Showing posts with label quân khu 2. Show all posts
Showing posts with label quân khu 2. Show all posts

Saturday, July 12, 2025

 TÌNH HÌNH QK-2 VÀO THÁNG 3-4/1965

 By the end of March, the immediate threat of the enemy splitting South Vietnam had passed, but the price had been high. In addition to the casualties suffered, the Winter Spring Offensive had forced Co to divert troops from pacification. He had reduced the number of regulars assigned to province chiefs from eighteen battalions in January to ten in February and to zero in March. The move weakened the already hard-pressed pacification effort. In March, for example, guerrillas had incinerated a community of 300 homes in Phu Bon. In Quang Duc, the revolutionaries had burned bridges to isolate areas, then used threats to compel 1,600 Montagnards to abandon their hamlets and return to the jungle. In Darlac, 5,000 people had fled land-development centers, and the lack of security led the 23d Division to ban all pacification work more than 5 kilometers from a main road. In Binh Tuy, another 7,000 people had poured into towns as the Communists spread their control over the countryside. Because government troops largely confined themselves to protecting the towns, USOM’s province adviser appealed for the deployment of “foreign troops” to garrison urban centers, thus allowing the South Vietnamese to take to the field.39 Military Region 5’s claim that it had captured 1,000 hamlets during the Winter Spring Offensive probably was exaggerated, but few doubted that the government had lost territory and that security in many areas had degraded seriously. In Lam Dong, the number of pacified hamlets had fallen from forty-three in January to twenty-nine by the end of March. In northern Kontum, where advisers had felt that the province was “quite clearly winning the ‘hearts and minds’ battle among the Montagnards,” the appearance of major North Vietnamese units had undermined the effort. The best advisers could hope for was that the people would follow the troops as Co withdrew some of them from the region. That many civilians did indeed vote with their feet and flee to government areas was gratifying, but it created severe socioeconomic dislocation. By the end of March 1965, the government admitted the presence of more than 90,000 refugees in II Corps and continued to be hard-pressed to deal with them. 

No fewer than 70,000 refugees were in Binh Dinh, where the allies believed the enemy maintained 3,600 regulars and 3,000 guerrillas.40 As dire as the situation seemed in northern II Corps, not everything went the insurgents’ way. They had not been able to keep either the western highlands or I Corps isolated from the rest of the country, nor had everyone given up. During the last week of March, the insurgents had killed twenty-five people who had refused their orders to leave their hamlet in the An Lao Valley. Elsewhere, Popular Forces soldiers successfully repulsed sixteen of the enemy’s twenty-two attacks on hamlets. Determined to renew pacification, General Co ordered his subordinates to draft revised plans that considered the current realities.41 Some advisers questioned Co and Sang’s focus on Highway 1. They noted that it was easier for the Front to sabotage the road than for the government to keep it open, and that by concentrating troops on the highway they had facilitated the enemy’s takeover of the countryside, including the An Lao and Vinh Thanh valleys. “Route 1 by itself doesn’t mean a damn thing,” said one adviser. “If they just stick to that, they’re right back where the French were. They have to get out into the villages where the people are.” Likewise, another adviser criticized government tactics, stating that “it is meaningless for troops to move out, make contact with the Viet Cong, take a casualty or two, and then call for an air strike, which may kill some Communists along with other people but surely will settle nothing in these crucial rural areas.” MACV, however, agreed with the government that political, economic, and logistical factors warranted keeping the major roads open to as much civil and military traffic as possible.42 Regardless of shortcomings in South Vietnamese military actions, advisers recognized that the infusion of North Vietnamese regulars and new weaponry, such as fully automatic rifles and potent antitank weapons, had altered the situation in II Corps. The morale of South Vietnamese soldiers dropped noticeably. Army Chief of Staff Harold Johnson, who visited II Corps in March, found General Co “very distraught” by the fact that enemy soldiers armed with AK–47s were outgunning his units. Johnson sympathized, adding that “they just didn’t have the ability to absorb that shock of initial contact.” Unless the allies could bring additional manpower and f irepower to bear, II Corps’ prospects appeared uncertain. If Military Region 5 grossly exaggerated its claims to have killed 15,250 South Vietnamese and 750 American soldiers during the Winter-Spring Offensive, the Communists were closer to the truth when they asserted that the offensive had driven “the American imperialist ‘special warfare’ strategy to the brink of defeat.” Over the previous six months, enemy forces had repeatedly demonstrated how they could overcome an admittedly shallow system

of area security by isolating regions, attacking government forces, and paralyzing, if not reversing, pacification activities.43 Fully 32 percent of the enemy’s attacks in South Vietnam during the first quarter of the year had taken place in II Corps, yet notwithstanding the heavy losses, the battle over the population remained in play. During the first three months of 1965, the Front had been able to enlarge the segment of the rural population under its control in II Corps from 17 to 22 percent. Much of the growth came from areas that previously had been in dispute. The government, on the other hand, claimed it controlled 35 percent of II Corps’ 2.8 million people and maintained some influence over another 19 percent. As the government had not acquired much territory during the quarter, many of the people added to its rolls were probably refugees.44

Saturday, September 9, 2023


TÌNH HÌNH QK-2 TRƯỚC TRẬN TÂN CẢNH - DAK TO 2


- Trong sách A Duty Done, cựu trung tá Úc-đại-lợi Fred Fairhead đã nghi ngờ sự hữu hiêu của B-52 khi viết: "Mỗi phi xuất của B-52 gồm ba chiếc, mỗi chiếc mang theo khoảng 100 quả bom 500 cân Anh hay 226,7 kg, bay ở cao độ 50.000 bộ hay 15,24 km, và thả bom xuống một mục tiêu, còn gọi là một box, có bề ngang khoảng 1 km và dài 3 km. Vấn đề là các mục tiêu này phần lớn lại là những đv nhỏ và lưu động của đối phương mà các điện đài hay máy phát sóng của họ đặt xa căn cứ đóng quân của họ. Do vậy, nếu sau khi định vị nơi đặt máy phát sóng và ném bom xuống đó, gần như B-52 chỉ gây thiệt hại rất ít cho các căn cứ này. B-52 chỉ hữu hiệu khi đối phương tập trung đông đảo để tấn công vào một căn cứ của đồng minh, như lần họ bao vây căn cứ Khe Sanh của TQLC Mỹ năm 1968"-- người dịch.

- Dù máy bay thám sát báo cáo đã thấy xe tăng từ đầu năm 1972, nhưng cố vấn của QK2 vẫn không tin vì các toán viễn thám ko thấy tận mắt.    

Việc triệt thoái các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ.



Đây là bài thứ ba trong chuyên khảo (monograph) được viết bởi các cố vấn Mỹ từng phục vụ tại VNCH. Sau đây là phần chuyển ngữ.

. . . 

"Quân khu 2, vùng chiến thuật lớn nhứt của Việt Nam Cộng Hòa (The Republic of Vietnam), chiếm 47/100 diện tích của đất nước; tuy nhiên, chỉ có ba triệu dân hay khoảng 1/5 dân số cả nước. Vì lý do trên, ko bên nào cố gắng hết sức để làm chủ mảnh đất thưa dân này. Mỗi năm trong mùa khô, Dãy Trường Sơn, còn gọi là Dãy Núi Trung Kì (Annamite Range) của tỉnh Kontum đã trở thành nơi diển ra các hoạt động gia tăng của địch; năm 1972 ko phải là ngoại lệ. (Nói thêm: Dãy Núi này dài chừng 1.100 km, là đường phân thủy của sông Mê Kông và hệ thống sông ngòi đổ vào biển Đông, đi song song với bờ biển, cũng là dãy núi phân chia ranh giới Việt Nam và Lào; cũng là nơi có cánh rừng nhiệt đới lớn của Á châu -- người dịch.                  

Việc triệt thoái (drawdown) các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt (relegration) nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ. Việc thất bại của chương trình Việt Nam hóa chiến tranh này của Mỹ sẽ là một đòn tai hại cho chánh sách ngoại giao của Mỹ và cung cấp cho kẻ thù một thuận lợi quyết định ở bàn hội nghị. 

Từ ngay giữa tháng 12/1971, quân đồng minh tại Cao nguyên Trung phần của QK-2 đã bắt đầu nhận những báo cáo về những chuẩn bị của đối phương  cho một tấn công lớn trong dịp đông xuân của năm 1972. Những báo cáo về tình báo của VNCH và lời khai của tù binh và hồi chánh viên (HCV) đã phát hiện những cuộc chuyển quân với qui mô lớn từ các căn cứ địa ở Cam-bốt và Lào vào bắc tỉnh Kontum. Những nguồn tin này cũng cho biết rằng chiến dịch này gồm ba giai đoạn với Giai đoạn I từ 27/1 đến 7/2; Giai đoạn II từ 7/2 đến 14/2; Giai đoạn III từ 14/2 đến 29/2. Trọng điểm (high point) của cuộc tấn công này gồm các cuộc tấn công vào khu vực Tân Cảnh/Dak To 2, các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển, và tp Kontum và Pleiku. Hơn nữa, hoạt động của lực lượng địa phương VC ở phần phía nam của QK-2 và các tỉnh ven biển sẽ gia tăng nhằm phân tán lực lượng VNCH và khiến vùng Cao nguyên Trung phần làm mồi ngon cho một cuộc tấn công gồm nhiều sư đoàn ở tỉnh Kontum. Với cuộc tấn công hỗ trợ của các đv VC tại Bình Định, một tỉnh mà lâu nay đã bị VC khống chế, một thành công trên chiến trường Kontum sẽ cho phép (would enable) Bắc quân cắt đôi VNCH và làm người ta ko còn tin tưởng chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Các nguồn tin tình báo đã nhận diện BCH đầu não của cuộc tấn công sắp xảy ra (impende) của bắc quân tại Cao nguyên là Mặt trận B-3. Các đv chánh yếu của họ là sđ 320 csbv, sđ 2 csbv, và những đơn vị tác chiến cơ hữu của Mặt Trận B-3, tương đương một sđ, tổng cộng là ba sđ. Những đv csbv này được sự tiếp sức của các đv chủ lực (main) và địa phương của VC và trung đoàn 203 chiến xa, trực thuộc bộ tổng tham mưu ở Hà Nội.

