những tảng đá lớn.

Sau 2 giờ trèo núi, tiểu đội đi đầu của TS nhứt Jerry McCullough đã phát hiện một số VC trong những hầm hào đã chuẩn bị gần đỉnh của một đồi nhỏ. Người lính Mỹ đi đầu nổ súng, và địch quân lập tức bắn trả, làm y và 2 đồng đội chết và 4 bị thương. Cả đại đội đã bị tấn công dữ dội. Đại Úy Coleman ra lịnh các trung đội lập chu vi phòng thủ trên một cao điểm, và gọi máy về TĐ xin hỗ trợ và tăng viện. 

Tiểu đội của McCullough rút lui về chu vi của đ.đ., mang theo người bị thương. Chỉ một lát sau vào buổi chiều, một cơn mưa mùa đã trút nước xuống, trong khi địch quân tái tục tấn công. Lợi dụng bóng tối và mưa gió, VC đã bao vây đ.đ. Bravo với súng tự động từ mọi phía, khiến lính của Coleman phải thu hẹp chu vi phòng thủ. Dù mưa gió tầm tả, đ.đ. Bravo đã dũng cảm chống trả cho tới khi VC rút lui. Coleman đã nhanh chóng cho thu hồi người chết và bị thương. Ông được biết một đ.đ. đã đổ xuống bãi đáp Hereford lúc mưa ngừng và sẽ tiến tới vị trí của ông một khi một đ.đ. khác đổ quân xuống để bảo vệ bãi đáp. 

Tuy nhiên, khoảng 1800g, VC đã mở cuộc tấn công mới, đe dọa tràn ngập đ.đ. Một tiền sát viên không quân báo cho Coleman rằng 2 trực thăng võ trang đang gấp rút trên đường tới vị trí của ông; dù trời mưa, sương mù và bóng tối. Một chiếc, được lái bởi trung tá Morris Brady, chỉ huy TĐ 2/20 pháo binh dã chiến, chiếc kia bởi thiếu tá Roger Bartholomew, cả hai đều tình nguyện cho phi vụ nguy hiểm này. (Nói thêm: tuy là sđ không kỵ, với rất nhiều trực thăng hơn các sđ bộ binh hay nhảy dù hay TQLC, nhưng sđ này vẫn có lực lượng pháo binh và thiết giáp cơ hữu -- người dịch). Hướng dẫn bởi tiền sát viên và pháo sáng từ dưới đất, hai chiếc này đã nhào xuống bắn phá bằng đại liên và rốc-két 2.75-in, một số chỉ cách chu vi phòng thủ vài feet. Việc yểm trợ kịp thời này rất hữu hiệu, và lúc 1930g, địch rút lui. Nhưng suốt đêm, địch tiếp tục bắn cối và tung các toán nhỏ để quấy rối cũng như gây thiệt hại cho quân Mỹ.

Bên trong chu vi, 15 lính chết gồm 12 người của đ.đ. Bravo, cộng với TS nhứt Welsh, TS tình báo VN và thông dịch viên của LLĐB. Cả ba người này đều bị bắn vào đầu bởi 1 tên bắn sẻ. 30 người khác bị thương, một số bị thương nặng. Các bác sĩ và y tá chăm sóc họ trong khi lính của Coleman đặt người chết làm hai hàng và che phủ bằng poncho sũng nước. 

Tối hôm đó, hai đ.đ. bộ binh của 1/12 Không kỵ đã đổ xuống bãi đáp Hereford để tăng viện cho Bravo. Đại đội Alpha của đại úy John Cummings đã xuống khi trời dứt mưa và xuất phát ngay để tiếp viện cho Bravo một khi đ.đ. Charlie tới để bảo vệ bãi đáp Hereford. Cuối cùng, sau 2 g leo trèo, Alpha đã tới chu vi của Bravo khoảng 2200g, và bảo vệ chu vi phòng thủ của Bravo. 

Trong khi đó, đ.đ. Charlie của đại úy Don Warren, đã chiếm giữ các vị trí ở bãi đáp Hereford trong khi địch quân trong các hố chiến đấu rải rác khắp khu vực bãi đáp. (Như đã nói ở trên, bãi đáp lúc đầu rất nhỏ, mỗi lần chỉ xuống được một chiếc -- người dịch). Warren ra lịnh cho lính đào hố sâu và rộng hơn. Trong khi họ đào, sương đêm rất dầy bao phủ khu vực núi non này, khiến trời đã tối lại còn tối hơn. Ngay lúc trước nửa đêm, lính Mỹ nghe tiếng súng chạm vào nhau ở một khe núi bên dưới họ. Hoảng sợ (spooked), đại úy Warren lại nghĩ rằng VC chuẩn bị bắn cối vào họ. Ông gọi pháo binh bắn vào vị trí nghi ngờ có địch, để rồi hai binh sĩ chết do bị bắn lầm.  

