Showing posts with label 1972. Show all posts
Showing posts with label 1972. Show all posts

Thursday, March 5, 2026

 

LÀM THẾ NÀO MỸ ĐÃ CHIẾN THẮNG, RỒI THUA, CUỘC CHIẾN VIỆT NAM.


                  Hình đăng trong bài viết này.

Chuyển ngữ từ bài viết của William J. Lutti. 28/03/2025.

 

Lời mở đầu: Bài viết của Lutti phần lớn dựa vào hồi ký của Jim Stockdale, cựu tù binh Mỹ, sau này là một phó đô đốc, nói về tâm trạng của các tù binh Mỹ và cai tù của họ tại trại giam Hỏa Lò Hà Nội sau 10 ngày của tháng 12/1972, khi Hà Nội và khắp miền bắc bị các máy bay B-52 và máy bay chiến thuật ngày đêm liên tục ném bom, đến độ Bắc VN phải nhượng bộ. Stockdale đã viết: “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chĩa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích. Nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên … Các điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.” -- Người dịch.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

====

Những oanh tạc cơ tiếp tục bay đến,” Phó Đô đốc (quá cố) Jim Stockdale kể lại trong cuốn hồi ký xuất sắc của ông vào năm 1984 mang tên Trong Tình Yêu và Chiến Tranh, “và chúng tôi cứ hò reo.” Đêm đó, hơn năm mươi hai năm trước, vào ngày 18 tháng 12 năm 1972, Stockdale và những tù binh khác đã chứng kiến sự khởi đầu của kết thúc của Chiến tranh Việt Nam từ những phòng giam của họ trong nhà tù Hỏa Lò Hà Nội.

Trong mười đêm tiếp theo – ngoại trừ ngày Giáng Sinh – đợt này nối tiếp đợt khác của B-52 đã tấn công các mục tiêu quân sự quanh Hà Nội. Ban ngày, các máy bay chiến thuật của Hải quân và Không quân Mỹ đã bắn phá các kho đạn, kho nhiên liệu và các vị trí hỏa tiển phòng không trên khắp Bắc Việt Nam.

 “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chỉa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích,” Stockdale kể tiếp, “nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên.”

“Chúng tôi, những tù nhân, đã biết rằng sự kháng cự của Bắc Việt đã chấm dứt, và những người lính Bắc Việt này cũng biết điều đó,” Stockdale viết.

Ít có hồi ký chiến tranh nào truyền đạt một cách hùng hồn niềm vui sướng của tù nhân và cảm giác ngày tận thế của những kẻ giam giữ họ như hồi ký của Stockdale:
“Vào bình minh, các đường phố ở Hà Nội hoàn toàn im lặng. Nhạc yêu nước phát ra mỗi sáng không còn đánh thức chúng tôi; âm thanh quen thuộc trên đường phố, các tiếng còi, tất cả đều biến mất. Những điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.”

Và một vài nhân chứng thời chiến khác đã viết: “Chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của bất kỳ sĩ quan Bắc Việt Nam nào… là thấy hết câu chuyện. Nó thể hiện sự nhượng bộ, tuyệt vọng, hối hận, sợ hãi. Cơn sốc này đã hiện rõ; ý chí của kẻ thù của chúng tôi đã bị phá vỡ,” Stockdale viết.

Áp lực quân sự khốc liệt này đối với Bắc Việt đã được khởi động vài tuần trước đó khi, như được trích dẫn trong sách Admirals Under Fire của sử gia hải quân Edward Marolda năm 2021, Tổng thống Richard Nixon đã nói với cố vấn trưởng về quân sự của mình, Đô đốc Thomas Moorer: “Đây là cơ hội của ông để sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để chiến thắng trong cuộc chiến này, và nếu ông không làm, ông sẽ chịu trách nhiệm.”

Để chiến thắng trong cuộc chiến này. Hiếm khi nào lệnh của một tổng tư lệnh lại rõ ràng đến vậy, và trách nhiệm thực hiện mệnh lệnh cũng lại rõ ràng đến vậy.

Moorer, từ lâu bực bội vì những năm ko có chiến lược rõ ràng và việc triển khai dần dần sức mạnh quân sự -- mà không có mục tiêu chính trị rõ ràng -- nay ông vội vàng nắm lấy cơ hội để thắng cuộc chiến.
Đến ngày 29 tháng 12, Bắc Việt Nam đã nhượng bộ. Vì chỉ vài tháng ngắn ngủi sau đó, 591 tù binh Mỹ đã được đoàn tụ với gia đình sau nhiều năm thiếu thốn mọi thứ và tra tấn.

Điều mà Stockdale và nhóm anh em bị cô lập của ông không thể biết là một biến cố quan trọng dẫn đến việc họ được trả tự do -- đã có từ chín tháng trước. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, quân đội Bắc Việt với lực lượng bộ binh và xe tăng đã ồ ạt tràn qua Vùng Phi Quân Sự (DMZ). Mục tiêu của họ: tận dụng khoảng thời gian tạm ngừng ném bom của Mỹ sau năm 1968, để phá hủy chương trình Việt Nam hóa của chính quyền Nixon, cũng như thúc đẩy việc rút quân toàn diện của quân đội Mỹ và lật đổ Sài Gòn một lần và mãi mãi.

Hóa ra đó là một sai lầm chiến lược ở mức cao nhứt (blunder of the first order).

Để đáp trả, lực lượng hải quân và không quân Mỹ đã phát động một chiến dịch không quân quy mô lớn nhằm làm suy yếu rồi đẩy lùi cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của miền Bắc Việt Nam cộng sản, còn được biết đến nhiều hơn với tên gọi Tổng tấn công lễ Phục sinh 1972. (Lễ này thường diễn ra vào tháng 3 hay tháng 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện chết và Phục sinh của chúa Jesus sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá – ND).
Chiến dịch ném bom Linebacker – được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 10 và lần nữa trong 11 ngày vào tháng 12 – được Moorer vạch ra và được tướng Creighton Abrams - Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN, cùng Đô đốc John S. McCain - Tổng Tư lịnh Quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương thực hiện.

Và lần đầu tiên trong suốt cuộc xung đột kéo dài này, cuối cùng việc sử dụng vũ lực đã phù hợp với các mục tiêu chính trị.

