Showing posts with label tết mậu thân. Show all posts
Showing posts with label tết mậu thân. Show all posts

Saturday, March 1, 2025

TRẬN MẬU THÂN TẠI HUẾ

PHẦN 2: LỮ ĐOÀN 3 CỦA SĐ 1 KHÔNG KỴ GIẢI CỨU HUẾ.                      

Mặt nam Huế ở hữu ngạn sông Hương.

 

Lời nói đầu: Tôi viết bài này để TRẢ LỜI vài "còm" trên bài "Mùng ba Tết đẫm máu tại sân bay Tân Sơn Nhứt (TSN)" khi cho rằng tác giả Erik Villard "NÓI PHÉT":

Hai trận đánh này, do Villard mô tả, đã xảy ra gần như cùng lúc, khoảng 03:30 sáng ngày 31/1/1968 hay mùng ba Tết Mậu Thân: 1/ Tại sân bay TSN, chỉ từ khoảng 3 g sáng đến tối, nghĩa là chưa tới 24 GIỜ, bộ đội VC và CSBV đã chết TRÊN 600 NGƯỜI. Phía Mỹ có 22 chết và 82 bị thương, phía VNCH có 29 chết và 15 bị thương. 2/ Nhưng tại Huế, nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng với ít nhứt là 14 TĐ tham dự, gồm nhiều binh chủng khác nhau, chỉ trong HAI NGÀY ĐẦU, GẦN NHƯ NGƯỜI Cộng Sản ĐÃ LÀM CHỦ Huế, trừ thành Mang Cá và sân bay ở tả ngạn, và BCH tiểu khu và doanh trại MACV ở hữu ngạn. Tác giả Erik Villard đã TRUNG THỰC khi viết về trận đánh tại sân bay TSN khi khoảng 5 hay 6 tù binh vc/csbv đã bị chi đội C của chi đoàn 3 của thiết đoàn 4 Mỹ HÀNH QUYẾT. Có lẽ do trận đánh quá ÁC LIỆT nên lính Mỹ đã vi phạm Quy ước Genève về Tù binh. Trong khi đó tại Huế, trong kinh thành chỉ có trung đội thám báo 36 người và đại đội Hắc Báo của VNCH thiếu vì 1 trung đội của đ.đ. này sang hữu ngạn để bảo vệ BCH Tiểu khu (TK). Còn lại là lính văn phòng và tiếp liệu, ko có kinh nghiệm tác chiến. Bốn xe tăng VNCH từ phía nam Huế tiếp viện đều bị trúng B40. TĐ 7 Dù, cùng xe M113 về tiếp cứu, bị chận đánh tơi tả khi cách kinh thành khoảng 400 m về phía tây bắc và thiệt hại phân nữa. Sau đó được TĐ 2 Dù tăng viện và cả hai TĐ Dù kéo vào Mang Cá. Bốn TĐ của trung đoàn 3 thuộc sđ 1 VNCH ko thể tiếp cứu vì bị chận đánh trước khi tiếp cận Huế, chỉ có 1 TĐ đi ra biển, nhờ tàu HQ, chạy vào sông Hương và sau đó đến Mang Cá. TL của quân Mỹ tại khu vực Huế chỉ có thể gửi 1 đại đội TQLC ko đủ quân số để giải cứu doanh trại MACV tại hữu ngạn Huế. Sợ bị phục kích trước khi đến MACV, họ xin cứu viện. Sau đó 1 đại đội TQLC với xe tăng M-48 dẫn đầu, 4 giờ sau đã tới MACV với thiệt hại nhẹ. Sau đó đ.đ. này cho hai trung đội vượt sông để cứu tướng Trưởng ở Mang Cá nhưng bị tấn công khi đang ở trên cầu. Vì bị thương vong 1/3 quân số, 2 trung đội rút về MACV. Vậy tại sao có thể bảo rằng tác giả Villard nói phét?

Nói thêm về sđ 1 Không kỵ:

* Lực lượng trực thăng Mỹ chia làm trực thăng TẤN CÔNG (assault copter) và trực thăng KHÔNG KỴ (air calvary copter). Những đv này thi hành nhiệm vụ hơi khác nhau. Các đại đội trực thăng tấn công có trách nhiệm chánh là tấn công mục tiêu mặt đất của địch, nhưng họ cũng thực hiện việc tiếp tế, tải thương (medevac), và hỗ trợ hỏa lực cho đv bạn khi đụng địch.

Các nhiệm vụ không kỵ thường có nhiệm vụ không thám các vị trí địch với vài trực thăng thám thính và trực thăng võ trang (gunship), rồi không vận một trung đội bộ binh thuộc đv không kỵ này vào chiến trường. Các trực thăng không kỵ khác yểm trợ hỏa lực cho trung đội này, giống như các đại đội trực thăng tấn công yểm trợ cho bộ binh khi giao chiến. Không kỵ cũng có thể chở những đv lớn tới chiến trường nếu cần.Ngoài những nhiệm vụ như trên, các toán không kỵ tiến hành những nhiệm vụ không thám tổng quát và đánh giá kết quả của các cuộc ném bom, đặc biệt do B-52 gây ra cho đối phương.

Một PHI ĐOÀN (squadron) không kỵ điển hình gồm ba TOÁN không kỵ (air calvary troup hay ACT) và một toán chỉ huy. Một toán ACT gồm một TRUNG ĐỘI (platoon) có từ 6 tới 8 trực thăng chở quân (trực thăng UH-1 Iroquois hay "Huey" do hãng Bell sản xuất) và một trung đội từ 8 hay 9 chiếc trực thăng võ trang, có tên là Cobra (ký hiệu AH-1 Cobra do Bell sản xuất). Mỗi toán ACT cũng có một trung đội thám thính từ 8 hay 9 trực thăng quan sát nhẹ, thường gọi là "Loach" (ký hiệu OH-6 Cayuse do Hughes sản xuất). 

Đơn vị không kỵ đầu tiên có mặt tại VN là sđ 1 Không Kỵ năm 1965. Có tổng cộng có NĂM phi đoàn không kỵ, bao gồm phi đoàn 1/9 Không kỵ nổi tiếng của sđ 1 Không kỵ. Ngoài ra, khoảng 20 phi đoàn không kỵ phục vụ trong các đv bộ binh, thiết giáp và cơ giới (mechanized). Phi đoàn không kỵ cuối cùng rời VN đầu năm 1973.

 Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 401 - 412 của quyển Staying The Course của Erik Villard. 

 Từ 2- 10/2/1968: Lữ đoàn 3 của sđ 1 Không kỵ nhập trận

...

“Khi trung tướng Hoàng xuân Lảm và trung tướng Cushman, xem hình, tư lịnh (TL) của lực lượng 3 thủy bộ họp tại Đà Nẳng vào đêm 1/2/1968 để thảo luận tình hình Huế, họ đã đồng ý rằng quân nam VN sẽ trách nhiệm giải tỏa thành nội Huế, còn TQLC Mỹ giải tỏa hữu ngạn sông Hương hay Khu Tam giác. (Nói thêm: lực lượng 3 thủy bộ là một lực lượng gồm nhiều binh chủng khác nhau, đặt dưới quyền của TQLC – người dịch). Họ cũng đồng ý hạn chế tối đa sự thiệt hại gây ra cho thành phố lịch sử này. Để tạo áp lực vào hướng tiếp tế của CS từ hướng tây, Cushman được lịnh của Westmoreland là dùng sđ 1 không kỵ. TL của sđ này, tướng Tolson, giao trách nhiệm cho lữ đoàn 3 của ĐT Campbell, xem bản đồ 35.  

