Thursday, March 5, 2026

 

LÀM THẾ NÀO MỸ ĐÃ CHIẾN THẮNG, RỒI THUA, CUỘC CHIẾN VIỆT NAM.


                  Hình đăng trong bài viết này.

Chuyển ngữ từ bài viết của William J. Lutti. 28/03/2025.

 

Lời mở đầu: Bài viết của Lutti phần lớn dựa vào hồi ký của Jim Stockdale, cựu tù binh Mỹ, sau này là một phó đô đốc, nói về tâm trạng của các tù binh Mỹ và cai tù của họ tại trại giam Hỏa Lò Hà Nội sau 10 ngày của tháng 12/1972, khi Hà Nội và khắp miền bắc bị các máy bay B-52 và máy bay chiến thuật ngày đêm liên tục ném bom, đến độ Bắc VN phải nhượng bộ. Stockdale đã viết: “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chĩa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích. Nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên … Các điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.” -- Người dịch.

Sau đây là phần chuyển ngữ.

====

Những oanh tạc cơ tiếp tục bay đến,” Phó Đô đốc (quá cố) Jim Stockdale kể lại trong cuốn hồi ký xuất sắc của ông vào năm 1984 mang tên Trong Tình Yêu và Chiến Tranh, “và chúng tôi cứ hò reo.” Đêm đó, hơn năm mươi hai năm trước, vào ngày 18 tháng 12 năm 1972, Stockdale và những tù binh khác đã chứng kiến sự khởi đầu của kết thúc của Chiến tranh Việt Nam từ những phòng giam của họ trong nhà tù Hỏa Lò Hà Nội.

Trong mười đêm tiếp theo – ngoại trừ ngày Giáng Sinh – đợt này nối tiếp đợt khác của B-52 đã tấn công các mục tiêu quân sự quanh Hà Nội. Ban ngày, các máy bay chiến thuật của Hải quân và Không quân Mỹ đã bắn phá các kho đạn, kho nhiên liệu và các vị trí hỏa tiển phòng không trên khắp Bắc Việt Nam.

 “Những người lính canh thường nổi giận khi chúng tôi to tiếng, những người lính canh thường chỉa súng trường có lưỡi lê qua các thanh sắt và hét vào mặt chúng tôi nếu dám la hét trong các vụ không kích,” Stockdale kể tiếp, “nay chúng tôi có thể nhìn thấy họ đang im lặng co ro dưới bóng tường nhà tù, khuôn mặt tái nhợt trong ánh sáng phản chiếu từ bầu trời rực lửa phía trên.”

“Chúng tôi, những tù nhân, đã biết rằng sự kháng cự của Bắc Việt đã chấm dứt, và những người lính Bắc Việt này cũng biết điều đó,” Stockdale viết.

Ít có hồi ký chiến tranh nào truyền đạt một cách hùng hồn niềm vui sướng của tù nhân và cảm giác ngày tận thế của những kẻ giam giữ họ như hồi ký của Stockdale:
“Vào bình minh, các đường phố ở Hà Nội hoàn toàn im lặng. Nhạc yêu nước phát ra mỗi sáng không còn đánh thức chúng tôi; âm thanh quen thuộc trên đường phố, các tiếng còi, tất cả đều biến mất. Những điều tra viên và lính canh đã ân cần (solicitously) hỏi han về nhu cầu của chúng tôi. Cà phê buổi sáng - chưa từng có - đã được đem đến cho các phòng giam của chúng tôi.”

Và một vài nhân chứng thời chiến khác đã viết: “Chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của bất kỳ sĩ quan Bắc Việt Nam nào… là thấy hết câu chuyện. Nó thể hiện sự nhượng bộ, tuyệt vọng, hối hận, sợ hãi. Cơn sốc này đã hiện rõ; ý chí của kẻ thù của chúng tôi đã bị phá vỡ,” Stockdale viết.

Áp lực quân sự khốc liệt này đối với Bắc Việt đã được khởi động vài tuần trước đó khi, như được trích dẫn trong sách Admirals Under Fire của sử gia hải quân Edward Marolda năm 2021, Tổng thống Richard Nixon đã nói với cố vấn trưởng về quân sự của mình, Đô đốc Thomas Moorer: “Đây là cơ hội của ông để sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để chiến thắng trong cuộc chiến này, và nếu ông không làm, ông sẽ chịu trách nhiệm.”

Để chiến thắng trong cuộc chiến này. Hiếm khi nào lệnh của một tổng tư lệnh lại rõ ràng đến vậy, và trách nhiệm thực hiện mệnh lệnh cũng lại rõ ràng đến vậy.

Moorer, từ lâu bực bội vì những năm ko có chiến lược rõ ràng và việc triển khai dần dần sức mạnh quân sự -- mà không có mục tiêu chính trị rõ ràng -- nay ông vội vàng nắm lấy cơ hội để thắng cuộc chiến.
Đến ngày 29 tháng 12, Bắc Việt Nam đã nhượng bộ. Vì chỉ vài tháng ngắn ngủi sau đó, 591 tù binh Mỹ đã được đoàn tụ với gia đình sau nhiều năm thiếu thốn mọi thứ và tra tấn.

