Showing posts with label bùi đức lạc. Show all posts
Showing posts with label bùi đức lạc. Show all posts

Tuesday, March 18, 2025

 Ngang ngửa đời tôi

 

Đại tá Bùi Đức Lạc

 

 

Tết năm nay nhớ Tết năm xưa, vậy mà đã 50 năm, Mậu Thân 1968 như mới hôm qua, đời người như bóng câu qua cửa sổ là vậy. Đất nước chúng ta, một dân tộc hùng cường giòng giống của Lê Lợi, Hưng Đạo Đại Vương, Nguyễn Huệ...Vậy mà ngày nay cũng vẫn dân tộc ấy, đành cam phận chìm đắm trong nô lệ bằng chế độ hà khắc tham tàn do chính người cùng chung nòi giống cai trị!!! Đã hai mươi tám năm, có lúc nào chúng ta cảm thấy tủi hổ với Tiền Nhân hay không?

 

 

Mặc dù cách xa Huế 17 cây số về hướng bắc nhưng, từ Huế vẫn vang vọng về bằng những âm thanh hằn học, bởi những tiếng nổ nghe rờn rợn từng giây từng phút, cơn gió bấc nhẹ nhàng tạt làn mưa phùn trải dài trên nòng súng đại bác 105 ly đã được quay ngang mặt đất, nằm bất động thật ngang trái, tất cả mọi quân nhân trong Pháo Đội C Nhảy Dù Việt Nam (thời điểm đó Pháo Binh Nhảy Dù chỉ có một Tiểu Đoàn cho nên mỗi Chiến Đoàn Nhảy Dù chỉ có một Pháo Đội yểm trợ trực tiếp mà thôi, vì lý do đó tên các Pháo Đội chưa có số kèm theo phía sau) đang tay cầm súng cá nhân để tự vệ, vì không còn một đơn vị nào bảo vệ Pháo Đội, mà địch quân thì đã biết rất rõ, đơn vị bảo vệ Pháo Đội đều đã di chuyển vào Huế, cho nên địch quân ngày cũng như đêm đang cố gắng uy hiếp vị trí Pháo Đội, chúng muốn chúng tôi phải đầu hàng, hoặc chúng sẽ tiêu diệt chúng tôi, nhưng đó chỉ là giấc mơ của những chú cán ngố, dù tình hình ngặt nghèo như vậy mọi quân nhân trong ban chỉ huy Pháo Đội, đều cố gắng theo dõi trên máy liên lạc, diễn tiến cuộc tiến quân thần tốc của Chiến Đoàn 1 BB Nhảy Dù gồm TĐ7BBND và TĐ2BBND không Pháo Binh yểm trợ “Pháo Đội hết đạn yểm trợ vì vị trí đang đóng quân là vị trí tập trung ( nghỉ quân) không được phép chứa đạn dược nhiều như vị trí hành quân, và lúc đó đường tiếp tế đạn dược hoàn toàn bị cắt đứt, cho nên Pháo Đội đã hết đạn để bắn yểm trợ, sau ít giờ yểm trợ cho CĐ1BBND chiếm An Hòa và vượt bờ thành để vào Thành Nội Huế hơn nữa Pháo Đội cũng phải cần một số ít đạn nổ mạnh để tự vệ ” đó là lúc 1800G ngày mồng 2 Tết tức ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch quân pháo tới liên hồi, mọi người đều cảnh giác, vì hiểu rằng địch có thể tấn công vào vị trí đóng quân bất cứ lúc nào, trời vẫn sụt sùi cơn gió bấc tuy không mạnh nhưng cũng đủ soi mói đến từng làn da thớ thịt của từng người, đêm đó địch quân dùng đặc công tấn công vị trí nhưng cả đơn vị đều thức, nên đã phát hiện địch quân xâm nhập khi chúng còn ngoài hàng rào, những loạt đạn AR15 nổ dòn tan, kèm theo những loạt đạn trực xạ với đạn nổ cao thời nổ 2 giây làm địch quân phải lùi bước mang theo một số thiệt hại, đó là giá của sự liều lĩnh cho nhưng tên sinh Bắc tử Nam phải nhận bởi những Pháo Thủ Mũ Đỏ, chúng trả đũa bằng những loạt pháo 82 ly từ Hiệp Khánh và hỏa tiễn 120 ly từ trên dẫy trương sơn tới tấp bao phủ vị trí nhỏ bé của một Pháo Đội.

 

Tôi cầm ống liên hợp của máy 106 báo cáo tình hình hiện tại của đơn vị, trực tiếp cho Thiếu Tá Huỳnh Long Phi Tiểu Đoàn Trưởng đang tại căn cứ Hoàng Hoa Thám Sài Gòn và được ông cho biết tình hình tổng quát như sau: Ngoài bốn TĐBBND đang tại Vùng I Chiến Thuật; TĐ6BBND đang cố thủ để giữ vững Kontum; TĐ3BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy, đang tiêu diệt từng tiểu đoàn địch quân đang cố bám sát kho đạn Gò Vấp; TĐ3BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó chỉ huy, đang chặn địch tại khu xóm mới và Bộ Chỉ Huy Pháo Binh QLVNCH, TĐ1BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó chỉ huy, đang tảo thanh địch tại Đài Phát Thanh Quốc Gia; TĐ1BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy đang giữ vững khu ngã bẩy Chợ Lớn;TĐ8BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó đang đánh với một trung đoàn địch và đã đẩy địch quân ra khỏi hàng rào phòng thủ của phi trường, xác địch đã bỏ lại ngay trên phi đạo, có tên chỉ còn cách chỗ phi cơ đậu có trên một trăm thước, dẹp tan ý đồ chiếm Phi Trường Tân Sơn Nhất; TĐ8BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy,đang lần lượt chiếm lại khu phía Tây Bắc của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, cánh quân đầu của chúng chỉ còn cách xa cư xá cấp tướng khoảng một trăm thước; TĐ11BBND đang tảo thanh địch tại Bà Rịa, ông nhấn mạnh cho tôi biết là nếu các đơn vị Nhảy Dù không tham chiến ngăn chặn ngay từ phút đầu của cuộc tấn công chớp nhoáng này thì thảm họa cho đất nước chúng ta nặng nề không biết là chừng nào, ông lên lớp với tôi rằng “ Chúng ta là đơn vị có kỷ luật nên chúng ta mới có đủ quân số tham chiến, để phản công tại đủ các nơi,ngay giờ phút đầu tiên như vậy, anh phải hãnh diên điều đó, phải cố gắng duy trì tinh thần quân nhân thuộc cấp, phải nhắc nhở cho họ biết là họ đã chọn đúng đơn vị để phục vụ, anh phải nhắc nhở thêm nữa cho họ biết chúng ta là đơn vị có kỷ luật, anh thử tương tượng nều TĐ8BBND không có mặt kịp để đuổi địch từ Phi Đạo ra ngoài, chỉ cần chậm 10 phút thì Phi Trường Tân Sơn Nhất hoàn toàn do địch quân kiểm soát, như vậy điều gì sẽ xẩy ra cho chúng ta, đó chính là kỷ luật cao Nhảy Dù mới có quân số tham chiến ngay từ phút đầu đầy đủ như vậy,anh thấy không chúng ta chỉ có một Sư Đoàn Nhảy Dù mà chúng ta đã có quân phản ứng lại địch quân ở nhiều nơi như vậy, anh là con chim đầu đàn anh phải hãnh diện điều đó, phải can đảm, phải tỉnh táo nghe không, mọi người chung quanh tôi đều tin tưởng nơi anh, nên anh phải cố gắng “ Tôi may mắn nên có cấp chỉ huy lúc nào cũng lo cho chúng tôi, tôi hơi ngạc nhiên hôm nay bài moral của ông hơi ngắn, tôi biết ông rất lo sợ cho chúng tôi phải ở lại một mình không có quân bạn yểm trợ, không có quân bạn bảo vệ.

 

Chúng tôi vừa tham dự hành quân Lam Sơn 83, 84, 85 và 86 với Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Đào Văn Hùng chỉ huy, thường lệ thì BCH/CĐ2BBND, PĐCPBND, TĐ2BBND, TĐ9BBNĐ, TĐ5BBND được về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân như những cuộc hành quân khác, nhưng lần này ngày 26 Tết tức ngày 25 tháng 1 năm 1968 sau khi chấm dứt hành quân Lam Sơn 86, tức hành quân tiêu diệt địch dọc theo phá Tam Giang chúng tôi đặt cho địa danh này cái tên nghe êm tai “ phố buồn hiu “ toàn bộ CĐ2BBND kéo quân ra đóng chung quanh ga Phổ Trạch, thì nhận được lệnh ngày 27 Tết tức ngày 26 tháng 1 năm 1968, BCH Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê quang Lưỡng chỉ huy sẽ được không vận ra thay thế BCH/CĐ2BBND về Sài Gòn, các đơn vị khác ở lại tại chỗ dưới quyền chỉ huy của CĐ1BBND, đồng thời TĐ7BBND cũng được không vận từ Sài Gòn ra cùng ngày, để thay thế cho TĐ5BBND, ngày 28 tết tức ngày 27 tháng 1 năm 1968 các đơn vị Nhảy Dù tại Vùng I Chiến Thuật được phối trí như sau: TĐ9BBND phòng thủ thị xã Quảng Trị, mặc dù ngoài tầm liên lạc nhưng vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của CĐ1BBND, TĐ5BBND phòng thủ hướng bắc của thị trấn Đà Nẵng không thuộc quyền chỉ huy của CĐ1BBND (sau đó TĐ5BBND được không vận về Sài Gòn từ phi trường Đà Nẵng ngày mồng 3 tết tức ngày 1 tháng 2 năm 1968 ) BCH/CĐ1BBND và PĐCPBND cùng một ĐĐ/TĐ7BBND đóng tại cây số 17, TĐ7BBND đóng tại An Lỗ, TĐ2BBND đóng tại quận Phong Điền (Sịa) “có một lầm lẫn đáng tiếc là trong cuốn sách Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968 do Phòng 5 Bộ TTM biên soạn và ấn hành, Chủ Biên Trung Tá Phạm Văn Sơn, nơi trang 11 đã có một đoạn như sau: (Nhưng trước Tết, Sư Đoàn Nhảy Dù mới gửi ra vùng hỏa tuyến được các Tiểu Đoàn 2 và 9. Mãi tới ngày mồng 2 Tết, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 với Tiểu Đoàn 7 mới được không vận ra Huế) như vậy là tài liệu này có chút sai lầm “ các đơn vị Nhảy Dù đã có mặt tại Huế như tôi đã trình bầy ở trên.