Thường có mâu thuẫn về cách sử dụng không quân hiệu quả nhất – khi không yểm hay ngăn chặn tuyến tiếp tế của kẻ thù – những vị tướng đã kết hợp hai chiến thuật này thành một sức mạnh hùng hậu, nghiền nát 14 sư đoàn Bắc Việt tại miền Nam trong khi giảm bớt các tuyến tiếp tế của kẻ thù ở miền Bắc.

Ngoại trừ việc Tướng George Patton đã sử dụng không quân để yểm trợ cho cuộc hành quân tuyệt vời của Quân đoàn thứ Ba đánh xuyên qua Pháp vào Đức trong đệ nhị thế chiến – chưa bao giờ, không quân chiến thuật đã hỗ trợ cho lực lượng bộ binh lại hiệu quả đến vậy.

Theo tất cả các báo cáo khách quan, lực lượng Nam Việt Nam và các cố vấn Mỹ đã chiến đấu dũng cảm và thể hiện vô số hành động anh dũng. Thất bại của Bắc Việt đã buộc những người cộng sản phải đàm phán hòa bình tại Hiệp định Hòa bình Paris.

Nhưng số phận nghiệt ngã đã can thiệp. Hai năm sau, giữa bế tắc chính sách do vụ Watergate và lệnh cấm của Quốc hội đối với can thiệp quân sự của Mỹ tại VN, Bộ Chính trị CSVN nhận thấy một cơ hội.
Ban đầu, lực lượng cộng sản dùng các cuộc tấn công thăm dò để đánh giá phản ứng của Mỹ. Thấy không quân Mỹ không can thiệp, những cuộc tấn công này đã biến thành một cuộc tấn công xông thẳng vào Sài Gòn.

Vào giai đoạn (eve) trước sự sụp đổ của Nam Việt Nam, Tổng thống Gerald Ford, trong nỗ lực giữ lời hứa của Mỹ, đã cân nhắc việc hỗ trợ quân sự cho VN bằng không quân. Nhưng như người bạn cũ của tôi, cũng là cố vấn của tổng thống Ford, Peter Rodman, từng nói với tôi, Tổng thống đã kết luận “không, họ sẽ luận tội tôi.” Và lúc đó thì đã quá muộn.
Thảm kịch của những người tị nạn vượt biên (đường biển và đường bộ), những cánh đồng chết và các trại cải tạo chẳng bao lâu đã xuất hiện.

Hãy để các sử gia và chính trị gia tranh luận về việc ai thắng hay thua trong Chiến tranh Việt Nam. Ai đúng hay sai. Hoặc cách nước Mỹ thua trong các cuộc chiến sau khi đã chiến thắng chúng – như đã lặp lại sau này ở Afghanistan.
Nhưng sau hơn năm mươi hai năm, chúng ta hãy tưởng nhớ những người lính, thủy thủ, lính Thủy Quân Lục Chiến, phi công và cựu tù binh chiến tranh, những người, với lòng dũng cảm và tận tụy, đã thắng Chiến tranh Việt Nam vào năm 1973.
Ông Luti là một Thuyền trưởng Hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu và là một nhà nghiên cứu tại Viện Hudson. Ngày 29 tháng 3 là Ngày Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam Quốc gia".

SJ ngày 4 Mar 2026, cập nhật ngày 5 Mar 2026.

Tài Trần

Nguồn: How America Won, then Lost, The Vietnam War | RealClearHistory

Thursday, September 18, 2025

 

Sự thật cuộc chiến bảo vệ thị xã Quảng Trị từ góc độ chỉ huy cao nhất của mặt trận

Lưu Trọng Văn

13-9-2025

Bên sông Nhật Lệ sáng ấy tôi uống cafe với Hoàng Ba. Ba giới thiệu mình là con trai của đại tá Hoàng Thiện chính uỷ kiêm bí thư đảng uỷ Ban chỉ huy Mặt trận bảo vệ thị xã Quảng Trị những ngày ác liệt nhất năm 1972.

A person in a uniform

AI-generated content may be incorrect.

Chính uỷ Hoàng Thiện.

Tôi hỏi cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị à? Hoàng Ba đáp: Ba em bảo không có cái gọi là “81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị”, mà chỉ có “81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị” thôi. Em hỏi vì sao? Ba em bảo vì thành cổ rất nhỏ nằm trong thị xã Quảng Trị, không có đánh nhau trong thành cổ mà chỉ đánh nhau ở thị xã.

Em có gặp một số bạn chiến đấu của ba em bảo vệ thị xã Quảng Trị, họ đều ca ngợi ba em là vị chỉ huy có quyết định sáng suốt nhất khi ra lệnh quân ta rút lui khỏi thị xã. Nếu không có lệnh quyết đoán trái với chủ trương tiếp tục tấn công thì có thể sẽ không còn ai sống sót ở thị xã Quảng Trị.

Tôi lúc đó muốn gặp đại tá Hoàng Thiện, Ba bảo, ba em sắp 100 tuổi rồi, cụ lúc này sức khoẻ yếu lắm.

A person in a uniform looking at a person

AI-generated content may be incorrect.

Ông Hoàng Thiện (gần 100 tuổi) gặp người cần vụ đã dìu mình vượt sông Thạch Hãn. Nguồn: Đào Xuân Kính

Thế rồi những ngày này dư luận nổi sóng về bộ phim Mưa Đỏ. Sự kiện cuộc chiến thị xã Quảng Trị được nhiều cựu chiến binh trao đổi. Hoàng Ba cho gã xem bức thư viết tay của đại tá Hoàng Thiện gửi ban viết sử về cuộc chiến này.

Tôi xin tóm tắt vài đoạn quan trọng của bức thư:

“Trước hết tôi xin mạnh dạn và thẳng thắn mà nói rằng chủ trương giữ Thị xã Quảng Trị là một sai lầm lớn về chiến lược: Duy ý chí không khoa học, không tuân thủ những nguyên lý, nguyên tắc, tư tưởng quân sự mà cha ông đã đúc kết. Nhất là trong điều kiện “Mỹ hoá chiến trường”, chủ yếu là bằng hoả lực, nó thừa hoả lực và đầy đủ các yếu tố để sử dụng tối đa hoả lực!

