Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù Tiểu Đoàn 7ND Việt Nam được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1953, tai Hải-Phòng , hầu hết sï quan và hạ sï quan chỉ huy đơn vị nầy đều do từ đơn vị nhảy dù Pháp 3rd Military Region và một số quân nhân Nhảy Dù Pháp từ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Cambodian (1er Bataillon Parachutiste Khmer – 1BPK). vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Capitaine Lehmann: từ ngày 1/9/1953 đến 30/4/1954 kế đến là Thiếu tá Henry De Pinc từ 1/5/1954 đến khi bàn giao lại cho Sĩ quan Việt Nam. Trong khi thành lập và huấn luyện, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù phải đảm nhiệm giữ an ninh và bình định khu vực cho tới khi các đại đội được luân chuyển. Vì vậy cho tới ngày 1/12/1953 mới hoàn tất. Ngày 1/1/1954, khi TĐ3ND bị thiệt hại nặng tại Ban Hine Siou bên Lào, Đại Đội 1/TĐ7ND được không vận khẩn đến Seno để tiếp viện cho đến ngày 12/3/1954. Ngày 14/3/1954, Đại Đội 2/TĐ7ND được tăng phái ứng chiến tại phi trường Bạch Mai với Tiểu Đoàn 5ND để được thả xuống Điện Biên Phủ. Ngày 8/4/1954, TĐ7ND được lệnh chuẩn bị nhảy dù xuống Điện Biên Phủ vào đêm 9/4 nhưng vì thời tiết xấu, phòng không của CS quá nhiều… nên lệnh hành quân được hủy bỏ. Sau đó Tiểu Đoàn về hoạt động trong khu vực Hà Nội trong khuôn khổ của GAP-1. Sau ngày ký hiệp định Geneva, ngày 25 /7/1954, TĐ7ND di chuyển về Nam và đặt dưới sự điều động của Liên Đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam.(GAP-3) Ngày 1 tháng 3 năm 1955. TĐ 7 Nhảy Dù bị giäi tán để lấy quân số bổ sung cho các đơn vị khác khi thành lập Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam. Ngày 1/12/1960,do nhu cầu phát triển Binh Chủng Nhảy Dù, TĐ7ND được tái thành lập tại Biên Hoà với Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Ngô Xuân Nghị. Những trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ7ND : - Ngày 03/01/1965 TĐ7ND do Thiếu Tá Ngô Xuân Nghị làm TĐT, cùng hai Tiểu Đoàn 1 & 3 ND tham dự hành quân trực thăng vận tiếp viện trận Bình Giả càn quét mật Khu Hát Dịch. - Ngày 9/2/1965, Tiểu đoàn 7, Thiếu Tá Ngô Xuân Nghị dưới quyền điều đông của Chiến Đoàn I Nhảy Dù do Trung Tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng với Tiểu Đoàn 5 của Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng; Tiểu Đoàn 6 Thiếu Tá Vũ Thế Quang nhảy vào càn quét mật khu Hắc Dịch của Cộng sản. Tiểu đoàn 5 và 6 là lực lượng chánh tấn công, trong khi TĐ7ND ngăn chận không cho các đơn vị cộng sản thoát ra phía liên tỉnh lộ 15 để băng qua khu Rừng Sác. - Ngày 11/06/1965 Hành quân trực thăng vận giải vây cho Quận Đôn Luân (Đồng Xoài), lọt ổ phục kích của địch, TĐ7 bị thiệt hại nặng.Tiểu Ðoàn Trưởng là Đại Úy Nguyễn Văn Nhâm tử trận. - Ngày 20/11/1965 Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước làm TĐT tham dự hành quân Thần Phong 7 trong chiến dịch Ia Drang với Chiến Đoàn Đặc Nhiệm do Trung Tá Ngô Quang Trưởng làm Chiến Đoàn Trưởng . - Ngày 16/2/1967 cùng TĐ7ND Dù do Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước làm Tiểu Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Lê Văn Ngọc làm Tiểu Đoàn Phó tham gia hành quân Liên Kết 81 dưới sự điều động của Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, Trung Tá Hồ Trung Hậu làm chiến Đoàn Trưởng ở Sơn Tịnh-Quảng Ngải. - Trong trận chiến Tết Mậu Thân, từ ngày 27/1/1968 TĐ7ND do Trung Tá Lê Văn Ngọc làm TĐT, Thiếu Tá Lê Minh Ngọc làm TĐP được lịnh bảo vệ Huế thay thế TĐ5ND ra phi trường Đà Nẳng để chuẩn bị về Sài Gòn. Sáng sớm ngày mồng 2 Tết (Ngày 30/1/1968), TĐ7ND, TĐ2ND cùng Chi Đoàn 7 Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù 2 Thiết Giáp gấp rút băng đồng gần 20 km từ vùng Phong Điền, phía Bắc sông Cổ Bi, về giải cứu cố đô Huê’. - Ngày 21/2/1968, TĐ7ND và toàn bộ các đơn vị thuộc Chiến Đoàn I Nhảy Dù lần lượt được không vận về Sài Gòn để tham gia chiến trận giải tỏa mặt trận Thủ Đô Sài Gòn. - Ngày 6/ 5/1968 trong đợt Tổng công kích đợt 2 vào Thủ Đô Sài Gòn, Việt Cộng mở thêm mặt trận ngã tư Bảy Hiền. Vào khoảng gần trưa, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được điều động bằng xe, từ Biên Hòa về tiếp cứu Biệt Khu Thủ Đô để tiêu diệt một đơn vị Việt Cộng xâm nhập từ hương lộ 14 qua đường Hồ Tấn Đức, Lê Văn Duyệt ngã tư Bảy Hiền vào nghĩa trang quân đội Pháp. - Trong Chiến dịch Bình Tây 1970, cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42 chính thức khai diển vào ngày 29/4/1970 Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tham dự trong Chiến Đoàn Đặc Nhiệm 333: gồm Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân (Liên Đoàn Trưởng Tr/tá Phạm văn Phúc), cùng lực lượng yểm trợ gồm có Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh (Thiết Đoàn Trưởng Tr/tá Trần Văn Thoàn), các đơn vị Pháo Binh 105 ly và 155 ly. Trung Tướng Đổ Cao Trí đáp trực thăng xuống thăm BCH Chiến đoàn Đặc Nhiệm 333, đích thân chỉ định TĐ7ND làm "force de frappe" (lực lượng xung kích) cho các cánh quân (Tiểu Đoàn Trưởng / TĐ7ND là Th/tá Lê Minh Ngọc) vượt biên giới qua ngả Gò Dầu Hạ đánh từ tỉnh lỵ Soài Riêng lên thị trấn Kratie rồi vòng về Kompong Cham. - Bắt đầu ngày 8/2/1971 TĐ7ND đã tham gia cuộc Hành Quân Hạ Lào Lam Sơn 719 do Thiếu Tá Lê Minh Ngọc làm TĐT, Thiếu Tá Trần Đăng Khôi TĐP, giai đoạn đầu làm trừ bị cho SĐND, bảo vệ an ninh cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Ngoài ra theo kế hoạch hành quân, TĐ7ND dự trù sẽ được trực thăng vận vào giai đoạn cuối đến chiếm giữ Tchépone và cấm cờ VNCH tại đây. - Ngày 20/2/1971 TĐ7ND được lịnh rời khu vực Hướng Hóa–Khe Sanh, di chuyển bằng đường xe vượt qua làng Vei đến Lao Bảo nhắm hướng đồi A-Lưới tiến quân. Đại Tá Lê Quang Lưỡng đã cho lệnh TĐ7ND hành quân lưu động trong khu vực tứ giác giữa CCHL 31 vế hướng Bắc và CCHL A-Lưới về huớng Nam để chống đở áp lực địch xuống Căn cứ A-Lưới và hướng dẩn TĐ2ND rút ra khi cần. - Vào đầu tháng 3/72 khi biết tin sư đoàn 320 CSBV đã xuất hiện tại vùng ba biên giới, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH điều động LÐ2ND tăng phái cho QÐ2 hành quân tảo thanh VC ở vùng phía Tây Tân Cảnh. BCH/LÐ2ND đến trấn đóng tại làng Võ Ðịnh, cạnh QL14 giửa khoảng Kontum và Dak To. Các đơn vị trực thuộc được bố trí trên các cao điểm ở dảy núi Rocket Rigde về phía Tây QL14 với các căn cứ Alpha, Yankee, Charlie, Delta, Hotel...TĐ7ND do Thiếu Tá Trần Đăng Khôi làm TĐT đã đến thiết lập căn cứ Hotel - Ngày 27/4/1972, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh rút Bộ Tư Lệnh nhẹ / Sư Đoàn Nhảy Dù, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, cùng với 3 Tiểu Đoàn ra khỏi Vùng 2 Chiến Thuật, nhưng QÐ2 (Tướng Ngô Dzu chơi chẳng đẹp tí nào) bắt buộc LÐ2ND phải khai thông trục lộ Pleiku Kontum nhất là đèo Chu Pao. Cả Quân Đoàn II không ngờ, LĐ2ND chỉ sử dụng hai Đại Đội của Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, trang bị nhẹ (súng cá nhân và lựu đạn), hỏa lực yểm trợ sơ sài, đã lấy lại đỉnh Chu Pao chỉ trong vòng ít tiếng đồng hồ; Quả thật TĐ7ND đã đánh một trận để đời, cả bạn lẫn địch đều không ngờ. - Ngày 8/5/1972 TĐ7ND cùng LĐ2ND được không vận ra Huế tham dự hành quân tái chiếm Quảng Trị. Các Tiểu Đoàn 2 và 7ND được triển khai dọc theo bờ phía Nam sông Mỹ Chánh cùng Tiểu Đoàn 11ND trấn giữ tuyến đầu. - Sáng ngày 2/7/1972, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Trần Đăng Khôi làm TĐT cùng các đơn vị thuộc LÐIND càn quét quân giặc doc theo phía Tây dưới chân dãy Trường Sơn, từ phía Bắc sông Mỹ Chánh qua sông Nhung đến La Vang dọc theo bờ sông Thạch Hản rồi vào Thị Xả Quảng Trị. - Đầu tháng 10/1972 TÐ7ND làm trục tấn công chính vào đối phương để tái chiếm căn cứ Anne (Ðộng Ông Ðô) phía Tây QL1 dưới chân dãi Trường Sơn. - Ngày 8/8/1974, TĐ7ND do Thiếu Tá Nguyễn Lô làm TĐT, di chuyển bằng đường bộ đến Đại Lộc Đà Nẳng , rồi từ đó lội bộ vào chiến địa tham dự mặt trận Thường Đức đến ngày 18/3/1975 mới được không vận về Sài Gòn theo lệnh triệt thoái Nhảy Dù khỏi Quân Khu I của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. - Ngày 4/4/1975 Tiểu đoàn 7, được không vận bằng phi cơ C130 và C119 từ phi trường Biên Hòa đến căn cứ Phan Rang để tham chiến lập tuyến phòng thủ dưới sự điều động của BCH/LĐ2ND. Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù : Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù 3 1- Ðại Úy Trịnh Xuân Nghiêm nhận chuyển giao từ người Pháp ngày 1/10/1954 cho đến khi giải tán để lấy quân số bổ sung cho Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Nhảy Dù ngày 1/3/1955. Sau đó Đại Úy Nghiêm được bổ nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Trợ Chiến. 2- Đại Uy Ngô Xuân Nghị ( 1/12/1960- 1/6/1965) Cuối năm 1960, do nhu cầu chiến trường ngày một gia tăng, TĐ7ND được tái thành lập vào ngày 1/12/1960 và Đại Úy Ngô Xuân Nghị được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng. Đến cuối tháng 5/1965 Thiếu Tá Ngô Xuân Nghị được đề cử giử chức vụ Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù. Bàn giao lại cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhâm. 3- Đại Úy Nguyễn Văn Nhâm (1/6/1965 - 12/6/1965) Đại Úy Nguyễn Văn Nhâm nhận bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng chỉ hơn một tuần lể chỉ huy TĐ7ND tham chiến tại Đồng Xoài thì bị tử trận và TĐ7 bị thiệt hại nặng. Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước thay thế. 4- Thiếu Tá Nguyễn Bá Trước (12 /6/1965 - 1/1968) Thay thế Đại Úy Nguyễn Văn Nhâm tử trận tại Đồng Xoài đến trước Tết Mậu Thân. 5- Thiếu Tá Lê Văn Ngọc (1/1968- 1969) Thay thế Trung Tá Nguyễn Bá Trước đến cuối năm 1969 được chỉ định làm Lữ Đoàn Phó LĐ1ND và bàn giao cho Thiếu Tá Lê Minh Ngọc. 6- Thiếu Tá Lê Minh Ngọc (1969- 18/3/1971) Thiếu Tá Lê Minh Ngọc thay thế Trung Tá Lê Văn Ngọc cho đến khi tham chiến ở trận Hạ Lào vào ngày 18 tháng 3/1971 bị thương nặng phải di tản và Thiếu Tá TĐP Trần Đăng Khôi lên thay thế. 7- Thiếu Tá Trần Ðăng Khôi (18/3/1971 – 1/12/1974) Thiếu Tá Trần Đăng Khôi giử chức vụ TĐT/TĐ7ND từ ngày 18/3/1971 cho đến tháng 1/12/1974 bàn giao lại cho Thiếu Tá Nguyễn Lô TĐP. 8- Thiếu Tá Nguyễn Lô (1/12/1974 – 30/4/1975) Thiếu Tá Nguyễn Lô đảm nhiệm chức vụ TĐT cho đến ngày cuối cùng 30/4/1975. Tài liệu tham khảo: - 7 e bataillon de parachutistes vietnamiens on Wikipedia L’encyclopedie libre - Insignia of The Republic Of VietNam Airborne Division copyright @ 2002 by Harry F. Pugh - Phỏng vấn trực tiếp một số chiến hữu và Niên Trưởng trong SĐND Trích từ quyển ‘Binh chủng Nhảy Dù – 20 Năm Chiến Sự’ Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn Truyền T
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Showing posts with label sư đoàn dù. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn dù. Show all posts
Saturday, February 11, 2023
Wednesday, July 13, 2022
CHAI RƯỢU VĨNH BIỆT
Ngày 15/9/1972 là ngày QLVNCH hoàn toàn tái chiếm cổ thành ĐINH CÔNG TRÁNG (Quảng Trị).Và đó cũng là chấm dứt chiến dịch giành lại quê hương sau hơn sáu tháng oằn oại trong tay quân xâm lược CS/MIỀN BẮC.