 

Ngay ngày mồng 2 Tết chúng tôi đã được lệnh chuẩn bị Trực Thăng Vận vào Huế, lúc đó các cấp chỉ huy cũng nhận thấy rằng Pháo Binh đóng quân mà không có đơn vị Bộ Binh bảo vệ thì rất nguy hiểm; Gần một tuần chờ đợi để được bốc quân vào thành nội Huế nhưng PZ (điểm bốc quân) tức vị trí đóng quân của Pháo Đội bị pháo liên hồi, nhất là khi trực thăng chinook của Hoa Kỳ có mặt trên không, máy bay đành bay lượn trên không, thì dưới đất bị pháo vô cùng mãnh liệt, ở trên nhìn xuống dưới đất chỉ còn thấy bụi bay mù mịt, không còn thấy vị trí Pháo Đội đâu nữa, nên máy bay chinook đành chào thua Cố Vấn Hoa Kỳ rất khổ sở vì thương binh không tản thương được, mọi phương tiện tiếp tế đều bị cắt đứt, phương tiện duy nhất là trực thăng Hoa Kỳ, nhưng rất hạn chế, cho đến ngày 6 tháng 2 năm 1968 PĐCND mới được trực thăng vận vào Huế xong, sau hai ngày đùa dỡn với Pháo địch tại cả PZ lẫn LZ, tại LZ ( bãi đổ quân ) thì chỉ bị pháo địch như bị du kích bắn sẻ mà thôi, nhưng cũng đủ làm cho máy bay trực thăng chở hai khẩu đội đại bác không hạ xuống được, nên mới có chuyện tức cười là mất hai khẩu đội không hiểu rớt dọc đường hay thất lạc nơi đâu, lúc chinook xuống PZ bị pháo địch nên chỉ cố gắng móc súng đại bác không mà thôi không có nhân viên khẩu đội đi theo, (thông thường thì chinook phải hạ xuống đất để nhân viên khẩu đội lên máy bay trước sau đó mới móc súng sau nhưng trong tình tranïg đơn vị bị pháo “ hot LZ “ nên không thi hành như thông thường được) do đó mới có chuyện khôi hài mất hai súng đại bác mà không biết mất nơi đâu mặc dầu anh chàng Tây con (Cố Vấn) cố gắng liên lạc nhưng đành dậm chân than trời, đồng thời khi tới vị trí đóng quân mới Pháo Đội hoàn toàn hết đạn, Cố Vấn Hoa Kỳ xin tiếp tế đạn dược, và được tiếp tế đạn như sau: 3000 đạn khói,120 đạn nổ mạnh “lúc này nhiệm vụ tiếp tế đều do Hoa Kỳ lo hơn nữa đạn khói rất đắt tiền hơn đạn nổ mạnh vì nó là đạn băng chất hóa hoc White Phosphoric nhưng yêm trợ thì không có hiệu quả, nó chỉ dùng để đánh dấu bãi đáp hay bắn trái đầu tiên cho Quan Sát Viên dễ nhận diện, hoặc nếu có lầm lẫn thì cũng không gây thiệt hại nhiều cho quân bạn, vì vậy nếu dùng để bắn yểm trợ nó không gây thiệt hại nào đáng kể cho địch quân“ Nhảy Dù mà.... Có sao làm vậy, lúc đó tôi phải yểm trợ các đơn vị Nhảy Dù đang chạm địch trong thành Nội Huế bẵng đạn khói, dù gì chăng nữa có tiếng đạn bay đến yểm trợ, quân ta cũng lên tinh thần hơn; Lúc đó tại thành Nội Huế đã có ba TĐBBND, TĐ9ND đã được trực thăng vận từ Quang Trị về Huế sau khi đã giữ vững Quảng Trị, hai ngày sau hai khẩu đội thất lạc trở về trong tình trạng tơi bời hoa lá.

 

Một hôm tôi lên họp tại PBSĐ1BB và BCHCĐ1BBND vừa về đến vị trí, thì thường vụ báo cho biết có người nhà của tôi đến thăm, ông ta đang trong đài Tác Xạ của pháo đội, tôi ngạc nhiên không hiểu ai đây, tôi làm gì có người nhà ở vùng này, tôi thấy một vị trung niên quần áo tả tơi đang nói chuyện với anh em trong ban chỉ huy pháo đội về việc ông chạy giặc trong mấy ngày qua, tôi nhận ra ngay vị khách này, ông nói mấy ngày nay trốn chui trốn nhủi, lang thang đói rách, tôi vẫn ỡm ờ giới thiệu với mọi người vì tôi biết không ai nhận ra được ông là ai cả, đây là ông Phan đình Thứ ông anh họ của tôi, ông nhảy lên la to,

 

– Ê đừng có đùa dai nữa mày, mấy ngày nay lạnh đói rét có rượu cho tao một hớp coi; Tôi vẫn ỡm ờ trả lời.

 

– Rượu một hớp thì không có; Nhìn bộ quần áo ông tả tơi mà xót xa tôi gọi người mang quần áo lạnh và quân phục của tôi cho ông mặc, tôi dặn tháo lon của tôi ra, nhưng ông giằng lấy và nói:

 

– Thôi đích thân lột lon cũng được nhưng phải có rượu khao lon mới cho em, tôi bật cười lớn tiếng, mọi người chung quanh thấy tôi và ông đàm thoại cứ cười lạ mà không biết ra ông là ai cả;Tôi không giám đùa giai thêm nữa giới thiệu với mọi người:

 

– Giới thiệu với anh em đây là Đại Tá Lam Sơn, mọi người giật mình tự nhiên đứng nghiêm chỉnh chào vị tư lệnh hụt của binh chủng Nhảy Dù năm 1954, tôi đã có viết về việc này trong bài tiểu sử của Binh Chủng Nhảy Dù, chàng cố vấn Mỹ lúc đó cũng được thông dịch cho biết, nên đứng nghiêm như pho tượng,sau đó cố vấn chào tôi sang phi trường tản thương của ĐĐ1QY có trực thăng chờ sẵn đi mất luôn, tối hôm đó bốn chúng tôi cưa một chai với thịt ba lát và cá hộp thật là thú vị, đang nhậu ông kể chuyện chạy giặc trong đêm đầu năm râm ran câu chuyện, hỷ nộ ái ố đủ cả, bất chợt đàn bò chạy qua vị trí pháo đội, ông hỏi đàn bò này xuất xứ từ đâu, tôi cho ông biết đàn bò này của SĐ1BB, ông chép miệng lên tiếng.

 

– Lính tráng khổ cực không có tiếp tế, bắt một con giết làm thịt cho lính ăn tao chịu cho;

 

– Thôi Đại Tá cho em sống, muốn em chết hay sao, bò của BTL/SĐ1BB đó, làm vậy mang tiếng chết.

 

– Thì cứ làm đại đi thằng nào biết; Tôi cương quyết từ chối, vì làm như vậy thì nhẹ thể mình quá, chưa đến nỗi đói.

 

Hôm sau tôi lên BCH/CĐ1ND họp ( đóng chung với BTL/SĐ1BB trong trại Mang Cá còn PĐCND đóng ngay trong sân của ĐĐ1 QN ) và nhận lệnh vì không có không quân cho nên Pháo Binh có nhiệm vụ phải đánh sập cửa Đông Ba, hiện địch quân bố trí đại liên, súng không giật và B40 trên đó, gây trở ngại cho đường tiến quân của TĐ2BBND,Thiếu Tá Lê quang Lưỡng Chiến Đoàn Trưởng muốn tôi kéo súng ra trực xạ để đánh sập vị trí này, tôi rất rõ khu phố này, nên trình bầy xin cho tôi được quan sát mục tiêu trước, khi tới cửa Đông Ba tôi thấy ngay không thể trực xạ được vì nếu chúng tôi kéo súng ra vị trí có thể trực xạ được là ngay góc đường Mai Thúc Loan, nhưng tại đây địch quân cũng có thể dùng súng đại liên, súng đại bác không giật và B40 ngay trên cửa Đông Ba, để tiêu diệt chúng tôi trước, hơn nữa một bên phố ta chưa làm chủ tình hình, địch quân cũng không để chúng tôi yên, nên tôi đành phải xin với vị Chiến Đoàn Trưởng Nhảy Dù cho tôi được tự do lựa chọn cách thi hành nhiệm vụ, được chấp thuận ngay và tôi đã áp dụng tác xạ Tiêu Hủy (một kỹ thuật tác xạ khó nhấtù trong Pháo Binh và chỉ áp dụng cho Pháo Binh hạng trung trở lên mà thôi) chúng tôi lại là pháo binh hạng nhẹ.

 

Thôi túng quẫn phải biến hóa vậy, nhưng tôi phải ở lại cửa Đông Ba để điều khiển tác xạ này, các Sĩ Quan mới trong nghề đều không đủ khả năng, vì tác xạ này đài quan sát tức Quan Sát Viên Tiền Tuyến, phải chỉ huy Pháo Đội trong khi thi hành tác xạ, tôi đã đánh tan vị trí địch bằng tác xạ này, đó là lý do tôi vắng mặt tại Pháo Đội hơn 5 giờ đông hồ. Tôi về tới vị trí pháo đội khoảng 1900G.

 

ĐT Lam Sơn ngồi giả vờ quay lơ đi như không thấy tôi, ông cười mỉm chi, ông Pháo Đội Phó và ông Sĩ Quan Tác Xạ cũng cười, tôi thấy không khí hơi lạ, tôi đoán chắc có chuyện gì đây,thôi đành phớt lờ, chấp nhận đau thương vậy, ngoài trời mưa vẫn bay như châm chọc mọi người, xin được méo mó câu thơ “trời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”; Tôi thèm được nghe giọng hò của cô gái Huế, chèo đò trên sông Hương vắng lặng.

 

Hồ Tịnh Tâm giầu sen bạch diệp

Đất Hương Cần ngọt quít, thơm cam.

Ai về cầu ngói Thanh Toàn

Đợi đây về với một đoàn cho vui.

Đất Thừa Thiên trai hiền gái đẹp.

Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng.

Tháp bẩy tầng, Thánh miếu, Chùa Ông,

Chuông khua Diệu Đế, trống rung tam tòa

“khuyết danh”

 

Bữa cơm tối tôi vừa gọi lấy rượu ra, ĐT Lam Sơn nháy làm hiệu nhà bếp dọn bữa ăn chiều, đủ bò bẩy món, tôi lặng người đi vì tức giận, cùng lúc đó địch pháo kích, tiếng hỏa tiễn 122 bay gầm thét trong không gian, tiếng nổ vang dội đất cát bay tứ tung, tôi ngồi bất động nhìn sinh hoạt của pháo đội lúc phản pháo, mọi người như cái máy nhiệm vụ ai người đó làm, không hấp tấp vội vàng, mà cũng không chậm chạp làm mất thời gian tính, hoạt động phản pháo xong tôi định cất rượu không uống vì còn hứng nào mà uống nữa đây, nhưng nghĩ tới ông tôi đành thua; Oâng thấy tôi không vui nên phân trần:

– Cái việc này là do tao tất cả tụi nó sợ hết, không đứa nào giám làm tao giết tao cạo lông; Ông nói tới đây tự nhiên tôi bật cười, còn ai biết thuộc cấp của tôi hơn tôi, có người cầm đầu giết một con chứ giết cả đàn bò, họ cũng giám làm, xong ông nói tiếp:

 

– Để cho tụi nó biết là tao làm, tao còn lấy cái đầu bò và cái đuôi bò đưa sang tặng thằng Đại Đội Trưởng Quân Nhu; Oâng vừa nói đến đó tôi than thầm trong bụng, chết tôi rồi!!! ông ĐĐT/QN đâu có biết ông ĐT/Lam Sơn là ai, ông mặc quần áo của tôi, tên tôi trên ngực áo ông đang mặc, chắc chắn ông Đại Đội Trưởng Quân Nhu sẽ mang tang vật, trình lên cấp trên là pháo đội giết bò xong, chính Pháo Đội Trưởng còn mang đầu bò tặng lại, thế nào cũng có câu thòng là tụi nó không coi ai ra gì; ”và quả đúng như tôi tiên đoán, tai họa đến với tôi dài dài vì chuyện bê bối này”, tôi đành lấy chuyện Tái Ông mất ngựa mà vui vậy; ĐT/Lam Sơn thấy tôi buồn ông cho là tôi lo sợ, ông trấn an tôi đủ điều, tôi thật xúc độâng vì tôi biết ông nhiều, tính tình rất cương trực, ngang tàng không thua ai, không bao giờ xuống nước như vậy cả,sau đó ông nói:

 

– Mai tao sẽ lên gặp thằng.... tao nói việc này do tao làm mày đừng lo; Oâng vẫn chưa hiểu tôi, tôi buồn vì lý do là cấp chỉ huy tôi phải có trách nhiệm trong đó, nhất là chưa thèm khát đến nỗi phải làm liều như vậy, và tôi nói:

 

Mọi chuyện xong rồi ĐT khỏi phải nói với ai cả; Xong tôi vui vẻ ngồi ăn; Tôi viết những giòng này như là một chuyện vui không hề oán trách, không hề than van bởi ngay ngày đó tôi cũng không cần thanh minh, đó chẳng qua chỉ là một tai nạn; Suốt 10 năm dài giao du với ĐT/Lam Sơn lúc nào ông cũng coi tôi như một người em, một người bạn, có cấp trên của tôi không bằng lòng việc giao thiệp này, nhưng tôi chấp nhận vì đã giao du thì tốt xấu cũng là của mình, biết đâu là xấu,biết đâu là tốt, miễn sao mình không lợi dụng sư giao du là được, cho nên lúc nào tôi cũng hiên ngang nhìn mọi người, dù là cấp trên hay cấp dưới của tôi, dù có bị thiệt thòi, nhưng nay gặp lại tôi vẫn hãnh diện việc mình đã làm, dù sao chăng nữa cũng không hề ân hận.

