Showing posts with label trung đoàn 45. Show all posts
Showing posts with label trung đoàn 45. Show all posts

Thursday, March 21, 2024

Chỉ vì một trung đoàn bộ binh VNCH, mà tướng Văn Tiến Dũng phải đắn đo suy nghĩ trong hai ngày mới quyết định cắt đứt QL-14 

- Ông muốn chiếm quận Thuần Mẫn và cắt QL-14 ở chỗ này, nhưng nếu ông làm điều đó quá sớm, tướng Phú có thể nhận ra rằng BMT là mục tiêu chánh và tăng cường cho tp này. Nhưng nếu Dũng ko cắt đường này, trung đoàn 45 sđ 23 bộ binh sẽ về BMT, y sẽ khó chiếm tp này... Sau khi duyệt xét các bước đi của tướng Phú, Dũng kết luận rằng Phú hình như ko thay đổi kế hoạch, nghĩa là vẫn tập trung lực lượng để bảo vệ vào QL 19... Dũng ra lịnh cho sđ 320 phải "im lặng vô tuyến, tránh đụng độ với các toán viễn thám của VNCH và ko được nổ súng trên QL-14 nếu ko có lịnh của cấp trên." Do vậy trung đoàn 45 VNCH vẫn tiếp tục đóng quân gần Pleiku, cách BMT 183 km nếu đi bằng đường bộ.

. . .

" Cùng lúc với cuộc tấn công của sđ 3 csbv tại An Khê, trung đoàn (tr.đ.) 95A đã tấn công các vị trí ĐPQ/NQ trên QL-19 ở sườn tây của Đèo Mang Giang trong tỉnh Pleiku. Vào buổi chiều, sđ đã chiếm một đoạn dài của đường này. Với phần lớn các đv VNCH bị giữ lại để bảo vệ cho Kontum và Pleiku, tướng Phú chỉ có thể gửi một TĐ thuộc  liên đoàn 4 BĐQ-trừ bị của quân đoàn 2, với hỗ trợ giới hạn của thiết giáp, để bứng tr.đ. 95A. Ông phải giữ phần còn lại của LĐ 4 bđq để chờ đợi đe dọa kế tiếp. Tướng Phú cũng ra lịnh cho tr.đ. 42 sđ 22, chuyển từ bắc Bình Định tới tp Bình Khê trên QL-19 gần đèo Mang Giang để bảo vệ tp này trước một tấn công mà ông trông chờ từ csbv. 

Mặc dầu nhật ký tìm thấy ngày 5/3 là chỉ dấu rõ ràng nhứt rằng địch quân đang bao vây Ban Mê Thuột (BMT), hình như chỉ dấu này đã bị coi thường khi tr.đ. 25 csbv tấn công và cắt QL-21 cùng ngày. Tướng Phú giờ đây đã có bốn đám cháy rừng cùng lúc: hai trên QL-19, một tại Thanh An, và một trên QL-21. Phú đã tổ chức một lực lượng đặc nhiệm lớn để bứng một chốt phòng thủ kiên cố của địch ở đông của BMT gần ranh giới Darlac-Khánh Hòa. Được thành lập từ "hầu hết các đv trừ bị thuộc ĐPQ của các tỉnh duyên hải," lực lượng này có nhiệm vụ mở lại QL-21. Chỉ huy bởi đại tá Lý Bá Phẩm, tỉnh trưởng Khánh Hòa, cuộc phản công đã bắt đầu ngày 7 tháng 3. Dù được yểm trợ bởi không quân, pháo binh, và thiết giáp, ĐPQ đã ko thể đẩy lui các đv CSBV đang giữ cao điểm hai bên QL-21. 

Đối với tướng Phú, khi Bắc quân tấn công, ông gần như ăn và ngủ tại BTL quân khu. Là một quân nhân dũng cảm, ông luôn có mặt ở chiến trường để đích thân chỉ huy trận đánh. Đây là tinh thần đồng đội của các sq Nhảy dù Nam VN. Tuy nhiên, trong khi sự can đảm như vậy là cần thiết cho một chỉ huy lữ đoàn hay sđ, chỉ huy quân đoàn lại là chuyện khác. Cách làm việc của tướng Phú có thể đúng trong quá khứ, nhưng năm 1975, tình hình đã khác xa. Quân CSBV ngày nay đã có nhiều lực lượng lớn hơn và cơ động hơn, với hỏa lực và tiếp vận (logistics) vượt trội, tất cả được đồng bộ hóa bằng kế hoạch siêu việt và phối hợp chặc chẻ giữa các tư lịnh nhiều kinh nghiệm trận mạc. Tình hình này đã đòi hỏi một TL vừa có thể phản ứng vừa có thể tiên liệu (plan ahead).

Tướng Phủ chỉ giỏi về phản ứng, nhưng ko giỏi về tiên liệu. Ông đã đối phó với QL-21 bị cắt bằng cách ra lịnh cho TĐ 3/53, phải lập tức bỏ quận Đức Lập trở về BMT. Ông cũng gửi vài đv pháo binh và TL phó của sđ 23, ĐT Vũ Thế Quang, theo một đoàn xe về BMT để phối hợp tuyến phòng thủ của QLVNCH tại Quảng Đức và Darlac. ĐT Quang đã được giao quyền chỉ huy mọi lực lượng trong 2 tỉnh phía nam này. Tuy nhiên, dù có nghiêm lịnh (injunction) không được để VNCH biết sự có mặt của mình, sđ 320 csbv đã tấn công đoàn xe của ĐT Quang, phá hủy 10 xe. Dù ĐT Quang thoát được nhưng một thiếu tá VNCH đã khai với Bắc quân rằng tr.đ. 45 sđ 23 VNCH đã gửi một TĐ tới Thuần Mẫn để tìm kiếm sđ 320. TL của sđ 320 lập tức xin phép cấp trên để cắt QL-14 để ngăn tr.đ 45 tiến về phía nam.

