Showing posts with label quan hệ viêt trung. Show all posts
Showing posts with label quan hệ viêt trung. Show all posts

Tuesday, July 3, 2018

Nhân vụ ba đặc khu: Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu bị lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc từ bao giờ và tại sao?

Phạm Cao Dương (*)
3-7-2018
ĐỌC LẠI NHỮNG BÀI VIẾT CỦA CÁC CỐ VẤN TẦU Ở VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (1946 – 1954)
Đây là những bài viết được ghi là của “một số lão đồng chí đã từng cộng tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập của tập tài liệu có nhan đề Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp (Hồi ký của những người trong cuộc) do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy với Dương Danh Dy cũng là người hiệu đính.
Bản dịch này không ghi nơi xuất bản cũng như tên nhà xuất bản với lý do được nêu là tài liệu lưu hành nội bộ và được gửi từ trong nước ra hải ngoại qua thư điện tử. Cũng vậy, ghi là nội bộ nhưng sách cũng không ghi rõ là nội bộ của cơ quan nào. Dương Danh Dy là một nhà nghiên cứu được nhiều người tin cậy. Ông đã từng giữ chức Tổng Lãnh sự Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc.
I. Nội dung của tài liệu
Tập tài liệu này dày 280 trang qua thư điện tử và gấp đôi tức trên dưới 560 trang theo khổ sách in nhỏ, gồm tổng cộng 10 bài, thêm hai trang Lời Cuối Sách. Tác giả đầu tiên là La Quý Ba, người được Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc bí mật cử sang Vịêt Nam đầu năm 1950 làm đại diện liên lạc giữa Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau này là Đại Sứ đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc ở Vịêt Nam. Bài này ngắn và có tính cách tổng quát, được viết để tưởng nhớ Mao Trạch Đông.
Tác giả thứ hai là Trương Quảng Hoa. Ông này xuất thân làm công tác ở văn phòng cố vấn quân sự của Đoàn, lo về thống kê nên nắm vững tình hình “giao nhận vật tư” để báo cáo cho lãnh đạo của Đoàn. Trương Quảng Hoa có cả thảy bốn bài, đồng thời giữ vai trò sửa chữa và hiệu đính, kể cả sửa chữa và hiệu đính cho phần “Đại Sử Ký” tức phần niên biểu các sự kiện chính ở cuối sách, trong đó có bài viết tổng quát và một bài viết về vai trò có tính cách quyết định của tướng Trần Canh trong trận Đông Khê – Thất Khê. Chủ trương của Trần Canh cũng như của các cố vấn Tàu đối nghịch với chủ trương ban đầu của các chỉ huy trưởng Việt Minh, trong đó có các Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 102 Nguyễn Hữu An và Trung Đoàn 88 Thái Dũng.
Người có bài thứ ba là Vu Hóa Thuần, viết về Vi Quốc Thanh trong cả hai trận Đông Bắc và Điện Biên Phủ, một vai trò cũng quyết định giống như vai trò của Trần Canh trong chiến dịch Đông Bắc. Vương Nghiên Tuyền nguyên ở trong ban tham mưu của Tướng Trần Canh và là cố vấn cho Đại Đoàn 308 trong thời chiến tranh chống Pháp, năm 1956 lại trở sang Việt Nam làm tổ trưởng Tổ Chuyên Gia Quân Sự cho đến năm 1957. Ông này có hai bài dài và coi như nòng cốt của tập sách. Tiếp theo là các bài của Độc Kim Ba và của Như Phụng Nhất mà tiểu sử không được ghi dù là gián tiếp. Cuối cùng là một niên biểu liệt theo ngày tháng tiến trình hoạt động của Đoàn Cố Vấn Trung Quốc từ ngày được thành lập, từ tháng Giêng và tháng Hai năm 1950 cho đến trung tuần tháng Ba năm 1956.
VIỆN TRỢ CỦA TRUNG QUỐC
Nói tới Chiến Tranh Pháp – Việt Minh (1946 – 1954) không ai là không biết tầm quan trong của viện trợ của Cộng Sản Trung Quốc cho Cộng Sản Việt Nam kể từ sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được toàn thể Trung Hoa Lục Địa, hay chậm hơn và đúng hơn chút nữa là từ trung tuần tháng 8 năm 1950, khi hai đoàn cố vấn quân sự, một do Vi Quốc Thanh và Đặng Dật Phàm cầm đầu từ Quảng Tây và một do Trần Canh hướng dẫn từ Vân Nam đến bộ chỉ huy tiền phương của Việt Minh ở Quảng Uyên, Cao Bằng và được Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh đón tiếp và thuyết trình.
Đây là thời điểm then chốt. Nó mở đầu cho một giai đoạn mới trong lịch sử Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất, trong đó viện trợ của Trung Quốc đóng vai trò quyết định. Sau thời điểm này quân đội của Tướng Giáp không còn phải “chiến đấu trong vòng vây”, không còn chỉ đánh du kích nữa mà đã chuyển sang vận động chiến, rồi sau đó là công kiên chiến để đánh bại địch quân, theo sách lược của Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc.
Hồi ký của các nhà lãnh đạo Việt Minh trong đó có Tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, có Đặng Văn Việt, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174, con Hùm Xám của Đường Số 4, đều nói tới nguồn viện trợ duy nhất và thiết yếu này nhưng lại tương đối ít. Những chiến thắng của Việt Minh từ các trận Đông Khê và Cao Bằng trong chiến dịch Việt Bắc tới trận Điện Biên Phủ theo các chỉ huy người Việt này là do sự hoạch định chiến lược và chiến đấu của chính người Việt.
Các cố vấn Trung Quốc trong tập Ghi Chép Thực kể trên đã gần như nói ngược lại. Không những thế họ còn viết nhiều hơn nữa, không riêng về quân sự như cung cấp dư dả súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng, soạn thảo tài liệu huấn luyện, tái tổ chức lại quân đội với chủ trương đặt nặng vai trò của chính trị trong quân đội, thành lập và võ trang những đại đơn vị mới như các Đại Đoàn 316, 320, 325, 351 và một trung đoàn công binh bên cạnh các đại đoàn 304, 308, 312 và một số trung đoàn đã có từ trước, mà còn giúp Việt Minh giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chánh, đặc biệt là về tiền tệ, lương thực để Việt Minh từ thế gần như thụ động, bị bao vây trên nhiều mặt trận, sang chủ động làm chủ chiến trường. Các cố vấn Tàu còn cho biết họ đã soạn thảo các chiến lược và trực tiếp tham gia chiến trận cùng với quân đội của Tướng Giáp từ đó đã giúp cho Cộng Sản Việt Nam toàn thắng.
II. Những dữ kiện có thể rút tỉa: Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu bị lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc từ bao giờ?
Một cách tóm tắt, khi đọc tài liệu này ta có thể ghi nhận được những dữ kiện sau đây:
1. Thứ nhất: Hai chuyến đi bí mật sang Nga của Hồ Chí Minh bị thất bại. Viện trợ của Cộng Sản Tàu cho Cộng Sản Việt Nam là do sự thỏa thuận từ trước của Stalin, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.
Những sự kiện này đã xảy ra tiếp theo hai chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào đầu tháng Giêng năm 1950 và vào mùa đông năm 1951. Lần đi thứ nhất, khi Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh thì Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã đi riêng tới Moscow để ký Hiệp Ước Tương Trợ Đồng Minh Hữu Nghị Trung – Xô từ trước nên họ Hồ chỉ được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp rồi sau đó được Lưu Thiếu Kỳ thu xếp để sang Moscow. Câu hỏi được đặt ra là trước khi đi Mao và Lưu có biết là Hồ sẽ sang Bắc Kinh hay không? Câu hỏi này được đặt ra nhưng câu trả lời phần nhiều là có. Nếu vậy tại sao hai người lại không đợi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh để rồi cùng đi? Câu trả lời phần nào có thể được thấy nếu người ta theo dõi những gì đã xảy ra sau đó.
Thứ nhất là trong buổi tiệc do Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô tổ chức để khoản đãi Hồ Chí Minh khi họ Hồ mới tới Moscow tối ngày 6 tháng Hai năm 1950, Stalin đã không đến dự và Stalin chỉ tiếp ông này nhiều ngày sau đó và tiếp ở phòng làm việc của mình với sự có mặt của nhiều ngưới khác trong đó có cả Vương Gia Tường là đại sứ Trung Quốc ở Liên Xô.
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông và Nikita Khrushchev. Ảnh chụp ngày 1/10/1959 ở TQ. Tài liệu lưu trữ của TQ
Thứ hai là trong buổi tiếp tân chiêu đãi trọng thể dành cho Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai và toàn thể các đoàn viên phái đoàn Trung Quốc, Hồ Chí Minh cũng được mời, có thể là không chính thức vì chuyến đi của ông là bí mật. Lợi dụng cơ hội này và khi Stalin rất vui, Hồ Chí Minh đã ngỏ ý xin được ký một hiệp ước tương tự như hiệp ước Trung – Xô Mao Trạch Đông đã ký với Stalin trước đó. Stalin đã từ chối. Trương Quảng Hoa đã kể lại cuộc đối thoại giữa hai người như sau:
Stalin rất vui, trong bữa tiệc luôn luôn trò chuyện với khách. Hồ Chí Minh nắm lấy thời cơ này cười hỏi Stalin: “Đồng chí còn có chỉ thị gì nữa đối với công tác của Việt Nam chúng tôi không?” Stalin cười: “Tôi làm sao có thể chỉ thị cho đồng chí, đồng chí là Chủ tịch nước, quan còn to hơn tôi mà!”
Hồ Chí Minh lại nói: “Các đồng chí đã ký hiệp ước với Trung Quốc, nhân tôi ở đây, chúng tôi cũng muốn ký một hiệp ước!” Stalin nói: “Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích như thế nào?”
Hồ chí Minh nói: “Điều đó rất dễ, đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao?”
Stalin cười lớn nói: “Đó là quá sức tưởng tượng đặc biệt của người phương Đông các anh” (trang 21).
Họ Trương ghi tiếp là “Rất nhiều người dự tiệc cũng đều cười vang lên”. Chi tiết này chứng tỏ cuộc đối thoại giữa Hồ Chí Minh và Stalin là công khai trước mặt mọi người. Nhưng xét toàn bộ người ta thấy Stalin tỏ ra rất lạnh nhạt, không tôn trọng Hồ Chí Minh, đã mỉa mai khi trả lời những câu hỏi nghiêm chỉnh và quan trọng của họ Hồ. Không những thế Stalin còn đem những đề nghị của Hồ ra làm trò cười cho những người có mặt trong buổi chiêu đãi và thẳng thừng từ chối những lời yêu cầu của họ Hồ, trong đó có đề nghị ký một hiệp định là điều họ Hồ rất mong muốn.
Tại sao vây? Theo Trương Quảng Hoa, Stalin lo lắng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tôc, là Ti Tô thứ hai. Nhưng đọc kỹ chi tiết hơn, người ta thấy hai điều. Một là Stalin có chủ trương muốn Hồ Chí Minh đẩy sớm hơn và mạnh hơn cách mạng xã hội và kinh tế thay vì chỉ lo đánh Pháp để sớm tiến tới chủ nghĩa vô sản và hai là Stalin đã cùng Mao Trạch Đông, và ngay cả trước đó không lâu, Lưu Thiếu Kỳ trong một chuyến đi bí mật sang Nga, đã từng thảo luận và đồng ý với nhau về vai trò viện trợ cho Cộng Sản Việt Nam của Trung Quốc rồi.
Đây là lý do chính và Hồ Chi Minh khi được các lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc thu xếp cho sang Nga chỉ là để nghe một chuyện đã được sắp xếp rồi. Riêng về cá nhân Hồ Chí Minh, xuyên qua cuộc đối thoại này, người ta thấy phần nào bản chất thực tế, kiên nhẫn, chịu đựng, quyền biến đến độ lì lợm, sẵn sàng dùng những biện pháp lừa dối như ông đã thường làm ở Vịêt Nam của ông. Cuối cùng thì chuyến đi Liên Xô của Hồ Chí Minh hoàn toàn thất bại, không giành được gì trực tiếp từ phía Liên Xô, không được Stalin coi trọng như Mao Trạch Đông để từ đây Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam phải nghe và hoàn toàn trông cậy vào viện trợ của Trung Quốc.
Vận mệnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng và vận mệnh của dân tộc Việt Nam cũng như lãnh thổ Việt Nam nói chung, có thể đã bị quyết định ngay từ chuyến đi của Hồ Chí Minh này. Nói như vậy là vì khi làm cố vấn cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, các chuyên gia Trung Quốc bắt buộc phải nghiên cứu địa hình, địa diện, các cao điểm chiến thuật, chiến lược, trục lộ giao thông cùng các tiềm năng khác có thể khai thác… bằng chính tai mắt và khối óc của mình, chưa kể khi họ vạch và làm đường và khi khí giới, quân trang quân dụng được vượt qua biên giới, chở sang cho Việt Minh. Các cao điểm chiến lược, các cột mốc biên giới hẳn khó lọt qua con mắt của các chuyên gia quân sự Trung Quốc ngay từ thời điểm này để chuyển về cho Trung Ương Đảng của họ, không cần phải đợi tới bốn chục năm sau.
Về chủ trương giữ bí mật cho những chuyến đi của Hồ Chí Minh và sau này là về Đoàn Cố Vấn Trung Cộng cũng là điều người ta cần chú ý. Phía nào thực sự chủ trương giữ bí mật và tại sao phải giữ bí mật? Câu hỏi cần phải được đặt ra, cũng như Hồ Chí Minh có hứa hẹn gì với Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc để đánh đổi lấy viện trợ của Trung Quốc không? Cũng vậy, có thật viện trợ này là không hoàn trả và hoàn toàn vô vị lợi dựa trên nghĩa vụ quốc tế giữa các đảng cộng sản hay không hay ngược lại, có liên hệ gì tới sự nhượng bộ của Cộng Sản Việt Nam đối với Cộng Sản Trung Quốc sau này không?
Về điều này người đọc nên để ý tới sự gợi ý của Stalin là Trung Quốc giúp cho Việt Nam một con gà thì Việt Nam có thể trả lại cho Trung Quốc một trái trứng. Con gà là quân sự, là kinh tế, tài chính, là lương thực, là tiền tệ, còn trái trứng là cái gì? Cũng vậy, sự giữ bí mật này có liên hệ gì tới cách giải thích sự thỏa hiệp với Pháp của Hồ Chí Minh hồi năm 1946 trước đó, đại khái là: “Thà ngửi c… thằng Tây ít năm còn hơn là làm nô lệ thằng Tàu thêm một ngàn năm nữa” hay những gì họ Hồ và Đảng Cộng Sản đã lên án phía Việt Quốc, Việt Cách mấy năm trước đó? Hay giữ bí mật theo yêu cầu của Nga và của Tàu hay tất cả?
Người viết sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác. Cũng cần phải để ý tới sự kiện là thời điểm của cuộc viếng thăm là đầu năm 1950, lúc Liên Xô sau thế chiến thứ hai chưa đủ mạnh và Cộng Sản Trung Quốc chỉ mới lên cầm quyền ở Trung Hoa Lục Địa không được bao lâu. Cả hai lúc đó đều không muốn gây chuyện trực tiếp với Pháp và gián tiếp với Hoa Kỳ.
2. Thứ hai: Viện trợ cho Việt Nam không phải chỉ vì nhu cầu của Việt Nam mà cả Trung Cộng vì Trung Cộng cũng có nhu cầu đánh đuổi quân Pháp nhằm bảo đảm biên giới phía Nam của mình chống lại tàn dư của Trung Hoa Quốc Dân Đảng.
Điều này cũng được các tác giả dẫn thượng nói tới. Chiến dịch Đông Bắc và sau này đánh Tây Bắc và sang Lào thay vì đồng bằng sông Hồng mà các cố vấn Trung Quốc đã bắt ép các nhà chỉ huy quân sự Việt Minh phải chấp nhận cũng nhằm mục tiêu này.
QUÂN SỰ CSVN -TRUNG QUỐC
3. Thứ ba: Có một sự khác biệt về chủ trương chiến lược và chiến thuật giữa các cố vấn Trung Quốc và các tướng tá Việt Minh và phía Việt Minh bị bó buộc phải nghe theo.
Có nhiều khác biệt về chủ trương chiến lược và chiến thuật giữa các cố vấn Trung Quốc và các tướng tá Việt Minh và phía Việt Minh bị bó buộc phải nghe theo trong đó có mục tiêu tấn công như đánh để tiêu diệt địch hay đánh để chiếm các cứ điểm hay các thị trấn? Địa điểm tấn công, đánh nơi nào trước, Cao Bằng hay Đông Khê, đồng bằng sông Hồng hay Lai Châu, Tây Bắc và Lào? Đánh nhưng vẫn phải lưu tâm tới hoàn cảnh của các chiến sĩ anh em, đồng bào của mình hay đánh để thắng với bất cư giá nào? Cuối cùng các cố vấn Trung Cộng khi không thuyết phục các tướng tá Việt Minh được, đã luôn luôn báo cáo về cho Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông, để Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc liên lạc với Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, và Hồ Chí Minh và cuối cùng các cố vấn Trung Quốc đã luôn luôn thắng thế. Chủ trương của họ đã được Hồ Chí Minh và Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận, đồng thời may mắn cho họ, kết quả đã là chiến thắng.
Đọc các bài viết của người Trung Quốc người ta có cảm tưởng là các chiến thắng của Việt Minh từ Đông Bắc đến Điện Biên Phủ hoàn toàn là do công lao của các cố vấn Trung Quốc, từ đầu đến cuối, từ hoạch định chiến lược, lựa chọn địa điểm để đánh, đến trực tiếp tham gia theo dõi, chỉ huy trận đánh và trực tiếp can thiệp ngay khi cần. Các tướng tá Vịêt Nam đều bị coi là thiếu kinh nghịêm, nhút nhát, không dám chấp nhận gian khổ.
Chẳng hạn như trong chiến dịch Việt Bắc, Trần Canh và Vi Quốc Thanh đã nghiên cứu tỉ mỉ phòng tuyến Quốc Lộ 4 của Pháp để đưa ra đề nghị đánh Đông Khê trước thay vì Cao Bằng. Đề nghị này đã được Hồ Chí Minh lúc đó lên thị sát mặt trận, trực tiếp phê chuẩn thay vì qua Tổng Tư Lệnh Võ Nguyên Giáp. Họ Hồ còn chỉ thị thêm rằng: “Chiến dịch này chỉ được thắng, không được thua!” đúng như chủ trương của Trần Canh. Lý do là vì Hồ đã quen biết Trần Canh từ lâu trước đó, từ năm 1925 – 1926, đã yêu cầu Mao Trạch Đông cử Trần Canh sang giúp và tin cậy ở Trần Canh, đồng thời biết rõ nhu cầu Trung Viện.