Tôi thấy có những đoạn của cuốn sử như là hư cấu, ví dụ các trận vận động tấn công giữa ban ngày dưới phi pháo của địch… diệt bao nhiêu địch… nghe rất chính quy, rất bài bản, như là diễn tập thực binh vậy! Ta thử tưởng tượng xem, với địa hình trơ trụi như vậy, máy bay trinh sát liên tục trên đầu, toạ độ nó đã chuẩn bị sẵn, nó thừa bom đạn, máy bay đã cài bom, đạn pháo đã lên nòng, ta tập kết quân, tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng thế vào đây mà dám thoát ly công sự đánh vào mũi này mũi nọ. Quân ta vận động chiến đấu dưới sự yểm trợ của hoả lực cấp trên (thử xem được mấy quả pháo, mấy quả cối).

Còn tập kích ban đêm. Phải nói địa hình quân ta không thành thạo, địch ta nắm không chắc, chúng luôn né tránh, nghi binh, nó thừa biết ta là tập kích ban đêm, nó dại gì ở một chỗ cho ta tiêu diệt. Chưa nói chuyện ta tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng xong thì trời gần sáng. Thường trong đánh Mỹ ta phải dùng bí mật bất ngờ, khéo nghi binh bám sát thắt lưng địch mà đánh mới diệt được chúng… Tình tiết thì còn nhiều vấn đề nữa”.

Tôi xin cắt khúc đoạn này để nói về lý do nào ngày 22.7.1972 trung đoàn 95 do ông Hoàng Thiện là chính uỷ được điều động vượt sông Thạch Hãn tham gia cùng trung đoàn 48 bảo vệ thị xã Quảng Trị.

Tháng 3 năm 1972 quân giải phóng tấn công và giải phóng thị xã Quảng Trị. Đây là chiến thắng của quân giải phóng tạo thế mạnh cho đàm phán hoà bình ở Paris. Quân đội VNCH đã tổ chức phản công nhưng thất bại.

Tài liệu của phía VNCH cho biết:

“Mất tỉnh Quảng Trị vào tay bộ đội Bắc Việt, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ngay sau đó đã thay thế hai viên tướng: Hoàng Xuân Lãm (Tư lệnh Quân đoàn 1) và Lê Nguyên Khang (Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến) bằng tướng Ngô Quang Trưởng và tướng Bùi Thế Lân và tăng cường thêm lực lượng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân rồi sau đó thêm Lữ đoàn 3 Nhảy Dù và Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh để phản công tái chiếm các vùng đất đã mất.

Từ ngày 11 tháng 7, dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Quân đoàn 1 được tăng cường Lực lượng Tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được yểm trợ từ xa bởi Đệ thất Hạm đội của Mỹ ở ngoài khơi và Không quân Mỹ đã bắt đầu cuộc phản công tái chiếm Quảng Trị.

Các kế hoạch phản công của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã hình thành nhanh chóng, tái chiếm được một số căn cứ cũ như Bastogne, Checkmate và chợ Quảng Trị, Ty Y tế, Ngân Khố, Tòa Án… để cuối cùng đánh bật bộ đội Bắc Việt ra khỏi thành cổ Đinh Công Tráng ở Quảng Trị (ngày 16 tháng 9) sau 81 ngày đêm họ cố thủ tại đây”.

Chính vì cục diện chiến trường thay đổi, ban chỉ huy Mặt trận B5 do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy đã tăng cường trung đoàn 95 của sư đoàn chủ lực 325 vượt sông Thạch Hãn chi viện cho bộ đội bảo vệ thị xã Quảng Trị.

Đại tá Hoàng Thiện tường thuật tiếp trong thư:

“Sau khi tôi vào Thị xã được khoảng một tuần, thì xảy ra mâu thuẫn chủ yếu giữa tôi và đồng chí Thuý(trong ban chỉ huy). Tôi thì cho rằng tình hình này chủ yếu là phải giữ chốt, còn phản kích thì chỉ khi cần thiết và có điều kiện. Đồng chí Thuý thì lại thiên về vận động tấn công ban ngày và tổ chức tập kích ban đêm. Nhưng bộ đội càng thoát ly công sự thì càng bị tổn thất và mất dần trận địa. Thực ra tôi đã từng quần với địch ở đồng bằng QK5, tiếp xúc với nhiều loại đối tượng địch (tôi ở E21 QK5) rất thấm thía là bộ binh địch không mạnh, nhưng nó luôn dựa vào hoả lực để diệt ta, bộ binh luôn né tránh và lừa ta. Suốt thời gian ở Thị xã, tôi chưa thấy được 1 trận vận động tấn công và tập kích nào có hiệu quả, có chăng chỉ dựng lên mà thôi.

Nhưng khốn nỗi trên lại nghe một chiều báo cáo của đồng chí Thuý, còn tôi luôn bị lép vế. Tôi suy nghĩ là Chính uỷ, là Bí thư Ban cán sự phải làm gì đây? Tôi đã ba lần gửi ba bức thư về sư đoàn, nói rõ thực trạng tình hình địch, ta (mỗi lá thư tôi viết cả một tờ giấy liền), lá thư thứ ba tôi có nói: Cần phải quý trọng tính mạng của người chiến sĩ: “hành quân chết, vượt sông chết, tập kết chưa có công sự chết, lạc vào địch chết,v.v.”. Thế là tôi được mang bản án đầu tiên là sợ địch, hữu khuynh, không dám tấn công, sợ chết!

Quá bức xúc, ngày 13/9 trước tình thế hiểm nghèo, tôi qua sông đến Nhan biểu để báo cáo thực trạng với đng chí Việt tham mưu trưởng sư đoàn. Nào ngờ tôi lại được mang bản án thứ hai là “dao động, lui về sau, bỏ nhiệm vụ”.

Tôi viết thế này là để mong các đồng chí trong Tổng kết phải rút ra được kết luận về sắp xếp tổ chức, chỉ huy, lãnh đạo làm sao cho khoa học, có lý có tình để phát huy được sức mạnh. Người chỉ huy phải luôn bám thực tiễn, dám quyết đoán trước biến động mới. Vấn đề báo cáo phải trung thực và người phải tỉnh táo, phải từ nhiều phía. Hết sức lắng nghe những ý kiến trái với mình.

Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến.