Với QL-19 và 21 bị cắt, bước kế tiếp của Văn Tiến Dũng là cắt QL-14 giữa BMT và Pleiku, nhưng điều quan trọng là cắt vào lúc nào. Ông muốn chiếm quận lỵ Thuần Mẫn và cắt QL 14 ở địa điểm này, nhưng nếu ông làm điều đó quá sớm, tướng Phú có thể nhận ra rằng BMT là mục tiêu chánh và tăng cường cho tp này. Nếu Dũng ko cắt đường này, và trung đoàn 45 về BMT, y sẽ khó chiếm tp này. Đây là một quyết định khó khăn, và TL của sđ 320 thúc ép ông có một chọn lựa. Sau khi duyệt xét các bước đi của tướng Phú, Dũng kết luận rằng Phú hình như ko thay đổi kế hoạch, nghĩa là vẫn tập trung lực lượng để bảo vệ vào QL 19. Sau khi phán đoán như vậy, Dũng ra lịnh cho sđ 320 phải "im lặng vô tuyến, tránh đụng độ với các toán viễn thám của VNCH (đang tìm dấu vết của sđ này) và ko được nổ súng trên QL14 nếu ko có lịnh của cấp trên." Do vậy trung đoàn 45 của sđ 23 VNCH vẫn tiếp tục đóng quân gần Pleiku, nghĩa là cách BMT 183 km nếu đi bằng đường bộ.

Sau hai ngày đắn đo suy nghĩ, Dũng quyết định khi cơ hội tốt đã tới. Ngày 7/3, ông gửi một đv của sđ 320 tấn công một căn cứ ĐPQ ở nam Thuần Mẫn. Ý định của ông là thu hút TĐ 3/53 của sđ 23 vừa mới tới, đừng quá gần các đv tiền tiêu của sđ 320 csbv ở phía bắc của BMT. Ý định này đã thất bại vì trung đoàn 48 của sđ 320 csbv đã tràn ngập vị trí trên đây của ĐPQ chỉ trong 40 phút. Tuy nhiên, dù cuộc tấn công này đã ko thể thu hút TĐ 3/53 VNCH, ngày kế trung đoàn 48 csbv đã tấn công Thuần Mẫn và một khúc của QL14, và chiếm 2 nơi này trong chưa tới 2 giờ. Giờ đây ba QL chánh của Cao nguyên miền Trung đều bị cắt. 

Trong lúc đó, các trung đoàn sẽ tấn công BMT đã vào vị trí xuất phát (jump off). Năm cánh quân riêng lẻ sẽ tấn công thành phố BMT. Mỗi cánh quân gồm những thành phần khác nhau như đặc công, bộ binh hay thiết giáp, v.v... sẽ chiếm các BCH và căn cứ quan trọng. Bằng cách này, hệ thống chỉ huy của Nam VN ở BMT sẽ sụp đổ, và các tiền đồn nằm ở ngoài tp sẽ dễ dàng thất thủ vì ko còn ai chỉ huy họ.

Cuộc tấn công đầu tiên vào BMT dẫn đầu bởi trung đoàn 198 đặc công gồm ba TĐ đặc công. Trung đoàn đã gửi 3 toán trinh sát vào BMT để xác định các đường xâm nhập và quan sát các tuyến phòng thủ của đối phương. Các đặc công này sẽ tấn công phối hợp với cơn bảo lửa kéo dài hai giờ bởi pháo binh nhằm tê liệt bốn mục tiêu chánh: sân bay L-19 của tp, BCH và hậu cứ của trung đoàn 53 và 44, kho đạn Mai Hắc Đế và sân bay Phụng Dực lớn hơn ở đông của tp. Các sân bay này được chọn để ngăn ngừa đổ quân tăng viện hay di tản,

Sau khi trung đoàn 198 tấn công các mục tiêu chỉ định, năm mủi tấn công kế trên sẽ nối tiếp. Mục tiêu của các cánh quân này là ngã sáu ở trung tâm tp, BTL sđ 23 bộ binh, BCH tiểu khu Darlac, và BCH và hậu cứ của thiết đoàn 8. Sđ 316 sẽ chỉ huy ba cánh quân: một cánh tấn công từ tây bắc, một cánh từ đông nam, và một cánh từ tây nam. Mỗi cánh có một TĐ phòng không bảo vệ. Riêng cánh tây bắc và tây nam có thiết giáp yểm trợ -- mỗi cánh có 8 tăng T-54 và 8 thiết vận xa (xe chở quân). 


   

Sư đoàn 10 đã lập một BCH nhẹ để huy cánh quân thứ tư và năm, và phối hợp với phần còn lại của sđ từ Quảng Đức. Cánh thứ tư chính là trung đoàn 95B, một đv thiện chiến đã giữ cổ thành Quảng Trị trong nhiều ngày năm 1972 trong một trong trận ác chiến của chiến tranh VN. Cánh thứ năm là một TĐ của trung đoàn 24, sđ 10. Cả hai cánh này được hỗ trợ bởi các TĐ phòng không và thiết giáp. Trung đoàn 95 B sẽ tấn công vào đông bắc để chiếm ngã sáu, sân bay L-19, và BCH tiểu khu. Lực lượng xung kích này của sđ 10 sẽ chiếm BTL sđ 23 phối hợp với cánh tây nam. Hai lữ đoàn pháo binh sẽ yểm trợ cho các đv tấn công.

Tướng Dũng và tướng Hoàng Minh Thảo đã đặt cược (stake) tất cả vào cuộc tấn công đầu tiên này. Họ đã tung toàn lực để tấn công tp này, vì nghĩ rằng họ sẽ tràn ngập BMT trong một cuộc tấn công ồ ạt -- vì họ chỉ giữ một TĐ của sđ 10 làm trừ bị. Nếu QLVNCH tại BMT vẫn còn cầm cự sau đợt tấn công ồ ạt và phủ đầu này và tướng Phú có thể gửi quân tăng viện, quân của Dũng sẽ bị sập bẫy trên một địa thế trống trải và bị cắt đứt mọi đường rút lui.