Cường độ của trận đánh đã khiến thiếu tướng Norton nghĩ rằng trung đoàn 2 của Quân Giải phóng miền Nam của sđ 3 CSBV đang ở trong khu vực, và hoạt động phía đông thung lũng Vĩnh Thạnh với một trung đoàn khác có thể gần đó. Để đối phó với đe dọa này, ông đã phát động một cuộc hành quân với nhiều TĐ, mang tên HQ Crazy Horse. Đây là tên một tù trưởng bộ lạc Sioux Ogala đã quét sạch trung đoàn kỵ binh số 7 của George Custer trong trận đánh có tên Con cừu hoang nhỏ (Little Bighorn) năm 1876. 

Lý tưởng nhứt, sđ không kỵ sẽ bao vây và chận những đường rút lui của địch. Theo kế hoạch của tướng Norton, ĐT Hennesy sẽ tấn công trung đoàn 2 giải phóng quân, bằng cách chuyển quân nhanh chóng vào các bãi đáp ở bắc và đông của Hereford. Ông đặt BCH nhẹ tại bãi đáp Savoy trong thung lũng Vĩnh Thạnh ngày 17/5, và xử dụng các đ.đ. bộ binh của TĐ 1/5 Không kỵ và TĐ 2/12 không kỵ. Hennessy nói với hai TĐ trưởng phải tìm kiếm và đuổi theo địch "dù cho chúng tiến theo hướng nào" để cho trực thăng võ trang giải quyết. 

Vào lúc rạng đông của ngày 17, sương mù đã bao phủ bãi đáp Hereford trong khi trực thăng đổ xuống đ.đ. Alpha của TĐ 1/5 để lục soát khu vực phía bắc của hai đ.đ. đã lâm trận. Chỉ huy bởi đại úy Nick Waddock, Alpha bắt đầu lục soát sống núi gần địa điểm của trận đánh ngày hôm trước, khi đó chỉ có một trung đội 81 ly và một đ.đ. bảo vệ bãi đáp. Đ.đ. Charlie, sau khi trải qua đêm ở bãi đáp này, cũng đi theo đường mòn lên núi hướng tới hai đ.đ. bị bao vây, để lại trung đội 81 ly của đ.đ.

Lúc 0630g, bên trong chu vi phòng thủ trên núi, lính của Bravo và Alpha đã bắt đầu bắn mọi vũ khí mà họ có càng nhanh càng tốt, hy vọng sẽ giết mọi địch quân chuẩn bị tấn công họ. Ngay khi lính Mỹ bắt đầu nổ súng, trung đoàn vc đã xung phong. Trong gần 2 g, VC từ rừng rậm đã xung phong từng đợt, lao nhanh tới các hố chiến đấu của lính Mỹ. Thương vong đã tăng lên và phần lớn lính phòng thủ sắp hết đạn. (Nói thêm: trừ lính nhảy dù hay TQLC hay LLĐB Mỹ là tình nguyện, các lính của các sđ bộ binh Mỹ, kể cả sđ 1 không kỵ này đều là lính QUÂN DỊCH, nên tinh thần chiến đấu ko cao -- người dịch). Với lịnh "gắn lưởi lê", quân phòng thủ chờ đợi bị tràn ngập. Kế đó, ko rõ vì lý do gì, có lẽ sợ quân tăng viện của hai TĐ Mỹ, địch quân đã tan biến vào sương mù đang tan dần.

Đại đội trưởng Coleman và Cummings đánh giá thiệt hại. Đ.đ. Bravo chết 25 và bị thương 62 người. Đ.đ. Alpha chết 3 và bị thương 37 người. Có 38 xác VC nằm rải rác bên trong hay gần chu vi phòng thủ. Họ còn thấy một số xác của lính bắn sẻ VC vắt vẻo trên cây. Bằng chứng cho thấy khoảng 200 lính thuộc năm TĐ CSBV và hai đ.đ. VC chết trong trận này.

Sau đó trong ngày, đ.đ. Bravo của TĐ 2/8, mang lính chết và bị thương từ sống núi xuống bãi đáp và di chuyển về An Khê. Đ.đ. của 1/12, cũng kéo quân về bãi đáp, nhưng ở lại đây với đ.đ. Charlie. Quân của Warren giúp đ.đ. Alpha gom xác và đưa người thương và chết xuống đồi để tới bãi đáp. Họ đã dùng poncho và những thân cây nhỏ để làm cáng. Trong khi xuống đồi, vì đường trơn trợt do ướt mưa, nhiều người trợt té, làm thương binh rơi xuống đất. Tại bãi đáp, một trực thăng chờ sẵn để bốc thương binh nặng. Sau đó các trực thăng đáp xuống, để bốc hết thương binh.