 

Pháo Đội Phó của tôi lúc bấy giờ Mũ Đỏ Trần Văn Liệu hiện đang ở San Jose, California; Trưởng ban đạn dược của Pháo Đội là Mũ Đỏ Nguyễn Thanh Long đang ở Buras, Louisiana hiện nay có ba tầu đánh cá; Trưởng đài Tác Xạ Mũ Đỏ Chu Văn Chấn hiện đang ở Dallas, Texas; Sĩ Quan Tác Xạ Mũ Đỏ Lý Văn Quân tử thương tại Hạ Lào.

 

Viết tới đây tôi không khỏi bồi hồi tưởng nhớ những kỷ niệm không bao giờ quên trong đời mình, những kỷ niệm đã làm cuộc đời tôi chịu nhiều đắng cay và đời tôi thêm NGANG NGỬA, có vậy cuộc sống mới thêm đậm đà./.

 

 

Đại tá Bùi Đức Lạc

 

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính

 

 

 

 


Thursday, December 8, 2022

 Trải niềm tâm sự


Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc


Tướng Ngô Quang Trưởng, có nhiều tác giả viết về đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người.


Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi! Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung Úy Phan Văn Phúc, (sau này ông ấy là chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A, Tiểu Đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của Trung Úy Nguyễn Thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của Trung Úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rặng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.


Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, lúc đó Đại Úy Nguyễn Văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại Úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu Tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn, sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, Quảng Ngãi. Ngày 12 Tháng Mười Một, năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B/TĐ2PB, thay thế nhiệm vụ của Trung Úy Trương Duy Tài, (K4TĐ) Trung Úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký hành quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này.


1/4 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng. Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa Đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc xì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần đại tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại Úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông.


 Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại Úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại Úy Ngơi là trưởng phòng an ninh quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A, tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại Úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ2BB do Đại Úy Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông dòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm Tiểu Đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu Úy Nguyễn Văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh. Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này bị chết đuối mất 2 người. Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau.


Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số. Tại đây tôi gặp Đại Úy Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp đại đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 Võ Bị Đà Lạt, mới ra trường.


Từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất… Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng. Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đức nằm cách xa đường mòn HCM, khoảng gần 50 km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì, trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta. Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này: (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II). Tư lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:– Hãy để cho nó đi!


 Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh. Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc. Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn Ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều Thứ Tư đẹp, Tháng Tư, năm 1986. Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn Tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến. Trung Tá Nguyễn Văn Viên, người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó Tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ… Sau này lúc Tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền Tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ Tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên Tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau. Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng Tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài Gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài Gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của Tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài Gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp Tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như Tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.


Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về Quân Đoàn lV, không may Tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi. Nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin Tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước. Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ Kế Giai, (Tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương Hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài Gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976; sau 1 tháng tra tấn dã man. Việc này do Tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có Bác Sĩ Trần Lữ Y và Văn Văn Của cùng nghe. Tại bàn Tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của Bác Sĩ Trần lữ Y tại Sài Gòn, trước năm mất nước. Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của Giáo Sư Huy, anh cư trú tại phía Nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp Tướng Trưởng tại đây. Tôi uống bia, còn Tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương Mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi! Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông. Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh Tướng Trưởng với Tướng Nguyễn Chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!


 


Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời. Cái gì mà nghiêm trọng vậy? Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy… Tôi vừa nói tới đó, ông giơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói: Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết… Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn/một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên… Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao? Vấn đề này quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng địch, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta. Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ. Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi. Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn t… nói p… Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.


 


Thưa niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi! Thưa quí vị, sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được. Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta! Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, nên công suất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. Tôi nhìn Tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu Giang, miền Đông, v.v… Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới… Chợt nhận ra: Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian. Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình… Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi, không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi. Đừng buồn chi! Ai ơi! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua.


 


 


Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc


Thursday, September 15, 2022

Trải niềm tâm sự

Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc


Tướng Ngô Quang Trưởng, có nhiều tác giả viết về đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người.


Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi! Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung Úy Phan Văn Phúc, (sau này ông ấy là chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A, Tiểu Đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của Trung Úy Nguyễn Thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của Trung Úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rặng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực.

Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; tại vị trí này tôi được tướng tư lệnh quân đoàn khen thưởng, lúc đó Đại Úy Nguyễn Văn Thiệu làm tiểu đoàn trưởng, Đại Úy Lê văn Thân chỉ huy trưởng pháo binh sư đoàn, Thiếu Tá Phan đình Soạn chỉ huy trưởng pháo binh quân đoàn, sau đó làm vị trí pháo binh đầu tiên cho đồi Minh Long, Quảng Ngãi. Ngày 12 Tháng Mười Một, năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B/TĐ2PB, thay thế nhiệm vụ của Trung Úy Trương Duy Tài, (K4TĐ) Trung Úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký hành quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này.

1/4 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng. Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa Đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc xì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần đại tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại Úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông.

Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại Úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại Úy Ngơi là trưởng phòng an ninh quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A, tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại Úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ2BB do Đại Úy Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông dòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm Tiểu Đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sự. Lúc đó Thiếu Úy Nguyễn Văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh. Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này bị chết đuối mất 2 người. Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau.

Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số. Tại đây tôi gặp Đại Úy Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp đại đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 Võ Bị Đà Lạt, mới ra trường.

Từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất… Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng. Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đức nằm cách xa đường mòn HCM, khoảng gần 50 km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì, trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta. Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này: (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II). Tư lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời:

– Hãy để cho nó đi!

Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh. Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc. Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn Ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều Thứ Tư đẹp, Tháng Tư, năm 1986. Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn Tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến. Trung Tá Nguyễn Văn Viên, người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó Tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ… Sau này lúc Tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền Tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ Tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên Tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau. Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng Tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài Gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài Gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của Tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài Gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp Tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như Tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý.


Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về Quân Đoàn lV, không may Tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi. Nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin Tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước. Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từ Tướng Đỗ Kế Giai, (Tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương Hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài Gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976; sau 1 tháng tra tấn dã man. Việc này do Tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có Bác Sĩ Trần Lữ Y và Văn Văn Của cùng nghe. Tại bàn Tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của Bác Sĩ Trần lữ Y tại Sài Gòn, trước năm mất nước. Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của Giáo Sư Huy, anh cư trú tại phía Nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp Tướng Trưởng tại đây. Tôi uống bia, còn Tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương Mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi! Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông. Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh Tướng Trưởng với Tướng Nguyễn Chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi!

Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời. Cái gì mà nghiêm trọng vậy? Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy… Tôi vừa nói tới đó, ông giơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói: Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết… Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn/một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên… Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao? Vấn đề này quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng địch, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta. Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ. Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi. Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn t… nói p… Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi.

Thưa niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi! Thưa quí vị, sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được. Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng như vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta! Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, nên công suất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. Tôi nhìn Tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu Giang, miền Đông, v.v… Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới… Chợt nhận ra: Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian. Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình… Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi, không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi. Đừng buồn chi! Ai ơi! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua.


 Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính


Tuesday, December 7, 2021

 GỢI GIẤC MƠ XƯA 

Tướng Ngô Quang Trưởng

Có nhiều tác giả viết vể đề tài này, hôm nay không may cho tôi, phải đọc thêm những dòng chữ viết về ông, không mấy chỉnh cho lắm, ai mà biết được lòng người. Tôi không muốn nêu tên những tác giả này vì không đáng cho người lương thiện, phải đề cập đến họ. Có ông viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM. Chao ôi! Năm 1961; tôi là pháo đội phó cho Trung úy Phan văn Phúc, (sau này ông ấy là Chỉ huy trưởng pháo binh SĐ1BB), pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh, dẫn hai khẩu đội lưu động tại Quảng Ngãi, mỗi lần hành quân như vậy, dọc đường thường là tự bảo vệ, nhưng đôi khi cũng được đại đội Biệt Động Quân của trung úy Nguyễn thừa Du bảo vệ dọc đường, tới vị trí đóng quân chúng tôi tự phòng thủ, yểm trợ hỏa lực cho cuộc hành quân, đại đội BĐQ của trung úy Du tấn công vào mục tiêu, cuộc hành quân đôi lúc do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ huy, có khi do Tiểu Khu Quảng Ngãi chỉ huy, khi chấm dứt hành quân lại kéo súng về rạng nhãn cạnh tòa án Quảng Ngãi nghỉ dưỡng quân. Cứ như vậy, ban ngày tiếp tục ứng trực hành quân, lên đường 15 phút sau khi nhận được lệnh, vì vậy ban ngày súng luôn mắc sau xe, đêm đến hạ súng xuống, để phòng thủ vị trí, vì đêm không có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực. Sau đó tôi được lệnh làm pháo binh vị trí, nói cho vui là đi đóng đồn, tại những vị trí này không có đơn vị bộ binh bảo vệ, vị trí pháo binh đầu tiên tôi thiết lập trên đồi cầu Cộng Hòa, Nghĩa Hành; sau đó đồi Minh Long, Quảng Ngãi. Ngày 12 tháng 11 năm 1961. Tại đồi Minh Long tôi nhận được lệnh về làm pháo đội trưởng Pháo Đội B /TĐ2PB, thay thế nhiệm vụ của Trung úy Trương duy Tài, (K4TĐ) trung úy Tài có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó mỗi sư đoàn bộ binh chỉ có một tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu súng 105 ly kiểu M101) mà thôi, như vậy mỗi pháo đội chỉ có 4 khẩu đội. Tiểu đoàn 2 Pháo binh trước năm 1954 là 5me GAVN, sau năm 1954 mới có tên là TĐ2PB và trực thuộc SĐ2BB từ đó, sau năm 1963 được đổi tên là TĐ21PB. Đọc (Nhật ký Hành Quân của đơn vị). Pháo đội B của 5me GAVN năm 1951 bắn về làng tôi, (Xuân Bảng, Xuân Trưởng, Nam Định) thi hành tác xạ theo lệnh của secteur Hành Thiện, căn cứ trên báo cáo của tình báo địa phương, địch quân đang đồn trú tại làng tôi một đơn vị lớn, thực tế không có một đơn vị nào của địch, tin tình báo gì lạ vậy, mà chỉ có dân lành nằm chết khắp nơi trong làng! Dưới cơn mưa pháo, mẹ tôi ôm chúng tôi dưới gầm giường, hy vọng che chở mảnh đạn pháo binh không làm hại cho đàn con dại, mẹ Việt Nam vùng quê đơn giản suy nghĩ như vậy đó, thời gian qua mau, không ngờ đúng 10 năm sau tôi lại chỉ huy pháo đội này. 1/4 quân số đơn vị đã tham dự cuộc pháo kích năm 1951, vẫn còn tại hàng. Vừa nhận bàn giao xong, sau không đầy một tuần làm quen đơn vị, mùa đông bắt đầu, cái lạnh giá buốt hành hạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy em bé gầy gò khoảng 6 tuổi, cõng một em khoảng 2 tuổi, cả hai không có đủ áo chống lạnh, oái oăm là cả hai cùng ngậm điếu thuốc cì gà rất lớn (Cẩm Lệ), hai điếu thuốc đang bốc khói, trông hai em rất hạnh phúc, cõng nhau đi ngoài trời gió lạnh tại ga xe lửa Tam Kỳ. Tôi bắt đầu nhập cuộc trở lại. Rồi cũng lại kéo hai khẩu súng đại bác của pháo đội B lưu động tại tỉnh Quảng Nam, ai cũng sợ phải làm nhiệm vụ lưu động, vì sợ phải gần Đại Tá tư lệnh, tôi lại bằng lòng với nhiệm vụ lưu động, vì dù sao tối đến cũng hay được ở thành phố, chính vị tiểu đoàn trưởng Đại úy Nguyễn văn Thiệu, cũng muốn tôi làm nhiệm vụ này, ai cũng muốn được vô sự, tôi luôn mang vô sự đến cho ông. Được lệnh đóng vị trí tại chân núi Bà Nà yểm trợ hỏa lực cho trung đoàn Địa Phương (?) trung đoàn phó là Đại úy Nguyễn văn Ngơi, vì Đại úy Ngơi là trưởng phòng an ninh Quân đội của SĐ5BB, lúc tôi là pháo đội phó pháo đội A tiểu đoàn 5 súng cối, hơn nữa ông hay sang pháo đội uống cà phê nên mới nhớ tên ông, thật sự quên tên vị trung đoàn trưởng, hình như là Đại úy Tất, cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nhận lệnh kéo súng về hậu cứ, ngày hôm sau, lại nhận lệnh kéo súng đi Thường Đức, không có hộ tống dọc đường, đóng quân tại Thường Đức, yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 1, trung đoàn 4 (hay 6 ?) thuộc SĐ2BB do Đại Uý Võ Mạnh Đông làm tiểu đoàn trưởng, đơn vị này đang hành quân tại vùng Ben Hiên, Ben Hiên nổi tiếng là vùng nước độc, người ta đồn rằng: Qua suối là rụng hết lông chân, dưới lòng suối nước trong vắt, nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy suối, trông giòng suối thật hiền hòa, nào có ai biết giông bão đang chờ, hôm tiểu đoàn 1 băng qua suối, ba đại đội đầu vượt suối bình yên, không có một hiện tượng gì là nguy hiểm, nên an toàn, vô sư. Lúc đó Thiếu úy Nguyễn văn Lước là sĩ quan tiền sát của tiểu đoàn này, mỗi tiểu đoàn chỉ có một sĩ quan pháo binh đi để điều động hỏa lực pháo binh. Đại đội sau cũng vừa bắt đầu băng suối, chỗ sâu nhất chỉ tới háng mà thôi. thì thình lình nước chảy cuồng loạn, đúng là như thác đổ, cuốn mất một trung đội, mà lúc đó trời đang trong sáng, sau mới biết là do mưa lũ từ thượng nguồn, nước trào dâng, tràn về nhanh như vậy, cuối cùng trung đội này bị chết đuối mất 2 người. Tôi có lội xuống suối thử một lần, thấy không rụng lông chân, mà nhổ lông chân không cảm thấy đau. Đ/U Đông lúc ra trường về TĐ5ND, rồi luân lưu về SĐ2BB dưới quyền trung đoàn trưởng Thiếu Tá Võ Hữu Thu kiêm tỉnh trưởng Quảng Nam, cả hai ông này đều là anh ruột của anh hùng Võ Đại Tôn. Đó là thời Đại Tá Lâm Văn Phát Tư Lệnh SĐ2BB, ba trung đoàn trưởng kiêm ba tỉnh trưởng Quảng Nam Thiếu Tá Thu, sau này Quảng Tín Đại Uý Thọ, vì năm 1961 chưa có tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi Thiếu Tá Tụ. Sau đó tôi kéo súng về Bến Giàng phía Tây của Thường Đức, cách Thường Đức khoảng 10 cây số đường chim bay, nhưng đi đường bộ thì khoảng 14 cây số, rồi lại được lệnh kéo súng về Khâm Đức hướng Tây của Bến Giàng khoảng 10 cây số đường chim bay, đường bộ khoảng 15 cây số. Tại đây tôi gặp Đại Uý Vũ văn Giai, chi khu trưởng chi khu Khâm Đức, lại Tây tiến nữa Ngoktavak cách Khâm Đức khoảng 11 cây số đường chim bay, khoảng 16 cây số đường bộ, đây mới là vị trí nằm ngay trên đường mòn HCM. Ngoktavak nơi khỉ ho cò gáy, chúng tôi gặp Đại Đội trưởng Bộ Binh, Thiếu Úy Bùi Đức Cẩn khoá 17 võ bị Đà Lạt, mới ra trường. Từ Ngoktavak tới ngã ba biên giới khoảng 15 cây số đường bộ. Tại đây thiết lập vị trí pháo binh rất quy mô, vì nó nằm ngay trên đường mòn HCM. Phải rất thận trọng ấm ớ, là (chuối đó cưởng). Vị trí này nếu bay trên trời quí vị chỉ thấy vị trí hai khẩu pháo, trơ trọi trên đỉnh đồi, không thấy các cơ quan khác. Như nhà ở của các pháo thủ, hay hầm đạn đều nằm dưới mặt đất v v. Nhờ vậy tôi được tư lệnh sư đoàn khen thưởng. Tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy để quí vị đọc giả hiểu rõ tác giả, dù ở cấp bậc nào, viết về tướng Trưởng, không biết đọc bản đồ nào, mà lại viết Thường Đức nằm trên đường mòn HCM, trong khi Thường Đừc nằm cách xa đường mòn HCM, khoảng gần 50Km, tôi không muốn biết tác giả có cấp bậc gì , trình độ nào, nhưng viết như vậy, thì bài viết này khả tín bao nhiêu? Tác giả viết nhiều điều buồn hơn vui, nhưng một điều hơi đè nặng trên vai vị tướng có nhiều điểm tốt hơn điểm xấu, tôi sợ nhiều người hiểu sai, không nên vì hằn học với hiện tại, mà làm mất đi sự cảm mến của hậu thế với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một vị tướng có nhiều điểm tốt hơn xấu mà bị bôi trét như vậy có chỉnh hay không? Ngay con cháu chúng ta, có còn coi trọng chúng ta hay coi thường chúng ta. Ôi một vị tướng có điểm cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy, vậy các quân nhân khác, sẽ bê tha tới mức nào đây! ! Đó chính là nguyên nhân tôi thấy phải có trách nhiệm viết, có đoạn tác giả viết đại để như thế này: (Khi nhận được tin nóng từ máy bay quan sát cho biết từ điểm X một đoàn xe địch rất đông đang từ đó di chuyển về hướng Quân Đoàn II). Tư Lệnh Quân Đoàn I, lạnh lùng trả lời: - Hãy để cho nó đi ! Lời nói nhẹ nhàng! Nhưng nó biểu lộ một sự lựa chọn vô trách nhiệm, nhất là nó phát ra từ lồng ngực của một quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật cao, mà còn vô trách nhiệm như vậy! Ôi! Có thể như vậy sao? Ông Trời tuy xa vời vợi, khó với tới, nhưng rất dễ cho mọi người cảm nhận được, trời ở nơi nao? Lời văn độc ác trời có thể thấy rất rõ, thấy rất chi tiết, thấy rất công bằng và phán xét rất công minh. Ra ngoại quốc ai mà không khắc khoải nhớ về quê hương thân yêu, tôi hoàn toàn chới với giữa giòng đời chen chúc bởi lòng vòng trong ghen tị, ôi chao với kẻ thù cũng có mà với bạn bè cũng khá nhiều, nhưng với bạn thì chan chứa độc ác, phát xuất từ ganh tỵ, cái ta cao chót vót, không dung tha một người nào, càng nhiều danh vọng, càng lắm tên bay, đạn lạc. Cả hàng tá tổ chức phục quốc, tôi không biết phải làm gì với sự mong muốn hèn mọn của mình, sau một thời gian suy diễn lung tung, tôi chỉ còn thấy tổ chức của ông Nguyễn ngọc Huy là chỗ dựa tinh thần vừa phải, nên phải bước vào lắng nghe, xem thực hư thế nào, một buổi chiều thứ tư đẹp, tháng tư, năm 1986. Thật lòng mà nói, trước năm 1975 tôi nhìn tướng Trưởng với con mắt thật bình thường, không ác cảm, mà cũng không có nhiều cảm mến. Trung tá Nguyễn văn Viên người anh quí mến của tôi, năm 1954 là quyền tiểu đoàn trưởng TĐ5ND lúc đó tướng Trưởng mới ra trường là trung đội trưởng, anh Viên rất tốt với ông Trưởng, mời về nhà dùng cơm nhiều