Kế hoạch của họ phần lớn dựa vào việc di chuyển tới những vị trí xuất phát (jump off) mà ko bị phát hiện. Đây có lẽ là khía cạnh (aspect) khó khăn nhứt của cuộc hành quân này. Cánh quân đông nam đã đi bộ hai ngày hai đêm, binh sĩ phải bơi qua hai con sông ở nơi mực nước thấp, và sau đó vượt QL14 mà ko bị phát hiện. Những cánh quân phía bắc đã đi qua những khu vực dân cư và tiền đồn. Các đv thiết giáp có nhiệm vụ khó khăn nhứt: họ phải xuất phát từ vị trí kín đáo ở khoảng từ 24 km tới 32 km cách xa BMT mà ko bị lạc đường hay sa lầy (stuck), cắt ngang những khu rừng rậm rạp, vượt qua con sông Srepok vừa rộng và nước chảy mạnh bằng cầu phao, và cuối cùng bắt tay với những đv đã được chỉ định phối hợp tấn công với họ. Các đv pháo, truyền tin, công binh và phòng không cũng đến vị trí xuất phát, chờ giờ nổ súng, mà ko bị phát hiện. 

Với BMT bị cô lập, và tướng Phú vẫn còn tập trung bảo vệ Pleiku và QL-19, giai đoạn kế của chiến dịch Tây Nguyên của csbv đã bắt đầu ở Quảng Đức. Vào trưa 7/3, BCH của sđ 10 csbv đã họp trong 1 cánh rừng phía tây quận lỵ Đức Lập để có quyết định cuối cùng. Quận lỵ này bảo vệ sườn phía nam của BMT và là một vị trí khó tấn công vì có năm cứ điểm quan trọng quanh quận lỵ này, với các hầm ngầm và bãi mìn. Quân bảo vệ gồm một tđ ĐPQ, ba pháo đội, và các xe tăng M-41.

Cũng như tướng Dũng và Thảo, TL của sđ 10, thượng tá Hồ Đệ, cũng đã quyết định tung hết lực lượng cho trận tấn công này. Nhận thức của lịnh của Dũng và Thảo là y phải chiến thắng nhanh chóng và lập tức chuyển sđ 10 về BMT, y cũng có kế hoạch riêng của sđ 10: đi vòng quanh các cứ điểm ở chu vi ngoài và tấn công ba mục tiêu chánh ở quận lỵ Đức Lập. Đó là căn cứ quân sự chánh, và BCH nhẹ của trung đoàn 53 sđ 23 bộ binh (do trung tá Trần Nguyên Khoa, Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 BB, đang chỉ huy trung đoàn trừ đóng gần chi khu Đức Lập. Nói là Trung đoàn trừ (-) chứ thực sự quân phòng thủ tại BCH nhẹ này chỉ có một Chi đoàn trừ (-) 1/8 thiết vận xa M-113 của Đại uý Tánh, Đại đội Trinh Sát của trung đoàn mà phân nửa đã hoạt động bên ngoài tìm tin tức, một trung đội Pháo Binh 105 ly (TĐ 231PB), một Trung đội PB155 ly thuộc Tiểu đoàn 230 PB và một ít bệnh binh của tiểu đoàn 2/53BB -- Theo Cuộc rút quân khỏi TK Quảng Đức của Trần văn Bường); và BCH chi khu (do trung tá Nguyễn Cao Vực chỉ huy) nằm trong quận lỵ Đức Lập. Có sáu TĐ tấn công ba mục tiêu này, dưới yểm trợ của pháo của sđ 10. Riêng liên đoàn 24 BĐQ, trong đó có TĐ 82 BĐQ của thiếu tá Vương Mộng Long cũng đồng thời bị tấn công bởi tr.đ. tân lập 271B của Mặt trận B-2. Sau khi sđ 10 chiếm Đức lập, tr.đ. 271B sẽ chiếm phần còn lại của Quảng Đức. 

Lúc 5:55 sáng ngày 9/3, sđ 10 csbv phát lịnh tấn công. Trong 90 phút, 15 khẩu đại bác của pháo binh sđ bắn vào 3 mục tiê này. Ngay khi pháo vừa dứt, bộ binh được lịnh tấn công. Lúc 9:30 sáng, lính của sđ 10 đã tràn ngập căn cứ quân sự và bch nhẹ của tr.đ. 53. Các tăng M-41 đã nhanh chóng bị tiêu diệt. Chỉ có BCH chi khu Đức Lập, bảo vệ bởi lính ĐPQ, hỗ trợ bởi máy bay, đã đánh trả dữ dội. Đột nhiên, bằng bạch văn, lịnh rút quân phát đi bởi trung tá Vực, quận trưởng. Ông yêu cầu không quân yểm trợ việc rút lui. Bắt được cuộc điện đàm này, hai TĐ csbv lao về phía trước để đuổi theo quân rút lui.

Nhưng đó là một cái bẫy. Ngay khi Bắc quân tiến vào, ĐPQ đã phục kích họ, gây rất nhiều thiệt hại. Vào khoảng 12 g trưa, hai TĐ bắc quân buộc phải rút lui để tái tục tấn công ngày kế. Công binh của sđ được lịnh lập một đường lên đỉnh 1 đồi gần đó để bố trí đại bác 85 ly bắn thẳng vào quận lỵ. Họ đã làm việc suốt đêm để đưa súng lên đỉnh đồi. Ngay khi rạng đông, các khẩu 85 ly đã bắn vào phòng tuyến của đpq, phá hủy nhiều công sự. Lúc 8:30 sáng ngày 10/3, Đức Lập thất thủ. Giờ đây BMT hoàn toàn cô lập./.

Chuyển ngữ từ trang 153 đến 158 của quyển Black April của George Veith.

San Jose ngày thứ sáu 22/3/224.

Tài Trần.

Tuesday, March 22, 2022

 Núi lửa ở Kontum (Gia Lai) và Quảng Đức (DakNong)


Ảnh sưu tầm


image037Bản đồ 4 Vùng chiến thuật thời VNCH trước năm 1975. Source Vietnam War


Núi lửa Chư Đăng Ya ở Gia Lai chìm trong biển mây


Zing 09/9/2020

image038image039image040image041image042

Núi lửa triệu năm tuổi ở Gia Lai chìm trong biển mây


Dưới góc máy flycam, núi lửa Chư Đăng Ya (Gia Lai) nổi tiếng càng thêm phần huyền ảo khi ẩn hiện giữa biển mây trắng xóa.