Trước khi một Chinook tới để bốc người chết, bao gồm ba người của trại Vĩnh Thạnh, đ.đ. Bravo của 1/5 của đại úy Joe Beeman đã đáp xuống bãi đáp. Khiếp sợ khi thấy quá nhiều xác chết xếp lớp trên mặt đất, lính của đ.đ. này đã đổ quân xuống bãi đáp rất chậm. Sau đó họ đã nhanh chóng tập hợp lại và bắt đầu trèo lên núi rậm rạp theo đường mòn có sẵn, để tới khu vực vừa xảy ra trận đánh.

Khi Chinook tới, máy bay thả lưới xuống để bốc xác chết. Tuy nhiên do gặp nhiều khó khăn, ĐT Hennessy ra lịnh lập bãi đáp mới. Nhờ trời tốt, lần đầu tiên trong tuần, ngày 19/5, lính bắt đầu chặt cây và bụi rậm. Một Chinook thả xuống lính công binh và trang bị, và vào cuối ngày công binh, trợ giúp bởi lính bộ binh, đã lập một bãi đáp đủ rộng cho một Chinook xuống và đặt tên bãi đáp Milton

Vào cuối chiều 20/5, trung tá Rutland Beard, chỉ huy TĐ 1/12 không kỵ, gọi máy báo nhiệm vụ mới sáng hôm sau cho Cumming và Warren. Cumming sẽ di chuyển đ.đ. Alpha tới bãi đáp Hereford, làm an ninh bãi đáp trước khi được chở về An Khê. Quân của Warren sẽ lục soát khu vực giữa Milton và Hereford và thám sát những sườn núi (slope) bên dưới hai bãi đáp này. Sau đó họ sẽ xuống núi để thực hiện nhiệm vụ tìm-và-diệt địch trên đường trở về bãi đáp Savoy, nơi đặt BCH nhẹ của ĐT Hennessy, trong thung lũng Vĩnh Thạnh.

Ngày kế khi mặt trời ló dạng, trong lúc hai đ.đ. chuẩn bị rời bãi đáp Milton, 1 trực thăng đáp xuống mang bữa ăn sáng cho binh sĩ. Cũng đáp xuống có phóng viên Sam Castan, 31 tuổi, của tuần báo Look. Ngay trước 0900, đ.đ. của Cummings bắt đầu theo đường mòn tới Hereford. 30 phút sau đó, đ.đ. Charlie của Warren bắt đầu lục soát. Castan nhảy lên 1 trực thăng để tới Hereford.

Đ.đ. của Warren tới Hereford khoảng 1200, cùng lúc với người lính cuối của Cumming rời Hereford bay về An Khê. ĐT Beard và sĩ quan ban 3 khoảng 1230 đáp xuống để gặp đại úy Warren. Ông nói với đại úy hãy để trung đội súng cối 20 người ở Hereford để yểm trợ cho đ.đ.  Đại úy nói rằng làm như vậy rất nguy hiểm cho trung đội súng cối, ông muốn có thêm 1 hay 2 tiểu đội ở lại để bảo vệ trung đội này. Beard không đồng ý và bay đi. Phóng viên Castan ở lại với trung đội súng cối, và sẽ về lại An Khê sau đó 2 g.

Lúc 1330, dưới ánh nắng oi bức, quân của Warren rời khỏi bãi đáp để tiến vào rừng rậm của thung lũng bên dưới. Warren định kỳ gọi máy cho trung đội cối để bắn dọn đường cho đ.đ. của ông, nhưng chỉ trong 30 phút rời bãi đáp, ông mất liên lạc với trung đội. Ông chỉ còn cách nói chuyện với họ qua trung tâm điều khiển pháo binh hay FDC đặt tại bãi đáp Savoy.

Nửa đường xuống núi, Warren nhận tin khẩn cấp từ FDC: trung đội cối bị hàng trăm quân địch tấn công. Ông liền ra lịnh đ.đ. quay ngược về Hereford. Tin tức truyền qua hàng ngũ đ.đ. rằng Hereford đã bị tràn ngập. Warren thúc lính chạy mau để cứu đồng đội. Một số lính đã ngả xuống vì trời nóng. Xạ thủ M-60, Mickey Server, bị buồn nôn, chóng mặt và đau nhức bắp thịt, tự hỏi làm cách nào y có thể tới Hereford. Không để quân lính mất tinh thần, Warren tiếp tục thúc hối họ.