Do những chỉ dấu ngày càng gia tăng của một cuộc tấn công sắp xảy ra, các cố vấn Mỹ ở QK-2 đã làm việc chặc chẻ với các đồng nhiệm, ý nói các cấp chỉ huy VN mà họ làm cố vấn -- người dịch, để xử dụng sức mạnh quân sự còn lại của Mỹ tại VN. Sức mạnh này gồm có không kỵ, yễm trợ của không quân và các cuộc oanh tạc của B-52. Trang bị các thiết bị điện tử hiện đại, máy bay của không kỵ Mỹ được dùng để thu lượm (reconnoiter) tin tức trên các căn cứ địa của địch mà quân đồng minh đã biết dọc theo vùng tam-biên của Lào, Cam-bốt, và VN -- cũng như vùng bắc Kontum trong Thung lũng Plei Trap. Lực lượng không kỵ và các quan sát cơ L-19 hay OV-1 Mohawk của không quân Mỹ đã có thể (were able) phát hiện các khu vực huấn luyện trên đó có xe tăng giả (mock-up), các vị trí cối và các hệ thống hầm trú ẩn lớn. Nói thêm: Máy bay OV-1 Mohawk có thiết bị điện tử SLAR giúp nó có thể nhìn xuyên qua tán lá và lập bản đồ địa hình, cung cấp cho quan sát viên một cuốn phim về mặt đất bên dưới chỉ sau vài phút bay qua khu vực. Hình ảnh chia làm hai phần: địa hình và những mục tiêu di động. Khác với L-19, OV-1 được bọc giáp để tránh đạn súng nhỏ và trang bị một khẩu đại liên 12.7 ly và hai hỏa tiển M159. Nhờ vậy, đầu năm 1968, nó bắn rơi một phản lực MiG-17 của CSBV. OV-1 có thể cất và hạ cánh trên đường bay ngắn và hoạt động trong mọi thời tiết -- người dịch. 

Trong tuần cuối cùng của tháng Giêng 1972, máy bay đã trông thấy hoạt động của thiết giáp địch ở phía đông Căn Cứ Địa 609. Ngày 25/1, hai phi công trực thăng võ trang Cobra thuộc đại đội 361 trực thăng võ trang (Aerial Weapons Company) báo cáo đã tấn công (engage) hai xe tăng trong Thung lũng Plei Trap, ngay phía tây của Rặng Hỏa Tiển. Các phi công này cũng thấy bốn xe tăng khác, đậu dưới bóng cây, trong khu vực này. Trong cùng khu vực, một chiếc Cobra khác cũng thấy sáu vết xích sắt tạo ra bởi thiết giáp. Những toán viễn thám sau đó được thả xuống khu vực đã không tìm thấy các xe tăng này, nhưng các vết xích cho thấy ít nhứt một đại đội xe tăng trong khu vực. Ngày 30/1, các trực thăng võ trang đã báo cáo thấy xe tăng và sau đó thỉnh thoảng cũng thấy. Vì những báo cáo này không thể kiểm chứng (substantiate) bởi các toán viễn thám, nên toán cố vấn Mỹ của QK-2 hay SRAG đã không tin lắm. (Second Regional Assistance Group/SRAG).   

              

Tuy nhiên, dựa vào các báo cáo trên đây và các cuộc tuần tiểu của BĐQ biên phòng thuộc các trại Dak Pek, Dak Seang, và Ben Het, các cố vấn Mỹ đã tiến hành hơn 60 phi xuất B-52, mỗi phi xuất gồm ba chiếc, trong tháng 1/72.  ĐPQ và nghĩa quân (NQ) đã gia tăng các hoạt động của họ trong tháng 1/72 bằng cách tiến hành các các cuộc hành quân cấp TĐ bằng cách đi bộ hay trực thăng vận, trong khi lực lượng chính quy của VNCH tập trung vào việc cũng cố tuyến phòng thủ của họ trong tỉnh Kontum và Bình Định. 

Dựa trên việc đánh giá những tin tức tình báo có được, bộ tham mưu QK-2 của VNCH, chỉ huy bởi trung tướng Ngô Dzu, đã lập kế hoạch phòng thủ Cao nguyên Trung phần. Trong khi các cố vấn Mỹ theo dõi chặc chẻ mọi phát triển của tình hình, phía VN đã thiết kế (formulate) kế hoạch phòng thủ. Người Mỹ quan trọng nhứt trong quá trình này là ông John Paul Vann, một dân sự (civilian) duy nhứt được chọn để chỉ huy nỗ lực cố vấn tại một trong bốn QK của Nam VN. Vann đã sống hơn 11 năm tại VN, lúc đầu là một sĩ quan lục quân và kế đó là một thường dân, và rất được dân miền Nam quí trọng. 

Trong tuần lễ đầu của tháng Hai, Không quân VNCH và không kỵ Mỹ đã tiếp tục báo cáo thấy thiết giáp địch, trong khi tình hình đã bắt đầu sôi động. Những tài liệu tịch thu trong tuần lễ từ 4 đến 10 tháng Hai đã xác nhận sự có mặt của sđ 320 csbv trong Mặt trận B-3. Một tài liệu cũng cho thấy sđ 320 gồm các trung đoàn 48, 52, và 64 bộ binh và trung đoàn 54 pháo binh. Quân số tổng cộng của sđ này và các TĐ đặc biệt (special) của nó là 10.400 người. Một tài liệu khác đã cho thấy cả hai loại đại bác dã chiến 122 ly và 130 ly của Liên Xô (LX) với tầm bắn tới 17 dặm Anh hay 27.35 km đã được xâm nhập ở khu vực tam biên này.

Vì thông tin này, trung tướng Dzu đã ra lịnh cho đại tá Lê Đức Đạt, tư lịnh mới của sđ 22 bộ binh VNCH, dời bộ tư lịnh (BTL) tiền phương của sđ, các đv về tiếp vận của sđ, và trung đoàn 47, đến khu vực Tân Cảnh/Dak To 2; khu vực này đang canh giữ bởi trung đoàn 42. Nói thêm: trung đoàn 47 sẽ đóng ở căn cứ Dak To 2, cách căn cứ Tân Cảnh 5 km về phía tây, phía bắc căn cứ giáp tỉnh lộ (TL) 512, phía nam căn cứ có sông Dak Poko, có sân bay lớn tiếp nhận được máy bay Hercules C-130 -- người dịch. Việc di chuyển các thành phần chánh yếu về tham mưu và tiếp liệu từ hậu cứ của sđ tại Bà Gi, Bình Định, đã hoàn tất vào ngày 7 và 8 tháng hai. Ngoài ra, các thành phần của thiết đoàn 19 cũng được lịnh đến Tân Cảnh để tăng cường cho thiết đoàn 14 cơ hữu của sđ. Đại tá Đạt đã đưa lực lượng thiết giáp mới lên trại LLĐB Ben Het vì nghĩ rằng xe tăng csbv sẽ tiến từ hướng này. Trung tá Tường, chỉ huy trưởng thiết giáp của QK-2 phản đối việc này vì cho rằng thiết giáp ko nên đóng quân để giữ căn cứ, mà phải lưu động để dễ tiếp cứu các đv khác. Lữ đoàn 2 Dù, tuy là trừ bị chiến lược cũng được lịnh chiếm giữ các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển. 

Đại tá Đạt được giao chỉ huy khu vực Dak To bao gồm các trại BĐQ biên phòng ở Ben Het, Dak Mot, Dak Peh, Dak Saeng, và các CCHL 5 và 6. Đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kontum, trách nhiệm bảo vệ tp Kontum, và đại tá Lê trung Tường, tư lịnh phó phụ trách hành quân bảo vệ tỉnh Pleiku. 

Tết âm lịch đã qua, và ko có cuộc tấn công nào. Tuy nhiên, những bằng chứng của địch chuẩn bị đánh lớn đã tiếp tục gia tăng. Trong một nỗ lực nhằm phá vỡ thời biểu tấn công của đối phương, không quân đã thực hiện trên 30 phi xuất B-52 tại khu vực Tân Cảnh trong 3 tuần đầu của tháng hai. 

Việc tổng thống Mỹ đi thăm TC từ 21 đến 28/2 đã khiến nhiều người tin rằng đối phương sẽ cố gắng mở rộng hoạt động nhằm coi thường hay hạ thấp (disrespect) cuộc gặp quan trọng này giữa hai cường quốc. Lại một lần nữa, địch đã hành động ngược với các ước tính tình báo này. Họ đã tiếp tục tránh đụng độ trực tiếp nhưng gia tăng đánh phá các trục lộ và các đồn nhỏ. Con số tù binh và hồi chánh viên đã giảm rất thấp. Ở những năm trước đây, điều này báo hiệu tấn công sắp xảy ra. Máy bay quan sát đã tiếp tục phát hiện một số lượng lớn, chưa từng thấy, chiến cụ của địch đã di chuyển, về hướng đông vào tỉnh Kontum. Tuy nhiên cuộc tấn công đã trì hoản vì các đv CSBV và VC đã gặp khó khăn khi chuyển chiến cụ đến các vị trí tấn công do các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 và không quân chiến thuật trên các khu căn cứ của họ. Vì vậy những ngày Tết đã trải qua êm thắm. Tuy nhiên đối phương đã chuẩn bị đánh lớn gồm việc xây dựng các hầm trú ẩn, đường xá, hành quân thám sát hay điều nghiên, chuyển quân vào vị trí tấn công, tất cả các điều này đã báo trước (portend) một cuộc tấn công ồ ạt của đối phương. Cuộc tấn công này chỉ chờ đợi khi quân số và tiếp vận đầy đủ và thời tiết thuận lợi cho họ. 

Để đẩy mạnh hơn việc phòng thủ của cao nguyên, BTL của sđ Dù và một lữ đoàn Dù đã đến Kontum trong tuần đầu của tháng ba và trách nhiệm bảo vệ tp Kontum và phần phía nam của tỉnh. Sau giữa tháng ba, những cuộc chạm súng với những đv lớn của đối phương đã gia tăng đáng kể. Một sự kiện quan trọng đã xảy ra khi một đv của LĐ 2 Dù đã chạm súng trên Rặng Hỏa Tiển với một lực lượng csbv cấp TĐ; họ đã bắt vài tù binh và một hồi chánh. Điều này đã đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ mà đối phương né tránh đụng độ lớn. Tù binh và hồi chánh đã báo cáo sđ 320 csbv sẽ yểm trợ Mặt trận B-3 và tham gia một cuộc tổng tấn công từ tháng tư đến tháng 9. Những nguồn tin này cũng báo cáo rằng đã thấy nhiều xe tăng trong những khu căn cứ mà họ đã đi qua và nghe rằng các đv thiết giáp csbv sẽ yểm trợ các đv bộ binh của Mặt trận B-3 trong cuộc tấn công sắp tới. Họ cũng kể về những tổn thất về người và vật chất gây ra cho đv của họ vì các cuộc ném bom của B-52.

Cũng có ba cuộc chạm súng khác đáng chú ý. Một đã xảy ra 30 km bắc tp Kontum khi TĐ 23 BĐQ bị bao vây trong khi họ đánh giá một cuộc oanh kích của B-52. Máy bay chiến thuật, pháo binh, và B-52 đã giúp cho BĐQ phá vòng vây (breakout). Một chạm súng nhỏ hơn giữa TĐ 95 BĐQ biên phòng và trung đoàn 141, sđ 2 csbv ở bắc Ben Het. Cuối tháng này, các thành phần của trung đoàn 47 và LĐ 2 Dù lần nữa lại đụng nặng dọc Rặng Hỏa Tiển. Quân bạn đã gây thiệt hại nặng (take heavy toll of) cho quân csbv với sự yểm trợ của B-52 và không quân Việt - Mỹ. 