Điều mà Stockdale và nhóm anh em bị cô lập của ông không thể biết là một biến cố quan trọng dẫn đến việc họ được trả tự do -- đã có từ chín tháng trước. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, quân đội Bắc Việt với lực lượng bộ binh và xe tăng đã ồ ạt tràn qua Vùng Phi Quân Sự (DMZ). Mục tiêu của họ: tận dụng khoảng thời gian tạm ngừng ném bom của Mỹ sau năm 1968, để phá hủy chương trình Việt Nam hóa của chính quyền Nixon, cũng như thúc đẩy việc rút quân toàn diện của quân đội Mỹ và lật đổ Sài Gòn một lần và mãi mãi.

Hóa ra đó là một sai lầm chiến lược ở mức cao nhứt (blunder of the first order).

Để đáp trả, lực lượng hải quân và không quân Mỹ đã phát động một chiến dịch không quân quy mô lớn nhằm làm suy yếu rồi đẩy lùi cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của miền Bắc Việt Nam cộng sản, còn được biết đến nhiều hơn với tên gọi Tổng tấn công lễ Phục sinh 1972. (Lễ này thường diễn ra vào tháng 3 hay tháng 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện chết và Phục sinh của chúa Jesus sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá – ND).
Chiến dịch ném bom Linebacker – được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 10 và lần nữa trong 11 ngày vào tháng 12 – được Moorer vạch ra và được tướng Creighton Abrams - Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN, cùng Đô đốc John S. McCain - Tổng Tư lịnh Quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương thực hiện.

Và lần đầu tiên trong suốt cuộc xung đột kéo dài này, cuối cùng việc sử dụng vũ lực đã phù hợp với các mục tiêu chính trị.

Thường có mâu thuẫn về cách sử dụng không quân hiệu quả nhất – khi không yểm hay ngăn chặn tuyến tiếp tế của kẻ thù – những vị tướng đã kết hợp hai chiến thuật này thành một sức mạnh hùng hậu, nghiền nát 14 sư đoàn Bắc Việt tại miền Nam trong khi giảm bớt các tuyến tiếp tế của kẻ thù ở miền Bắc.

Ngoại trừ việc Tướng George Patton đã sử dụng không quân để yểm trợ cho cuộc hành quân tuyệt vời của Quân đoàn thứ Ba đánh xuyên qua Pháp vào Đức trong đệ nhị thế chiến – chưa bao giờ, không quân chiến thuật đã hỗ trợ cho lực lượng bộ binh lại hiệu quả đến vậy.

Theo tất cả các báo cáo khách quan, lực lượng Nam Việt Nam và các cố vấn Mỹ đã chiến đấu dũng cảm và thể hiện vô số hành động anh dũng. Thất bại của Bắc Việt đã buộc những người cộng sản phải đàm phán hòa bình tại Hiệp định Hòa bình Paris.

Nhưng số phận nghiệt ngã đã can thiệp. Hai năm sau, giữa bế tắc chính sách do vụ Watergate và lệnh cấm của Quốc hội đối với can thiệp quân sự của Mỹ tại VN, Bộ Chính trị CSVN nhận thấy một cơ hội.
Ban đầu, lực lượng cộng sản dùng các cuộc tấn công thăm dò để đánh giá phản ứng của Mỹ. Thấy không quân Mỹ không can thiệp, những cuộc tấn công này đã biến thành một cuộc tấn công xông thẳng vào Sài Gòn.

Vào giai đoạn (eve) trước sự sụp đổ của Nam Việt Nam, Tổng thống Gerald Ford, trong nỗ lực giữ lời hứa của Mỹ, đã cân nhắc việc hỗ trợ quân sự cho VN bằng không quân. Nhưng như người bạn cũ của tôi, cũng là cố vấn của tổng thống Ford, Peter Rodman, từng nói với tôi, Tổng thống đã kết luận “không, họ sẽ luận tội tôi.” Và lúc đó thì đã quá muộn.
Thảm kịch của những người tị nạn vượt biên (đường biển và đường bộ), những cánh đồng chết và các trại cải tạo chẳng bao lâu đã xuất hiện.

Hãy để các sử gia và chính trị gia tranh luận về việc ai thắng hay thua trong Chiến tranh Việt Nam. Ai đúng hay sai. Hoặc cách nước Mỹ thua trong các cuộc chiến sau khi đã chiến thắng chúng – như đã lặp lại sau này ở Afghanistan.
Nhưng sau hơn năm mươi hai năm, chúng ta hãy tưởng nhớ những người lính, thủy thủ, lính Thủy Quân Lục Chiến, phi công và cựu tù binh chiến tranh, những người, với lòng dũng cảm và tận tụy, đã thắng Chiến tranh Việt Nam vào năm 1973.
Ông Luti là một Thuyền trưởng Hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu và là một nhà nghiên cứu tại Viện Hudson. Ngày 29 tháng 3 là Ngày Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam Quốc gia".

SJ ngày 4 Mar 2026, cập nhật ngày 5 Mar 2026.

Tài Trần

Nguồn: How America Won, then Lost, The Vietnam War | RealClearHistory

No comments:

Post a Comment