 

            Phù hiệu của Lực lượng 3 Thủy bộ        

Tướng Trưởng nói chuyện với tướng Tolson, TL của sđ 1 Không kỵ và tướng Đống.

 

 

BẢN ĐỒ SỐ 35. TÌNH HÌNH BẠN, 2-10/2/1968.

 

Tình huống đã khiến Campbell điều quân với thận trọng. Một cuộc đổ quân bằng trực thăng chống lại tường thành phía tây của Kinh thành Huế thì không được vì hỏa lực từ mặt đất chung quanh Huế quá dữ dội và pháo binh của lữ đoàn tại trại Evans thì quá xa để yểm trợ. (Trại Evans này cách Huế 24 km về phía tây bắc -- ND). 

Campbell biết rằng Bắc quân rất đông trong TP nhưng ko biết quân số và cách bố trí. Một cuộc thám sát bằng trực thăng cho thấy họ ở khắp nơi. Một phi công trực thăng và một trung đội trưởng thuộc TĐ 299 trực thăng, sau này cho biết cờ VC bay phất phới khắp các làng dọc QL1 từ km số 17 tới Huế. Campbell ko muốn mạo hiểm khi thả một hay hai TĐ để chống lại 1 đối phương vượt trội về sức mạnh. Hơn nữa, dù đổ quân xuống nơi nào, rất khó tiếp tế cho họ bằng trực thăng vì thời tiết xấu và hỏa lực phòng không dày đặc của bắc quân. 

Điều ông lo nhứt là ko đủ thực phẩm, nhiên liệu, và đạn dược để hỗ trợ cuộc hành quân (HQ). Địch làm chủ Huế đã cắt đứt (sever) liên lạc đường bộ giữa sđ 1 không kỵ và Phú Bài. Các đ.đ. vận tải phục vụ cho sđ 1 không kỵ có căn cứ tại Phú Bài, hiện ko thể chạy tới trại Evans và Đà Nẳng. Ống dẫn dầu ở một kho xăng từ bờ biển tới Phú Bài đã bị cắt. Với tình hình này, phải mất vài tuần để mở lại QL1 giữa Đà Nẳng và trại Evans. 

Đặc công đã đặt mìn phá đường QL1 ở phía bắc trại Evans, khiến xe ko thể đi tới Đông Hà. Các đ.đ. vận tải đồn trú ở Đông Hà thì phải lo cho sđ 3 TQLC Mỹ. Tình hình càng khó khăn khi các hoạt động của VC trên sông Thạch Hản đã tấn công 1 số tàu tiếp tế từ Cửa Việt tới Đông Hà, làm giảm số xăng dầu và đạn dược chứa tại căn cứ TQLC này. Do đó ĐT Campbell phải dùng máy bay C-130 và CH-47 bay tới Đông Hà để tiếp tế cho lữ đoàn của ông tại trại Evans. Tuy nhiên do thời tiết xấu và khả năng của C-130 đã hạn chế nhu cầu của lữ đoàn. Vì trên toàn quốc chỉ có khoảng 80 máy bay C-130. Với tình hình trên ĐT Campbell bắt đầu kế hoạch giải cứu TP này. 

Vì thiếu trực thăng và xăng máy bay tại trại Evans, ông phải đổ quân làm nhiều đợt. Chiều hôm đó, TĐ 2/12 không kỵ, lên trực thăng dưới trời nhiều mây (overcast) và bay tới km số 17. Binh sĩ phải để lại ba-lô -- sẽ chở sau -- để có thể chở được nhiều người. Mỗi ba-lô đều có poncho và áo sweater. Sau khi đổ quân, trời bắt đầu mưa. Sau khi ăn một bữa ăn lạnh lẻo, họ trải qua 1 đêm trên cánh đồng đầy bùn gần km số 17. 

Vào sáng 3/2, 400 lính của TĐ 2/12 không kỵ đã tập hợp nghe lịnh. Họ phải dùng 1 lộ trình quanh co (circuitous) để tới Huế bằng cách đi về phía nam và rẻ về hướng đông, thay vì đi theo QL1 vì sợ mìn bẫy và phục kích. Ông cũng lo vì pháo đội 105-ly thường tăng phái cho TĐ cũng chưa tới km số 17 -- có lẽ do thời tiết và thiếu trực thăng CH-47 -- nhưng nếu may mắn, quân của ông sẽ tới kinh thành trước khi trời tối. 

Xuất phát lúc 0700, TĐ đi về phía nam khoảng 1.500 m và rẻ về phía đông nam để tới Huế, với QL1 ở bên trái trục tiến quân. Trong vài giờ kế, họ ko thấy dấu hiệu của VC trừ 1 tên bắn sẻ vài phát trước khi biến dạng. Lúc 0945, khi còn khoảng 4 km về phía tây bắc của kinh thành Huế, họ gặp một ấp nhỏ có tên thôn Liễu Cốc Thượng. Khi quân Mỹ vào ấp, dân đã chạy vào một khu rừng cây ở cách đó 200 m về phía đông nam. Trong ấp lính Mỹ thấy giao thông hào và hố chiến đấu mới đào cũng như hàng trăm lá cờ nhỏ của CSBV -- nhưng hình như địch rất gần họ. 

Khi lính lục soát ấp, từ khu rừng cây ở phía nam, lính bắn sẻ VC bắt đầu bắn vào quân Mỹ. Tham khảo bản đồ, trung tá Richard Sweet biết rằng khu rừng cây này tương ứng với làng Thôn Quế Chữ và phía nam là làng Thôn La ChữNói thêm: năm 1969, khi hành quân ở TĐ 53 ĐPQ thuộc tiểu khu Gia Định, tôi đã xài bản đồ không ảnh, rất chính xác, vì do máy bay chụp từng đoạn và ráp lại, khu nào nhiều nhà dân hay nhiều rừng đều hiện rõ trên bản đồ này -- ND). 

                        

Bản đồ không ảnh

Ông liền gọi 2 khẩu 105-ly của VNCH ở km 17. Vì ko có thông dịch viên để điều chỉnh pháo binh, nên ko hiệu quả. Do trần mây thấp nên không quân ko thể can thiệp, lữ đoàn đã gửi gunship để bắn phá Thôn Quế Chữ trong khoảng 1 giờ cho tới khi bắn lầm vào TĐ 2/12 không kỵ, giết chết 1 và làm bị thương 4. Trung tá Sweet gọi trực thăng ngừng bắn. Dù trực thăng bắn phá ko làm đối phương nao núng, nhưng tướng Tolson TL của 1 không kỵ vẫn yêu cầu Sweet chiếm Thôn Quế Chữ càng nhanh càng tốt. Trung tá Sweet trình bày với TL nên chờ khi pháo binh Mỹ có mặt tại km 17 để giúp ông, nhưng TL ko đồng ý. Vì hết cách nên Sweet phải tấn công TRỰC DIỆN vào Thôn Quế Chữ. 