Cũng là lúc Sư Đoàn DÙ được giao trách nhiệm tiêu diệt những căn cứ bí mật, những điểm tựa của CS/Bắc Việt tại hướng tây và tây nam Quảng trị. Vùng núi rừng trùng điệp của dẫy Trường Sơn.
Cả một vùng rừng núi rộng lớn bao gồm nhiều cao điểm chiến lược là căn cứ hậu cần vững chắc có thể áp lực lên 2 tĩnh Quảng Trị và Thừa Thiên (Huế ),nơi đây có cả bệnh viện dã chiến của địch. Do hai sư đoàn BV 324 và 312 phòng thủ kiên cố.có các cao điểm 118,124 ,235 …….
Quan trọng nhất là đỉnh 367 mét. Bao hàm một vùng rừng rậm Chiên Giồng và Động Ông Đô,còn có tên là Mật Khu Ba Lòng.
Chỉ có 2 lữ đoàn Dù 2 và 3 (tổng cộng 6 tiểu đoàn ) đã tấn công vũ bão chiếm lại các cao điểm trên. Địch điên cuồng phản công giành lại nhiều lần ,mỗi lần là những đơn vị mới từ 2 sư đoàn trên .
Ngày 20/10/1972 họ tung 2 trung đoàn 24 và 66 của SĐ 304 phản công quyết liệt chiếm lại các cao điểm 118 và 124…
Ngày 3/11 Lữ Đoàn 2/ND đã giành lại được trọng đểm A1 và đỉnh 367.Coi như làm chủ Động Ông Đô,
Địch hoảng hốt tung ngay trung đoàn 165 phối hợp với sư đoàn 304 phản công dữ dội. Nhưng họ thất bại ê chề trước sự dũng cảm và kiên cường của ND. Là ngày ND làm chủ Động Ông Đô hay mật khu Ba Lòng.
Tiểu Đoàn 11/ND với Đại Đội 111 do Trung úy Đinh Viết Trinh ĐĐ Trưởng, và Đại Đội 112 do tôi chỉ huy là 2 mũi nhọn tấn công. Sau khi đánh bật địch ra khỏi mục tiêu, chưa kịp tái phòng thủ đã bị ngay một đơn vị mới của địch phản công .
Cứ chiếm đi chiếm lại từng đồi như vậy, Các chiến binh rất mệt mõi và vất vã.(Địch luôn tăng cường đơn vị mới để phản công, còn chúng tôi vẫn là đơn vị từ đầu tham chiến). Quân số bị hao hụt dần và súng đạn hạn chế , chúng tôi vẫn chiến đấu dũng cảm và kiên cường.
Rồi cái đêm định mệnh đã tới, tôi gom hết các chiến binh còn lại xung phong lần cuối và tôi đã gục xuống cùng chiến hữu trên đồi hoang đẫm máu của núi rừng trường sơn vào ngày đầu tháng 11/1972.
Dưới đây là câu chuyện thật ,rất thật từ bối cảnh,nhân vật và hoàn cảnh thật trên chiến trường.
Sau khi đẩy lùi các binh đoàn tinh nhuệ của CS/BV họ rút chạy về phía Bắc xa bờ Thạch Hãn. SĐ/ND sau nhiều tháng miệt mài không nghĩ, để giành lại từng tấc đất quê hương đã lọt vào tay bọn xâm lược. Được tạm nghỉ ngơi để bổ xung quân số và tái trang bị.Sẵn sàng nhân nhiệm vụ mới.
Tôi còn nhớ ,trước khi nhận lệnh Hành Quân một ngày. Một sỹ quan rất trẻ từ không quân chuyễn qua ND, đó là Thiếu úy PHONG đến trình diện tôi.Phong cao ráo trắng trẻo nếu không nói là đẹp trai. Anh đến bên tôi với giọng buồn, anh nói anh từ bộ tư lệnh không quân về chưa được đi phép thăm gia đình và khẩn khoản xin tôi cho anh về Huế 24 giờ thăm cha mẹ và người vợ sắp cưới của anh đang ở Thành Nội Huế.
Tôi đắn đo vì đơn vị đang ứng chiến hành quân 100/100,tôi không thể cho phép ai rời khỏi đơn vị lúc nầy. Mắt anh buồn thiu như rưng rưng lệ,tim tôi thắt lại, tôi hiểu cái tuyệt vong và nỗi buồn sâu thẵm trong anh. Tôi quyết định cho phép anh về thăm nhà trong 48 giờ và phải trình diện đúng ngày ,không chấp nhận trễ một ngày nào.
Anh mừng quá vội vàng ra quốc lộ 1 đón xe về Huế. Thật oan nghiệt ,đêm đó tôi nhận được lệnh hành quân khẩn cấp,đánh vào mật khu Ba Lòng (Động Ông Đô).Lòng tôi lo lắng vì thiếu một sỹ quan trung đội trưởng khi hành quân.
Tiểu Đoàn 11/ND tấn công vũ bão vào các cao điểm phòng ngự của địch tại Động Ông Đô ngay phút đầu. Nhiều mục tiêu đã chiếm nhưng địch tung ngay đơn vị mới với quân số áp đảo chiếm lại.Các đỉnh chiến lược đổi chủ liên tục.
Đại Đội tôi hao hụt nhiều chưa được bổ xung.Tôi đưa trung đội tương đối nguyên vẹn lấy lại mục tiêu.Đang cũng cố phòng thủ thì đêm ập đến núi rừng nhanh chóng phủ một màu đen u ám ghê rợn. Thầm mong địch không quay lại phản công đêm nay.
Vừa ngã lưng trên chiếc võng thì toán tiếp tế đến và mấy lính mới tăng cường trong đó có Thiếu Úy Phong.Tôi mừng vì trung đội tuyến đầu không có sỹ quan, hiện do một hạ Sỹ quan thâm niên nắm quyền trung đội trưởng. Phong mừng rỡ ôm chầm tôi và chuyển lời cảm ơn của gia đình anh , nhất là cô vợ sắp cưới của anh .Đồng thời tặng tôi một chai rượu Hennessy, là món quà của gia đình anh gởi cho tôi.
Sau khi nói qua tình hình địch và tình trạng trung đội trên đó ,tôi nói anh ngủ lại đây vì đường rừng ban đêm khó đi và nguy hiễm,sáng mai tôi cho người đưa anh lên đó.
Tôi trằn trọc không ngủ được ,lo cho anh em trên đó,địch có để yên cho họ không đêm nay?
Tôi gọi Chuẩn Úy BÚP (1) sỹ quan rất trẻ nhưng rất giỏi điều chỉnh pháo binh , anh đã dũng cảm theo sát tôi những lúc hiểm nguy nhất, quả là 1 tiền sát giỏi và can đảm. Chúng tôi xem lại các hỏa tập cận phòng pháo binh đã chấm và thêm một số mục tiêu bắn quấy rối ,Phong cũng thao thức. Tôi chợt nghĩ ,tại sao mình không khui chai rượu ra nhâm nhi cho ấm, chống lại cái giá rét của đêm trường sơn.
Thế là mổi người một nắp đầy xoay vòng.
Đang chén anh ,chén tôi ,rượu chưa mềm môi người lính chiến trên sa trường thì tiếng súng lớn nhỏ nổ rang ,tiếng mìn ,tiếng lựu đạn và ánh lửa lóe lên trên đồi. Tôi chụp ngay ống nghe ,tiếng hạ sỹ âm thoại viên như hét hòa vào tiếng súng…
_Tụi nó tấn công Đích Thân ơi! Đông lắm.
_Cố gắng cố thủ ,tôi cho pháo binh bắn các hỏa tập cận phòng ngay.
_Búp ,gọi ngay pháo đội bắn đi,hỏa tập 1 sát vào 50 met……….
Tiếng đại bác 105 ly bay vèo vèo trên đầu và tiếng nổ dồn dập trên đồi
Sau hơn 3o phút tiếng súng và pháo thưa dần, Tiếng âm thoại viên báo
Địch rút lui rồi , tôi ra lệnh cũng cố phòng thủ và kiểm điểm thương vong ngay cho tôi.
Một lúc sau báo cáo sơ khởi : 5 em rách áo (bị thương) và 2 em chào vĩnh biệt. địch chết nhiều không đếm được.Và quyền trung đội trưởng bị thương nặng.
_Hãy bình tỉnh , canh gát cẩn thận, địch có thể tấn công lần nữa. Tôi sẽ cho người lên thay ngay để chỉ huy trung đội. Tiếp tế ,tải thương đợi sáng mai.
Tôi nói với T/U Phong đang đứng im lặng.anh dẫn 5 người lên đó bây giờ để chỉ huy trung đội, đừng để anh em hoang mang vì thiếu người chỉ huy. Mang thêm lựu đạn và đạn cho họ, cảnh giác tối đa và cũng cố tuyến phòng thủ .
Tôi chợt nhìn chai rượi còn non phân nữa và nói với Phong. Mai tôi lên đó ,chúng ta uống cạn chai nhé. Phong cúi đầu, Dạ ! một tiếng dạ trầm và buồn bã!
Thời gian sao quá chậm vậy? tôi đang nóng lòng và lo lắng chờ tin Phong và 5 chiến hữu đang mò mẫm giữa rừng khuya, chung quanh là mật khu địch.Rồi tiếng máy PRC 25 vang lên.
_Đích Thân ! tôi đã bắt tay với mấy đứa nhỏ rồi. có mấy đứa rách áo và ra đi vĩnh viễn,Xác địch la liệt trên đồi ,tôi đang tăng cường phòng thủ. Tôi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, dặn dò những điều cần thiết cho Phong và chúc Bình AN.
Tôi thiếp đi lúc nào không hay.Bổng choàng dậy do tiếng nổ ì ầm và tiếng la hét từ phía đồi Phong.Tôi nhìn đồng hồ dạ quang 2 giờ 45 sáng, và máy truyền tin vang lên
_Đích Thân chúng tấn công dữ dội ,đông lắm.
Tôi gọi Búp bắn các hỏa tập đã dự phòng.Khoảng 15 phút sau máy vang lên
_Ông Phong chết rồi ,địch đang tràn ngập.
_Anh cố gắng gom anh em rút xuống thung lũng, theo đường thông thủy về đây. Tôi cho người tiếp ứng dọc theo thông thủy. Nhớ mang theo ông Phong về đây cho tôi bằng mọi giá.
Tiếng máy im lặng có nghĩa là anh em đã rút
Trong khi đó tiếng máy của Tiểu đoàn vang vang , bắt tôi phải báo cáo sau 10 phút.
Tôi cho một toán men theo dòng suối để đón,tiếng pháo và tiếng súng im dần,chỉ còn ánh lửa bập bùng như ma trơi trên mục tiêu. Hơn 3 giờ sáng ,xác của Thiếu Úy Phong mang lên chổ tôi. Y tá và thường vụ đang lo cứu thương, anh bị 1 loạt AK bắn vào ngực máu đẫm chiến y, Đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng không nhắm , chắc anh đang chờ một điều gì? Tôi và Búp ngồi bên xác anh,tôi nhớ đã hứa sẽ cạn chai rượu nầy với Phong vào ngày mai,
Bây giờ đã gần sáng.Và chúng tôi 3 người uống xoay vòng cho đến khi cạn chai.Miệng anh hé mở rượu tràn ra ngoài pha máu đỏ ao. Tôi tò mò cởi nút túi áo anh lấy ra một tấm hình loang máu, may quá nó được bọc trong 1 tấm lilon dầy,
lau sạch máu ,thì ra hình 1 người con gái rất đẹp tóc thề , có đôi mắt mơ màng và đa tình của các o Huế.
Tôi đoán đây là người vợ sắp cưới của Phong. Tôi cẩn thận cho vào túi áo trên nghĩ sẽ có dịp ra Huế tôi sẽ tìm chủ nhân nó mà trao lại 1 kỷ niệm vô giá tận tay cô.
Trong lòng tôi lúc đó thật nặng trĩu buồn thảm,tiếng máy PRC 25 oang oang.Sếp tôi đang gọi:
_ Tình hình sao rồi?
