Showing posts with label đức quốc xã. Show all posts
Showing posts with label đức quốc xã. Show all posts

Monday, June 9, 2025

 Làm thế nào sự tử tế của một kẻ xa lạ trong đệ nhị Thế Chiến (TC) đã giúp chúng ta có lý thuyết Big Bang.

Lời nói đầu: Trong thời đại mà rất nhiều người ÍCH KỶ và VÔ CẢM trước nỗi đau hay khó khăn của kẻ khác thì có câu chuyện rất cảm động, đầy ấp tình người của một chủ tiệm sơn ở Mỹ đã bảo lãnh một gia đình mà y ko quen biết -- đang bị đàn áp bởi Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Sau đây là câu chuyện.
====
"Nhà vật lý gốc Đức Arno Penzias đã thoát khỏi Holocaust với sự giúp đỡ của một ân nhân mà ông chưa bao giờ gặp. Sự giúp đỡ bí mật này đã làm thay đổi đời ông--và hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.
Tạm dịch từ bài viết của Katie Sanders, đăng ngày 8/6/2022 trên National Geographic.
Vào một ngày trước đệ nhị TC, chủ một tiệm bán sơn ở Belleville, bang New Jersey nghe tiếng gõ cửa dồn dập (frantic). Đó là một di dân Đức 28 tuổi có tên Leo Gelbart, y đang đến từng nhà, khẩn cầu các thành viên của cộng đồng Do Thái (Jewish) trong TP. "Gia đình này cần ra khỏi Đức, và tôi ko đủ tiền để giúp. Ông có thể giúp ko?" Gelbart đã hỏi. Y đưa cho chủ tiệm một tấm ảnh trắng đen của bạn y tại Munich, Đức: một cặp đẹp đôi có tên Karl và Justine Penzias, với hai con trai Arno và Guenther, 6 và 4 tuổi. Với việc ngày càng gia tăng bức hại và bỏ tù người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, gia đình Penzias phải bỏ xứ (flee) hay đến trại tập trung. Nhưng để di cư đến Mỹ, họ cần vài tờ cam kết (affidavit) bảo trợ --đây là những giấy xác nhận (vouch) rằng họ có một thân nhân và một căn bản về tài chánh tại Mỹ. Gelbart sẽ khai gian (falsely state) rằng bạn y Karl Penzias là em họ (cousin). Nhưng là một kẻ hầu bàn, y ko đủ tiền để đủ điều kiện làm người bảo trợ (sponsor) cho gia đình bạn y. Do vậy y đang cố gắng tìm ai đó ký tờ cam kết thứ hai để nhận bảo trợ gia đình Penzias về tài chánh.
Người chủ tiệm sơn 52 tuổi này nói sẽ giúp. "Tôi vui lòng bảo trợ họ cho tới khi họ tự chủ về tài chánh," ông viết trên tờ cam kết. Từ Đức, Karl Penzias cực kỳ biết ơn, nhờ Gelbart chuyển lời tới ông chủ tiệm sơn, rằng gia đình họ chỉ cần bảo trợ trên giấy tờ và sẽ bày tỏ sự biết ơn bằng cách ko bao giờ tiếp xúc với ông.
Người anh của hai đứa nhỏ trong hình là Arno Penzias, nay đã 89 tuổi. Là một nhà thiên văn, từng được giải Nobel, nay đã nghỉ hưu và sống tại bắc Cali. Ông ra đời tại Đức năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền. Năm 1938 gia đình ông và những người Do Thái khác, mang hộ chiếu (passport) Ba-Lan, buộc phải lên tàu để trục xuất tới Ba Lan. Những xe lửa đã hoãn lại, và Ba Lan đã vô hiệu hóa (invalidate) những hộ chiếu này trước khi xe lửa tới biên giới.
Năm 1939, họ đã vội vả sắp xếp mọi thứ để rời Đức tới Mỹ. Karl Penzias gửi hai con nhỏ tới Anh theo chương trình Kindertpassport -- một cố gắng của Anh nhằm chuyên chỡ 10.000 trẻ em, phần lớn là Do Thái, ra khỏi Đức.
Hai đứa trẻ sau đó đã được gửi từ một viện mồ côi toàn con gái ở London tới hai gia đình nhận con nuôi (foster family) khác nhau. Trong khi Đức Quốc Xã, còn gọi là Nazi, gia tốc chiến dịch diệt chủng, vợ chồng Karl và Justine Penzias, cuối cùng đã đến Anh để đoàn tụ với con và sau đó đến Mỹ bằng tàu. Gia đình họ đã gặp giông bão và tàu ngầm Đức khi vượt Đại Tây Dương. Ngày 3/1/1940, họ đã tới TP New York.
Gia đình Penzias đã định cư tại Bronx, nơi hai đứa nhỏ bắt đầu đi học. Arno tốt nghiệp trường trung học Brooklyn Technical và City College. Y phục vụ trong ngành truyền tin của Lục quân Mỹ, sau đó có bằng tiến sĩ về vật lý tại ĐH Columbia. Ông làm việc cho Bell Laboratories và, trong TN 1960, đã cùng đồng nghiệp Robert Wilson đồng khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation), điều này đã xác nhận lý thuyết về vũ trụ học Big Bang (Big Bang theory of cosmology). Họ đã chia xẻ giải Nobel về vật lý năm 1978 về khám phá này.
. . .
Nhưng việc cảm ơn người mà chữ ký của y đã giúp gia đình này tới Mỹ ko dễ thực hiện (feasible). Cha của nhà bác học Arno Penzias đã hứa ko bao giờ tiếp xúc với người ký tờ cam kết, và ông giữ lời. Những chi tiết về người giúp ông vẫn là một bí mật.
Và năm 2012, David Penzias, con trai của nhà bác học đã tìm thấy một phong bì trong một số giấy tờ của gia đình. Bên trong là một bản sao của tờ cam kết ký bởi một người tên Barnet Yudin. David đã sốc khi đọc thông tin sau: Barnet có lợi tức 125 đô mỗi tuần và sống ở tầng trên của tiệm sơn và y có 2.000 đô trong tài khoản ngân hàng.
Con người này ko chỉ bảo lãnh cho một gia đình mà y ko quen biết, y còn cố gắng hết sức để làm điều đó. Vậy ông ta là ai?
Sau khi tìm kiếm trên mạng, David Penzias đã gọi một số phone có tên Robert Yudin tại New Yersey, mà y chắc chắn là cháu nội của Barnet Yudin. Qua tiếp xúc này, y biết Barnet đã chết vì ung thư năm 1950. Vợ ông, con trai và con gái cũng đã chết, và người cháu nội này ko có bất cứ giấy tờ gì của ông nội nói về việc đã giúp đỡ một gia đình Đức. Nhưng nhờ con trai nhà bác học tìm thấy phong bì mọi việc đã đưa ra ánh sáng.
Sở dĩ ông chủ tiệm sơn Barnet Yudin đã hết lòng giúp đỡ gia đình của nhà bác học Arno Penzias vì ông đã từng là di dân rời Nga vì là gốc Do Thái. Sanh năm 1886 tại Nga, ông đã hy vọng thành bác sĩ. Ông đã thi đậu vào trường y nhưng bị từ chối, vì gốc Do Thái. Ông rời Nga đi Mỹ bằng con đường Bắc Âu năm 1906. Sau khi định cư tại New Yersey, ông đã bán sơn bằng một xe đẩy (pushcart), và cuối cùng với vợ làm chủ một tiệm sơn phát đạt.
Cháu nội gái của Barnet là Sydney Neuwirth, một nghệ sĩ hồi hưu ở Princeton New Yersey, đã lớn lên trong một căn phòng của nhà ông nội, nằm ngay trên tiệm sơn. Trong khi lật xem những hình ảnh, thư từ, và những bài cắt từ báo (newspaper clipping) kể về cuộc đời của ông bà, cô càng hiểu rõ hơn về ông nội và gia đình mà ông đã giúp. "Ông đã biết rằng nếu ông ko giúp họ, sẽ giống như việc thấy kẻ sắp chết đuối mà ngó lơ," cô nói. "Đây là cách mà ông giúp. Ông đã luôn luôn muốn giúp đỡ kẻ khác." Trong khi cô đọc về cuộc chiến đang diển ra tại Ukraine -- và hậu quả là khủng hoảng về người tị nạn, lớn nhứt Âu Châu kể từ đệ nhị Thế Chiến -- cô càng thấy có nhiều triển vọng hơn.
Gần tám thập niên sau khi Barnet ký tờ cam kết, gia đình của ông nhận lời của David Penzias để họp mặt với nhau. Trừ nhà bác học ko có mặt vì lý do sức khỏe, người em trai và cháu của ông đã bay tới New Yersey để họp mặt tại nhà của cháu nội của Barnet. Trong buổi tiệc, cháu nội của nhà bác học Arno Penzias đã nói: "Cả gia đình chúng tôi đã ko có mặt tại Mỹ nếu ko có Barnet Yudin."