Chỉ được thắng, không được thua hay thắng bằng bất cứ giá nào, bất kể sự hy sinh của binh sĩ là chủ trương của Trần Canh, khác với chủ trương của Võ Nguyên Giáp và của Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 Đặng Văn Việt. Trong trận Đông Khê, khi vị Trung Đoàn Trưởng này, vì bộ đội của mình bị thương vong quá nhiều, định rút lui, Vi Quốc Thanh đã điện thoại cho cố vấn Trương Chí Thiện của trung đoàn này, thúc đẩy vị chỉ huy của trung đoàn này, điều chỉnh bố trí và đánh tiếp. Giữa Trần Canh và Võ Nguyễn Giáp tối ngày 4 tháng 10 năm 1950 cũng đã tranh cãi nặng nề qua điện thoại, khi quân Việt Minh tấn công chiếm núi Cốc Xá sau ba ngày liên tiếp và bị thiệt hại nặng, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Việt Minh ra lệnh cho bộ đội tạm ngưng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn.
Tranh cãi nặng nề qua điện thoại đến độ Trần Canh có lúc đã nói to: “Nếu trận này không đánh nữa thì tôi xin cuốn gói chuồn” và nói tiếp: “Vào giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi”, đồng thời dập mạnh điện thoại xuống. Nhưng rồi sau đó Trần Canh đã liên lạc thẳng với Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Kết quả là Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho bộ đội tiếp tục, còn Mao Trạch Đông thì khuyến cáo phải nhanh chóng tiêu diệt địch cho dù thương vong quá lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (trang 41).
VỆ QUỐC ĐOÀN VÀ QUÂN ĐỘI CSVN
4. Thứ Tư: Trong việc giúp Việt Minh huấn luyện và tổ chức lại quân đội, các cố vấn Trung Cộng còn giúp và rất có thể đã áp lực các nhà lãnh đạo của đảng này thực hiện một cuộc chỉnh huấn với chữ dùng trong tài liệu là chỉnh quân chính trị. Danh xưng Vệ Quốc Đoàn bị bãi bỏ và bị thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân theo Tàu.
Công tác này đã được các cố vấn Trung Cộng lưu ý từ ngay những ngày đầu, nhưng mãi đến mùa hè và mùa thu năm 1953 mới trở thành qui mô toàn diện. Nó nằm trong chủ trương cách mạng căn bản của Mao Trạch Đông và luôn cả của Stalin qua khuyến cáo của Stalin khi Stalin tiếp Hồ Ghí Minh hồi đầu năm 1950, với những dấu hiệu đầu tiên đã lộ rõ qua những nhận xét của các cố vấn Trung Quốc về các cấp chỉ huy của bộ đội Việt Minh khi họ thấy những vị chỉ huy này có trình độ học vấn cao, ghi chú nhanh, học giỏi, nhưng nặng đầu óc tư sản, nhút nhát, sợ gian khổ, sợ khó khăn, không có tầm nhìn chiến lược… trong khi các binh sĩ cấp dưới ít học và không được thăng thưởng.
Những ngôn từ như tố khổ, giác ngộ giai cấp… đã được Vu Hóa Thuần nhắc tới trong bài viết của tác giả này (trang 63). Chiến dịch chỉnh huấn quân sự, chính trị qui mô này đã được phối hợp với phong trào cải cách ruộng đất, lúc này đang được tiến hành ở các cứ địa của Việt Minh ở Việt Bắc. Những sĩ quan xuất thân là các sinh viên, học sinh, những thành phần trí thức, quan lại, tư sản đã tham gia Vệ Quốc Đoàn từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo, thuần túy chỉ vì yêu nước, không còn được phục vụ như xưa nữa. Ngay danh xưng Vệ Quốc Đoàn, một danh xưng mang nặng tinh thần quốc gia, cũng bị phế bỏ.
Một giai đoạn trong cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Minh, nói riêng, của Cuộc Chiến 30 năm đã đi qua, kèm theo với tất cả những gì đẹp đẽ nhất và lãng mạn, nhuốm nặng tình yêu nước nhất của nó. Trung Đoàn Trưởng Đặng Văn Việt, Con Hùm Xám Của Đường Số 4, thay vì trở thành tướng như nhiều thuộc cấp của ông sau này, vì đã đánh bại không phải một mà hai đại tá của quân Pháp theo tiêu chuẩn của Hồ Chí Minh khi ông này phong cấp đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, đã bị gửi qua Trung Quốc làm tân khóa sinh của một trường sĩ quan. Cũng may là họ Đặng hãy còn tốt phước do cha mẹ ông bà để lại, được để cho sống sót.
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật phải chăng vì danh xưng Vệ Quốc Đoàn không còn dược dùng nữa, thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân giống như Quân Đội Nhân Dân Trung Hoa, được quan niệm và tổ chức theo khuôn mẫu của Quân Đội Nhân Dân Trung Hoa, những bài hát tràn ngập lòng yêu nước thời đó đại loại như của Nhạc Sĩ Phan Huỳnh Điểu:
         Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi
         Là có mong chi đâu ngày trở về.
         Ra đi, ta đi bảo tồn sông núi.
         Ra đi, ra đi thề chết chớ lui.
Cờ bay phất phới, ngời màu Lạc Hồng.
Kèn reo vang tiếng, gọi dòng Lạc Hồng
Cùng Vệ Quốc Quân.
Ra đi ra đi theo hồn sông núi,
Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi.
Hay những bài thơ đẹp và đầy không khí vui tươi của một tác giả nào đó mà người viết bài này có dịp học thuộc lòng hồi còn nhỏ theo mẹ đi tản cư về Thái Bình hay vào Thanh Hóa đến bây giờ vẫn còn nhớ, như:
Đoàn Vệ Quốc áo đen
vượt qua sườn Tam Đảo
Sau những ngày dông bão.
Việt Bắc giặc lui rồi
Lũ tàn quân xơ xác
Chiến sĩ ta reo cười
Chim rừng vang tiếng hát.
          Các anh như bầy chim,
          Nẻo rừng sâu bay tới.
          Huyện Tam Dương im lìm
         Bỗng dưng vào đại hội.
 của Hoàng Cầm:
Đêm liên hoan đầu người nhấp nhô như sóng   biển ngang tàng.
Ta muốn thét cho vỡ toang lồng ngực
vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn.
Sau những năm hào hùng này không còn được ai sáng tác nữa, hay có sáng tác cũng chẳng bao giờ được phổ biến vì khi các lãnh đạo chủ trương “phá tan biên cương” với ảo vọng “loài người sống thân yêu”, tất cả đều bị cấm. Còn lại chỉ là một hoài vọng để cho những người lính già lâu lâu ngồi nhớ lại, kể cho nhau nghe hay viết cho nhau đọc. Chỉ tiếc rằng cái đẹp vừa hào hùng vừa lãng mạn của thời trai trẻ, mà chính họ cũng như thời thế đã tạo được cho họ, đã không toàn vẹn như cái đẹp của người lính già thuở Bình Mông ngày trước:
          Bạch đầu quân sĩ tại
          Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
         Lính già phơ tóc bạc,
         Kể chuyện thủa Nguyên Phong
                  Trần Nhân Tông
Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng
Ngô Tất Tố dịch
Trên đây chỉ là một vài dữ kiện quan trọng mà người đọc tài liệu này (Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp) đọc được và chia sẻ với độc giả. Hy vọng tác phẩm này được phổ biến rộng rãi hơn và được nhiều người đọc hơn, nhất là những người được các tác giả, rõ hơn các cố vấn Tàu do Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Tàu phái sang giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện cuộc cách mạng vô sản theo khuôn mẫu của họ, thời đầu thập niên năm mươi của thế kỷ trước, bằng cách này hay bằng cách khác nói tới, hầu có thể đóng góp thêm sự thực về một giai đoạn cực kỳ khó khăn, cực kỳ phức tạp và tế nhị nhưng không phải là không có những nét đẹp riêng của lịch sử Việt Nam trước khi mọi sự trở thành đen tối, đến độ nhiều người coi như là tuyệt vọng, như người ta thấy sau này.
Để kết luận, ta có thể nói rằng đối chiếu những gì các cố vấn Tầu kể lại với những gì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện không lâu sau chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh sang Nga đầu thập niên 1950.
Trong số này, đặc biệt có Phong Trào Tố Khổ và Cuộc Cải Cách Ruộng Đất, cuộc “Chỉnh Quân Chính Trị” loại trừ các thành phần tiểu tư sản, sự kiện bãi danh xưng Vệ Quốc Đoàn bị bãi bỏ, thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân theo mẫu của Cộng Sản Tầu, kèm theo với các chức chính ủy được đặt ra trong quân đội vân vân…
Trong lúc cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp còn đang tiếp diễn và đòi hỏi một sự đoàn kết toàn dân về đủ mọi mặt thì những việc làm theo lệnh Trung Quốc của CSVN cho người ta thấy rõ hơn vai trò quốc tế và sự lệ thuộc Trung Quốc và Nga Xô của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ thời này.
Đối với những người CSVN thì độc lập dân tộc chỉ là cái cớ bề ngoài, không bao giờ được coi là quan trọng bằng nghĩa vụ quốc tế cách mạng. Họ sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của các cố vấn nước ngoài hơn là tiếng gọi dù là thiêng liêng của Tổ Quốc.
______
Tác giả Phạm Cao Dương: (*) Tiến sĩ Lịch sử Phạm Cao Dương, cựu Giáo sư các Trường Đại học thời VNCH trước 1975. Ông cũng là Giáo sư Sử học và Văn hóa Việt Nam tại một số trường Đại học Hoa Kỳ ở California trước khi nghỉ hưu.