+++++++++++++++++++++++++++++++++


Núi lửa Nâm Kar? Chư Pluk? (Krong Nô) ở Đức Lập Quảng Đức (DakNong)

 

image043Mộ du khách đi bộ lên núi lửa Đức Lập cao khoảng 600-700mét. Ảnh Hà Bình 12/25/2014.


image044Núi lửa Krông nô Đức Lập nằm cạnh Quốc lộ 14. Ảnh Trịnh Minh Nhựt.


image045Núi lửa Đức Lập tựa như cái bát cơm khổng lồ úp xuống.


image036Núi lửa Đức lập và bạt ngàn rẫy cà phê. Cà phê Đức Lập nổi tiếng thơm tho. Ảnh Trần An.


image046image047Tấm ảnh trên cho thấy các lô cốt phòng thủ của quân đội Mỹ đang xây dựng bao quanh dưới chân ngọn núi lửa phía xa xa hình bát úp.Trận núi lửa nổ ra năm 1968 giữa quân đội Mỹ và bộ đội chính quy CS. Dường như bức ảnh chụp sau trận đánh Núi lửa năm 1968, đất đá lô cốt ngổn ngang, quân Mỹ đang xây dựng lại. Năm 1969, Mỹ bàn giao Đức lập cho quân đội VNCH trấn giữ. Hy vọng người lính Mỹ đứng trước cửa hầm lô cất còn sống nhìn thấy bức ảnh Bổn báo VH từng là sĩ quan chỉ huy đóng quân một thời gian ngắn trên đỉnh Núi lửa Đức Lập.


Vài hàng nhớ về Núi lửa và tiền đồn Doris


Núi lửa mọc ở phía nam trung tâm bộ chỉ huy quân sự Chi khu quận Đức Lập thuộc tỉnh Quảng Đức (nay gọi là tỉnh Dak'Nong), cách thị xã Ban Mê Thuột khoảng 50 km phía nam. Trước năm 1975, dân ở quận Đức Lập thường gọi là Núi lửa Đức Lập (nay đọc báo trong nước thấy có nhiều tên gọi, lúc thì là Nâm Kra, lúc thì Krông Nô, lúc thì Chư B'luk, tốt nhất cứ gọi núi lửa Đức Lập).


Từ năm 1965-1968, quân đội Mỹ thiết lập các căn cứ hỏa lực quy mô, có trọng pháo, quân trú phòng, bãi đáp trực thăng, căn cứ lớn có sân bay C130, chạy dọc theo biên giới Việt - Miên án ngữ đường mòn HCM dẫn từ Bắc xuống Cao nguyên nam Trung phần.


Sau trận Đức Lập tháng 8 năm 1968, năm 1969 Mỹ bàn giao căn cứ Đức Lập cho quân đội VNCH lập thành Chi khu Đức Lập thuộc Tiểu khu Quảng Đức. Chi khu Đức Lập do một sĩ quan từ Đại úy đến Trung tá làm Chi khu trưởng kiêm Quận trưởng. Núi lửa Đức Lập cạnh quốc lộ 14 cách biên giới Miên khoảng 8 km, gần Chi khu Đức Lập vài cây số phía nam. Núi lửa là con mắt quan sát, tiền đồn yết hầu trấn giữ đường di chuyển bộ đội CSBV theo đường mòn HCM xâm nhập vào cao nguyên Ban Mê Thuột, Quảng Đức, Cheo Reo, Đà Lạt, Lâm Đồng.


Do vị trí Núi lửa và Chi khu Đức Lập có tính chiến lược quân sự nên thường diễn ra các trận đánh lớn giữa các sư đoàn, trung đoàn chính quy CSBV và quân chủ lực Mỹ, biệt đoàn mũ nồi bê rê xanh, sau này là quân dội VNCH.


Sau trận Mậu Thân 1968, quân đội Bắc Việt tấn công Núi lửa và Đức Lập vào tháng 8 năm 1968, nhưng họ không chiếm cứ, đánh xong rồi rút. Tuy lực lượng Mặt trận Dân tộc GPMN kiệt quệ, nhưng các quân đoàn chủ lực Bắc Việt vẫn còn nguyên.


Thật khó mà đoán được sau khi tấn công các tiền đồn quan trọng rải dọc theo đường mòn HCM, chiến lược Mặt trận Tây nguyên của CSBV sẽ tấn công sâu vào các tỉnh lỵ nào nằm dọc theo biên giới Việt-Miên là Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Quảng Đức, điểm cuối Tây nguyên là Phước Long.


Cuối cùng, ngày 10 tháng 3 năm 1975, các sư đoàn chính quy của CSVN đã tiến chiếm thị xã Ban Mê Thuột, quyết định của TT Thiệu bỏ Ban Mê Thuột tạo ra cuộc "di tản chiến thuật" khổng lồ tang thương cho hàng triệu người sinh sống ở các tỉnh cao nguyên Trung phần.


Trận Ban Mê Thuột 10/3/1975 là trận kết liễu chế độ VNCH và cũng là trận cuối cùng Vietnam War.


image048Green Beret camp Duc Lap, A239, September 1969. 8 kilometers East of the Cambodian Border sanctuaries.