Saturday, June 11, 2022

I/ Làm thế nào sự tử tế của một kẻ xa lạ trong đệ nhị Thế Chiến (TC) đã giúp chúng ta có lý thuyết Big Bang.

Lời nói đầu: Trong thời đại mà rất nhiều người ÍCH KỶ và VÔ CẢM trước nỗi đau hay khó khăn của kẻ khác thì có câu chuyện rất cảm động, đầy ấp tình người của một chủ tiệm sơn ở Mỹ đã bảo lãnh một gia đình mà y ko quen biết -- đang bị đàn áp bởi Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Sau đây là câu chuyện.
====
"Nhà vật lý gốc Đức Arno Penzias đã thoát khỏi Holocaust với sự giúp đỡ của một ân nhân mà ông chưa bao giờ gặp. Sự giúp đỡ bí mật này đã làm thay đổi đời ông--và hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.
Tạm dịch từ bài viết của Katie Sanders, đăng ngày 8/6/2022 trên National Geographic.

Vào một ngày trước đệ nhị TC, chủ một tiệm bán sơn ở Belleville, bang New Jerrsey nghe tiếng gõ cửa dồn dập (frantic). Đó là một di dân Đức 28 tuổi có tên Leo Gelbart, y đang đến từng nhà, khẩn cầu các thành viên của cộng đồng Do Thái (Jewish) trong TP. "Gia đình này cần ra khỏi Đức, và tôi ko đủ tiền để giúp. Ông có thể giúp ko?" Gelbart đã hỏi. Y đưa cho chủ tiệm một tấm ảnh trắng đen của bạn y tại Munich, Đức: một cặp đẹp đôi có tên Karl và Justine Penzias, với hai con trai Arno và Guenther, 6 và 4 tuổi. Với việc ngày càng gia tăng bức hại và bỏ tù người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, gia đình Penzias phải bỏ xứ (flee) hay đến trại tập trung. Nhưng để di cư đến Mỹ, họ cần vài tờ cam kết (affidavit) bảo trợ --đây là những giấy xác nhận (vouch) rằng họ có một thân nhân và một căn bản về tài chánh tại Mỹ. Gelbart sẽ khai gian (falsely state) rằng bạn y Karl Penzias là em họ (cousin). Nhưng là một kẻ hầu bàn, y ko đủ tiền để đủ điều kiện làm người bảo trợ (sponsor) cho gia đình bạn y. Do vậy y đang cố gắng tìm ai đó ký tờ cam kết thứ hai để nhận bảo trợ gia đình Penzias về tài chánh.
Người chủ tiệm sơn 52 tuổi này nói sẽ giúp. "Tôi vui lòng bảo trợ họ cho tới khi họ tự chủ về tài chánh," ông viết trên tờ cam kết. Từ Đức, Karl Penzias cực kỳ biết ơn, nhờ Gelbart chuyển lời tới ông chủ tiệm sơn, rằng gia đình họ chỉ cần bảo trợ trên giấy tờ và sẽ bày tỏ sự biết ơn bằng cách ko bao giờ tiếp xúc với ông.
Người anh của hai đứa nhỏ trong hình là Arno Penzias, nay đã 89 tuổi. Là một nhà thiên văn, từng được giải Nobel, nay đã nghỉ hưu và sống tại bắc Cali. Ông ra đời tại Đức năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền. Năm 1938 gia đình ông và những người Do Thái khác, mang hộ chiếu (passport) Ba-Lan, buộc phải lên tàu để trục xuất tới Ba Lan. Những xe lửa đã hoãn lại, và Ba Lan đã vô hiệu hóa (invalidate) những hộ chiếu này trước khi xe lửa tới biên giới.
Năm 1939, họ đã vội vả sắp xếp mọi thứ để rời Đức tới Mỹ. Karl Penzias gửi hai con nhỏ tới Anh theo chương trình Kindertpassport -- một cố gắng của Anh nhằm chuyên chỡ 10.000 trẻ em, phần lớn là Do Thái, ra khỏi Đức.
Hai đứa trẻ sau đó đã được gửi từ một viện mồ côi toàn con gái ở London tới hai gia đình nhận con nuôi (foster family) khác nhau. Trong khi Đức Quốc Xã, còn gọi là Nazi, gia tốc chiến dịch diệt chũng, vợ chồng Karl và Justine Penzias, cuối cùng đã đến Anh để đoàn tụ với con và sau đó đến Mỹ bằng tàu. Gia đình họ đã gặp giông bão và tàu ngầm Đức khi vượt Đại Tây Dương. Ngày 3/1/1940, họ đã tới TP New York.
Gia đình Penzias đã định cư tại Bronx, nơi hai đứa nhỏ bắt đầu đi học. Arno tốt nghiệp trường trung học Brooklyn Technical và City College. Y phục vụ trong nghành truyền tin của Lục quân Mỹ, sau đó có bằng tiến sĩ về vật lý tại ĐH Columbia. Ông làm việc cho Bell Laboratories và, trong TN 1960, đã cùng đồng nghiệp Robert Wilson đồng khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation), điều này đã xác nhận lý thuyết về vũ trụ học Big Bang (Big Bang theory of cosmology). Họ đã chia xẻ giải Nobel về vật lý năm 1978 về khám phá này.
. . .
Nhưng việc cảm ơn người mà chữ ký của y đã giúp gia đình này tới Mỹ ko dễ thực hiện (feasible). Cha của nhà bác học Arno Penzias đã hứa ko bao giờ tiếp xúc với người ký tờ cam kết, và ông giữ lời. Những chi tiết về người giúp ông vẫn là một bí mật.
Và năm 2012, David Penzias, con trai của nhà bác học đã tìm thấy một phong bì trong một số giấy tờ của gia đình. Bên trong là một bản sao của tờ cam kết ký bởi một người tên Barnet Yudin. David đã sốc khi đọc thông tin sau: Barnet có lợi tức 125 đô mỗi tuần và sống ở tầng trên của tiệm sơn và y có 2.000 đô trong tài khoản ngân hàng.
Con người này ko chỉ bảo lãnh cho một gia đình mà y ko quen biết, y còn cố gắng hết sức để làm điều đó. Vậy ông ta là ai?
Sau khi tìm kiếm trên mạng, David Penzias đã gọi một số phone có tên Robert Yudin tại New Yersey, mà y chắc chắn là cháu nội của Barnet Yudin. Qua tiếp xúc này, y biết Barnet đã chết vì ung thư năm 1950. Vợ ông, con trai và con gái cũng đã chết, và người cháu nội này ko có bất cứ giấy tờ gì của ông nội nói về việc đã giúp đỡ một gia đình Đức. Nhưng nhờ con trai nhà bác học tìm thấy phong bì mọi việc đã đưa ra ánh sáng.
Sở dĩ ông chủ tiệm sơn Barnet Yudin đã hết lòng giúp đỡ gia đình của nhà bác học Arno Penzias vì ông đã từng là di dân rời Nga vì là gốc Do Thái. Sanh năm 1886 tại Nga, ông đã hy vọng thành bác sĩ. Ông đã thi đậu vào trường y nhưng bị từ chối, vì gốc Do Thái. Ông rời Nga đi Mỹ bằng con đường Bắc Âu năm 1906. Sau khi định cư tại New Yersey, ông đã bán sơn bằng một xe đẩy (pushcart), và cuối cùng cùng với vợ làm chủ một tiệm sơn phát đạt.
Cháu nội gái của Barnet là Sydney Neuwirth, một nghệ sĩ hồi hưu ở Princeton New Yersey, đã lớn lên trong một căn phòng của nhà ông nội, nằm ngay trên tiệm sơn.Trong khi lật xem những hình ảnh, thư từ, và những bài cắt từ báo (newspaper clipping) kể về cuộc đời của ông bà, cô càng hiểu rõ hơn về ông nội và gia đình mà ông đã giúp. "Ông đã biết rằng nếu ông ko giúp họ, sẽ giống như việc thấy kẻ sắp chết đuối mà ngó lơ," cô nói. "Đây là cách mà ông giúp. Ông đã luôn luôn muốn giúp đỡ kẻ khác." Trong khi cô đọc về cuộc chiến đang diển ra tại Ukraine -- và hậu quả là khủng hoảng về người tị nạn, lớn nhứt Âu Châu kể từ đệ nhị Thế Chiến -- cô càng thấy có nhiều triển vọng hơn.
Gần tám thập niên sau khi Barnet ký tờ cam kết, gia đình của ông nhận lời của David Penzias để họp mặt với nhau. Trừ nhà bác học ko có mặt vì lý do sức khỏe, người em trai và cháu của ông đã bay tới New Yersey để họp mặt tại nhà của cháu nội của Barnet. Trong buổi tiệc, cháu nội của nhà bác học Arno Penzias đã nói: "Cả gia đình chúng tôi đã ko có mặt tại Mỹ nếu ko có Barnet Yudin."

