Showing posts with label trại llđb vĩnh thạnh. Show all posts
Showing posts with label trại llđb vĩnh thạnh. Show all posts

Saturday, March 14, 2026

 

HỒI ỨC VỀ TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VĨNH THẠNH*

*Thời điểm của sự kiện này, năm 1965, đại úy Từ Vấn, là chỉ huy trưởng các trại LLĐB trong tỉnh Bình Định, sau này ông là đại tá tư lịnh phó của sđ 5 bộ binh.

Chuyển ngữ từ sách: Protected Will Never Know của Leigh Wade.

=========

CHƯƠNG 8

. . .

Tối hôm đó, sau bữa ăn, chúng tôi đã họp toán và Durr và Emert đã nói với chúng tôi rằng họ đã biết phần nào về nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ thay Toán A-122 của đại úy Myers. Toán này đang ở Trại Tuy Phước, trên quốc lộ (QL-19). Tính tới thời điểm đó, trại Tuy Phước của toán A-122 đã tham gia nhiều trận đánh nhằm khai thông quốc lộ 19, chạy từ thành phố Qui Nhơn ven biển tới tp Pleiku ở Cao nguyên Trung phần.

Quốc lộ 19, đặc biệt đoạn chạy ngang đèo Mang Yang nổi tiếng vì nguy hiểm, đã từng là địa điểm của nhiều trận đánh từ thời Pháp. Phần lớn các quân nhân của lực lượng đặc biệt (LLĐB) đều nghiên cứu thảm họa từng đổ ập xuống Chiến đoàn Lưu động 100 của Pháp khi họ bị phục kích trên đường này năm 1954. Chỉ 7 tháng trước khi chúng tôi đến vùng này vào tháng Mười, khu vực chung quanh Mang Yang lại lần nữa là bãi chiến trường ác liệt giữa biệt kích quân của LLĐB và quân chính quy CSBV và VC.

Trại Tuy Phước nằm ở phía đông của Đèo Mang Yang, trên một bình nguyên, trong một khu vực mà mùa hè 1965 được xếp hạng "đã bình định". SĐ 1 Không Kỵ vừa dời đến An Khê, và các phần tử của sđ Mãnh Hổ Đại Hàn đang bắt đầu tới Qui Nhơn. Trừ những cuộc phục kích có tính quấy rối thỉnh thoảng xảy ra trên QL-19, quân CSBV và VC, giờ đây đã bỏ ý định kiểm soát đường này và chuyển xa về phía bắc, sâu hơn vào núi và thung lũng.

Nhiệm vụ của chúng tôi, đại úy Durr nói, là sẽ giao trại Tuy Phước cho quân Đại Hàn, và lập một trại mới ở một địa điểm nguy hiểm hơn ở tây bắc An Khê. Khu vực này có tên chính thức là thung lũng Vĩnh Thạnh.

Ngày kế, toán chúng tôi tách làm hai, phân nửa bay trực thăng tới toán B ở Qui Nhơn, phần còn lại bay bằng C-130 tới toán C ở Pleiku. (Theo tổ chức của LLĐB, mỗi quân khu của VNCH có một toán C, chỉ huy các toán B đặt tại các tỉnh. Mỗi toán B chỉ huy các toán A (gồm 12 người), đặt tại các trại trong phạm vị tỉnh.--Người dịch). Những người tới Qui Nhơn sẽ gặp đại diện của toán A-122, để thuyết trình tại toán B, kế đó tất cả chúng tôi sẽ bay bằng trực thăng tới Pleiku, sau đó đi xe tải tới trại Tuy Phước.

Tôi đi với toán Qui Nhơn để tôi có ký một số văn kiện mật tại đó. Qui Nhơn là một tp ven biển khác, tôi đã thấy lần đầu vào mùa hè 1965, tp vẫn còn yên tỉnh, dù một vài dấu hiệu của việc đổ quân Mỹ đang diển ra. Qui Nhơn ko đẹp như Nha Trang, nhưng phong cảnh vẫn hữu tình, với một bãi biển đẹp cát trắng.

Chúng tôi đã gặp các đại diện của A-122 gồm đại úy Myers và trung sĩ nhứt Prinn ở BCH của toán B. Toán B nằm ngay trên đường chạy dọc bờ biển và kế trụ sở của chi nhánh của Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, viết tắt là MACV. (Nói thêm: Theo BĐQ Nguyễn Tiến Qua, thời điểm 1965, đại úy Từ Vấn là chỉ huy các toán LLĐB của VN trong các trại trong lãnh thổ tỉnh Bình Định. Trong hồi ký Đường Về Gia Nghĩa của thiếu tá Vương Mộng Long, năm 1974, ông Vấn chỉ huy liên đoàn 24 BĐQ; năm 1975, ông là TL phó của SĐ 5 bộ binh. -- Người dịch). Muốn vào nơi làm việc của toán B LLĐB, chúng tôi phải đi qua cổng do MACV kiểm soát, và đây điều chúng tôi luôn khó chịu. Nhân viên của MACV tự coi họ là REMF, tiếng lóng trong quân đội Mỹ để mỉa mai những người lính làm việc ở văn phòng hay hậu cứ, và họ thích nghĩ rằng Qui Nhơn là một hậu cứ an toàn và ko cho phép người của họ ra vào khu vực này mà mang vũ khí. Toán B của chúng tôi, đang yểm trợ một số toán A đóng tại các khu vực rất nguy hiểm, và khi người chúng tôi về phố thị, họ mang theo súng đạn, lựu đạn, dao. Các nhân viên của LLĐB Mỹ thường tháp tùng bởi một toán lính Thượng ăn mặc lôi thôi (disreputable), võ trang đầy mình. Ít nhứt có một lần, chúng tôi nghe nói, xảy ra lộn xộn tại cổng MACV liên quan đến người của chúng tôi.

Toán A mà chúng tôi thay thế đã mướn một nơi gần biển cho các thành viên của họ ở khi họ đến tp này. Họ gọi những nơi này là "nhà an toàn" (safe house) và trung sĩ Prinn đã đưa chúng tôi đến nhà an toàn của họ, giới thiệu chúng tôi với bà chủ nhà, và chúng tôi ký hợp đồng.

Căn hộ này nằm trên tầng hai của một tòa nhà hai tầng, có rào. Bà chủ nhà và gia đình ở tầng trệt. Nhà có sân thượng và cầu thang lên sân thượng. Có một ga-ra nhỏ nơi một xe jeep có thể đậu an toàn mà ko bị đặt bom. Căn hộ có hai phòng ngủ và một nhà tắm, chứa được 2-3 người.

Các thành viên của A-122 cũng giới thiệu vài hạ sĩ quan làm việc cho một đv tiếp vận trong tp. Các hàng kỷ vật chiến tranh như cờ VC và vũ khí được xem là một món hàng ưa thích nhứt ở các đv lo về hậu cần và được trao đổi để lấy thực phẩm và thuốc lá. "Chúng tôi có một thợ may ở ngay bên ngoài cổng làm cờ cho chúng tôi,"Prinn nói,"do đó bạn ko bao giờ hết cờ. Bạn có thể có một thùng bò hầm (steak) cho hai lá cờ."