Sunday, February 13, 2022

 BÌNH THUẬN NHỮNG THÁNG NGÀY KHÓ QUÊN - Huỳnh Văn Quý


Huỳnh Văn Quý

Cựu Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 249/ĐP/TK Bình Thuận

Cuộc chiến tuy đã kết thúc 36 năm, nhưng tâm tư của người lính trận đôi khi chợt nhớ về chiến trường xưa mà lòng vẫn thấy nghẹn ngào, uất hận và xót xa. Hối hận vì đồng minh đã phản bội, bỏ rơi, bán đứng, để ta thua một trận chiến bởi một kẻ thù không hơn về tài trí và khả năng chiến đấu. Chúng ta thua cuộc vì kẻ thù gian manh, lật lọng, xảo quyệt, dối trá và cũng từ đó xót xa cho thân phận của người chiến bại, phải chịu nhiều tủi nhục tù đày khổ ải trong các trại tù lao cải, cam chịu làm kẻ ly hương, viễn xứ khắp nơi trên thế giới, bỏ lại quê hương, họ hàng thân thuộc, mồ mả tổ tiên, cùng bỏ lại bao nhiêu chiến hữu của mình đang khốn khổ, quằn quại dưới gông cùm Cộng sản còn ở lại quê nhà.

Ðại hội Ân Tình lần thứ 5 của Bình Thuận, sẽ được tổ chức tại nhà hàng Paracel Seafood Nam California USA, vào chiều Chủ Nhật 26/6/2011 với chủ đề “Tình Chiến Hữu“ và “Tình Quê Hương“ có nhã ý nhắc nhở nhau dù ở phương trời nào, hoàn cảnh nào chúng ta vẫn phải luôn nhớ tình đồng đội như ngày nào còn đang tại ngũ.

Ðại hội cũng tạo một cơ hội để đồng hương hội ngộ tâm tình, cùng nhau thắp một nén hương tưởng niệm đồng bào và chiến hữu đã hy sinh trong cuộc chiến chính nghĩa và cùng nhau quyên góp chút quà tình nghĩa để gởi về sưởi ấm cho các anh em thương phế binh, các chị quả phụ tại quê nhà.

Cũng trong tinh thần đó, hôm nay tôi muốn ghi lại đôi dòng về những kỷ niệm trong chặng đường mà các chiến hữu năm nào đã cùng tôi sống và chiến đấu tại Bình Thuận, chịu dãi nắng dầm mưa, tham dự bao nhiêu cuộc hành quân diệt địch, trải dài khắp bảy Quận từ Nam Bình Thuận ra Bắc Bình Thuận, qua các mật khu Kim Bình, Tà Cú, Ba Hòn (Quận Hàm Thuận) về Tam Giác Sắt, Ðăng Gia, Núi Bành, Núi Kính (Thiện Giáo) qua mật Khu Lê Hồng Phong, Bàu Me, Bàu Tàn, Bàu Trắng, Hòn Rơm (Hải Long) vào tận căn cứ Nam Sơn, Mây Tàu, Sông Mao, ra Vĩnh Hảo, Núi Nhọn, núi Ðá Chẹt Cà Ná (Tuy Phong). Cho đến các cuộc Hành Quân Bình Ðịnh an ninh bảo vệ lãnh thổ Xã Ấp, giữ đồn bót và trục lộ giao thông trên QL1. Những ngày nắng cháy đầy cát bụi trên Nông Trường Sao Ðỏ tại Bình Tú. Những giờ phút vào sinh ra tử trong Tết Mậu Thân ở đồn Trinh Tường hoặc trong Thị xã Phan Thiết cho đến trận tái chiếm lại Xã Phú Long vào những ngày cuối của cuộc chiến đã để lại một thành tích anh dũng quyết thắng cho người chiến sĩ ÐPQ Bình Thuận dám ngẩng cao đầu mà không hổ thẹn với các đơn vị bạn Người lính ÐPQ Bình Thuận dám tự hào xứng đáng là đứa con yêu của QLVNCH. Làm sao nói hết và làm sao quên được những ngày nhiều kỷ niệm hào hùng đầy tình chiến hữu ấy, đó là điểm son của người quân nhân Bình Thuận.

Tôi cũng muốn ghi lại đôi nét để vinh danh những chiến hữu đã sinh ra và trưởng thành tại Bình Thuận cũng như những người con ưu tú từ mọi miền đất nước về chiến đấu chung vai sát cánh cùng con dân Bình Thuận và đã hy sinh vì Tổ quốc, nằm xuống yên nghỉ trên mảnh đất này hoặc đã hy sinh một phần thân thể để bảo vệ chính nghĩa Quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ Miền Nam nói chung và Bình Thuận nói riêng.

Sau ngày 30-4-75, Dân, Quân, Cán, Chính, Bình Thuận vô cùng ngỡ ngàng và bàng hoàng lẫn uất hận khi biết được tên đầu Tỉnh Bình Thuận Trung tá Ðinh Văn Ðệ là Cộng sản nằm vùng. Suốt trong thời gian tại chức từ năm 1965 -1967, Ðệ đã ngầm ra lệnh cho đàn em Cộng sản của y sát hại không biết bao nhiêu đồng bào vô tội và Quân, Cán, Chính, Bình Thuận để lập công dâng lên Bác và Ðảng qua nhiều hình thức khác nhau.

Tôi nghĩ đây là một sơ hở yếu kém của Cục an ninh tình báo VNCH (Cảnh sát lẫn Quân đội) nên mới để lọt lưới một tên Việt Cộng chính hiệu đội lớp Quốc gia để giữ các chức vụ quan trọng như Thị trưởng Ðà Lạt kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Ðức và Tỉnh trưởng Bình Thuận thay cho Ðại tá Ðàm Văn Quý năm 1965. Sau khi đã lập được nhiều chiến công cho Hà Nội tại Bình Thuận. Ðệ muốn được bước lên một nấc thang cao hơn là ra ứng cử làm Dân biểu hạ viện. Năm 1967 Ðệ đắc cử làm Dân Biểu hạ viện rồi làm Phó Chủ tịch hạ viện. Với chức vụ cuối cùng là Chủ tịch ủy ban Quốc phòng thuộc hạ viện. Ðệ được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tin dùng. Giả sử như Ðệ còn tại chức ở Bình Thuận cho hết năm 1967 qua Tết Mậu Thân năm 1968 thì liệu Bình Thuận có bị mất vào tay Cộng sản không ? Dân Quân Bình Thuận có bị sát hại tập thể như tại Thừa Thiên Huế không ? Có lẽ đây là ơn đức Tổ tiên Bình Thuận hộ trì con cháu nên đã tống khứ một tên Cộng sản khát máu ra khỏi Tỉnh Bình Thuận chăng.