Tuesday, February 13, 2018

MỐI QUAN HỆ TAY BA TRUNG-MỸ-XÔ TRONG XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI TRUNG-VIỆT NĂM 1979

(Không có tên tác giả)

Người dịch: Trung Thuần

19.8.2010
Nguồn: Báo Hoàn cầu TQ: 1979年中越边境冲突中的美中苏三角关系
http://history.huanqiu.com/txt/2010-08/1029158.html

Trong khoảng thời gian từ 1969-1979, thông qua sự tiếp xúc và đàm phán với Mỹ, Trung Quốc đã kết thúc được sự đối kháng và nghi ngờ từ nhiều năm giữa Trung Quốc và Mỹ, thúc đẩy tiến trình lịch sử bình thường hóa quan hệ giữa hai bên, đồng thời dùng đó làm đột phá khẩu để mở con đường thông sang các nước phương Tây như Tây Âu, Nhật Bản…, từ đó mà làm tăng thêm không gian hoạt động cho ngoại giao Trung Quốc, nâng được địa vị quốc tế của Trung Quốc, điều này giúp ích cho việc cải thiện môi trường an ninh của Trung Quốc, đồng thời cũng ngăn chặn được sự mở rộng của Liên Xô ở một chừng mực nhất định, có tác dụng quan trọng trong việc tránh được cuộc chiến tranh quy mô lớn, bảo vệ hòa bình thế giới. Nhưng sáng kiến chiến lược mang ý nghĩa bước ngoặt này trong ngoại giao Trung Quốc đã không thể duy trì tiếp được mối quan hệ hữu hảo lâu dài với Việt Nam. Sau khi quan hệ Trung-Xô được dịu bớt, Trung Quốc đã thực hành chiến lược “một tuyến” là liên minh với Mỹ để chống lại Liên Xô, còn Việt Nam thì ngày càng ngả về Liên Xô, tới mức liên minh với Liên Xô để ứng phó lại với Trung Quốc và Mỹ. Xung đột biên giới Trung-Việt năm 1979 xảy ra trong bối cảnh ấy thực tế là một trận đối đầu mang ý nghĩa chiến lược giữa một bên là Trung-Mỹ với bên kia là Xô-Việt.

1. Nhân tố Việt Nam trong mối quan hệ chiến lược tay ba Trung-Mỹ-Xô

Xét từ quá trình bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ ở thập kỷ 70 của thế kỷ 20, tầng ra quyết sách của Trung Quốc về mối quan hệ với Mỹ đã chớp lấy thời cơ, đưa ra phán đoán, nắm vững chừng mực, áp dụng mọi biện pháp, giành lấy thế chủ động, xử trí ở mọi khâu về cơ bản là phù hợp; nhưng về mặt xử lí vấn đề quan hệ với Liên Xô một cách đồng thời thì lại quá nhấn mạnh đến mặt đấu tranh, nên có đôi phần cứng nhắc trong chính sách. Khi ấy, sự ước đoán của tầng ra quyết sách về mối uy hiếp quân sự từ Liên Xô đối với nền an ninh Trung Quốc là quá cao, vì thế mà đã có những phản ứng quá độ, thiếu độ linh hoạt với vấn đề ngoại giao và chuẩn bị chiến tranh của Liên Xô, ở một chừng mực nào đó còn ảnh hưởng cả đến địa vị của Trung Quốc vẫn còn chưa được ngã giá trong mối quan hệ tay ba Trung-Mỹ-Xô. Nhất là sau khi Nixon đi thăm Moskva, Mỹ đã uống “rượu Mao đài” rồi lại còn uống cả “vodka” (tuy cuộc đấu tranh giữa Mỹ và Liên Xô chưa hề vì thế mà chấm dứt, nhưng đã không còn ở thế kiếm tuốt cung giương nữa), đã dần chiếm được vị trí tương đối lợi thế trong mối quan hệ tay ba Trung-Mỹ-Xô.

Trong tình hình chiến lược của cục diện quốc tế, mối quan hệ tay ba Trung-Mỹ-Xô ở thập kỷ 70 của thế kỷ 20 từng phát sinh sự thay đổi chóng mặt, trong quá trình ấy, nhân tố Việt nam đóng vai trò tương đối quan trọng. Đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Trung Quốc từng lấy việc Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam làm một trong những điều kiện quan trọng để làm dịu mối quan hệ Trung-Mỹ: “Chính phủ Trung Quốc chủ trương lực lượng vũ trang Mỹ cần rút khỏi 3 nước Đông Dương, Triều Tiên, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á để bảo đảm hòa bình ở Viễn Đông”. Mặc dù Trung Quốc đã xem xét đầy đủ đến lợi ích của Việt Nam trong đàm phán với Mỹ, nhưng mối quan hệ Trung-Mỹ dịu đi vẫn tạo thành sự tấn công tương đối lớn vào phương diện quan hệ Trung-Việt, điều này có thể là để thực hiện được mục tiêu chủ yếu khi ấy, Trung Quốc đã buộc phải trả giá (đương nhiên việc vận dụng chính sách một cách thỏa đáng sẽ có thể giảm bớt được sự trả giá ở mức thấp nhất). Ngay từ khi Kissinger kết thúc chuyến đi thăm Trung Quốc rồi ra “Tuyên bố chung Trung-Mỹ” năm 1971, tờ “Nhân dân” của Việt Nam đã từng đăng một bài xã luận có nhan đề “Học thuyết Nixon chắc chắn bị phá sản”, ám chỉ tới cuộc hội đàm Trung-Mỹ. Chu Ân Lai nói với những người nắm giữ báo chí truyền thông Trương Xuân Kiều và Diêu Xuân Nguyên về việc này: “Bài này cho thấy sự lo lắng và tính toán của các đồng chí Việt Nam”, “tôi cho là có thể đăng toàn văn, chứ đừng trích, để chứng tỏ thái độ trọng danh dự của mình”. Chu Ân Lai chỉ rõ: “Cả tiến trình biến động có thể chứng minh được rằng Trung Quốc, với sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, trước sau vẫn ủng hộ nhân dân 3 nước Đông Dương kháng chiến tới cùng”. Nhưng sự thật sau đó cho thấy, Việt Nam đã không hiểu được nỗi khổ tâm của Trung Quốc, mà lại cứ luôn găm mãi trong lòng việc này.