Y hệt như một cuộc tấn công thời đệ Nhứt thế chiến, khoảng 150 lính Mỹ xung phong xuyên qua đồng trống giữa họ và Thôn Quế Chữ. Lính CSBV núp trong hàng cây ở bìa làng bắn đạn liên thanh và cối vào quân Mỹ, đã bắn gục một số lính đi đầu, ko có gì che chở ngoài 1 nghĩa địa nhỏ giữa cánh đồng. Trực thăng OH-6, có biệt danh Loach, xem hình, đã xuất hiện để tấn công đối phương. Quân Mỹ đã tới hàng cây một lúc sau trưa, khiến địch rút sâu vào Thôn Quế Chữ. Chín lính Mỹ chết, vì đạn bắn sẻ trúng đầu, và 48 bị thương.

                              

 

Khi vượt khỏi hàng cây, lính Mỹ đã phát hiện một mạng lưới các giao thông hào và hố chiến đấu đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Điều này chứng tỏ đối phương đã bỏ nhiều công sức và thời gian để đón đánh quân Mỹ. Hàng rào bằng tre và dừa bao quanh mỗi nhà cũng là tuyến phòng thủ thiên nhiên, xem hình.

Thôn La Chữ: trực thăng mang tiếp tế cho lính của sđ 1 không kỵ, ảnh trên; lính Mỹ đang chiến đấu trong làng, ảnh dưới.

 

Vào giữa buổi chiều, phần còn lại của TĐ đã vào làng. Vì trời sắp tối nên trung tá Sweet đã quyết định phòng thủ qua đêm. Chỉ 1 thời gian ngắn sau khi lính vừa đào xong hố cá nhân thì địch đã phản công. Súng nhỏ và liên thanh bắn từ mọi hướng, và chẳng bao Sweet đã nhận ra rằng TĐ đã bị bao vây với quân số đông hơn. Họ bị bắn bằng cối 82-ly, súng không giựt (SKZ) 75-ly, và đại liên 12.8 ly, vũ khí thường trang bị cho cấp trung đoàn. TĐ 2/12 đã đẩy lui vài đợt thăm dò và bắn gục một số lính bắn sẻ VC. Hỏa lực của VC đôi khi dữ dội đến độ gần như lính Mỹ ko dám ngóc đầu khỏi hố cá nhân trong 1 hay 2 giây. Tuy nhiên VC ko thể phá thủng tuyến phòng thủ, và trận chiến từ từ giảm và chấm dứt. Lính Mỹ trèo lên khỏi hố và nhận thấy hầu như mọi thứ nằm trên mặt đất đều bị xé rách (shred). Khi chuyên viên bậc 4 Steven Johnson mở hộp ration-C, xem hình, y thấy hộp này găm đầy mảnh đạn, nên ko ăn được. 

             

 

 

Sau đó vài trực thăng đã có thể đáp xuống khoảng đất trống giữa làng để tải thương. Khi TĐ bắt đầu sắp hết đạn, sĩ quan ban 4 lo về tiếp liệu của lữ đoàn, thiếu tá William Scudder vơ vét mọi đạn và lựu đạn mà ông có thể tìm ở trại Evans và năn nỉ vài phi công gan dạ bay tới Thôn Quế Chữ, vì nếu ko tiếp tế, TĐ có thể hết đạn trong đêm.

Vào lúc này, trung tá Sweet ko biết quân số và tên hiệu của đv đối phương bao vây TĐ. Sweet đã phỏng đoán (surmise) rằng ông đã lọt vào một khu tập kết (staging area) người, vũ khí, v.v... để đánh Huế, và địch sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nó. Sau này ông mới biết Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ là nơi đóng quân của BCH của Mặt trận Thành phố Huế, cũng như TĐ 416 của trung đoàn 5 csbv và ba TĐ của trung đoàn 29 sđ 325C csbv, đv cuối cùng vừa đến từ Khe Sanh.   

Trước đó vào buổi chiều, khoảng thời gian mà TĐ 2/3 đang tiến đánh vào Thôn Quế Chữ, ĐT Campbell và BCH của lữ đoàn 3 dời từ trại Evans về km 17. Tướng Tolson cũng bay từ trại Evans đến km 17 để theo dỏi diễn tiến của TĐ 2/3. Rõ ràng rằng TĐ 2 đang gặp nguy hiểm. Trừ phi được yểm trợ đầy đủ, TĐ ko thể chịu đựng đợt tấn công quyết định kế tiếp. Theo yêu cầu của ĐT Campbell, 1 đoàn xe từ trại Evans đã tới km 17 khoảng gần 1800 g tối, mang theo đạn cho 2 khẩu 105 ly đã đến trước đó trong ngày. Với đạn pháo vừa chở tới km 17, sq tiền sát viên pháo binh của TĐ, còn gọi là sq đề-lô, và trung tá Sweet, và toàn thể binh sĩ đã nâng cao tinh thần chiến đấu, giữ vững tay súng suốt đêm

TĐ đã đối diện đợt tấn công vào sáng 4/2. Ngay trước 0700 g, một loạt đạn 82-ly và hỏa tiển 122 ly đã trúng các vị trí Mỹ tại Thôn Quế Chữ. Sau đó bộ binh CSBV tấn công chu vi phòng thủ từ mọi hướng. Phần lớn diễn ra trong tầm dưới 20 m. BCH lữ đoàn 3 gửi 1 trực thăng trang bị rốc-két để giúp TĐ, nhưng nó đã bị bắn rơi trước khi tới Thôn Quế Chữ. Vì ko thấy điểm yếu trên tuyến phòng thủ của TĐ, bắc quân đã đoạn chiến sau 15 phút, gây cho 11 lính Mỹ chết và 51 bị thương. 

Trong khi y tá chăm sóc thương binh, trung tá Sweet duyệt xét tình hình. Ông biết rằng TĐ ông sẽ bị tràn ngập nếu ở lại Thôn Quế Chữ vì chỉ còn khoảng 200 tay súng. Phần lớn chỉ ngủ chưa tới sáu giờ trong 2 ngày qua, và họ gần như sắp hết nước. Đơn vị gần nhứt có thể giúp họ là TĐ 5/7 không kỵ, vừa đến km 17 và cần ít nhứt 24 g để tới Thôn Quế Chữ. Dù cho thiếu tá Scudder (của ban tư lữ đoàn) đã dùng một trực thăng cứu thương mang đạn đến làng để tiếp tế và thiếu tá cũng rút súng lục để cảnh cáo một sĩ quan khác khi ông này định cất dở hàng từ máy bay; nhưng tiếp liệu còn rất ít do đánh nhau suốt ngày. 

Vào cuối chiều của ngày 4/2, TĐ trưởng Sweet thảo luận với các đ.đ. trưởng. Sau khi xem xét các giải pháp, ông quyết định TĐ sẽ phá vòng vây vào buổi tối. Dù khó khăn của đv, Sweet ko muốn rút về km 17 mà ko hoàn tất nhiệm vụ của ông (nghĩa là tiếp viện cho kinh thành Huế). Ông định di chuyển TĐ về 1 khu vực ở cách đó 1.500 m về hướng đông nhưng đã bỏ ý định này sau khi máy bay quan sát suýt bị bắn rơi vì các súng phòng không csbv. Nghĩ tới một điều mà đối phương ko ngờ được, trung tá cho TĐ tiến sâu vào khu vực do địch kiểm soát, tới 1 ngọn đồi nhỏ có tên Nhà Nhãn, mọc lên giữa cánh đồng vài km tây nam của Thôn Quế Chữ. Trong khi đv cạn kiệt (deplete) của ông chỉ còn khả năng tấn công giới hạn vào lúc này, Sweet biết rằng đỉnh của đồi này sẽ là 1 vị trí lý tưởng để quan sát Cộng quân khi họ di chuyển vào Huế. Sau khi lữ đoàn trưởng đồng ý kế hoạch, trung tá Sweet quyết định rằng TĐ sẽ di chuyển lúc 2000 giờ. Ông suy luận rằng lúc đó trời sẽ hoàn toàn tối và kẻ thù, sẽ lo nấu nướng và sửa chữa trang bị.