_Địch tràn ngập mục tiêu rồi Đích Thân ,Thiếu Úy Phong hy sinh cùng anh em và một số bị rách áo . hiện xác anh đã về với tôi.
_ Tôi muốn anh chiếm lại mục tiêu ngay.
_ Tôi có 5 ngón tay , cụt hết 4 ngón rồi (4 trung đội và BCH)
_ Tôi không cần biết,anh phải chiếm lại ngay bây giờ , nếu chết hãy chết trên đó cho tôi.
_ Tuân lệnh Đích Thân , tôi lên ngay bây giờ. Tôi cho lệnh tắt hết máy liên lạc,im lặng vô tuyến.
Tôi gom hết những chiến binh còn có thể chiến đấu hơn 20 người, trừ thương binh và tử sỹ ở lại.Trước khi xuất phát tôi nói với anh em “
Như Chúng ta tình nguyện là chiến binh ND, đã chọn nếp sống hùng và mạnh, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đồng bào trong đó có gia đình chúng ta. Trung thành với tổ quốc và luôn chấp hành mệnh lệnh của thượng cấp.
Có thể đây là trận chiến đấu cuối cùng ,nhưng chúng ta chấp nhận và hãnh diện là một chiến binh Nhãy Dù _LUÔN CỐ GẮNG “.
Toán quân quyết tử âm thầm như những bóng ma mờ ảo trong rừng núi trường sơn.
Địch không thể ngờ chúng tôi phản công quyết liệt trước trời sáng. Tiếng lưu đạn ầm ầm tóe lửa, tiếng
đại liên M60 và M16 nổ dòn,địch hoảng hốt tháo chạy…
Bổng dưng tôi rùng mình tim nhói mạnh,toàn thân tôi giật bắn lên ,tê rần rần,như có dòng điện cao thế chạm vào.Bên tai tôi còn nghe tiếng thất thanh của người cận vệ, trung úy ….trung úy….Tôi không còn ý thức được gì ngoài dòng máu nóng hổi đang phọt ra từ thân tôi… và gục xuống.
Khi tôi tỉnh lại nghe tiếng máy nổ dằn sóc trên đường đồi gồ ghề.Thì ra mình còn sống và đang được chuyển thương từ chiến xa M113.
Tôi nhắm mắt lại rồi hôn mê lúc nào, có lẽ mất máu quá nhiều. TĐ đưa tôi về bệnh viện Nguyễn Tri Phương Huế bằng trực thăng. Sau khi sơ cấp cứu họ đưa tôi ra ngay phi trường Phú Bài bay về Sài Gòn bằng máy bay C130 của không quân VNCH. Nơi đây 1 chiếc xe cứu thương , cấp tốc chở tôi về bệnh viện Đỗ Vinh của Sư đoàn dù. Trong phòng hồi sinh tôi chợt tỉnh và nghe 1 bác sỹ nói _không được phải chuyển qua Tổng Y Viện CỘNG HÒA ngay .
Khi tôi tỉnh lại lần nữa thấy mình đang nằm trong phòng hồi sinh của BV/Cộng Hòa,trên đầu tôi treo lũng lẳng những bịch máu và dịch truyền.Một bóng áo trắng của cô y tá với đôi mắt nhu hòa kề sát mặt tôi nhỏ nhẹ _ Anh tỉnh rồi hả?
Sau một ngày tôi được đưa qua khu Tổng Quát 7 và ở đây cho đến ngày rời bệnh viện. Qua mấy lần 29 ngày tái khám. Khi vết thương chưa lành hẳn , tôi nhớ đơn vị và chiến hữu quá,tôi xin ra vùng hành quân cùng anh em . Lúc nầy TĐ/11 đang dưỡng quân tại PHÁ TAM GIANG,tôi được cho nghĩ ngơi vì vết thương chưa lành, không có trách nhiệm gì hết, thường ra Huế uống trà ,đến chợ Cồn ăn chè , hay vào Quán ăn cơm Âm phủ ở đập đá và thường nhất đến hồ sen Tịnh Tâm trong thành nội uống café nghe nhạc.
Bổng một hôm tôi được giao nhiệm vụ Đại Đội trưởng ĐĐ 111 thay cho đại úy Trinh về TD7/ND.Lúc nầy tôi thăng 1 cấp là đại úy khi chưa tròn 23 tuổi. Một lần nữa tôi lại về với các chiến hữu 111. Và cùng anh em sống chết với nhau nhiều chiến trường cam go cho đến khi tôi lên chức vụ mới Trưởng Ban 3 ,Hành quân và Quân Huấn của TĐ11/ND lừng danh trong quân sử.
Hôm nay nhân dịp xuân về, ngồi nhâm nhi ly rượu mừng xuân Nhâm Dần giữa mùa băng tuyết xứ người. Hồi ức lại tuôn về,vội ghi lại câu chuyện thật “CHAI RƯỢU VĨNH BIỆT”mà nước mắt rưng rưng.
Lòng ray rức không nguôi vì không thể trao tận tay tấm hình người con gái Huế vợ sắp cưới của Phong. Về chủ nhân thật sự của nó. Lúc bị thương chiến y rách tươm,đẫm máu. Họ đã quăng nó nơi nào đó đâu biết ,trong mảnh chinh y đó có món vô giá với người đã hy sinh.với cô ấy và cả với tôi.
• Mùa tuyết bão 2022.
Chú Thích :
• Nhìn người lính UKRAINE hôm nay mà thương cho người chiến binh VNCH năm xưa, họ chiến đấu trong đơn độc với cả khối cộng sản thế giới.
• Những đàm thoại ngoài chiến trường trên máy truyền tin , điều được mã hóa (bí mật) theo ám danh đàm thoại và bí mật truyền tin.Nếu có nghe được địch vẫn không hiểu gì.
_ (1) Chuẩn Úy BÚP, một sỹ quan rất trẻ anh thuộc Pháo đội C ,Tiểu Đoàn 1 pháo binh Nhảy Dù. Là Tiền sát viên cho Đại Đội 112 khi tham chiến tại Động Ông Đô.
-------////------------------------__________
_CHIẾN SĨ VÔ DANH
Sáng tác : Phạm Duy
Ca sĩ : Hùng Cường
_MÙA XUÂN LÁ KHÔ
Sáng tác : Trần Thiện Thanh
Ca sĩ : Duy Khánh
_NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG
Sáng tác : Phạm Duy
Ca sĩ : Hương Lan
Labels:
mùa hè đỏ lửa,
nhảy dù vnch,
sư đoàn dù,
trận quảng trị 1972
Friday, May 3, 2019
QLVNCH: (Những Trận Đánh) – Đồi 1062 – SĐ Nhảy dù – Tướng Ngô Quang Trưởng & TT. Nguyễn Văn Thiệu
Đồi 1062 – SĐ Nhảy dù – Tướng Ngô Quang Trưởng & TT. Nguyễn Văn Thiệu
Vũ Linh Châu
Đồi 1062 là ngọn đồi án ngữ quận lỵ Thượng Đức gần ngã ba Thạnh Mỹ. Đây là một địa điểm chiến lược vô cùng quan trọng trên con đường Trường Sơn Đông. Tại vì dẫy núi Bạch Mã cắt ngang VN từ bờ biển tới tận Hạ Lào, Cộng Sản BV chỉ có thể vượt qua dẫy núi hiểm trở này tại hai địa điểm là đèo Hải Vân ở sát bờ biển và quận lị Thường Đức ở sát biên giới Lào-Việt.(Địa điển này còn được gọi là ngã ba Thạnh Mỹ vì đây lả giao điểm của QL 14 và QL 14B. QL 14 tức là xa lộ HCM, còn QL 14B chạy về hướng Đông, ven theo sườn phía nam của dẫy Bạch Mã để xuống Hội An, Đà Nẵng. (Xin xem bản đồ trong attachment).
1- Vị trí chiến lược của Thường Đức:
Trong khi quân đội Mỹ còn tham chiến tại Việt Nam, với những phương tiện tối tân và dồi dào, như trực thăng võ trang, máy bay oanh tạc, nhất là với B52 trải thảm, biên giới Việt-Lào đã được khống chế chặt chẽ, quân đội Bắc Việt đã phải sử dụng đất Lào để chuyển quân vào Miền Nam, vừa xa xôi vừa khó khăn cực khổ. Nhưng từ ngày Việt Nam hóa chiến tranh, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã không còn đủ phương tiện để kiểm soát và chế ngự vùng biên giới xa xôi hiểm trở này nữa, cho nên Cộng quân đã tự do tung hoành, như chỗ không người. Chúng đã xây dựng một đường chuyển quân mới cho các đoàn xe tăng T54, xe vận tải Molotova, và cả các đường ống dẫn dầu từ Bắc vào Nam nữa. Con đường này hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Cái gọi là con đường HCM này bắt đầu từ hải cảng Vinh, chạy sang lãnh thổ Lào, khi gặp QL 9 thì vào Miền Nam VN tại cửa khẩu Lao Bảo. Sau khi đi qua Khe Sanh thì gặp QL 14 để vào thung lũng A Shau, A Lưới. Tới A Dớt, con đường sẽ băng ngang qua dẫy Bạch Mã tại A Tép, rồi thị trấn Hiên (P’rao), để tới sườn núi phía Nam tại ngã ba Thành Mỹ (hay Thường Đức là chỗ chúng ta đang đề cập tới). Sau đó, tiếp tục xuôi Nam, con đường này sẽ gặp Khâm Đức, Dak Sut, Tân Cảnh, Đắc Tô rồi chạy sang đất Lào để vào các tỉnh QĐ III vì từ Đắc Tô, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột là vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa. (Xin xem bản đồ trong attachment.
Nhưng muốn cho xe cộ thông suốt được đoạn đường từ Bắc tới Đắc Tô, Tân Cảnh, quân đội Miền Bắc phải giải tỏa được một cái nút chặn gần ngã ba Thạnh Mỹ, đó là quận lỵ Thường Đức.
2- Việc phòng thủ Thường Đức:
Cho đến đầu tháng 8, 1974, nghĩa là chỉ ít tháng trước ngày mất nước, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn chiếm giữ được cái nút chặn chiến lược này. Nếu giải tỏa được Thường Đức, không những VC sẽ khai thông được con đường HCM mà còn dễ dàng chuyển quân uy hiếp Hội An, Đà Nẵng nữa. (Xin xem bản đồ)
Vì Thường Đức (gần ngã ba Thạnh Mỹ) giữ một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như vậy, nên nơi đây đã là một bãi chiến trường đẫm máu nhất trong những tháng sau cùng của cuộc chiến Việt Nam. Và đó cũng là một chiến trường quyết định cho vận mệnh của Miền Nam VN chúng ta.
Lúc đầu, Thường đức do 1 Tiểu đoàn Địa Phương Quân trấn giữ, khi biết Cộng quân sắp đánh chiếm Thường Đức, khoảng cuối tháng 6 năm 1974, TĐ 79 Biệt Động Quân đã được điều động từ Quảng Ngãi ra tăng cường phòng thủ Thường Đức. Các tướng lãnh Miền Bắc đánh giá rằng “Đánh Thường Đức còn khó hơn đánh Quảng Trị” vì địa thế của Thường Đức rất hiểm trở. Nên vào giữa năm 1974, VC đã huy động tới 3 Sư đoàn để quyết giải tỏa cái nút chặn chiến lược này. Riêng ngày cuối cùng, 7/8/1974, địch đã pháo vào quận lỵ nhỏ bé này 1200 trái hỏa tiễn 120 ly.
- Tái chiếm Thường Đức – Đồi 1062.
Sau khi Quận lỵ Thường Đức bị tràn ngập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã điều động Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 3 Dù để quyết tái chiếm Thường Đức. Sau nhiều trận đánh khủng khiếp, lực lượng Nhảy Dù mới kiểm soát được ngọn đồi chiến lược 1062 án ngữ thung lũng Thường Đức và chế ngự con đường giao thông với quận Đại Lộc. Những ngày sau đó, địch quân đã nhiều lần tràn lên quyết chiếm lại ngọn đồi sinh tử này, nhưng đều bị lực lượng Dù đẩy lui, các Thiên Thần Mũ đỏ vẫn ngự trị trên đồi 1062. Sau hơn một tháng, với những cuộc phản công thất bại liên tiếp, tổn thất vô cùng to lớn, ngày 29/10/1974, Cộng quân dùng súng phun lửa, phóng hỏa đốt đồi 1062, khiến các chiến sĩ Dù phải rút khỏi đỉnh đồi. Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh cho Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Sư Đoàn Dù phải tái chiếm đồi 1062 bằng bất cứ giá nào. Ngày 8.11.1974, các chiến sĩ Dù đã phải dành từng tấc đất, sử dụng chủ yếu là lựu đạn, chiếm từng hố cá nhân, diệt từng cái chốt, suốt 3 ngày 3 đêm mới làm chủ được đồi 1062 trở lại.
Tuy nhiên, địch quân đã thiết lập được một phòng tuyến vô cùng kiên cố để bảo vệ con đường HCM, nên mặc dầu đã tận dụng mọi khả năng, quân đội ta cũng không thể tái chiếm quận lỵ Thường Đức được. Những trận đánh ác liệt quanh quận lỵ Thường Đức gần Ngã ba Thạnh Mỹ này đã kéo dài trong gần 4 tháng, riêng binh chủng Nhảy Dù, số chiến sĩ hy sinh và bị thương lên đến gần 50% quân số tham chiến.