Năm 1975, sau khi Việt Nam thực hiện thống nhất Bắc Nam, Việt Nam đã thay đổi phương châm “Trung-Xô đoàn kết, “giữ trung lập” như đã áp dụng trước đây, bắt đầu ngả về Liên Xô, vì thế mà làm tăng thêm trọng lượng cho Liên Xô trong mối quan hệ tay ba của các nước lớn. Cùng năm, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đi thăm Liên Xô, hai bên ra bản “Tuyên bố Việt-Xô”, xác định hai nước hai Đảng cần tiến hành hợp tác toàn diện, phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề quốc tế. Năm đó, số vụ Việt Nam gây hấn ở biên giới Trung-Việt đã lên tới 439 lần. Cuối năm 1975, có sự thay đổi quyết liệt trong đấu trường chính trị của Trung Quốc, tình thế chính trị quay ngoắt sang tả. Năm 1976, đầu tiên là Chu Ân Lai qua đời, tiếp đó là Đặng Tiểu Bình lại một lần nữa bị đánh đổ, vấn đề bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ thực tế đã bị gác lại. Nhưng cho dù là như vậy, hai nước Trung-Mỹ vẫn có một điểm chung về việc ứng phó với mối uy hiếp Liên Xô. Ngày 9.9.1976, Mao Trạch Đông qua đời, Liên Xô một mặt chìa cành ôliu cho Trung Quốc, do báo “Pravda” đứng ra đăng bài kêu gọi cải thiện mối quan hệ Trung-Xô, bày tỏ Liên Xô không có dã tâm đối với Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ; mặt khác lại tiến hành uy hiếp trắng trợn đối với Trung Quốc, ngày 14.10, nhà báo Liên Xô Victor Lui (Виктор Луи) trong một bối cảnh đặc biệt đã có một bài phát biểu ở Paris nói rằng, ngoại trừ Trung Quốc trong vòng 1 tháng áp dụng được chính sách hòa dịu hơn với Liên Xô, còn nếu không thì sẽ buộc lãnh đạo Liên Xô phải áp dụng một vài “quyết định không thể nghịch chuyển được” nào đó. Về chuyện này, Mỹ đã có phản ứng ngay lập tức. Ngày 15.10, Kissinger bình luận, nếu Trung Quốc phải “chịu sự uy hiếp từ một nước lớn bên ngoài”, thì Mỹ sẽ cho đó là “sự kiện nghiêm trọng”. Trong một lần đàm thoại khác, ông ta đã nêu rõ ràng hơn: “Đối với bất cứ mưu đồ làm loạn cục diện thế giới nào bằng cách phát động cuộc tiến công quy mô lớn đối với Trung Quốc, Mỹ cũng không thể không có sự ứng đối thực sự”. Điều này chứng tỏ mối quan hệ hai nước Trung-Mỹ đã được thiết lập, đồng thời đang duy trì mối quan hệ chiến lược ở một mức độ nhất định, vẫn có một ý nghĩa quan trọng về phương diện bảo vệ và ổn định hòa bình thế giới.

Tháng 7.1978, Đại hội IV Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu chiến lược mới thông qua bản “Nghị quyết về tình hình mới và nhiệm vụ mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Kẻ thù căn bản, lâu dài của Việt Nam tuy là đế quốc Mỹ, nhưng kẻ thù trực tiếp lại là Trung Quốc và Campuchia”; “dựa hơn nữa vào sự ủng hộ của Liên Xô, giành thắng lợi về chính trị và quân sự ở phía tây nam (chỉ Campuchia), phòng ngừa sự uy hiếp từ phương bắc, chuẩn bị tác chiến với Trung Quốc”. Sau đó, Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị cho các lực lượng quân đội, các tỉnh và thành phố: “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất, là đối tượng tác chiến mới của Việt Nam, phải áp dụng chiến lược tấn công, tiến hành phản kích và tiến công ở vùng biên giới”, dẫn tới các vụ xung đột liên tục ở biên giới Trung-Việt.

Tháng 11.1978, Lê Duẩn lại đi thăm Liên Xô, Việt Nam ký kết bản Hiệp ước hữu nghị và hợp tác trong thời hạn 25 năm với Liên Xô. Trong đó quy định: “Khi một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe dọa tấn công, hai bên ký kết phải lập tức trao đổi với nhau để loại trừ sự đe dọa ấy, đồng thời áp dụng những biện pháp hữu hiệu thỏa đáng để bảo đảm hòa bình và an ninh cho hai nước”. Từ đó, Việt Nam đã ném mình vào vòng tay của Liên Xô. Đúng như Lê Duẩn nói là sau khi chiến tranh kết thúc, đã giữ lại được một đội quân lớn với hàng triệu người để ứng phó với Trung Quốc. Như vậy, Liên Xô đã hoàn thành được nguyện ước lấp vào những khoảng chân không còn lại khi Mỹ rút khỏi Việt Nam, hơn nữa lại còn buộc Trung Quốc phải đối mặt với những uy hiếp và khiêu khích từ đồng minh Xô-Việt. Hành động phản Hoa, bài Hoa của Việt Nam không ngừng leo thang, năm 1978, Việt Nam đã gây nên một loạt vụ xung đột có vũ trang ở biên giới Trung Quốc, lên tới hơn 1108 lần. Ngoài ra, Việt Nam còn tạo ra nhiều vụ đuổi người Hoa và Hoa kiều, miệt thị Trung Quốc “che chở” các nhà tư sản Hoa kiều ở miền Nam Việt Nam, lợi dụng Hoa kiều làm “Đội quân thứ 5” “thực hiện chủ nghĩa bành trướng, chủ nghĩa bá chủ” ở Đông Nam Á. Đến cuối năm 1978, tổng cộng có 28 vạn người Hoa và Hoa kiều bị đuổi. Với sự ủng hộ và xúi giục của Liên Xô, Việt Nam còn công khai xuất quân xâm lược Campuchia vào 12.1978, đồng thời coi Trung Quốc là trở ngại lớn nhất đối với việc thực hiện chủ nghĩa bá chủ ở khu vực của mình. Tất cả những điều đó không thể không dẫn đến mối quan tâm đặc biệt từ phía Trung Quốc.

Về phía Mỹ, do một loạt hành vi bành trướng rõ rệt của Liên Xô, Tổng thống Carter đã quyết định áp dụng thái độ cứng rắn đối với Liên Xô, tăng cường thêm mối quan hệ với Trung Quốc. Tháng 12.1978, Trung Quốc và Mỹ tuyên bố thiết lập mối quan hệ ngoại giao Trung-Mỹ mang ý nghĩa lịch sử, hai bên nhắc lại: “Không bên nào được mưu đồ làm bá chủ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và bất cứ khu vực nào trên thế giới, cả hai bên đều phản đối nỗ lực làm bá chủ của bất cứ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào”. Điều khoản chống bá quyền này mang tính nhằm trúng rất mạnh trong bối cảnh quốc tế đặc biệt khi ấy, nó hết sức khéo léo, nhưng lại đã thể hiện được rõ ràng cho toàn thế giới biết rằng hai bên Trung-Mỹ sẽ không hề mơ hồ trong việc chống lại mọi nỗ lực mưu đồ làm bá chủ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Liên Xô hoặc tập đoàn Liên Xô. Như vậy, đồng thời với việc bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ, ở Đông Á đã hình thành nên hình thế chiến lược liên minh Trung-Mỹ đối đầu với đồng minh Xô-Việt, lãnh đạo hai nước Trung-Mỹ bắt đầu ấp ủ việc thiết lập mối quan hệ quân sự. Tháng 1.1979, khi tiến hành hội đàm không chính thức với Anh, Đức, Pháp ở Hội nghị thượng đỉnh tổ chức tại Guadeloupe, Tổng thống Mỹ Carter đã bày tỏ Mỹ không phản đối phương Tây áp dụng thái độ linh hoạt trong vấn đề bán vũ khí cho Trung Quốc. Đây là một tín hiệu quan trọng.

  2. Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ, tuyên bố phải “dạy cho Việt Nam một bài học”

Đồng thời với việc thiết lập ngoại giao với Mỹ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc như Đặng Tiểu Bình… xuất phát từ toàn cục chiến lược đã quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” một cách có hạn độ, nhằm ngăn chặn cái đà bành trướng của nước này. Do ông chủ hậu đài của ViệtNamlà Liên Xô, cho nên dạy cho Việt Nam một bài học thực tế cũng là một đòn giáng vào chiến lược mở rộng toàn cầu của Liên Xô. Ngày 31.1.1979, trong thời gian ở thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình khi ăn trưa cùng với các phóng viên Mỹ đã nói: “Chúng ta có thể làm một sự kiện là Liên Xô ra tay ở đâu, chúng ta sẽ ngăn chặn luôn để đánh bại sự gây rối ở bất cứ nơi nào trên thế giới của họ”. Khi phóng viên hỏi về vấn đề Việt Nam xâm lược Campuchia, Đặng Tiểu Bình nói: “Việt Nam đã đạt được bản hiệp định cùng với Liên Xô mang tính chất đồng minh quân sự, Việt Nam khuấy động cuộc xâm nhập vũ trang quy mô lớn, đồng thời đang gây hấn ở vùng biên giới Trung Quốc. Tác động do Việt Nam gây ra còn tệ hại hơn cảCuba, chúng tôi coi Việt Nam là Cuba của phương Đông. Ứng xử với loại người như vậy, nếu không dạy cho một bài học cần thiết thì e rằng bất kỳ một phương thức nào khác cũng sẽ không có hiệu quả”.

Dạy cho Việt Nam một bài học còn có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với lợi ích của Mỹ. Bởi vì Liên Xô lợi dụng sự bành trướng mà Việt Nam đã tiến hành nên đã bộc lộ thế tranh giành khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương với Mỹ, đe dọa đến lợi ích của Mỹ. Mỹ cũng hết sức quan tâm đến điều này. Chính vì thế mà trong thời gian Đặng Tiểu Bình ở thăm Mỹ, vấn đề Việt Nam xâm lược Campuchia cũng là một trọng điểm của cuộc hội đàm Trung-Mỹ.

Trong hai cuộc hội đàm được tổ chức vào trưa và chiều 29.1, hai bên chủ yếu trao đổi về tình hình quốc tế. Đặng Tiểu Bình nêu rõ với Carter: Việt Nam xâm lược Campuchia, đó là một vấn đề nghiêm trọng, là một phần trong sự bố trí chiến lược của Liên Xô. Cách làm của Liên Xô ở khu vực này giống như một quả tạ tay, một đầu thông qua Việt Nam để thò tay vào Đông Dương, thực hiện hệ thống Yaan (Яань системы), một đầu thông qua việc khống chế Afghanistan, Iran, vịnh Persique ở namẤn Độ, Liên Xô cũng đang tìm cách khống chế cả eo biển Malacca nối liền hai bên. Như vậy, sự bành trướng của Liên Xô ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương sẽ kết thành một khối. Kiểu bố trí chiến lược này của Liên Xô nếu như không phá tan, thì sẽ tạo nên nỗi phiền phức lớn hơn.

Dã tâm thành lập Liên bang Đông Dương của Việt Nam có từ đã lâu. Suy xét từ toàn cục chiến lược, cần thiết phải dạy cho cái dã tâm điên cuồng này của Việt Nam một bài học. Chỉ cần bước đi thỏa đáng và có chừng mực, thì chúng tôi ước đoán rằng Liên Xô sẽ khó lòng có được sự phản ứng lớn. Ngay cả suy xét từ phương diện tồi tệ nhất, Trung Quốc cũng vẫn chịu đựng được”. Về vấn đề này, Carter bày tỏ, đây là vấn đề rất nghiêm trọng, ông muốn sau khi đã cùng nghiên cứu bàn bạc với cố vấn của mình đã rồi mới phát biểu.

Đặng Tiểu Bình cho rằng, “thế giới ngày nay rất không yên ổn, đang tồn tại nguy cơ chiến tranh, mà nguy cơ chủ yếu tới từ Liên Xô. Thế giới thứ ba và thế giới thứ hai cần liên kết lại để chống đế quốc. Trận tuyến thống nhất chống bá chủ này, thẳng thắn mà nói bao gồm cả Mỹ trong đó. Ứng phó với việc Liên Xô muốn làm bá chủ thế giới, Mỹ đương nhiên là một lực lượng chủ yếu, nhưng trong một thời gian tương đối dài, Mỹ đã có một số thiếu sót nào đó về phương diện cần làm hết trách nhiệm của mình. Liên Xô bành trướng ở các nơi trên thế giới, nhất là lợi dụng Cuba để thò tay vào Châu Phi, ủng hộ Việt Nam xâm lược Campuchia mà không phải chịu sự ngăn chặn và trừng phạt cần có. Kết quả là, tình hình thế giới có thể nói mỗi năm một căng thẳng thêm. Liên Xô rút cuộc là muốn phát động chiến tranh. Nếu chúng ta làm cho tốt, thì rất có thể sẽ trì hoãn được chiến tranh nổ ra, còn nếu không làm nên được một việc gì thì tình hình sẽ càng phức tạp thêm. Chúng tôi hi vọng sẽ cùng với Mỹ xuất phát từ góc độ của từng bên mà làm những gì mình cho là cần làm”.

Carter thừa nhận từ Đông Nam Á đến Ấn Độ Dương đến Châu Phi, tình hình ở rất nhiều khu vực không ổn định, lực lượng quân sự của Liên Xô tăng lên nhanh chóng, tất cả những điều này là những nhân tố bất lợi cho tình hình quốc tế. Ông ta cũng đồng ý rằng Trung-Mỹ cần tăng cường hợp tác, cùng phối hợp hành động ở những khu vực rắc rối. Nhưng ông nhấn mạnh Mỹ cùng các lực lượng Khối NATO đang được tăng cường, Liên Xô phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, bị rơi vào thế cô lập hơn trên trường quốc tế. Hai bên Trung-Mỹ còn thảo luận về các vấn đề Nam Á, Trung Đông, Đông Dương, Triều Tiên và cuộc hội đàm về hạn chế vũ khí chiến lược Mỹ-Xô…

Đặng Tiểu Bình bày tỏ mong Mỹ viện trợ Pakistan một cách chắc chắn để họ khỏi cảm thấy bị cô lập mà đi vào con đường dựa Liên Xô; giúp Sadat ở Trung Đông, gây áp lực vừa phải cho Ixrael để cho Liên Xô khỏi nhè vào sơ hở mà khiến cho Algeria, Syria, Iraq gần gũi hơn với Liên Xô; tạo điều kiện cho toàn bộ quân Mỹ rút khỏi Nam Triều Tiên, khôi phục lại đàm phán Nam – Bắc Triều Tiên. Về cuộc hội đàm hạn chế vũ khí chiến lược Mỹ-Xô, Đặng Tiểu Bình nói: “Chúng tôi không phản đối Mỹ-Xô ký kết hiệp định này, nhưng chúng tôi cho rằng nó sẽ không quản được Liên Xô, không tin rằng nó có thể ràng buộc được chính sách bành trướng của Liên Xô. Điều quan trọng là phải làm việc một cách chắc chắn, có nghĩa là Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Tây Âu hãy liên kết lại với thế giới thứ ba để phá vỡ chương trình chiến lược của Liên Xô.

Lãnh đạo hai nước Trung-Mỹ qua cuộc hội đàm 2 ngày đã công bố bản “Thông cáo báo chí chung” ngày 1.2.1979. Thông cáo nêu rõ “hai bên xin nhắc lại sẽ chống lại mưu đồ làm bá chủ hoặc chi phối nước khác của bất cứ quốc gia và tập đoàn quốc gia nào, quyết tâm góp phần vào việc bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới và độc lập dân tộc”. Do bản Thông cáo này có câu chống lại mưu đồ “làm bá chủ” hoặc “chi phối” nước khác nên đã dẫn đến sự quan tâm trên nhiều phương diện. Từ “làm bá chủ” (tiếng Anh: hegemony) được đưa vào theo yêu cầu từ phía Trung Quốc. Trong các từ ngữ ngoại giao ở thời kì ấy, từ này đã trở thành từ thay thế cho việc Trung Quốc chỉ trích Liên Xô thực hiện chính sách bành trướng, Mỹ đã chấp thuận việc sử dụng từ đầy nhạy cảm này trong thông cáo, chứng tỏ giữa Mỹ và Trung Quốc có một điểm chung trong việc chống chủ nghĩa bá chủ của Liên Xô. Còn từ “chi phối” là được thêm vào câu này theo yêu cầu từ phía Mỹ, từ này đi song song với từ “làm bá chủ”, mở rộng phạm vi của câu này đánh động tới cả bất kỳ nước nào có ý đồ xâm lược bành trướng. Sau khi bản thông cáo được công bố, có người hỏi liệu việc sử dụng “làm bá chủ – chi phối” ở cùng một chỗ là chỉ vượt quá cả Liên Xô, phù hợp cả với khi Việt Nam dùng quân đội của mình xâm lược Campuchia hay không, quan chức Nhà trắng đã khéo léo trả lời: “Tôi muốn nói rằng chiếc giày này ai đi vừa thì tức là chỉ người ấy”. Khi lại có người hỏi liệu Moskva có có phản ứng bất lợi gì với chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình hay không, quan chức Nhà trắng nói chắc như đinh đóng cột: “Không được để cho nỗi lo ngại về phản ứng của Nga chi phối chính sách đối ngoại. Nếu như tình trạng là như thế thì việc bảo hiểm kết cục của nó sẽ đầy thảm hại”.

Lúc này, Trung Quốc đã tập kết quân ở biên giới Trung-Việt chuẩn bị đánh nhau với Việt Nam, để phòng ngừa phản ứng quá khích của Liên Xô, một bộ phận sư đoàn tác chiến Trung Quốc của khu vực “Tam bắc”[i] cũng tiến vào các khu vực chờ thời, chuẩn bị phản công lại những cuộc tấn công quân sự và những hành động kiềm tỏa quân sự có thể xảy ra từ quân đội Liên Xô.
 

 3. Thái độ và phản ứng của Mỹ và Liên Xô đối với chiến tranh biên giới Trung-Việt

Sau khi Đặng Tiểu Bình kết thúc chuyến thăm Mỹ, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã công bố bản “Thông báo về tiến hành cuộc chiến đấu phản kích tự vệ với Việt Nam, bảo vệ vùng biên giới” vào 14.2.1979, nêu rõ: “Mục đích của việc chúng ta tiến hành phản kích tự vệ là để có được hòa bình và yên ổn ở vùng biên giới nước ta, giúp ích cho việc tiến hành thuận lợi 4 hiện đại hóa. Cả khu vực, thời gian và quy mô chiến đấu đều hết sức hạn chế”. Từ 17.2.1979, bộ đội biên phòng Trung Quốc bắt đầu xuất kích ở Long Châu, Tịnh Tây thuộc Quảng Tây và Hà Khẩu, Kim Bình thuộc Vân Nam, Trung Quốc, thực hiện trận đánh mang tính hủy diệt vào các cứ điểm quân sự ở biên giới Trung-Việt mà Việt Nam dùng để gây hấn với Trung Quốc. Hôm đó, Tân Hoa xã đã phát đi lời tuyên bố theo lệnh của chính phủ Trung Quốc nêu rõ: Nếu hành động xâm lược của Việt Nam không dừng lại, thì chắc chắn sẽ gây nguy hiểm đến cả hòa bình và ổn định ở phía đông Đông Nam Á, thậm chí là toàn bộ khu vực Châu Á. Tuyên bố nói: “Sau khi tiến hành sự đánh trả cần có đối với quân xâm lược Việt Nam, bộ đội biên phòng Trung Quốc sẽ giữ nghiêm biên giới của tổ quốc”.

Sau khi nổ ra cuộc chiến đấu phản kích tự vệ đối với Việt Nam, dư luận quốc tế đã có phản ứng hết sức nhanh, nhìn chung là có lợi cho Trung Quốc. Ngoài tập đoàn Liên Xô-Đông Âu giận dữ chửi rủa ra, phần lớn các nước đều thể hiện thái độ trung lập và chủ trương giải quyết bằng đàm phán, nhiều nước trong số đó bề ngoài thì tỏ ra trung lập, nhưng thực tế lại ngả về và đồng tình với phía Trung Quốc, đồng thời cũng lo Liên Xô dính líu vào sẽ khiến cho xung đột loang rộng. Tiêu điểm chú ý của cộng đồng quốc tế là mối quan hệ tế nhị tay ba Trung-Mỹ-Xô.

Mỹ thực ra đã được thông báo rằng Trung Quốc sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học” ngay trong thời gian Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, nên đã có sự chuẩn bị ngay từ đầu. Trợ lý vấn đề an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Brzezinski đã bắt đầu xem xét đến đối sách của Mỹ ngay sau khi Đặng Tiểu Bình kết thúc chuyến thăm. Để tránh tình hình Mỹ dưới áp lực của dư luận quốc tế lên án Trung Quốc là kẻ xâm lược, Brzezinski đã nghĩ ra một điểm, đó là: Mỹ vừa chỉ trích hành động quân sự của Trung Quốc, lại vừa lên án Việt Nam xâm lược Campuchia, đồng thời yêu cầu hai bên Trung Quốc, Việt Nam rút quân. Do lường trước Việt Nam và Liên Xô sẽ không tiếp nhận lời đề nghị ấy, nên sự tính toán này sẽ yểm trợ cho Trung Quốc về mặt ngoại giao mà không dính dáng gì đến Mỹ. Sau khi cuộc chiến tranh Trung-Việt nổ ra, Tổng thống Mỹ Carter lập tức triệu tập cuộc họp Ủy ban an ninh quốc gia để bàn bạc, đồng thời thông qua phương án của Brzezinski, đó là: Yêu cầu Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam cần móc nối với cả việc yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia; đồng thời phát đi một thông điệp tới Liên Xô, kêu gọi họ không được áp dụng những hành động có thể dẫn đến tình hình nghiêm trọng, nhất là những hành động quân sự điều binh khiển tướng hoặc dưới mọi hình thức khác. Trong cuộc họp, Brzezinski còn cố thêm vào một câu trong thông điệp, bày tỏ Mỹ cũng sẵn sàng có thái độ kiềm chế tương tự, ông giải thích, phải để cho Liên Xô hiểu được ở đây là ngang cơ (câu này ngầm ra ý là nếu như Liên Xô ra tay, thì Mỹ cũng sẽ có phản ứng quân sự).

Ngày 18.2, tờ “The New York Times” của Mỹ đưa tin về “Các nguyên tắc chỉ dẫn chính phủ Mỹ” đã được bàn định trong cuộc họp là: “Mỹ không trực tiếp dính líu vào cuộc xung đột vũ trang ở Châu Á giữa các quốc gia cộng sản; lợi ích trước mắt của Mỹ, an ninh của Liên minh Châu Á không hề chịu sự đe dọa của cuộc xung đột này, nhưng nếu cuộc xung đột loang rộng thì sẽ là nguy hiểm; Mỹ sẽ dùng mọi biện pháp mà mình có thể áp dụng được để khuyến khích nên có thái độ kiềm chế, đồng thời ngăn chặn không để cho chiến tranh loang rộng tới mức Liên Xô cũng dính líu vào; Mỹ sẽ không thay đổi mối quan hệ với Trung Quốc do cuộc xung đột này”.

Từ đó có thể thấy, thái độ chung của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Trung-Việt là không trực tiếp dính líu, đồng thời kêu gọi Liên Xô không dính líu, cố gắng không để xung đột loang rộng, đồng thời bảo đảm mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ không vì thế mà bị ảnh hưởng. Khi tỏ thái độ công khai, Mỹ có chỉ trích Trung Quốc về mặt hình thức, tức vừa lên án Việt Nam xâm lược Campuchia, lại vừa lên án cả Trung Quốc đánh trả Việt Nam, nhưng thực ra là trợ giúp Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc và Việt Nam “đồng rút quân” khỏi Campuchia đồng thời tích cực thúc giục Hội đồng bảo an Liên hợp quốc họp để thảo luận toàn bộ tình hình Đông Dương, để lấy đó làm áp lực với Việt nam và Liên Xô.

Trong thời gian này, Brezhnev thông qua đường dây nóng đã gửi cho Tổng thống Carter một bức thư với lời lẽ cứng rắn, nhưng Tổng thống Carter không hề xúc động gì trước bức thư ấy mà ra lệnh cho Vance và Brzezinski tiếp tục làm theo phương châm đã định. Carter còn bày tỏ trong thư gửi Brezhnev rằng nếu Liên Xô “sử dụng hành động quân sự đối với Trung Quốc, thì Mỹ sẽ đánh giá lại tình trạng an ninh ở vùng Viễn Đông, đồng thời sẽ có phản ứng về mặt quân sự”.

Từ 24.2 đến 4.3 năm 1979, Bộ trưởng tài chính Mỹ Blumenthal cùng phu nhân đã thực hiện chuyến đi thăm Trung Quốc trong tiếng pháo của cuộc chiến tranh Trung-Việt. Đây cũng là đoàn đại biểu chính phủ Mỹ đầu tiên đi thăm Trung Quốc kể từ sau khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, mang một ý nghĩa không bình thường. Liên Xô rất tức giận khi thấy quan chức cấp cao các nước phương Tây như Mỹ… đến thăm Trung Quốc theo dự kiến ở thời điểm như thế này, đã công kích phương Tây “vỗ về” Trung Quốc, đồng thời chỉ trích Mỹ dung túng và thông đồng với Trung Quốc “xâm lược Việt Nam”. Liên Xô lúc này cũng chẳng còn làm được gì đối với Trung Quốc, đã để lộ rõ bản chất miệng hùm gan sứa. Chính phủ Liên Xô từng ra tuyên bố vào ngày 18.2, nói rằng Trung Quốc “xâm lược” Việt Nam và thực hiện “chủ nghĩa bá chủ”, tuyên bố Liên Xô sẽ thi hành “nghĩa vụ” của mình căn cứ theo bản Hiệp ước Liên minh Xô-Việt. Nhưng giọng điệu thì hàm hồ, lại không có được bao nhiêu bước đi thực tế, ngoài việc điều một vài chiếc tàu tới tuần tra ở Biển Đông và chuyển tới bằng đường hàng không một ít vật tư ra, không hề có cử chỉ manh động nào ở biên giới Trung-Xô.

Bộ đội biên phòng Trung Quốc tuy đã phải trả giá và hi sinh nhất định vì cuộc phản kích Việt Nam, nhưng từ 27.2.1979 đã liên tục tấn công hơn 20 thị trấn thành phố và yếu điểm chiến lược của Việt Nam như Lạng Sơn, Đồng Đăng, Lộc Bình, Cao Bằng, Phúc Hòa, Thất Khê, Quảng Uyên, Hạ Lang, Thoát Lãng, Hòa An, Đông Khê, Trùng Khánh, Trà Linh, Thông Nông, Sóc Giang, Lào Cai, Cam Đường, Mạnh Khang, Bát Xắc, Sapa, Phố Lu, Phong Thổ…, giáng cho Việt Nam một đòn nặng nề, về cơ bản đã đạt được mục tiêu dự định. Ngày 5.3.1979, bộ đội biên phòng Trung Quốc bắt đầu rút ra khỏi những khu vực nói trên. Về việc này, Tân Hoa xã đã ra lời tuyên bố theo lệnh của chính phủ Trung Quốc: “Chính phủ Trung Quốc xin được nhắc lại, chúng tôi không cần một tấc đất của Việt Nam, nhưng cũng quyết không cho phép kẻ khác xâm phạm lãnh thổ của mình. Điều chúng tôi muốn chỉ là biên giới hòa bình và yên ổn. Chúng tôi mong lập trường chính nghĩa này của chính phủ Trung Quốc sẽ giành được sự tôn trọng của chính phủ Việt Namvà chính phủ các nước trên thế giới. Chúng tôi nghiêm khắc cảnh cáo nhà cầm quyền Việt Nam rằng sau khi bộ đội biên phòng Trung Quốc rút khỏi, không được tiến hành bất cứ một cuộc khiêu khích vũ trang và hoạt động xâm nhập nào ở biên giới Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc trịnh trọng tuyên bố, nếu xuất hiện những tình hình nói trên, phía Trung Quốc sẽ bảo lưu quyền tiếp tục đánh trả tự vệ”.

Đến 16.3, bộ đội biên phòng Trung Quốc đã rút toàn bộ về trong địa phận Trung Quốc. Tới đây, cuộc chiến tranh phản kích Việt Nam của Trung Quốc đã kết thúc, tầm ảnh hưởng của nó là lớn lao và sâu sắc. Khí thế xâm lược của chủ nghĩa bá chủ ở khu vực Việt Nam vâng theo ý đồ của chủ nghĩa bá chủ toàn cầu Liên Xô đã bị giáng một đòn nặng nề, đã buộc phải rút một ít quân ra khỏi Campuchia, tình hình Campuchia cũng dẫn đến sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã nêu ra phương án giải quyết tình hình ở Đông Dương, yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam. Do Trung Quốc đã nói là thực hiện, nên sau khi dạy xong cho Việt Nam một bài học đã rút quân khỏi Việt Nam, còn Việt Nam thì lại nán ở Campuchia, với sự chỉ trích của dư luận quốc tế đã bị rơi vào thế hết sức bị động.

Sự thực cho thấy, Việt Nam có dựa vào Liên Xô cũng chẳng nổi, còn mối quan hệ hiệp đồng chiến lược Trung-Mỹ được phát triển nhanh chóng kể từ sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình thì lại chịu được thử thách gay gắt trong khói lửa chiến tranh. Ngày 16.4.1979, Đặng Tiểu Bình bày tỏ: “Khi chúng tôi dạy cho Việt Nam một bài học, chúng tôi thấy hài lòng trước lập trường và thái độ thể hiện của chính phủ Mỹ, nghĩa là đề xuất Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, thái độ này khiến cho chúng tôi hài lòng. Chỉ cần Mỹ tiếp tục sử dụng lập trường này về mặt đạo nghĩa, về mặt chính trị, thì chính đó là sự ủng hộ của Mỹ đối với Campuchia”.

Ngày 19.4.1979, Đặng Tiểu Bình lại trình bày về ý nghĩa của việc dạy cho Việt Nam một bài học từ tầm cao của chiến lược toàn cầu. Ông nói: “Khi ở Mỹ, tôi nói với Tổng thống Carter rằng chúng tôi phải dạy cho Việt Nam một bài học, tuy chủ đề của chúng tôi khi ấy chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới Trung-Việt, nhưng thực tế lại không phải là xem xét vấn đề này từ góc độ hai nước Trung-Việt, cũng không phải là từ góc độ toàn bộ chiến lược toàn cầu”. Ngày 16.1.1980, trong cuộc hội nghị cán bộ do Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc triệu tập, Đặng Tiểu Bình nói rõ hơn: “Cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ đối với Việt Nam đã giành được thắng lợi cả về mặt quân sự lẫn về mặt chính trị, không chỉ đối với tình trạng ổn định của Đông Nam Á, mà cả đối với cuộc đấu tranh chống bá chủ của thế giới cũng có một tác dụng quan trọng, sau này vẫn còn có tác dụng”.

Xét từ hiệu quả của việc dạy cho Việt Nam một bài học, phía Trung Quốc với sự phối hợp của Mỹ về cơ bản đã đạt được mục đích như dự định, trận đánh này đã đập tan được sự triển khai mở rộng của chủ nghĩa bá chủ lớn nhỏ, bảo vệ đắc lực cho sự ổn định của khu vục Châu Á-Thái Bình Dương, Liên Xô không dám phản ứng gay gắt. Hơn nữa, bằng hành động chiến lược này, mối quan hệ tay ba Trung-Mỹ-Xô tế nhị lại nghiêng về thế có lợi cho Trung Quốc và bất lợi cho Liên Xô. Cách nhìn của Tổng thống Carter về Liên Xô có được sự nhận thức sâu sắc hơn, sau đó đã đưa ra “Học thuyết Carter” là “sử dụng tất cả mọi biện pháp cần thiết kể cả lực lượng quân sự” để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô. Lúc này, ngày càng có nhiều người trong chính giới Mỹ hiểu được rằng, một nước Trung Quốc lớn mạnh về quân sự là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ, tăng cường hợp tác với Trung Quốc về mặt quân sự là cần thiết và hữu hiệu đối với cuộc tấn công chống trả lại sự hùng hổ của Liên Xô. Tháng 1.1980, bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ lần đầu tiên đến thăm Trung Quốc. Trước khi khởi hành Brzezinski bày tỏ, Liên Xô xâm nhập vũ trang Afghanistan đã trao cho sứ mệnh của Brzezinski một “hàm nghĩa mới”, thắt chặt thêm mối quan hệ an ninh với Trung Quốc là “biện pháp chủ yếu” để Mỹ có thể ra phản ứng với những hành vi của Liên Xô. Điều này cho thấy, mục đích chuyến thăm Trung Quốc của Brzezinski là nằm ở chỗ tạo một nền móng vững chắc cho sự hợp tác tích cực hơn về mặt quân sự giữa hai nước Trung-Mỹ, để ứng phó với sự khiêu khích của Liên Xô. Như vậy, mối quan hệ an ninh mới giữa hai nước Trung-Mỹ đã bắt đầu xuất hiện.

Ngày 5.1.1980, kể từ ngày nước Trung Quốc mới được thành lập, bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ đầu tiên đến thăm Trung Quốc đã tới Bắc Kinh, đánh dấu sự thiết lập quan hệ của giới quân sự Trung-Mỹ. Sau khi đã tiến hành một loạt hội đàm có hiệu quả cao với lãnh đạo Trung Quốc, Brzezinski cho rằng các cuộc hội đàm giữa hai bên Mỹ-Trung thẳng thắn mà nói là giàu hiệu quả, những lĩnh vực mà giữa Mỹ-Trung có cùng mục tiêu chiến lược ngày càng nhiều. Trong thời gian ở thăm Trung Quốc, ông đã nhận lời cung cấp vệ tinh tài nguyên trái đất có thể dùng vào lĩnh vực quân sự cho Trung Quốc.

Sau khi Brzezinski rời Trung Quốc, ngày 24.1.1980, Bộ quốc phòng Mỹ đã ra tuyên bố, Mỹ sẵn sàng bán cho Trung Quốc một số thiết bị quân dụng phụ trợ một cách có lựa chọn, trên cơ sở xử lý từng hạng mục. Ngày 25.4.1980, Tổng thống Mỹ Carter tuyên bố xếp riêng Trung Quốc vào cụm T trong Nhóm kiểm soát xuất khẩu, bắt đầu bán cho Trung Quốc các sản phẩm và kỹ thuật dân dụng kiêm quân dụng trên cơ sở thẩm tra từng hạng mục. Tháng 4.1980, Bộ quốc phòng Mỹ phê chuẩn bán cho Trung Quốc các thiết bị quân dụng phụ trợ bao gồm radar phòng không, thiết bị viễn thông và máy bay trực thăng quân dụng…, đồng thời căn cứ theo bản hiệp định đã thỏa thuận năm 1979, đặt hai trạm giám sát ở Tân Cương Trung Quốc, do phía Mỹ cung cấp thiết bị, dân Trung Quốc thao tác, để giám sát thử nghiệm hạt nhân của Liên Xô. Mối quan hệ quân sự hai nước Trung-Mỹ đã có được bước tiến dài.

(http://history.huanqiu.com/txt/2010-08/1029158.html)
Ảnh minh họa : Mao trạch Đông và TT Mỹ Nixon ngày 29/2/1972.