Ngược dòng thời gian nhìn lại Bình Thuận vào những năm lúc Ðệ làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Thuận ta mới thấy tình hình an ninh Bình Thuận quả thật tồi tệ so với các đời Tỉnh trưởng trong nền Ðệ nhất và Ðệ nhị Cộng hòa. Lúc bấy giờ đường QL1 trong phạm vi trách nhiệm của Tỉnh bị VC đấp mô chận đường thu thuế, bắt dân công, bắt Quân, dân, Cán, Chính nhiều nơi như cây số 25 thuộc Quận Hàm Thuận, Long Phú, Bàu Ốc, Bàu Sen ở Quận Thiện Giáo, Cầu Quẹo Quận Hòa Ða, Dốc Cúng và Ðá Chẹt gần Cà Ná thuộc Tuy Phong. Ðường Tỉnh lộ 8 từ Phan Thiết tới Thiện Giáo thì đầy mìn, hầu như ngày nào cũng có mìn nổ xe Lam, xe Ðò, Trâu Bò, làm tử thương nhiều đồng bào vô tội. Xã Ấp thì ngày Quốc gia đêm thì VC, người dân một cổ hai tròng thật khổ sở lầm than. Lực lượng quân sự trong Tỉnh thường hay bị phục kích chận đánh bất thần trong các lần mở đường để tiếp tế cho các Quận Bắc Bình Thuận. Các đơn vị lưu động và đồn bót Quận Huyện cũng bị đich tập kích tấn công gây cho ta nhiều tổn thất đáng kể về nhân mạng và vũ khí đạn dược. Cao điểm nhất là năm 1966, điển hình là đoàn Convoy của Ðại đội hành chánh Trung tâm Tiếp vận Bình Thuận bị phục kích tại Bàu Sen, Bàu Ốc (Lãnh thổ Thiện Giáo) trong chuyến tiếp tế cho các Quận Bác Bình Thuận. Ta tổn thất nặng nề về nhân mạng, đạn dược và vũ khí và lương thực bị địch cướp sạch . Ðại úy Xe Quận trưởng Hàm Thuận ban đêm nằm ấp bị ám sát tại Ðai Tài (gần vòng đai Thị Xã Phan Thiết). Ngày 15-10-1966 Quận Thiện Giáo bị địch tấn công chiếm gần hai phần ba Quận đường làm Ðại úy quận trưởng bị thương nặng, may nhờ tải thương kịp thời lên pháo đài làm từ thời Pháp rất kiên cố nên còn sống. Riêng Thiếu úy Thành Ban 2 Chi khu, Chuẩn úy Ngọ ban 3 Chi khu bị tử thương cùng với Chuẩn úy Cầu Ðại đội phó Ðại đội 888 / ÐPQ của Th/úy Thổ Thêm. Trung úy Duy người Phan Rang đang làm Ðại đội trưởng ÐÐ 445/ÐPQ tại Tuy Phong thuyên chuyển về Nam Bình Thuận chưa được một tháng cũng bị phục kích chết làm ÐÐ này bị thiệt hại nặng ở vùng Bình An Quận Thiện Giáo. Tình hình bất an như vậy nên bắt người lính chiến Bình Thuận phải gánh lên vai một sức nặng và chịu nhiều mất mát và hy sinh một cách tức tưởi, oan uổng thiệt thòi cho bản thân và gia đình họ. Trận đánh làm tôi ám ảnh và nhớ mãi là trận đánh tại vùng Ðại Tài, Ðại Thiện, chỉ cách cổng Ðại Tài Thị xã Phan Thiết khoảng một cây số, làm Ðại đội 953/ÐPQ hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn cùng với đoàn Cán bộ Xây dựng Nông thôn. Trong trận đánh này Ðại úy Khanh người Huế là Chi khu phó Tuy Phong thuyên chuyển làm Yếu khu trưởng Yếu khu Phú Ðại mới thành lập tại đồn Bàu Da bị tử thương cùng với Th/úy Huỳnh Ðức quê ở Mũi Né là Ðại đội trưởng ÐÐ 2/953/ÐPQ vừa tăng cường hành quân ở Quận Tuy Phong cùng điều về Nam một lần với Tr/úy Duy và Ðại úy Khanh. Riêng Th/uy Á người Sài Gòn làm Ðại đội phó bị thương nặng nhờ giả chết nên thoát nạn . Một tuần lễ sau đó trong một chuyến đi công tác từ Quận Tuy Phong về Phan Thiết tôi mới có dịp lên Quân y viện Ðoàn Mạnh Hoạch thăm Th/úy Á thì được Á tường thuật về trận đánh làm tôi rất xao xuyến xót xa và tràn đầy uất hận. Ðiều đáng nói ở đây trong trận đánh này là khi Ðại đội 2/953/ÐPQ và Ðoàn Cán bộ XDNT bị địch bao vây tấn công, Ðại đội xin yểm trợ và tiếp viện không được, mặc dù lúc đó các đơn vị bạn ở chung quanh sẵn sàng tiếp ứng như Chi đoàn Thiết vận xa M113 đóng tại đồn Trinh Tường với Ðại đội tùng thiết xin tham chiến cùng với Ðại đội 2/127/ÐPQ của Chi khu Hàm Thuận nóng lòng đã vượt qua sông Cà Ty đến Ga Phú Hội sẵn sàng tiếp viện cho đơn vị bạn, nhưng phòng 3 Tiểu khu cứ bảo chờ lệnh để đến khi Cộng quân lục soát bắn bồi từng người một đang bị thương tại mặt trận mà chúng không kể gì đến quy luật về chiến tranh. Sau khi địch tịch thu vũ khí và bắt các quân nhân, CBXDNT còn sống sót rút lui thì Tiểu khu mới cho đơn vị bạn vào để lượm xác thu dọn chiến trường, cứu được số ít binh sĩ giả chết còn sót lại, hoặc trốn trong nhà dân.