lần. Nhưng rồi đường binh nghiệp của anh Viên lắm chuyện không hay, nên anh phải tự chọn con đường giải ngũ......Sau này lúc tướng Trưởng (1 sao) làm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh Viên bị gọi tái ngũ với cấp bậc Thiếu Tá làm việc tại địa phương, chi khu, dưới quyền tướng Trưởng, anh Viên không muốn gặp ai cả, lại còn mặc cảm thông thường thế nhân, bất ngờ tướng Trưởng tới thăm đơn vị, nên anh Viên đành phải trình diện. Tướng Trưởng nhận ra cấp chỉ huy cũ của mình, nên tướng Trưởng mời gặp tại văn phòng lúc 11:00 ngày hôm sau. Anh Viên rất thận trọng, đến trước giờ ấn định, nhưng vẫn không được như ý, anh bắt buộc phải ra về, anh hơi buồn rồi bỏ luôn. Anh nghĩ rằng tướng Trưởng rất khó sắp xếp cho mình, anh rất thông cảm hoàn cảnh éo le, anh không muốn nhờ vả một ai, nếu anh muốn làm việc tại Sài gòn lúc bị gọi tái ngũ, cũng không khó khăn. Không may nay gặp phải tình trạng này, nên anh buộc lòng phải gọi về Sài gòn, gặp bạn cũ, xin về vùng lV, với mục đích chính, xa hẳn ảnh hưởng của tướng Trưởng. Trước khi đáo nhận đơn vị mới anh Viên có cùng chúng tôi hàn huyên tại Sài gòn. Anh không hề nói gì về việc anh xin thuyên chuyển. Mãi sau này khi gặp tướng Chinh tôi mới biết. Tướng Chinh cũng như tướng Giai đều nói, nếu biết anh Viên bị tái ngũ, thì anh Viên muốn về đâu, hai vị này đều có thể lo cho anh Viên được như ý. Anh Viên được như ý, thuyên chuyển về quân đoàn lV, không may tướng Trưởng lại về vùng lV, lần này may mắn không phải như trước do thời gian ngắn ngủi. Nên chưa gặp mặt trực tiếp. Tướng Nam thay thế Tướng Trưởng. Tướng Nam muốn cất nhắc anh Viên. Anh từ chối và xin tướng Nam cho anh được an phận. Anh Viên lên Trung Tá thường niên rồi mất nước. Năm 1976 anh Viên xin được một chiếc máy đánh chữ và một chiếc máy quay ronéo, cả hai máy đều đã quá cũ, từTướng Đỗ kế Giai, (tướng Giai nổi tiếng như cụ Vương hồng Sển) anh in được một số truyền đơn, rải tại Sài gòn và Bà Rịa, không may bị lộ, Việt Cộng đã xử bắn anh Viên tại bến xe đò Bà Rịa năm 1976; sau 1 tháng tra tấn dã man. Việc này do tướng Đỗ kế Giai kể lại, cho tôi tại San Jose, có bác sĩ Trần lữ Y và Văn văn Của cùng nghe. Tại bàn tướng Giai không uống rượu, còn hai vị bác sĩ thì khỏi phải nói, tôi là bệnh nhân của bác sĩ Trần lữ Y tại Sài gòn, trước năm mất nước. Chúng tôi có được buổi gặp mặt, tại tư gia anh NQV, anh NQV là một người bạn tốt, mà còn là một thành viên cốt cán của giáo sư Huy, anh cư trú tại phía nam thành phố San Jose, tôi cố ý đến sớm hơn mọi người, để được nói vài câu chuyện, xa xưa, may mắn được gặp tướng Trưởng tại đây. Tôi uống bia, còn tướng Trưởng uống theo sở thích của ông, căn phòng rộng thênh thang, chỉ có hai chúng tôi. Đương nhiên tôi biết ông đã lâu, từ lúc sư đoàn Nhảy Dù thành lập Trung tâm huấn luyện quân sự, lúc đó thì tôi chưa đội nón Đỏ, cũng như chưa có tiểu đoàn Vương mộng Hồng, tinh thần làm việc của ông, tôi không sao có thể so sánh với bất kỳ một ai, riêng sức chịu đựng làm việc thì tôi có thể theo chân ông được. Theo sau thôi! Chúng tôi cũng có những câu xã giao với nhau thường lệ, như mọi người. Sức khỏe của ông lúc đó không có gì khác cho lắm, nhưng hình như ông bắt đầu vào thời kỳ suy thoái, là con người ai mà không phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử! Tôi nghĩ rằng: Lúc này đất nước còn đang cần những người như ông, tôi biết ông sẵn lòng đóng góp, thật tình không biết tổ chức nào, có sức hấp dẫn với ông. Mới đây một người bạn không thân thiết, so sánh tướng Trưởng với tướng Nguyễn chánh Thi, nhưng anh ta nặng đầu óc địa phương quá! Tôi mỉm cười cho qua chuyện, không bao giờ tôi lại đi so sánh hai vị niên trưởng, ở những lúc không cần thiết, tranh luận vô bổ, một người thì bày, một người thì dọn dẹp, một người thì to miệng, một người thì bé mồm; hãy để cho thế nhân bình luận cũng đủ lắm rồi! Thưa niên trưởng tôi có một thắc mắc, niên trưởng có thể trả lời, nếu không muốn niên trưởng có thể không trả lời. Cái gì mà nghiêm trọng vậy? Lúc sắp mất nước, Không Quân quan sát thấy...Tôi vừa nói tới đó, ông dơ tay cắt ngang, ông thở dài chậm rãi nói: Tôi hiểu rồi! Tôi tưởng việc gì trọng đại, tôi nghĩ việc này anh phải biết rồi chứ, pháo binh phải hiểu hơn ai hết...... Sau hiệp định Ba Lê quân đội ảnh hưởng nặng nề nhất, pháo binh chỉ được bắn mỗi ngày 20 viên đạn /một khẩu, trước đó bắn không hạn chế. Không phải chỉ có như vậy là thôi đâu, đến cuối năm thì chỉ còn 10 viên, rồi 5 viên.... Không Quân còn bi đát hơn nữa, hạn chế các phi vụ, hạn chế xăng nhớt, hạn chế bom đạn, nếu mình cho đánh bom đạn bừa bãi thì là hành động tự sát. Vì khi các Thành phố, cứ điểm của ta bị tấn công, lấy hỏa lực ở đâu để yểm trợ cho các đơn vị này, chúng ta bó tay, chịu đựng hay sao? Vấn đề này Quân đoàn đã tiên liệu từ lâu, nếu có sự kiện xảy ra như vậy, Quân đoàn có nhiệm vụ phải báo cáo ngay cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây có trách nhiệm điều động hỏa lực tiêu diệt lực lượng đich, như vậy việc tiêu diệt địch di chuyển bằng xe hay là di chuyển băng đồng, nếu không có đụng độ trực tiếp với các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn, thì đều do sự điều động hỏa lực của BTTM/QLVNCH. Quân đoàn bó tay, những sự kiện này xảy ra nhiều lúc rất đau đầu, tôi thấy đây cũng chính là một trong những lý do đưa chúng ta đến mất nước, lưu vong như ngày hôm nay. Vì thấy địch mà không được đánh, từ đâu ra nông nỗi này. Nhiều người không hiểu đã ăn nói bừa bãi, gây đau lòng nhau, không ích lợi gì, mà chỉ có lợi cho lòng tự tôn, tự đại của họ mà thôi, tôi thấy thương họ, hơn là oán hận họ, lúc này là giai đoạn cần phải thận trọng, thêm bạn bớt thù, đó mới chính là mục tiêu hàng đầu của chúng ta. Đã là con người ai cũng có những lúc lầm lẫn, tôi biết chính tôi đã có những lời nói, việc làm gây tổn thương người khác. Trong thời gian đó trăm ngàn dâu đổ đầu tằm, tôi chỉ còn biết công vụ và công vụ mà thôi; nội công vụ đã làm tôi quên hết mọi việc, gia đình xã hội tôi đều mắc lỗi, lỗi nặng, tôi rất ân hận vô cùng, xin gia đình, xin các chiến hữu hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả hành động không vừa ý của tôi đã đối với họ . Tôi xin ngẩng cao đầu chịu tội. Trưởc linh hồn các chiến hữu đã khuất, trước ý chí cương cường các chiến hữu còn nuôi ý định quang phục quê hương, trước gia đình thân yêu của họ và của tôi. Cho nên khi Không Quân xin oanh tạc, tôi đành phải cắn răng mà nói, như anh đã nghe. Không lẽ mỗi khi có sự kiện xảy ra đau lòng như vậy! Tôi phải giải thích với từng người; về hoàn cảnh ê chề của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy hay sao? Thú thật tôi không có thì giờ, tôi cô độc lắm. Hoàn cảnh khó khăn, tàn độc mà chúng mình phải chịu chi có những người chung số phận, mới hiểu được, còn những vị chuyên ăn trên ngồi trốc làm sao hiểu được, họ là những người chuyên (ăn t... nói p..... Mà thôi! Càng không nên tranh luận với những người này). Lúc đó tôi có trăm ngàn việc phải lo, đâu phải chỉ có những việc đơn giản như vậy đâu! Chúng ta hãnh diện là những quân nhân vào sanh ra tử, không trốn tránh trách nhiệm khi đất nước cần đến sự hy sinh xương máu của chúng ta, không lẽ bây giờ chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm với đồng bào ruột thịt của chúng ta, tôi không muốn lên tiếng vì tôi thấy khó chịu khi phải nói chuyện với những chuyên viên như vậy!!! Anh nên cẩn thận khi nói chuyện với họ! Tôi không quên toán tiền trạm năm Mậu Thân, do anh điều động thay anh Lưỡng đã giải tỏa áp lực địch cho tôi. Thưa Niên trưởng, đó là chuyện bình thường thôi! Thưa quí vị Sở dĩ có việc này là do, Tết năm Mậu Thân, Cộng quân tấn công vào Huế, vì bất ngờ, nên đặc công đã chọc thủng hàng rào phòng thủ của trại Mang Cá, rồi lần mò vào tới sân cờ của BTL/SĐ1BB. Các đơn vị cơ hữu của SĐ1BB đều không thể điều động được. Tướng Trưởng không liên lạc được với Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù, tất cả hệ thống liên lạc chỉ huy của Chiến Đoàn Nhảy Dù, cũng như nhiều hệ thống chỉ huy khác trong vùng đều bị phá, không liên lạc được, bắt đầu từ thời điểm đó, hệ thống liên lạc, cũng nhu vũ khí, đồ trang bị của địch, hơn hẳn ta! Nhưng trên hệ thống tác xạ của Pháo Binh, vì máy GRC5 dùng bình điện xe, nên công xuất mạnh, nhờ vậy tổng đài của pháo binh vẫn liên lạc tốt, do đó tôi mới làm trung gian (nhận lệnh và chuyển lệnh) toán tiền trạm đã nhận lệnh của Chiến Đoàn Trưởng, do tôi chuyển lệnh, nhờ vậy toán tiền trạm đã có mặt kịp thời trợ giúp cho BTLSĐ1BB, tránh được điều đáng tiếc xảy đến. Tôi nhìn tướng Tưởng mờ mờ qua giòng lệ hiếm hoi, tôi tự thấy mình đã có điểm sai, tôi không còn đủ can đảm hỏi ông điều nào nữa. Chúng tôi như đang ôn lại thế ra cửa máy bay, dấu giầy saut in đậm trên áng mây trắng rất hiền hòa miền Hậu giang, miền Đông..v..v.. Trận mạc đâu còn ý nghĩa gì, hãy quên đi, nhưng thế ra cửa phi cơ phải khắc ghi trong tủy sống. Tiếng thở dài không biết phát xuất từ lồng ngực nào, hãy tha thứ cho họ, hãy vui đi, hãy cười lên, cho dù là nụ cười muộn màng, héo hon. Lúc đó mới.....Chợt nhận ra: Người làm nhiều điều vô vụ lợi cho tha nhân! Là người ngu đần, dại dột. Người hy sinh nhiều! Là người u mê nhất trần gian. Người giúp đỡ nhiều người! Là người muốn tự hủy hoại mình..... Vì hậu quả sẽ nhận lại, chỉ có đắng cay mà thôi, chắc chắn sẽ được bồi hoàn không thiếu một chỉ ! ! ! Đời sống là như vậy đó, càng oán hận lại càng u u minh minh. Người quên ơn, là người bất nghĩa, liệu đường mà đi , không được oán hận, mà phải đón nhận. Vui cười mà đi. Đừng buồn chi ! Ai ơi ! ! ! Tôi không đủ can đảm nhìn lại bóng ngày qua .,. Bùi đức Lạc Tháng Tư năm 2018