============================

II/ Chuyến công tác cuối cùng của tàu ngầm I-52.

Dịch từ: The Last Dive ở trang 114 - 133 trên tạp chí National Geographic tháng 10.1999.

                           


"Năm 1944.

Vào mùa xuân, khi những cây anh đào (cherry tree) nở gần Hoàng Cung, ông Satonobu Gamo, 34 tuổi rời nhà ở Tokyo trong một nhiệm vụ bí mật đến nỗi ông ko thể nói với vợ ông. Gamo là một kỹ sư, một người cha của 4 con. Ông đã được lịnh tới nhà máy Daimler-Benz ở Đức và học cách chế tạo máy cho tàu phóng lôi. 

Nhật đã cần trong tuyệt vọng (desperately) kỹ thuật mới về vũ khí từ Đức, và Đức đã cần vật liệu thô từ đế quốc Nhật. Nhưng hai nước thuộc phe Trục này cách nhau nửa vòng trái đất, và mọi con đường xuyên qua Tây Bá Lợi Á đã bị đóng. Nhật đã ký hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô, nhưng Đức đang tuyên chiến với họ. Lúc đầu Đức định gửi một thương thuyền để lo vụ này nhưng sau đó hủy bỏ vì sợ phe Đồng Minh tấn công. 

Cách thay thế tốt nhứt là tàu ngầm và cả hai nước đều cải tiến tàu ngầm để có thể thực hiện kế hoạch đó. Tàu ngầm I-52, chế tạo tại cảng Kure năm 1943. Nó có thể mang khoảng 300 tấn hàng hóa và chạy 21.000 dặm Anh mà ko tiếp tế. 

Vào giữa tháng Ba 1944, dưới chỉ huy của hạm trưởng Kameo Uno, tàu I-52 rời cảng Kure. Nó đã ngừng ở Singapore để lấy nguyên lộ thô từ các thuộc địa vùng Đông Nam Á của Nhật -- 2,88 tấn thuốc phiện, 3 tấn ký-ninh để dùng trong y khoa, và 54 tấn cao su. Có 11 sĩ quan, 11 hạ sĩ quan và binh sĩ và 14 hành khách, gồm 6 của hải quân và 8 dân thường -- một thông dịch và 7 kỹ sư, bao gồm Satonobu Gamo. Khi tàu rời Singapore đã bị hải quân Mỹ phát hiện khi các mật điện giữa tàu và BTL hải quân Nhật đã bị nghe lén.

Khi vượt Ấn Độ Dương, để tránh phát hiện, tàu chỉ nổi lên vào ban đêm. Ban ngày, hành khách và quân nhân ko trực phải nằm để tiết kiệm dưỡng khí. 


Vào ngày 15/5, tàu I-52 đã đi vòng Phi châu và vào Đại Tây Dương. Nó được lịnh sẽ gặp một tàu ngầm Đức giữa đại dương, để nhận một hoa tiêu Đức và một máy phát hiện radar mới với 2 nhân viên điều khiển, để tàu có thể xâm nhập vào cảng Lorient của Pháp nhưng đang bị Đức kiểm soát. 

Nhưng vào lúc này, Đại Tây Dương lại là một cái hồ của phe Đồng Minh. Vì chung quanh đại dương này, các trạm nghe ngóng liên tục chuyển tiếp (relay) các vị trí của tàu phe Trục. Đồng minh đã giải được bộ mật mã có tên là Enigma của Đức, nên họ đã đọc được các mật điện của HQ Đức. 

Tin tình báo này đã khiến các tàu ngầm Đức hay U-boat phải lẩn trốn. Tình báo của Đồng minh giờ đây cũng biết những mật điện của tàu I-52.