Ðiều này làm tôi và Á nghi ngờ Phòng 3 Tiểu khu hoặc Tham mưu trưởng có nội tuyến, nhưng thật không ngờ sau này mới biết Ðinh Văn Ðệ là thủ phạm. Ðại úy Khanh bị địch bắn bồi và đâm nhiều nhát ở nách, Th/úy Ðức bị bắn bồi bể mất cằm chỉ còn mũi và mắt. Ðức chết để lại bà mẹ già và người em trai đang phục vụ trong binh chủng TQLC cùng cô em gái út Huỳnh Thị Minh Tâm với một vợ đang mang thai gần ngày sinh và một đứa con gái nhỏ 3 tuổi .

Em gái Ðức sau này kết hôn cùng Ðại úy Võ Văn Năm quê ở Vĩnh Long, từng là Trưởng ban 2 Chi khu Tuy Phong, Hải Long, Thiện Giáo, sau đó chuyển về Tiểu khu Bình Tuy và bị mất tích tại Quận Hoài Ðức tháng 3/75 để lại một vợ cùng 4 con nhỏ. Chị Tâm chưa nhận được đồng lương mất tích của chồng thì đến ngày mất nước 30-4-75.

Một gia đình như gia đình cố Tr/úy Huỳnh Ðức đã chịu bao nhiêu sự mất mát tan thương, mẹ mất con, em mất anh, vợ mất chồng, con mất cha, một gia đình đã có hai người quả phụ. Tội lỗi đó ai gây ra ? Ðây chỉ là một gia đình tiêu biểu cho hằng trăm ngàn gia đình Việt Nam khác phải gánh chịu có thể còn nhiều tang thương hơn nữa. Cuối cùng người mẹ, người vợ, người đàn bà Việt Nam, người Quả phụ Việt Nam phải đè nén đau thương, ra sức cố gắng làm việc thay chồng để nuôi dạy con cái nên người. Ôi thật đáng tôn vinh và kính phục người phụ nữ Việt Nam.

Mặc dù Bình Thuận đã trải qua những giờ phút thập tử nhất sanh, nhưng Quân, Cán, Chánh Bình Thuận vẫn tin tưởng vào đường lối Chính nghĩa quốc gia, nên luôn giữ vững lập trường, giữ vững tay súng chiến đấu. Mặc dù Ðệ đã để lại nhiều cơ sở nội thành ở các phòng ban trong Tiểu khu, nhưng trong Tết Mậu Thân 1968, địch vẫn thất bại nặng nề. Mặc dù Thị xã Phan Thiết có đổ nát, thiệt hại về vật chất và gây tử vong cho nhiều đồng bào vô tội, nhưng Quân, Cán, Chính Bình Thuận quyết lòng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng lại Thị xã, ổn định đời sống nhân dân từng bước.

Rồi Bình Thuận lại thay da đổi thịt nhanh chóng khi đón nhận cấp chỉ huy đầu Tỉnh mới có nhiều năng lực, biết yêu dân, đối xử với thuộc cấp trong tình huynh đệ chi binh. Do đó Quân, Cán, Chính Bình Thuận càng tin tưởng cùng đoàn kết một lòng xây dựng và chiến đấu càng hữu hiệu, từ thế thủ sang tấn công, đã đánh đuổi địch rút sâu vào các mật khu của chúng. Bình Thuận thật an cư lạc nghiệp trong những năm Ðại tá Ngô Tấn Nghĩa làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Thuận và Ông Phạm Ngọc Cửu làm Phó Tỉnh trưởng.

Nếu vinh danh các chiến hữu sinh quán tại Bình Thuận hoặc các chiến hữu khắp mọi miền đất nước, vì nhiệm vụ của người trai trong thời loạn đã đóng góp xương máu của mình để bảo vệ an ninh và xây dựng được một bình Thuận được ổn định mà không nhắc đến những người con gốc Bình Thuận cũng vì bổn phận mà đi chiến đấu khắp 4 vùng chiến thuật trong mọi quân binh chủng của QLVNCH đã lập được nhiều thành tích hiển hách góp phần tô điểm thêm chiến công cho quân sử VNCH thì quả là một thiếu sót.

Người mà trong phạm vi bài viết này hôm nay tôi muốn nhắc đến để tiêu biểu cho hằng vạn chiến hữu Bình Thuận khác cũng đã đóng góp cho sự nghiệp chung mà ít ai biết đến họ, chiến hữu mà tôi muốn nói đó là cựu Ðại úy Trác Ngọc Anh.

Trác Ngọc Anh sinh và trưởng thành tại Xã Phú Long, Thiện Giáo, Cựu học sinh Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1961 – 1967. Tốt nghiệp khóa 4/69 tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vào tháng 1/70. Tháng 4/70 Ngọc Anh về phục vụ tại Biệt đội Quân báo thuộc Quân Ðoàn II. Vì nhu cầu chiến trường một ngày một giao động đưới áp lực cộng quân gia tăng cường độ đánh phá dữ dội kể từ năm 1971 trở về sau này, thì nhiệm vụ của Biệt đội Quân báo lại càng nặng nề hơn. Hằng ngày với hai phi cơ thám sát trực tiếp dành cho phòng 2 Quân Ðoàn mà Ngọc Anh và các chiến hữu đồng nghiệp có nhiệm vụ thì các toán Viễn thám Trinh sát của Sư Ðoàn 22, 23 BB theo nhu cầu trực tiếp của phòng 2 Quân đoàn II. Một nhiệm vụ khác nữa là thám sát theo dõi kiểm soát đường mòn Hồ Chí Minh chạy dài từ Nam Bình nguyên Boloven (Nam Lào) Attopeu dọc về phía nam (ngoài biên giới) xuống phía Tây Buprang (Quảng Ðức) giáp phía Bắc Tỉnh Phước Long thuộc Quân Ðoàn III nên đã phát giác nhiều cuộc chuyển quân đưa người và vũ khí đạn dược xâm nhập từ Bắc vào Nam của Cộng sản, cũng như ghi nhận được nhiều vị trí đóng quân, bãi đậu xe, các kho dự trữ, các bồn chứa xăng và ống dẫn dầu chạy dài dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh của Cộng sản xâm lược. Nhờ vậy mà Quân Ðoàn II đã gây cho đối phương nhiều thiệt hại nặng nề. Chiến công đó thuộc Biệt đội Quân báo mà Ngọc Anh đã phục vụ mang về cho phòng 2 Quân đoàn II nhiều loại huy chương cao quý và các cá nhân được thăng thưởng xứng đáng, điển hình là Thiếu tá Trịnh Tiếu, Năm 1970 về làm Trưởng phòng 2/ Quân đoàn II đến năm 1975 được vinh thăng Ðại tá.