Nhưng chúng tôi ko ngủ đêm ở Qui Nhơn, nhưng đi trực thăng vào buổi chiều để đến Pleiku.

Sáng hôm sau, chúng tôi thực tập nhẩy dù, và buổi chiều dự thuyết trình. Khi chờ nghe chi tiết về trại dân sự chiến đấu (DSCĐ) Tuy Phước mà chúng tôi sắp đáo nhậm, tôi đã thất vọng khi nghe rằng sẽ ko làm việc với người Thượng, như tôi hy vọng. "Trại này sẽ xa hơn về phía đông,"Myers nói.

CHƯƠNG 9

Sáng ngày kế chúng tôi đã leo lên những xe GMC loại 2 tấn rưởi để theo quốc lộ (QL-19) về trại mới của chúng tôi. Sàn xe được lót bằng bao cát để chống mìn, và tất cả vãi bố và thành xe (sideboard) đã được gở. Một cây bằng thép (neck-wire catcher), xem hình, được hàn ở cản trước (frond end), để cắt dây kẽm do địch giăng ngang đường nhằm giết người ngồi hay đứng trên xe. Toán C đã cho một tiểu đội an ninh trại người Thượng tháp tùng chúng tôi trong chuyến đi này.

Chúng tôi đi ở cuối đoàn xe, vũ khí trong thế phản phục kích, xe bắt đầu hướng về phía đông đến đèo Mang Yang. Như tôi đã viết, dù đường lúc này được xem là "an toàn", thỉnh thoảng (occasionally) vẫn có những cuộc phục kích dọc đường này, và đường này từ lâu đã nổi tiếng là một cái bẫy chết người khiến chúng tôi luôn lo lắng.

Khi chúng tôi đi ngang căn cứ An Khê nơi đặt BTL của sđ 1 Không kỵ, đường bắt đầu đổ dốc xuống đèo, nguy hiểm càng lúc gia tăng. Đây là nơi lý tưởng để phục kích. Những ngọn đồi dốc đứng và đầy cây cối bị sương mù (mist) che lấp sừng sửng hai bên đường. Có nhiều khúc cua "cùi chỏ" (switchback) và những điểm mù khác nơi mà một người với một súng chống tăng có thể chận (hold off) một đội xe cơ giới. Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những gì còn lại của các trận đánh trước, mà mới nhứt là một chiếc C-123 thả hỏa châu rơi vài tháng trước đó.

Khi qua khỏi đèo này, đường đã thẳng trở lại và lưu thông gia tăng. Chúng tôi đi ngang những toán lính chính phủ đóng ở nhiều đồn dọc theo đường, và dân địa phương ở những làng nhỏ mà chúng tôi đi qua có vẻ thân thiện, dù điều này phần nào là một ảo tưởng (illusion).

Chúng đã nghe trong một buổi thuyết trình về một biến cố (incident) gần đây liên quan đến một sĩ quan và hai hạ sĩ quan (NCO) Mỹ tại một trong những làng "thân thiện" này. Một buổi chiều cách đây vài tuần, họ đã đậu xe jeep trước một nhà hàng nằm trên đường này để ăn trưa. Khoảng nửa giờ sau, họ lên xe, chạy khoảng 200 mét thì xe nổ thành một quả cầu lửa, giết chết cả ba người.

"Điều mà Việt Cộng đã làm," viên sĩ quan Phòng 2 nói với chúng tôi, "là dùng băng keo dán chung quanh chốt an toàn của một quả lựu đạn, và thả lựu đạn vào bình xăng của xe quân sự Mỹ. Chỉ sau một lát, xăng sẽ làm lỏng keo của băng dán và chốt an toàn được nhả ra, khiến lựu đạn nổ. Chuyển động của xe gia tăng tác động của xăng đối với băng keo, do vậy thường có ai lái khi xe bị nổ."

Để chống lại điều này, lưới được hàn ở miệng bình xăng, nhưng phải cần thời gian để làm điều này. Trong khi đó, có khuyến cáo rằng ko xe nào đậu ở khu dân cư, mà ko có người bảo vệ, dù dân có mỉm cười và nói, "Number-one!" 

...

SJ ngày 14/3/2026.

Tài Trần


 

Monday, April 22, 2024

 Sitting on the edge of his foxhole on LZ Hereford, Staff Sgt. Robert Kirby watches as Captain Warren leads three platoons from his rifle company off the mountain and down a steep slope in search of the enemy. When the last man disappears over the rim, Kirby checks his watch. It is 1:40 p.m. In less than 45 minutes, his mortar platoon is to be airlifted off Hereford to LZ Savoy, where it will continue providing fire support for Charlie Company.

Tasked to occupy a company-size defensive perimeter with only 19 men, Kirby figured the best way to do this was to form a U-shaped defense and place two men into every third foxhole. This, however, left the top of the horseshoe open.

SPREAD TOO THIN

Knowing his men are spread too thin, Kirby, a 29-year-old native of South Los Angeles, scans the perimeter from his foxhole at the bend of the horseshoe, beginning with the gun crew directly behind him. Inside the pit is gunner Sergeant Charles Gaines and Spc. 4 Austin Drummond, a former Golden Gloves champion with fast hands—perfect for dropping rounds into the mortar tube. Sergeant Isaac Johnson sits on the ground nearby with a plot board on his lap. The gun crew is ready to place supporting fire when and where company commander Warren calls for it.

Most of the mortar platoon men have been together since Ft. Benning, Ga., but a few are replacements who have never been in battle, so Kirby has no idea how they will react under fire. One of the new men is Spc. 4 David Crocker, a 21-year-old medic who sits a few feet from Kirby reading a paperback, his medical bag ready at his side.

In the foxhole next to Kirby’s is his longtime radio telephone operator (RTO), Spc. 4 John Spranza, who is the platoon’s link to the outside world and is never more than an arm’s length away from Kirby. Communications are unreliable because of the high mountains and deep valleys. “How’s the commo?” asks Kirby. “So far so good,” answers Spranza, “but who know for how long.”

Kirby focuses on the western section of the perimeter. Holding down the most forward position at the top of the open horseshoe are two men who have fought bravely in previous firefights, privates Lonnie “Sleepy” Williams, whose deep sleep often resulted in heavy snoring, and Clarence “Gomer” Brame, a good-natured hillbilly who looked and acted like TV’s Gomer Pyle.

Two empty fighting positions below them are combat vets Robert “Radar” Roeder and Pfc Harold Mack Jr. In a fierce firefight a few months before, Kirby had been wounded and pinned down when the 18-year-old Roeder, ignoring heavy fire, ran out and pulled him to safety. Mack and Roeder have been close friends ever since airborne school.

In the last defensive position on the western side, Kirby assigned a competent and respected leader, Sergeant Louis Buckley, with Pfc Henry Benton, who joined the platoon only two weeks ago. Kirby knows little about Benton and the two new privates covering the southern sector a few yards away from Kirby’s position, Joel Tamayo and James Francis Brooks Jr., both of whom joined the platoon just a few weeks earlier.

“WRITE A STORY ABOUT DEATH”

Kirby decides to walk the eastern side of the perimeter, but before he goes, he tells Buckley to collect and stack water cans, food containers and other equipment in preparation for the helicopter pickup. “Roger that, Sarge!” says Buckley as he springs into action. As Kirby walks away, he hears Spranza take the first call for reconnaissance fire in advance of the company’s movement in the valley below.