Các sq tại BTL Mỹ ở Washington, D.C. đã xác định vị trí của I-52 cũng như các tàu ngầm địch tại đại dương này. 

I-52 vượt đường xích đạo vào ngày 4/6, hai ngày trước vụ đổ quân vào Normandy của Pháp và dự định gặp chiếc U-530 vào ngày 23/6, chiếc này đang chờ họ. 

Khi hai tàu đã nổi lên, hạm trưởng Đức, Kurt Lange, thả xuống một xuồng cao su có ba người gồm trung úy Schafer là hoa tiêu dẫn đường vào cảng và hai hiệu thính viên Schulze và Behrendt -- và một hộp gỗ đựng máy phát hiện radar mới. Vì sóng to, hộp này rơi xuống biển nhưng một thủy thủ Nhật vớt được. 

Hai giờ 15 phút sau khi hai tàu gặp nhau, chiếc U-530 chạy về hướng tây. Vì nghĩ rằng ban đêm nên hai tàu vẫn nổi trên mặt nước. 

Trong khi đó, cách đó 55 dặm Anh, phi công của chiếc máy bay phóng lôi Avenger xuất phát từ mẫu hạm USS Bogue. Đây là một tàu chỡ hàng cải biến thành mẫu hạm. 

Phi công Taylor, 28 tuổi, chỉ huy của phi đội 69, gồm 14 phi công của mẫu hạm này. Họ có thể bay liên tục những chuyến bay đêm, đáp máy bay xuống một bãi đáp nhỏ hẹp của mẫu hạm trong ánh sáng lờ mờ. 

"Chúng tôi đã công tác 7 tuần và sắp hết thức ăn và nhiên liệu. Đây là sứ mạng cuối cùng trước khi trở về căn cứ Norfolk ở Virginia."

Trong khi Taylor hướng về khu vực chỉ định, Ed Whitlock, một nhân viên radar của máy bay, đã ghi nhận một tiếng bíp. Khi bay gần tới, họ thả hai pháo khói và một phao màu tím. Phao này là một máy phát tín hiệu, mới được sáng chế, dùng để chuyển tiếp âm thanh dưới nước tới một máy thu trong phòng lái. 

Âm thanh mà họ nhận là từ một cánh quạt của tàu, và chẳng bao lâu họ đã đối diện một tàu ngầm lớn của địch, hoàn toàn nổi trên mặt nước, đang rẻ nước với tốc độ 10-12 hải lý.  

Trong khi tàu I-52 nhanh chóng lặn xuống, Taylor bay trước mũi tàu ngầm, làm thành số 8, và ném hai bom nổ sâu rất mạnh (depth bomb) vào mạn phải (starboard) của tàu. Bay vòng trở lại, ông ném vào chỗ nước xoáy (boil) tạo ra khi tàu lặn xuống, một thủy lôi âm học Mark 24.  Ba phút sau đó, âm thanh của hủy diệt đã được thu vào phao nổi sonobuoy. Xạ thủ Andy của chiếc máy bay phóng lôi nói rằng âm thanh giống "giấy bị vo thành cục trong nắm tay chúng ta."

45 phút sau, chỉ huy của mẫu hạm Bogue, A.B.Vosseller, ra lịnh cho một máy bay phóng lôi khác đến vị trí vừa kể. Phi công đã thả một thủy lôi sau khi ghi nhận tiếng động của cánh quạt tàu ngầm, và 17 phút sau ông nghe một tiếng nổ mạnh. 

Chiếc I-52 -- mà các chấn động từ những vụ nổ, đã khiến nước biển tràn vào phòng áp suất*, các vách ngăn bị sụp đổ, còi báo động phát liên tục, đèn đuốc mờ dần và cuối cùng tối đen -- và con tàu với 112 người nhanh chóng chìm xuống đáy biển. 

Ngày kế, các tàu hộ tống của mẫu hạm Bogue đã thấy những mảnh vụn và một vệt dầu lớn trên mặt biển. Chiếc USS Janssen, đã vớt được hơn một tấn cao su thô, cũng như một đôi dép và những hạt gạo. Một chiếc khác vớt được một cuộn chỉ thêu (silk thread) và những mảnh thịt (pieces of flesh). 

Năm 1944. Suốt mùa hè, TĐS Nhật ở Đức ngày càng lo lắng về chiếc tàu ngầm I-52, có ám danh là Momi. Các hàng hóa chiến lược cho Nhật đang nằm chờ ở cảng Lorient như: máy radar, máy ngắm để ném bom (bombsight), ống chân không, thủy tinh quang học, bạc đạn bằng thép, thủy ngân, đạn súng máy, thép hợp kim thấp (alloy steel) cho động cơ máy bay, hóa chất, bạch kim, và ít nhứt hai thủy lôi âm học T-5 mới phát triển. Các nhà ngoại giao cũng chờ để về Nhật bằng chiếc I-52.

Nhưng hạn kỳ của chiếc này, 25/6, đã qua, và hy vọng đã mờ dần khi, ngày 30/6, họ đã nhận được được một mật điện mã số QWF -- có vẻ phát đi từ chiếc I-52 nhưng cũng có thể là thông tin sai từ nước Anh -- với ý nghĩa tàu chỉ cách cảng Lorient 36 giờ. Viên phó tùy viên hải quân tại Berlin, Yoshikazu Fujimura, đã rời Berlin với 8 viên chức Nhật để đón tiếp tàu. Dựa vào mật điện có mã số QWF, họ đã đến cảng Lorient ngày 31/6.

"Điều ấn tượng nhứt là có khoảng 200 thành viên của Thanh niên Hitler tại Lorient," Fujimura nói với Seiichi Nakata, một viên chức về truyền hình Nhật vào năm 1986. "Đặc biệt... các cô gái Đức ở tuổi trên 20 có vẻ rất mơn mởn và đầy nghị lực (fresh and energetic). 

Một tàu chiến Đức rời bến để gặp tàu ngầm Nhật. Họ đã chờ (stand by) trong bốn ngày. Ngày 8/8, tùy viên hải quân của TĐS Nhật tại Đức, đô đốc Kojima, gửi điện cho Uno, hạm trưởng của I-52 từ Berlin. " Dù chúng tôi ko thể liên lạc với ông, chúng tôi cầu nguyện cho ông được an toàn. Vì rất nguy hiểm. . . khi vào Lorient hay các cảng khác dọc bở biển Pháp, cố gắng tiến tới cảng Trondheim hay Bergen ở Na Uy."

Và khi quân Đồng Minh bao vậy Lorient, Fujimura lâm vào tình thế khó khăn (quandary). "Không còn cách nào thoát ra trừ phi mổ bụng (hara-kiri). . . Khi tôi nói với cấp dưới, "Các ông nghĩ thế nào? họ đã xoa bụng và nói sẽ đau lắm."

Những người Nhật này đã quyết định nhanh chóng rời (make off) bằng xe bus. Sau một tuần di chuyển gian nan (harrowing) xuyên qua các phòng tuyến của xe tank Đồng minh, họ đã tới Paris ngày 8/8. 