TĐ 2 đã chuẩn bị để thoát vòng dây khi trời tối. Binh sĩ đặt những trang bị dư thừa thành 1 đống để lính công binh cột chất nổ vào, canh giờ cho nổ sau đó trong buổi tối. Hai chiếc trực thăng UH-1 bay vào Thôn Quế Chữ để tải vài chục thương binh, nhưng ko đủ chỗ để bốc 11 xác chết. Trung tá phải chôn họ ở bãi cát để sẽ thu hồi những ngày sau đó.

Khi trời sụp tối, binh sĩ đã im lặng lập thành hai đoàn quân, dùng băng keo và vải vóc để cột các trang bị hầu ko gây tiếng động khi di chuyển. Một lúc sau 2000 g, TĐ đã tiến về hướng tây bắc tới một khe hở trên phòng tuyến của kẻ thù, có chiều rộng khoảng 75 m. Lính canh của csvn đã ko phát hiện họ. Sau khi tới 1 nghĩa địa ở giữa Thôn Quế Chữ và Thôn Liễu Cốc Thượng, TĐ đi theo hàng một, với lính thám báo đi đầu, và bắt đầu đi về phía nam. Vài phút sau đó, các lính thám báo đã gần như "đứng tim" (freeze) khi âm thanh ko thể lầm lẩn của ai đó đang lên đạn (gun bolt being drawn). Hóa ra lính Bắc quân đang lau súng, nên ko thấy lính Mỹ đang bò cách đó vài mét. Lính thám báo bò trở lại và dẫn TĐ đi vòng quanh ổ súng liên thanh của Bắc quân mà ko bị phát giác. 

Khoảng 30 phút sau đó, trong khi đoàn quân vượt 1 con suối nằm phía tây nam của Thôn La Chữ, họ nghe 1 tiếng nổ lớn ở 1 khoảng cách xa khi vài cân Anh plastic đã biến đống quân cụ dư thừa thành 1 quả cầu lửa. Tới giờ phút đã định trước, các đại bác 105 ly từ km 17 đã bắn đạn nổ mạnh và phốt-pho trắng vào Thôn Quế Chữ và Thôn La Chữ để che chở việc rút quân  của TĐ 2. Tuần dương hạm USS Canberra, đã dự trận, bằng cách bắn các thôn mà csbv làm chủ với đạn 203 ly. Trong khi đó binh sĩ của TĐ âm thầm lê bước (trudge) trong bóng đêm, người sau bám gót người trước. Phần lớn họ bước đi loạng choạng (stagger) vì mệt lả, và nhiều người còn bị thương nhẹ. Khi TĐ đến gần các làng theo cs, các lính canh CS lại nghĩ rằng đó là 1 đoàn quân cs tiến về Huế, nên chúng dùng đèn pin để chỉ đường cho họ. Có lúc, 1 đv lớn của VC trên đường vào Huế đã đi ngang họ, khiến họ im lặng và bất động cho tới khi nguy hiểm đi qua. 

Cuối cùng TĐ đã đến Nhà Nhãn sau khi hừng sáng của ngày 5/2 một lúc, họ mệt nhọc trèo lên đỉnh, hóa ra đây là 1 tiền đồn của 1 trung đội VNCH. Với bức tranh toàn cảnh của Huế trải rộng bên dưới họ -- trông có vẻ yên bình ngoài những cột khói bốc lên và thỉnh thoảng tia sáng màu trắng cam của một vụ nổ ở xa -- lính Mỹ đóng quân và nghỉ ngơi.

Ngay khi trung tá Sweet bắt đầu điều khiển pháo binh và hải pháo vào những mục tiêu mà họ thấy ở đồng bằng bên dưới, đối phương đã ngừng chuyển quân và tiếp liệu vào Huế vào ban ngày. Để ngăn chận cộng quân tiến gần đồi vào ban đêm, sđ 1 không kỵ gửi cho TĐ một khẩu 12.7 ly và một đèn pha cực mạnh. Dù Bắc quân ko định tấn công đồi Nhà Nhãn, họ đã cố gắng cắt đường tiếp tế cho TĐ bằng cách bắn vào trực thăng tiếp tế. Một lính bắn sẻ của đ.đ. B của TĐ, chuyên viên bậc 4 Carl Johnson, đã kể rằng hỏa lực phòng không đã làm hư hại nặng hay bắn rơi ít nhứt 4 trực thăng. Để tránh hỏa lực phòng không, các phi công trực thăng thay vì đáp xuống, đã đạp các thùng đồ khi bay ngang đồi.

Ngày 5/2, lữ đoàn trưởng đã chuyển hai đ.đ. của TĐ 2/501 của sđ 101 Dù, đang tăng phái cho sđ 1 không kỵ, từ trại Evans đến km 17 để lập 1 căn cứ mới, có tên bãi đáp Sally, ở phía tây của km 17. Với lính Dù ở giữa trại trại Evans và các rừng núi đầy CS ở phía tây, lữ đoàn trưởng Campbell ko còn giao TĐ 5/7 Không kỵ nhiệm vụ bảo vệ trại Evans, mà di chuyển 4 km về phía nam để thám sát ấp Nhơn Trung vì trước đây chúng đặt cối để bắn vào trại Evans.

Khi 2 đ.đ. đi đầu tiến gần làng này khoảng 1030 g, họ bị bắn bằng súng nhỏ và cối. Cùng lúc, một trực thăng chỉ huy C-n-C của TĐ 2/12 không kỵ, đã trúng nhiều phát (riddle) bởi các súng máy của cộng quân ở 1.500 m về phía đông nam, khiến phải đáp khẩn cấp trên đất địch. Một lúc sau đó, 1 chiếc khác đáp xuống để bốc phi hành đoàn, nhưng quân Mỹ cần thu hồi máy bay lâm nạn. TĐ 5/7 không kỵ, được lịnh đổi mục tiêu và phải tiến tới máy bay lâm nạn, nhưng bị địch đánh chận.

TĐ này tiếp tục tiến quân ngày kế, 6/2. Sau 1 chạm súng ngắn ngủi, họ đã đến nơi máy bay rơi và sau đó trở lại Thôn Trung. Họ đã chiếm làng và thấy 1 kho tiếp liệu lớn đến nổi cần cả ngày để phá hủy. TĐ 5/7 không kỵ qua đêm tại Thôn Trung và tiếp tục tiến về Thôn Quế Chữ sáng ngày 7/2.