Friday, April 16, 2021

BÙI ĐỨC LẠC -- ÔI CHARLIE 


Nguyễn Đình Bảo, chúng tôi quen nhau thật tình cờ tại Camp Leautey đường Pavie Sài Gòn năm 1955, lúc đó Bình Xuyên vẫn còn làm mưa, làm gió tại Sài Gòn-Chợ Lớn, chúng tôi có chơi với nhau nhưng không thân cho lắm, Bảo nhập ngũ vào trường Võ Bị Đà Lạt, tôi ở lại nhưng không bao lâu rồi cũng nhập ngũ vào Thủ Đức, truân chuyên trong Quân Đội nhưng không gặp mặt nhau một lần, mãi tới năm 1966 chúng tôi mới có dịp gặp nhau, vì cùng nhảy dù bồi dưỡng tại Ấp Đồn.


Vẫn với dáng đi vất vưởng, không cần nhìn mặt, chỉ cần nhìn tướng đi là nhận ra Bảo ngay, tôi không rành về tướng số, nhưng tôi đã nghe chính Bảo nói:


“Thầy tướng nó bảo tao, vì tướng đi của tao mà cuộc đời tao sẽ không khá được”, tôi nói rất tự nhiên như mình rành tướng số, sự thực chẳng hiểu gì về tướng số, cái chuyện trông mặt mà bắt hình dong, đâu có thể phán bừa bãi như vậy được! Nên tôi trấn an ngay:


– “Đừng tin nhảm nhí” đó là chuyện đã qua, hôm nay vừa thấy tôi, Bảo mừng rỡ lên tiếng trước.


-Ê , mày về đây hồi nào vậy, mày có biết tao ở đây không? Tại sao không kiếm tao? Anh hỏi mà không cho tôi trả lời; Bảo vồn vã nắm chặt tay tôi. Tôi thật xúc động trước cử chỉ thân mật của Bảo, tôi không ngờ Bảo nhiệt tình như vậy, trước khi nhập ngũ chúng tôi có giao du với nhau, nhưng ít khi hàn huyên tâm sự, khi Bảo rủ tôi thi vào khóa 14 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tôi bỏ cuộc Bảo buồn lắm, chúng tôi đều chung hoàn cảnh không có tiền, tiễn nhau lên đường nhập ngũ không bằng chén ly bôi, mà bằng hai đứa uống chung một ly đậu đỏ bánh lọc tại chợ Bến Thành, tôi tình nguyện về phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù, tôi không hề biết có Bảo và Tuyển đang ở đây, nhưng khi tôi cầm lệnh thuyên chuyển tôi mới biết là có một số bạn cũ, kể cả các bạn cùng khóa đang phục tại đây, tôi chưa kiếm Bảo có lẽ tôi ngại, không hiểu Bảo có còn nhận ra tôi hay không, những ý nghĩ kỳ quái đó cho nên tôi dứt khoát không đi kiếm Bảo, cũng như những bạn cùng khóa tôi không đi kiếm ai, nhưng bây giờ tôi thật sự hơi ân hận:


-Tao có nghe tụi thằng Tân (là bạn chúng tôi, Đỗ văn Tân cũng ở trại Phú Thọ, Tân vào khóa 8 Thủ Đức, hình như sau này là Trung Tá trung đoàn phó tại SĐ18BB, Tân mất khi mới ra tù) nó nói mày ở đây, nhưng chưa kịp đi kiếm mày, mày biết đó, đơn vị tân lập trăm chuyện phải lo, tao có hỏi thăm biết đơn vị mày đang hành quân, nên chưa kiếm mày, đây là saut bồi dưỡng đầu đời của tao, lính mới tò te mà.


Tối hôm đó chúng tôi đi chơi với nhau khá khuya, nếu sáng sớm hôm sau tôi không phải huấn luyện đơn vị, chắc chúng tôi đi thâu đêm; Bảo cho tôi biết có Tuyển cùng ở Nhảy Dù và đang du học Hoa Kỳ, tôi cùng ở Gia Long với Tuyển, Bảo biết chuyện đó, tôi ngắt lời Bảo.


-Tuyển nó có khá không?


-Nó cũng lằng nhằng như tao vậy thôi. Cầm ly rượu trên tay Bảo nói.


-Mày có biết là Nhảy Dù có luật, nếu ngang nhau thằng nào có bằng Nhảy Dù trước là anh, thằng nào có bằng Nhảy Dù sau là em; vậy ngay từ bây giờ mày phải gọi tao là anh; với tư cách là thằng anh của mày, tao sẽ tặng mày một thứ mà ai trong binh chủng Nhảy Dù cũng thích, tôi nhìn Bảo cười đáp trong hững hờ.


-Bây giờ cấp bậc và chức vụ tao đều kém mày, gọi mày là anh có sao đâu, nhưng tao cũng có cái luật của tao, thằng nào muốn tao gọi bằng anh phải chi địa cho tao.


-Tiểu đoàn phó nghèo lắm em ơi, còn thua mày nữa, nhưng tao sẽ tặng mày thứ khác quí hơn là địa.


Sáng sớm hôm sau, Bảo mang đến cho tôi hai bộ quân phục, dành riêng cho binh chủng Nhảy Dù, một bộ hoa đỏ và một bộ hoa huyết dụ, hai bộ này quí thật, vì không còn phát nữa, tuy vậy dù với chức vụ Pháo Đội Trưởng Pháo Đội tân lập, chuyên môn đi dẹp biểu tình, tôi cũng tự nhiên phải có dễ dàng, lúc đó Sư Đoàn Nhảy Dù mới có hai pháo đội, tôi thành lập pháo đội thứ ba là Pháo Đội C Nhảy Dù, Pháo Đội A Nhảy Dù do Trung Úy Nguyễn văn Nghi thành lập, Pháo Đội B Nhảy Dù do Trung Úy Hà minh Phương thành lập.


Nhận hai bộ quân phục này tôi quí nó vô cùng, vì cách cho của Bảo, tôi trân trọng nhận nó, coi nó như một bảo vật, hiện tới giờ phút này tôi vẫn còn giữ được bộ quân phục mầu huyết dụ, tôi dự trù sẽ tặng bộ quân phục này cho một người bạn dùng để triển lãm, để nó còn được nhiều người chiêm ngưỡng. Tôi quí Bảo ở tính tình thật đôn hậu, lúc nào cũng thật tình với bạn bè, đi chơi với Bảo tôi có cảm tưởng như luôn luôn được bao bọc, anh sãn sàng hy sinh mọi quyền lợi cho bạn bè, ngày còn giang hồ chưa vào quân đội, Bảo quen một cô đầm lai (do tôi giới thiệu, cô này là bạn Hướng Đạo với tôi, khi tôi học bách nghệ tại Camphamine, Hòn Gay, Quảng Yên; vì vậy tôi quen một số đông trong Camp Leautey) nhưng Lợi móm cũng thích cô đó, Bảo nhường ngay cho Lợi móm, không so đo kèn cựa, không bao giờ anh đối xử xấu với ai, cho dù người đó đối thật tệ bạc với anh, anh thật độ lượng, anh tha thứ lỗi lầm cho cả người trên lẫn kẻ dưới, không bằng lòng chuyện gì, anh đối đáp liền, sau đó anh quên ngay và tha thứ, nhưng anh có biết đâu chẳng bao giờ họ tha thứ cho anh.


Khi Bảo lên Trung Tá, cũng vẫn chưa được làm Tiểu Đoàn Trưởng, giữa chiến trường Hạ Lào,(chúng tôi cùng đóng chung với nhau tại căn cứ lấy tên ngụy danh là A Lưới, nhưng tên địa danh trên bản đồ đúng tên là Bản Đông tại đường số 9 Nam Lào, cách Tchépon khoảng 15 cây số, lúc đó Bảo là Phụ Tá Hành Quân cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, chức vụ ngồi chơi xơi pháo, không có một người thuộc cấp, như vậy có thảm hay không) mừng Bảo thăng cấp, dưới cơn mưa pháo của địch, tôi và Bảo có thói quen hễ có pháo kích, là hai thằng chạy ra hai hố cá nhân trên tuyến phòng thủ, ngay cạnh đài trung ương tác xạ của tôi, nên tôi mang theo chai rượu martell hai chữ “VS” ngồi dưới hai hố cá nhân, vừa đếm Pháo vừa nhâm nhi, ấy vậy mà có lúc chúng tôi có đại tiệc ngay tại chiến hào, một nhúm tôm khô, một nhúm củ kiệu, bữa tiệc linh đình dưới lằn đạn pháo thú vị chừng nào, chúng tôi nâng ly, tôi chúc Bảo may mắn với cấp bậc mới, mấy ai được uống rượu bên người tri kỷ dưới cơn mưa pháo như chúng tôi, tiếng đạn pháo 130 ly, hòa nhịp cùng hỏa tiễn 120 ly năm nòng, tiếng đạn réo trước khi chạm nổ như xé không gian, cũng không làm cho chúng tôi mất hứng thú, nhưng lại là liều thuốc làm bớt đi suy tư không đâu, thấy đời binh nghiệp của Bảo lận đận tôi ái ngại nói, vu vơ nói trong suy tưởng công bằng :


-Rồi cũng tới phiên mày được làm Tiểu Đoàn Trưởng nay mai,”với thói quen cẩn thận, dù là chúng tôi đang thưởng thức đủ loại tiếng nổ, đủ loại đạn, mới được đem từ Liên Sô qua, nên dù có nói lớn cũng không ai nghe” nhưng Bảo cũng nhoài người trên mặt đất, ghé sát tai tôi nói:


-Mẹ kiếp! Rồi cũng phải tới phiên chúng mình không lẽ cù nhầy thế này mãi sao ?


Đúng ra Bảo phải được làm Tiểu Đoàn Trưởng lâu rồi, có người về Nhảy Dù sau Bảo cả bốn, hay năm năm gì đó, khóa sau Bảo, lên lon sau Bảo, làm tiểu đoàn phó sau Bảo, nay cũng đã nắm Tiểu Đoàn Trưởng cả năm rồi; ôi ! ! ! quả thật Bảo kém may mắn, thời gian làm Tiểu Đoàn Phó, chiến công của Bảo nhiều khi đến với người khác, nhiều chuyện oan của Bảo, tôi chứng kiến tận mắt, tận tai, nhưng bây giờ mọi việc đã qua rồi, mong sao Bảo hiểu cho tôi, lúc đó tôi không nói hết những chuyện đê hèn này với Bảo, tôi muốn chúng tôi ở trên mọi người, hãy tha thứ cho họ………Bảo nhé ! ! !


Bảo khoái nhất chức vụ mới của Bảo, do tôi bổ nhiệm chức vụ này là: Ngồi Chơi Xơi Pháo. Tại Hạ Lào Trung Tá Trí Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9ND bị thương rất nặng vì pháo kích, ngay trong căn cứ A Lưới, cùng trong một Lữ Đoàn, cùng một vị trí, hơn thế nữa Bảo đã làm Tiểu Đoàn Phó TĐ9ND rồi, sau khi Trung Tá Trí tản thương, Bảo vẫn ngồi chơi xơi pháo, chẳng ai ngó ngàng tới, trên lại chỉ định Trung Tá Lê văn Ngọc đang làm Lữ Đoàn Phó LĐ1ND ra chỉ huy TĐ9ND, đúng ra để Bảo chỉ huy TĐ9ND cũng là muộn màng rồi, nhất là nay Bảo đã lên Trung Tá, vậy mà cơ hội làm Tiểu Đoàn Trưởng vẫn chưa đến với Bảo; thế là thế nào? Bảo có làm tiểu đoàn trưởng lúc đó cũng chỉ là người cũ việc cũ, thuận lợi hơn, quen thuộc hơn, tại sao bất công như vậy? Tại sao ? Tại sao? Sau này tôi mới biết vì không có ai đề nghị, cũng như lon Trung Tá của Bảo là do máy điện toán cho lên lon, thật quá hẩm hiu? Tới phiên tôi cũng không hơn gì Bảo cũng máy điện toán cho lên, không thằng Tây nào nó muốn cho lên cả.