Ba ngày sau đó phó đô đốc Abe, đại diện của Nhật tại Hội đồng Ba bên của phe Trục tại Berlin, điện về Tokyo: "Tai họa này đã ập xuống (befall) liên tiếp với các tàu ngầm liên lạc, ở một thời điểm mà những tàu này đóng một vai trò quan trọng trong việc liên lạc giữa Nhật và Đức, quả là một tổn thất cực kỳ đáng tiếc cho cả hai nước."

Khi được hỏi về số vàng, Fujimura bình luận,"Tôi ko luyến tiếc việc mất... vàng. Tôi chỉ tiếc là chúng ta đã mất 100 thủy thủ. Tôi cầu mong tôi có thể vớt được các thi thể."

Năm 1944. Trước khi chạy khỏi Lorient, quân Đức đã hủy hầu hết hàng hóa dành cho chiếc I-52. Nhưng một món ko có trong danh sách phá hủy, chỉ ghi vắn tắt, "--- oxide 500 kí."

"Dĩ nhiên đó là oxide uranium,"Tidwell nói, khi điền vào chỗ trống. Nếu chiếc I-52 nhận số hàng này, số uranium này sẽ tới Nhật vào mùa đông 1944 và được dùng để phát triển vũ khí, dù ko chế bom nguyên tử, như một số người đã lo sợ vào thời đó. 

Cả Đức và Nhật đã có các nghiên cứu bước đầu về nguyên tử, nhưng Hitler đã hủy bỏ các cố gắng của Đức vì y nghĩ rằng Đức sẽ nhanh chóng chiến thắng và chương trình này có thể quá tốn kém. Nhật đã cố gắng tìm một phương pháp để làm giàu uranium nhưng chỉ ở giai đoạn đầu của nghiên cứu. Không nước nào sắp chế tạo một quả bom nguyên tử. 

Tuy nhiên, Nhật vẫn muốn oxide uranium cao cấp và dựa vào Đức để có. Có một bằng chứng là năm 1944, một tàu ngầm Đức đã chuyển đến Nhật 500 kí nguyên liệu này, nhưng 500 kí khác đã mất trên biển trên đường tới Nhật. 

Chuyến chuyên chỡ uranium cuối cùng rời cảng Kiel ngày 25/3/1945, trong một tàu ngầm lớn, loại thả mìn của Đức mang số hiệu U-234, chỉ huy bởi hạm trưởng Johann-Heinrich Fehler. Nó chuyên chỡ khỏi Âu châu -- vũ khí, đạn được, kim loại, và một chiến đấu cơ phản lực Messerschmitt 262 đã được tháo rời. Thủy ngân và chì (lead) được dùng để tạo thăng bằng cho tàu (keel ballast), và ở mũi tàu là mười thùng chứa oxide uranium. 

Trong 12 hành khách có tướng Ulrich Kessler, tân tùy viên không quân của TĐS Đức ở Tokyo, cũng như hai sĩ quan kỹ thuật, Genso Shoji và Hideo Tomonaga, cùng đi với phái đoàn đến Lorient để đón tiếp chiếc I-52. 

Vào ngày 8/5, sau khi chiếc U-234 từ biển Na Uy đến bắc của Đại Tây Dương, nước Đức đã đầu hàng, và ra lịnh bảo tàu về Na Uy. Nhưng hạm trưởng Fehler thích ở Mỹ hơn và cho tàu chạy về hướng tây. 

Japan chưa chịu đầu hàng, nên Fehler đã buộc Tomonaga và Shoji phải ở tại phòng. Họ đã được tìm thấy, như Wolfgang Hirschfeld, một nhân viên truyền tin của U0234, mô tả trong hồi ký; "nằm trong ghế bố sát nhau, tay nắm tay, thở như rống (stertorously), và ko thể thức dậy."Một lọ thuốc ngủ Luminal trống rỗng được tìm thấy gần đó. Sau khi họ chết, Fehler đã bọc họ trong vãi võng với gươm của Tomonaga và thả xuống biển. 

                     




Wednesday, February 28, 2018

Ngày 7/12/1970 , thủ tướng Tây Đức Willy Brandt quì gối tại đài tưởng niệm nạn nhân của Đức Quốc Xã tại Warsaw (Ba Lan) . 
Trên vực thẵm của lịch sử Đức , mang nặng trách nhiệm về hàng triệu người bị tàn sát , tôi đã làm những gì con người làm khi lời nói không thể diển tả được . -- TT Willy Brandt ngày 7/10/1970 .

Saturday, October 28, 2017

Người Đức giành 1 nửa giải Nobel thế giới, bí quyết là để trẻ em… thua từ vạch xuất phát