Khoảng 1100, khi đ.đ. đầu vào một ấp nằm giữa Thôn Trung và Thôn Liễu Cốc, 1 trực thăng đáp xuống để dở hàng. Sau khi cất cánh, nó bay thấp ngang qua Thôn Quế Chữ, hình như ko biết gì (oblivious) về nguy hiểm bên dưới. Súng liên thanh và súng nhỏ bắn lên từ khu rừng khiến máy bay bị thiệt hại nặng phải đáp khẩn cấp phía bên kia của Thôn Liễu Cốc Thượng. Trung tá Vaught, TĐ trưởng, dù đã định sau đó sẽ tấn công Thôn Quế Chữ, đã cho TĐ tiến về phía đông tới nơi máy bay rơi. Sau khi chờ đợi pháo binh và hải pháo dọn bãi, TĐ tấn công Thôn Liễu Cốc Thượng. Họ khám phá hàng chục vị trí chiến đấu chưa hoàn tất và dây điện thoại dầy đặt nhưng ko gặp tên VC nào. Binh sĩ đã cứu phi hành đoàn, trong khi gunship trấn áp hỏa lực rời rạc (smattering) của liên thanh và cối từ Thôn Quế Chữ. Với buổi tối sắp tới, TĐ trưởng cho đóng quân qua đêm. Ông cho lập một chỗ để chứa đạn dược và tiếp tế, và chuẩn bị dụng cụ y tế để chờ đánh lớn.

Sáng ngày 8/2, ông cho hai đ.đ. thăm dò Thôn Quế Chữ. Một đ.đ. đã nhanh chóng vượt cánh đồng trống, nhưng đ.đ. đi hông phải, cách đó khoảng 300 m, gặp hỏa lực mạnh, ngừng cách khu rừng 50 m. Trung tá gửi 2 trung đội từ 1 đ.đ. khác để giúp và gọi 1.500 quả đại bác từ km 17; vài giờ sau đó đ.đ. này mới đoạn chiến, sau khi có 2 chết và 7 bị thương. Thấy rằng Thôn Quế Chữ đã được phòng thủ kỹ lưỡng và có thể ko thể tấn công bởi 1 TĐ, trung tá Vaught ra lịnh cho đ.đ. đầu tiên rút về Thôn Liễu Cốc Thượng để phòng thủ đêm.

Sau khi nghe Vaught trình bày rằng ko thể tấn công trực diện, lữ đoàn trưởng Campbell bắt đầu tìm cách khác. Ngày 9/2, Campbell ra lịnh TĐ của Sweet từ Nhà Nhãn thăm dò Thôn La Chữ từ hướng nam. Khi TĐ 2/12 này, rời khỏi ngọn đồi Nhà Nhãn, theo sau là trung đội nam VN từng đóng trên đồi, họ bị chận đánh bởi 1 tiểu đội bắn sẻ và ngụy trang rất kỹ của csbv ở chân đồi. Đạn cối và đạn súng nhỏ của bắc quân đã giết 2 lính Mỹ và làm bị thương 12 người khác trước khi 1 toán của lính Không kỵ đánh bọc sườn (outflank) đối phương, giết ít nhứt ba tên bắn sẻ. Khó khăn vẫn còn ở phía trước. Khi TĐ đang vượt qua 1 cánh đồng lúa dẫn tới làng Thôn Bôn Trị, một làng nhỏ có rừng cây bao quanh ở 1.500 m nam của Thôn La Chữ, một TĐ hay đông hơn của quân csbv nổ súng từ hàng cây. Lính Mỹ chết 2 và bị thương 10. Không thể tiến và trời tối nhanh, trung tá Sweet rút TĐ về đồi Nhà Nhãn để qua đêm.

Lữ đoàn trưởng Campbell cần thêm quân vào chiến trường, nhưng ông ko đủ xăng máy bay, phụ tùng, và đạn pháo, mặc dù (notwithstanding) những cố gắng can đảm của Không quân để giúp ông. Máy bay vận tải chở lương thực, nhiên liệu, và đạn dược tới trại Evans, phải nhờ radar hướng dẫn vì trần mây rất thấp, ít khi quá 91 m và đôi khi thấp hơn. Đôi khi tầm nhìn kém đến độ người dưới đất ko thấy máy bay, mà chỉ thấy dù tiếp tế xuất hiện từ mây thấp. Chỉ từ ngày 4 đến 8 tháng 2, C-130 đã bay 34 chuyến, mang khoảng 1 triệu cân Anh tiếp tế. Dù như vậy, lữ đoàn trưởng cần QL1 khai thông giữa trại Evans và căn cứ TQLC Mỹ tại Đông Hà trước khi ông có thể dùng cả lữ đoàn.

Vấn đề tiếp vận tại phía bắc QK-1 ko chỉ ảnh hưởng đến lữ đoàn 3. Tướng Palmer, chỉ huy Tổng cục Tiếp vận của Quân đội Mỹ (USARV) đặt tại Long Bình đã báo với tướng Harold Johnson tham mưu trưởng Lục quân Mỹ ngày 5/2 rằng "vấn đề khẩn cấp tại Vùng 1 chiến thuật (I CTZ) là khai thông QL 1 ở bắc Đà Nẳng. Việc lực lượng 3 thủy bộ của TQLC hiện ko thể khai thông QL có lẽ là yếu tố tiếp vận chính đã hạn chế việc hành quân ở bắc Vùng 1." (Nói thêm: Theo như báo chí thời đó, 1 người lính tác chiến sẽ cần 6-7 lính tiếp vận cho họ vì lính Mỹ chỉ uống nước chai hay Coca-Cola, ko uống nước sông/suối như lính VNCH. Ở những nơi có điều kiện, họ ko ăn khẩu phần ration-C, mà ăn thức ăn nóng, chở tới bằng trực thăng. Ở các căn cứ như trại Evans, phải có trực thăng chở nước tới cho lính tắm. Còn về đạn dược, lính Mỹ bắn thoải mái, ko tiết kiệm như lính VNCH. Lấy ví dụ, chỉ từ ngày 4-8/2/68, C-130 đã chở khoảng 1 triệu cân tiếp tế tới trại Evans -- ND).

Ngày 8/2, tướng Tolson TL của 1 không kỵ đã nói với Palmer rằng vấn đề tiếp tế đã hạn chế hoạt động của sđ 1 không kỵ tại Thừa Thiên và Quảng Trị. Tướng Tolson "đã rõ ràng nghi ngờ khả năng yểm trợ về mặt tiếp liệu cho một lữ đoàn của sđ 101 Dù trong khu vực này bây giờ, dù tình hình rất cần lữ đoàn này." Ông chỉ gửi pháo 105 ly đi kèm 1 TĐ bộ binh tới sân bay C-130 ở tp Quảng Trị cho tới khi tình hình tiếp tế cải thiện. Cùng ngày, TL của MACV tại VN đã thông báo với Đô đốc Sharp TL quân Mỹ ở Thái Bình Dương và tướng Wheeler Tham mưu Trưởng liên quân, rằng cố gắng để đưa các thành phần của sđ 101 Dù tới phía bắc của Vùng 1 sẽ "tạo một thách thức lớn lao về tiếp liệu trong lúc thời tiết xấu và hỏa lực địch." Trong 1 thông báo gửi tướng Johnson ngày 8/2, tướng Palmer đã viết "tình hình tiếp vận nguy cấp. Ngoài không vận, nguồn tiếp vận chánh yếu cho phía bắc Vùng 1 phải bằng đường thủy từ Cửa Việt, đang bị quấy rối bởi kẻ thù. Thời tiết xấu cũng cản trở hành quân."