“Ðại tá Ngô Tấn Nghĩa làm Trưởng phòng 2 / Quân đoàn II đến cuối năm 1969 về làm Tỉnh trưởng Bình Thuận, Thiếu tá Hòa tạm thời Xử lý thường vụ . Năm 1970 Thiếu tá Trịnh Tiếu về làm Trưởng phòng 2 Quân đoàn II cho đến năm 1975“. Ðặc biệt vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 14 -1-75 Trác Ngọc Anh đang thi hành nhiệm vụ hằng ngày thì phát hiện một đoàn xe của Cộng sản Bắc Việt tại Nam Attopeu Lào (Tây Bắc Kontum) khoảng 300 xe đang di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh. Phòng 2 Quân đoàn II sau khi nhận được tin tức do Ngọc Anh báo về, lập tức cuộc oanh kích vào mục tiêu do Quân đoàn II phối hợp và điều động có tất cả 101 Phi tuần gồm A 37 và F5 do Không quân từ Phi trường Nha Trang, Biên Hòa, Phù Cát, Phan Rang, Ðà Nẵng thực hiện suốt 5 giờ đồng hồ. Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày thì đoàn xe nói trên bị tiêu hủy khoảng 200 xe được ghi nhận . Sau khi phối kiểm tin tức được biết đó là Sư đoàn 968 của Cộng sản Bắc Việt từ Nam Lào di chuyển về dự định tham gia mặt trận Tây nguyên cùng với các Sư đoàn 320, 316, 330, F10 cùng nhiều đơn vị yểm trợ khác như Pháo bịnh, Xe tăng và Ðặc công mà sau này ta ghi nhận sau trận đánh Ban Mê Thuột, nhưng chúng đã bất khiển dụng sau ngày 14-1-1975. Cũng trong ngày đó Ngọc Anh được vinh thăng Ðại úy thực thụ đặc cách tại mặt trận.

Sau khi Ban Mê Thuột mất ngày 14-3-1975, Trác Ngọc anh tình nguyện nhảy vào Ban Mê Thuột cùng với Ðại tá Trịnh Tiếu và Trung đoàn 45 của Sư đoàn 23BB do Ðại tá Quang chỉ huy từ Pleiku xuống Phước An để tái chiếm lại Ban Mê Thuột. Ngày 16-3-75 Ngọc Anh bị thương tại Khánh Dương, cuối cùng Ngọc Anh cũng vào tù chịu chung số phận như hầu hết Quận Cán, Chính VNCH sau ngày 30-4-75.

Tôi gặp Ngọc Anh cùng tập trung ngày đầu tiên tại trường Marie Curie Sài Gòn. Chúng tôi bị chuyển qua các trại Hóc Môn Long Giao, Suối Máu Biên Hòa, Trại năm Hoàng Liên Sơn Yên Bái, Trại Ba, Trại Hai Ðói, trại Hai No sau cùng chúng tôi bị chuyển về trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Tại đây tham gia cùng các tù nhân khác chống đối lao động nên đã bị kỷ luật suốt 2 năm 3 tháng đến tháng 3-1982 trại chuyển 100 tù nhân về Z30A Xuân Lộc Ðồng Nai trong đó có Ngọc Anh, riêng tôi còn ở lại Thanh Cẩm. Cuối năm 1984 Ngọc Anh được phóng thích. Trong thời gian trong tù Ngọc Anh luôn giữ vững tinh thần Quốc gia bất khuất rất xứng đáng là một chiến sĩ của QLVNCH, người con yêu của quê hương Bình Thuận. Sau khi được thả về Sài Gòn, Ngọc Anh nhứt quyết không sống dưới chế độ độc tài Cộng sản nên đã tìm đường vượt biên, tổng số 11 lần mới thoát được trong đó có hai lần bị bắt lại rồi trốn vượt trại. Cuối cùng Ngọc Anh đã đến được bến bờ tự do vào năm 1986 tại thành phố Boston Tiểu bang Masschusetts từ đó đến nay.

Nhắc đến Bình Thuận không phải để chúng ta luyến tiếc một quá khứ với nhiều quyền lực, cũng không phải muốn phục hồi địa vị giành quyền lãnh đạo như nhà cầm quyền Cộng sản và bọn tay sai xuyên tạc chụp mũ thường gán ghép, mà đúng hơn là để nói lên nỗi lòng của những người con ly hương ở Hải ngoại, luôn nhớ về quê mẹ, nơi mà mình sinh ra và lớn lên, được nuôi dạy làm người biết nhớ ơn tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước mà Bình Thuận là một bộ phận của dãy non sông đáng tự hào này.

Nhắc lại quá khứ đã qua với những sự kiện lịch sử đầy hào hùng lẫn chia sót cũng là để nhắc nhở thế hệ hậu duệ biết rõ sự thật lịch sử khác với sự xuyên tạc bóp méo của kẻ thù Cộng sản để từ đó can đảm dấn thân, dám nhận lãnh trách nhiệm tiếp tục con đường chiến đấu mà anh chị còn dang dở trong sự nghiệp quang phục quê hương, đem lại tự do Dân chủ Nhân quyền cho toàn dân . Xây dựng một Việt Nam hùng cường thịnh vượng để sánh vai ngang hàng với các nước tiên tiến trên Thế giới . Ðó chính là ước mơ, là nguyện vọng, là hoài bão của mọi người con yêu của nước Việt.

Boston ngày 2-1 2011

Huỳnh Văn Quý