Trong bản Dự thảo nhiều đoạn các đồng chí viết về tổ chức phòng ngự và càng về sau càng có liên hoàn và có chiều sâu. Tôi cho rằng các đồng chí không bám thực tiễn lúc đó. Và tư liệu cung cấp có thể là do các đồng chí ở E48. Rõ ràng là không đúng sự thật. Tôi xin nói ở Thị xã Quảng Trị lúc bấy giờ không có khái niệm về phòng ngự. Từ “phòng ngự” là một từ huý, không ai được phát ra lời. Đụng đến từ ấy sẽ mất đầu như chơi, thì làm gì có tổ chức phòng ngự. Quảng Trị chỉ được nói tấn công, liên tục tấn công, vận động tấn công mà thôi. Trên thực tế thì có hình thành những điểm chốt, cụm chốt. Và chốt cũng để làm cơ sở cho tấn công thì làm gì có liên hoàn và chiều sâu.

Khi ra khỏi Thị xã Quảng Trị, tôi đã mang đầy đủ các tư liệu có mệnh lệnh, chỉ thị về chỉ đạo tác chiến ở Thị xã Quảng Trị để sau này tổng kết sẽ có chứng minh, nhưng tiếc thay đến khi tổng kết từ dưới lên trên tôi không được dự (không hiểu có phải có ai đó sợ tôi nói lên sự thật chăng?!).

Nếu có ý đồ phòng ngự thì với đặc điểm Thị xã như vậy, làm gì phải đem vào trên 10d bộ binh, một số đơn vị binh chủng kỹ thuật làm mồi cho bom đạn địch. Do đó tổn thất lớn cũng là từ đây, thua địch từng bước cũng là từ đây!

Trong dự thảo có nhiều đoạn mô tả ra vẻ rất bài bản, rất chính quy và bộ đội ta luôn sung sức. Thực tế luôn có nhiều loạc choạc và không có Tiểu đoàn nào trụ nổi 10 ngày đâu. Như các đồng bí biết thương vong bình quân mỗi ngày 100…! Tiểu đoàn 4E95, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đến khi quân số còn 7, d5 còn 15, tôi cho ra sau để thu lượm anh em để củng cố lại, thế là tôi lại được thêm một cái tội là “tự tiện và vô nguyên tắc”.

Tôi muốn nói thêm việc vận dụng lý luận quân sự Đông Tây, kim cổ và lý luận quân sự Việt Nam đã được tổng kết.

– Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng.

– Những nguyên tắc để hạ quyết tâm: Địa hình, địch – ta (và ý định cấp trên).

Thực ra ba yếu tố đó cũng luôn biến động:

– Địa hình bị bom đạn địch cày xới như vậy cũng luôn biến dạng, tang hoang có gì để che khuất, che đỡ?

– Địch “Mỹ hoá chiến tranh” đến cao độ chủ yếu là hoả lực và phương tiện kỹ thuật. Chúng thực hiện huỷ diệt để lấn chiếm. Bộ binh địch luôn dựa vào hoả lực và đi sau hoả lực. Nó làm nát các ổ đề kháng của ta rồi mới cho bộ binh vào.

Trong tình hình như vậy mà ta tổ chức lực lượng, đánh vận động tấn công để tiêu diệt 1, 2 B của địch thì thật là ảo tưởng.

– Ta cũng luôn có biến động cả lượng và chất.

Quân số liên tục hao hụt, cán bộ chỉ huy luôn bị xáo trộn, có khi cán bộ Tiểu đoàn phải chỉ huy 1B, thậm chí 1A, có khi cán bộ Trung đội lại chỉ huy Tiểu đoàn, v.v.

Lính lúc đầu vào thì sung sức, được huấn luyện tốt, càng về sau chất lượng giảm dần, có những lứa 16, 17 tuổi, vào bộ đội huấn luyện gấp được 1 tháng vào chiến trường ngơ ngơ ngác ngác, lại vào ban đêm hỏi ở đơn vị nào không biết, hỏi cán bộ Đại đội là ai… không biết. Thế mà lúc nào cũng cứ quân ta anh dũng kiên cường, quân địch hoang mang dao động!

Súng, pháo bị tiêu hao dần, đạn không có đủ. Cao xạ gần như bị tê liệt, pháo binh chi viện được tích từng quả, phương tiện thông tin, v.v. Trước thực trạng đó lãnh đạo chỉ huy phải xử trí thế nào? Hay là cứ trước sao, sau vậy.

Đề nghị với các đồng chí cũng nên đem vào Tổng kết.

Phải dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói đúng sự thật.

Tôi cho rằng trong chiến tranh, trong chiến đấu đặc biệt là ở Thị xã Quảng Trị thì sự tổn thất hy sinh là không thể tránh khỏi. Nhưng người lãnh đạo, người chỉ huy phải tìm đủ mọi cách để tránh được tổn thất hy sinh không đáng có. Không nên xây lầu vinh quang trên xương máu của chiến sĩ – Đây là một tội ác.

Tôi thấy cũng cần phải tổng kết để rút kinh nghiệm cho đời sau.

Là một cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt trong Thị xã Quảng Trị, tôi luôn tự vấn mình -trước vong linh chiến sĩ, tôi tự thấy mình luôn là người có lỗi.

Tiếc rằng nhiều người còn né tránh, đổ tội cho người khác.

Đau đớn cho tôi, khi ra khỏi Quảng Trị, cấp trên coi tôi như là một phạm nhân chưa được xét xử, nhanh chóng tách tôi ra khỏi đơn vị, đến nỗi tổng kết ở E, bình công khen thưởng, nhận xét cán bộ tôi cũng không được dự. Thậm chí ra đi không kèn, không trống, không được chào hỏi, từ biệt anh em! May thay tôi vẫn luôn được cán bộ, chiến sĩ thông cảm và thương mến. Biểu hiện rõ nhất là hôm gặp ở Thành cổ vừa rồi, đã qua 32 năm nhưng họ vẫn mang một tình cảm sâu đậm.