 

 

 

 









Wednesday, February 19, 2025


SÁNG MÙNG 2 TẾT NĂM MẬU THÂN, (30.1.1968) ĐỂ TIẾP VIỆN CƯ XÁ SĨ QUAN ĐỘC THÂN MỸ TRÊN ĐƯỜNG VÕ TÁNH, GẦN CỔNG SỐ 5 CỦA BỘ TTM VNCH, MỘT XE QUÂN CẢNH MỸ BỊ CHẬN ĐÁNH KHIẾN 16 CHẾT, 7 BỊ THƯƠNG.

- TĐ 6 BÌNH TÂN CỦA CS, SAU MỘT TUẦN THÂM NHẬP THỦ ĐÔ SÀI GÒN, CHỈ CÒN 1/10 QUÂN SỐ BAN ĐẦU VỀ ĐẾN CĂN CỨ Ở SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG. 

Lời mở đầu:

- Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

- Dù nước Mỹ đã bỏ rơi đồng minh là VNCH, nhưng người Việt hải ngoại ko thể nào quên sự hy sinh của 58.000 quân nhân Mỹ; ngoài ra còn có hàng trăm người mất tích hay MIA, bao gồm những người đã chết nhưng ko lấy được xác, mà có thể nhiều người trong chúng ta ko biết, điển hình như trung úy Orie Dubbeld và thượng sĩ James Edward Duncan, hai vị là cố vấn của TĐ 22 BĐQ VNCH vào năm 1971.  

         

Tách nước kỷ niệm 50 Năm Hội Ngộ của SVSQ Không quân Liên Khóa 64. Tặng bởi một anh gốc Không quân, vào năm 1968, mang cấp bậc trung úy làm việc ở sân bay TSN.

Trung úy Orie Dubbeld Jr. cố vấn của TĐ 22 BĐQ VNCH, trong quân phục BĐQ/VNCH. Tử trận ngày 3/3/1971 tại Kon Tum nhưng ko lấy được xác nên trường hợp của ông được xếp vào MIA.  

- Trong bài TĐ 23 BĐQ tại Ben Het của BĐQ Vũ đình Hiếu có nhắc tới hai cố vấn này. Trung úy Bubbeld mới ở VN chưa tới 30 ngày còn TS Duncan mới ở VN một tuần. Trên đường hành quân từ trại Polei Kleng về trại Ben Het, TĐ 22 BĐQ bị hai trung đoàn CSBV phục kích. Đêm ngày 3/3/1971, trong khi đóng quân trên 1 ngọn đồi phía nam trại Ben Het, TĐ bị pháo kích hàng trăm đạn cối làm chết hai cố vấn này. Tìm hiểu trên mạng, tôi biết hai vị đã CHẾT MẤT XÁC, nghĩa là được xếp vào MIA (mất tích khi chiến đấu).

Theo thông tin của Mỹ cập nhật vào năm 2020, TĐ 22 BĐQ có nhiệm vụ tăng viện trong tỉnh Kon Tum. Đv bị tấn công bằng cối và 1 quả đã rơi trúng hố chiến đấu của 2 người. Một sq quân y VNCH đã xác nhận Dubbeld chết lập tức, và Duncan chết sau đó vài phút. 

BĐQ cố gắng mang xác 2 người trên đường rút lui, nhưng trận chiến quá ác liệt đến nổi buộc lòng phải chôn họ tại chỗ. Cho đến giờ này, chưa thể lấy xác.

CP Mỹ tin rằng đối phương đã biết nơi an nghỉ cuối cùng của 2 vị, nhưng mọi tiếp cận tới vị trí này đều bị từ chối.

Phía VNCS cũng từ chối cung cấp thông tin về hàng trăm người Mỹ mà CP Mỹ tin rằng vẫn còn sống, và bị giam giữ ở Đông Nam Á. Dubbeld và Duncan đã hy sinh mạng sống trong lúc cố gắng giúp đỡ một đất nước đồng minh giữ gìn tự do của họ.               

====


Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 339 tới 346 của sách Staying the Course của Erik Villard.

1/ TRẬN ĐÁNH TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU

"Doanh trại của Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) rộng khoảng 1 km vuông tọa lạc tại góc đông nam của Yếu Khu Tân Sơn Nhứt (TSN). Doanh trại này gồm BTL của Tướng Cao Văn Viên, nằm ở góc phía tây của doanh trại, kế cận nhiều tòa nhà gồm nơi làm việc và nơi ở của sĩ quan Nam VN, và một số cơ quan như Trường Sinh ngữ Quân đội, v.v... Có năm cổng ra vào được canh gác cẩn mật.       

Tòa nhà chánh của Bộ TTM QLVNCH, ảnh trên, và cổng chánh, ảnh dưới.

Trường Bộ binh Thủ Đức, chụp tháng 3.1969. 

Lúc 03:00 g sáng ngày 30.1.1968, hay mùng 2 Tết, một xe hơi của chính phủ chở một tướng lãnh Nam VN từ đường Võ Tánh, một đường lớn chạy ngang rìa phía tây của BTTM, quẹo vào cổng 5. Vào lúc đó, 22 quân cảm tử VC trang bị AK47 và ba súng B40 đã xuất hiện ở trong 1 con hẻm dẫn ra đường Võ Tánh, đối diện với cổng 5. Lính gác của Nam VN đã kịp thời đóng cổng số 5 trước khi đặc công VC chạy tới cuối hẻm; và nổ súng vào đặc công, giết vài tên và khiến những tên còn lại tìm chỗ ẩn núp trong những tòa nhà nằm xa hơn của con hẻm này. Đầu hẻm này, nằm trên đường Võ Tánh, đối diện với cổng số 5 BTTM là Cư xá Sĩ quan Độc thân số 3 của quân đội Mỹ, viết tắt là BOQ. Người lính Mỹ gác cổng đã vội vàng khóa cổng của tòa nhà, và báo động cho BCH của ĐT Rowe.                 

Lính Mỹ chiến đấu với lính bắn sẻ VC gần cư xá sĩ quan độc thân số 3

ĐT Rowe, chỉ huy TĐ 716 quân cảnh (QC) gọi cho 2 xe jeep đi tuần gần đó. Vài phút sau đó, những QC này được thông báo rằng hơn 10 tên đặc công trang bị đầy đủ đã núp trong vài tòa nhà nào đó dọc theo hẻm, dù ko biết các tên này ở nhà nào. Họ đã yêu cầu BCH TĐ gửi thêm quân, và tránh dùng hẻm để tiếp cận mục tiêu.               

QC Mỹ, rời BCH TĐ, nằm trên đường Trần Hưng Đạo, để đi tuần bằng xe jeep.

ĐT Rowe đã gửi 1 lực lượng phản ứng, gồm 26 người của đ.đ. C, với 3 người đi xe jeep và 23 người đi xe GMC. Có lẽ ko quen thuộc với khu vực này, cộng với bóng tối khiến khó đọc tên đường, lực lượng này đã rẽ vào đầu phía nam của con hẻm khi họ đến gần tòa nhà BOQ này với chiếc jeep đi đầu và GMC đi kế. Chiếc jeep vô sự nhưng chiếc GMC đã bị bắn B40 khiến đầu máy bị phá hủy và bánh trước xẹp lép. Trong khi các lính QC Mỹ choáng váng rời xe, họ bị tấn công bằng súng liên thanh khiến 16 người chết, 7 người còn lại bị thương. Hai người bị thương đã bò tới nơi an toàn, và QC Mỹ đã cứu được người thứ ba, tuy nhiên hỏa lực đối phương đã khiến quân tiếp viện ko thể đến được những người chết hay bị thương nằm xa hơn trong hẻm này (farther down the alley).                       