Những thành công trên đây của VNCH và việc đối phương ko thể tung ra cuộc tổng tấn công đúng theo thời biểu mà chúng đã định trước đã tác động lên bộ tham mưu QĐ-2; họ đã bắt đầu nghi ngờ về việc liệu đối phương có tấn công những mục tiêu đã đề ra. Họ đã nghĩ rằng việc liên tục áp lực lên đối phương thông qua gia tăng hành quân, việc LĐ 2 Dù đẩy mạnh tấn công, việc sử dụng ko ngừng nghỉ lực lượng không quân có được, đã trì hoãn chuẩn bị đánh lớn của chúng. Do đó, nếu tiếp tục tăng cường hành quân trên bộ và oanh kích ồ ạt sẽ khiến đối phương ko còn giữ ý định và giảm thiểu quy mô, thời gian của cuộc tấn công mà chúng đã dự định. 

Trong tuần đầu của tháng tư, dự báo này đã có vẻ chính xác khi trung đoàn 48 và 52 của sđ 320 csbv đã bị thiệt hại nặng khi tấn công các CCHL trên Rặng Hỏa tiển. B-52 và máy bay chiến thuật đã liên tục tấn công những đv địch đang tập trung tại khu này đến độ 4 tới 5 TĐ mất khả năng tác chiến. Một tù binh bị bắt đã xác nhận thông tin này. Tuy nhiên, theo y, viện binh đã đến mỗi ngày, và những đv này nhanh chóng lấy lại (regain) sức mạnh ban đầu. Điều này chứng tỏ việc dùng B-52 và máy bay chiến thuật đánh phá đường mòn HCM-con đường huyết mạch để nuôi sống lực lượng CS ở miền Nam đã ko còn nhiều như trước -- người dịch. Cùng lúc hai trung đoàn 42 và 47 VNCH đã đụng nặng ở bắc và đông Dak To với các thành phần của sđ 2 csbv và trung đoàn 66 của mặt trận B-3. Tù binh bị bắt trong chạm súng khai rằng nhiệm vụ của sđ 2 là chiếm sân bay Dak To 2 và BCH của trung đoàn 42 ở Tân Cảnh, cũng như những đv pháo binh dọc TL-512. Trung đoàn 66 đã điều nghiên căn cứ Tân Cảnh và đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi tấn công.Tù binh ko biết thời điểm nổ súng nhưng chắc chắn sẽ xảy ra. 

Sau khi nghe những báo cáo này, trung tướng Dzu đã nghĩ rằng ông ko đủ quân trong khu vực Dak To để đối phó với một cuộc tấn công nhiều sđ của csbv. Ông muốn tăng cường của lực lượng ở Dak To bằng tám TĐ quân chính quy lấy từ Bình Định; điều này sẽ khiến tỉnh này chỉ còn ĐPQ và NQ. Tuy nhiên, ông Vann đã thuyết phục tướng Dzu rằng làm như vậy là thảm họa. Vann đã đề nghị sđ 23 nên điều chỉnh khu vực trách trách nhiệm hay AOR (area of responsibility) để cho sđ này một số trách nhiệm ở Kontum và như vậy ko cần đưa quân từ Bình Định lên. Với kế hoạch này, dưới quyền đại tá Đạt có 13 TĐ trong đó có ba TĐ BĐQ biên phòng, tám TĐ bộ binh và các đại đội trinh sát, thiết kỵ, lực lượng của tiểu khu và 50 đại bác; sđ Dù có sáu TĐ tác chiến, một TĐ BĐQ biên phòng và 16 đại bác; tiểu khu Kontum có một liên đoàn BĐQ và lực lượng diện địa; và 50 chiến xa thuộc thiết đoàn 14 và 19 đóng rải rác giữa Pleiku và Ben Het. 

Việc dàn quân như thế này đã gây khó khăn rất nhiều (strain) cho việc tiếp tế cho các đv ở bắc Võ Định vì chỉ dựa một đường độc đạo là QL-14. Nếu QL này bị cắt đứt, các lực lượng này đễ dàng bị bao vây và cô lập.Tuy nhiên tướng Dzu đã coi thường những khó khăn về tiếp vận này, vì ông được lịnh của tổng thống là giữ đất bằng mọi giá. Tuy nhiên áp lực này tiếp tục gia tăng và địch tiếp tục chuẩn bị chiến trường.

Khó khăn này đã gia tăng bởi sự chỉ huy ko hiệu quả của đại tá Đạt, tư lịnh sđ 22: điển hình, có một lần, do chỉ huy kém cỏi, ông đã khiến TĐ 9 Dù bị thiệt hại hai trực thăng; lần khác ông đã ko thể khai thác kết quả hai vụ oanh kích của B-52 và sự chia rẻ giữa sđ 22 với sđ Dù." 

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 34 đến 38 của chuyên khảo (monograph) đã dẫn trong các bài trước. 

San Jose ngày 19 tháng 9 năm 2023.


Thursday, July 27, 2023

TÌNH HÌNH KHU VỰC PHÍA NAM CỦA QUÂN KHU 2 VNCH TỪ THÁNG 10/1967 ĐẾN THÁNG 09/1968.

====

- Đầu tháng 12 1967, cuộc hành quân (HQ) có tên Klamath Falls kéo dài 6 tuần dọc ranh giới giữa Bình Thuận và Lâm Đồng, nhằm tìm kiếm BCH quân khu 6 của CS, với sự tham dự của năm TĐ Mỹ, ba TĐ của trung đoàn 44 sđ 23 và một TĐ BĐQ của VNCH. Tin tình báo thu thập trong HQ này cho thấy các đv chánh quy của VC đã rút về những địa điểm an toàn hơn ngay trước khi HQ khởi diển, khiến người ta phải nghĩ rằng không biết bằng cách nào, CS đã biết trước cuộc HQ này? Ví dụ 95 người thuộc BCH của Quân Khu 6, đã chia thành nhiều nhóm và đi về các hướng khác nhau. Quân đồng minh chỉ phá hủy nhiều kho chứa và hệ thống hầm trú ẩn, vì địch quân đã né tránh đụng độ. Trong khi trước đó chỉ hơn nửa tháng (ngày 12/11/1967), TĐ 186 của quân khu 6 này, đã tấn công một đoàn xe kéo pháo di chuyển giữa Di Linh và Đà Lạt, do ĐPQ và 3 xe M-113 bảo vệ, làm chết ít nhứt 65 lính và hư hại 2 đại bác. 

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 208 đến 213 của quyển Staying the Course của Erik Villard.

. . .                         

"BẢO VỆ PHÍA NAM QUÂN KHU 2.

"Vùng bờ biển phía nam của miền Trung (south-central coast) này không sôi động như các phần còn lại của quân khu (QK) 2. Các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, và Lâm Đồng của QK 2 và Bình Tuy của QK 3 có dân số 680.000 người, bằng khoảng 2/3 dân số của chỉ riêng tỉnh Bình Định. Hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận tương đối khô do gió mùa ko thể ngưng đọng thành mưa khi bay ngang những đồi thấp ven biển; vùng cao nguyên tiếp giáp ven biển này phần lớn là rừng. Do đó, sản lượng lúa gạo của vùng này khoảng 88.100 tấn, chỉ hơn 1/4 sản lượng hàng năm của tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, vùng này đóng vai trò quan trọng với các chiến trường ở bắc và nam của nó. Phe nào kiểm soát vùng này sẽ tác động dễ dàng đến các chiến trường kể trên.


Theo tổ chức của CS, bốn tỉnh kể trên của QK 2 và tỉnh Bình Tuy thuộc về Quân Khu 6 của CS-chỉ huy bởi tướng Nguyễn minh Châu. Được mô tả bởi một sĩ quan Mỹ như là một "tư lịnh đây mưu trí (crafty) và một chuyên gia về các cuộc quân kiểu quấy rối của du kích," Châu chỉ huy bốn tiểu đoàn VC và năm đại đội cấp huyện. Dù với quân số khiêm nhường, y vẫn có thể khiến QL-1 ko thể xử dụng trong vài năm qua và cũng luôn né tránh các cuộc hành quân lớn của đối phương bằng cách cho quân của y thường xuyên di chuyển qua lại ranh giới giữa các tỉnh hay các quận. (Nói thêm: Theo thói quen cố hữu, các tỉnh hay quận ít khi hành quân ở vùng liên ranh. VC đã lợi dụng sơ hở này để né tránh các cuộc hành quân -- người dịch).

Trung tướng William Rosson, tư lịnh của BCH lực lượng 1 dã chiến của Mỹ đặt tại Nha Trang, chỉ huy khoảng 55 ngàn lính Mỹ và 38 ngàn quân Hàn Quốc tại QK-2 từ tháng 7/1967, đã triển khai 10 TĐ quân Mỹ và 18 TĐ quân Hàn quốc, phối hợp với 16 TĐ Nam quân hành quân ở vùng ven biển đông dân này của QK-2; chỉ để 9 TĐ quân Mỹ phối hợp với 12 TĐ Nam quân hành quân ở vùng Cao nguyên Trung phần thưa dân. Tướng quân cũng duy trì một lực lượng đặc nhiệm nhỏ, hành quân trực thăng vận do TĐ 2/7 sư đoàn 1 không kỵ đảm trách, đóng tại căn cứ hỏa lực Betty, phía nam của Phan Thiết-tỉnh lỵ của Bình Thuận, nhằm yểm trợ Nam quân tại bờ biển phía nam của QK2. TĐ này đã đến tỉnh này tháng 8/1966 với nhiệm vụ tìm và diệt địch, trong cuộc hành quân (HQ) mang tên BYRD, dự định kéo dài 2 tháng. Lực lượng đặc nhiệm trực thăng vận này đã chứng tỏ hữu hiệu đến độ tướng Westmoreland đã quyết định kéo dài nhiệm vụ của họ. Được trang bị với 38 trực thăng với hai pháo đội gồm một pháo đội 105-ly và một pháo đội 155-ly, lực lượng đặc nhiệm này đã có một hỏa lực và tính cơ động mà Nam quân ko thể có. (Nói thêm: Theo tổ chức của QLVNCH, mỗi sđ bộ binh có 3 trung đoàn bộ binh, yễm trợ bởi 3 TĐ pháo 105-ly và một TĐ pháo 155-ly. Khi cần hành quân trực thăng vận, phải nhờ trực thăng của không quân Mỹ hay VNCH. Trong khi đó, dưới quyền TĐ này có 38 trực thăng và hai pháo đội 105 và 155-ly, mỗi pháo đội có 6 khẩu -- người dịch). 

Lực lượng đặc nhiệm BYRD này đã hợp tác chặc chẻ và tốt đẹp với các giới chức VN. TL của lực lượng này kiêm luôn cố vấn trưởng của tỉnh Bình Thuận, mà tỉnh trưởng là trung tá Nguyễn Khắc Tuân, cũng là chỉ huy của trung đoàn trưởng 44 sđ 23 bộ binh VNCH. Sự phối hợp này tốt đến nỗi, tính tới mùa thu 1967, lực lượng đặc nhiệm này đã có thời gian hoạt động lâu nhứt. (Nói thêm: Như đã nói ở trên, lực lượng đặc nhiệm này ban đầu được thiết kế để hoạt động trong 2 tháng, sau đó các đv của lực lượng sẽ được trả về đv gốc -- người dịch). 