Kiểm điểm thi hành kỷ luật tôi thì ở E không biết. Chỉ có một cuộc hội nghị Đảng uỷ F, gồm những người ngoài cuộc ngồi đằng sau đồng chí Nguyễn Công Trang Bí thư Đảng uỷ F đọc một bản tội trạng 5, 6 điểm gì đó. Sau đó phân tích phê phán (không rõ tư liệu đó lấy đâu rõ), sau đó có một vài ý kiến vụn vặt, số đông thì ẫm ờ, vì họ cũng không biết nói gì, không cho tôi trình bày gì. Sau đó đề nghị cách chức – mọi người giơ tay. Và sau đó điều tôi lên mặt trận bộ. Khi công bố kỷ luật đồng chí Hoàng Minh Thi phó chính uỷ Mặt trận gặp tôi nói xuê xoa mấy lời rồi giao quyết định”.

*

Đọc bức thư này có thể hiểu hơn sự thật không chỉ từ phía những người lính mà từ các chỉ huy. Cuộc chiến giải phóng thị xã Quảng Trị là cột mốc lịch sử của quân đội VNDCCH, nhưng cuộc chiến bảo vệ thị xã này lại là cột mốc lịch sử khác. Nó đặt ra những bài học xương máu giữa duy ý chí tiến công và thực tiễn chiến hào. Đại tá Hoàng Thiện đã bị kỷ luật, bị cho ra ngoài các cuộc bình công, đúc kết lịch sử chỉ vì ông dám nói lên sự thật về những sai lầm duy ý chí của cấp trên, vì ông trước hy sinh của lính và thực tế chiến trường đã dũng cảm quyết định rút lui, chấp nhận cuộc bảo vệ thị xã Quảng Trị thất bại.

Khi gã viết những dòng này, Hoàng Ba con trai của đại tá Hoàng Thiện gửi cho gã một tài liệu. Tài liệu này cho biết:

“Ban chỉ huy B5 lúc 13 h ngày 13-9-1972 điện thoại yêu cầu trung đoàn phó trung đoàn 48 ra nhận lệnh. Nhưng đến 1h ngày 14-9-1972 lại gọi Hoàng Thiện chính uỷ trung đoàn 95, chỉ huy mặt trận ra Nhan Biểu để cùng sư đoàn phó sư đoàn 325 “tổ chức tiến công”. Nhưng khi gặp lãnh đạo mặt trận B5 ông Thiện không nghe cấp trên, ông đề nghị rút quân ra khỏi Thành cổ… (Chính vì vậy sau này B5 báo lại ông mới bị kỷ luật). Ông Thiện chống lệnh rồi lập tức tự mình quay lại sở chỉ huy mặt trận chiều 15.9.1972. Tối 15.9.1972 ông Thiện triệu tập cuộc họp với 5 chỉ huy của mặt trận cùng ra quyết định rút quân trong đêm 15.9.1972.

Hai giờ sáng 16.9.1972 bộ đội ở thị xã bơi qua sông Thạch Hãn vì không có thuyền.

A group of men standing outside a building

AI-generated content may be incorrect.

Dinh tỉnh trưởng – nơi ông Hoàng Thiện ra lệnh rút lui.

A person in a hat carrying an object

AI-generated content may be incorrect.

L.T.V. 

Tác giả gửi BVN

Sunday, July 27, 2025

QUÂN CSBV CHIẾM 1 TIỀN ĐỒN Ở CAO NGUYÊN

Nguồn: Hãng AP ngày 3/11.1972.

Sài gòn, nam VN, thứ Sáu, 3/11/1972 -- Hôm qua, Bắc quân dẫn đầu bởi xe tăng đã tràn ngập 1 trại biên phòng khác ở Cao nguyên Trung phần trong khi quân hai bên chiến đấu để mở rộng lãnh thổ trước khi ngừng bắn.

Đức Cơ, 12 dặm cách biên giới Cao Miên và 27 dặm tây nam Pleiku, tin cho biết đã bị tràn ngập trước rạng đông dù cho những cố gắng suốt 24 giờ của gunship và oanh tạc cơ nhằm đẩy lui kẻ thù. Trại này là 1 trong loạt các căn cứ biên phòng được lập ra để quấy rối đường xâm nhập.

Phát ngôn viên CP cho biết địch đã mở 142 cuộc tấn công khắp nam VN trong 24 g chấm dứt lúc rạng đông. Phát ngôn viên nói đây là số lượng nhiều nhất chỉ trong 24 giờ trong vài năm qua, nhưng phần lớn là pháo kích quy mô nhỏ bằng cối và hỏa tiển.

Đài Hà Nội nói việc Mỹ trì hoãn ký kết bản dự thảo hiệp định Paris đã khiến họ "ko có chọn lựa nào khác là đẩy mạnh chiến đấu trên mọi mặt trận." Trong trận Đức Cơ, có tin ít nhất 3 xe tăng bị không quân đồng minh phá hủy.

BĐQ bảo vệ trại đã rút bỏ sau khi bị pháo bằng đại bác và hỏa tiển và bộ binh tấn công 3 mặt. Một số rút chạy về một khu rừng cách đó khoảng 500 m, và bắt tay với những đv khác.

Máy bay tiếp tục ném bom suốt ngày vào quân địch trong khu vực, để chuẩn bị 1 phản công.

BA TRẠI BỊ TRÀN NGẬP

Có tin ngày hôm qua Bắc quân xâm nhập 1 ấp cách Pleiku 4 dặm. Tin cho biết, đó là ấp Pleiblang 3, đã được tái chiếm sau đó, với 4 tên chết và 1 số tài liệu bị tich thu. (Pleibang 3 nằm trên một tỉnh lộ chạy từ Pleiku về phía chính tây -- ND).

Các viên chức ở Pleiku nói biến cố này cho thấy các đv chính quy của CSBV đã chia thành nhiều toán nhỏ và cố gắng xâm nhập càng nhiều khu vực càng tốt để chuẩn bị cho 1 ngưng bắn. 

Phát ngôn viên CP thông tin về trận đánh gần SG, nói rằng quân cs đã bị đẩy lui khỏi 4 ấp mà chúng đã chiếm trong khu vực và những QL chánh trong vùng thủ đô đã mở lại. 

Thông cáo cho biết các ấp được tái chiếm ở 12 dặm tây bắc của SG tới 20 dặm đông của thủ đô./.

Wednesday, July 23, 2025

 QUẬN LỴ QUẾ SƠN BỊ TRÀN NGẬP NGÀY 21/8/1972.