Để hiểu rõ hơn về những hy sinh vô cùng to lớn, những gian lao vô bờ bến và những tấm gương can trường không bút mực nào có thể mô tả được, xin mời quí vị đọc lại lời tường thuật của hai sỹ quan Nhảy Dù, Đại Úy Võ Trung Tín và Đại Úy Nguyễn Hữu Viên trong tác phẩm “33 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Đức”:
Sau khi tường thuật chi tiết về các trận đột kích và tử thủ vô cùng can trường gan dạ của các Thiên Thần Mũ Đỏ tại ngọn đồi 1062, tác phẩm đã viết:
“ …Đỉnh đồi 1062 là một nấm mồ tập thể khổng lồ, chôn sống không biết bao nhiêu sinh mạng của cả hai bên. Một khi quân ta vừa chiến được Đồi 1062, thì lâp tức địch giội pháo, điên cuồng xông lên quyết chiếm lại cho bằng được. Cả hai bên mất đi giành lại đỉnh đồi 1062 nhiều lần…”Cái giá”để chiếm được Đồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của các chiến trận mà các chiến sỹ Dù đã gặp phải từ trước tới nay… Năm Tiểu Đoàn Dù đã bị tổn thất nặng nề, nặng nhất là Tiểu Đoàn 3 của Thiếu Tá Võ thanh Đồng…”
” Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Đức vào ngày 15 tháng 8, 1974, liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực Đồi 1062, các đơn vị Nhảy Dù đã thiệt hại đến 50 phần trăm quân số, với gần 500 chết và 2,000 bị thương. Sư Đoàn Dù sử dụng luân phiên tổng cộng 7 tiểu đoàn trong chiến dịch này và đến giữa tháng 11, có đến 6 tiểu đoàn hoạt động trong khu vực Đồi 1062…”
(Hình như đâu đây cũng đang có những giọt nước mắt tự động trào ra, những giọt nước mắt tiếc thương và thán phục).
Đọc qua vài đoạn tóm lược nêu trên, mọi người sẽ tự hỏi tại sao Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chấp nhận đưa lá bài chủ lực của mình là hai lữ đoàn của Sư Đoàn Nhảy Dù để quyết chiếm một ngọn đồi khô cằn tại một quận lỵ đèo heo hút gió, xa cách những miền dân cư trù phú dưới vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung. Tại sao Quân lưc Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh những người con anh dũng và thiện chiến nhất của mình trong một trận đánh khủng khiếp như vậy?
Chắc chắn là vì ngọn đồi 1062 và quận lỵ Thường Đức đã giữ một vị trí chiến lược sinh tử cho vận mệnh của Miền Nam Viêt Nam.
Trước nhất, như đã trình bày ở trên, quận lỵ Thường Đức không những án ngữ trên đường Trường Sơn Đông, đường xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Miền Nam, mà nó còn là một nút chặn trên quốc lộ số 14B là quốc lộ ven theo sườn phía nam của dẫy núi Bạch Mã, chế ngự đường tiến của Cộng quân từ đường Trường Sơn xuống Đà Nẵng và các quận lỵ thuộc Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi…
(Xin xem bản đồ).
Lý do thứ hai, và có lẽ là lý do chủ yếu khiến cho ngọn đồi 1062 đã nhuộn đỏ máu đào – là vì Thường Đức là một nút chặn duy nhất trên đường Trường Sơn mà chúng ta có thể phòng thủ được vì nó có thể yểm trợ được bằng pháo binh từ các quận lỵ và các cứ điểm lân cận.
Tại các vùng rừng núi doc theo con đường Trường Sơn, mây mù dầy đăc bao phu quanh năm, nhất là vào các tháng mùa mưa, khiến việc yểm trợ bằng không quân rất khó thực hiện. Xin đan cử vài dẫn chứng:
– Một cứ điểm khác cũng án ngữ trên Đường Trường Sơn là Khâm Đức, nhưng vì quá xa, chỉ có thể yểm trợ bằng không quân, nên chính lực lượng Đặc Biệt của Mỹ cũng đã phải rút bỏ. Đầu năm 1970, Sư Đoàn 2 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa do tướng Nguyễn văn Toàn chỉ huy đã bất ngờ tái chiếm nút chặn chiến lược này. Nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó ta cũng phải rút lui vì Khâm Đức nằm quá xa, ngoài tầm tác xạ của pháo binh. (Tôi đã may mắn được tham gia trận đánh này cùng với Tiểu đoàn 1, Trung Đoàn 6 của ĐT Phạm văn Nghìn.Và trong chuyến đi dọc theo đường mòn HCM này, tôi đã vô cùng hãnh diện được đứng cạnh Bà Xã tại ngọn đồi Khâm Đức nơi mà tôi đã được thả xuống bằng trực thăng – (Xin xem hình trong attachment)
– Thung lũng A Sau, A Lưới cũng vì nằm ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, nên ngay từ năm 1965, Lực lượng Đặc Biệt của quân đội Hoa Kỳ cũng đã phải di tản khỏi thung lũng chiến lược này. (Xin xem phần “Thung lũng A Shau trang 159 trong Trường Sơn Trường Hận)
– Ngay cả Khe Sanh, một cứ điểm vô cùng quan trọng trên quốc lộ 9, chặn đường xâm nhập của quân đội miền Bắc từ bên Lào qua, nhưng vào cuối năm 1968, sau gần một năm tử thủ, quân đội Mỹ cũng đã phải bỏ ngỏ căn cứ yết hầu này. (Xin xem phần Khe Sanh, Lao Bảo trang 191).
Và sau cùng, phải chăng, nếu tái chiếm và tử thủ được ngọn đồi 1062 và quân lỵ Thường Đức, chúng ta sẽ rút lui khỏi Quảng Trị, Thừa Thiên và sẽ cứu được Miền Nam. Tại vì, như đã nói, dẫy núi Bạch Mã là một chiến lũy thiên nhiên vô cùng hiểm trớ, chạy băng ngang qua lãnh thổ VN, từ bờ biển vào sâu trong nội địa Lào. Chúng ta sẽ chỉ phải phòng thủ tại hai địa điểm là Đèo Hải Vân và Thường Đức mà thôi. (Xem “Nếu bỏ Quảng Trị, Thừa Thiên…” trang 318)
Tuy nhiên, các diễn biến chung quanh biến cố Thường Đức này đã đặt ra nhiều câu hỏi rất khó trả lời. Chẳng hạn:
– Nếu đã biết Thường Đức giữ một vị trí chiến lược sinh tử cho Miền Nam như vậy, thì sao không quyết tâm phòng thủ từ trước. Như chúng ta đã biết, lúc đầu, Thường Đức chỉ được phòng thủ bởi một tiểu đoàn Địa Phương Quân, khoảng cuối tháng 6, 1974, khi biết Việt cộng sắp đánh chiếm Thường Đức, nhưng Tướng Ngô Quang Trưởng cũng chỉ điều động một tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân từ Quảng Ngãi ra tăng cường mà thôi!
– Nhà văn Lữ Giang đã viết…” sau khi cuộc chiến được Việt Nam hóa, các nhà lãnh đạo quân sự của Miền Nam đã không nhận ra được tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức, không thấy được chiến lược và chiến thuật của Cộng quân là khai thông con đường Đông Trường Sơn để đưa quân xuống đánh thẳng vào Sài Gòn, nên không quan tâm đến Thường Đức…
Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc cắt ngang con đường Đông Trường Sơn của Thường Đức, mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống Miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng”
Ngoài ra, một vấn nạn lịch sử còn rất khó tìm câu trả lời hơn nữa. Đó là gần như ngay sau khi quận lỵ Thường Đức vừa thất thủ thì Bộ TTM QLVNCH đã điều động hai Lữ Đoàn Nhảy Dù ra để … tái chiếm. Tất cả chúng ta đều đã biết cái giá phải trả cho một cuộc tái chiếm sẽ to lớn hơn là việc phòng thủ gấp bội. Sự thương vong của hơn 50% quân số tham chiến thuộc Sư Đoàn Dù đã cho chúng ta thấy rõ điều này.
Do đó, nhận xét của nhà văn Lữ Giang trên đây cũng không phải là qúa đáng và vô căn cứ.
Xin được đóng góp một ý kiến cá nhân về các vấn nạn nói trên như sau:
Phải chăng, ngay sau khi Thường Đức vừa thất thủ thì TT Nguyễn Văn Thiệu đã bất ngờ thay đổi một điểm trong chính sách “Bốn Không” của ông. Ông sẽ cắt bỏ vùng đất phía Bắc dẫy Bạch Mã là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên. Do đó mà đã có lệnh tái chiếm ngọn đồi 1062 và quận Thường Đức để dùng dẫy núi Bạch Mã như một chiến lũy thiên nhiên để tử thủ Miến Nam từ Đà Nẵng trở vào mà thôi.
Nhưng mà phải chăng chiến lược mới này của TT Nguyễn Văn Thiệu đã được thay đổi và ban hành qúa trễ. Từ chỗ bể vỡ tại Thường Đức này, Làn Sóng Đỏ đã cuồn cuộn ùa vào và toàn bộ Miền Nam VN đã bị nhận chìm trong ngày Quốc Hận 30-4-1975.
Vũ Linh Châu
TRẬN THƯỜNG ĐỨC 1974
. . .
Lãnh thổ miền Trung khi đi qua ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thì thu nhỏ lại, có nơi bề ngang chỉ 50 cây số, nhưng khi qua khỏi đèo Hải Vân đi vào tỉnh Quảng Nam, lãnh thổ bung rộng ra. Vì thế, tỉnh Quảng Nam rất lớn, có diện tích đến 11.043 cây số vuông. Tuy nhiên, 72% lãnh thổ tỉnh này là núi rừng, trong đó có rất nhiều đỉnh núi rất cao như đỉnh Lam Heo 2.045m, đỉnh Tion 2.032m, v.v. Có nhiều khu rừng nguyên sinh chưa khai phá như rừng Phước Sơn. Chỉ khoảng 25% lãnh thổ là đồng bằng. Vì thế, việc bảo vệ Quảng Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Năm 1962, để bảo vệ an ninh lãnh thổ và phát triển, chính phủ Ngộ Đình Diệm đã ban hành sắc lệnh chia tỉnh Quảng Nam ra thành hai tỉnh: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín. Tỉnh Quảng Nam từ đèo Hải Vân đến sông Rù Rì và tỉnh Quảng Tín là phần đất còn lại.
. . .
Lãnh thổ miền Trung khi đi qua ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thì thu nhỏ lại, có nơi bề ngang chỉ 50 cây số, nhưng khi qua khỏi đèo Hải Vân đi vào tỉnh Quảng Nam, lãnh thổ bung rộng ra. Vì thế, tỉnh Quảng Nam rất lớn, có diện tích đến 11.043 cây số vuông. Tuy nhiên, 72% lãnh thổ tỉnh này là núi rừng, trong đó có rất nhiều đỉnh núi rất cao như đỉnh Lam Heo 2.045m, đỉnh Tion 2.032m, v.v. Có nhiều khu rừng nguyên sinh chưa khai phá như rừng Phước Sơn. Chỉ khoảng 25% lãnh thổ là đồng bằng. Vì thế, việc bảo vệ Quảng Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Năm 1962, để bảo vệ an ninh lãnh thổ và phát triển, chính phủ Ngộ Đình Diệm đã ban hành sắc lệnh chia tỉnh Quảng Nam ra thành hai tỉnh: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín. Tỉnh Quảng Nam từ đèo Hải Vân đến sông Rù Rì và tỉnh Quảng Tín là phần đất còn lại.
* Quảng Tín gồm 6 quận: Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước, Hiệp Đức, Hậu Đức và Lý Tín.
* Quảng Nam được chia ra 9 quận: Đức Dục, Quế Sơn, Thường Đức, Hiếu Đức, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang và Hiếu Nhơn.
Thường Đức là một quận mới được thành lập năm 1962, tách ra khỏi quận Đức Dục cũ, nằm sâu vào trong núi. Từ quận Điện Bàn nằm trên Quốc lộ 1 có Liên tỉnh lộ 4 chạy nép theo sông Vu Gia dẫn vào Thường Đức dài khoảng 40 cây số, nhưng đường sá rất hiểm trở. Thường Đức nằm ở ngã tư Liên tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 14. Sở dĩ chính phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập quận này là để cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân di chuyển vào Nam. Vùng chung quanh đường 14 có bộ lạc Katu sinh sống.
Con đường 14, khi qua khỏi phía sau đèo Hải Văn thì gặp Hiên, người Pháp gọi là Prao, nằm cách Đà Nẵng khoảng 90 cây số, sau đó đi xuống thung lũng sông Vu Gia, nơi có bến Giằng nằm trên nhánh sông Cái và quốc lộ 14. Thung lũng này không rộng lắm. Tại đây có một đồn biên giới của Pháp ngày xưa và có một số làng Việt Nam sống bên ngoài thung lũng. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã dùng nơi đây làm quận lỵ Thường Đức.