Thật ko ngạc nhiên khi lực lượng này đã tiến hành nhiều cuộc hành quân phối hợp. Công thức điển hình là một đại đội Mỹ phối hợp với một đại đội VNCH. Cũng có khi một đại đội Mỹ phối hợp với một trung đội VNCH hay một đại đội VNCH phối hợp với một trung đội Mỹ. Quân VNCH thì rành địa thế và dân tình, quân Mỹ có thế mạnh về hỏa lực, tiếp vận và tải thương. 

Họ cũng có các hoạt động dân vận (outreach). Phần lớn tập trung ở Phan Thiết và những cánh đồng phì nhiêu ở phía bắc của tỉnh lỵ này, nơi mà 3/4 của 250.000 dân của tỉnh Bình Thuận sống và phần lớn lúa trồng ở đây. Lính Mỹ và VNCH đã bảo vệ nông dân thu hoạch mùa màng, phân phối đồ cứu trợ, thực hiện các dự án nhỏ về xây dựng, và chăm sóc y tế miễn phí cho dân. Toán công binh của lực lượng đặc nhiệm tu sửa đường xá để việc đi lại mua bán của dân thuận lợi hơn. Do còn thiếu sót trong khi thực hiện nên hạ tầng cơ sở tại vùng này chưa đạt kết quả đáng kể, tuy nhiên một đại diện của cơ quan CORDS, khi thăm viếng vùng này tháng 12 1967 đã ghi nhận những thay đổi đáng chú ý (startling changes). Chẳng hạn như tháng 6, hoạt động kinh tế ở vùng này rất ít; người dân có vẻ nhút nhát và đã chạy vào nhà khi viên chức chánh phủ tới gần. Nhưng vào tháng 12, vị đại diện này đã báo cáo rằng "phụ nữ đã mang rau quả ra chợ, đường xá tấp nập xe bò, xe đạp và một ít xe gắn máy. Dân đã gặt lúa, chuẩn bị đồng áng để gieo trồng vụ mùa mới. Trong khi việc thực hiện các chương Phát Triển Cách Mạng chậm so với thời biểu, tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong lãnh vực tâm lý, tuy khó đong đếm (less tangible), nhưng lại quan trọng hơn." Ông đã kết luận, rõ ràng là lực lượng đặc nhiệm BYRD đã "đóng góp thành công trong việc cải thiện an ninh trong tỉnh Bình Thuận, và tiến bộ về bình định sẽ giảm sút một khi lực lượng này rút đi." (Nói thêm: cơ quan CORDS, viết tắt của Civil Operations and Revolutionary Development Support, một chương trình bình định lãnh thổ, được Mỹ hỗ trợ, dưới sự điều hành của Bộ Xây Dựng Nông Thôn VNCH -- người dịch). 

Dù quân đồng minh đã đạt những tiến bộ (stride) về bình định khu vực này trong năm 1967, vài đv Việt Cộng, đáng kể nhứt (most notetably) là TĐ 840 chính quy và TĐ 482 địa phương, vẫn ẩn núp (lurk) gần tỉnh lỵ. Những đv này và 6 đại đội quân địa phương đã tạo một đe dọa liên tục, ko chỉ riêng tỉnh lỵ Phan Thiết, mà còn đối với nhiều tiền đồn nhỏ của Nam VN, rải rác khắp vùng quê. 

Bước vào 2 tháng cuối của năm 1967, một trong những mục tiêu chánh của tướng Westmoreland ở bờ biển đông nam này là mở và cải thiện QL-1 từ Xuân Lộc đến Phan Rang, do đó sẽ phục hồi việc giao thông giữa QK-3 và QK-2. Gánh nặng này phần lớn giao cho lực lượng đặc nhiệm BYRD. Bảo vệ bởi TĐ 2/7 Thiết kỵ Mỹ, công binh Mỹ đã xây lại và sửa chữa những đoạn hư hỏng trên QL-1 đoạn chạy qua tỉnh Bình Thuận. Công binh Mỹ cũng giúp công binh VNCH lập các tiền đồn cấp trung đội dọc theo QL, canh giữ bởi ĐPQ. Một số căn cứ hỏa lực cấp đại đội cũng được lập dọc QL-1 cho trung đoàn 44 VNCH, thay vì để họ đóng gần tỉnh lỵ. Hệ thống các tiền đồn này nhằm bảo vệ khu vực dân cư của tỉnh, khiến quân cs đóng trên rừng núi phía tây ko thể vượt QL-1 mà ko bị phát hiện. 


  Một lính Mỹ chuẩn bị máy chiếu phim và hệ thống
   âm thanh để trình chiếu những phim ủng hộ chánh 
       quyền cho thường dân ở Phan Thiết.

Địch quân đã chống lại hệ thống phòng thủ này khi ngày 8/11/1967 TĐ 840 và đại đội 450 quân địa phương tấn công đồn MARA, một đồn nhỏ trên QL-1 khoảng 15km đông bắc Phan Thiết. Đồn này chứa BCH và một đại đội tác chiến của TĐ 3/44 sđ 23 bộ binh, và một số lính công binh đang hoàn thiện công tác xây đồn. Viên cố vấn ở đồn MARA gọi không trợ. Chỉ huy của lực lượng đặc nhiệm, trung tá Joseph Griffin Junior, nhanh chóng đã gửi 3 trực thăng UH-1 trong đó có một chiếc bay ở cao độ thấp từ 50 tới 400 feet, chỡ theo 2 hay 4 người lính trang bị súng M-16, có gắn kính nhìn đêm, xem hình.
                                            
Khi người lính thấy địch nhờ kính này, họ bắn đạn chỉ đường (tracer fire) để đánh dấu mục tiêu. Trong khi chiếc thứ hai bay cao hơn để thả hỏa châu. Chiếc thứ ba trang bị rốc-két. Một máy bay Hỏa Long AC-47 tham gia trận đánh. Điều này đã giúp quân phòng thủ giữ đồn tới rạng đông tới khi một đại đội của TĐ 2/7 thiết kỵ Mỹ tiếp viện. Quân phòng thủ chết 28 và 35 bị thương, nói lên sự ác liệt của trận đánh. Cộng quân có 42 chết. Chỉ hai ngày sau trận đánh, công binh VNCH đã hoàn tất việc xây dựng đồn MARA, giúp cho quân đồng minh có một căn cứ mạnh mẻ để bảo vệ đoạn đường này của QL-1.
Hai tuần sau, tướng Châu của CS đã cho thấy quyết tâm (willingness) đánh Mỹ của y. Trận đánh đã bắt đầu khi nhiều đạn cối rớt vào quận lỵ Thiện Giáo, khoảng 20km tây nam của đồn MARA. Trung tá Griffin liền gửi một trung đội bộ binh để tìm địch quân. Khi các trực thăng đổ lính xuống một rừng thưa gần đồn này, địch quân từ khu vực chung quanh đã bắn họ bằng súng súng nhỏ và đại liên. Họ đã lọt vào một bẫy giăng ra bởi TĐ 482 VC. Các trực thăng phải rút lui sau khi vài chiếc bị thiệt hại trong khi trung đội này phải chiến đấu đơn độc (fight for its life).
Trung tá Griffin đã nhanh chóng gửi phần còn lại của TĐ để cứu trung đội này. Bắc quân đã đón chào các trực thăng cứu viện với đạn đại liên và B-40. Trực thăng đã cố gắng đổ quân dù nhiều chiếc bị thiệt hại và hai chiếc phải đáp khẩn cấp (crash-land). Sau vài giờ chiến đấu, TĐ 2/7 thiết kỵ đã đẩy lui TĐ 482 và cứu trung đội này. Quân Mỹ bị thiệt hại với 11 chết và 36 bị thương, trong khi đối phương có khoảng 21 chết. 
Ngày 1 tháng 12 1967, TĐ 2/7 thiết kỵ này chấm dứt hành quân BYRD để tham chiến với lữ đoàn 1 sđ 101 Nhảy Dù, trong một cuộc hành quân (HQ) có tên Klamath Falls dọc theo ranh giới giữa tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng. Ba TĐ của trung đoàn 44 sđ 23 VNCH và TĐ BĐQ cũng tham gia cố gắng này nhằm tìm và diệt BCH của Quân Khu 6 VC và bất cứ đv chánh quy nào hoạt động trong khu vực này. Mối quan tâm đặc biệt của họ là TĐ 186 địa phương đã từng gây thiệt hại nặng (maul) cho vài đại đội ĐPQ và các thành phần của trung đoàn 44 nói trên vào ngày 12/11/1967, giết ít nhứt 65 lính chánh phủ và gây hư hại hay phá hủy hai khẩu 105-ly. Mục tiêu thứ 2 của cuộc hành quân (HQ) này là cải thiện an ninh trên QL-1 để xe cộ di chuyển an toàn giữa Phan Thiết và Nha Trang.
Trong 6 tuần sau đó, quân đồng minh đã tìm và phá hủy nhiều kho chứa và các hệ thống hầm trú ẩn dọc theo ranh giới Lâm Đồng và Bình Thuận, một số kho lớn đủ phục một TĐ, nhưng VC đã né tránh đụng độ. Tin tình báo thu thập trong HQ này cho thấy các đv chánh quy của VC đã rút về những địa điểm an toàn hơn ngay trước khi HQ khởi diển, khiến người ta phải nghĩ rằng ko biết bằng cách nào, VC đã biết trước cuộc HQ này? Ví dụ 95 người thuộc BCH của Quân Khu 6, đã chia thành nhiều nhóm và đi về các hướng khác nhau. Tổng kết, phe đồng minh cho biết đã hạ 156 địch trong 6 tuần hoạt động. Gần phân nửa số này là công của một trong năm TĐ Mỹ tham chiến, đó là TĐ 2/7 thiết kỵ, vì họ quen thuộc khu vực này. 
Về mục tiêu thứ hai của cuộc HQ, việc mở lại QL-1, một đoàn công-voa Nam VN đã di chuyển an toàn từ Nha Trang đến Phan Thiết và ngược lại giữa 18 - 21/12/1967. Dù một vài đoạn của QL-1 vẫn còn mất an toàn vào ban đêm, việc đi lại của dân đã bắt đầu gia tăng mạnh mẻ giữa Phan Thiết và Nha Trang vào ban ngày, khiến việc buôn bán làm ăn trở nên thuận lợi do người dân ở vùng bờ biển đông nam này và cung cấp cơ hội cho thịnh vượng lâu dài"./.
Nói thêm: Trong cuộc HQ Klamath Falls kể trên, có sự tham dự của TĐ 11 BĐQ, mà anh hùng Vương Mộng Long từng là đại đội trưởng. TĐ này trước đó do thiếu tá Nguyễn văn Huân chỉ huy, sau đó là đại úy Hồ Đắc Đàm. Thiếu úy pháo binh Nguyễn Trãi, trong bài "Một người anh BĐQ" đã viết rằng TĐ 11 BĐQ, dưới thời thiếu tá Huân, mà ông là tiền sát viên đã từng truy đuổi một tiểu đoàn chánh quy sau khi đv này phục kích và gây thiệt hại nặng (98/100) cho một đại đội ĐPQ và ba xe M-113 đi cùng để bảo vệ một trung đội pháo binh gồm hai xe kéo pháo trên QL-20, trên đoạn Phú Hiệp từ Di Linh đi Đà Lạt. Chi tiết này gần trùng hợp với bài viết trên đây của Mỹ. Thời đó đại tá Trương Quang Ân làm TL của sđ 23 bộ binh -- người dịch.
. . .
San Jose ngày 28/7/2023
Tài Trần

                             




Sunday, November 22, 2020

 Đại đội thám kích 403 thuộc biệt khu 24 của Sđ 22 bộ binh VNCH. Phần lớn là lính Thượng nhưng cấp chỉ huy là sq VNCH và mỗi đại đội có HAI cố vấn Mỹ (một đi với đại đội trưởng, một đi với đại đội phó), trong hình là một người đứng hàng đầu chung với lính Thượng và một ng đứng ngoài hàng.

Các đại đội này hoạt động theo yêu cầu của phòng 2 sư đoàn, chứ ko thuộc trung đoàn nào. Họ có nhiệm vụ thu thập tin tức, đánh giá các tin tức tình báo do hồi chánh viên cung cấp trước khi các đại đơn vị Việt Mỹ mở các cuộc HQ.
Họ cũng hy sinh rất nhiều để bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do này với tổng cộng khoảng 58.000 ng.


Tuesday, November 17, 2020

 HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TẠI QUÂN KHU 2 TRƯỚC KHI NỔ RA TRẬN BAN MÊ THUỘT NGÀY 10.3.75

...

Lời nói đầu: Trước khi nổ ra trận đánh này, các TL của QLVNCH tại QĐ 2/QK 2 đã có những hoạt động năng nổ nhằm bảo vệ lãnh thổ và duy trì an ninh cho cuộc sống ấm no của đồng bào qua những cuộc hành quân của các sđ 22 và 23 bộ binh, các liên đoàn BĐQ và các tđ ĐPQ và nghĩa quân. Các chiến sĩ này đã đổ nhiều xương máu, đặc biệt trên QL-19 để bảo vệ con đường huyết mạch từ Qui Nhơn đi Pleiku, hay QL-21 từ Nha Trang đi Ban Mê Thuột, hay QL-14 từ ngã ba Dak Song đi Kontum.  Dù có những quyết định sai lầm sau này của cấp lãnh đạo khiến VNCH lọt vào tay CSBV, nhưng tôi LUÔN LUÔN NHỚ ƠN sự hy sinh của những người lính này vì lẽ dễ hiểu: họ đã chết để chúng ta có cuộc sống như hôm nay.

Sau đây là phần chuyển ngữ về những hoạt động của các đv này trước khi xảy ra trận Ban Mê Thuột ngày 10.3.75.-- Tài Trần.

===

"Hoạt động quân sự ko gì đáng kể ở Cao nguyên Trung phần thuộc Quân khu 2 nhưng lại nặng nề tại tỉnh Bình Định ven biển nơi mà SĐ 22 VNCH đã gây thiệt hại nặng cho SĐ 3 CSBV tại lối vào Thung lũng An Lão. Những cuộc tấn công này của VNCH nhằm đánh phủ đầu những tấn công của sđ 3 csbv tại bắc Bình Định.

Đầu tháng Giêng 1975, hai trung đoàn (tr.đ.) 40 và 42 của sđ 22 VNCH, đã chiếm giữ những đồi núi quan trọng ở cửa ngõ vào Thung lũng An Lão và đã đẩy lui thành công nhiều cuộc tấn công của tr.đ. 141 của sđ 3 csbv nhằm đẩy bật các đv này của VNCH ra khỏi các đồi núi này. Trung đoàn CS này bị thiệt hại nặng và sau đó rút lui. Những cuộc tấn công chống lại các vị trí VNCH đã giảm cường độ trong THÁNG HAI và chỉ còn pháo kích. Nhưng tổn thất ko thôi ko buộc sđ 3 csbv này giảm cường độ hoạt động nhưng do họ có NHỮNG NHIỆM VỤ MỚI. Những chỉ dấu đầu tiên của điều này đã tới Tướng Niệm, TL sư đoàn 22, khi đầu THÁNG GIÊNG một tù binh thuộc TĐ 18 truyền tin của sđ 3 csbv đã tiết lộ sự hiện diện của một toán trinh sát của sđ 3 dọc theo QL-19 gần An Khê và Bình Khê.

Thung lũng Vĩnh Thạnh - đôi khi còn được gọi là Thung lũng Sông Côn do sông này chảy về hướng nam đi ngang thung lũng - chấm dứt ở Bình Khê nơi mà sông này quẹo về hướng đông để ra biển và đã tạo một bình nguyên trù phú và rộng lớn trên Qui Nhơn. Thung lũng này, đã bắt đầu từ vùng cao nguyên nhiều rừng và hiểm trở ở bắc Bình Khê, là con đường thiên nhiên tiện lợi giúp sđ 3 csbv tiến sát QL-19 để tấn công các vị trí VNCH dọc theo QL này, xem bản đồ. CUỐI THÁNG HAI và ĐẦU THÁNG BA, thám thính cơ L-19 của VNCH đã phát hiện quân CSBV cải thiện và mở rộng một con đường, rộng 8 m với những CẦU NGẦM, đi từ nam của tỉnh Kontum và xuyên ngang vùng Kim Sơn của Bình Định nơi mà đường này gặp liên tỉnh lộ (LTL) 3A. Những nhánh của đường này lan tỏa vào những khu vực căn cứ CSBV này ở bắc Thung lũng Vĩnh Thạnh, và RẤT NHIỀU XE TẢI CHẠY VÀO khu vực quan trọng này. Hơn nữa, một trung đoàn (tr.đ.) pháo binh mới của csbv, trung đoàn 68, đã bị phát hiện di chuyển súng và đạn dược hướng về nam tới Bình Khê xuyên qua thung lũng. Cũng có bằng chứng mới đã chứng tỏ vào lúc này rằng sđ 3 csbv đã chuyển nhiều đv lớn vào vùng Vĩnh Thạnh.  

Nhận thức đầy đủ đe dọa này đối với QL-19, tướng Niệm đã họp với tỉnh trưởng Bình Định về những biện pháp để bảo vệ đường này và bảo vệ các đoàn "công-voa" tiếp tế cho Pleiku. Ông đã ra lịnh TRUNG ĐOÀN (TR.Đ) 47 phải hành quân thám sát Thung lũng Vĩnh Thạnh kể từ ĐẦU THÁNG HAI, và những đụng độ trở nên thường xuyên và dữ dội (sharp). Trong khi đó, địch đã gia tăng áp lực vào QUẬN PHÙ MỸ và PHÙ CÁT, nằm dọc QL-1 với những tấn công khủng bố vào các ấp và bắn hỏa tiển vào sân bay Phù Cát NGÀY 18 THÁNG HAI 1975, lần đầu tiên kể từ giữa-1974. Rõ ràng CSBV đã tập trung hoạt động tại các đèo trên Ql-19 thay vì bắc Bình Định. 

Tướng Phú, TL QĐ 2, đã quan tâm đặc biệt đến đe dọa nhắm vào huyết mạch chánh này, ý nói QL-19. NGÀY 2 THÁNG 3, ông ra lịnh cho tướng Niệm rút tr.đ. 42 từ các vị trí trên QL-1 và lập một đơn vị (đv) trừ bị lưu động để sẵn sàng tăng viện cho tr.đ. 47 tại Đèo An Khê. An ninh trên QL-1 giao cho ĐPQ Bình Định.

Dù cho chỉ dấu rõ ràng rằng địch đã chuyển trọng tâm về phía nam, tướng Niệm vẫn giữ nửa sđ của ông ở phía bắc, đối diện Thung lũng  An Lão. NGÀY 3 THÁNG BA, BTL sđ 22 ở gần Qui Nhơn với:

- Tr.đ. 40 ở Đèo Phù Củ trên QL-1, ngay phía nam Bồng Sơn, và chiếm giữ cao điểm phía trên và đông của Hoài Ân.

- Tr.đ. 41 ở Bồng Sơn nằm hai bên lối vào Thung lũng An Lão, với một TĐ ở bắc căn cứ English. (Căn cứ này và căn cứ Radcliff tại An Khê nguyên là BTL của sđ 1 không kỵ Mỹ từ 7/1967 tới 1/1968, có sân bay C-130; sau này là căn cứ của lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ. Căn cứ này còn có tên là Bồng Sơn, thuộc quận Bồng Sơn 82 km tây bắc Qui Nhơn trên QL-1.) 

- Tr.đ. 42 làm TRỪ BỊ ở quận Phù Mỹ, dọc theo QL-1.

- Tr.đ. 47 ở QL-19 với hai TĐ tại Đèo An Khê và TĐ 2 hành quân ở bắc Thung lũng Vĩnh Thạnh. (TĐ 2/47 này đã có BỐN TĐ trưởng tử trận chỉ trong CHÍN ngày từ 4-13/3/1975. Vì bị thiệt hại nặng nên trung đoàn này của trung tá LÊ CẦU, sau này lên ĐT,  gần cuối tháng 3 đã được đưa về bắc Bình Định để dưỡng quân và bổ sung quân số và những ngày cuối tháng 3/75 gần như tan rả, đã viết trong bài nói về sđ 22). 

Vào lúc đó phòng tình báo của sđ 22 đã ước đoán việc bố trí của sđ 3 csbv - sau này đã chứng tỏ chính xác - rằng hai tđ của trung đoàn 2 và một tđ của tr.đoàn 141 ở những ngọn đồi ở phía bắc của QL-19 nơi lối vào Thung lũng Vĩnh Thạnh; tr.đoàn 12 ở cao điểm nam QL-19 trong Đèo An Khê, khoảng giữa An Khê và Bình Khê; một tđ của tr.đoàn 2 ở khu vực căn cứ bắc của Vĩnh Thạnh; trong khi hai tđ khác của tr.đoàn 141 bảo vệ căn cứ An Lão ở bắc Bình Định. Đây là những vị trí của họ tại Bình Định trước tổng tấn công mùa Xuân 1975. 

Trong khi các hoạt động dưới đất trong THÁNG GIÊNG ở Kontum và Pleiku giới hạn trong thăm dò, tuần tiểu, hay tấn công, Không quân VNCH hàng ngày bận rộn tấn công các đoàn công-voa gia tăng mạnh mẻ đang xuôi nam dọc theo các hành lang tiếp vận MỚI của CSBV. (Hoạt động tiếp vận gia tăng này của csbv cũng dễ hiểu vì sau khi ký kết HĐ Paris 1973, không quân Mỹ ko còn hoạt động, và KQ VNCH đã bị hạn chế nhiều do cắt giảm mạnh về xăng dầu và cơ phận thay thế mà tôi đã viết trong bài "Cái Chết Được Báo Trước" -- Người dịch). Đầu tháng 1/75, ở bắc TP Kontum, 17 xe tải CSBV chở đầy hàng bị hủy diệt, đây là một hoạt động thường đc lập lại trong suốt tháng này và qua tháng 2. Trong khi đó, các toán viễn thám của BĐQ đã đột kích vài lần để phá ống dẫn dầu. Dù có thành công, việc phá hoại này chỉ gây khó khăn tạm thời cho địch. Trong khi đó, ngày 9 tháng giêng 1975, đặc công csbv đã tấn công đốt cháy 1.500.000 GALLON HAY 5.680.000 LÍT dầu thuộc nhiều chũng loại - một tổn thất nặng cho không quân vnch vốn đang bị khó khăn về tiếp vận. 

Ngày 10 tháng giêng, một đv của liên đoàn 23 BĐQ đã đến một vị trí 10 km bắc Kontum trên QL-14. Họ định đến Võ Định nhưng bị bắc quân đẩy lui. Trong khi đó, tại tỉnh Pleiku, dọc theo QL-19 đông của Lệ Trung, bắc quân đã tràn ngập nhiều tiền đồn của tđ 223 ĐPQ. Trung đoàn 45 của sđ 23 đã phản công và trong vài ngày đã tái chiếm những vị trí này.

Nhận định đe dọa giảm thiểu tại tỉnh Quảng Đức do tr.đ. 271 csbv đi chiến đấu tại Phước Long, tướng Phú ra lịnh cho tr.đ. 53 chấm dứt hành quân (HQ) ở đây và trở về căn cứ của sđ 23 ở Ban Mê Thuột. Nhưng có một triển khai đáng kể ĐANG DIỂN RA ở Mặt Trận B-3. SĐ 968 csbv, từng gửi tr.đ. 9 tới Pleiku tháng giêng năm 1974, đã di chuyển từ Nam Lào với tr.đ. 19 và 39 của họ vào Kontum và Pleiku. Dù hiệu quả tác chiến của sđ 968 được xem rất thấp do ko hoạt động trong hai năm qua tại vùng cán chảo của Lào, sđ này đã thay thế sđ 320 thiện chiến để bảo vệ trung tâm tiếp vận Đức Cơ, nguyên là một trại LLĐB Mỹ, do đó sđ 320 đã đc mặt trận B-3 xử dụng. 

Qua tin tình báo, giữa tháng 1, sđ 320 CSBV này đã di chuyển về phía nam về tỉnh Darlac, và một vị trí tập trung quân (buildup) gần Ban Mê Thuột (BMT) được phát hiện. NGÀY 30 THÁNG GIÊNG, Không quân (KQ) đã phá hủy ba xe tăng bắc quân tại một khu căn cứ ở bắc BMT, và tr.đ. 53 đã mở HQ vào khu vực này, chỉ gặp chống đối nhẹ.Tướng Phú đã gửi TĐ 2 của tr.đ. 45 (TĐ 2/45), từ nam Pleiku để tăng cường an ninh dọc QL-14 gần nơi mà ranh giới ba tỉnh Pleiku, Darlac, và Phú Bổn gặp nhau. NGÀY 4 THÁNG 2, gần làng BUÔN BRIÊNG, tđ này đã tiếp nhận một HỒI CHÁNH VIÊN thuộc tr.đ. 48, sđ 320 csbv, y đã xác nhận rằng sđ 320 đang di chuyển tới tỉnh Darlac. Y nói rằng sđ 320 rời Đức Cơ khoảng 12 THÁNG GIÊNG và những toán trinh sát của sđ 10 và 320 đã có mặt ở tỉnh Quảng Đức và Darlac trong những ngày gần đây. 

Tại tỉnh Darlac trong ĐẦU THÁNG HAI, VNCH đã có một BCH tiền phương của sđ 23 tại BMT, hai tđ của tr.đ. 53, một tđ của tr.đ. 45, và sáu trên bảy tđ ĐPQ của tỉnh. Trong khi tđ DPQ thứ bảy hoạt động tại tỉnh Kontum, sáu tđ tại Darlac đóng rải rác và xa nhau. Hai TĐ chung quanh Bản Đôn, tây bắc của BMT; một tđ tuần tiểu trên Đường số 1 giữa BMT và Bản Đôn; một tđ trong một tiền đồn ở bắc của BMT trên Đường 430; một tđ bảo vệ một làng tái định cư trên QL-21 gần ranh giới tỉnh Khánh Hòa; trong khi tđ thứ sáu ở quận Lạc Thiện. (Các TĐ ĐPQ này phần lớn là dân thiểu số -- Người dịch).

Tướng Phú đã đáp ứng đe dọa ngày càng lớn này tại tỉnh Darlac bằng cách đưa cả tr.đ. 45 trên đây về khu vực ranh giới tỉnh Darlac-Phú Bổn, nhằm tìm và diệt các thành phần của sđ 320 csbv. Trong khi những cuộc HQ này đang diển ra ở bắc của BMT, TRONG HAI TUẦN CUỐI CỦA THÁNG 2, địch đã phục kích BA ĐOÀN CÔNG-VOA VNCH trên QL-21 ở đông của BMT. TRONG NGÀY CUỐI THÁNG HAI, một đv VNCH đã phục kích một toán trinh sát địch chỉ cách BMT 12 km về phía bắc, và Phòng 2 của Quân đoàn (QĐ) 2, cũng như phòng 2 của Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) đã nghĩ rằng một tấn công lớn vào BMT là điều chắc chắn (imminent).

Trong khi đó, GIAO CHIẾN ÁC LIỆT, vẫn nổ ra ở tỉnh Pleiku và Kontum. LẦN ĐẦU TIÊN KỂ TỪ tổng tấn công năm 1972, TP Kontum NGÀY 28 THÁNG HAI, và NGÀY 4 THÁNG BA, bị pháo bằng đại bác. Tại tây Pleiku, tr.đ. 44 (của ĐT Ngô văn Xuân) và liên đoàn (LĐ) 25 BĐQ bị tấn công dữ dội tại quận THANH AN. Nghĩ rằng mục tiêu chánh của CSBV là Kontum và Pleiku, và đụng độ ở BMT chỉ là đánh lừa (deception) hay nghi binh, tướng Phú đã rút tr.đ. 45 (của ĐT Phùng văn Quang) từ Darlac về Pleiku! Ông cũng ra lịnh sđ 23 bộ binh dời BCH tiền phương khỏi BMT để về Pleiku. Hơn nữa, NGÀY 4 THÁNG BA, ông ra lịnh tướng Niệm chuẩn bị đưa tr.đ. 42 về Pleiku.

Sau khi các lịnh và chuyển quân này hoàn tất, tướng Phú khoanh tay (settle back) chờ địch quân tấn công Kontum và Pleiku. Bố trí quân của ông ở cao nguyên, TÍNH TỚI NGÀY 3 THÁNG BA, như sau:

- SĐ 23 - BTL đặt tại Hàm Rồng 12 km nam TP Pleiku.

- Tr.đ. 44 - từ 20 đến 25 km tây của Pleiku tại quận Thanh An.

- Tr.đ. 53 - BCH và TĐ 1 và 3 ở 20 km bắc của BMT; TĐ 2 ở ngã ba Dak Song tại Quảng Đức.

- BCH BĐQ Quân khu 2 đặt tại Kontum - do ĐT Phạm văn Tất chỉ huy.

- LĐ 4 BĐQ với TĐ 44 gần Pleiku làm trừ bị, TĐ 42 ở Blei Bâu Cần (trên QL-19 tây của QL-14), TĐ 43 tăng phái cho sđ 23 tại Hàm Rồng. 

- LĐ 6 BĐQ với TĐ 35 và 36 đông và đông bắc của TP Kontum, TĐ 51 tăng phái cho LĐ 25 ở Thanh An.

- LĐ 21 BĐQ có TĐ 96 ở đèo Chu Pao, giữa Kontum và Pleiku, TĐ 72 trừ bị ở Kontum, TĐ 98 tăng phái cho LĐ 6 ở đông nam Kontum. (LĐ do trung tá Lê Quí Dậu chỉ huy, sau này đã được lịnh tiến về BMT sau khi có tin quân CSBV sắp tấn công TP này -- Người dịch).

- LĐ 22 BDQ với TĐ 95 ở Trương Nghĩa (có lẽ là làng Trung Nghĩa với đa số là giáo dân, cách Kontum 17 km về phía tây -- Người dịch), TĐ 88 ở Núi Ngọc Bây tây bắc Kontum, và TĐ 62 làm trừ bị ở Kontum.

- LĐ 23 BDQ - gồm 11, 22, và 23 ở bắc Kontum, dọc QL 14.

- LĐ 24 gồm các TĐ 63 ở Gia Nghĩa, 81 ở nam Kiến Đức; và 82 ở Kiến Đức, tỉnh Quảng Đức. (TĐ này do thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy, sau khi tỉnh Quảng Đức thất thủ, vì LĐT và phó bị thương và bịnh, ông đã đưa cả LĐ băng rừng vượt núi về Phan Thiết, riêng TĐ ông về Xuân Lộc để tham chiến dưới quyền sđ 18 -- Người dịch) . 

- LĐ 25 BDQ - TĐ 67, 76 và 90 ở Thanh An, Pleiku. "


Thung lũng Vĩnh Thạnh


Căn cứ English là nơi đặt BTL SĐ 1 Không kỵ Mỹ. 


Trại Radcliff, cũng là nơi đặt BTL SĐ 1 Không kỵ Mỹ



Dịch từ trang 139 - 141 của quyển From Ceasefire to Capitulation (Từ ngưng bắn đến đầu hàng) của ĐT Le Gro thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng DAO tại VNCH trước 75. 

San Jose ngày 17 Nov 2020.














































Friday, January 17, 2020

Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115

Posted by   March 01, 2019  1541
Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Tôi bước xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku vào một buổi trưa đầu năm 1968. Trời nắng nhẹ, cùng vài cơn gió thoảng qua làm lay động các bụi cỏ lau bên rìa phi đạo và tạo thành âm thanh lao xao liên tục khiến tôi có cảm giác dễ chịu. Tôi được chỉ định về Trung Đoàn 3 Thiết Giáp, mà bộ chỉ huy đóng tại đây, để phục vụ. Những tháng ngày kế tiếp, tôi quay cuồng cùng đơn vị. Từ mờ sáng tới khi trời chập choạng tối, tôi chỉ thấy con đường 14, với rừng và núi. Thời gian sau tôi thường cùng đơn vị di chuyển theo đường 19 từ Qui Nhơn lên. Sau khi vượt qua đèo Măng Jang cao ngất, trước mắt tôi là không gian bao la. Tôi mới cảm thấy được thiên nhiên hùng vĩ của vùng cao nguyên này, đối nghịch với kích thước nhỏ nhoi của con người.

Với độ cao từ 500 tới 1500 mét trên mặt nước biển, cao nguyên trải dài từ Bắc Kontum cho tới Lâm Đồng. Dân cư ở đây thưa thớt với nhiều sắc dân. Nổi bật nhất là người Ra Đê, Gia Rai, Bahna, và Sedang. Trình độ phát triển của các sắc dân này không đồng đều.

Khi Chúa Nguyễn Hoàng trốn chạy chúa Trịnh Kiểm tìm về phương Nam lập đế nghiệp, với lời căn dặn “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân”, nhưng các chúa sau chỉ tạo dựng đế nghiệp quanh những đồng bằng miền duyên hải. Mãi cho tới thời Tây Sơn, vùng cao nguyên này mới có dấu viết lịch sử. Xuất thân từ một nhà buôn, có dịp đi nhiều nơi, một trong những người vợ của ông Nguyễn Nhạc là người Bahna, và đội Tượng Binh nổi tiếng của vua Quang Trung xuất phát từ vùng đất này. Con đường 14 hiện nay có thể mang ít nhiều dấu vết con đường thượng đạo ngày xưa. Khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn chỉ đặt các đạo để cai quản vùng này, mà không có kế hoạch phát triển.

Lúc xâm chiếm nước ta, người Pháp nhận thấy đây là vùng đất nhiều tài nguyên, nên đưa ra chính sách hạn chế người Kinh lên vùng cao nguyên này. Khi người Pháp bị buộc phải trao trả độc lập cho VN thì nhà Nguyễn cũng muốn giữ làm của riêng cho hoàng tộc, với tên gọi Hoàng Triều Cương Thổ.

Cao nguyên này thay đổi một cách toàn diện vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tên gọi CAO NGUYÊN TRUNG PHẦN, được phân chia theo các điạ giới hành chánh. Chính quyền đương thời tập trung vào một việc rất quan trọng, là phân bổ lại dân chúng. Với gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ của Tổng Thống Diệm khuyến khích và kêu gọi di dân lên cao nguyên lập nghiệp.

Khởi thuỷ gần 60 ngàn người đã lên vùng này, tập trung sinh sống tại các khu dinh điền rải rác, nhiều nhất ở vùng Ban Mê Thuột và Kontum. Riêng tại Kontum, di dân lập làng quanh thị xã, và trải dài lên phía Bắc. Họ đã lập các làng Ngô Trang, Trung Đạo gần Võ Định, và Diên Bình gần Tân Cảnh. Một vài đơn vị võ trang của giáo phái Hòa Hảo cũng được di chuyển lên đây khi giáo phái này về hợp tác với chính phủ. Ngoài việc an dân, việc làm này còn mang ý nghiã về quốc phòng.

Tôi không biết nhiều về phía Nam cao nguyên, vì tôi chỉ ở cùng một đơn vị Thiết Giáp, luôn hoạt động ở phía Bắc, không kể trận Ban Mê Thuột, diễn ra vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Tuy nhiên, vùng Pleiku và Kontum mới là điạ bàn chính trong chiến tranh của vùng cao nguyên. Các cuộc đụng độ lớn giữa ta và VC luôn xảy ra ở đây. Cả Vùng 2 Chiến Thuật có 5 thiết đoàn Kỵ Binh. Trừ hai chi đoàn Thiết Kỵ hoạt đông dưới miền duyên hải, toàn bộ năm thiết đoàn đều nằm trên vùng cao nguyên. Trong đó bốn thiết đoàn bố trí tại Pleiku và Kontum.

Gần như trở thành qui luật, ngoài các trận đánh lẻ tẻ diễn ra suốt năm, vào đầu mùa mưa đều có những trận đánh lớn với sự tham dự của nhiều trung đoàn quân chính qui của CS miền Bắc. Những năm 1965 và 1966, các trận đánh lớn diễn ra ở Đức Cơ, Pleime; năm 1967 ở Dakto; năm 68 Mậu Thân; năm 69 ở Ben Hét; năm 70 ở Dak Seang; năm 71 ở căn cứ 5, căn cứ 6; năm 72 ở Tân Cảnh. Sau những trận đánh này, thương vong của ta thật lớn lao, nhưng tổn thất của lực lượng CS Bắc Việt tăng gấp nhiều lần. Sau trận Ben Het, nhiều cán binh cuả quân CS miền Bắc bị chết nằm rải rác trong rừng, tan rữa chỉ còn bộ xương. Sau trận tại căn cứ 5, các đợt tiếp tế được yêu cầu mang thêm cả những bó nhang, không phải để cúng cô hồn, mà đốt lên để át mùi tử khí!

Nói tới vùng cao nguyên, không thể không nói đến con đường 14. Ngày nay, con đường này chạy từ Chơn Thành, chỗ giáp với Quốc Lộ 13, ra tới Quảng Trị. Nhưng đoạn đường từ Pleiku tới Dakto trong chiến tranh là con đường của xương, máu, và nước mắt. Các Trung Đoàn CS Bắc Việt 95, 28, và 66 thường đóng chốt ngăn chặn giao thông trên đoạn đường này, trước khi mở các trận đánh lớn. Còn thường ngày, từ Pleiku tới Kontum là vùng hoạt động thường xuyên của một đơn vị cấp tiểu đoàn D405? Từ Kontum tới Tân Cảnh là đơn vị C1. Các đơn vị CS này mở các cuộc phục kích nhỏ, bắn sẻ, và nhất là đặt mìn.

Vào năm 1968, đoạn đường này vẫn không có nhiều thay đổi khi so với thời gian trước khi quân Mỹ chính thức tham chiến ở Việt Nam. Chỉ có 1/3 mặt đường được tráng nhựa, 2/3 mặt đường còn lại vẫn là đất đá, vì vậy mìn bẫy luôn là nỗi ám ảnh cho các đơn vị. Quân đội Mỹ luôn xử dụng con đường này để chuyển tiếp liệu từ Pleiku lên các căn cứ phía Bắc. Để tránh bớt thiệt hại khi bị phục kích, Công Binh Mỹ đã cày sới, chặt cây, khai hoang vào hai bên đường, mỗi bên khoảng hơn 100 mét để đoàn “convoi” (đoàn xe hộ tống, tiếng Pháp) có thể di chuyển. Sau khi Thiết Giáp đã mở đường xong, là toán dò mìn đi so le hai bên đường. Phiá sau một đoạn xa là hai chiếc GMC chở đầy đá cục di chuyển dật lùi. Nếu có mìn còn sót lại thì nó sẽ nổ. Công việc thận trọng như vậy mà đôi khi vẫn bị tổn thất vì mìn, do kỹ thuật chôn dấu của VC ngày một tinh vi.

Tôi được nghỉ một ngày khi về trình diện trung đoàn, để chờ chi đoàn đến nhận. Khi về tới chi đoàn, một hai ngày đầu tôi còn bỡ ngỡ, nhưng vài ngày sau, tôi đã bắt kịp mọi việc. Vào thời gian này Trung Đoàn 3 Thiết Giáp được cải danh thành Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh. Thiết đoàn chịu trách nhiệm an ninh Quốc Lộ 14 từ Pleiku đến Kontum. Đoạn đường dài khoảng gần 60 cây số. Từ Pleiku tới Dak Doa, đồi dốc thoai thoải, địa thế lý tưởng cho các hoạt động của Thiết Giáp. Từ Dak Doa tới Kontum con đường 14 bị kẹp giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy Chu Thoi và phía Tây là dãy Chư Pao, đoạn này dài khoảng 7 cây số. Khi mở đường đến đoạn này, Thiết Giáp chỉ có một khoảng trống rất hẹp để điều động.

Dak Doa cũng là một địa danh đáng được ghi nhớ, vì chính tại địa điểm này, vào năm 1955, Công Binh Việt Nam Cộng Hòa đã mở con đường đi về Quảng Ngãi. Vì chiến tranh, con đường hầu như không bao giờ được xử dụng. Những ngày tháng giữ an ninh trên đoạn đường này, đơn vị của tôi ít gặp mìn bẫy, nhưng vì các đoàn “convoi” của quân đội Mỹ vẫn đi đi về về hàng ngày, do vậy thường xuyên bị phục kích. Các đoàn xe bị tổn thất không nhiều, nhưng lực lượng của CSBV bị tổn thất rất nặng, một phần do sự phản công của Thiết Giáp, một phần do các khẩu đại liên sáu nòng bố trí xen kẽ trong đoàn xe hộ tống.

Đường 14 được nhắc đến nhiều sau này, là do trận chiến đẫm máu diễn ra ở Chư Pao năm 1972... Sau khi đã chiếm được Tân Cảnh, Mặt Trận B3 CSBV dự tính sẽ đánh chiếm Kontum. Muốn vậy phải chặn được viện binh từ Pleiku lên. Chúng đã chọn Chư Pao là điểm chiến lược, vì ngăn chặn được Chư Pao không cho quân đội chính phủ VNCH vượt qua là ngăn chận được lực lượng tiếp viện cho Kontum.

Chư Pao là ngọn đồi cao 1059 mét, nằm trong dãy núi phía Tây. Tại đây, Trung Đoàn 95A CSBV đưa một tiểu đoàn lên tổ chức trận địa. Từ cao điểm này, chúng dễ dàng ngăn chặn đoạn đường 14, nằm kẹp giữa hai dãy núi. Tất cả mọi di chuyển trên đoạn đường đều nằm trong tầm tác xạ của các loại vũ khí bắn thẳng. Lực lượng tăng cường cho Kontum đã phải trả giá rất đắt nơi đây. Về sau, Quân Đoàn II phải mở con đường 14B, lui về phiá Tây, song song với con đường 14, và sau dãy Chư Pao. Từ đây, một chi đoàn của Thiết Đoàn 3 đã xâm nhập vào mật khu cuả Trung Đoàn 95 CSBV. Cán binh CS thì đã chạy hết, nhưng mấy con heo đã làm sẵn thì vẫn còn để lại. Cũng từ đây, Thiết Giáp và Biệt Động Quân đã chiếm được đỉnh Benhet và giải tỏa cho Kontum.

Đầu năm 1969, quân đội Mỹ đã không còn giữ an ninh trên đoạn đường 14 từ Kontum đi Dakto. Vì thế, Thiết Đoàn 14 vừa được thành lập đã lãnh nhiệm vụ an ninh trên đoạn đường này. Ở phía Bắc Kontum, rừng rậm, đồi dốc nhiều, nhiều đường thông thủy cắt ngang quốc lộ. Đặc biệt, trên đường có rất nhiều mìn bẫy. Chỉ qua một đêm trên cùng một đoạn đường có khi khám phá cả chục mìn đủ loại. Đường tuy dài, nhưng có hai đoạn mà nguy hiểm luôn luôn rình rập: từ Kontum đến Ngô Trang, từ Võ Định tới Kon H’ring. Các đơn vị hành quân trong khu vực này luôn chịu tổn thất do bắn sẻ, phục kích, nhưng nhiều nhất do mìn bẫy. Đôi khi đường đã được mở, toán dò mìn đã xong, xe đã di chuyển, nhưng một chiếc trong đoàn xe cán mìn. Kết quả là không một ai sống sót.

Từ Kontum đi Ngô Trang, con đường đi lên một dốc cao của một ngọn đồi. Đó chính là Eo Gió một địa danh quen thuộc của những người lính chiến Kontum. Tại đây, Chi Đoàn 2/14 mất một hạ sĩ quan rất giỏi, bắn súng cối 81 ly không cần ống nhắm, yểm trợ chính xác, và hiệu quả. Sau khi dẹp tan một cuộc phục kích, người hạ sĩ quan này xuống xe lục xoát. Ông tìm được một cán binh CSBV nằm trong bụi rậm. Tay vẫn cầm khẩu súng colt, ông kêu người này đầu hàng. Thay vì làm như vậy, người cán binh này, đã bắn vào ông nguyên một băng AK. Với lòng cuồng tín và thái độ hận thù, tên CS này biến thành kẻ mê muội nên không nhìn thấy đâu là lòng nhân đạo.

Đoạn từ Võ Định tới Kon H’ring, phục kích và bắn sẻ diễn ra thường xuyên. Tại đây, Thiết Đoàn 14 mất một chi đoàn trưởng. Phía Bắc Võ Định không xa có một con suối nhỏ. Qua điểm này, chi đoàn không thể dàn đội hình, mà phải qua từng chiếc một. Thay vì phải để một chi đội giữ bên hông cho chi đoàn đi qua, Nguyễn Văn Âu đã khinh suất, không bố trí an ninh, và di chuyển ngay sau chi đội đầu vừa qua được mấy xe. Chi Đoàn bị lọt ổ phục kích. Truyền thống của chi đoàn này từ xưa đến nay và như thành thói quen, là khi bị phục kích, tất cả đều dàn hàng ngang tiến vào mục tiêu. Âu đã tử thương. Vài ngày sau, tôi được đưa về thay nhiệm vụ của Âu.

Qua đầu năm 1969, Công Binh Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng lại đường 14, từ Kontum ngược về hướng Bắc, nhưng chỉ trải nhựa cho tới Tân Cảnh. Công việc vất vả, kéo theo sự mệt nhọc cho cả những đơn vị giữ an ninh. Công việc làm nền móng mất nhiều thời gian, nhưng khi trải nhựa thì nhanh chóng hơn. Trong một ngày có thể trải nhựa tới sáu, bảy cây số. Những người lính Công Binh này làm cho xong việc chứ không làm tới giờ là nghỉ. Một lần trời đã xẫm tối mà Công Binh vẫn làm, tôi nói với người cố vấn Mỹ,

- “Anh nói với Công Binh, nghỉ đi mai làm, lính của tôi mệt mỏi quá rồi.”

Người cố vấn này không nhìn tôi mà nhìn vào khoảng không rồi nói,

- “Đường này của anh, hay của tôi?”

Tôi không thể có câu trả lời.

Người lính Thiết Giáp giữ an ninh trên các trục đường, thoạt nhìn có vẻ thảnh thơi. Nhưng không phải vậy, vì họ ra đi từ mờ sáng, trở về khi mặt trời sắp lặn. Suốt ngày phơi mình dưới nắng, mưa, ăn uống kham khổ. Ngày nào thức ăn cũng toàn thịt ba lát, hoặc cá hộp măng le. Khi về họ còn phải lo xăng nhớt, đạn dược, tu bổ máy móc, còn canh gác, vv...

Vùng phía Bắc cao nguyên này có hai thành phố chính Pleiku và Kontum. Pleiku ở trên độ cao 900 mét. Xế về phía Bắc không xa là Biển Hồ. Đây là miệng núi lửa đã ngưng hoạt động từ rất lâu. Vì vậy, vùng Pleiku đất đỏ, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì bẩn. Nơi đây được chọn đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Không xa thành phố về phía Nam là núi Hàm Rồng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ. Pleiku có đủ mọi sắc lính, cả Việt và Mỹ. Thỉnh thoảng, người ta còn bắt gặp những đoàn người thượng đeo gùi đi thành hàng dọc trong phố. Hình ảnh hoà trộn này khiến Pleiku có một chút gì hoang dã, hối hả, và tạm bợ.

Tuy vậy những con người qui tụ về đây vẫn khát khao một chút lãng mạng ở café Dinh Điền, một chút cầu kỳ khi cố lặn lội vào một hẻm sâu để tìm một tô bún bò Huế. Thành phố này còn có Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng, nhưng nơi đây không phải nơi đến của những người lính suốt ngày lặn lội trong rừng.

Có một câu nói của giới giang hồ nơi đây, “Cái gì của Pleiku thì phải để lại Pleiku. Mang đi nơi khác, sớm muộn cũng mất.” Đúng sai tới đâu thì chỉ những ai đã lập nghiệp nơi này mới có câu trả lời.

Khác với Pleiku, thành phố Kontum, với dòng sông Dakbla chảy ngược, ở độ cao 500 mét.* Nơi đây có một chút gì như trầm lắng, phảng phất chút khuê các. Giờ tan học, những tà áo trắng trinh nguyên toả ra từ cổng trường, nhưng sau đó không thấy ai lang thang ngoài phố. Thói quen này, có thể ảnh hưởng từ tôn giáo, đã định hình nếp sinh hoạt của dân cư.

Ngược dòng lịch sử vào năm 1851, các linh mục truyền giáo đã có mặt ở thành phố này. Kontum có nhà thờ bằng gỗ nổi tiếng, được xây dựng trong khoảng thời gian đó. Cũng nhờ sự có mặt của các linh mục đạo Thiên Chúa Giáo người ngoại quốc mà vào năm 1861 người BAHNA đã có chữ viết được La Tinh hoá. Không chỉ riêng tại thị xã Kontum, các linh mục còn đi đến cả những vùng xa xôi. Tại một buôn làng gần Dakmot, vào năm 1970 vẫn còn một linh mục già người Pháp sống trong ngôi nhà thờ nhỏ giữa buôn làng người Bahna.

Cao nguyên Trung Phần rộng mênh mông, đất đai mầu mỡ, dân cư thưa thớt, trong khi người thượng sống rải rác trong rừng sâu. Khi tới đây, người Pháp đã hạn chế người kinh sinh sống, độc quyền thành lập các đồn điền với đủ kích cỡ. Riêng tại Pleiku có đồn điền trà KTK dọc theo con đường vào Thanh An. Khi hành quân về phía Nam Đức Cơ, chúng tôi thấy cả một vườn soài rộng lớn, trái trĩu cành mà chẳng ai hái. Sâu hơn nữa về phía Nam là một khu đất bằng phẳng mà sâm mọc như cỏ. Lính tráng rủ nhau đi đào nên xe nào cũng cả bao cát.

Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập, bắt tay vào xây dựng cao nguyên. Người Pháp đã ra đi, nhưng đã để lại nơi đây những cánh hoa biết nói. Những cô gái này có một điểm chung là sống mũi cao, và đôi mắt sáng. Ở vùng Pleiku, các cô được học hành nên nói tiếng Pháp trôi chảy, nhưng ở Kontum, phần nhiều họ làm việc và sống lam lũ. Dù vất vả, họ vẫn giữ được vóc dáng cân đối. Gần làng Ngô Trang có hai cô gái đẹp hàng ngày vẫn đi chăn bò. Khi hành quân qua đây, chúng tôi thường ngồi chờ các cô về, tìm một chút rung động trong lòng để bù vào suốt ngày mưa nắng. Đối diện với làng Trung Đạo gần Võ Định, đi sâu vào con đường mòn, không như một buôn thượng thường có nhà rông, nơi đây chỉ có mấy nóc nhà. Ở đây cũng có hai cô gái, tuy vẫn đeo gùi đi rẫy, nhưng làn da vẫn phơn phớt hồng, và đôi mắt thì đầy mê hoặc.

Cao nguyên núi rừng trùng điệp. Những ai đã từng lạc bước trong rừng sâu, thì hiểu thế nào là sức mạnh của rừng. Tôi có vài lần tăng cường hành quân trong Polei Kleng, đồn trú dài ngày tại Benhet. Buổi chiều lắng xuống, ai nhìn ra chung quanh, thì cũng chỉ thấy một mầu xanh cuả lá, sương mù giăng giăng một màu xa khơi. Nếu ai nhìn chăm chú thì sẽ có cảm giác rừng đang toát ra không khí trầm tĩnh, nhưng đầy bí hiểm.

Mùa Xuân năm 1972, đơn vị đồn trú tại Benhet. Tôi không có bạn bè, cũng chẳng ai viếng thăm. Lúc này, đơn vị bố trí thành một vòng đai rộng. Mấy người lính ở từng xe góp nhau nấu chút đồ ăn mà họ mới gởi mua hôm trước.

Một mình, ngồi cạnh xe chỉ huy, tôi nhìn vệt nắng hắt ngang trước mặt. Mầu nắng vàng buổi chiều dễ làm tôi chạnh lòng. Tôi nghĩ về gia đình, về những ngày tuổi nhỏ, và không thể không nghĩ về những gì đã từng gặp những tháng năm qua. Đã có biết bao cảnh đời bị chìm lấp giữa mịt mù khói lửa chiến tranh.

Trong đơn vị, tôi đã từng gặp người cha của một binh sĩ đã mất. Ông đã lặn lội từ một tỉnh miền Tây ra tới vùng cao nguyên, chỉ mong được nhìn nơi con mình đã sống, gom chút kỷ vật, buồn bã, rồi lầm lũi quay về.

Tôi đôi lúc nghĩ về một đám tang, vào năm 1969. Một sĩ quan của Trung Đoàn 42 tử trận. Chỉ có một quả phụ đội chiếc khăn tang trắng bước sau quan tài. Quang cảnh càng ảm đạm hơn khi trời còn lắc rắc mưa. Chỉ vài tháng sau, tôi tình cờ gặp người thiếu phụ này trong chốn ăn chơi. Chị không biết tôi, nhưng như có linh tính, có một chút khựng lại. Chỉ một thoáng, mọi chuyện lại coi như không. Sự tuyệt vọng đến đâu, để người thiếu phụ này không còn tha thiết đến cuộc đời mình?

Một chút hồi tưởng về vùng đất tuy nhỏ giữa một cao nguyên rộng lớn, nhưng đã có biết bao người đã đi qua và bao người vĩnh viễn nằm lại.

Cao nguyên, bây giờ có thể đã khác, nhưng lẫn trong đất là xương máu của không biết bao người.


* Các sông ở miền Trung VN, xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, đa số chảy về hướng Đông, đổ ra biển. Riêng sông Dakbla chảy ngược lại về phía Tây.
Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Chút Ký Ức Về Cao Nguyên)