           










Các bài sau đây chuyển ngữ từ các số báo cũ của báo New York Times.

BÀI MỘT

Sài Gòn ngày thứ hai 21/8/1972-- Quân nam VN đã bỏ rơi 1 quận lỵ ở phía bắc và 1 căn cứ hỏa lực (CCHL) gần đó sau 2 ngày bị pháo kích và tấn công bộ binh của CS-- 1 tổn thất lớn nhứt của chính phủ (CP) kể từ những tuần đầu tiên của tổng tấn công của CSBV, bắt đầu ngày 30/3/72.

Thất bại này của CP đã khiến phần lớn quận Quế Sơn tỉnh Quảng Nam vào tay bắc quân.

Một phát ngôn viên quân sự (QS) của nam VN, trong thuyết trình hàng ngày tại SG hôm qua loan báo rằng quận lỵ Quế sơn và căn cứ Ross, khoảng 2 dặm về phía tây, đã "di tản" vào thứ bảy, nhưng ko nói rõ qui mô của thất bại này.

RÚT LUI TRONG VỘI VẢ

Tuy nhiên, nguồn tin có thẩm quyền tại Đà Nẳng, nằm ở 25 dặm đông bắc Quế sơn, nói quân CP "đã ko làm tròn nhiệm vụ" và rút lui vội vả đến độ bỏ lại vài đại bác.

Nguồn tin này chủ ý nói về vài trăm quân chính quy của sđ 2, đóng tại Ross. Họ cũng nói ĐPQ/NQ tại Quế sơn, dù ko được huấn luyện hay trang bị tốt, đã dũng cảm chiến đấu khiến họ kinh ngạc (acquit/perform).

ĐPQ/NQ và lính chính qui đã chạy về CCHL Baldy, khoảng 5 dặm đông bắc của Quế sơn -- căn cứ này gần bờ biển và QL-1.

Họ cho biết 70 phi xuất - phần lớn của Mỹ - đã ko thể ngăn chận tấn công của kẻ thù. 

Quế sơn là quận lỵ đầu tiên rơi vào tay cs trong 1 thời gian dài. Trong những tuần qua, quân CP đã tái chiếm vài quận lỵ đã mất trong giai đoạn đầu của tổng tấn công, dù họ thường tái chiếm mà ko phải chiến đấu nhiều vì kẻ thù đã rút lui để lập phòng tuyến ở nơi khác.

Có vẻ 1 yếu tố quan trọng trong thất bại ở Quế sơn là sự tàn phá của võ khí lớn nhứt của cs, súng 130-ly, bắn xa 17 dặm hay 27.3 km. Đây là lần đầu chúng xuất hiện ở Quế sơn, và khiến mọi phản công dự liệu của CP--sẽ khó khăn.

Trong những tuần đầu của tổng tấn công, csbv xuất phát từ thung lũng Quế sơn, giáp với Lào, lần lượt tấn chiếm từng tiền đồn, dẫn tới quận lỵ này. Các tiền đồn này là quận lỵ Hiệp đức, các CCHL West O'Connor (trước đây của Mỹ, nay bàn giao cho quân CP). Cuối cùng, chúng vây hãm Quế sơn bằng bộ binh và pháo.

Nhưng Quế sơn và căn cứ Ross đã giữ được trong tháng 5--và đe dọa này hình như đã giảm đi. Trong những tháng sau đó, Bắc quân hoạt động ở những đồi phía nam và tây của Quế Sơn, pháo kích và thăm dò rời rạc và dằn co (jockey) với trung đoàn 5 và 6 của sđ 2, nhưng ko tung ra tấn công lớn nào.

Nguồn tin nói rằng tấn công bắt đầu với thứ sáu, ngay trước rạng đông-- với cs pháo quận lỵ và căn cứ Ross, nhưng tập trung vào Ross. Kế đó kẻ thù tấn công bộ binh vào Ross, và sáng thứ sáu, đã chiếm phần lớn căn cứ, nằm trên 1 ngọn đồi nhỏ.

Quân CP, với không yểm mạnh mẻ, đã có thể đẩy lui kẻ thù vào sáng thứ bảy, nhưng vài giờ nghỉ ngơi, CS tái tấn công, và lần này quân CP bị thiệt hại nặng, quyết định rút lui.

BÀI II 

CHIẾN SỰ SUY GIẢM TẠI VÙNG QUẾ SƠN

SAIGON, thứ tư 23/8/1972--ngày hôm qua, người ta cho biết quân hai bên, do kiệt sức vì thiệt hại nặng, tạm chấp nhận (settle for) cho lúc này 1 chiến tuyến lỏng lẻo phía đông bắc của quận lỵ Quế sơn, đã rơi vào tay cs từ ngày thứ bảy

Pháo kích và chạm súng nhỏ dọc chiến tuyến đã tiếp tục hôm qua, nhưng ko bên nào có vẻ sẵn sàng mở cuộc tấn công mới.

Tuy nhiên, rõ ràng rằng kẻ thù đã mở 1 mặt trận lớn và mới ở phía nam của mặt trận chánh tại Quảng trị, bằng cách bỏ qua các căn cứ của CP bao quanh tp Huế và Đà nẳng.

Hiện nay kẻ thù giữ vững Quế sơn và Ross, khoảng 25 dặm nam của Đà nẳng. Phòng tuyến địch đã buộc quân CP rút về đông bắc dọc tỉnh lộ (TL) 535.

CHIẾN DỊCH GIỐNG-QUẢNG TRỊ

"Hai bên cần có 1 thời gian để liếm vết thương và tập hợp lực lượng," 1 nguồn tin QS nói. "Nó hoàn toàn giống chiến dịch Quảng trị, với những trận đánh đẫm máu và những lúc nghỉ ngơi."

Ngạc nhiên lớn là csbv đã thành công khi chuyển đại bác 130 ly mà ko bị phát hiện.

Viên chức này nói kể từ lúc chúng chiếm quận lỵ Hiệp đức, ở tây nam của Quế sơn, vào mùa xuân "hầu như ko có quân bạn từ đây (all the way) tới biên giới Lào." Có nghĩa quân CP ko thể hoạt động hữu hiệu trong khu này để theo dỏi CS.