Qua khỏi Thường Đức, đường 14 đi vào mật khu Hiệp Đức của Cộng quân, chạy dọc phía trên các quận Đức Dục, Tiên Phước, Hiệp Đức và Hậu Đức, vào đến Khâm Đức thuộc Phước Sơn rồi quẹo lên Kontum.
DỨT ĐIỂM THƯỜNG ĐỨC
Tỉnh Quảng Nam là vùng xôi đậu. Dựa trên tài liệu “Việtnam from Cease-Fire to Capitulation” (Từ Đình Chiến đến Đầu Hàng) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ do Đại Tá William E. Le Gro biên soạn, và dựa trên sự tường thuật của nhiều nhân chứng, chúng tôi xin tóm lược về trận Thường Đức như sau:Trong thời gian 1973 và 1974, phía Việt Nam Cộng Hòa có Sư Đoàn 3 Bộ Binh trấn giữ tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Tín. Sư đoàn này có ba trung đoàn cơ hữu là Trung Đoàn 2, Trung Đoàn 56 và Trung Đoàn 57. Trung Đoàn 2 phụ trách khu vực Gò Nồi và quận Đức Dục. Trung Đoàn 56 chịu trách nhiệm về hai quận Quế Sơn và Thăng Bình. Trung Đoàn 57 là trung đoàn trừ bị.
Hai nơi hiểm yếu và chịu áp lực nặng nhất là Nông Sơn và Thường Đức, được giao cho Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân. Liên đoàn này có 3 tiểu đoàn là 77, 78 và 79. Tiểu Đoàn 78 đóng ở Nông Sơn và Tiểu Đoàn 79 đóng ở Thường Đức. Quận lỵ Thường Đức vốn do một tiểu đoàn Địa Phương Quân bảo vệ. Vào giữa tháng 6 năm 1974, khi được tin Cộng quân có thể tấn công Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 mới được đưa từ Quảng Ngãi về trấn giữ vị trí này.
Phía Cộng quân có Sư đoàn 711 và Trung Đoàn 52 biệt lập. Sư đoàn 711 có các trung đoàn 31, 38 và 270. Ngoài ra, Cộng quân còn có Tiểu Đoàn 10 Đặc Công. Sư Đoàn 711 đặt bản doanh tại mật khu Hiệp Đức nằm khoảng giữa Nông Sơn và Hậu Đức thuộc tỉnh Quảng Tín, và khống chế toàn bộ con đường 14 trong lãnh thổ tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, vì kẹt đồn Thường Đức, Cộng quân không thể khai thông đường 14 được. Tháng 6 năm 1974, Hà Nội ra lệnh dứt điểm Thường Đức, trước là để khai thông con đường Đông Trường Sơn, sau là thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ.
Trong năm 1972, Sư Đoàn 711 đã chiếm quận Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam và Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín. Tháng 7 năm 1972, Sư Đoàn 3 VNCH và Biệt Động Quân đã chiếm lại hai quận này, sau đó mở cuộc hành quân Quang Trung 81 tiến từ Quế Sơn vào mật khu Hiệp Đức. Sư Đoàn 711 bị thiệt hại nặng, Trung Đoàn 270 của sư đoàn này phải bị giải thể. Đến năm 1974, Sư Đoàn 711 được đổi tên thành Sư Đoàn 2 và bắt đầu hoạt động trở lại với ba Trung Đoàn 1, 31 và 38. (Xin đừng lầm lẫn Sư Đoàn 2 này với Sư Đoàn 2 Sao Vàng đã bị B-52 tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972 và sau đó phải giải thể).
Vào khoảng tháng 6 năm 1974, kẻ viết bài nầy có đi với một phái đoàn báo chí ra Đà Nẵng và được đưa lên Thường Đức bằng trực thăng để quan sát mặt trận. Chúng tôi được nghe thuyết trình về các hoạt động của Cộng quân chung quanh quận Thường Đức và cho biết Cộng quân sắp tấn công Thường Đức. Như vậy Quân Đoàn I đã nắm rất vững kế hoạch tấn công của địch và sau đó đã đưa Tiểu Đoàn 79 BĐQ về trấn giữ ở đây.
Tuy Thường Đức chỉ do Tiểu Đoàn 79 BĐQ và một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ, nhưng các Tướng của Cộng quân đã cho rằng “đánh Thường Đức còn khó hơn đánh Quảng Trị”, vì vị thế của Thường Đức rất hiểm trở. Vì thế, Bắc Việt phải huy động gần 3 sư đoàn để đánh Thường Đức: Sư Đoàn 2, Sư Đoàn 304, Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308.
Ở đây chúng tôi cũng xin mở một dấu ngoặc: Sư Đoàn 308 là một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, đã từng gây kinh hoàng cho Sư Đoàn 3 VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lữa ở Quảng Trị. Nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, Sư Đoàn 308 đã bị B-52 tiêu diệt, chỉ còn lại khoảng một trung đoàn, tập hợp là thành Trung Đoàn 36. Phải chăng trong trận này, Cộng quân muốn dùng cái tên Sư Đoàn 308 để uy hiếp tinh thần của Sư Đoàn 3 VNCH?
Sư Đoàn 2 CQ và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 có nhiệm vụ chận các đường tiếp viện. Trung Đoàn 29 thuộc Sư Đoàn 324B và Sư Đoàn 304, một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, mở cuộc tấn công thẳng vào Thường Đức. Mặt trận do Tướng Hoàng Đan, Quân Đoàn Phó Quân Đoàn 2 của Cộng Quân làm Tư Lệnh.
Trước khi đánh Thường Đức, ngày 18.7.1974 Cộng quân cho Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 đánh chiếm Nông Sơn, nơi đang do Tiểu Đoàn 78 BĐQ trấn giữ. Cụm phòng thủ Nông Sơn “ Trung Phước nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên, cách quận lỵ Đại Lộc chỉ 16 cây số. Với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CQ và Tiểu Đoàn 10 Đặc Công, vào trưa 18.7.1974, Cộng quân đã tràn ngập căn cứ Nông Sơn. Sư Đoàn 3 VNCH liền đưa Trung Đoàn 2, một pháo đội 155 ly, một pháo đội 175 ly và một chi đoàn của Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh đánh chiếm lại, nhưng không tái chiếm được và bị thiệt hại nặng. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 VNCH phải huy động Liên Đoàn 12 BĐQ (gồm ba tiểu đoàn 21, 37 và 39) vào thay Trung Đoàn 2 mới tái chiếm được.
Ngày 29.7.1974, Cộng Quân mở cuộc tấn công vào quận Đức Dục do Tiểu Đoàn 21 BĐQ trấn giữ và bắn pháo vào phi trường Đà Nẵng, đồng thời cho Trung Đoàn 29 tấn công vào Chi Khu Thường Đức do Địa Phương Quân trấn giữ. Thông tin với Chi Khu bị mất liên lạc. Từ Đồi 52 gần Đại Lộc, Cộng quân đã pháo kích rất chính xác vào các vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 79 BĐQ. Hai tiền đồn BĐQ ở phía tây bị mất liên lạc.
Sáng 30.7.1974, Chi Khu Phó Chi Khu Thường Đức bị thương do pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên Liên tỉnh lộ 4 ở phía tây Thường Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy được 3 chiến xa của Cộng quân và nhiều xe vận tải khác. Cũng trong ngày 30.7.1974, Biệt Động Quân đã bắt được một tù binh của Cộng quân và biết được lực lượng của Cộng quân đang mở cuộc tấn công là Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B.
Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn công vào Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 BĐQ gọi pháo binh bắn trọng pháo vào ngay Bộ Chĩ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ Công quân đã tràn ngập Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn. Được tin này, Tướng Nguyễn Duy Hinh quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn 3 đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo LTL 4 đến giải cứu Thường Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa đại bác 175 ly vào Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức, trong khi đó Không Quân đến oanh tạc vòng đai quanh Thượng Đức, gây tử thương cho 13 Cộng quân và 45 bị thương.
Tiểu đoàn 79 BĐQ có nhiều người bị thương nên đã yêu cầu cho trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng chỉ khi nào diệt xong các ổ súng phòng không của Cộng quân quanh Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.
Khi thấy tình hình nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng đã ra lệnh cho một Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ, Thừa Thiên, di chuyển ngay vào Đà Nẵng để giải cứu Thường Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48 vừa đến Đà Nẵng, Tướng Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm gồm có Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm Thường Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.
Ngày 4.8.1954, Biệt Động Quân tìm thấy 53 xác Cộng quân bị máy bay oanh tạc chết ở những ngọn đồi phía tây nam Thường Đức.
Ngày 5.8.1974, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 bắt được một tù binh. Tù binh này khai thuộc Trung Đoàn 29 và cho biết trung đoàn này đang đóng giữa Thường Đức và Đồi 52. Tướng Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi 52, nhưng khi còn cách đồi này khoảng 4 cây số thì phải dừng lại vì pháo của Cộng quân quá mạnh.
Trong khi đó, Trung đoàn 66 của Sư Đoàn 304 bắt đầu tấn công vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 BĐQ cho biết đạn dược và lương thực bắt đầu cạn. Máy bay đã đến thả đạn dược và lương thực xuống cho Tiểu Đoàn 79, nhưng không may tất cả đã rơi ngoài vòng rào, vì máy bay không dám bay thấp.
Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng 1200 trái pháo vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ binh tràn vào. Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 BĐQ thông báo không còn giữ căn cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc. Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ.
LỰC LƯỢNG DÙ THAM CHIẾN
Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, cuộc chiến Việt Nam tạm ngưng, nhưng hai sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến vẫn còn được Tướng Ngô Quang Trưởng lưu giữ tại Quân khu I.
Ngày 7.8.1974, sau khi Thường Đức bị chiếm và áp lực của Cộng quân đè nặng ở phía tây Đà Nẵng, Tướng Ngô Quang Trưởng quyết định đưa Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù từ Thừa Thiên vào Đà Nẵng để tái chiếm Thường Đức.
Ngày 8.8.1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn trực thuộc đã được vận chuyển đến Đại Lộc ở phía đông Thường Đức. Ngày 11.8.1974, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù được di chuyển bằng phi cơ xuống phi trường Đà Nẵng sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm cho Liên Đoàn 15 BĐQ. Sau đó, Tướng Lê Quang Lưởng cho di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù vào đặt bản doanh gần bờ biển Non Nước, phía đông nam thành phố Đà Nẵng để chỉ huy.
Biết Quân Lực VNCH sẽ tìm cách chiến lại Thường Đức, Cộng quân cho Trung đoàn 29 chiếm giữ những ngọn đồi thấp ở phía nam của dãy núi núi cao chạy dọc theo sông Vu Gia và Liên tỉnh lộ 4, ngăn chận con đường gồ ghề và ngoẳn nghèo đi vào Thường Đức. Điểm cao nhất của dãy núi nầy là đỉnh 1235 cách Liên tỉnh lộ 4 khoảng 6 cây số về phía bắc. Đỉnh thứ hai là đỉnh 1062 nằm ở phía nam cách đỉnh 1235 khoảng 2 cây số. Cộng quân đã chiếm đỉnh 1062 để có thể kiểm soát đoạn đường từ Đại Lộc đến Thường Đức. Cộng quân cũng cho các tiền sát viên điều chỉnh pháo binh bắn chính xác vào các đơn vị của VNCH ở Đại Lộc. Vì thế, nhiệm vụ đầu tiên của hai Lữ Đoàn Dù là phải chiếm đỉnh 1062 bằng mọi giá.
Trước hết, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù được giao phó nhiệm vụ ngăn chận địch xâm nhập vùng quận Hiếu Đức. Ngày 18.8.1974, khi ba Tiểu đoàn 1, 8, và 9 Nhảy Dù vừa tiến quân thì đụng đầu ngay với các đơn vị của Trung đoàn 29 ở phía đông đồi 52 gần xã Hà Nha. Sau một tháng đánh nhau, hai bên đều bị thiệt hại nặng. Cộng quân phải điều Trung đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 2 vào Thường Đức thay thế Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 để Trung Đoàn 66 phụ lực với Trung đoàn 29 chống lại các đơn vị Nhảy Dù.
Vì Cộng quân đã cho làm các hầm hố kiên cố quanh đỉnh 1062 bằng những thân cây rừng to lớn nên pháo binh và không quân của VNCH không thể phá vỡ được. Do đó, Lữ Đoàn Dù đã phải quyết định phóng lựu đạn cay và bình E8 để buộc địch phải chui ra khỏi các hầm trú ẩn rồi xin máy bay thả bom lửa Napalm đốt. Nhưng Lữ Đoàn Dù vừa chiếm được các vị trí quan trọng quanh đỉnh 1062 được ít lâu, Cộng quân đã dùng một lực lượng đông đảo hơn để chiếm lại. Hai bên bị tiêu hao rất nặng.
Vào đầu tháng 9/1974, Cộng quân cho thêm Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 304 đến trợ chiến với Trung Đoàn 29 và Trung Đoàn 66. Nhưng vào chiều ngày 19.9.1974, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù báo cáo đã chiếm được đỉnh 1062.
Ngày 2.10.1974, Tiểu đoàn 2 và Thiểu Đoàn 9 Nhảy Dù mở cuộc lục soát ở khu vực quanh đồi 1062 và dãy Sơn Gà, khám phá ra khoảng 300 xác địch và bắt sống được 7 tù binh thuộc Sư Đoàn 304. Một tuần sau, Sư Đoàn 304 lại mở cuộc tấn công tái chiếm đỉnh 1062. Nhưng nhờ pháo binh và phi cơ yểm trợ, các đơn vị Dù vẫn giữ vững đồi 1062.