Một lực lượng phản ứng nhanh của đ.đ. C của TĐ 716 QC xuất quân trên xe GMC

Cuộc dằn co đã tiếp tục cho tới khi một xe thiết giáp V-100, loại chạy bánh hơi, được lái bởi QC Mỹ đi từ căn cứ Long Bình, tới lúc 13:00 g. 

Dựa vào xe V-100 bọc giáp, có trang bị 2 súng trung liên 30 hay 7.62 ly, QC Mỹ đã tiến nhanh vào hẻm và cứu 4 lính Mỹ bị thương nằm kế xe GMC và thu hồi phần lớn người chết. Cuối cùng các đặc công đã bị khống chế sáng ngày hôm sau khi các chiến sĩ Nam VN tấn công vị trí của họ. Mười đặc công đã chết và tên còn lại trở thành tù binh (POW). 

Trong khi trận đánh ở cư xá sĩ quan độc thân Mỹ diễn ra vào sáng 30/1, một trận đánh khác cũng đang bắt đầu ở cổng 2 ở cạnh phía đông của doanh trại BTTM. Lúc 07:00 g, gần 200 bộ đội của TĐ Gò Môn đã xuất hiện bên ngoài cổng số 2. Đám bộ đội CS này, đã xâm nhập vào Sài Gòn (SG) theo đường xe lửa, để tiếp cận BTTM, xem hình. VC đã phá hủy cổng 2 bằng B40, giết những lính canh ở đó, và tấn công vào góc đông nam của doanh trại này. Có lẽ do ko có ai chỉ đường, thay vì tiến sâu hơn thêm 500 mét để tấn công tòa nhà chánh của BTTM cách đó khoảng 500 mét về hướng tây bắc, chúng đã chiếm khoảng 6-7 tòa nhà trống, thiết lập công sự phòng thủ, để chờ đợi lực lượng phản công. Khi tướng Viên hay tin Cộng quân đã xâm nhập doanh trại của BTTM, ông ra lịnh cho TĐ 8 Dù, hiện đang giúp đỡ cho quân của ĐT Lưu Kim Cương ở bờ tây của sân bay TSN, để gửi hai đ.đ. đến BTTM bằng trực thăng càng nhanh càng tốt.              

MÀU ĐỎ LÀ ĐƯỜNG XE LỬA BỎ HOANG, MÀU CAM LÀ ĐƯỜNG XE LỬA CÒN DÙNG. VC ĐÃ DÙNG HAI ĐƯỜNG NÀY ĐỂ TẤN CÔNG BTTM. 

Lúc 09:00 g, một đoàn trực thăng đã đổ quân Dù xuống tòa nhà của BTTM. Ông ra lịnh cho hai đ.đ. này cầm chân TĐ VC tại chỗ trong khi chờ viện quân tới. Cuộc chạm súng kéo dài vài giờ, mà ko bên nào chiếm được 1 tấc đất của bên kia, cho tới khi thêm hai TĐ của tổng trừ bị VNCH tham chiến. Đó là TĐ 2 TQLC, vừa bốc từ châu thổ sông Cửu Long, và TĐ 6 Dù, bốc từ Dak To, Kontum. Cuộc phản công bắt đầu. Đối diện với lực lượng mặt đất vượt trội, có gunship bay trên đầu yểm trợ, VC đã rời bỏ trận địa và rút về phía bắc với TQLC Nam VN đuổi theo bén gót (hot on their heels). 


2/ TĐ 6 BÌNH-TÂN TẤN CÔNG QUÂN CẢNH MỸ TẠI NGÃ SÁU (KẾ CẬN TRƯỜNG ĐUA PHÚ THỌ). KHOẢNG 1 TUẦN SAU, TĐ NÀY CHỈ CÒN 1/10 QUÂN SỐ VỀ TỚI CĂN CỨ ĐỊA Ở SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG.

Lúc 03:00 g ngày 30/1, hay mùng 2 Tết Mậu Thân, khoảng 200 bộ đội của TĐ 6 Bình Tân và 100 dân công khiêng đạn và tải thương, đã vào ngoại ô Phú Lâm ở rìa phía tây của thủ đô Sài Gòn (SG). Ở đây họ đã gặp vài cán binh VC hay giao liên hướng dẫn vào SG tới tận trường đua Phú Thọ, một miếng đất lớn có đường đua hình bầu dục và một khán đài bằng bê-tông cốt thép cao ba từng, ở ba km nam của sân bay TSN và hai km tây của trại Lê văn Duyệt nơi đặt BTL Biệt khu Thủ đô. Tới đây TĐ này dừng lại để chờ các giao liên khác dẫn họ tới Khám Chí Hòa, khoảng 1.500 m về phía đông bắc. Chờ hoài ko thấy giao liên, TĐ trưởng cho hai đ.đ. đi sâu vào TP, hy vọng rằng họ sẽ tìm được đường tới khám Chí Hòa, và giữ 2 đ.đ. kia ở trường đua. 

Lúc 04:45 g sáng, một jeep tuần tiểu của TĐ 716 QC Mỹ với 2 lính chạy nhanh qua ngã sáu nằm ở góc nam của trường đua nơi hai đ.đ. VC đang chờ giao liên. VC nổ súng lập tức, giết một QC Mỹ, người thứ hai kịp thời dùng máy truyền tin trên xe để gọi báo động, trước khi bị bắn gục. 

Lời báo động quá ngắn và ko đầy đủ nên ko có ai ở BCH của ĐT Rowe, TĐ trưởng biết được điều gì xảy ra. Do vậy TĐ 716 QC Mỹ đã ko gửi cảnh báo các xe tuần chạy tới ngã sáu này, ở góc nam của trường đua. Hậu quả, trong giờ kế, hai xe tuần tiểu đã chạy ngang ngã sáu, và lần lượt bị tấn công, gây nhiều thương vong. 

Sau khi mất liên lạc với các xe này, ĐT Rowe gửi một xe GMC với 13 lính đi tìm hiểu tình hình. Xuất phát lúc 06:00 g, toán phản ứng này đã thấy ba xe jeep bị hư hại, 4 xác lính Mỹ, và hai người bị thương nằm rải rác ở ngã sáu. Phóng nhanh dưới hỏa lực dữ dội của VC, tiểu đội này đã cứu 2 quân cảnh bị thương và rút về một tòa nhà gần đó ở phía đông nam của ngã sáu. ĐT Rowe đã gửi 1 toán thứ hai để tăng cường cho toán thứ nhứt và 1 xe để tải thương. Dù cố gắng hết sức (try as they might), họ vẫn ko thể thu hồi 4 xác QC Mỹ nằm tại ngã sáu, trước hỏa lực của VC. Đây một việc dành cho bộ binh. 

Được báo động về TĐ 6 Bình Tân, thiếu tướng Weyand, TL của lực lượng 2 dã chiến (II Field Force) gọi đv khả dụng gần nhứt, TĐ 3/7 của lữ đoàn 199 bộ binh, đang đóng trong tỉnh Gia Định cách đó khoảng 10 km về phía tây nam. Trung tá John Gibler, TĐ trưởng gửi đ.đ. A tới rìa phía nam của Chợ Lớn, nơi mà họ bắt tay với 8 xe M-113 của chi đoàn D của thiết đoàn 17 thiết kỵ, đang là đv thám sát của lữ đoàn 199. Nay lập thành lực lượng đặc nhiệm hay Task Force Gibler, họ kết hợp với 2 đ.đ. của TĐ 33 BĐQ. Tướng Cao văn Viên cũng ra lịnh cho TĐ 38 BĐQ, đang hành quân ở ngoại ô của Phú Lâm, tiến về trường đua từ hướng tây, tấn công 2 mặt vào đối phương. 

Task Force Gibler bắt đầu hướng về phía bắc vào khu vực Chợ Lớn, một nơi rất đông thợ thuyền sống trong những dãy phố lầu chạy dọc các đường phố (row house), xem hình. (Ở quận Nhì của SG trước 1975, có nhiều dãy phố lầu mặt tiền, thuộc sở hữu của công ty Hui Bon Hoa hay Chú Hỏa, ở từng dưới buôn bán, ở từng trên ở. Có một hành lang nằm phía sau các nhà ở từng trên -- ND).               

Task Force đã bắt đầu bị VC thuộc TĐ 6 Bình Tân bắn từ từng trên và mái của các phố lầu. Liên quân Việt-Mỹ tản ra dọc theo các con hẻm với hy vọng đánh vào sườn hông của đối phương, trong khi xe M-113 chạy giữa đường. Xử dụng hỏa lực của đại liên 12.7 ly từ M-113, đoàn xe tiếp tục tiến lên dù chiếc chỉ huy bị phá hủy bởi B40. Nhờ BĐQ đã diệt vài tổ súng cộng đồng, bao gồm 1 khẩu 12,8 ly mà VC đã kéo lên nóc của một tòa nhà 3 từng, bảy xe M-113 và bộ binh của đ.đ. A nhích từng tấc một tiến về trường đua, cách đó 6 dãy phố. 
Trong lúc đó, một trận đánh thứ hai đang diễn ra ở phía đông. Hai TĐ VC, là TĐ 508 và TĐ 5 Nhà Bè đã xâm nhập vào rìa phía nam của thủ đô SG với ý định tiến về BCH cảnh sát quốc gia của tướng Nguyễn ngọc Loan, ở đường Võ Tánh. Cảnh sát quận đã chận bước tiến của họ cho tới khi TĐ 30 BĐQ được triển khai. Cộng quân giờ đây có vẻ đã bị chận lại (contain) trong một khu vực có bán kính vài khu phố và cũng ko thể bắt tay với TĐ 6 Bình Tân đã kể ở trên.
Lúc 11:00 g khi lực lượng đặc nhiệm được đặt dưới quyền tướng Keith Ware (TLP của lực lượng 2 dã chiến, hoạt động trong quân khu 3 VNCH) và Task Force Hurricane Forward, liên quân Việt Mỹ đến từ phía nam và TĐ 38 BĐQ từ phía tây đã tới ngã sáu kế cận trường đua. Nơi đây họ bắt tay với trung đội của TĐ 716 QC Mỹ mà ĐT Rowe đã gửi trước đó vào buổi sáng. Xử dụng vài khẩu ko giật 106 ly, lính bộ binh và hai chiếc gunship đã làm nổ tung khán đài (pavilion) của 1 sân vận động (stadium)? (có lẽ của sân Vận động Cộng Hòa, cũng ở gần trường đua Phú Thọ -- ND) -- nơi mà TĐ 6 Bình Tân cố thủ. VC đã bỏ vị trí này vào sau xế chiều và rút lui từng toán 2 hay 3 người vào khu dân cư ở phía bắc. BĐQ Nam VN và QC Mỹ đuổi theo. Quân Mỹ đã lập một căn cứ hỏa lực (CCHL) tạm trên bãi cỏ của sân vận động (stadium). Ngay trước khi trời tối, trực thăng đã chở đến phần còn lại của TĐ 3/7 kèm theo một pháo đội. 
Vào sáng ngày 1/2, tướng Ware đã tăng cường Task Force Gibler với đ.đ. A và B của TĐ 5/60, một đv cơ giới của lữ đoàn 3 sđ 9 bộ binh, xuất phát từ Long An. Suốt ngày hôm đó, task force này đã lục soát khu vực quanh trường đua, lúc đó vẫn còn nhiều VC.  B-40 đã làm hư 2 xe M113, nhưng khi trời tối, Task Force Gibler có thể tuyên bố khu vực này an ninh. Các thành phần rời rạc của TĐ 6 Bình Tân vẫn còn ở khu ngoại ô phía bắc của SG thêm 1 tuần; cuối cùng, chỉ còn 30 bộ đội VC của quân số ban đầu (300 người) đã trở về căn cứ địa của họ ở sông Vàm Cỏ Đông. 
        
Phù hiệu của sđ 9 bộ binh Mỹ

Họ hành quân chủ yếu ở tỉnh Định Tường và Long An từ năm 1966-69.




Chuyển ngữ từ sách Staying the Course của Erik Villard.
San Jose ngày 20 tháng 2 năm 2025, cập nhật ngày 17.3.2025.
Tài Trần.
====
CẬP NHẬT: Nhân dịp sắp 50 ngày sụp đổ của VNCH, tôi đăng thông tin về thương vong của MTGPMN và CSBV trong cuộc chiến 21 năm, do chánh phủ CHXHCNVN phổ biến năm 1995.
CP Hà Nội ngày 4/4/1995 cho biết số thương vong thực sự của dân thường, gồm chết và bị thương, là 2 TRIỆU Ở MIỀN BẮC VÀ HAI TRIỆU Ở MIỀN NAM. SỐ THƯƠNG VONG CỦA BỘ ĐỘI ở cả hai miền GỒM 1.1 TRIỆU CHẾT VÀ 600 NGÀN BỊ THƯƠNG. 
Theo tài liệu của BQP Mỹ thì số thương vong của đồng minh từ lúc Mỹ gửi cố vấn năm 1961 cho tới năm 1975 gồm: 
- Mỹ: chết, 47.378 người; bị thương, 304.704 người; mất tích, 2.338 người; và bị bắt trong chiến đấu, 766 người. Chưa kể: a/ 10.824 chết do bịnh, do bị đồng đội cố ý bắn hay ném lựu đạn, do bị phe ta bắn lầm (friendly fire) v.v... khiến tổng cộng lính Mỹ chết là 58.202 người. b/ Số lính Mỹ mất tích giảm dần do số hài cốt được tìm thấy và nhận dạng. c/ Số lính Mỹ bị bắt trong chiến đấu: có 114 chết trong khi giam giữ bởi CS.
- VNCH: số chết 223.748 người; số bị thương, 1.169.763 người; số mất tích và bị bắt, ko có số liệu.
- Riêng bộ đội của MTGPMN và CSBV: số chết, 1.100.000; số bị thương, 600.000; số mất tích, ko có số liệu; và số bị bắt, 26.000. Chưa kể 101.511 hồi chánh. 
                           

Nguồn của thông tin trên: http://www.rjsmith.com/kia_tbl.html