CÓ TIN VỀ ĐỤNG ĐỘ MỚI

Kể từ khi tỉnh lỵ Quảng trị thất thủ vào tháng 5, quân CP đã tập trung cố gắng vào việc đẩy quân csbv ở đây về phía bắc.

Kẻ thù đã chống trả phản công này, nhưng suốt thời gian đó (all the while) đã mở rộng sự thâm nhập của họ, bằng cách tiến về nam dọc sườn tây của quân SG. Họ đã đe dọa thành công Huế từ phía tây nam và Đà nẳng, cũng từ tây nam.

Trong 24 giờ qua, nguồn tin CP cho biết đụng độ mạnh và pháo kích dọc theo phần lớn vòng cung 100 dặm hay 160 km từ Quảng trị tới Quế sơn.

Nguồn tin cho biết kẻ thù bắn 300 đạn đại bác vào các vị trí cách thị xã Quảng trị 1.6 km. Tin cũng cho biết họ đã giết 79 csbv trong trận đánh, trong khi có 8 chết và 73 bị thương.

Xa hơn về phía nam, đụng độ ác liệt xảy ra chung quanh quận lỵ Tam quan và Hoài nhơn, đã được tái chiếm gần đây bởi quân SG. Có 23 địch chết, phe CP có 2 chết và 26 bị thương.

thương vong tương tự trong 1 trận đánh mới cách tỉnh ly an lộc 4.8 km.  Phần lớn do pháo kích của cs.

Các máy bay chiến thuật, và b-52, tập trung lần nữa phần lớn vào các tỉnh phía bắc, đặc biệt là quảng trị.

MACV cho biết 1 ném bom lần ngày thứ hai. Một máy bay Phantom của Không quân đã thả "vài bom loại 500-cân" vào 1 vị trí TQLC VNCH ở 1,5 dặm bắt của tỉnh lỵ Quảng trị, giết 1 và làm bị thương 13.

==

BÀI III

QUÂN CP TẬP HỢP SAU KHI MẤT QUẾ SƠN 

SAIGON, thứ ba 22/8/1972--Quân CP bị thiệt hại nặng khi cố gắng tập hợp ngày hôm qua để ngăn chận (stem) 1 bước tiến của bắc quân, sau khi bỏ một quận lỵ ở phía bắc, ý nói Quế sơn, và căn cứ gần đó, ý nói Ross, vào tay cs cuối tuần.

Thất bại này của CP, tệ hại nhất từ khi mất Quảng trị vào ngày 1/5, đã khiến phần lớn quận này của Quảng nam vào tay địch. Nó đã khiến phần còn lại của quận--một đồng bằng đông dân ven biển ngay phía dưới Đà nẳng, TP lớn thứ 2 tại nam VN, đe dọa bị cs tràn ngập.

RÕ RÀNG LÀ RÚT CHẠY

"Vài ngày sắp tới bạn sẽ biết chuyện gì xảy ra," một nguồn tin cho biết, khi cho rằng quân CP cho tới bây giờ đã ko thể mở cuộc phản công.

Việc mất Quế sơn rất quan trọng, ko chỉ về chiến lược, mà còn có nghĩa, nếu bây giờ CS có thể tiến ra bờ biển, ít nhất sẽ tạm thời cắt rời 1/4 phía bắc của đất nước này--nhưng cũng đồng thời chứng tỏ kẻ thù có thể đánh nơi nào chúng chọn và khiến quân CP chỉ còn cách chống đỡ. 

Chi tiết về trận đánh quanh Quế sơn vẫn rất ít, nhưng vài chi tiết được lộ ra, như trận chiến tại Quế sơn có vẻ rõ ràng là một rút chạy tán loạn, với việc quân CP rút chạy vội vả, khi bỏ đại bác và võ khí nặng trong cố gắng trốn chạy quân địch đang tiến tới. Họ nói, dù quân CP có không quân yểm trợ mạnh mẻ, "vẫn ko làm tròn nhiệm vụ". Đó là vài trăm quân CP của sđ 2 ở căn cứ Ross. Trong khi ĐPQ/NQ tại quận lỵ Quế Sơn, dù ko trang bị và huấn luyện tốt bằng, lại dũng cảm chống trả kẻ thù khiến mọi người ngạc nhiên. 

Có tin Trung đoàn đóng tại Ross, bị thiệt hại nặng đến độ ko còn khả năng chiến đấu (ineffective). Họ ĐPQ rút về căn cứ Baldy, khoảng 5 dặm đông bắc Quế sơn. Tàn quân vẫn còn chạy về Baldy sáng hôm qua, và các vị trí mới quanh Baldy đã bị bắn lai rai bởi rocket và cối -- nhưng địch có vẻ ko muốn chiếm Baldy vì sợ hải pháo mỹ vì căn cứ sát biển.

Đụng độ đã bùng nổ quanh Baldy chiều hôm qua, cho thấy csbv đang gom quân và áp lực lên quân CP trong lúc họ cố tái tập hợp.

Có tin dân thường, chạy về bờ biển để tránh nạn binh đao, nhưng ko có tin về thương vong của dân quanh Quế sơn.

Thương vong của địch có vẻ ít nhất cũng nặng như tốn thất của CP -- phần lớn bởi không quân, trong khi Nam quân, bởi đại bác 130 ly, bắn quả đạn nặng 74 cân hay 33.5 kí đi xa 27.3 km.

====

BÀI BỐN

SAIGON BẮT CÁC SĨ QUAN Ở QUẾ SƠN

SAIGON, thứ sáu, 25/8 (AP)--- Một trung đoàn trưởng và ít nhất 1 TĐ trưởng của ông đã bị bắt do để mất Quế sơn vào cuối tuần, phát ngôn viên cho biết hôm qua.

Việc mất thung lũng Quế sơn, con đường tiếp cận quan trọng từ vùng núi với vùng ven biển đông dân này và Đà nẳng, là một thất bại (setback) tệ hại nhất của quân CP kể từ khi Quảng trị từ 1 tháng 5.

Các viên chức Mỹ, kể cả tướng Frederick Weyand, TL của MACV, được biết đã xem thất thủ này có thể tránh được.

Vị sq cao cấp đó là ĐT Nguyễn văn Lữ, chỉ huy của trung đoàn 5 sđ 2 ở căn cứ Ross--1 trọng điểm bị tràn ngập cùng lúc với quận lỵ Quế sơn gần đó. Ông TĐ trưởng ở Ross, cũng bị bắt, nhưng ko biết tên.