Trẻ em trước 6 tuổi thích hợp với loại giáo dục mầm non ra sao? Loại giáo dục nào sẽ giết chết thứ quý giá bẩm sinh của trẻ em, loại giáo dục nào sẽ khiến những thứ quý giá đó được nở rộ và tạo hạnh phúc cho cả cuộc đời?
Thế kỷ 20, giải thưởng Nobel của nước Đức nhiều hơn bất cứ nước nào, giành hết một nửa giải thưởng Nobel của thế giới. Người Đức nổi tiếng là cẩn trọng, họ rất coi trọng trẻ em. Cũng chính vì như vậy, giáo dục mầm non của trẻ em Đức cũng trở thành tiêu điểm của thế giới. Rốt cuộc họ làm sao bồi dưỡng được nhiều nhân tài xuất sắc như vậy?
1. Giáo dục gia đình
Điều quan trọng là giáo dục của người mẹ đối với đứa con, phúc lợi xã hội của nước Đức rất tốt, vì vậy phần lớn các bà mẹ người Đức trong những năm đầu sau khi sinh con đều lựa chọn ở nhà trông con. Người Đức cho rằng, vai trò người mẹ có địa vị rất lớn đối với sự trưởng thành của con. Vì vậy những bà mẹ “làm toàn thời gian” thậm chí còn cảm thấy tự hào vì bản thân là một người mẹ. 
  • Khả năng tự lập bắt đầu từ ăn cơm
646_86537_3
Đến khi trẻ 3 tuổi, là có thể ngồi cùng người lớn trên bàn ăn để ăn cơm. (Ảnh: Shuuu)
Khi các bé bắt đầu có thể cầm thìa ăn cơm, có thể ngồi vững, chúng đã phải tự mình ăn cơm ở trên ghế ăn. Các bà mẹ cũng chuẩn bị sẵn tâm lý để thu dọn mâm cơm lúc “tàn cuộc”. Đến khi trẻ lên 3 tuổi, chúng có thể ngồi cùng người lớn trên bàn ăn để ăn cơm. Quan trọng nhất là họ không bón cơm và không ép con ăn cơm. Mẹ sẽ là người chuẩn bị món ăn dinh dưỡng, nhưng việc ăn và cách ăn là tùy thuộc ở trẻ.
  • Bồi dưỡng phẩm chất ý chí bền vững
Ở Đức có không ít gia đình quan niệm “không có thất bại, chỉ có tạm thời chưa thành công”, vì vậy các bé người Đức tuy tuổi còn rất nhỏ nhưng đã hiểu được đạo lý này. Tôi từng gặp một cậu bé người Đức 5 tuổi trong một lần nhà trường tổ chức thi chạy bộ. Cậu bé chạy một lúc thì bị trật chân, thầy giáo chạy đến nói mấy câu như “tuy thất bại rồi, nhưng biểu hiện của em rất dũng cảm”. Cậu bé người Đức lập tức đính chính thầy giáo: “Em không thất bại, chỉ là tạm thời chưa thành công”. Những người đứng bên cạnh nghe thấy đều cảm thấy cậu bé người Đức thật tài giỏi.
tg-24-gio-qua-anh-em-be-bat-tay-linh-le-duong-a8f7cb
Ở Đức có không ít gia đình có quan niệm “không có thất bại, chỉ có tạm thời chưa thành công”. (Ảnh: Internet)
  • Cổ vũ trẻ đối diện thách thức
Cha mẹ người Đức không giống cha mẹ các nước Á Đông, khi họ thấy con cái đối mặt với rủi ro, họ sẽ giúp con giải quyết. Ví dụ, bé 2 tuổi thử trèo lan can cao 2 mét, họ sẽ nói với con rằng nhiệm vụ này tuy khó khăn, nhưng ba mẹ tin rằng con sẽ có thể thành công. Họ cổ vũ con đối diện với thử thách vượt quá năng lực. Đôi khi, nhìn thấy em bé 1 tuổi tự mình bò lên sườn dốc, dù ngã nhiều lần, người mẹ chỉ đứng bên cạnh im lặng nhìn con. Có lẽ, tinh thần cổ vũ trẻ em đối diện với thử thách này đã đào tạo được nhiều người đoạt giải thưởng Nobel dũng cảm phá vỡ quy tắc bình thường như vậy.
startalk-1481708223-top1
“Nhiệm vụ này tuy có chút khó khăn, nhưng ba mẹ tin rằng con sẽ có thể thành công”. (Ảnh:Internet)
  • Đối mặt với các bé khó xử lý
Trẻ em người Đức cũng giống như mọi trẻ em khác, thích nhõng nhẽo đòi mua đồ ở trong siêu thị. Để đối phó với tính cách này của con trẻ, một bà mẹ người Đức đã nói với đứa con đòi mua một chiếc xe đua đồ chơi loại lắp ráp: “Nếu như con có khả năng mua cho mình một chiếc xe đua lắp ráp, con có thể mua. Nếu như không có, vậy con chỉ có thể từ bỏ thôi”. Đứa bé cảm thấy mình không có khả năng nên không làm ồn nữa mà liền ngoan ngoãn theo mẹ về nhà.
don trung quoc
“Nếu như con có khả năng mua cho mình một chiếc xe đua lắp ráp, con có thể mua. Nếu như không có, vậy con chỉ có thể từ bỏ thôi.” (Ảnh: Internet)
  • Gánh vác trách nhiệm từ nhỏ
Một bé gái người Đức 3 tuổi đẩy một búp bê vải ra khỏi nhà, che ô, lau mồ hôi, bón sữa cho búp bê vải như chăm sóc em bé. Khi một bé gái khác hỏi rằng có thể cho mượn búp bê vải chơi một lát không, cô bé 3 tuổi cương quyết từ chối: “Mình phải chăm sóc tốt cho Tôm (búp bê vải), mình là mẹ của nó, mình không thể để người khác làm hại nó…”. Mẹ của bé gái người Đức sau đó chia sẻ mua búp bê vải cho con là có mục đích, là hy vọng con từ nhỏ đã gánh vác trách nhiệm và biết chăm sóc người khác chứ không phải luôn được người khác chăm sóc.
  • Tôn trọng trẻ em, chủ trương “đến trước được trước” chứ không nhấn mạnh chia sẻ
Bà mẹ Đức chủ trương: Ai đến trước người đó chơi trước, những bạn nhỏ khác phải học cách chờ đợi. Các bé đều cảm thấy thích điều này. Tôn trọng nhân cách độc lập của trẻ, tôn trọng quyền lợi ưu tiên của trẻ là rất quan trọng. Một mặt là bồi dưỡng lòng tự tôn và tự tin tốt đẹp cho con, mặt khác truyền thông điệp cho con rằng: Con cố gắng con có được trước thì là của con, người khác không giành lấy được. Vì vậy, điều đó làm cho trẻ em Đức phấn đấu vì mục tiêu của mình. 
Tre-em-Nhat-di-hocava-7ad2c
Bà mẹ Đức chủ trương: ai đến trước người đó chơi trước, những bạn nhỏ khác phải học cách chờ đợi. (Ảnh: Internet)
2. Giáo dục trường mầm non
  • “Chơi” là nhiệm vụ quan trọng
Trường mầm non của Đức phần lớn là chế độ tuổi trộn lẫn, không có chia lớp rõ ràng. Các bé từ 2-3 tuổi bắt đầu vào trường mầm non, mỗi ngày sau khi đến trường mầm non, mỗi bé tự tìm người bạn mà mình thích, chọn một chủ đề yêu thích để chơi cùng nhau. Chúng có thể trèo cây, có thể quan sát con kiến, có thể chơi đồ hàng, đồ chơi. Nhiều lúc cô giáo sẽ đưa chúng đi tham quan tiệm bánh mì, nhà máy, bệnh viện, cục phòng cháy chữa cháy, cục cảnh sát, viện phúc lợi thậm chí là nhà tang lễ. Cô giáo cũng sẽ mời người của một số bộ phận đến trường mầm non để giảng về một số kiến thức cơ bản. Mục tiêu và phương án dạy học của mỗi trường mầm non đều do giáo viên trường mầm non tự chủ quyết định, chứ không phải là quyết định thống nhất của Bộ giáo dục.
tre_hoc_duoc_gi_qua_cac_tro_choi_2
  • Đào tạo kỹ năng sống cơ bản
Năng lực sống của trẻ em Đức rất mạnh, điều này có được từ phương hướng giáo dục của giáo viên. Trong thời gian 3 năm, trường mầm non sẽ bày một số máy tính cũ, máy móc cũ cho các bé tiếp xúc hoặc sửa chữa, cùng các bé thiết lập kế hoạch chơi và kế hoạch nghỉ ngơi của trường mầm non, dạy các bé biết làm sao phối quần áo đẹp hơn, tự mình thu dọn đồ dùng, còn để các bé gặp khó khăn tự mình tìm cảnh sát, tìm nhân viên chữa cháy… Đến khi các bé 6 tuổi tốt nghiệp trường mầm non, chúng đã là những đứa bé giỏi biết tự chăm sóc mình.
day-con-ky-nang-song
Kỹ năng sống cho trẻ em, đây cũng chính là chìa khoá cho sự trưởng thành của các bé.(Ảnh: internet)
  • Trường mầm non không được bố trí nhiệm vụ đọc viết và làm bài tập cho các bé
Trường mầm non của Đức quy định, không được bố trí nhiệm vụ đọc viết và làm bài tập cho các bé. Vì vậy khi bạn tới trường mầm non ở Đức sẽ không nghe thấy tiếng đọc sách sang sảng, cũng không nhìn thấy trẻ em Đức tan học về nhà phải nhờ mẹ cùng làm bài tập. Người Đức cho rằng, khai phát trí lực quá sớm sẽ tổn hại đến sự nhiệt tình học tập của trẻ, thà rằng trễ vài năm cũng không muốn trẻ cả đời chán ngán việc học. Vì vậy cho dù là lớp học năng khiếu, họ cũng đợi cho đến sau khi con 6 tuổi mới bắt đầu học. Nghĩa là họ sẵn sàng chấp nhận cho con em mình khởi động chậm hơn, xuất phát chậm hơn, bù lại có thể đi được một quãng đường xa hơn. 
day-tre-ky-nang-song-3
Người Đức chú trọng những năm tháng đầu tiên khi tới trường của trẻ nhỏ, một không khí vui tươi. (Ảnh: Internet)
  • Dạy trẻ thích ứng với môi trường mầm non
Trường mầm non của Đức có kinh nghiệm rất hay đối với học sinh mới: Họ sẽ yêu cầu các bà mẹ của học sinh mới ở cùng với con trong ba, bốn ngày đầu con nhập học. Các bà mẹ tụ tập lại trò chuyện, các bé ở một bên chơi đùa. Cho đến trước giờ tan học của ngày thứ 4, cô giáo sẽ nói với các bé, bắt đầu từ ngày mai, mẹ sẽ không thể luôn ở bên cạnh các bé để các bé chuẩn bị tâm lý. Đến ngày thứ 5, trong lúc đang chơi cùng con, mẹ sẽ bỏ đi 1 tiếng rồi quay lại, trong ngày thứ 6 mẹ bỏ đi 2 tiếng rồi mới quay lại… Một tuần sau các bé sẽ thích ứng cuộc sống trong trường không có mẹ bên cạnh, giảm bớt rất nhiều căng thẳng cho các bé. 
Châu Yến biên dịch
Xem thêm:

Văn hóa kinh doanh của người Đức: Bất kể hành vi phi đạo đức nào cũng sẽ là nguyên nhân dẫn tới thất bại

Là một đất nước có nền kinh tế hùng mạnh và dựa nhiều vào thương mại, ngoại thương, Đức luôn được đánh giá là có văn hóa doanh nghiệp rất chuyên nghiệp và hiệu quả.
Những nhà nghiên cứu về thị trường mong muốn có được lợi nhuận thì phải phù hợp và hòa nhập được với văn hóa của người bản địa. Sự khác biệt lớn trong văn hóa kinh doanh mà các doanh nhân gặp phải thường là về phong cách kinh doanh, thái độ đối với sự phát triển mối quan hệ đối tác, nguyên tắc đúng hẹn, phong tục tặng quà…
Khi bạn có ý định kinh doanh ở Đức, hiểu về văn hóa kinh doanh của người Đức là một yếu tố cần thiết hàng đầu giúp bạn có thể hợp tác thành công với đối tác của mình.
Thương mại, ngoại thương, Đức luôn được đánh giá là có văn hóa doanh nghiệp rất chuyên nghiệp và hiệu quả. Ảnh youtube.com
Bất kể một hành vi phi đạo đức nào cũng sẽ là nguyên nhân dẫn tới sự thất bại trong đàm phán kinh doanh
Doanh nhân Đức không xem tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu. Hoạt động của một doanh nghiệp không chỉ là tìm lợi ích kinh doanh mà tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm mới là thiên chức của nhà doanh nghiệp Đức.
Doanh nghiệp Đức không cạnh tranh nhau bằng giá rẻ mà chỉ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Họ tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh với một mức độ cần phải có và sẵn sàng chuyển phần lớn lợi nhuận để đầu tư vào chất lượng sản phẩm, phục vụ hậu mãi, nhằm đảm bảo phát triển doanh nghiệp bền vững.
Những trường dậy nghề ở Đức luôn có môn học về đạo đức kinh doanh. Một trong hai trường dạy nghề đầu tiên nổi tiếng ở Berlin đã lấy lời của Christian Beuth để làm khẩu hiệu:
Trường này chỉ dành cho những người rất có khả năng, siêng năng, có tư cách đàng hoàng và có đạo đức; những người khác sẽ bị đuổi học. Được gia nhập trường là một sự tuyên dương. Sự siêng năng kinh doanh không thể không đi kèm với đạo đức. Nhà trường không có hình phạt nào khác là buộc thôi học.
Chính vì coi trọng và ưu tiên các giá trị đạo đức trong kinh doanh, nên nếu làm ăn với người Đức, bạn đừng hy vọng những “chiêu trò” nhằm thu được lợi ích ngắn hạn, xâm hại đến lợi ích của người khác, chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà bỏ qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ sẽ thu hút được sự chú ý của họ trong đàm phán kinh doanh.
Hối lộ và tham nhũng
Theo như trang đánh giá www.transparency.org, Đức đạt 79/100 điểm về việc chống tham nhũng và chỉ số tham nhũng là 13/176. Lĩnh vực xây dựng và đấu thầu được chính phủ Đức đặc biệt quan tâm nhằm cắt giảm nạn tham nhũng trong và ngoài nước. Các luật chống tham nhũng áp dụng nghiêm ngặt cho các hoạt động kinh tế trong nước. Đức đã phê chuẩn Công ước về chống hối lộ năm 1998 qua đó làm giảm việc hối lộ của các quan chức nước ngoài của công dân Đức và các công ty ở nước ngoài.
Hầu hết các chính phủ và chính quyền địa phương đều liên kết với nhau để luân phiên nhân sự ở các khu vực dễ bị tham nhũng. Cán bộ Chính phủ bị cấm nhận quà tặng liên quan đến công việc của họ. Chính phủ Đức đã truy tố hàng trăm vụ tham nhũng trong nhiều năm qua. Vì thế khi làm ăn, giao thương với người Đức, nếu có ý định “đi cửa sau” hoặc “bôi trơn” thì bạn sẽ có nhiều khả năng đánh mất niềm tin của họ vì đó không phải là hành vi được ủng hộ trong kinh doanh ở đất nước này.
Khi hợp tác kinh doanh ở Đức bạn không thể nghĩ đến “đi cửa sau” hoặc “bôi trơn” vì nó không có tác dụng. Ảnh amazon.com
Doanh nghiệp và chính phủ cùng hợp tác bảo vệ môi trường
Chính phủ Đức nhìn nhận vô cùng nghiêm túc về vấn đề môi trường, việc thúc đẩy liên minh hợp tác giữa các Đảng, giữa doanh nghiệp và chính phủ trong những năm qua đã tác động to lớn đến mục tiêu chính sách về năng lượng và môi trường. Từ việc loại bỏ dần năng lượng hạt nhân để thúc đẩy hiệu suất năng lượng và tái tạo năng lượng, Đức trở thành quốc gia tiên phong trong Liên minh Châu Âu về việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tạo ra nguồn nhiên liệu sạch thay thế. Nước Đức cũng đã trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về khai thác và sử dụng năng lượng gió.
Năm 2000, chính phủ đã thành lập một cơ chế chấm dứt việc sử dụng năng lượng hạt nhân trong 15 năm tới. Chính phủ cũng đang nỗ lực để đáp ứng cam kết của EU đối với việc bảo vệ thiên nhiên. Vì thế những hoạt động kinh doanh có yếu tố bảo vệ hoặc gây ít tác hại tới môi trường sẽ được cộng thêm điểm trong thứ tự ưu tiên của đối tác Đức.
Vạch rõ giới hạn và tuân thủ theo các nguyên tắc, quy định
Xét về nhiều góc độ thì người Đức được đánh giá là bậc thầy trong việc lập kế hoạch. Người Đức suy nghĩ rất thấu đáo, mỗi một khía cạnh của một dự án đều có một phương án chi tiết, kĩ càng. Thận trọng trong việc lập kế hoạch giúp cho người Đức luôn có phương án tối ưu nhất trong cả kinh doanh và cuộc sống, họ luôn đặt mình vào trong một giới hạn an toàn.
Người Đức suy nghĩ rất thấu đáo, mỗi một khía cạnh của một dự án đều có một phương án chi tiết, kĩ càng. Ảnh mshoagiaotiep.com