Sitting in the nearest position to Kirby’s on the eastern sector is Spc. 4 A.V. Spikes, who is complaining about something to Pfc Wade Taste. “Spikes, stop bitching and keep your eyes open,” warns Kirby as he approaches. Spikes, 26, a seven-year veteran whose disregard for authority is well known, looks at Kirby but says nothing. Kirby orders 18-year-old Taste to help Buckley, who is already picking up scattered cans and containers.

Kirby moves to the next position where Look magazine correspondent Sam Castan is interviewing Spc. 4 Daniel Post and Pfc Robert Benjamin. Castan came out to the field the day before to “write a story about death.” He had chosen to stay on at Hereford with the mortar platoon rather than travel with the company. Post, known as the platoon’s practical joker, feeds Castan mischievous responses while Benjamin only responds in “yes” or “no” answers.

Kirby queries the two troopers on what they will do if attacked. They tell him they plan on throwing hand grenades down the rocky precipice below their position and fire interlocking fires with the positions on their right and left. Satisfied, Kirby heads for the most forward position at the top of the eastern sector, manned by Paul Harrison and Charles Stuckey, both battle-tested specialists. Harrison and Stuckey have established interlocking fires across the open end of the U-shaped perimeter with Williams and Brame on the western side.

On the way back to his position, Kirby nods to Sgt. 1st Class Edward Shepherd sitting on the rim of a foxhole not far from the mortar pit. Shepherd, 38, is the only soldier there who is not in the mortar platoon. He stayed behind to catch a helicopter to An Khe, where he is to appear before a promotion board.

Kirby sits on the edge of his foxhole and watches Spranza talking on the radio with Captain Warren, who is calling in a correction on where to place another mortar round. Spranza yells back the correction to the gun crew, and it then fires a few more rounds.

Shortly after 2 p.m., Warren radios Spranza that the helicopters are on the way, and the word spreads from hole to hole. What Warren does not know is that the helicopters are actually delayed and are still sitting on the ground at LZ Savoy in the valley.

THE ENEMY IN THE GRASS

Around 2:15, five minutes before the anticipated arrival of the helicopters, Stuckey spots three well-camouflaged North Vietnamese Army (NVA) soldiers watching him from the elephant grass. He opens fire with his M-16, and Harrison joins in. The three enemy drop, either dead or wounded.

Then, in the next instant, a massive volume of automatic and small-arms fire is unleashed from the high ground to the north and a ravine to the east. Shepherd, sitting on the rim of his foxhole, is killed in the first volley.

Within seconds, rocket-propelled grenades (RPGs) and mortar rounds explode near each occupied position. The men burrow deep into their foxholes under the terrifying cacophony of shrapnel slicing the air and bullets cracking overhead. The platoon is surrounded, outmanned and outgunned.

Kirby yells to Spranza to radio Warren and tell him they are under attack and need immediate air and artillery support. A stunned Warren acknowledges, immediately calls battalion for fire support and orders his company to turn around and head back up the hill.

In the open, stacking equipment, Taste falls to the ground with two bullets in the throat. Buckley, his shoulder covered in blood, dashes across the open perimeter, screaming: “Get off the hill! Get off the hill!” and disappears into the elephant grass.

Harrison yells for Stuckey to go to the mortar pit while he stays behind to hold off the enemy. Stuckey takes a few more shots at the enemy, turns and zigzags for the mortar pit when an RPG round explodes in front of him, throwing him to the ground. After the shrapnel and dirt stop falling, he raises his head and looks to where Post and Benjamin had been trying to make an escape. Both are dead. He sprints toward a large rock just outside the perimeter.

AS HE TURNS AROUND THE CORNER OF IT, HE ENCOUNTERS AN ENEMY SOLDIER ABOUT TO THROW A GRENADE INTO THE LZ.

Spotting Stuckey, the NVA tosses the grenade directly at him instead. The grenade sails over Stuckey’s head, hits the rock behind him and explodes, wounding him. Managing to stay on his feet, Stuckey fires three rounds into the NVA’s chest, killing him instantly. Stuckey then moves around the rock face, finds a narrow crevice and squeezes into it, hidden from the enemy.

Paul Harrison, slapping magazine after magazine into his rifle, fires at every charging enemy soldier he can see. When he runs out of ammunition, he jumps up from his foxhole and charges the NVA using his M-16 as a club, cracking a few heads before the blood-covered rifle slips from his hands. He then wades into the enemy with his fists until he falls dead from dozens of bullets.

As North Vietnamese troops burst through the elephant grass, Spranza opens up with his M-16 on full automatic, tearing three of them apart. He manages to fire off a few more shots before RPG rounds, visible in their slow trajectory, plunge toward the mortar pit. One round slams in front of Spranza’s foxhole, showering his back with shrapnel. Another explodes to his left, killing “Doc” Crocker instantly. The third round sends shrapnel into Kirby’s arms, head and chest. The last round hits the rear lip of the mortar pit, tearing off Drummond’s right arm and mangling his left leg. He dies in a pool of blood. Gaines is killed with a bullet through his head.

ESCAPE AND EVADE

Johnson, the only gun crew member still alive, takes shrapnel in the face but continues firing on the advancing enemy. As attackers fall, others jump over them, running toward Johnson, who keeps firing until he is out of ammunition. He makes a running dive at the rocky embankment on Hereford’s southern edge and rolls down the slope, careening off rocks and over tree roots until finally coming to stop. He spots a V-shaped depression hidden by thick vegetation with a stream running through it. He pulls himself into the stream and gathers brush and vines to hide his body, gripped with fear and exhaustion.

On the western perimeter, Williams and Brame frantically fire their M-16s on full automatic at the waves of NVA, as do Roeder and Mack. A few NVA fall dead but most brave the wall of fire, overrunning the forward position and killing Williams and Brame before turning toward Roeder and Mack. Mack pops up to get a better shot when he takes a bullet in the head, crumbling back into the foxhole dead. Roeder fires his M-79 until he runs out of ammunition, then picks up Mack’s M-16 and continues firing until it too is empty. He throws two grenades at the charging enemy, forcing them to fall back, then jumps out of his fighting position and heads for Benton’s foxhole. When he tumbles in, he finds Benton dead. He crawls out and with bullets trailing his every step, races over to the foxhole of Brooks and Tamayo, but they are dead as well.

The western defense has crumbled. Figuring everyone else is dead, Roeder does what he was trained to do: escape and evade. He tears down the side of the hill into the elephant grass, followed by several of the enemy. With bullets zipping over his head, he runs deeper into the elephant grass as fast as he can until he is overcome by exhaustion and drops to the ground. When his gasping for air subsides, he realizes the enemy is no longer following him.

HE STAYS HIDDEN, SILENTLY PRAYING THAT HE WILL BE SPARED.

Still in his hole, Spranza sees a figure running right toward his position. He fires off a quick burst, somehow missing his target. “Don’t shoot for God’s sake! It’s me!” Sam Castan screams as he drops into the foxhole. The reporter looks over at Kirby and yells, “We need to get the hell out of here!” Kirby shouts back: “Where? We’re surrounded!”

“Get Six on the horn,” Kirby tells Spranza. “Tell him to hurry or we’re all dead.” Spranza screams into the handset, “Please hurry, we’re being overrun!” But Warren doesn’t get the transmission, as communications between Hereford and the company no longer exist. Spranza turns to the artillery frequency and repeats the message. The artillery RTO passes the call on to Warren, who now pushes his company even more, ordering his men to double-time up the hill, a murderous pace in the mud and tangled vines.

By this time, the battalion executive officer, Major Otto Cantrell, is circling above Hereford in his OH-13 observation helicopter, and Colonel Beard is watching the battle from his command and control Huey. The swarm of enemy they see below is so intermingled with the mortar platoon, neither officer can distinguish who’s who. Rather than kill the defenders by mistake, Beard holds off on the artillery requested by Kirby.

“WE’VE GOT TO MAKE A BREAK FOR IT”

Staff Sgt. Robert Kirby, a 29-year-old native of South Los Angeles.

Meanwhile, Kirby sees four enemy crawling toward his position less than 15 feet away and tosses three hand grenades as fast as he can, stopping their advance. Kirby now realizes Castan is right—their only chance for survival is to get off the LZ. He cups his hands to bark the order when the badly wounded Taste suddenly drops into his foxhole. Kirby quickly ties a dressing on Taste’s bleeding throat wounds and yells over the enemy fire: “We’ve got to make a break for it. Call arty in on the hill.” Spranza reaches the artillery net, shouting into the handset: “We’re getting out of here. The place is covered with enemy. Just about everybody is dead.” He’s told the artillery is on hold.

With bullets kicking up dirt all around them, Kirby and Taste low-crawl over to Spranza and Castan. “We’ll go over the rim in the direction the company will be coming back,” hollers Kirby. “Let’s go!” As Spranza struggles with his radio while he climbs out of his foxhole, Kirby screams: “Forget the radio! Blow it!” Spranza pulls the pin of a hand grenade and throws it into the hole with the radio.

The three soldiers and Castan move quickly away from the blast and a few steps later come across a wounded A.V. Spikes, clutching his M-79. Kirby and Spranza have their M-16s but very little ammunition. Castan, who is also wounded, has a .357 Magnum that Kirby gave him. Taste is unarmed. The five wounded men now move toward the slope descending into a deep ravine to the east. Kirby, Taste, Spikes and Castan run, crawl and roll into the elephant grass while Spranza acts as the rear guard, before rolling down the hill to join them.

As they reach a small ravine, they hear the enemy coming down from the LZ in hot pursuit. They lie down. Figuring the Americans are hiding, the NVA begin beating the grass. The first North Vietnamese to spot the Americans is shot in the face by Spranza. Kirby kills another standing nearby. Spikes fires his M-79 into the group, killing five. Two others crawl away wounded.

Seconds later, another group of North Vietnamese spray the ground around the Americans. Spranza takes three bullets in his right leg, one smashing into his kneecap, severing the tendon. Another bullet rips through his left leg. “I’m hit!” Spranza screams as he falls in a heap on the jungle floor. Kirby sprays the advancing enemy with the last of his ammunition, causing them to retreat. When he bends down to check on Spranza, a bullet smashes into his right arm. He is now losing blood from many wounds. Kirby eyes an NVA peeking over the grass and pulls out a rusty French flare gun he’d found on an old battlefield and fires, hitting him between the eyes. The soldier falls backward, screaming in agony as his flesh burns away. In the meantime, Taste silently bleeds to death from his throat wounds.

Hearing something behind him, Spranza spins around just as a bullet enters the back of his skull, travels through his jaw and exits out of his nose, tearing away cartilage, teeth, tissue and skin. Eyes filled with blood, Spranza goes down, badly wounded but somehow still alive.

Possibly to regroup, the enemy stops firing. Kirby tells everyone to head farther down the ravine. Quietly the four survivors crawl, then walk down the slope. With help from Kirby and Spikes, Spranza manages to keep up. Feeling somewhat safe with the NVA about 100 yards behind, they move a little faster. Suddenly, spotting a small group of enemy coming up a trail to their flank, Spranza signals to get down. Castan does not see Spranza’s warning and keeps going, running straight into a group of North Vietnamese coming from another direction. One of the NVA shoots Castan in the head, killing him. The enemy now opens fire into the grasses from two sides. Spikes takes several bullets in his chest. Kirby checks his pulse, but he cannot find one.

THE LAST SURVIVORS

The North Vietnamese troops slowly wade through the grass toward Kirby and Spranza. Kirby is out of ammo. Spranza’s rifle has jammed, but he has two grenades left and he gives them to Kirby, who tosses them into the advancing enemy. Just then, friendly artillery rounds begin pounding LZ Hereford. The deafening explosions stop the enemy’s advance. Kirby and Spranza take advantage of the situation and begin to move slowly back up the hill, but it is too much for Spranza. “Go without me,” he gasps, “I can’t move any further. I’m dying.”

“I’m not leaving you alone,” says Kirby. “Go now!” Spranza yells, “Save yourself. I’ve made peace with my Lord. Just go!”

Kirby, believing Spranza will die for sure, reluctantly accedes to his RTO’s demand and crawls away, back toward Hereford.

Spranza, although growing weaker from loss of blood, finds the will to take off a scabbard knife strapped to his leg by a leather thong. He places the knife on the ground next to him and uses the rawhide as a tourniquet to stop the bleeding in his right leg. He then somehow manages to open his first-aid kit, finds a gauze bandage and begins wrapping it around his head and eye. Before he can finish, however, he hears the rustling of men coming toward him through the grass. He takes his knife into his hand and rolls over facedown into the dirt. Playing dead, Spranza doesn’t move a muscle as three or four NVA slowly approach. He smells their bodies and stale breath as they search him for anything of value. One man turns him over and roughly strips off his signet ring. Others take his wallet, cigarettes and dog tags. Unable to stay motionless another second, he is about to jump up with his knife when he hears a helicopter rapidly descending. It sprays the ground with bullets, some so close they spatter dirt in his face. Screaming frantically, the NVA run for cover.

Still afraid to move, Spranza continues to play dead and seconds later he hears someone carefully moving toward him. He grips his knife a little tighter and when he feels a hand grab his shoulder, he musters all the strength he has left and tries stabbing the man. But the large, shadowy figure, backlit by the sunlight drifting through the trees, quickly grabs Spranza’s knife hand, screaming: “Hey! It’s me, Carlos! Carlos Cruz!” Charlie Company had made it back up the hill. The last of his energy drained, Spranza lays down his head and slips into unconsciousness.

Kirby is halfway up the slope when the friendly artillery ceases falling. Uncertain what it means, he keeps crawling. His many wounds are taking their toll, but he keeps going until he reaches the top of the hill, where he sees Charlie Company troops everywhere. Unable to control his wounded body and his frayed emotions, he slides to the ground. A medic gives him a shot of morphine and stops his bleeding. When the wounded Stuckey comes crawling into the LZ, another medic rushes over, lays him down and treats his wounds. Spranza is carried up the hill in a stretcher made from ponchos, and shortly, he, Kirby and Stuckey are placed in a medevac helicopter and flown to Ah Khe.

Passing the medevacs flying out, helicopters begin delivering reinforcements who pile out onto Hereford. A look of horror passes over their faces at the sight of so much death and destruction. One soldier throws up.

Hearing the helicopters coming and going, Johnson, who got off the hill and evaded the enemy, slowly approaches the LZ only to face the muzzle of an M-16 held by Pfc Morgan. He drops to the ground out of relief when he is recognized by Morgan.

The last mortar platoon survivor to get back to the LZ is a dazed Roeder. A company platoon leader asks Roeder to identify the bodies, all of which have been stripped of personal effects and shot in the head. He is able to name a few before the weight of the massacre takes its toll. He cannot look at another dead friend. As he sits down, the afternoon monsoon rains begin pouring down out of the dark sky. Roeder shivers as the rain pelts his sobbing body. So much death in such a small place.

Michael Christy served in the 5th Special Forces Group in Vietnam in 1967-68. In 1970 he commanded C Company, 1st Battalion, 12th Cavalry Regiment, 1st Cavalry Division (Airmobile), and served as 3rd Brigade assistant operations officer.

Saturday, April 20, 2024

 MỘT CUỘC THẢM SÁT ĐƯỢC BÁO TRƯỚC TẠI BÃI ĐÁP HEREFORD








Lời mở đầu: "Ngày 21/5/1966, một trực thăng đáp xuống bãi đáp Hereford, hai sq nhảy ra và đã dẫm ngay một vũng bùn lớn. Một đại úy, râu tóc xồm xàm, giày đầy bùn, đeo súng M-16 ra đón họ. 
Cả ba kéo ra rìa của bãi đáp, đứng cạnh bãi cỏ voi để bớt nắng. Vị thiếu tá mở bản đồ và 3 người thảo luận về một nhiệm vụ. Đó là ĐT Rutland Beard, chỉ huy của TĐ 1/12 của sđ 1 không kỵ, thiếu tá William Roll, trưởng ban 3 và đại úy Don Warren, chỉ huy đại đội (đ.đ.) Charlie của TĐ này. Beard ra lịnh cho Warren để lại trung đội súng cối 20 người tại bãi đáp để yểm trợ cho đ.đ. tiến ra ngoài lục soát.
Warren nài nỉ rằng phải để lại ít nhứt một tiểu đội để bảo vệ trung đội này: "Thưa ĐT, trung đội này chỉ còn 1/2 quân số do bị sốt rét và chỉ trang bị súng M-16 và vài khẩu phóng lựu M-79. Nếu tôi để lại một tiểu đội thì họ có ít nhứt một súng liên thanh M-60 bảo vệ họ".
Beard trả lời trung đội này chỉ ở đây chưa tới một giờ trước khi được bốc sang một bãi đáp khác. Warren nhìn thẳng vào ĐT, "Mọi thứ có thể xảy ra trong một giờ, thưa ĐT." Bực tức vì thái độ gần như ko phục tòng này, Beard cảnh cáo: "Nếu đại úy ko làm theo lịnh tôi, ông sẽ gặp nhiều rắc rối hơn ông tưởng tượng. Hiểu chưa?"
Warren ngần ngừ một lúc trước khi trả lời rõ ràng:" Vâng, ĐT còn nói gì ko?" Beard trả lời không, và Warren quay gót để nói chuyện với các trung đội trưởng. Beard liếc nhìn Roll, lắc đầu và lên trực thăng.
Warren có lý do để lo lắng vì bãi đáp chỉ là một yên ngựa nhỏ có 165 m chiều dài và 45 m chiều ngang, bị vây quanh một phần bởi cỏ tranh cao lút đầu. Ông nghĩ một đ.đ. cũng ko thể bảo vệ bãi đáp này. Ngoài bãi cỏ tranh, nó được bao quanh bởi một địa thế hiểm trở, nguy hiểm nhất là đường đỉnh -- như dao cạo vươn về phía đông bắc hướng về phía một ngọn núi cao gần 1000 feet. Ở chân đường đỉnh, ranh giới phía bắc của bãi đáp bắt đầu hạ thấp cao độ đến rìa phía nam của bãi đáp.
Chỉ vì thái độ tắc trách (negligence) này của ĐT Beard mà sau đó trung đội súng cối đã gần như bị tàn sát, với 13 người chết và 9 mất tích -- sau đó có 3 người tìm về đv.
Muốn hiểu lý do tại sao bãi đáp Hereford được thành lập, chúng ta phải biết chuyện gì xảy ra trước đó sáu ngày tại trại LLĐB Vĩnh Thạnh, nằm ở phía đông của thị xã An Khê, nơi đặt BTL của sđ 1 không kỵ.
Sau đây là phần chuyển ngữ.

=================

"Một nhiệm vụ tìm-và-diệt địch ở vùng núi phía đông của Thung lũng Vĩnh Thạnh đã biến thành một trận đánh ác liệt và mở rộng--gây nhiều thiệt hại cho quân Mỹ và đối phương. 

Hai mươi lính dân sự chiến đấu (DSCĐ) người Hre (một sắc dân Thượng, sống tập trung ở Bình Định và Quảng Ngải -- người dịch) chỉ huy bởi các trung sĩ (TS) Burton Adams và David Freeman đã lặng lẻ di chuyển qua cổng chánh của trại LLĐB Vĩnh Thạnh, xem bản đồ, vào ngày 15/5/1966, và nhanh chóng mất hút vào bóng tối và sương mù của buổi sáng sớm. Như những toán tuần tiểu đã gửi ra trong tuần qua, họ đang hy vọng tìm thấy bất cứ điều gì để xác nhận lời khai của một tù binh VC rằng một lực lượng hỗn hợp gồm quân csbv/vc sẽ sớm tấn công trại của họ. 

Những người lính này đã đến bờ sông Sông Côn, trèo lên những thuyền nhỏ và chèo qua sông sâu trong im lặng. Khi tới bờ bên kia, họ đã theo một đường mòn đi về phía đông bắc hướng tới những núi cao đầy rừng rậm bị che phủ bởi mây dầy. Chỉ trong vài trăm mét, đường mòn đã hẹp hơn và trở nên dốc hơn và nhiều cây cối rậm rạp hơn. Bóng đêm từ từ nhường chỗ cho ánh sáng của ban ngày.

Những người lính đã rút dao rựa để cắt các mớ dây leo (tangle of vines) và tán lá. Sau 3 giờ hết sức vất vả vượt qua thế đất càng lúc càng cao dần, họ đã tìm thấy một đường mòn nhẳn thín dọc theo một sống núi (ridge). TS Adams ra lịnh cho toán tách khỏi đường mòn để ăn trưa. Mọi người im lặng lấy cơm nguội và cá khô để ăn. 

Khi mọi người ăn xong, Adams ra dấu đứng dậy đi tiếp, nhưng Đinh Ghim, người khinh binh đi đầu ra dấu mọi người ngừng lại. Y đã nghe tiếng nói rất nhỏ (muffled) của địch quân. Toán tuần tiểu đã im lặng chia làm 3 tổ đi về 3 phía khác nhau để tìm kẻ thù vô hình. Tổ của Ghim đã tìm thấy chúng ngồi nghỉ trong bóng râm của một nhánh của đường mòn. Y ra dấu cho tổ cho y vào vị trí chiến đấu và ra lịnh nổ súng. Chỉ trong giây lát, năm chiến binh csbv đã tử thương. Mấy chục tên khác đã chạy ào xuống đồi, để lại súng và ba-lô. Khám xét xác chết và ba-lô, họ thấy trên người một trung úy csbv một bản đồ vẽ tay mô tả chi tiết cuộc tấn công vào trại Vĩnh Thạnh. Cuốn sổ tay của y cho thấy các thành phần của trung đoàn 2 gồm quân CSBV và VC sẽ tấn công trại trong một tuần. Một tài liệu khác còn viết rằng một pháo đội CSBV gồm 2 khẩu của TĐ 32 pháo binh sẽ yểm trợ cuộc tấn công. Nhìn lên đỉnh núi, Freeman nói, "Ở nơi nào trên đó có hàng trăm lính VC và CSBV muốn gây thiệt hại nặng cho chúng ta."

Với bằng chứng quá rõ ràng như vậy, Adams liền gọi máy cho đại úy Frank Tinseth, trại trưởng trại Vĩnh Thạnh. Tinseth chuyển tin này cho thượng cấp, người này thông báo cho BTL của sđ 1 Không kỵ ở An Khê, cách đó 20 dặm về phía tây. Thiếu tướng John Norton, người vừa nắm quyền tư lịnh sđ, ra lịnh cho ĐT John Hennesy, chỉ huy lữ đoàn 1 gửi vài đại đội (đ.đ.) bộ binh để thăm dò khu vực nơi mà các tài liệu đã bị tịch thu để xem có lực lượng lớn của địch có mặt.

Sáng sớm ngày kế, 16/5, đ.đ. Bravo của TĐ 2/8 không kỵ, của đại úy J. D. Coleman tập hợp tại sân bay An Khê để chờ trực thăng chở quân. Cùng với họ là TS nhứt LLĐB Mỹ Thomas Welsh, với TS tình báo người Việt của y và một thông dịch. Khoảng 9g sáng, 6 chiếc trực thăng đầu tiên đã tới để bốc Coleman và 40 người lính bay về phía đông ở tới một bãi đáp ở vùng núi cao của tỉnh Bình Định. Sau đó là cả đ.đ. 126 người được bốc. 

Bãi đáp Hereford rất chật đã khiến chỉ có một chiếc  đổ quân xuống và nhanh chóng bay đi để chỗ cho chiếc khác. Tuy vậy chỉ trong hơn một g, cả đ.đ. của Coleman đã xuống đất. Lúc 11g, đ.đ. Bravo bắt đầu đi dọc một đường mòn quanh co, nhẳn thín và càng lúc càng dốc chạy dọc theo một sống núi dài. Càng lên cao, đường mòn càng hẹp, những người lính quân trang và vũ khí nặng nề đã cực nhọc và chậm chạp đi trên bùn, ngang qua các dây leo và những tảng đá lớn.

Sau 2 giờ trèo núi, tiểu đội đi đầu của TS nhứt Jerry McCullough đã phát hiện một số VC trong những hầm hào đã chuẩn bị gần đỉnh của một đồi nhỏ. Người lính Mỹ đi đầu nổ súng, và địch quân lập tức bắn trả, làm y và 2 đồng đội chết và 4 bị thương. Cả đại đội đã bị tấn công dữ dội. Đại Úy Coleman ra lịnh các trung đội lập chu vi phòng thủ trên một cao điểm, và gọi máy về TĐ xin hỗ trợ và tăng viện. 

Tiểu đội của McCullough rút lui về chu vi của đ.đ., mang theo người bị thương. Chỉ một lát sau vào buổi chiều, một cơn mưa mùa đã trút nước xuống, trong khi địch quân tái tục tấn công. Lợi dụng bóng tối và mưa gió, VC đã bao vây đ.đ. Bravo với súng tự động từ mọi phía, khiến lính của Coleman phải thu hẹp chu vi phòng thủ. Dù mưa gió tầm tả, đ.đ. Bravo đã dũng cảm chống trả cho tới khi VC rút lui. Coleman đã nhanh chóng cho thu hồi người chết và bị thương. Ông được biết một đ.đ. đã đổ xuống bãi đáp Hereford lúc mưa ngừng và sẽ tiến tới vị trí của ông một khi một đ.đ. khác đổ quân xuống để bảo vệ bãi đáp. 

Tuy nhiên, khoảng 1800g, VC đã mở cuộc tấn công mới, đe dọa tràn ngập đ.đ. Một tiền sát viên không quân báo cho Coleman rằng 2 trực thăng võ trang đang gấp rút trên đường tới vị trí của ông; dù trời mưa, sương mù và bóng tối. Một chiếc, được lái bởi trung tá Morris Brady, chỉ huy TĐ 2/20 pháo binh dã chiến, chiếc kia bởi thiếu tá Roger Bartholomew, cả hai đều tình nguyện cho phi vụ nguy hiểm này. (Nói thêm: tuy là sđ không kỵ, với rất nhiều trực thăng hơn các sđ bộ binh hay nhảy dù hay TQLC, nhưng sđ này vẫn có lực lượng pháo binh và thiết giáp cơ hữu -- người dịch). Hướng dẫn bởi tiền sát viên và pháo sáng từ dưới đất, hai chiếc này đã nhào xuống bắn phá bằng đại liên và rốc-két 2.75-in, một số chỉ cách chu vi phòng thủ vài feet. Việc yểm trợ kịp thời này rất hữu hiệu, và lúc 1930g, địch rút lui. Nhưng suốt đêm, địch tiếp tục bắn cối và tung các toán nhỏ để quấy rối cũng như gây thiệt hại cho quân Mỹ.

Bên trong chu vi, 15 lính chết gồm 12 người của đ.đ. Bravo, cộng với TS nhứt Welsh, TS tình báo VN và thông dịch viên của LLĐB. Cả ba người này đều bị bắn vào đầu bởi 1 tên bắn sẻ. 30 người khác bị thương, một số bị thương nặng. Các bác sĩ và y tá chăm sóc họ trong khi lính của Coleman đặt người chết làm hai hàng và che phủ bằng poncho sũng nước. 

Tối hôm đó, hai đ.đ. bộ binh của 1/12 Không kỵ đã đổ xuống bãi đáp Hereford để tăng viện cho Bravo. Đại đội Alpha của đại úy John Cummings đã xuống khi trời dứt mưa và xuất phát ngay để tiếp viện cho Bravo một khi đ.đ. Charlie tới để bảo vệ bãi đáp Hereford. Cuối cùng, sau 2 g leo trèo, Alpha đã tới chu vi của Bravo khoảng 2200g, và bảo vệ chu vi phòng thủ của Bravo. 

Trong khi đó, đ.đ. Charlie của đại úy Don Warren, đã chiếm giữ các vị trí ở bãi đáp Hereford trong khi địch quân trong các hố chiến đấu rải rác khắp khu vực bãi đáp. (Như đã nói ở trên, bãi đáp lúc đầu rất nhỏ, mỗi lần chỉ xuống được một chiếc -- người dịch). Warren ra lịnh cho lính đào hố sâu và rộng hơn. Trong khi họ đào, sương đêm rất dầy bao phủ khu vực núi non này, khiến trời đã tối lại còn tối hơn. Ngay lúc trước nửa đêm, lính Mỹ nghe tiếng súng chạm vào nhau ở một khe núi bên dưới họ. Hoảng sợ (spooked), đại úy Warren lại nghĩ rằng VC chuẩn bị bắn cối vào họ. Ông gọi pháo binh bắn vào vị trí nghi ngờ có địch, để rồi hai binh sĩ chết do bị bắn lầm.  

Cường độ của trận đánh đã khiến thiếu tướng Norton nghĩ rằng trung đoàn 2 của Quân Giải phóng miền Nam của sđ 3 CSBV đang ở trong khu vực, và hoạt động phía đông thung lũng Vĩnh Thạnh với một trung đoàn khác có thể gần đó. Để đối phó với đe dọa này, ông đã phát động một cuộc hành quân với nhiều TĐ, mang tên HQ Crazy Horse. Đây là tên một tù trưởng bộ lạc Sioux Ogala đã quét sạch trung đoàn kỵ binh số 7 của George Custer trong trận đánh có tên Con cừu hoang nhỏ (Little Bighorn) năm 1876. 

Lý tưởng nhứt, sđ không kỵ sẽ bao vây và chận những đường rút lui của địch. Theo kế hoạch của tướng Norton, ĐT Hennesy sẽ tấn công trung đoàn 2 giải phóng quân, bằng cách chuyển quân nhanh chóng vào các bãi đáp ở bắc và đông của Hereford. Ông đặt BCH nhẹ tại bãi đáp Savoy trong thung lũng Vĩnh Thạnh ngày 17/5, và xử dụng các đ.đ. bộ binh của TĐ 1/5 Không kỵ và TĐ 2/12 không kỵ. Hennessy nói với hai TĐ trưởng phải tìm kiếm và đuổi theo địch "dù cho chúng tiến theo hướng nào" để cho trực thăng võ trang giải quyết. 

Vào lúc rạng đông của ngày 17, sương mù đã bao phủ bãi đáp Hereford trong khi trực thăng đổ xuống đ.đ. Alpha của TĐ 1/5 để lục soát khu vực phía bắc của hai đ.đ. đã lâm trận. Chỉ huy bởi đại úy Nick Waddock, Alpha bắt đầu lục soát sống núi gần địa điểm của trận đánh ngày hôm trước, khi đó chỉ có một trung đội 81 ly và một đ.đ. bảo vệ bãi đáp. Đ.đ. Charlie, sau khi trải qua đêm ở bãi đáp này, cũng đi theo đường mòn lên núi hướng tới hai đ.đ. bị bao vây, để lại trung đội 81 ly của đ.đ.

Lúc 0630g, bên trong chu vi phòng thủ trên núi, lính của Bravo và Alpha đã bắt đầu bắn mọi vũ khí mà họ có càng nhanh càng tốt, hy vọng sẽ giết mọi địch quân chuẩn bị tấn công họ. Ngay khi lính Mỹ bắt đầu nổ súng, trung đoàn vc đã xung phong. Trong gần 2 g, VC từ rừng rậm đã xung phong từng đợt, lao nhanh tới các hố chiến đấu của lính Mỹ. Thương vong đã tăng lên và phần lớn lính phòng thủ sắp hết đạn. (Nói thêm: trừ lính nhảy dù hay TQLC hay LLĐB Mỹ là tình nguyện, các lính của các sđ bộ binh Mỹ, kể cả sđ 1 không kỵ này đều là lính QUÂN DỊCH, nên tinh thần chiến đấu ko cao -- người dịch). Với lịnh "gắn lưởi lê", quân phòng thủ chờ đợi bị tràn ngập. Kế đó, ko rõ vì lý do gì, có lẽ sợ quân tăng viện của hai TĐ Mỹ, địch quân đã tan biến vào sương mù đang tan dần.

Đại đội trưởng Coleman và Cummings đánh giá thiệt hại. Đ.đ. Bravo chết 25 và bị thương 62 người. Đ.đ. Alpha chết 3 và bị thương 37 người. Có 38 xác VC nằm rải rác bên trong hay gần chu vi phòng thủ. Họ còn thấy một số xác của lính bắn sẻ VC vắt vẻo trên cây. Bằng chứng cho thấy khoảng 200 lính thuộc năm TĐ CSBV và hai đ.đ. VC chết trong trận này.

Sau đó trong ngày, đ.đ. Bravo của TĐ 2/8, mang lính chết và bị thương từ sống núi xuống bãi đáp và di chuyển về An Khê. Đ.đ. của 1/12, cũng kéo quân về bãi đáp, nhưng ở lại đây với đ.đ. Charlie. Quân của Warren giúp đ.đ. Alpha gom xác và đưa người thương và chết xuống đồi để tới bãi đáp. Họ đã dùng poncho và những thân cây nhỏ để làm cáng. Trong khi xuống đồi, vì đường trơn trợt do ướt mưa, nhiều người trợt té, làm thương binh rơi xuống đất. Tại bãi đáp, một trực thăng chờ sẵn để bốc thương binh nặng. Sau đó các trực thăng đáp xuống, để bốc hết thương binh.

Trước khi một Chinook tới để bốc người chết, bao gồm ba người của trại Vĩnh Thạnh, đ.đ. Bravo của 1/5 của đại úy Joe Beeman đã đáp xuống bãi đáp. Khiếp sợ khi thấy quá nhiều xác chết xếp lớp trên mặt đất, lính của đ.đ. này đã đổ quân xuống bãi đáp rất chậm. Sau đó họ đã nhanh chóng tập hợp lại và bắt đầu trèo lên núi rậm rạp theo đường mòn có sẵn, để tới khu vực vừa xảy ra trận đánh.

Khi Chinook tới, máy bay thả lưới xuống để bốc xác chết. Tuy nhiên do gặp nhiều khó khăn, ĐT Hennessy ra lịnh lập bãi đáp mới. Nhờ trời tốt, lần đầu tiên trong tuần, ngày 19/5, lính bắt đầu chặt cây và bụi rậm. Một Chinook thả xuống lính công binh và trang bị, và vào cuối ngày công binh, trợ giúp bởi lính bộ binh, đã lập một bãi đáp đủ rộng cho một Chinook xuống và đặt tên bãi đáp Milton

Vào cuối chiều 20/5, trung tá Rutland Beard, chỉ huy TĐ 1/12 không kỵ, gọi máy báo nhiệm vụ mới sáng hôm sau cho Cumming và Warren. Cumming sẽ di chuyển đ.đ. Alpha tới bãi đáp Hereford, làm an ninh bãi đáp trước khi được chở về An Khê. Quân của Warren sẽ lục soát khu vực giữa Milton và Hereford và thám sát những sườn núi (slope) bên dưới hai bãi đáp này. Sau đó họ sẽ xuống núi để thực hiện nhiệm vụ tìm-và-diệt địch trên đường trở về bãi đáp Savoy, nơi đặt BCH nhẹ của ĐT Hennessy, trong thung lũng Vĩnh Thạnh.

Ngày kế khi mặt trời ló dạng, trong lúc hai đ.đ. chuẩn bị rời bãi đáp Milton, 1 trực thăng đáp xuống mang bữa ăn sáng cho binh sĩ. Cũng đáp xuống có phóng viên Sam Castan, 31 tuổi, của tuần báo Look. Ngay trước 0900, đ.đ. của Cummings bắt đầu theo đường mòn tới Hereford. 30 phút sau đó, đ.đ. Charlie của Warren bắt đầu lục soát. Castan nhảy lên 1 trực thăng để tới Hereford.

Đ.đ. của Warren tới Hereford khoảng 1200, cùng lúc với người lính cuối của Cumming rời Hereford bay về An Khê. ĐT Beard và sĩ quan ban 3 khoảng 1230 đáp xuống để gặp đại úy Warren. Ông nói với đại úy hãy để trung đội súng cối 20 người ở Hereford để yểm trợ cho đ.đ.  Đại úy nói rằng làm như vậy rất nguy hiểm cho trung đội súng cối, ông muốn có thêm 1 hay 2 tiểu đội ở lại để bảo vệ trung đội này. Beard không đồng ý và bay đi. Phóng viên Castan ở lại với trung đội súng cối, và sẽ về lại An Khê sau đó 2 g.

Lúc 1330, dưới ánh nắng oi bức, quân của Warren rời khỏi bãi đáp để tiến vào rừng rậm của thung lũng bên dưới. Warren định kỳ gọi máy cho trung đội cối để bắn dọn đường cho đ.đ. của ông, nhưng chỉ trong 30 phút rời bãi đáp, ông mất liên lạc với trung đội. Ông chỉ còn cách nói chuyện với họ qua trung tâm điều khiển pháo binh hay FDC đặt tại bãi đáp Savoy.

Nửa đường xuống núi, Warren nhận tin khẩn cấp từ FDC: trung đội cối bị hàng trăm quân địch tấn công. Ông liền ra lịnh đ.đ. quay ngược về Hereford. Tin tức truyền qua hàng ngũ đ.đ. rằng Hereford đã bị tràn ngập. Warren thúc lính chạy mau để cứu đồng đội. Một số lính đã ngả xuống vì trời nóng. Xạ thủ M-60, Mickey Server, bị buồn nôn, chóng mặt và đau nhức bắp thịt, tự hỏi làm cách nào y có thể tới Hereford. Không để quân lính mất tinh thần, Warren tiếp tục thúc hối họ.

Khi tới Hereford, họ gần như ko thấy ai. Chuyên viên bậc 4 Ben Dubose và Mel Lewis chạy nhanh tới một hố cá nhân để nhảy xuống, nhưng đã ngừng ở mép hố. Ở dưới đó là hai xác đã bị xé rách bởi đạn và lựu đạn. Chuyên viên bậc 4 Ivory Whitaker, lo lắng nhảy từ hố này tới hố khác, mong tìm thấy người em họ, binh nhì Henry Benton. Khi ông thấy y thì quá trễ, thân xác đầy lổ đạn của y khiến ông muốn ói. Chuyên viên bậc 4 Jim Braga và nhiều lính của Warren, vẫn còn kinh hoàng (horror-stricken) sau khi thu nhặt xác ngày hôm trước, đã ko thể nhìn những xác của bạn bè.

Với an ninh được tái lập quanh bãi đáp, Warren kiểm kê thiệt hại. Phần lớn của 13 người chết ko thể nhận dạng. Ông ra lịnh tìm kiếm 9 người mất tích. Một số đã được tìm thấy ở rìa của chu vi phòng thủ. Lính cũng thấy xác của phóng viên Castan ở sườn núi. Ba người mất tích sau đó đã tìm về đv. Vào buổi chiều mọi xác đều được tản thương.

Khoảng 1730, đ.đ. của Warren đi bộ về thung lũng. Giữa đường ông ngừng lại để lại một tiểu đội để phục kích địch nếu chúng trở lại bãi đáp Hereford.

Sau đó tiểu đội báo cáo thấy khoảng 10 đèn bấm di chuyển trong rừng, hướng về bãi đáp. Ông liền gọi FDC bắn thả dàn (fire at will) trên hỏa điểm dự trù. Tiểu đội này tới điểm trích xuất và gọi trực thăng tới.

Một chiếc UH-1B đáp xuống trong bóng đêm. Họ đã chen lấn lên máy bay khiến nó ko thể cất cánh. Thế là họ phải đi bộ về bãi đáp Savoy ngày kế.

Ngày 21/5, đ.đ. Bravo và Charlie của TĐ 1/8 không kỵ, xuất phát từ bãi đáp Horse vào sáng sớm và hướng về đông bắc để tìm các thành phần của trung đoàn 22 CSBV/VC, mà họ nghi núp trong núi. Đ.đ. Bravo của đại úy Ray Martin, đi dọc phía nam một con suối, trong khi Charlie của đại úy William Mozey, đi dọc mặt bắc. Dấu hiệu khắp nơi chứng tỏ địch có mặt. Do đi nhanh, Bravo đã chạm súng với một lực lượng lớn.

Charlie đã thấy các hầm trú ẩn có người vừa bỏ đi, và bắn về phía địch để hỗ trợ Bravo. Trận đánh kéo dài đến chiều, nhưng khi trời tối VC đã rút về tây bắc để chuẩn bị chiến đấu dọc sườn núi. Đ.đ. Bravo đi vòng qua các công sự này để lên núi, và đối diện với nơi kẻ thù đang mong đợi sự kháng cự. Với tất cả binh lính của mình tại chỗ, Martin gọi điện cho Mozey để chuyển hỏa lực của mình ra khỏi các bunker của đối phương. Khi hỏa lực này vừa dứt, cả đại đội của Martin từ trên núi tràn xuống, vừa chạy vừa bắn và ném lựu đạn vào các hầm trú ẩn. Một số tên địch chay thoát, nhưng ít nhứt 60 bỏ mạng. Một số lính Mỹ chết và bị thương.

Vì thấy rằng lữ đoàn 1 chịu nhiều tổn thất, TL của sđ 1 không kỵ thay đổi chiến thuật. Thay vì để quân Mỹ tìm địch trong khu vực rừng núi đầy nguy hiểm, ông ra lịnh cho ĐT Hennessy bao vây khu vực này bằng nhiều nút chận trong khi dùng B-52 và pháo giả nát địch quân. Ông nghĩ rằng, nếu địch cố gắng phá vòng vây, quân Mỹ, cộng với quân  Nam VN và Nam Hàn sẽ tấn công chúng. Tuy nhiên, nhiều tên đã thoát được bẫy này. 

Vào đầu tháng 6, mọi dấu hiệu cho thấy các đại đv của địch đã ra khỏi khu vực, chỉ để lại những toán nhỏ nhằm trì hoãn và quấy rối quân Mỹ khi các đại đv này rút lui. Ngày 5/6, sau 21 ngày chiến đấu trong rừng núi ở giữa tỉnh Bình Định, HQ Crazy Horse chấm dứt. Những người lính cuối cùng của sđ 1 không kỵ rút đi và được đưa sang chiến trường mới.

Chuyển ngữ từ hai bài viết sau đây:1/ This Mortar Platoon Was Surrounded, Outmanned And Outgunned in Vietnam (historynet.com)

2/ 1st CAV on the War Path (historynet.com)

San Jose ngày 21/4/24. Cập nhựt ngày 16/5/24.

Tài Trần