TÀN QUÂN CŨNG VỀ RẢI RÁC

Nguồn tin QS cho biết khoảng 2.500 người, vừa chủ lực, vừa ĐPQ/NQ, chưa rõ số phận (unaccounted) ngay sau vụ rút chạy này. Họ đã được liệt kê là tử trận, mất tích hay bị bắt, nhưng hy vọng 1 số sẽ tìm đường về vùng CP kiểm soát.

Một số ko rõ dân thường cũng bị thương vong vì bị kẹt lúc giao tranh.

Nguồn tin hôm qua cho biết quân CP đã tiến dọc thung lũng Quế sơn trong ý định tái chiếm Quế sơn, chỉ gặp chống trả yếu ớt.

Nguồn tin cho biết, quân nam VN, tăng cường bởi quân mới từ nơi khác, đã tiến sâu tới 15 dặm hay 24 k trong thung lũng kể từ thứ hai.

Chuẩn tướng Phan hòa Hiệp, TL của cuộc HQ này, nói ông hy vọng trong 2 ngày quân của ông sẽ tái chiếm Quế sơn.

HAI TRẬN ĐÁNH TẠI KHU VỰC GẦN BIỂN

Nhưng 1 đe dọa mới tới Đà nẳng, 25 dặm về phía bắc, đã xảy ra dọc bờ biển.

Địch quân đã tấn công quân CP gần Duy xuyên, 1 quận lỵ 15 dặm nam của Đà nẳng. Một đv nam VN với địch quân 10 dặm hay 16 km nam của Đà nẳng. Quân VN xác nhận 64 địch bị giết trong 2 đụng độ, với 1 lính chết và 18 bị thương.

Các pháo thủ csbv đã bắn 30 đạn 130 ly và 10 quả từ đại bác Mỹ mà họ lấy được vào quận lỵ Thăng bình, khoảng 25 dặm của Đà nẳng, gần điểm xuất phát (jump-off) của phản công chiếm Quế sơn. Tin cho biết có 20 dân bị thương và hư hại 30 nhà.

Về không quân Mỹ: thời tiết xấu, đã ảnh hưởng đến oanh tạc miền Bắc toàn tuần lễ, khi chỉ có 220 phi xuất, phần lớn phía nam Vùng Cán Chảo. 

Chuyển ngữ từ các bài báo cũ của New York Times.

SJ ngày 23/7/25, cập nhật ngày 29/7/25.

Tài Trần

 

DISTRICT CAPITAL IN VIETNAM FALLS TO ENEMY FORCES

DISTRICT CAPITAL IN VIETNAM FALLS TO ENEMY FORCES
Credit...The New York Times Archives
See the article in its original context from
August 21, 1972, Page 1Buy Reprints
TimesMachine is an exclusive benefit for home delivery and digital subscribers.
About the Archive
This is a digitized version of an article from The Times’s print archive, before the start of online publication in 1996. To preserve these articles as they originally appeared, The Times does not alter, edit or update them.
Occasionally the digitization process introduces transcription errors or other problems; we are continuing to work to improve these archived versions.

SAIGON, South Vietnam. Monday, Aug. 21—South Vietnamese troops have abandoned a northern district capital and nearby defense base in the lace, of a two‐day Communist shellMg and ground attack—the biggest Government loss since to early weeks of the North Vietnamese offensive, which began! March 30.

The Government defeat puts! most of the Queson district in, Quangnam Province in North! Vietnamese hands.

A South Vietnamese military; spokesman, at the daily briefing; in Saigon yesterday, reported! that Queson district town and Base Camp Ross, about two miles to the west, were “evacu.’ ated” on Saturday, but he did! not disclose the magnitude of the defeat.

Fled in Haste

However, authoritative sources in Danang, South Vietnam's, second‐largest city, which lies 25 miles northeast of Queson. said that the Government troops “didn't carry out their mission” and fled so hastily that they left behind some of their artillery.

Advertisement

SKIP ADVERTISEMENT

The sources were talking primarily of the several hundred regular troops of the Second Division, who were at Base Camp Ross. They said that the Government militia defending the town of Queson. who are not as well trained or equipped, had acquitted themselves “surprisingly well.”

Both the militia and the regulars fled to Base Camp Baldy, which is about five miles northeast of Queson—toward the the coast and near strategic Route 1.

The sources added that 70 air strikes—most of them American—failed to stem the enemy assault.

Queson is the first district town to fall to the Communists in a long time. In recent weeks, South Vietnamese Government troops had retaken some of the district towns lost in early phases of the offensive, although these were usually recaptured without much of fight because the enemy had pulled out to establish defense lines elsewhere.

Apparently a major factor in the defeat of the Government troops at Queson was the battering that they took from the Communists’ biggest weapon, the 130‐mm. gun, which has a devastating impact and a range of 17 miles. This was the first time that these guns had appeared in the Queson area, and it will make any Government counterattack—if one is contemplated—difficult.

Advertisement

SKIP ADVERTISEMENT

The North Vietnamese first tried to move on Queson in April, during the first weeks of their offensive. Advancing out of the Queson Valley, which borders Laos, the North Vietnamese began picking off, one by one, the string of defense points that led to the town of Queson from the southwest—Base Camp West, Base Camp O'Connor, Hiep Duc district town. Finally, they put Queson itself under siege, with both ground attacks and shelling.

But Queson and Base Camp Ross held then—in May—and the threat seemed to recede. In the months since, the North Vietnamese have been operating from the hills to the south and west of Queson, shelling and probing sporadically and jockeying with the Fifth and Sixth Regiments of the Second Division, but not launching a major assault.

The source said that the attack began on Friday, just before dawn—with the Communists shelling both the town of Queson and Camp Ross, but concentarting on the camp. Then the enemy launched ground assault on Ross, and by Friday evening, had occupied large area of the camp, which sits on a small, butte‐like hill.

South Vietnamese troops, with heavy air support, were able to drive out the attackers on Saturday morning, the source said, but after a lull of a few hours, the Communist forces charged back and this time the South Vietnamese units badly mauled and suffering heavy casualties, decided that they could not hold.