Tính đến trung tuần tháng 10/1974, sau gần 2 tháng quần thảo với Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 304 của Cộng Quân, Lữ Đoàn 1 Dù gồm 4 tiểu đoàn đã bị tổn thất khoảng 500 chiến sĩ vừa chết vừa bị thương. Phía Cộng quân bị thiệt mất trên 1200 người và 14 người bị bắt làm tù binh.
Ngày 29 tháng 10 năm 1974, Trung đoàn 24 của Sư Đoàn 304 đã dùng súng phóng hỏa đốt đồi 1062 khiến các lực lượng Dù phải rút khỏi đỉnh đồi. Ngày 1.11.1974 Cộng quân lại chiếm giữ đồi 1062 một lần nữa.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng liền ra lệnh cho Tướng Lê quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, phải lấy lại đồi 1062 với bất cứ giá nào. Ngày 8.11.1974, lực lượng Dù lại bắt đầu mở cuộc phản công và 3 ngày sau đã chiếm lại được đồi 1062,
Kể từ ngày 11.11.1974, Lực Lượng Dù đã ngự trị trên toàn ngọn đồi máu 1062 ở phía đông Thường Đức và thành lập tuyến phòng thủ trên các triền núi quanh đồi này. Công quân bị tiêu hao quá nhiều, không dám trở lại tấn công nữa. Tuy nhiên, Sư Đoàn 304 và Trung Đoàn 29 của Cộng quân đã thành lập một hệ thống phòng thủ vững chắc quanh Thường Đức để bảo vệ con đường 14, Quân Lực VNCH không thể tái chiếm Thường Đức được.
Vào cuối năm 1974, Lực Lượng Dù chỉ để lại trên đồi 1062 Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 7, và đặt Bộ Chỉ Huy tại đỉnh Đông Lâm cách đồi 1062 khoảng 4 cây số về phía đông, để ngăn chận không cho Cộng quân tái chiếm đồi 1062.
KẾT QUẢ TRẬN CHIẾN THƯỜNG ĐỨC
Những trận đánh ác liệt quanh Thường Đức kéo dài từ ngày 18.7.1974 đến ngày 11.11.1974 đã đem lại những kết quả như sau:
Về nhân mạng: Theo sự ước tính của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, khoảng 2000 Cộng quân đã bị thiệt mạng và 5000 bị thương. Về phía VNCH, Tiểu Đoàn 79 BĐQ không còn nữa. Lực lược Nhảy Dũ cả chết lẫn bị thương gần đến 50%.
Về lãnh thổ: Lực Lượng Nhảy Dù đã chiếm lại được đồi 1062 ở phía đông Thường Đức, nhưng không tái chiếm được Thường Đức.
Năm 1965 cũng đã xẩy ra một trận đánh lớn ở đây. Cộng quân đã tập trung một lực lượng khá lớn để mở cuộc tấn công vào quận Thường Đức. Lực lượng này gồm có Mặt Trận 44 Quảng Đà, Trung Đoàn Q.82 và Nông Trường 2 Sao Vàng. Trận đánh diễn ra tại Ba Khe, Hà Nha và đồi Tétonon (1062). Trung Đoàn 51 Bộ Binh biệt lập của Việt Nam Cộng Hòa phải chiến đấu một cách anh dũng và vất vả mới có thể giữ được phần đất này. Sau trận đánh đó, hầu hết nhà cửa trong quận đều bị thiêu rụi, xác chết trôi đầy sông. Những trận đánh lớn như thế lại tiếp diễn vào tháng 1 năm 1972. Nhưng chưa lần nào Thường Đức bị mất hẵn vào tay Cộng quân như lần này.
KHÔNG TRI BỈ TRI KỶ
Ngày xưa, khi đến cai trị Đông Dương, người Pháp đã nhận ra ngay tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức trên đường 14, nên đã lập một đồn tại đó để kiểm soát. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã nhận ra tầm quan trọng của Thường Đức trên đường tiến quân của Bắc Việt, nên đã biến Thường Đức thành một quận và hình thành Chi Khu Thường Đức để trấn giữ. Mỹ can thiệp vào Đông Dương cũng đã đánh giá cao tầm quan trọng của Thường Đức, nên đã tìm cách khóa chặt chốt này, không cho Cộng quân di chuyển xuống miền Nam. Cộng quân phải xử dụng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rất vất vã.
Điều đáng tiếc là sau khi cuộc chiến được “Việt Nam hóa”, các nhà lãnh đạo quân sự của miền Nam đã không nhận ra được tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức, không thấy được chiến lược và chiến thuật của Cộng quân là khai thông đường Đông Trường Sơn để đưa quân xuống đánh thẳng vào Sài Gòn, nên không quan tâm đến Thường Đức.
Nếu các tướng lãnh VNCH nhận ra được tầm quan trọng của Thường Đức, đưa khoảng một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến thiết lập những nút chặn quanh Thường Đức, Cộng quân khó có thể khai thông con đường Đông Trường Sơn được.
Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc cắt ngang con đường Đông Trường Sơn ở Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!
http://www.maplandia.com/vietnam/quang-nam-da-nang/dai-loc/thuong-duc/
Labels:
đôi 1062,
làng hà nha,
liên tỉnh lộ 4,
sông vu gia,
sư đoàn 3,
sư đoàn dù,
tđ 79 bđq,
tỉnh quảng nam,
trận thường đức 1974
Saturday, December 15, 2018
“Gần 40 năm trời trôi qua, tôi đã lần mò khắp nơi, và kể từ khi có internet thì ngày nào cũng lang thang trên khắp các trang mạng, cố tìm cho bằng được tông tích người bạn chí cốt là Ngô Văn Khiêm, nguyên Đại Úy, Pháo đội trưởng, pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù. Gặp gỡ bất cứ ai, nghe nói trước đây ở binh chủng Dù, tôi cũng dọ hỏi. Nhiều lần nhờ Du Tử Lê, liên hệ với anh em Nhảy Dù đang định cư ở Mỹ hỏi giùm, nhưng số anh em mà Du Tử Lê quen biết cũng chỉ lắc đầu. Mọi chuyện tưởng như đã không còn hy vọng, khi tuổi đời ngày càng chồng chất và thời gian còn lại trên trần gian cũng chẳng bao nhiêu. Bỗng dưng, cách nay nửa tháng, tôi tình cờ đọc được một bài viết ngắn của vài anh em NhảyDù đi tìm xác đồng đội, mới hay một năm trước đây, những anh em này, nhờ sự hướng dẫn của dân làng, đã tìm được một nấm mồ tập thể,chôn gần 2 xe GMC những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang. Bao gồm Trung tá Trần Văn Sơn,Lữ đoàn Phó, Lữ đoàn 2 Dù, Thiếu Tá Đặng Đình Tựu, trưởng ban 3 Tiểu Đoàn 1/Pháo Binh Dù, Đại Úy Ngô Văn Khiêm, Pháo dội trưởng Pháo đội A,Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, và nhiều anh em vô danh khác. Cà Tèm, một chiến sĩ mũ đỏ trong nhóm đi tìm xác cho biết, tất cả chỉ còn là những nắm xương tàn nằm chung với nhau một huyệt, nên đã giữ nguyên trạng nấm mồ tập thể và chỉ xây một cái miếu nhỏ để thờ. Ngay sau đó, tôi được đọc thêm một bài viết của Thiếu Tá Nhảy dù Trương Dưỡng, mới hiểu rõ bạn mình và đồng đội đã chiến đấu hào hùng và hy sinh bi tráng như thế nào. Dĩ nhiên, tôi đã khóc, khóc một cách tự nhiên cho dù “tuổi già hạt lệ như sương!” Sau bao nhiêu năm tìm nhau, giờ thì mới hay bạn mình đã vĩnh viễn nằm xuống và ở lại với mảnh đất Phan Rang trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Năm 1965, giã từ mái trường Thiếu Sinh Quân thân yêu, tôi thực sự bước vào cuộc chiến. Đơn vị đầu tiên trong đời chiến binh của tôi là trại LLĐB Lộc Ninh, nằm cuối phi đạo dã chiến, đủ cho các loại máy bay C.123, C119 và Caribu lên, xuống. Tất cả đều nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng bạt ngàn, xanh um trên nền đất bazan đỏ hơn màu máu. Cũng giống như hầu hết các trại LLĐB khác vào thời đó, toàn nằm dọc theo biên giới, hiếm có trại nào tọa lạc gần khu dân cư nên buồn lắm. Ấy vậy mà chỉ chưa đầy 3 tháng, tôi lại được lệnh lên trực thăng về tăng cường cho trại Chí Linh (Sông Bé) giữa lòng chiến khu Đ, cách Đồng Xoài chỉ hơn 10 cây số đường chim bay. Chưa hết, ở Sông Bé được mấy tháng, tôi lại vác ba lô lên thẳng Phước Long (BCH B.14 LLĐB), trình diện Đại Úy Lưu Yểm (Về sau ông làm tỉnh trưởng Phước Long, rồi Biên Hòa) và được điều phối về trại Bù Đốp. Đến khi, thành lập trại Tống Lê Chân (B.16 LLĐB), tôi lại theo chân mấy đại đội Biệt Kích Quân tăng cường qua đó một thời gian để làm hàng rào phòng thủ, bảo vệ cho công binh Mỹ san ủi mặt bằng, xây cất công sự...Cứ thế, quanh quẩn mãi với mấy cái trại biên phòng, thuộc B.14, B15, B16 cũng mất hết mấy năm. Sau Mậu Thân, tôi lại được quay trở về lại Lộc Ninh
Lúc bấy giờ, trại LLĐB Lộc Ninh đã dời lên ở giữa sân bay, cách chi khu Lộc Ninh 1 km, khu trại cũ dưới thung lũng được làm khu gia binh do một trung đội BKQ canh gác, bảo vệ. Quân số trong trại bao gồm một toán A LLĐB Hoa Kỳ (12 người), một toán A LLĐB VN (12 người) 2 Trung đội Trinh Sát, 4 Đại Đội BKQ (1 Đại đội toàn người Miên và 3 Đại đội có dàn chỉ huy là người Kinh, còn từ cấp Trung đội trưởng trở xuống, hầu hết là người dân tộc Stieng). Tổng cộng tất cả hơn 400 tay súng, nhưng một nửa quân số luôn hoạt động bên ngoài, có khi cách xa trại vài chục cây số là thường. Mọi sinh hoạt trong trại đều diễn ra dưới những căn hầm bán lộ thiên với 2/3 nằm dưới mặt đất và những giao thông hào kiên cố. Giữa năm 1968 trại bị Công trường 7 và 2 trung đoàn Q.762 Q.763 VC tấn công. Trận đánh khốc liệt này được đài phát thanh Quân Đội và các báo tại Sài Gòn hồi đó gọi là trận Dạ Chiến Lộc Ninh.
Vài tuần lễ sau khi trận chiến đi qua, có mấy xe Công Binh vào trại ủi đất để làm vị trí cho Pháo Binh. Chúng tôi được thông báo là trại sẽ được tăng cường 2 khẩu 105 ly. Chỉ một ngày sau khi vị trí hoàn chỉnh, thì một trung đội Pháo Binh thuộc Tiểu Đoàn 52/PB, Sư Đoàn 5, kéo súng vào trại. Chỉ huy Trung đội này là Trung Úy Nguyễn Trí Thức với 2 sĩ quan Tiền Sát Viên còn rất trẻ: Chuẩn Úy Ngô Văn Khiêm và Chuẩn Úy Huỳnh Công Ni. Khỏi phải nói, có thêm một trung đội người Kinh trong trại, chúng tôi vui biết chừng nào... Ngay buổi chiều hôm đó, tôi đã sang vị trí của họ để làm quen. Ngô Văn Khiêm quê ở Chợ Gạo, Mỹ Tho. Tánh tình hồn hậu, hay nói chuyện tiếu lâm và rất chân tình nên dễ gần gũi. Còn Huỳnh Công Ni gốc gác Đà Lạt, hiền lành nhưng có cung cách một công tử, con nhà giàu. Kể từ đó, tôi với Khiêm trở thành đôi bạn thân. Tối nào tôi cũng qua vị trí của Khiêm ngồi tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Có hôm nhậu lai rai, có hôm pha cà-phê ngồi uống cho tới khuya. Không ít lần, đang ngồi với nhau thì bị pháo kích. Tôi lao xuống giao thông hào chạy vội về vị trí. Chưa đến nơi đã nghe tiếng 105 ly phản pháo, át cả tiếng đạn súng cối nổ trên phòng tuyến. Những lần như thế, mới mờ sáng Khiêm đã chạy qua đánh thức tôi dậy, vừa nói, vừa cười: “Tao sang coi mày còn sống hay đã chết.”