Khi tới Hereford, họ gần như ko thấy ai. Chuyên viên bậc 4 Ben Dubose và Mel Lewis chạy nhanh tới một hố cá nhân để nhảy xuống, nhưng đã ngừng ở mép hố. Ở dưới đó là hai xác đã bị xé rách bởi đạn và lựu đạn. Chuyên viên bậc 4 Ivory Whitaker, lo lắng nhảy từ hố này tới hố khác, mong tìm thấy người em họ, binh nhì Henry Benton. Khi ông thấy y thì quá trễ, thân xác đầy lổ đạn của y khiến ông muốn ói. Chuyên viên bậc 4 Jim Braga và nhiều lính của Warren, vẫn còn kinh hoàng (horror-stricken) sau khi thu nhặt xác ngày hôm trước, đã ko thể nhìn những xác của bạn bè.

Với an ninh được tái lập quanh bãi đáp, Warren kiểm kê thiệt hại. Phần lớn của 13 người chết ko thể nhận dạng. Ông ra lịnh tìm kiếm 9 người mất tích. Một số đã được tìm thấy ở rìa của chu vi phòng thủ. Lính cũng thấy xác của phóng viên Castan ở sườn núi. Ba người mất tích sau đó đã tìm về đv. Vào buổi chiều mọi xác đều được tản thương.

Khoảng 1730, đ.đ. của Warren đi bộ về thung lũng. Giữa đường ông ngừng lại để lại một tiểu đội để phục kích địch nếu chúng trở lại bãi đáp Hereford.

Sau đó tiểu đội báo cáo thấy khoảng 10 đèn bấm di chuyển trong rừng, hướng về bãi đáp. Ông liền gọi FDC bắn thả dàn (fire at will) trên hỏa điểm dự trù. Tiểu đội này tới điểm trích xuất và gọi trực thăng tới.

Một chiếc UH-1B đáp xuống trong bóng đêm. Họ đã chen lấn lên máy bay khiến nó ko thể cất cánh. Thế là họ phải đi bộ về bãi đáp Savoy ngày kế.

Ngày 21/5, đ.đ. Bravo và Charlie của TĐ 1/8 không kỵ, xuất phát từ bãi đáp Horse vào sáng sớm và hướng về đông bắc để tìm các thành phần của trung đoàn 22 CSBV/VC, mà họ nghi núp trong núi. Đ.đ. Bravo của đại úy Ray Martin, đi dọc phía nam một con suối, trong khi Charlie của đại úy William Mozey, đi dọc mặt bắc. Dấu hiệu khắp nơi chứng tỏ địch có mặt. Do đi nhanh, Bravo đã chạm súng với một lực lượng lớn.

Charlie đã thấy các hầm trú ẩn có người vừa bỏ đi, và bắn về phía địch để hỗ trợ Bravo. Trận đánh kéo dài đến chiều, nhưng khi trời tối VC đã rút về tây bắc để chuẩn bị chiến đấu dọc sườn núi. Đ.đ. Bravo đi vòng qua các công sự này để lên núi, và đối diện với nơi kẻ thù đang mong đợi sự kháng cự. Với tất cả binh lính của mình tại chỗ, Martin gọi điện cho Mozey để chuyển hỏa lực của mình ra khỏi các bunker của đối phương. Khi hỏa lực này vừa dứt, cả đại đội của Martin từ trên núi tràn xuống, vừa chạy vừa bắn và ném lựu đạn vào các hầm trú ẩn. Một số tên địch chay thoát, nhưng ít nhứt 60 bỏ mạng. Một số lính Mỹ chết và bị thương.

Vì thấy rằng lữ đoàn 1 chịu nhiều tổn thất, TL của sđ 1 không kỵ thay đổi chiến thuật. Thay vì để quân Mỹ tìm địch trong khu vực rừng núi đầy nguy hiểm, ông ra lịnh cho ĐT Hennessy bao vây khu vực này bằng nhiều nút chận trong khi dùng B-52 và pháo giả nát địch quân. Ông nghĩ rằng, nếu địch cố gắng phá vòng vây, quân Mỹ, cộng với quân  Nam VN và Nam Hàn sẽ tấn công chúng. Tuy nhiên, nhiều tên đã thoát được bẫy này. 

Vào đầu tháng 6, mọi dấu hiệu cho thấy các đại đv của địch đã ra khỏi khu vực, chỉ để lại những toán nhỏ nhằm trì hoãn và quấy rối quân Mỹ khi các đại đv này rút lui. Ngày 5/6, sau 21 ngày chiến đấu trong rừng núi ở giữa tỉnh Bình Định, HQ Crazy Horse chấm dứt. Những người lính cuối cùng của sđ 1 không kỵ rút đi và được đưa sang chiến trường mới.

Chuyển ngữ từ hai bài viết sau đây:1/ This Mortar Platoon Was Surrounded, Outmanned And Outgunned in Vietnam (historynet.com)

2/ 1st CAV on the War Path (historynet.com)

San Jose ngày 21/4/24. Cập nhựt ngày 16/5/24.

Tài Trần