Tôi chính thức được làm Tiểu Đoàn Trưởng trước Bảo, anh vui mừng nói như reo lên:


-Mẹ kiếp, tụi mình thân cô thế cô, dân Pavie-Lamothe thằng nào lên là mừng.


Một hôm từ đồi Long Bình về căn cứ Hoang Hoa Thám, tôi đón Bảo đi chơi, cũng lúc ly rượu trong tay, tôi mỉm cười nhắc Bảo:


-Mày có biết Nhảy Dù có luật gì hay không ? Bảo trợn mắt không hiểu gì cả, nét ngây thơ cụ làm tôi bật cười, :


-Ở Nhảy Dù có luật chắc mày phải biết chứ ?


-Tao biết chó gì đâu.


-Tao cho mày biết cái luật cổ điển này của Nhảy Dù…….mắt Bảo nhìn tôi chăm chăm, tai lắng nghe trông thật dễ thương, tôi không giám đùa nữa, thật sự tôi không muốn nói nữa, nhưng Bảo thôi thúc.


-Luật gì mày nói đi, tôi đành nghiêm chỉnh nói:


-Thằng nào làm Tiểu Đoàn Trưởng trước, thằng đó làm anh. Tôi vừa nói đến đó, Bảo la làng “cha” anh đập nhẹ tay lên bàn, rồi vừa cười vừa nói:


-Thằng này xỏ lá, nó nhắc khéo mình, Bảo đứng lên khoanh tay nhìn tôi mỉm cười và nói rất tếu:


-Thôi cũng được, thưa anh; anh cho em xin anh một trăm. Chúng tôi cùng cười lớn hòa nhịp với nhau, tôi vội vàng móc túi đưa Bảo một trăm, Bảo biết mình hố đính chính ngay:


-Tao xin một ngàn cưa.


-Bỏ đi tám, quân tử nhất ngôn.


Thế rồi Bảo cũng phải làm Tiểu Đoàn Trưởng trong muộn màng, hôm Bảo nhận bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ11ND với Trung Tá Ngô Lê Tĩnh tại đồi Long Bình, tôi ngồi trên khán đài (ngay phía sau vị anh cả của đơn vị), để chứng kiến cuộc bàn giao, câu chuyện cấp trên nói với nhau, tôi nghe được mới hiểu Bảo bị chậm trễ là do không ai đề nghị cả, ông nhiều việc nên quên Bảo, ông tỏ ra ân hận về việc chậm trễ này.


Vừa nhận chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng ngồi chưa nóng ghế, ngay trận đầu xuất quân, khi giải tỏa quốc lộ 22, Bảo bị thương nơi mắt vì mảnh đạn súng cối của địch. Trong trận Dambe, Campuchia, khi tấn công địch, cũng như khi rút lui, Bảo đã chứng tỏ cho thuộc cấp, đơn vị bạn cùng binh chủng, đơn vị bạn khác binh chủng, đều thán phục khả năng của một Tiểu Đoàn Trưởng, đầy kinh nghiệm chiến trường, khả năng xử dụng hỏa lực, khả năng điều quân, phối hợp liên quân Thiết Giáp-Bộ Binh thật tuyệt vời.


Bạn thân trong binh chủng cũng đông, cùng khóa cũng lắm, nhưng khi đi hoạt động chung, lúc nào tôi cũng lưu tâm đến cánh quân của Bảo hơn những cánh quân khác, anh chỉ huy ngoài chiến trường rất bén nhậy, anh biết tiến thối đúng lúc, nhưng không hiểu vì sao? Dù thắng trận vẻ vang, nhưng quân số của anh cũng bị hao hụt hơn các đơn vị khác, mặc dầu anh điều quân rất dè dặt, không bao giờ húc bậy. Người ta ác miệng nói anh chỉ huy sát quân, tôi không tin như vậy. Đó là lý do nếu có hành quân chung, tôi thường ưu tiên hỏa lực cho Bảo, năm 1969 lúc đó tôi còn làm Tiểu Đoàn Phó TĐ1PBND, Bảo làm Tiểu Đoàn Phó TĐ9BBND, chúng tôi hoạt động chung, lúc nào tôi cũng ưu tiên hỏa lực cho Bảo, có người biết được một nửa chuyện, cho rằng tôi thân với Bảo nên mới ưu tiên như vậy.


Những trận nhỏ không kể, tính trận chính thì trận mùa hè đỏ lửa tại Tân Cảnh là trận thứ Ba trong đời làm Tiểu Đoàn Trưởng của anh.


Charlie. Ai nhận lãnh lấy cái búa này cũng phải lãnh hậu quả tai hại như nhau, ngồi đón pháo địch, như một cuộc xổ số để nhận thương đau cho mọi người, cuộc xổ số không phân biệt cấp bậc hay chức vụ, không phân biệt mầu da hay chủng tộc, một lúc nào đó phải đến phiên mình, không lẽ cuộc xổ số không có người trúng, nếu không có người trúng, cuộc xổ số sẽ không có hồi kết, cuộc chơi như vậy!!!!!!!!!!! Làm gì có cuộc hành quân nào trên thế gian này ngớ ngẩn hơn thế, hay không nhỉ?


Cuộc hành quân không có hay, không có dở, không có can đảm, không có mưu lược, không có thắng không có bại, không có cao không có thấp, không có danh dự, tất cả chỉ là không, thì làm gì có kết luận. Nói rằng cần nút chặn không cho địch quân băng qua, càng điên rồ hơn, bằng cớ rằng sau khi Charlie không còn, địch quân vẫn không băng qua con hẻm đó, để đánh Tân Cảnh hay Kontum. khi đánh Tân Cảnh lực lượng chính của chúng là chiến xa, chúng xuất phát quân từ Darkto tới đánh Tân Cảnh, hơn nữa con sông Pô Cơ là một chướng ngại thiên nhiên đáng kể, nên không thể xuất phát từ Charlie để đánh Tân Cảnh, hay Võ Định, chúng phải đánh Charlie, Delta, Alpha vì đó là cái gai trước mắt, hơn nữa miếng mồi ngon dễ đánh hơn, phòng thủ không kiên cố bằng Tân Cảnh, ngoài ra những vị trí này là tay chân của Tân Cảnh, nên nếu muốn dứt Tân Cảnh phải chặt chân tay trước, mà cái nào dễ thì làm trước! ! ! Có người cho rằng cần Charlie là đài quan sát, nên địch phải tấn công, cũng ngụy biện, vì đỉnh Yankee ngay sát bên cạnh cao hơn nhiều.




Thế rồi cứ nằm nhận mọi hình phạt cho nát tan, một tiểu đoàn phải đương đầu với nguyên một sư đoàn Cộng quân, thêm một sư đoàn trừ bị, thêm trận đòn pháo, không tiến không lùi, một võ sĩ hạng nặng như Mike Tyson, khi lên đài anh có thể hạ một địch thủ to như con bò mộng trong vòng không đầy một phút, nhưng nếu anh đi lạc vào khu cấm kỵ New York cũng chỉ không đầy một phút anh phải đo ván ngay, biết rõ tình hình bất lợi cho ta như vậy, Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng đã nhất mực trình bầy cùng Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Quân Đoàn II tình hình tại chỗ, theo như tình hình này, nếu đóng quân một chỗ, sẽ hoàn toàn bất lợi cho TĐ11ND, ông đề nghị cho TĐ11ND được tự do hoạt động, đừng bắt một đơn vị năng động phải đóng quân tại chỗ, nhưng đều đón nhận câu trả lời, như một học sinh lớp đồng ấu trả bài “trên không chấp thuận” mà trên là ai vậy? Đây là một cuộc hành quân hay đây là một cuộc hành hình? Hay là cuộc sổ số, bắt những tử tù, nhốt vào một sân vận động, mỗi người đào một hố cách nhau 5 mét, rồi bắt đầu dội pháo vào đó, bắt buộc kẻ trước người sau phải nhận lãnh pháo, phải nát thây là một chuyện đương nhiên, không khôn không dại, không nhanh không chậm, lúc nào đến phải nhận, không một ai tính toán, cho mình hay cho cấp dưới của mình, mà là từ trên xuống dưới giống nhau, cùng đón nhận lệnh như nhau là nằm đó chờ chết.


Charlie là tiếng gọi chữ C của quân đội đồng minh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Cải Cách, tiếng học vỡ lòng là Xê, tên căn cứ quân sự không có một ý nghĩa thâm sâu, mà là theo thứ tự A, B, C, D cũng như 1, 2, 3, 4 nó đơn giản và thẳng thắn như tính tình của Bảo vậy, anh không thuộc loại người ồn ào, anh vui vẻ, chịu đựng mọi chèn ép tầm thường, ê chề nhất là những ngày anh làm tiểu đoàn phó; sức chịu đựng của tôi quả thật kém anh xa.


Ngày1 tháng 4 năm 1972, trong lúc căn cứ Delta bị áp lực quá mạnh, thì căn cứ Charlie hoàn toàn yên lặng, Đại Tá LĐT biết rằng địch quân không giám mở hai mặt trận cùng một lúc, khi chúng thất bại nặng nề tại Delta I, Delta II và Alpha ….Chúng biết rằng chúng đang gặp phải một đối thủ lợi hại, cả tinh thần cũng như khả năng tác chiến, đều trên chân chúng, chúng phải đổi chiến thuật mới, dùng pháo để tiêu hao lực lượng của ta. Biết địch, biết ta nhưng LĐ2ND phải bó tay. Phải đón nhận chua cay, lúc đó đã có những phản ứng…….là phải chặt ngay những lệnh điên rồ đo,ù từ nơi phát xuất…nhiều cách có thể làm được……..mọi việc đã lên khuôn……nhưng rồi đành để Charlie an bài ! ! ! đau thay. Địch quân như biết được sự bất lực này, nhất là Charlie ta khó phòng thủ hơn, đương nhiên chúng phải dễ đánh hơn, Charlie không phải là một đỉnh quân sự, nên dễ pháo hơn, dễ điều chỉnh pháo binh hơn, khi LĐ2ND xuống thám sát theo chỉ định của Quân Đoàn phải thiết lập một căn cứ tại đây (mặc dù lúc đó đang dưới quyền chỉ huy của SĐ22BB), không hiểu sao Charlie đã có chỗ ủi bằng để làm căn cứ, vết ủi đất mới trước đó ít ngày, sau này chúng tôi mới biết công binh của SĐ22BB đã ủi sẵn như vậy, cho nên có thể địch quân đã thám sát trước LĐ2ND cũng không chừng? Bởi vậy chúng thỏa thuê thi hành ý định mới của chúng, nên đã bắt đầu điều chỉnh pháo 130 ly từ dẫy Big Mama vào Charlie, ngay cả những lúc CNC của Đại Tá LĐT và tôi còn bay trên trời, chúng không sợ bị quan sát thấy vị trí súng, đủ chứng tỏ vị trí súng không quan sát thấy máy bay, và máy bay cũng không thấy vị trí súng, vì khoảng cách quá xa (trên 20 cây số). Cũng chính lúc đó Đại Tá LĐT cho lệnh Bảo thiết lập căn cứ Charlie, đây là một lệnh ông không muốn ban cho thuộc cấp của ông, một lệnh điên rồ, nhưng ông bất lực, nên tôi biết ông lo cho Bảo nhiều, ông thấy rõ những điều bất lợi cho Bảo, ông rất ân cần dặn dò những việc phải làm, mặc dầu ông dư biết Bảo thừa khả năng hiểu việc gì phải làm để đối đáp với tình thế này, chẳng hạn ông nhắc nhở phải làm hai TOC, đây là việc đương nhiên một cấp chỉ huy như Bảo phải biết; tôi cũng không quên nhắc, sĩ quan liên lạc của tiểu đoàn và các tiền sát viên của các đại đội, phải diều chỉnh ngay tác xạ cận phòng, hoạch định ngay tác xạ tiên liệu, tác xạ tiêu hủy ngay trên điểm đóng quân, căn cứ vào những tác xạ cận phòng đã được điều chỉnh kỹ càng, tôi dặn dò các Pháo Đội Trưởng, Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh của TĐ11ND phải thận trọng, trong các tác xạ qua đầu về hướng Tây Bắc của Charlie, đây là những mục tiêu bên sườn đối diện, nên phải bắn góc cao, không thể bắn góc xà được.