Ở Lộc Ninh, trời đã buồn lại càng buồn hơn nữa vào những ngày mưa. Mưa làm cho mặt đất đỏ lầy lội, dính chặt như keo, nên chỉ còn ngồi trong hầm nhìn ra khoảng không gian chật chội, nặng chĩu màu mây xám xịt. Lúc bấy giờ, Huỳnh Công Ni đã có vợ, nên thường đem hình ra khoe với chúng tôi. Con gái Đà Lạt lúc nào cũng chưng diện thật đẹp. Còn tôi và Khiêm thì chưa đứa nào có được mối tình đầu. Khiêm kể:
-Hồi còn đi học ở Mỹ Tho, tao cũng phải lòng vài con bạn cùng lớp. Nhưng nhát quá, mới đứng gần đã run nên không dám tỏ tình, đành để mấy em ôm cặp theo mấy thằng bạo miệng, bạo mồm. Xong tú tài, thì xếp bút nghiên vào Thủ Đức, ra trường, đi làm pháo thủ toàn ở những nơi khỉ ho, cò gáy, thế là dang dở đời trai.
Thứ bảy, chúa nhật, hôm nào không hành quân, tôi và Khiêm cũng rủ nhau ra phố chợ Lộc Ninh vào quán A-Lìn, bên bờ suối, ngồi uống cà-phê. Đó là một phố chợ không đèn, hiu hắt với vài hàng quán lèo tèo và một bến xe bụi bặm, loe hoe vài chiếc xe đò cũ kỹ chạy đường Lộc Ninh-Bình Long. Dãy phố bên hông bến xe là tiệm thuốc tây Mặc Khải (thân phụ của nhà văn nữ Thụy Vũ) Nhưng ở đây vào ngày cuối tuần cũng rộn ràng bước chân của những cô thiếu nữ ở các làng cao su thuộc đồn điền Cexo của Tây, đổ ra mua sắm. Thấy chúng tôi ngắm nghía các em một cách say sưa, mấy anh
em Hạ Sĩ Quan An Ninh bên chi khu góp ý:
-Các xếp đừng đụng tới mấy em ở làng 2, làng 7, làng 9, làng 10, toàn là VC không đó. Mấy làng này nằm ngoài vòng kiểm soát của mình nên đậu nhiều hơn xôi!
Thật ra có cho kẹo thì chúng tôi cũng không dám đụng đến các em. Ít khi nào chúng tôi còn nấn ná ngoài chợ khi trời sắp ngã về chiều. Cứ kéo nhau vào trại là chắc ăn. Điều mà tôi với Khiêm thường nói với nhau là nghĩ đến một ngày phải chia tay, mỗi đứa một phương trời. Đời lính biết đâu mà hẹn trước!
Rồi một hôm, Chi Thông Tin Lộc Ninh tổ chức một đêm văn nghệ cây nhà lá vườn. Đây là một sinh hoạt văn hóa hiếm khi diễn ra ở cái vùng đất heo hút này. Trong số quan khách được mời có cả tôi và Khiêm. Đó là một đêm vui mà tiết mục hấp dẫn nhất là các em nữ sinh trường Trung học Lộc Ninh (Đệ nhất cấp) được các thầy cô dẫn đi làm khán giả cổ động... Trong số đó có con bé Mai thật dịu dàng, xinh xắn và dễ thương. Dường như Khiêm chẳng để ý đến những gì đang diễn ra trên sân khấu, mà chỉ quay sang chiêm ngưỡng cô bé như bị hút hồn. Nó chỉ Mai cho tôi, và nhở tôi tìm cách nói với cô bé, lát nữa có người muốn đưa về, có được không? Tôi cứ tưởng mình làm chuyện cầu âu cho vừa lòng bạn, nhưng không ngờ Khiêm và Mai quen nhau từ đó và tôi nghiễm nhiên trở thành ông mai. Một ông mai mặc áo rằn ri, chân đi giày bốt-đờ-sô. Giữa mùa mưa năm đó, Trung đội của Khiêm kéo súng về đồi Đồng Long (An Lộc), thay thế vào đó là một trung đội khác. Sáng sớm, tôi chạy qua chỗ Khiêm thì thấy 2 khẩu 105 ly đã được móc vào 2 xe GMC. Hai chúng tôi chỉ kịp ôm nhau nói lời từ biệt trước khi tôi dẫn một Đại đội Biệt Kích đi nằm đường, rải từ ngã ba Xóm Bưng đến cầu Cần Lê trên quốc lộ 13, để an ninh lộ trình cho trung đội của Khiêm di chuyển. Gần trưa, tôi đứng ở đầu cầu Cần Lê, thì Khiêm đi qua, nó ngồi trên ca-bin chiếc GMC đầu
tiên, cố thò đầu ra hét với tôi:
-Mày ở lại mạnh giỏi, thế nào cũng gặp lại nhau. Tao luôn nhớ mày.
Tôi quay mặt sang hướng khác, không nhìn đoàn xe đi qua. Xong nhiệm vụ, tôi rút quân về. Buổi chiều ngồi một mình uống cạn mấy lon bia mà nhớ bạn đến nao lòng. Ngày đó, làm gì có điện thoại di động như bây giờ. Ngay cả điện thoại hữu tuyến cũng chỉ nối đường dây nội bộ trong phạm vi trại mà thôi. Liên lạc xa chỉ trông cậy vào máy siêu tần số với hệ thống quay đầu bò (dinamo) và một hiệu thính viên... Còn liên lạc ngắn thì có máy ANPR C25. Chính vì thế mà có nhớ nhau đến mấy, tôi và Khiêm cũng không thể liên lạc với nhau. Mấy tuần sau, tôi nhận được thư Khiêm, nó nói, về nằm với Pháo Đội trên đồi Đồng Long, sát nách tỉnh lỵ Bình Long nên cũng đỡ khổ. Gần cuối thư nó viết: “Tao báo cho mày hai tin vui. Thứ nhất, tao và Huỳnh Công Ni vừa làm đơn xin thuyên chuyển qua Pháo Binh Nhảy Dù, đơn đã được chuyển đi. Thứ hai, Mai cũng vừa về Bình Long trọ học (đệ nhị cấp). Tao định sẽ cưới Mai làm vợ, nhưng không biết nhà người ta có chịu gả con cho đám lính tráng như tụi mình hay không?” Tôi đã đọc thư Khiêm nhiều lần đến thuộc lòng.Tháng sau, theo chân một cuộc hành quân mở đường để đoàn công-voa của đồn điền cao su CEXO chở gạo lên cho hơn 10 ngàn công nhân cạo mủ. Tôi về Bình Long gặp Khiêm. Buổi trưa, Khiêm, Mai và tôi rủ nhau vào một quán cơm ở chợ cũ, đầu con dốc Đại Lộ Hoàng Hôn. Nhìn hai đứa nó khắng khít bên nhau trông rất rất hạnh phúc và đẹp đôi khiến tôi cũng vui lây niềm vui của bạn. Ăn cơm xong, chẳng biết đi đâu vì tỉnh lỵ quá nhỏ, quá nghèo. Thế là vào một quán cà-phê ngồi tâm sự. Mấy tháng sau, thì Khiêm thư cho tôi báo đã cùng với Ni qua Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù.
Năm 1970, tôi về Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lưu Động (B.23 –Mike-Force ở Long Hải. Chiến đoàn có 3 Tiểu đoàn Biệt Kích Quân Tiếp Ứng, quanh năm đi hành quân xa. Tôi may mắn gặp Thiếu Tá Ngô Đình Lưu, nhận ra người miền Trung với nhau nên xếp cho về ban 5, suốt ngày chỉ quanh quẩn ở hậu cứ. Thời gian này, Ngô Văn Khiêm được Tiểu Đoàn 1/PB Dù cho đi học một khóa Chiến Tranh Chính Trị kéo dài hơn tháng tại trại Lê Lợi, trong Biệt Khu Thủ Đô, đường Lê Văn Duyệt. Còn Mai thì theo gia đình về Sài Gòn ở Thanh Đa và mới bước vào Đại học Văn Khoa. Thế là cuối tuần nào tôi cũng từ Long Hải vù về Sài Gòn, cặp kè với Khiêm ra Thanh Đa đón Mai. Có khi vào rạp Rex coi xi-nê, có khi ra Mai Hương ngồi ăn kem, chứ chẳng biết làm gì hơn ở cái đất Sài Gòn hoa lệ mà chúng tôi thì tiền lính-tính liền!
Giữa năm 1970, tôi từ giã cuộc đời Biệt Kích, quay về quê nhà ở Quảng Trị. Cứ tưởng còn lâu mới gặp lại Khiêm. Cuối năm đó tôi nhận được tin Khiêm lên Bình Long làm đám cưới với Mai, nhưng tôi không về được. Nào ngờ, đầu năm 1971, Khiêm tham dự hành quân Lam Sơn 719, đánh sang Hạ Lào. Khi đơn vị của Khiêm triệt thoái về Đông Hà, tôi đã đi tìm và gặp được cả Khiêm lẫn Ni và thêm một người bạn mới có cái biệt danh là “Dưỡng Cà Lăm”. Lúc bấy giờ cả ba đã đeo lon Trung Úy. Sau chiến dịch này, Huỳnh Công Ni xin về Pháo Binh Diện Địa, thuộc Tiểu Khu Lâm Đồng. Tôi đưa Khiêm về nhà. Mẹ tôi hỏi nó muốn ăn gì? Nó nói thèm canh chua miền Nam lắm. Mẹ tôi, một bà Mẹ quê miền Trung chơn chất, ít khi bước ra khỏi lũy tre làng. Nay vì chiến tranh phải tản cư lên tỉnh, nên không biết canh chua nam bộ là thứ gì. Thế là hai đứa ra chợ mua cá lóc, me chua và đủ món gia vị, đem về tự nấu. Chẳng hiểu có ngon lành gì không mà Khiêm cứ khen lấy, khen để. Chiều hôm đó, tôi và Khiêm về Huế. Hai thằng chui xuống một chiếc đò dưới chân cầu Gia Hội, kêu chủ đò chèo ra neo giữa lòng sông Hương nằm tâm sự cứ như là nhân tình. Đó là lần đầu tiên tôi nghe Khiêm triết lý về cuộc sống. Nó nói: “Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Cứ đánh hết trận này đến trận khác. Tao nghĩ thế nào cũng có ngày ngã gục, không thì cũng tàn phế, bởi đi đêm hoài phải có lúc gặp ma. Tao học được ở đời lính hai điều. Thứ nhất là ý nghĩa 4 chữ “ Cư-An- Tư Nguy” quá tuyệt vời trên phù hiệu của trường Thủ Đức. Nhưng từ khi học được câu này thì chưa bao giờ “ Cư An” mà chỉ toàn là “Tư Nguy”. Thứ hai là khẩu hiệu “Nhảy Dù – Cố Gắng hết sức khiêm nhường. Quả thật, không ngày nào là không cố gắng, cố gắng không ngưng nghỉ mà chẳng biết cái gì đang chờ mình ở phía trước! Thôi thì cứ tiếp tục cố gắng, cố gắng đến cùng vậy”. Rồi Khiêm nhắc đến Mai, đến cái tương lai thật đơn sơ mà hai đứa mơ ước. Tôi nghe mà thương nó lắm, bởi cảm giác như bạn mình chẳng khác nào một con ngựa hồng sắp mỏi vó! Sáng sớm hôm sau, hai đứa lại chia tay, lại hẹn ngày gặp lại. Khiêm ra Đông Hà với đơn vị đang tái phối trí, còn tôi về Quảng Trị.
Mùa hè đỏ lửa 1972, tôi làm phóng viên chiến trường, hết theo chân các đơn vị TQLC, đến Nhảy Dù tiến về Cổ Thành. Một lần biết được Pháo đội của Khiêm đang chốt vị trí tại một bãi cát bên phải quốc lộ 1, gần ngã 3 Hải Lăng, Lúc bấy giờ Khiêm đã lên Đại Úy, giữ chức vụ Pháo đội trưởng Pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo binh Dù. Chúng tôi ngồi ăn trưa trong tiếng nổ ì ầm liên tục, rung chuyển cả mặt đất. Tiếng đạn 130 ly từ trên núi rót xuống, tiếng 105 ly của Khiêm bắn đi yểm trợ cho các cánh quân đang tiến về Cổ Thành. Ai mà yếu bóng vía và không giỏi chịu đựng, chỉ cần ở đây vài phút là đã run như cầy sấy. Vậy mà Khiêm và các chiến binh can trường vẫn sống một cách hào hùng hết ngày này, sang tháng khác trong hoàn cảnh như thế.

Hình Nguyễn Bá Tuệ
Khiêm hỏi tôi bà già và các em đang ở đâu? Tôi cho Khiêm biết tất cả đều bình an và đang sống ở khu tản cư Non Nước, Đà Nẵng. Quả thật, trong chiến tranh, người dân Quảng Trị cũng gian truân chẳng kém gì đời lính. Họ liên tục có những cuộc bỏ phiếu bằng chân để lựa chọn. Bất chấp bom đạn trên đầu, cứ tìm nơi nào có bóng dáng người lính VNCH mà đến...
Sau bữa cơm, tôi thấy nét mặt Khiêm đượm buồn, cho dù sạm nắng và dày dạn phong sương rất nhiều. Khiêm nói:
- Báo cho mày biết, tao sắp làm cha. Ngày trước, chẳng ngán gì đường tên, mũi đạn, bất quá “áo bào thay chiếu anh về đất” là cùng. Còn bây giờ, khi biết mình sắp có con thì hơi lạnh cẳng! Thôi thì cứ phó thác cho số phận.
Ngưng một lát, Khiêm đứng dậy móc trong túi quần trận ra đưa cho tôi một xấp tiền. Nó nói tiếp:
- Đường từ đây về Huế rất an toàn, tất cả đều nằm trong sự kiểm soát của mình, ngoại trừ pháo kích thì không biết đâu mà lần. Lát nữa tao cho tài xế lái xe jeep đưa mày về Huế. Đó là lệnh, mày không được cãi. Mày không nên ở đây đêm nay. Tao gởi mày 5. ngàn. Cho mày 2 ngàn, coi như tao rửa lon Đại Úy trễ với mày. Gởi bà già 3 ngàn cho tao yên lòng. Tao ở giữa chiến trận thì để tiền trong túi mà làm gì. Mày cứ tiêu giùm tao...”
Tôi xiết chặt tay Khiêm và nắm lấy thật lâu. Tự nhiên tôi trào nước mắt, chỉ thốt được một câu:
-Tao thương mày quá Khiêm ơi!
Khiêm nhìn tôi cố cười gượng:
- Đ.m tinh thần Biệt Kích của mày đâu rồi? Ngày xưa tao ngưỡng mộ cái ngang tàng của mày lắm mà. Sao bây giờ lại yếu đuối thế! Đó là lần cuối cùng tôi gặp Khiêm! Cho dù thỉnh thoảng tôi vẫn ghé lại hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, nằm sát Tiệu Đoàn 9 trong trại Hoàng Hoa Thám để hỏi tin tức và biết chắc nó vẫn chân cứng, đá mềm trên khắp nẻo chiến trường.
Sau ngày 30/4/1975, tôi hy vọng Khiêm sẽ trở về, nhưng chờ hoài chẳng thấy. Một thời gian sau, tôi khăn gói đi vào trại tù, nơi được gọi là trại cải tạo! Ròng rã 10 năm lao lý, mỗi lần có số anh em từ trại khác chuyển đến, tôi đều dọ hỏi, nhưng cũng chẳng có ai biết Khiêm ở đâu. Năm 1985, tôi ra trại. Lại tiếp tục tìm kiếm. Bấy giờ tôi lại hy vọng bạn mình đã nhanh chân di tản được sang Mỹ, vì nghe nói Nhảy Dù và TQLC đi nhiều lắm. Cho đến khi có internet, tối nào trước khi tắt máy đi ngủ, tôi cũng gõ vào Google “Đại Úy Ngô Văn Khiêm pháo đội trưởng pháo đội A tiểu đoàn 1 pháo binh sư đoàn nhảy dù” và lần nào mạng cũng cho kết quả “Không hiển thị”.

Hình Nguyễn Bá Tuệ
Thế rồi, một buổi tối đầu tháng 7/2014, tôi đã hồi hộp đến nghẹn thở khi thấy tên Khiêm xuất hiện trên mạng, trong bài viết mang tựa đề “Cải táng những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang-tỉnh Ninh Thuận”. Người viết muốn thông báo cho bà con, bạn bè, thân hữu của Trung Tá Sơn, Thiếu tá Tựu và Đại Úy Khiêm là đã tìm được nấm mồ tập thể, chôn hài cốt của 3 anh em có cấp bậc cao nhất và một số chiến hữu khác dưới chân Núi Ngỗng, xã Ninh Sơn. Tháng 3/2013, một ngôi miếu nhỏ được xây dựng tại đó, sau 38 năm những cánh hoa dù về an nghĩ giữa
lòng đất mẹ mà không ai nhang khói! Ý chừng để tránh phiền toái, tác giả bài viết ký tên là Cà Tèm với số điện thoại khuyến mãi: 01886423011. Mừng quá, tôi bấm ngay số điện thoại của Cà Tèm nhưng chỉ nghe tổng đài trả lời “số thuê bao đã tạm khóa, xin quý khách gọi lại sau”.
Thất vọng, nhưng tôi vẫn kiên trì gọi mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa,chiều... Rồi gần 10 ngày sau, một buổi sáng tôi nghe chuông đổ. Đầu máy bên kia một giọng đàn ông lớn tuổi vang lên. Tôi giới thiệu ngay mình là bạn chí cốt của Ngô Văn Khiêm, rất xúc động khi đọc được tin này và rất cảm kích trước việc đi tìm xác đồng đội của anh em. Người đàn ông nói, anh ta cũng là chiến sĩ mũ đỏ và quê quán tại Phan Rang. Vì quá thương chiến hữu mà mấy chục năm qua cứ lùng sục, tìm kiếm để lo cho đồng đội một nấm mồ mới thấy yên lòng. Sau đó, Cà Tèm cho tôi số điện thoại thường dùng và tên thật của anh. Tôi hỏi Cà Tèm, hiện nay Khiêm có còn thân nhân nào không? Cà Tèm nói có, chị Mai vợ của anh đang ở Úc. Dù đã có gia đình mới nhưng hôm xây miếu cho anh Khiêm, chị cũng gởi tiền về. Tôi lại hỏi Cà Tèm có cách nào liên lạc được với Mai không? Cà Tèm nói sẽ gọi đt cho người em chồng hiện nay của Mai đang định cư ở Sài Gòn. Nhờ anh ta chuyển ngay cho Mai tên và số đt của tôi. Nếu cần thì Mai sẽ gọi. Cà Tèm cúp máy. Tôi tưởng nếu có thì cũng phải chờ một vài ngày Mai mới gọi cho tôi, bởi đã mất liên lạc với nhau hơn 40 năm rồi còn gì. Ấy thế mà chỉ một tiếng đồng hồ sau, chuông điện thoại của tôi reo, đầu máy bên kia giọng một người phụ nữ đứng tuổi nói trong xúc động:
- Có phải anh Tường không? Em là Mai vợ anh Khiêm ở Úc gọi về cho anh đây.
Quá xúc động, tôi hét lên trong máy:
- Mai ơi, Mai khỏe không?
- Em khỏe. Mấy chục năm qua, em cũng nhiều lần dò hỏi tin tức về anh nhưng không có ai trả lời chính xác.Anh Tường ơi, tội nghiệp Khiêm lắm. Những ngày tháng cuối cùng không hiểu linh tính thế nào mà Khiêm thường nói với em:
“Nữa, anh chết đi, anh sẽ kiếm cho em một người chồng tử tế. Còn thằng nào không đường hoàng anh sẽ không gả em đâu.” Rồi Khiêm lại mang hết đồ đạc về nhà và dặn dò em, chiến tranh chừng cũng sắp kết thúc, anh sẽ về sống mãi mãi bên em.”
Ngưng một lát, dường như để nén cảm xúc, Mai nói tiếp:
- Suốt đêm 16/4/1975, em không thể chợp mắt một phút nào cả. Lòng cứ nóng như lửa đốt. Mấy ngày sau, có một người y tá thuộc đơn vị của Khiêm, tên là Phan Bá Em đến nhà cho em biết. Sáng hôm đó, bên mình hầu như đạn dược, lương thực đã cạn kiệt và VC đã tràn vào phi trường. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ đoàn phó, Lữ đoàn 2 Dù bị trúng một băng đạn vào người, ngã gục tại chỗ. Kế đó, Thiếu tá Đặng Đình Tựu cũng bị trúng đạn pháo kích và tử trận. Còn Khiêm thì bị thương nặng ở bụng và ở chân. Vừa lúc đó, có một chiếc máy bay chở đồ tiếp tế ra và bốc thương binh về. Khiêm được đưa
lên máy bay và y tá Em băng bó tạm thời.

Hình Nguyễn Bá Tuệ.
Lúc bấy giờ, y tá Em cũng bị thương nhẹ ở tay. Nhưng rồi, phi trường bị pháo kích nặng, máy bay không cất cánh lên được. Ông Em nói với Khiêm : “Đại úy bị thương nặng, không đi được, phải nằm lại thôi. Còn em, trong tình hình này phải rời đây ngay.” Khiêm nắm tay người y tá và dặn, “cậu cố gặp vợ con tôi, kể cho họ biết. Nói là tôi yêu thương vợ con lắm. Thôi cậu đi. Chúc may mắn” Thế là Khiêm không bao giờ về nữa! Những ngày cuối tháng 4/75, chiến trường Long Khánh bùng nổ dữ dội, em rất muốn ra Phan Rang tìm anh Khiêm, nhưng đường xá chưa lưu thông. Đến ngày 4/5, em ra Phan Rang, đến phi trường thì gặp đám bộ đội còn trẻ canh gác ở đó cho biết. Đơn vị dọn dẹp phi trường và thu gom xác chết vài tuần trước đã di chuyển di nơi khác. Còn họ mới đến vài ngày nay nên không biết gì cả. Hai tháng sau, em trở ra Phan Rang 10 ngày cứ tìm kiếm, hỏi han khắp nơi, nhưng đành chịu thua. Sau đó, vì cuộc sống, em khai chồng chết và nhờ có học mấy năm văn khoa, em được họ cho học một lớp sư phạm ngắn hạn, rồi phân phối về dạy trường Trung học Giồng Ông Tố. Đến năm 1982, em gặp anh Hứa Duối, nguyên Đại Úy, Đại đội trưởng 204, Quân cảnh Dù. Anh Duối trong thời gian đi tù cải tạo thì gia đình tan nát. Tụi em đã dắt dìu nhau vượt biên sang Úc và đã sống với nhau 32 năm, có được 2 đứa con, đứa nào cũng ngoan và học hành đến nơi, đến chốn. Riêng cháu Sơn, con anh Khiêm, năm nay đã 42 tuổi rồi và rất thành đạt ở Úc. Quả thật, anh Khiêm đã phù hộ cho em gặp được người chồng tốt, vừa là đồng đội cũ của anh. Anh Duối là một người đàn ông hết mực tử tế với gia đình...
Nghe Mai kể, lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Cuối cùng, tôi cũng biết rõ tin tức của Khiêm. Thì ra, gần 40 năm qua, bạn tôi đã nằm lại ở một nơi đèo heo hút gió vào những ngày cuối
cùng của cuộc chiến. Một cuộc chiến với hồi kết thúc thật bẽ bàng...! Bây giờ là tháng bảy âm lịch. Một buổi tối ngồi trong quán cà-phê với mấy người bạn trẻ. Tôi đem câu chuyện tình bạn của tôi và Khiêm trong thời chinh chiến với đoạn cuối còn nguyên vẹn cảm xúc kể cho họ nghe và quyết định vài hôm nữa sẽ ra Núi Ngỗng, Phan Rang để đốt cho Khiêm và anh em nằm lại ở đó một nén nhang. Nào ngờ những
người bạn trí thức trẻ đó không những hết sức ủng hộ mà còn muốn theo chân tôi trong chuyến đi này một cách nhiệt tình. Thế là cùng nhau bàn bạc, chọn ngày 9/8 (13/7âm lịch) khởi hành sằng xe lửa. Theo đúng kế hoạch, 4 chú cháu chúng tôi, bao gồm 2 kỹ sư điện là Hồ Cao Anh Tuấn và Nguyễn Bá Tuệ, cùng với bác sĩ Đoàn Nguyễn Hoài Lê rời Ga Sài Gòn lúc 9 giờ tối. 6 giờ sáng hôm sau ra tới Phan Rang, nhờ Cà Tèm dẫn đường lên Núi Ngỗng. Cúng xong, chúng tôi xuống bãi biển Ninh Chữ nằm ghế bố nghỉ ngơi, chờ đến tối ra ga Tháp Chàm quay về lại Sài Gòn.
Trở lại chuyện đi tìm hai cốt bạn, từ Phan Rang, chúng tôi theo quốc lộ 27 hướng lên Đà Lạt 20 cây số. Rẽ phải, vào một con đường đất ngoằn nghèo, chạy qua những sườn đồi trơ trụi, tha hồ gió cát mịt mù. Mới 9 giờ sáng mà nắng đã như thiêu, như đốt, giữa vùng đất cằn không một bóng cây xanh. Đi thêm 3 cây số nữa là tới một ngôi miếu nhỏ, sơn màu xanh da trời, nằm chơ vơ trên một miếng đất trống, bên phải một con đường mòn. Đó là nơi an nghỉ của Khiêm và một số đồng đội của nó. Tội nghiệp bạn tôi, khi còn sống thì lặn lội ở những nơi rừng sâu, núi thẳm gần như suốt thời trai trẻ. Khi nằm xuống, cũng ở một nơi đèo heo hút gió mà ngủ giấc ngàn thu! Nơi đây, ngày không một bóng người qua lại, đêm thiếu vắng cả ánh đèn dầu leo lét. Bạn tôi nằm dưới chân một hòn núi cô đơn, mang dáng dấp một con ngỗng trời, đầu hướng ra biển đông thì thầm sóng vỗ.
Chúng tôi dọn lễ vật đã chuẩn bị sẵn. Thắp nhang, rót rượu, đốt thuốc mời nhau, chẳng khác gì những bữa tiệc, tương phùng , lính tráng ngày xưa! Cho dù giờ đây, Khiêm chỉ còn là một nắm xương tàn, dưới nền ngôi miếu nhỏ. Nhưng tôi tin linh hồn của Khiêm và những anh em nằm lại nơi đây, đã được những con ngỗng thiêng ở chân núi này chở theo những cánh hoa dù bay thẳng về trời từ lâu. Đoàn Kế Tường.
Subscribe to:
Posts (Atom)