Mọi việc trong cuộc sống và công việc của người Đức hầu hết đều được vạch rõ và điều chỉnh bởi những quy định, ví dụ: thông qua luật pháp, nguyên tắc và thủ tục. Đó là những điều hết sức rõ ràng trong quản lí kinh tế, chính trị và môi trường xã hội công bằng. Người Đức tin tưởng rằng việc vạch rõ ranh giới giữa người với người, giữa những địa điểm và những sự việc là một con đường vững chắc nhất để đưa con người tuân thủ theo những nguyên tắc và quy định trong cuộc sống. Trong văn hóa kinh doanh của người Đức thì điều này được phản ánh trong việc tuân thủ các nguyên tắc kinh doanh, làm giảm đi các phương án dự phòng hay hạn chế các tình huống tự phát trong quá trình diễn biến sự việc.
Người Đức không thích sự bất ngờ. Những thay đổi đột xuất trong các thương vụ kinh doanh thường không được chào đón mặc dù họ có thể đưa ra phương án giải quyết ngay lúc đó. Kinh doanh là một công việc được xem là rất nghiêm túc, và người Đức sẽ không đánh giá cao nếu bạn đưa ra nhiều phương án bổ sung, thay thế, điều đó thường bị xem là một kế hoạch không chuyên nghiệp.
Nguyên tắc đúng giờ
Người Đức quan niệm rằng người lịch sự bao giờ cũng đến đúng giờ. Cả các sếp cũng vậy. Nếu chủ ý đến muộn để thể hiện cấp bậc của mình, hay quan niệm người quan trọng thì phải xuất hiện sau cùng sẽ phản tác dụng đối với người Đức.
Người Đức cảm thấy thoải mái với việc tổ chức và phân chia rõ ràng từng phần công việc để kiểm soát nó một cách hiệu quả. Họ quản lí thời gian rất cẩn thận và tuân thủ nghiêm ngặt, họ luôn lên lịch trình và viết nhật kí công tác để theo dõi và quản lí chi tiết từng giai đoạn công việc theo tiến độ thời gian. Tàu điện ngầm đến và rời ga đúng giờ từng phút, các dự án được lên lịch trình và xây dựng bằng biểu đồ quản lí chi tiết, cẩn thận. Việc bạn đến muộn dù chỉ là vài phút khi gặp gỡ với người Đức cũng thể hiện ra sự thiếu tôn trọng đối với đối phương, do vậy bạn đừng trễ hẹn khi có cuộc gặp với họ. Nếu vì một lí do nào đó mà bạn đến trễ, hãy gọi điện và giải thích cho họ về tình huống khiến bạn trễ hẹn. Để có một cuộc hẹn thể hiện sự tôn trọng với đối tác, bạn hãy đến sớm 5 đến 10 phút.
Để có một cuộc hẹn thể hiện sự tôn trọng với đối tác, bạn hãy đến sớm 5 đến 10 phút. Ảnh amazon.com
Văn hóa tặng quà
Người Đức thường không có thói quen tặng quà cho đối tác kinh doanh. Người ta thường chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh, bỏ bớt các thủ tục, nghi thức, nghi lễ như tặng quà cho đối tác khi đi công tác kinh doanh. Tuy nhiên, trong nhiều hoạt động xã hội thì việc tặng quà vẫn là một việc làm tương đối phổ biến. Sau đây là những gợi ý quan trọng khi chúng ta xem xét tới việc tặng quà:
Một khách hàng nghĩ tới việc tặng một món quà thì nên lựa chọn những món quà nhỏ những có chất lượng tốt, không quá đắt đỏ. Bạn có thể tặng quà ngay tại buổi họp kinh doanh, mà món quà đó là những dụng cụ văn phòng có thể dùng ngay trong công sở, ví dụ như những cây bút có chất lượng tốt mang hình ảnh hay thương hiệu của công ty bạn.
Khi được mời tới thăm nhà một đối tác kinh doanh người Đức, bạn có thể mang theo hoa, rượu vang, socola, hoặc những món quà nhỏ đặc trưng cho vùng quê hay quốc gia của bạn.
  • Hoa không được gói bằng số lẻ, không phải bọc gói, tránh mua 13 loại hoa hoặc 13 bông hoa hồng đỏ, tuy nhiên quy tắc này lại không áp dụng cho 1 bó hoa mà được gói và bó do người bán hoa.
  • Không tặng hoa hồng đỏ vì nó biểu tưởng cho sự lãng mạn
  • Không tặng hoa cẩm chướng vì nó tượng trưng cho tang tóc
  • Không tặng hoa Ly hoặc hoa cúc vì chúng được dùng trong đám tang
Người Đức thường mở quà ngay khi nhận được, đây cũng nét chung của những người Châu Âu khác trong văn hóa nhận quà.
Những món quà nhỏ và ý nghĩa có thể sử dụng được trong công việc là những món quà được ưu tiên khi chon lựa quà tặng gặp khách hàng. Ảnh pinterest.com
Lịch sự và đẹp mắt trong trang phục công sở
Diện mạo và khả năng thuyết trình là những điểm quan trọng của người Đức, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh thực tế. Ngay cả những bộ trang phục thường ngày của họ cũng sạch sẽ, gọn gàng và chỉnh chu. Sau đây là những cách ăn mặc phù hợp của người Đức khi tham gia vào công việc sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc về cách ăn mặc của họ
Trang phục được làm bằng những chất liệu tốt là rất quan trọng, ăn mặc tùy tiện và cẩu thả trong cả trang điểm đối với nữ giới đều không được đánh giá cao.
Doanh nhân nên mặc comple tối màu, âu phục, cà vạt và áo sơ mi trắng. Phụ nữ cũng là những chân váy tối mầu và áo trắng, hoặc bộ vest công sở. Ảnh brainyquote.com
Trang phục công sở ở Đức được thiết kế rất lịch sự, theo mẫu quy định. Doanh nhân nên mặc comple tối màu, âu phục, cà vạt và áo sơ mi trắng. Phụ nữ cũng là những chân váy tối mầu và áo trắng, hoặc bộ vest công sở, những trang phục này được áp dụng cho cả thời tiết hơi nóng một chút. Khi làm việc với người Đức, bạn không nên cởi áo choàng hay tháo cà vạt trước họ. Phụ nữ được quy định là không trang điểm đậm hoặc đeo những bộ trang sức lớn lộng lẫy. Tuy nhiên bạn cũng đừng ngạc nhiên khi thấy một người mang tất trắng với giầy và trang phục tối màu.
Tịnh Tâm
Xem thêm:
Xem thêm: