Showing posts with label tướng nguyễn văn hiếu. Show all posts
Showing posts with label tướng nguyễn văn hiếu. Show all posts

Saturday, August 15, 2026

 TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN II TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ

Chiến Dịch Đỗ Xá 1964 .
Đỗ Xá từng là một mật khu bất khả xâm phạm của Cộng sản vì địa thế hiểm trở của nó. Mật khu này là một thung lũng sâu thẳm nằm nép mình vào dãy núi Trường Sơn tại đỉnh núi Ngọc Lĩnh cao vút (2598m), cao đến độ ánh sáng mặt trời không rọi xuống tới mặt đất của thung lũng được. Vì địa danh này nằm ở giáp giới ba tỉnh Kontum, Quảng Tín và Quảng Nam , nên được Cộng sản dùng làm địa điểm xâm nhập quân từ đường mòn Hồ Chí Minh vào nội địa miền Trung ( Quảng Tín nay nhập với bắc tỉnh Quảng Ngãi ). Khu này cũng là khu tồn trữ đạn dược, lương thực và cũng là nơi dưỡng quân và điều trị thương binh. Vì các đơn vị của QLVNCH không tài nào xâm nhập vào vùng này, nên nó được ấn định là vùng oanh kích tự do. Do đó, các phóng pháo cơ, sau các phi vụ yểm trợ trên đường bay trở về căn cứ, được phép tự do trút hết bom đạn dư thừa xuống vùng đất này.
Ngày thứ hai 27 tháng 4 năm 1964, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phát động chiến dịch Đỗ Xá (Hành Quân Quyết Thắng 202) đánh thẳng vào thung lũng Khe Nước Lah, sào huyệt bất khả xâm phạm của tướng Cộng sản Nguyễn Đôn. Tướng Trí giao việc điều nghiên và thiết kế chiến dịch này cho Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, lúc đó giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, với sự trợ lực của Đại Tá Lữ Lan, lúc đó giữ chức Tư Lệnh Phó Hành Quân.
Bộ Chỉ Huy Mặt Trận Tiền Phương được thiết lập tại phi trường Quảng Ngãi. Các đơn vị chủ lực tham dự trong chiến dịch này được chia làm hai toán. Toán A gồm ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Sơn Thương. Toán B gồm các đơn vị của Trung Đoàn 50, thuộc Sư Đoàn 25, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh. Hai toán quân này còn được tăng phái bởi Tiểu Đoàn 5 Dù (Đại Úy Ngô Quang Trưởng được đặc cách vinh thăng Thiếu Tá tại mặt trận trong chiến dịch này). Vì trước đó, khi còn phục vụ tại Quân Đoàn 1 với tư cách phụ trách hành quân, Thiếu Tá Hiếu từng cộng tác mật thiết với Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Đà Nẵng qua trung gian của Thiếu Tá TQLC HK Wagner, cố vấn cho Quân Đoàn 1, nên Đại Tá Hiếu đã khéo ngoại giao với Bộ Tư Lệnh TQLC HK ở Đà Nẵng biệt phái một phi đoàn trực thăng H-34, Phi Đoàn HMM-364 TQLC HK được tăng phái bởi năm trực thăng võ trang UH-1B của QLHK và hai trực thăng UH-34 của KQVN, yểm trợ công tác chuyển vận chiến binh vào mật khu Đỗ Xá. Ngoài ra có thêm Phi Đoàn 52 thuộc Lục Quân Hoa Kỳ yểm trợ chuyên chở các toán quân và KQVN cũng yểm trợ cuộc đổ quân với hai khu trục Skyraider.
Vùng hành quân bao phủ một diện tích rừng rú rộng 60 cây số vuông.
Bước vào ngày thứ hai của cuộc hành quân, ngày 29/4, một đơn vị Biệt Động Quân phá hủy nhiều cơ sở Cộng sản và tịch thu một khẩu đại liên hạng nặng 30 ly, một khẩu đại liên hạng nhẹ 24x29, 11 khẩu súng trường AR-15, sáu khẩu liên thanh và 144 súng cá nhân. Họ cũng tịch thâu và phá hủy 60 kí lô chất nổ TNT, một ngàn bịch chất nổ hạng nặng cùng thêm một số lượng lớn lựu đạn, mìn, đạn dược, tài liệu và quân cụ và năm tấn gạo.
Trung Tướng Lữ Lan còn nhớ trong một phi vụ trinh sát mặt trận, trực thăng chỉ huy chở Tướng Trí, Đại Tá Lữ Lan, Thiếu Tá Minh (sau này là Tư Lệnh Không Quân) và một Đại Tá Cố Vấn Mỹ, khi bay vào thung lũng thì bị cao xạ Cộng sản đặt trên các đồi núi bắn đuổi theo tới tấp. Viên phi công đã tài tình hạ thấp trực thăng xuống bay lướt sát các ngọn cây, khiến địch không điều chỉnh tác xạ bắn theo kịp. Tuy vậy, thân và bụng trực thắng cũng vẫn bị bắn lủng nhiều chỗ.
Hành Quân Đỗ Xá phá hủy hệ thống truyền tin của bộ chỉ huy Cộng sản gồm năm trạm phát thanh, một trạm dùng để liên lạc với phía bắc vĩ tuyến 17, và bốn trạm dùng để liên lạc với các đơn vị Cộng sản hoạt động tại các tỉnh lỵ.
Hành Quân Đỗ Xá kéo dài một tháng và chấm dứt ngày 27/5/1964. Lực lượng QLVNCH tổn thất 23 chết, 87 bị thương, 3 khẩu súng, 4 trực thăng và hai khu trục Skyraider. Địch tổn thất 62 chết, 17 bị bắt, hai súng phòng không 52 ly, một súng liên thanh 30 ly, 69 súng cá nhân, và một số lượng lớn mìn và lựu đạn, các dụng cụ công binh, chất nổ, thuốc men và tài liệu. Ngoài ra, QLVNCH còn phá hủy 185 căn nhà, 17 tấn lương thực và 292 mẫu mùa màng.
Chiến Dịch Đỗ Xá là kết quả của sự phối hợp giữa hùng khí của một tay tác chiến gan dạ - Tướng Đỗ Cao Trí - và tài tham mưu của một tay chiến lược thâm thúy - Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu. Hai anh em Trí/Hiếu đã dám tung một đạo quân cấp Sư Đoàn gồm một Trung Đoàn Bộ Binh, ba Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và một Tiểu Đoàn Dù vào tận sào huyệt kiên cố của địch quân, một việc táo bạo mà trước nay chưa một Tướng Lãnh nào làm nổi. Thật vậy, trước khi Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Đỗ Cao Trí hoán chuyển Quân Đoàn 2 và Quân Đoàn 1 với nhau, Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của Trung Tá Ngô Dzu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Nhưng đã rút lui vì đạo quân tung vào, bị địch quân CS đánh dội trở ra mất một Tiểu Đoàn.
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ
Đỗ-xá, một vùng rừng núi hiểm-trở, nằm giữa ranh-giới của 3 tỉnh Quảng-nam, Quảng-tín, và Kontum. Địa-hình nơi đó được vẽ bằng những đường đỉnh cong-queo màu nâu sậm, chứ không phải là những vòng cao-độ như những cao-đỉểm khác mà ta thường thấy trên bản-đồ.
Từ thời chiến-tranh Đông-dương lần thứ nhất (1945-1954) cho đến khi cuộc chiến Đông-dương lần thứ nhì (1960-1975) bắt đầu, và kéo dài mãi đến thời điểm của bài này (1963), Đỗ-xá là một mật-khu bất-khả xâm-phạm của quân Cộng-sản. Không một đơn-vị nào của Quân-đội PhápViệt (1945-1954) hoặc của QLVNCH (1960-1963) có thể vào nơi đó. Nhờ địa-thế hiểm-trở với núi rừng bao bọc, dễ thủ khó công nên các đơn-vị quân-đội quốc-gia muốn hành-quân vào Đỗ-xá đều thất bại. Với những lợi-đỉểm trên, Cộng quân đã coi Đỗ-xá là một an-toàn-khu và đã dùng nơi đó làm một hậu-cần to lớn để cất dấu lương-thực, vũ-khí, đạn-dược, cùng xây cất quân-y-viện, và đây cũng là nơi dưỡng-quân lý-tưởng cho bọn chúng.
Vì nghĩ rằng nơi đây là vùng bất-khả xâm-phạm nên cộng sản chỉ dùng một số quân nhỏ để bảo-vệ mật-khu. Nếu chúng ta tấn- công đại-qui-mô vào thì sẽ bị đánh bật ra ngay như chúng ta và quân Liên-hiệp-Pháp đã từng bị.
Để phá tan mật-khu Đỗ-xá, bộ Tổng-tham-mưu QLVNCH, đã lập kế-hoạch hành quân (chiến-dịch Đỗ-xá) bằng cách điều-động các đơn-vị của Quân-đoàn 1 và Quân-đoàn 2 làm lực-lượng án-ngữ, (Blocking forces) bao vây vòng ngoài của mật-khu, và Lữ-đoàn TQLC/VN làm lực-lượng xung-kích (main force) đánh vào Đỗ-xá. (Liên-đoàn TQLC/VN đã được nâng lên cấp Lữ-đoàn từ đầu năm 1962, dưới sự chỉ-huy của Trung-tá Lê-nguyên-Khang làm Tư-lệnh, và Tư-lệnh Phó kiêm Tham-mưu-trưởng là Thiếu-tá Nguyễn-bá-Liên, hai vị này vừa được vinh thăng ngày 1/4/1963; TQLC vẫn còn thống-thuộc Hải-quân VN).
Để thi-hành nhiệm-vụ, Lữ-đoàn TQLC đã xử-dụng các đơn-vị như sau:
- Tiểu đoàn 2 do Đại-úy Nguyễn Thành Yên, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 4 do Đại-úy Bùi Thế Lân, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn Pháo binh do Đại-úy Nguyễn Văn Trước, Tiểu đoàn trưởng.
- Pháo đội A sơn-pháo 75 ly do Trung-úy Đoàn Trọng Cảo, Pháo đội trưởng
- Bộ chỉ huy Lữ-đoàn.
Lực-lượng Mũ-xanh được đặt dưới sự điều-động của Tư-lệnh và Tư-lệnh phó.
Toàn-bộ quân-số và quân-dụng dành cho cuộc hành quân nầy được không vận bởi không quân sự Hoa-kỳ loại C123 từ Saigon đến phi-trường Quảng-Ngãi, sau đó di-chuyển bằng đường bộ đến phi-trường quận Trà-mi tỉnh Quảng-tín, và sau cùng thì nhảy diều-hâu (một chiến-thuật cảm-tử; nhảy xuống ngay đầu của địch-quân và đánh từ trong lòng địch đánh ra, đôi khi phải cân-chiến nếu cần), vào Đỗ-xá với loại trực-thăng H21 của Lục-quân Hoa-kỳ. Đây là một loại trực thăng cũ-kĩ, mỗi lần chuyên -chở được khoảng 8 chiến-binh với đầy đủ vũ-khí. Đợt đỗ quân đầu tiên mấy ‘’con sâu rọm’’ (H21) còn sung-sức nên nó cỏng nổi 8 cọp-biển cùng một lúc, nhưng qua đợt 2 thì chỉ còn chở nổi 5 thủy-thần, và đến những đợt sau nó chỉ còn mang nổi có 3 chiến-sĩ mũ-xanh. Bộ chỉ huy tiểu-đoàn đi vào đợt 3. Toán tiền sát của tôi gồm 5 người, nhưng khi lên trực-thăng chỉ có tôi, người hiệu-thính-viên và một cận-vệ, còn 2 anh ‘’nồi-niêu xoong chảo’’ (hỏa-đầu-quân) phải đi chuyến sau. Vì sức chở của H21 quá yếu như vậy, nên bộ Tư-lệnh đã xin thượng-cấp liên-lạc với TQLC/HK để được chuyển quân bằng những chiếc trực-thăng H34 tối tân hơn. Nhờ vậy mà cuộc hành-quân trực-thăng-vận đã hoàn-tất vào khoảng 4 giờ chiều. Đóng quân tại bãi đỗ-bộ một đêm, sáng hôm sau, đoàn quân lên đường tiến chiếm các mục-tiêu ấn-định. Bản doanh của bộ Tư-lệnh LĐ đóng tại một trung tâm đỉnh núi.
Người viết và Chuẩn-úy Thạnh mập (xin chuyển qua Pháo-binh Nhảy-dù sau khi tái-ngủ cho đến năm 1975) được chỉ-định làm tiền-sát pháo-binh cho TD4/TQLC của Đại-úy Bùi-thế-Lân. Tôi đi với cánh A tiểu-đoàn-trưởng; Thạnh mập đi cánh B tiểu-đoàn phó, do Đại-úy Tôn-thất-Soạn chỉ huy. Tiểu-đoàn được chia làm 2 cánh, cánh B do Đ/u tiểu-đoàn-phó chỉ-huy đi trên đỉnh, Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn cùng 2 đại-đội đi chính-giữa, lưng chừng núi. Để bảo-vệ BCH/TĐ ông TĐT đã cho một đại-đội đi sát chân núi. Địa-thế quá hiểm-trở, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, lỡ trật tay là rơi xuống vực ngay. Chúng tôi phải men theo con đường độc-đạo do toán xích-hầu dùng dao chặt cây để mở đường, đôi khi phải luồn dưới rễ cây mà tiến tới. Sau khi chiếm trọn mọi mục-tiêu chỉ-định mà không có đụng độ, có lẽ các đơn-vị trú phòng của địch quân biết rằng không thể chống cự được với đoàn quân Cọp-biển nên không dám nghênh chiến, và đã rút đi, Tiểu-đoàn được dừng quân nghỉ ngơi lấy sức. Chúng tôi đóng quân tại một nơi, mà dưới chân núi có một con suối lớn chảy qua. Ông Tiểu-đoàn-trưởng đã điều động đại-đội đi phía dưới lội qua bên kia suối, và bảo Đai-đội-trưởng cắt một trung-đội làm tiền-đồn nơi cao-điểm, còn bộ chỉ-huy thì lùi thấp xuống phía dưới để được gần con suối hơn.
Sau khi bố-trí quân, Đại-Úy Lân ra lệnh cho các Đại-đội-trưởng, ban 3 và 2 Tiền-sát-viên Pháo-binh xác-định điểm đứng. Vì địa-hình quá giống nhau giữa những ngọn núi, mà bản đồ không có vẽ vòng cao-độ, chỉ có đường đỉnh mà thôi, nên khi trình kết-quả không tọa-độ nào giống tọa-độ nào! Vì vậy, ông Tiểu-đoàn trưởng phải xin Bộ Tư-lệnh Lữ-đoàn cho phi cơ quan-sát L19 lên xác định giùm điểm đứng của đơn-vị. Sau khi quan-sát-viên phi-cơ cho tọa-dộ chính-xác điểm đóng quân của tiểu-đoàn, thì thấy tất cả tọa độ của mọi người đều chấm sai cả. Tọa-độ gần đúng nhất là của người Đềlô, nhưng khi đem so lại với tọa-độ điểm đứng chính-xác mà người Quan-sát-viên Phi-cơ vừa cho thì tọa-độ của anh chàng pháo-thủ nầy cũng sai đến gần một cây số (700m). Sau khi có được đỉểm đứng chính xác, ông TĐT ra lệnh cho tôi lập những hỏa-tập tiên-liệu và bắn thử cho ông xem. Sau khi tôi gởi điện-văn xin tác-xạ, Pháo-đội của ông Truòng-can, ồ không phải, xin lỗi ông Pháo-đội trưởng PĐA/ TQLC! phải gọi là Can-trường mới đúng, đã bắn chính-xác vào những điểm đã xin và ông TĐT tiểu-đoàn Kình-ngư rất hài lòng.
Trong những ngày dừng quân, chúng tôi xuống suối tắm rửa bơi lội, và cả tiểu-đoàn được tha-hồ mà ăn cá, vì dưới suối rất nhiều cá, chỉ cần một quả lựu-đạn, cả một trung-đội xơi cá mệt nghỉ. Cá suối rất to. Khi tiểu-đoàn tiếp-tục tiến quân, tôi ngửi thấy mùi thối, nhưng không biết vì sao! đến khi đi qua một chỗ sát bờ suối tôi thấy một bộ xương cá dài gần 2 thước, từ đó bốc lên một mùi hôi-thúi nồng nặc, như vậy chứng tỏ cá suối cũng có nhiều con to như cá ở biển, chỉ cần một con thì cả một tiểu-đội có thể vừa ăn cá kho vừa ăn canh cá nấu với lá tàu bay thoải mái.
Chúng tôi lần-lượt tiến chiếm các mục tiêu ấn-định. Có vài binh sĩ bị thương vì đạp phải chông. Nơi đây địch đã thiết lập rất nhiều bãi chông, và hầm chông. Ban ngày băng rừng, leo dốc. Ban đêm trải ‘’poncho’’ ngủ ở lưng-chừng núi. Điều đáng sợ nhất ở Đỗ-xá không phải là quân địch, không phải là những con muỗi rừng, cũng không phải là những cây chông mà là những con vắt . Ngửi thấy hơi người là chúng nó búng lẹ như gió, bám được chỗ nào trên cơ-thể của người chiến-binh là nó không ngần ngại bám vào để hút máu; đến khi no cằng, nó tự nhả ra, nằm lăn trên mặt đất thưởng-thức những gì nó thu-hoạch được. Nếu nó hút máu người chưa đã thì không bao giờ chịu nhả ra, ta phải dùng tay dứt nó ra; nhiều con bám chặt quá chúng ta phải dùng thuốc lá trét lên mình nó, chờ cho nó say, ta mới rứt nó ra được. Nghe mấy bà già nói rằng, nếu một con vắt chui vào lỗ tai, nó sẽ mò vào óc, đẻ một bầy vắt con trong đầu của ta, và làm cho con người bị điên hoặc chết. Điều nầy tôi không biết có đúng không? Nhưng để cho yên trí, lúc nào trước khi ngủ, tôi cũng thoa thuốc trừ muỗi khắp người, và thấm thuốc vào bông gòn rồi nhét vô lỗ tai. Đã kỹ như vậy mà tôi vẩn ‘’tránh trời không khỏi nắng’’. Khi đoàn quân đi ngang qua bản-doanh Bộ Tư-lệnh, Tiểu đoàn được lệnh dừng lại để nhận thêm tiếp-liệu-phẩm. Tiểu-đoàn-trưởng, tiểu-đoàn-phó, Sĩ-quan ban 3, và Đề-lô được lệnh vào họp để nhận lệnh hành-quân của giai-đoạn 2. Khi chúng tôi chui vào lều của Tư-lệnh LĐ, thì Trung-tá Khang hỏi tôi:
- Ông Lộc đạp phải chông hả?
- Đâu có Trung-tá!
- Sao chân ông đầy máu thế?
Nhìn xuống, tôi thấy ống quần dính đầy máu; vén lên, tôi thấy một chú vắt to bằng ngón tay cái đang bám vào đầu gối của tôi để hút máu. Tôi vội lấy gói thuốc Rugby trong túi áo trận ra, rút một điếu, xé giấy quấn, rồi lấy những cọng thuốc thoa khắp mình con vật hút máu người, chờ một lúc lâu, nghĩ rằng con vắt đã say, tôi dùng những ngón tay bấu lấy nó, rồi rứt ra, nhưng nó vẫn bám chặt vào thịt của tôi, cuối cùng tôi phải dùng đến 10 thành công-lực mới dứt dây nó ra được. Khi rứt được con con vắt ra rồi, thì máu từ đầu gối của tôi chảy ra càng nhiều, tội phải lấy cuộn băng cá-nhân quấn vào nơi vắt cắn. Chỗ đó đã để lại trên đầu gối của tôi một vết thẹo, vết thẹo nầy tôi đã mang trên ngưòi suốt mấy chục năm qua và tôi đã gọi nó : Vết thẹo Đỗ-xá.
Cuộc hành-quân dự-trù 15 ngày, tôi đã chuẩn-bị 2 cây thuốc lá Quân-tiếp-vụ loại Rugby đỏ để đủ hút trong những ngày hành-quân, nhưng sau 15 ngày leo núi băng rừng, thì có lệnh triển-hạn thêm 15 ngày nữa!! 90% lính chiến ngày xưa đều ghiền thuốc lá, và có lẽ những bạn ghiền ấy cũng biết nỗi khổ của người hút khi hết thuốc? Nó khổ sở biết chừng nào khi mình muốn hút mà trong túi không còn một điếu thuốc ! Khi tấn-công vào một điểm tiếp-liệu của địch, chúng tôi đã mừng rỡ lúc khám phá ra một kho thuốc lá của cộng quân. Các Cọp-biển chúng ta chia nhau những lá thuốc khô và phun khói ì-xèo. Thằng đệ-tử của tôi (các sĩ-quan thường gọi những binh-sĩ thân-tín dưới quyền một cách thân-mật = đệ-tử, và ngược lại những người lính cũng gọi cấp chỉ-huy của mình với danh-từ thân-thương = ông thầy) chạy đến trao cho tôi một điếu thuốc lá quấn sẵn, và một xấp lá thuốc khô. Sau khi rít một hơi vào, tôi ho săc-sụa vì thuốc nặng quá; tôi trả lại cho thằng đệ-tử, nhưng vẫn giữ lại những lá thuốc khô phòng khi ghiền quá thì đốt lên bập-bập cho đở cơn ghiền.
Chúng tôi tiếp tục tiến quân nhưng không có đụng độ, hành-động chính của chúng tôi lúc đó là phá hủy kho-tàng, cùng những thửa ruộng trồng lúa, bắp, khoai mì, và những hoa-mầu khác. Bên cánh tiểu-đoàn 2 TQLC có đụng-độ lẻ-tẻ và có thu-hoach nhiều hơn. Các Thủy-thần bên đó đã phá-hủy được một quân-y-viện rộng lớn, bắt sống được 1 quân-y-sĩ và 4 y-tá của địch; tịch thu rất nhiều y-dược và dụng cụ y-khoa, cùng trung tâm truyền tin và điện đài, những trại nhà cho quân đội CS trú ngụ.
Sau một tháng dẫm nát mật khu Đỗ-xá, toàn-bộ Lữ-đoàn TQLC hành-quân được trực thăng bốc về Quận-lỵ Sông-cầu, ở phía nam đèo Cù-mông, tỉnh Bình-định, để dưỡng quân, sau đó tiếp-tục hành-quân vào vùng mật-khu An-lão của cộng sản .
Sự tiến-chiếm mật-khu Đỗ-xá của những Thủy-thần Mũ-xanh, trong chiến-dịch Đỗ-xá năm 1963, tuy chỉ thu-hoạch một kết-quả rất khiêm-nhường, nhưng đó là bước khởi đầu cho các Thiên-thần Mũ-đỏ của Sư-đoàn Nhảy-dù VN. cùng các Sơn-thần Mũ-nâu của Quân-đoàn 2 sau nầy nhảy vào Đỗ-xá nhiều lần; và họ đã thu-đoạt được nhiều kết quả về nhân mạng cũng như quân trang, quân-khí của địch quân.
Đỗ-xá không còn là một an-toàn-khu của Cộng-sản nữa.

Sunday, January 15, 2023

 

Nỗi Khổ Tâm Của Tướng Hiếu

John Prados viết trong The Hidden History of the Vietnam War (1995): "Năm 1975, Tướng Hiếu giữ chức tư lệnh phó vùng quân sự bao gồm Sài Gòn; ông tự vận khi rõ ràng là Miền Nam Việt Nam sắp cáo chung." Ông Prados viết đúng khi xác định "là Miền Nam Việt Nam sắp cáo chung"; nhưng ông sai lầm khi ông cho đó là lý do Tướng Hiếu tự vận. Trong phần bài này tôi sẽ cố gắng hình dung lại tâm trạng của Tướng Hiếu trong tư cách Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, một phần dựa vào những lần găp gỡ cuối cùng giữa tôi và anh tôi vào thời buổi đó, phần khác vào những kết quả của sự tìm hiểu mới đây của tôi liên quan đến vấn đề này qua các tài liệu và các cuộc phỏng vấn cùng với những nhân chứng của thời cuộc.

Vào thời điểm Ban Mê Thuột và Đà Nẵng thất thủ, tôi đang sống ở Nha Trang. Anh tôi gọi điện thoại cho Tướng Lê Văn Thân, lúc đó là Tư Lệnh Phó Diện Địa Quân Đoàn II, nhờ nhắn lại là tôi phải rời bỏ Nha Trang tìm đường vào Sàigòn ngay lập tức vì Tổng Thống Thiệu đã quyết định bỏ Quân Đoàn I và II. Tướng Thân sai người con trai đến bảo tôi lại gặp ông. Ông cho biết là trong vài ngày nữa ông và gia đình ông sẽ được một tàu hải quân chở vào Sàigòn, nếu muốn tôi có thể đi theo chuyến tàu này. Tôi từ chối nghĩa cử này, và xin ông giúp tôi phương tiện vào phi trường dân sự, một người cháu họ làm việc với Hàng Không Việt Nam sẽ giúp tôi đáp phi cơ vào Sàigòn. Vào lúc đó, để tránh tình trạng hỗn loạn xảy ra tại phi trường Đà Nẵng, Tướng Phú đã ra lệnh áp dụng biện pháp an ninh gắt gao tại cổng vào phi trường. Tướng Thân đã phải dùng xe jíp riêng có gắn cờ một sao mới đưa tôi lọt vào phi trường. Nhờ vậy tôi đã đáp được chuyến bay Air Viet Nam cuối cùng đi vào Sàigòn.

Vài ngày hôm sau, tôi lên Biên Hòa gặp anh tôi tại bộ tư lệnh Quân Đoàn III để trình diện và đồng thời cám ơn. Trong dịp gặp gỡ này, nét mặt anh tôi rất đăm chiêu. Viên sĩ quan tùy viên cho tôi biết anh tôi mới bay từ Phan Thiết về (sau này, qua báo chí và sách vở, tôi biết được là anh tôi ra Phan Thiết ngày 2/4/1975 để Tướng Phú bàn giao các đơn vị sống sót của Quân Đoàn II tại Lầu Ông Hoàng). Tôi hỏi anh tôi liệu mình có đủ sức chống lại nổi sự tấn công của địch không. Anh tôi trả lời: "Khả năng binh sĩ có thừa; mình chỉ thiếu có đạn dược mà thôi; quân ta sẽ cầm cự được tối đa hai tháng sẽ hết đạn." Tôi đặt một câu hỏi khác: "Tại sao Tướng Toàn lại được chọn làm Tư Lệnh Quân Đoàn III vậy?" Anh tôi trả lời: "Tổng Thống bảo là tình hình này cần có một tướng gốc thiết giáp biết xông xáo." Nói tới đây anh tôi ngó lên màn truyền hình nghe Tổng Thống Thiệu đang than vãn với quốc dân đồng bào, anh tôi bình phẩm: "Tổng Thống của một quốc gia đâu nên lải nhải như vậy, để các bộ trưởng trình bày với dân chúng có hay hơn không?"

Hồi đó, nghe vậy nhưng tôi không mấy để tâm để ý, bây giờ nghĩ lại tôi mới suy nghiệm thấy anh tôi qua giọng nói mỉa mai và nét mặt khinh miệt có vẻ bực bội vì tài năng chiến lược của mình không được đem ra thi thố vì một ông tổng thống bất tài đã không chọn mình, thay vào đó lại chọn đặt một ông tướng bất tài vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh tôi. Vài ngày sau, mồng 8/4/1975, anh tôi bị thảm sát tại bộ tư lệnh QĐIII. Ngày hôm sau, 9/4/1975, mặt trận Xuân Lộc bùng nổ. Quân ta anh dũng chận đứng bước tiến của địch quân trong mười ngày. Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Thiệu từ chức. Ngày 30/4/1975, QLVNCH tan hàng.

Hai mươi lăm năm sau, tôi tò mò muốn biết anh tôi, với vai trò Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III, có công trạng gì trong chiến thắng của trận Xuân Lộc nói riêng, và có kế hoạch nào bảo vệ Sàigòn nói chung không? Tôi tìm được một số tài liệu và dò hỏi được một số nhân chứng quen biết anh tôi thời buổi đó khả dĩ giải đáp thắc mắc của tôi.

Theo bản tính tự nhiên và theo huấn luyện hấp thụ được trong lãnh vực chiến lược, chắc chắn Tướng Hiếu phải phác họa sẵn trong trí óc một kế hoạch vừa qui mô vừa tỉ mỉ để đối lại địch quân đang sắp tràn xuống Quân Đoàn III. Đại Tá Lê Khắc Lý kể lại trong cuốn Tears Before The Rain: An oral history of the fall of South Vietnam của tác giả Larry Engelmann (1990): "Tôi tới thăm vị Tư Lệnh cũ tốt lành của tôi, Tướng Hiếu, một sĩ quan thật sự thanh liêm của Quân Đội. Tôi hỏi ông về tình hình Vùng 3. Ông nói là chúng ta cần tổ chức lại và cố chận bước tiến của đoàn chiến xa địch quân. Vài ngày sau đó ông bị thảm sát."

Nhưng kế hoạch đó ra sao thì không ai biết. Tôi dò hỏi những người sau đây: Tướng Lý Tòng Bá (Tư Lệnh Sư Đoàn 25), Tướng Lê Minh Đảo (Tư Lệnh Sư Đoàn 18), Tướng Trần Quang Khôi (Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III), Tướng Đào Duy Ân (Tư Lệnh Phó Diện Địa Quân Đoàn III), Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Đoàn III), Đại Tá Phan Huy Lương (Phụ Tá Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III – Ghi chú: chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III do Tướng Lê Trung Tường nắm), Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng 3, Tổng Tham Mưu), Tướng Fred C. Weyand (Trưởng phái đoàn được Tổng Thống Ford giao trọng trách nhận định tình hình Nam Việt Nam vào cuối tháng 3/1975), Richard Peters (Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa), Charles Lahiguera (Phó Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa). Tiếp sau đây xin ghi lại các câu trả lời của từng người khi được tôi hỏi: Tướng Hiếu có bàn định với anh về kế hoạch phòng thủ Sàigòn không?

- Lý Tòng Bá: Chiều ngày mồng 8/4/1975, tôi dự buổi họp do Tướng Toàn chủ tọa, không có sự hiện diện của Tướng Hiếu. Khi tan buổi họp trên đường đi ra bãi đậu trực thăng để trở về đơn vị, khi đi ngang văn phòng Tướng Hiếu tôi thấy binh sĩ tụ họp bàn tán Tướng Hiếu bị ngộ nạn. Vì cần về gấp đơn vị, tôi đã không nán ở lại theo dõi sự thể.

- Lê Minh Đảo: Anh Hiếu có kế hoạch gì thì tôi không được biết. Trên thực tế thì Quân Đoàn 3 phải trông coi ba Sư Đoàn, SĐ 25 ở Tây Ninh, SĐ 5 ở Lai Khê và SĐ 18 ở Xuân Lộc. Tư Lệnh Quân Đoàn giao phó hoàn toàn trách nhiệm cho mỗi sư đoàn bảo vệ phần lãnh thổ riêng của mình. Được việc thì thôi, còn hỏng việc thì tư lệnh sư đoàn lãnh đủ. Mỗi tư lệnh sư đoàn toàn quyền sắp xếp cách thức bố trí quân của mình. Quân Đoàn chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi, chứ không có sáng kiến gì cả. Do đó chiến thắng trận Xuân Lộc là hoàn toàn công lao của riêng tôi và SĐ 18. Kể ra thì Quân Đoàn có giúp đỡ bằng cách tăng phái một Lữ Đoàn Dù cho mặt trận Xuân Lộc.

- Trần Quang Khôi: Không, tôi không biết. Nhưng điều này không cần thiết, vì trong tình thế vô vọng lúc đó, thử hỏi liệu Tướng Hiếu làm được gì? Sáng ngày 8/4/1975, Tướng Hiếu bay trực thăng đến Gò Dầu Hạ họp với tôi vào lúc 8 giờ sáng. Đến 10 giờ thì Tướng Hiếu trở về Biên Hòa. Trưa hôm đó có tin Tướng Hiếu bị thảm sát.

- Đào Duy Ân: Không, tôi không được biết. Có lẽ anh nên hỏi Đại Tá Phan Huy Lương.

- Nguyễn Văn Toàn: Tình hình chiến trận thời gian này rất sôi động nên chúng tôi phải luôn luôn thay phiên nhau đi kiểm soát và chỉ huy hành quân. Thiếu Tướng Hiếu đã tỏ ra có khả năng cao độ và luôn luôn chu toàn nhiệm vụ giao phó một cách đáng khen. Chính tôi đã phải đích thân dùng loa ra lệnh cho các binh lính hỗn loạn của các đơn vị từ Quân Đoàn I và II không được xâm nhập vào vùng Sàigòn và phải tập trung về Vũng Tàu, và tôi phải hăm dọa cho chiến xa khai hỏa nếu họ không tuân lệnh. Nhờ vậy mà Sàigòn tránh được cảnh lộn xộn xảy ra tại Đà Nẵng.

- Phan Huy Lương: Không, tôi không biết. Hai ông Tướng chỉ bàn định riêng với nhau thôi.

- Trần Đình Thọ: Mấy ngày trước khi anh Hiếu chết, hầu như chiều nào tôi cũng đáp trực thăng xuống Biên Hòa vấn ý ảnh. Anh Hiếu rất giỏi về tham mưu và nắm vững tình hình. Nhiều đêm tôi còn ngủ lại trong trailer của anh Hiếu.(Tới đây thay vì trả lời câu hỏi của tôi, Tướng Thọ lại lái sang chuyện khác): Có lần tôi bay cùng theo anh Hiếu đi thăm một đơn vị đóng trong lãnh thổ Căm Bốt. Khi trực thăng đáp xuống đất, hai anh em nhảy ra khỏi trực thăng, dáo dác nhìn ngang dọc không thấy binh sĩ xuất đầu lộ diện nghêng đón. Anh Hiếu lấy làm ngạc nhiên: "Ủa, sao lại kỳ lạ thế này: rõ ràng đây là tọa độ vị trí đóng quân của đơn vị. Bậy thật, chỉ huy trưởng đơn vị di chuyển quân đi mà không báo cáo."

- Frederick Weyand: Đã lâu quá rồi, tôi không còn nhớ có gặp Tướng Hiếu trong chuyến công du nhận định tình hình Nam Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1975 hay không.

- Richard Peters: Không.Tôi chính thức gặp Tướng Toàn hầu như hằng ngày để thảo luận về các vấn đề quân sự trong Quân Đoàn 3. Những dịp gặp gỡ ngoài giờ làm việc với Tướng Hiếu là trên bình diện xã giao. Tôi cố gắng không đề cập tới các đề tài quân sự với Tướng Hiếu trong các dịp xã giao đó. Tướng Hiếu thản hoặc có thể nói lướt qua đến các tình trạng các đơn vị quân lực chiếm hay để mất đất đai. Nhưng chỉ có vậy thôi.

- Charles Lahiguera: Không, Tướng Hiếu rất kín đáo. Hơn nữa, Tướng Hiếu luôn giữ thể diện quốc gia, chỉ bàn định việc này trong giới Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, trong điện thư Tòa Tổng Lãnh Sự Biên Hòa gửi cho Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ báo cáo về cái chết của Tướng Hiếu, một trong những giả thuyết được nêu lên là Tướng Hiếu bị giết vì đã khuyến cáo nên đầu hàng để tránh đổ máu quân lính cách vô ích.

Trong các câu trả lời trên đây, người trả lời hoặc biết mà không muốn nói ra (đặc biệt là trong trường hợp Trần Đình Thọ và Richard Peters), hoặc không biết thật vì Tướng Hiếu kín đáo hay vì nhu cầu cần bảo mật khi mà gián điệp địch quân nằm vùng đã len lỏi vào mọi tầng lớp trong quân đội (một ví dụ điển hình, khi chuẩn bị cuộc Hành Quân Khai Lộ, chỉ có Đại Tá Hiếu và Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc, Tham Mưu Trưởng và Tư Lệnh Quân Đoàn II biết chuyện mà thôi).

Tướng Hiếu có thể dè dặt đối với Đại Tá Phan Huy Lương vì Đại Tá Lương đã được Tướng Nguyễn Văn Minh, người đã hất cẳng Tướng Hiếu khỏi Sư Đoàn 5 tháng 6 năm 1971 và kéo chân tay bộ hạ thuộc nhóm Băng Miền Tây về chế ngự Quân Đoàn III, mời về giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III.

Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Lê Minh Đảo và Tướng Trần Quang Khôi không được Tướng Hiếu tâm sự, vì trong tư cách Tư Lệnh Phó, Tướng Hiếu không có quyền hành ra lệnh trực tiếp, mà chỉ giám sát rồi trình lại mọi việc cho Tư Lệnh Quân Đoàn và chuyển đạt lệnh của Tư Lệnh Quân Đoàn mà thôi. Đối với ba vị tư lệnh cấp sư đoàn này (SĐ25, SĐ18, LLXKQĐ3), cũng như Tướng Lê Nguyên Vỹ (SĐ5), Tướng Hiếu chỉ đôn đốc họ và trợ giúp họ trong việc phòng thủ lãnh vực hành quân của mỗi sư đoàn. Về mặt chiến lược cấp quân đoàn, lẽ dĩ nhiên họ không được tham khảo đến. Chẳng hạn, khi biết rõ Cộng Quân chọn mở mặt trận chính ở Xuân Lộc chứ không ở Tây Ninh, Quân Đoàn III đã tăng phái Lữ Đoàn 1 Dù cho Sư Đoàn 18 (khi đó Tướng Hiếu đã chết), đồng thời đưa Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III từ Gò Dầu Hạ ở phía Tây (gần Tây Ninh) qua án ngữ tại Ngã Ba Dầu Giây ở phía Đông để bảo vệ Biên Hòa trong trường hợp tuyến phòng Xuân Lộc bị trọc thủng. Và khi tình hình cho thấy Sư Đoàn 18 không còn cầm cự nổi, ngày 20/04/1975, Quân Đoàn III ra lệnh cho Sư Đoàn 18 rút quân về Phước Tuy.

Tuy vợ Tướng Trần Đình Thọ có họ hàng phía đàng vợ Tướng Hiếu, Tướng Hiếu có thể giữ kẽ với Tướng Thọ vì Tướng Thọ thân cận với Tướng Cao Văn Viên và Tướng Thiệu là những người không ưa gì mình. Khi giao du với Tướng Thọ, Tướng Hiếu ý thức được rằng những lời ăn tiếng nói của mình sẽ tới tai hai người đó.

Đối với Tướng Toàn thì lẽ đương nhiên là Tướng Hiếu rất là dè dặt, cái dè dặt của một quân tử đứng trước mặt một tiểu nhân. Tướng Hiếu biết là mình không được trọng dụng khi Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm Tướng Toàn về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn III và tiếp đó Tướng Toàn đưa Tướng Lê Trung Tường vào chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III. Tướng Hiếu đã chê Tướng Toàn chỉ biết có xông với xáo cách bừa bãi. Tướng Hiếu luôn luôn chu toàn nhiệm vụ giao phó một cách đáng khen, theo lời nhận xét của Tướng Toàn, nhưng Tướng Hiếu không tình nguyện làm gì hơn nhiệm vụ giao phó, không phải vì thiếu nhiệt tâm mà vì ý thức mình không được trọng dụng. Ngoài ra, theo lời ông Richard Peters, Giả dụ có điều bất đồng ý kiến giữa Tướng Toàn và Tướng Hiếu, tôi có cảm tưởng Tướng Hiếu, trong tinh thần kỷ luật, sẽ tuân theo lệnh của Tướng Toàn.

Tướng Lê Minh Đảo nhận xétTướng Hiếu không khi nào hé môi hỏi han điều gì cả, chỉ đưa mắt nhìn thôi, và chỉ đưa ý kiến khi được hỏi. Thành thử, ngày 6/4/1975, khi Tổng Thống Thiệu triệu Tướng Hiếu vào Dinh Độc Lập để vấn ý, Tướng Hiếu đã nói thẳng ý kiến của mình. "Bác Hướng, [thân phụ Tướng Hiếu], đã nói với Xuân là sáng hôm đó anh Hiếu đã từ chối che đậy cho hành vi tầm bậy của một trong những đàn em của ông Thiệu. Anh Hiếu cũng công khai chống đối chính sách rút quân ra khỏi những vùng chiến thuật của ông Thiệu, "nhượng bỏ đất đai cho Cộng Sản". (Số Mạng của một Người Ái Quốc) Chắc chắn là trong buổi họp này, Tổng Thống Thiệu tham khảo ý kiến chiến lược của Tướng Hiếu về cách đối phó với tình hình quân sự nguy kịch và rất có thể Tướng Hiếu đã phân tích rành mạch thực trạng của thế bàn cờ quân sự đã bước vào thế bí vô phương cứu chữa và đã thẳng thắn khuyến cáo nên đầu hàng để tránh đổ máu quân lính cách vô ích (theo lời Charles Lahiguera).

Khi Tướng Frederick Weyand nói, "Đã lâu quá rồi, tôi không còn nhớ có gặp Tướng Hiếu trong chuyến công du nhận định tình hình Nam Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1975 hay không", ông không nói ngoa, vì khi tôi hỏi thêm thế ông có lần nào gặp Tướng Hiếu năm 1970, khi ông giữ chức vụ Tư lệnh Phó MACV và Tướng Hiếu là Tư Lệnh Sư Đoàn 5 không, thì ông trả lời là không. Nhưng tôi lại tìm thấy bản sao của cuốn sổ nhật ký của bộ tư lệnh SĐ5 lưu trữ tại National Archives có ghi là Trung Tướng Frederick C. Weyand, Tư Lệnh Phó MACV, thăm viếng xã giao Tướng Hiếu ngày 4/9/1970. Tôi có phối kiểm điều này với ông Richard Peters, Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa, và hỏi ông, Tướng Hiếu có thuyết trình cho Tướng Weyand khi ông ta tới Quân Đoàn 3 không?, câu trả lời là: Tôi không biết, vì tôi không sắp đặt lịch trình của Tướng Weyand. Tướng Weyand có nói chuyện với một số người Việt tại Long Bình trước khi tới Quân Đoàn 3 và riêng tôi có nói chuyện với Tướng Weyand.

Ngoài ra, tôi hỏi thêm Tướng Weyand ông Clinton Granger có viết trong một văn thư gửi cho Tướng Scowcroft ngày 5/4/1975, Tướng Weyand đã phát biểu mối quan tâm của ông về sự tồn tại của Tổng Thống Thiệu, và về khả năng của nhiều tướng lãnh cao cấp của Quân Đội Việt Nam; ông sẽ trình lên Tổng Thống những điểm này, Tướng Weyand ngụ ý đến tướng lãnh nào thì Tướng Weyand trả lời là không nhớ ông Clinton Granger là một thành viên trong phái đoàn của ông và ông cũng không nhớ đề tài này.

Tôi nghĩ có thể là Tướng Weyand không gặp riêng Tướng Hiếu, nhưng khi phái đoàn của ông đến bộ tư lệnh Quân Đoàn III nghe thuyết trình về tình hình quân sự tại Quân Đoàn III, một trong những thuyết trình viên phải là Tướng Hiếu, không những vì chức vụ Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III, mà vì không ai thuyết trình quân sự bằng Anh ngữ lưu loát hơn Tướng Hiếu cả (theo ý kiến của một phóng viên UPI).

Trong văn thư Tướng Weyand đệ trình lên Tổng Thống Ford ngày 4/4/1975 sau chuyến công du, Tướng Weyand đề cập tới III. Các Kế Hoạch Và Ý Định của Chính Phủ NVN, và IV. Viễn Tượng Hiện Tại.

III. Các Ý Định và Kế Hoạch Hiện Tại của Chính Phủ NVN

Chính Phủ NVN có một "kế hoạch chiến lược" nhưng nó được duyệt xét lại hình như hằng ngày tùy theo các biến cố. Một tuần trước (25/3) kế hoạch này hình dung một địa bàn tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ về phía nam đặt tại ven biển ở Bình Định hay, nếu thất bại, ngay phía dưới Tuy Hòa trong tỉnh Phú Yên. Tuyến phòng này băng qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, rồi tới Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh và kéo qua Tây Ninh. Từ khi kế hoạch được thiết lập, Đà Nẵng đã mất, vị trí của Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn 2 đã tan rã phía bắc Cam Ranh.

Chính Phủ NVN có ý định tái tổ chức và tái võ trang các đơn vị QLVNCH và TQLC bị tan hàng trong các trận đánh tháng vừa qua càng nhanh chóng càng tốt. Họ cũng có ý định dùng các biện pháp khác để tăng cường lực lượng QLVNCH bằng tăng cấp các lực lượng địa phương quân và các liên đoàn Biệt Động Quân. Sự thành công trong nỗ lực này tùy thuộc vào khả năng Chính Phủ NVN có thể chỉnh đốn sự kém cỏi trầm trọng trong giới lãnh đạo và chỉ huy và trong khả năng của giới này trong việc biến cải kế hoạch này thành hành động có tổ chức. Tổng Thống Thiệu và Tướng Viên ý thức được điểm này và hứa sẽ hành động sửa sai.

[…]

IV. Viễn Tượng Hiện Tại

Những gì xảy ra tại Nam Việt Nam trong tháng tới hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện--hay không được thực hiện--bởi Bắc Việt, Chính Phủ NVN, và Hoa Kỳ trong hai tới ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.

Ngoại trừ Lực Lượng Bắc Quân bị chận đứng tại trận địa hay Hànội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã nào khác, Bắc Việt sẽ đánh bại Chính Phủ NVN trên bình diện quân sự. Không có dấu chỉ cho thấy Bắc Việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói là hai, trong số năm sư đoàn Bắc Quân hiện đang có mặt tại Vùng 2 CT sẽ đủ để thanh toán quân Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn 2. Nếu một trong số năm sư đoàn Bọc Quân hiện đã có mặt tại Vùng 2 CT được đưa xuống Vùng 3 CT, đặc biệt là nếu được tăng cường với pháo binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Vùng 3 CT sẽ bị nghiêng ngửa. Các lực lượng Chính Phủ NVN tại vùng Đồng Bằng, đủ khả năng đương đầu với lực lượng Bắc Quân hiện đã có mặt trong Vùng 4 CT, và Vùng 4 CT sẽ không đứng vững nổi nếu Vùng 3 CT tan rã sau các cuộc thất bại tại Vùng 1 và 2 CT.

Hình ảnh phác họa trên may ra có thể biến cải đang khi Chính Phủ NVN điều quân tại Vùng 3 CT với các đơn vị sống sót từ Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và tái trang bị. Ta có thể chẩn đoán là Bắc Việt có thể tiến quân và xung trận các sư đoàn hiện diện tại NVN nhanh hơn là Chính Phủ NVN có thể thiết lập các sư đoàn tân trang.

Còn phần Chính Phủ NVN, phải thực hiện những công tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí quân sự tại Vùng 3 CT, nhưng cũng để--và có lẽ quan trọng hơn--hiến cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài lãnh đạo của giới chóp bu Chính Phủ NVN. Trong lãnh vực tinh thần, Nam Việt Nam--ít ra tại Vùng 3 CT, kể cả Sàigòn--rất gần kề miệng dốc đưa tới chủ bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.

Những tư tưởng và nhận định trên của Tướng Weyand, nếu không chịu ảnh hưởng và phản ảnh thì cũng đồng quan điểm với tâm tưởng của Tướng Hiếu vào thời điểm đó.

Nếu Tướng Weyand không gặp riêng với Tướng Hiếu thì chắc Clinton Granger, một thành viên trong phái đoàn Weyand, sau khi gặp riêng Tướng Toàn, thể nào ông cũng ghé sang văn phòng kế bên để tham khảo ý kiến Tướng Hiếu.

Một vài ý kiến của Tướng Hiếu cũng ló dạng trong văn thư Clinton Granger gửi Tướng Scowcroft ngày 5/4/1975. Tướng Hiếu nói quân ta sẽ cầm cự được tối đa hai tháng sẽ hết đạn; Clinton Granger viết, Nếu không có sự trợ lực đầy đủ từ phía Hoa Kỳ, tôi không nghĩ Chính Phủ Việt Nam sẽ tồn tại tới cuối tháng 4. Với sự thay thế nhanh chóng các vũ khí chính yếu về phía Hoa Kỳ, tình hình có thể chịu đựng được đến giữa hay cuối tháng 5. Tướng Hiếu nói với Đại Tá Lê Khắc Lý là chúng ta cần tổ chức lại và cố chận bước tiến của đoàn chiến xa địch quân”; Clinton Granger viết, Tướng Toàn cho chiến xa Bắc Quân là mối đe dọa chính yếu. Ông mong ước có thêm chiến xa để phản công mối đe dọa này, nhưng chúng tôi không thảo luận tới sự hữu hiệu của hỏa tiễn chống chiến xa TOW đặt trên các thiết vận xa M113 thay cho việc phải dùng chiến xa khi không có. (Sau này tôi nhận định riêng là QLVNCH có đủ súng phóng hỏa tiễn TOW và thiết vận xa M113 để xử dụng chung với nhau như một vũ khí hữu hiệu, và họ đã khéo léo tài tình trong việc điều chỉnh cách đặt đại bác phóng hỏa tiễn TOW trên thiết vận xa. Tuy nhiên, các thiết vận xa và súng TOW rải rác khắp cùng các đơn vị QLVNCH, và việc gom lại và điều chỉnh kịp thời rất mong manh.).

Tướng Hiếu lấy làm bực dọc vì Thiệu bất tài lại không chịu dùng tới các tướng tài, kể cả bản thân mình, thay vào đó lại dùng tới những tướng vừa bất tài vừa tham nhũng, và bao quanh mình với một hội đồng gật (Khiêm, Viên, Quang). Tướng Hiếu đã phê bình vào thẳng mặt Tướng Thiệu quyết định thất sách và vô tổ chức rút lui Quân Đoàn I và II cách vội vã, khiến cho tình hình quân sự suy sụp vô phương cứu vãn trong chớp mọt. Đồng thời, Tướng Hiếu lấy làm khổ tâm về số phận hẩm hiu của các binh sĩ bị giới lãnh đạo quân đội coi như những con cờ tốt vô bổ và không ngại thí quân. Ngày đám táng anh tôi, một viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng, trên mình còn đóng nguyên bộ đồ trận lấm bụi đất đỏ, từ mặt trận Xuân Lộc lái xe về nghiêng mình trước linh cửu anh tôi, có nói với tôi: "Khi Tướng Hiếu ra lệnh tụi tôi trấn giữ một cứ điểm thì anh em đều vững lòng tuân theo, vì biết sẽ không đời nào bị bỏ rơi". Những khi nắm sinh mạng quân binh trong tay, Tướng Hiếu chỉ tung quân tấn công khi nắm chắc phần thắng; và khi phải thủ đồn, Tướng Hiếu luôn giải cứu đồn với lực lượng tiếp cứu (FOB2, Đức CơPleime), và trong trường hợp không giữ nổi đồn thì Tướng Hiếu tài tình xử dụng đến chiến thuật đào tẩu (Thân Mẫn, Snoul), chứ không chủ trương buộc binh sĩ phải tử thủ đồn cách vô bổ, chỉ để khỏa lấp tài nghệ cầm quân kém cỏi (không biết tiên liệu, không có kế hoạch chín chắn) của cấp lãnh đạo quân sự. Tướng Hiếu thương mến quân lính; và họ cảm nghiệm được điều đó. Chấp, một thiếu tá gốc mũ nâu BĐQ, tâm sự: "Tướng Hiếu là thần tượng của tôi và biết ông từ khi ông về Sư Đoàn 5. Lúc đó tôi ở một đơn vị biệt phái nhảy vào vùng biên giới được ông lo cho hết mình. Vào gần tới Krek thì ông cho lệnh rút ra khi cấp trên thình lình hủy bỏ không yểm B-52 theo như kế hoạch hành quân đã trù tính. Ông bảo "Không có yểm trợ thì không đánh". Đó là một vị tướng sạch, một vị tướng biết lo lắng nhiều cho thuộc cấp và đạo đức. Khâm phục, khâm phục."

Nguyễn Văn Tín
Ngày 07 tháng 07 năm 2003

Cập nhật ngày 14/08/2003

generalhieu

 Tại Sao Tổng Thống Thiệu Giết Tướng Hiếu?

Sau khi sai tùy viên hạ sát Tướng Hiếu, Tướng Toàn trình báo lại cho Tổng Thống là đã thi hành xong lệnh của Tổng Thống giết Tướng Hiếu (xem Vén Màn Bí Mật về cái Chết Tướng Hiếu). Tại sao Thiệu lại ra lệnh này? Có một cựu Đại Úy thuộc Sư Đoàn 2 cật vấn Thiệu trong một buổi ra mắt đồng bào ở quận Cam, California ngày 16/6/1990.

Lý do là nhằm bao che tập đoàn tham nhũng ? Không , lý do là Thiệu nghi Tướng Hiếu đảo chánh. Thiệu đã từng giết Tướng Nguyễn Viết Thanh và Tướng Đỗ Cao Trí khi nghi hai người này âm mưu đảo chánh.

Theo tin tình báo Mỹ, Tướng Thanh không chết vì một chiếc trực thăng Cobra đụng phải chiếc trực thăng C&C chỉ huy đang khi Tướng Thanh bay trên vòm trời thị sát chiến trường hành quân ngoại biên Căm Bốt, mà là do đầu đạn của một đơn vị pháo binh Việt Nam thuộc Vùng IV - chứ không phải của Việt Cộng - từ dưới mặt đất bắn lên. Vụ này giới chức Mỹ bực mình vì Thiệu đổ lỗi cho Mỹ gây nên tai nạn.

Thiệu nghi Tướng Thanh đã kết cấu với Tướng Trí bàn định kế hoạch sẽ thực hiện đảo chánh sau cuộc hành quân ngoại biên và ra tay hành động trước.

Về trường hợp của Tướng Trí, Võ Long Triều viết:

- Nếu moa làm một cuộc đảo chánh, toa thấy có nên không? Thú thật với toa từ khi mới có binh quyền trong tay cho đến ngày nay moa chưa hề đánh thua một trận nào. Tụi Mỹ kính phục moa về vấn đề nầy và chúng nó luôn luôn thỏa mãn mọi yêu cầu của moa.

Tôi giật mình suy nghĩ, Đỗ Cao Trí nhìn tôi ngạc nhiên vì không thấy tôi trả lời. Trong khi tôi nghĩ rằng: thằng bạn mình muốn dấn thân vào đại sự. Trước kia như tôi đã viết trong hồi ký tập I, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ có đề nghị với tôi hai lần nhưng tôi không thấy lòng mình có chút lo lắng nào. Lần nầy có lẽ vì Đỗ Cao Trí với tôi thân thiết nhiều nên tôi có phần lo cho anh nhiều hơn là lo cho tôi. Sự im lặng của tôi gần cả phút làm nặng nề cho cả đôi bên. Tôi hỏi lại?

- Liệu toa có thể đảo chánh thành công không?

- đó là chuyện chơi đối với moa.

- đừng có đùa. Bộ toa đang lên cơn sốt nên nói sảng phải không?

- Ê, toa quên rằng moa là Tư lệnh quân đoàn III và Trung Tướng Minh là em út ruột của moa, hiện đang nắm quyền Tổng Trấn Saigon sao? Còn bao nhiêu em út khác rải rác mà toa chưa biết. đời binh nghiệp của moa toa có biết sơ rồi. Phần toa, liệu có khả năng đảm nhận trọng trách lèo lái con thuyền quốc gia không?

- Khả năng thì chắc chắn có, hơn nữa bạn bè đông, thừa sức hành xử đối phó với mọi vấn đề. Nhưng moa đề nghị tụi mình nên suy nghĩ kỷ việc nầy. Khi toa hết bệnh mình sẽ gặp lại bàn rộng hơn.

(...)

Theo chủ quan của Trung Tướng Đỗ Cao Trí thì ông có thể tạo được sự đoàn kết trong quân đội và cũng theo chủ quan của tôi thì đông đảo bạn bè có thừa khả năng đặt nhiều kế hoạch kích thích toàn dân tham gia xây dựng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, phá vỡ môi trường hoạt động và tuyên truyền của cộng sản. Chúng tôi bàn thảo sâu rộng, đắn đo cũng nhiều. Cuối cùng quyết định thực hiện kế hoạch thay Tổng Thống Thiệu. Tướng đỗ Cao Trí âm thầm và khéo léo chuẩn bị hành động, nhưng dường như Nguyễn Văn Thiệu đánh hơi thấy một điều gì đó, tôi chưa biết rõ nhưng tôi có linh cảm như thế.

Rồi có một ngày Trung Tướng Trí có vẻ lo ngại vừa thông báo vừa hỏi ý tôi về đề nghị của cố vấn Mỹ, yêu cầu anh đưa trực thăng của mình vào bãi đáp của Mỹ để họ giữ an ninh giùm. Tôi hỏi ngược Tướng Trí: “Toa giữ an ninh cho cả một vùng III được mà giữ anh ninh cho một chiếc trực thăng của toa không được sao?” Liền sau đó, Trung Tướng Trí đổi hết phi đoàn trực thăng của ông thay bằng những bà con xa gần trong đó có Thiếu Tá Đẳng vai chú của Đỗ Cao Trí. Một tuần lễ sau Trí lại hỏi: “Mỹ bảo moa không chịu đưa trực thăng vào bãi đậu cho nó giữ an ninh giùm mình không chịu vậy thì trước khi bay đưa cho tụi nó kiểm máy lại giùm, ý toa nghĩ sao?

Bất cứ một người bình thường nào cũng phải đánh hàng trăm dấu hỏi, trừ hai người chúng tôi mù mờ, u mê vì ý trời xui khiến hay là số mạng của Đỗ Cao Trí đến hồi sắp tận, chúng tôi đồng ý nghĩ rằng: Trực thăng do Mỹ sản xuất, thợ sửa máy bay của mình do Mỹ huấn luyện, thì bây giờ đưa trực thăng cho họ kiểm máy là hợp lý và bình thường. Hai ngày sau trực thăng nổ cháy. Toàn bộ phi hành đoàn theo Trung Tướng Đỗ Cao Trí đều tử nạn.

Giới chức Mỹ đã cảnh báo Tướng Trí Thiệu có thể tạo tai nạn trực thăng do trục trặc cơ khí gây nên, không ngờ Thiệu ranh mãnh dùng phóng viên Pháp Francois Sully đưa bom nổ lên phi cơ. Võ Long Triều kể tiếp:

Thông báo chính thức của chính phủ trên đài phát thanh và truyền hình là trực thăng của vị Tư Lệnh Quân Đoàn III bị hỏa tiễn Việt Cộng bắn rơi. Mãi về sau này, anh ruột của Đỗ Cao Trí là nha sĩ Đỗ Cao Minh, hiện định cư tại Pháp, to nhỏ cho tôi biết về một lời tâm sự của Đại Tá Chiêm, đàn em của Tướng Trí, Phụ trách ban anh ninh phủ Tổng Thống tường thuật với Đỗ Cao Minh như sau: Sáng hôm đó ký giả tuần báo Newsweek, ông Francois Sully, diện kiến Tổng Thống Thiệu đúng 8 giờ, sau đó ký giả nầy có hẹn với Trung Tướng Đỗ Cao Trí lúc 9 giờ để tháp tùng đi thi sát mặt trận Campuchia. Theo thông lệ mọi người vào diện kiến các cấp lãnh đạo cũng phải để xách tay lại văn phòng bí thư hay tùy viên. Francois Sully giã từ Tổng Thống xách cặp của ông ra đi. Không hiểu giữa thời gian đó, có ai bỏ bom nổ chậm trong cặp không?

Thiệu vốn sợ Tướng Hiếu từ hồi Tướng Hiếu làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Một dạo Tướng Trí bị bứng ra khỏi Quân Đoàn III. Sự thể như sau: Vào tháng 10 năm 1970, Thiệu khéo léo đẩy Tướng Trí ra khỏi chức Tư Lệnh Quân Đoàn III và Tướng Trí bị đầy ải qua Pháp với lý do chính thức đi chữa bệnh và Tướng Nguyễn Văn Minh được cử thay thế. Trong lá thư đề ngày 6/10/1970, Đại Úy Wayne T. Stanley, thư ký phòng 3 tham mưu cố vấn Mỹ QĐ3, viết cho Trung Tá John L. Huestis, Fort Braggs, North Carolina: "General Tri continues to rule the land with fire and determination. He is now on vacation in Europe and he continues to plan on being CG, III Corps until he retires in 18 months." Sau khi Tướng Trí vận động thành công được phép hồi hương, ông liền xuống nằm tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 với Tướng Hiếu. Tướng Trí hăm dọa làm dữ với lực luợng hùng hậu của Sư Đoàn 5. Tổng Thống Thiệu buộc phải nhượng bộ và trả lại ghế Tư Lệnh Quân Đoàn III cho Tướng Trí.

Sau khi Tướng Trí chết, Thiệu tìm cách bứng Tướng Hiếu ra khỏi Sư Đoàn 5. Thiệu càng sợ Tướng Hiếu hơn nữa khi, sau cuộc triệt thoái Snoul cuối tháng 5 năm 1971, Tướng Nguyễn Văn Minh rỉ tai Thiệu là Tướng Hiếu lợi dụng Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III được tăng phái cho Chiến Đoàn 8 rút về Lộc Ninh, toan tính dùng lực lượng thiết giáp đem về Sài Gòn đảo chánh, theo lời kể của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi.

Tháng 6 năm 1971, Tướng Hiếu bị đẩy ra Vùng I với một chức vụ ngồi chơi xơi nước, phụ tá cho Tướng Hoàng Xuân Lãm. Sau đó, vào tháng 2 năm 1972, Tướng Hiếu được đưa ra khỏi lãnh vực quân sự với chức phụ tá cho Phó Tổng Thống Hương đặc trách bài trừ tham nhũng.

Bỗng dưng, vào tháng 12 năm 1973, trước sự ngạc nhiên của mọi người kể cả của đương sự, Tướng Hiếu được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III, do sự yêu cầu của Tướng Phạm Quốc Thuần. Tướng Thuần cần một tướng giỏi về chiến thuật và chiến lược để cáng đáng việc trọng yếu bảo vệ vùng thủ đô Sài Gòn. Thiệu cẩn trọng không cho Tướng Hiếu có quân trong tay trong chức vụ tư lệnh phó dưới quyền của ba Tư Lệnh mà ông nắm chắc không tạo phản: Thuần, Đống và Toàn.

Nhưng rồi khi thấy giới chức Mỹ lân la gần gũi thân mật đặc biệt với Tướng Hiếu, Thiệu bắt đầu đa nghi, nhất là khi bị chính phủ Mỹ áp lực từ chức đến ba lần.

Tướng Hiếu thường lui tới nhà lầu Frankbleau của Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, một câu lạc bộ dùng làm nới hội họp và tiêu khiển dành cho các giới chức cao cấp Mỹ. Các sĩ quan cao cấp Việt Nam tại Quân Đoàn III cũng được phép xử dụng câu lạc bộ này, đặc biệt là các sĩ quan thuộc Không Đoàn 3 Biên Hòa, tỉ như Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh, Đại Tá Nguyễn Văn Tường, Tư Lệnh Phó, Đại Tá Nguyễn Văn Lê, Tham Mưu Phó Hành Quân cũng thường tới đây xem chiếu bóng, uống rượu và nhẩy đầm. Các sĩ quan không quân thường uống rươu đến say mèm; Tướng Hiếu thì tuyệt đối không khi nào thấy uống hơn một ly rượu mạnh. Tướng Hiếu thích xem phim loại Hawaii Five-O và đặc biệt là đã yêu cầu trình chiếu phim Cầu Sông Kwai, đến năm lần và tấm tắc khen viên sĩ quan chỉ huy trưởng Anh quả là có khí khái anh hùng. Ngoài ra, Tướng Hiếu rất thường xuyên được ông Tổng Lãnh Sự Mỹ Richard Peters mời về tư dinh dùng cơm tối, đánh cờ, uống trà và bàn bạc tán gẫu.


Với Tổng Lãnh Sự Mỹ Walkinshaw tại câu lạc bộ Frankbleau

Tướng Hiếu thường đáp lễ rủ ông Peters đi bắn súng tại xạ trường ở Lai Khê. Ông Peters có dịp chứng kiến Tướng Hiếu trổ tài thiện xạ và khả năng xử dụng được cả hai tay trái phải.

Tướng Hiếu dư biết là những lần giao dịch với các giới chức Mỹ của mình đều bị cơ quan an ninh của Thiệu theo dõi sát nút.

Khi thấy Tướng Đống trao toàn quyền hành sử tại Quân Đoàn III cho Tướng Hiếu và nhất là khi Tướng Đống đòi đem Sư Đoàn Dù từ Vùng I về cứu nguy Phước Long, Thiệu thay Tướng Đống với Tướng Toàn cho chắc ăn.

Ngày 2 tháng 4 khi cần thiết lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương tại Phan Rang, thoạt đầu Thiệu cử Tướng Hiếu ra gặp Tướng Phú tại Lầu Ông Hoàng để sát nhập tàn quân của Quân Đoàn II vào Quân Đoàn III, nhưng rồi khi sực thấy Tướng Hiếu có quân trong tay, liền rút Tướng Hiếu rút trở về lại chức vụ không quân, thay vào đó Tướng Vĩnh Nghi được đề cử ra lập phòng tuyến Phan Rang. Khi gặp lại Tướng Hiếu ở Biên Hoà, Tướng Phạm Quốc Thuần lấy làm ngạc nhiên hỏi: "Ủa, mới đây vừa thấy toa được đổi ra Phan Rang mà lại sao lại trở về đây vậy?" Tướng Hiếu chỉ trả lời với một cái cười trừ muốn hiểu sao thì hiểu.

Thiệu càng hoảng sợ hơn nữa khi thấy Tướng Weyand, sứ thần Tổng Thống Ford phái sang nhận định tình hình, chỉ gặp Tướng Hiếu suốt cả buổi sáng ngày 4 tháng 4 năm 1975, có sự hiện diện của Tướng Smith và Đại Tá LeGro, Tư Lệnh và Sĩ Quan Tình Báo DAO, mà không gặp Tướng Toàn (xem Phúc Trình Lượng Định Tình Hình Việt Nam). Chỉ có ông Clinton E. Granger, một thành viên của phái đoàn Weyand, gặp Tướng Toàn thôi (xem Tình Hình Việt Nam Tháng 4/1975).

Ngày 6 tháng 4, đang trên lộ trình đi thị sát các đơn vị chiến đấu, Tướng Hiếu được Tướng Toàn thông báo là Tổng Thống muốn gặp ngay lập tức tại dinh Độc Lập. Liên quan đến buổi họp này, Thu Lâm kể trong cuốn Fallen LeavesBác Hướng đã nói với Xuân là sáng hôm đó anh Hiếu đã từ chối che đậy cho hành vi tầm bậy của một trong những đàn em của ông Thiệu. Anh Hiếu cũng công khai chống đối chính sách rút quân ra khỏi những vùng chiến thuật của ông Thiệu, "nhượng bỏ đất đai cho Cộng Sản". Trong buổi họp này, theo Charles Lahiguera, Phó Tổng Lãnh Sự Biên Hòa, Tướng Hiệu “khuyến cáo, nếu Mỹ không chịu can thiếp trở lại theo lời hứa của Tổng Thống Nixon thì nên đầu hàng để tránh đổ máu quân lính cách vô ích”.

Về phía giới chức Mỹ khi thấy Thiệu manh nha muốn loại khử Tướng Hiếu, họ đề nghị nhiều lần đưa Tướng Hiếu và gia đình bằng trực thăng ra Đệ Thất Hạm Đội. Nhưng Tướng Hiếu đều từ chối và nói với thân phụ: “Con sẽ không ngừng chiến đấu, con sẽ không để ông Thiệu bịt miệng, con sẽ chết trong tư thế chiến đấu, ngoài mặt trận hay ngay tại văn phòng, con sẽ không bỏ cuộc đến khi đổ giọt máu cuối cùng. Con thề danh dự như vậy."

Các di chuyển đường bộ của Tướng Hiếu được các nhân viên an ninh của cơ quan tình báo Mỹ âm thầm đi theo bảo vệ. Mỗi khi từ Biên Hòa về Sài Gòn thăm gia đình, Tướng Hiếu thường tự lái xe ẩn tế với chỉ duy viên tài xế trung sĩ ngồi bên cạnh mà không sợ Việt Cộng ám sát; Tướng Hiếu được khuyến cáo tạm đình chỉ lối di chuyển đầy bất trắc này. Anh em bên Không Đoàn 3 cũng đặc biệt cẩn mật về mặt bảo trì và canh giữ trực thăng riêng của Tướng Hiếu.

Mặc dù biết là vận mạng mình có bề nguy cơ, nhưng Tướng Hiếu vẫn thản nhiên lo công việc chuẩn bị đối ứng với thế tấn công áp đảo của Cộng Quân, Tướng Hiếu hé mở cho giới chức Mỹ khái niệm phản công của mình : “Ông đã nghiên cứu học hỏi chi tiết chiến trận Hồng Quân đánh bại cuộc xâm lăng của các lực lượng Đức Quốc Xã tại Nga trong Đệ Nhị Thế Chiến và ông hiển nhiên thán phục thành quả của Quân Đội Nga.”

Một người thì lo cứu nước, người kia thì lo giữ lấy ghế tổng thống.


Tướng Hiếu - Tướng Lữ Lan - Tướng Toàn
BTL/QĐIII tháng 4 năm 1975

Khi thấy không thuyết phục được Tướng Hiếu cùng gia đình đi lánh nạn, giới chức Mỹ đề nghị Tướng Hiếu đeo cây bút viết mực hiệu Cross có cài đặt bộ phận điện tử truyền âm thanh trong túi áo để phòng thân. Chính nhờ cây bút này mà giới tình báo Mỹ biết được thời điểm và cách thức Tướng Hiếu bị sát hại. Đâu ngờ là quân gian dùng tới một tay sát thủ có điều kiện hành động giữa thanh thiên bạch nhật, ngay tại văn phòng, trong lúc các sĩ quan làm việc tại Bộ Tư Lệnh có mặt đông đủ tại bản doanh trước giờ ăn trưa.


Ghi chú: Cơ quan tình báo Mỹ có lập một hồ sơ thu thập các dữ liệu về vụ "trừ khử các tướng lãnh quân đội bạn trên căn bản chính trị". Hồ sơ này thuộc loại "tối mật" được lưu trữ tại cơ quan tình báo gốc, chứ không được chuyển qua các Văn Khố Quốc Gia, nơi lưu trữ các tài liệu đã được tự động giải mật sau hạn định 25 năm. Nếu có vụ kiện cáo, may ra quan tòa có thể buộc cơ quan tình báo trưng ra các dữ liệu tang chứng này chăng?

Nguyễn Văn Tín
Ngày27 tháng 6 năm 2015

Cập nhật ngày 13/7/2015

Cựu Tổng Thống Thiệu Trả Lời Về Cái Chết Của Tướng Hiếu
Vén Màn Bí Mật về cái Chết Tướng Hiếu
Tại Sao Tổng Thống Thiệu Giết Tướng Hiếu?
Một Số Bàn Tán về Tin Thủ Phạm Giết Tướng Hiếu
Con Cờ Tướng Hiếu Trong Thế Cờ Tổng Thống Nhà Nam
Nỗi Khổ Tâm Của Tướng Hiếu
Một Cái Chết Bí Ẩn

generalhieu