Trước khi ra về tôi bàn thảo thật kỹ với Bảo, chúng tôi trao đổi một vài kinh nghiệm về pháo của địch, chúng tôi thông cảm nhau hơn, sự hiểu biết của chúng tôi cùng một cung đàn, buổi nói chuyện không bị lạc điệu, nên rất dễ nói chuyện, trước khi ra về tôi còn nói đùa với Bảo.


-Căn cứ này giống căn cứ A Lưới ở Hạ Lào quá, (tôi và Bảo cùng ở căn cứ A Lưới) mày cứ tưởng tượng, hướng tây ở đây là hướng bắc của A Lưới là đúng ngay boong.


-Ừ nhỉ, tiếng bắn của 130 ly cũng xa như vậy, nhưng ở đây ít súng hơn, nó chỉ có hai khẩu mà thôi.


-Hai khẩu cũng đủ nát người rồi, phải cẩn thận, ở đây tiền sát viên của nó bám mình dễ dàng, nó điều chỉnh là mệt đó, theo tao hiểu nó đang điều chỉnh vào đây.


-Ê mày, mày có biết tụi nó bắn thằng Mạnh (Mạnh là tên của sĩ quan tiểu đoàn trưởng TĐ2ND) loại súng gì mà nó vừa bắn một cái là đạn tới mình ngay?


-Đó là 75 ly (sơn pháo) loại nòng dài, nó cũng được xe kéo như súng 105 ly của mình, hay súng 130 ly của nó, nhưng nó có sơ tốc cao nên đạn tới nhanh vậy thôi, sức công phá của nó yếu, không chính xác như các loại súng có nòng lớn hơn, mày nhớ hôm mình vừa tới A Lưới, ngay ngày đầu nó dùng hai khẩu bên kia sông chơi mình đó, súng này khó nhận ra vị trí của nó, khi tác xạ nó nhả ra rất ít khói, tầm bắn của nó cũng ngắn mà thôi, ngắn hơn 105 của mình.


-Nhớ rồi,sau đó nó bị mình dập tắt ngay. Phải công nhận pháo binh của mình còn trên chân nó xa.


-Thì có đơn vị nào của mình dưới chân tụi nó đâu.


Ngày 7 tháng 4 năm 1972, toàn bộ TĐ7ND vào thay TĐ2ND. Chúng tôi đáp xuống Delta khi hai đơn vị vừa hoán đổi xong, rồi đáp xuống Charlie và Alpha. Hôm đó là lần cuối cùng tôi và Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng có thể đáp xuống Charlie, ông biết sức công phá của pháo binh địch, ông biết là nhờ vào kinh nghiệm, chính BCH/LĐ2ND bị 130 ly hỏi thăm tại chiến trường Hạ Lào, ông cũng biết vật liệu làm hầm của các đơn vị dưới quyền ông, không đơn vị nào có vật liệu làm hầm chỉ huy (TOC) chống nổi các loại đạn pháo nổ chậm(Delay), hay các loại hỏa tiễn 120 ly, ngay cả hỏa tiễn 107 ly với đầu nổ chậm cũng vậy mà thôi, nên ông nhắc lại Bảo là phải có hai TOC và phải phân tán các cấp chỉ huy, không nên ở gần nhau, các hầm không nên làm lớn, cho các con cái bung rộng ra để tránh tổn thất vì Pháo.


Kể từ ngày 7 tháng 4 năm 1972 các vị trí của ta đều bị pháo địch quấy phá, nhưng cường độ pháo không cao, tôi trình bầy trong buổi họp hành quân là: Chúng đang điều chỉnh các loại pháo của chúng, vào tất cả các vị trí đóng quân của ta, tôi cũng trinh bầy tầm xa của pháo 130 ly, hiện tại chúng đang đóng pháo tại dẫy núi Big Mama, chúng chỉ có khả năng pháo tới dẫy đồi không tên, tức là các căn cứ 5, căn cứ 6, căn cứ Yankee, Charlie, Delta, Alpha đều trong tầm pháo 130 ly của chúng, còn các căn cứ khác ngoài tầm, kể cả Tân Cảnh, chúng sẽ đánh Charlie nay mai, việc chuyển quân của chúng rất dễ, vì Delta quá gần với Charlie, chúng ta cần phải bung ra diệt các toán tiền sát viên. Nhưng có vị trí không làm được điều này, có vị trí thành công mỹ mãn, thành công nhất phải kể đến ĐĐ2TSND, ban đêm đã cho các toán trinh sát, xuất phát hoạt động chung quanh căn cứ Võ Định, đã tiêu diệt các toán tiền sát viên, cũng như các toán tiền thám của địch, nhờ vậy địch quân ít pháo trúng Võ Định, trong thời điểm này pháo 130 ly của địch bắn, nhiều người cho rằng chúng pháo quấy rối, thật sự chúng đang điều chỉnh cho những loạt đạn vào trúng các căn cứ của ta, nên một hai ngày nay chúng vẫn chưa điều chỉnh xong, chính vì hệ thống liên lạc của chúng bị gián đoạn, cũng chư kỹ thuật của chúng còn non kém, chúng đang khai thác các sơ hở của ta trên hệ thống liên lạc, để giúp chúng có thể đưa các loạt đạn pháo như ý muốn của chúng, cho nên không bao giờ chúng tôi giám báo cáo thật với BTL của SĐ22BB hay QĐII về vị trí các điểm chạm của pháo địch, chúng tôi sợ nhất là nội tuyến của địch sẽ cung cấp tin tức các điểm chạm này cho địch, căn cứ vào đó địch quân sẽ cho chúng tôi lãnh trọn tang thương, kinh nghiệm xương máu của các hành quân trước đã dậy chúng tôi như vậy, quân đoàn muốn chúng tôi trưng bằng cớ (mảnh đạn) các loại đạn pháo binh mà địch đang xử dụng, lúc này quả thật chưa có thể lấy mảnh đạn hay đầu nổ được, vì các loạt đạn vẫn còn trúng ngoài căn cứ, họ không tin có pháo 130 ly, quân đoàn nói rằng: Đường xấu chúng chưa kéo hai loại pháo binh này vào chiến trường Vùng II Chiến Thuật được, có lẽ tin của phòng 2 như thế, mà phòng 2 của ta thì lúc nào cũng nghèo nàn, chỉ dựa vào tin cố vấn Mỹ cung cấp, họ không chịu hiểu rằng chiến xa đi tới đâu, thì pháo có thể đi tới đó được, kinh nghiệm chịu pháo của trận Ha ỉLào, nên chúng tôi không có thể lầm lẫn được, mà lầm lẫn cái nỗi gì, khi tiếng súng bắn đi từ dẫy núi Big Mama, làm gì có loại súng nào khác, ta chỉ có súng 175 ly của ta mới bắn xa được như vậy, còn địch thì chỉ có súng 130 ly mới có tầm xa này, cái đau của chúng tôi là tất cả các cấp chỉ huy của Quân Đoàn, kể cả Cố Vấn Hoa Kỳ chưa một ai biết Pháo 130 ly ra làm sao, nội việc cho lệnh chúng tôi phải lấy mảnh đạn để xác nhận là 130 ly, cũng chứng tỏ là cấp chỉ huy chưa có kinh nghiệm chiến trường, chưa có kinh nghiệm về cách xác định các loại pháo, vì xác định chính xác nhất là đầu nổ của viên đạn hay đầu nổ của hỏa tiễn, vì đầu nổ nó sẽ nằm ngay tại điểm nổ, đất đã bị viên đạn nổ làm cho tan dễ đào, còn mảnh đạn thì (tìm em như thể tìm chim); dãy núi chúng đặt vị trí pháo trên bản đồ cách Charlie trên 20 cây số đường chim bay, chúng ta suy đoán cũng biết là súng gì rồi, lúc này lấy đầu nổ tại điểm nổ, thì không thể lấy được, vì chúng đang điều chỉnh đạn chưa trúng vào trong vị trí của ta, nên lấy mãnh đạn lại càng vu vơ hơn nữa “ khi pháo binh xử dụng đầu nổ nhanh, thì đầu đạn còn nguyên và ghim xuống ngay tại điểm nổ, chỉ cần dùng xẻng cá nhân bới nhẹ là thấy đầu đạn của loại súng nào bắn đến ta, đầu nổ tuy bị trầy sát nhưng các chữ cũng như số in chìm đọc vẫn được, hơn thế nữa theo chiều đầu nổ ghim xuống đất, ta có thể biết được hướng súng tới, nếu từ ba vị trí trở lên cùng bị pháo kích, nhờ phương pháp đo hố đạn, ta có thể xác định được vị trí pháo địch, đây là phương pháp tốt để kiếm ra vị trí pháo địch, nhưng cần phải có kinh nghiệm, phải có kiến thức cao, hiểu kỹ thuật mới làm được, nếu chỉ đo hố đạn ở một vị trí thì không thể xác định vị trị pháo của địch được, trong chiến tranh Việt Nam nhiều vị chỉ huy Pháo Binh lần đầu tiên đo hố đạn rồi cũng cho phản pháo để bịp, đó chỉ là hành động bịp điên rồ, nếu địch dùng đầu nổ chậm thì khó có thể lấy đầu nổ được, vì đầu nổ bị chôn khá sâu, chúng chỉ dùng đầu nổ chậm khi phá hầm hố kiên cố mà thôi, trong thời gian điều chỉnh, cũng như khi bắn tiêu diệt quân đi ngoài trời, hay hầm hố không có nắp thì pháo binh dùng đầu nổ nhanh, hay đầu nổ cao” , đến khi TĐ11ND có thể lấy được đầu nổ thì tiếp tế, tản thương đều khó khăn, rồi không còn tải thương cũng như tiếp tế được nữa, thì làm sao ai đưa đầu nổ ra ngoài đây, hơn nữa địch pháo liên tục, không pháo thì tấn công, làm sao có thì giờ nào đi kiếm đầu nổ, nhưng trên hơi ngớ ngẩn, lúc nào bị pháo cũng muốn đơn vị bị pháo lấy mảnh đạn, họ không hiểu lấy đầu nổ chính xác hơn, trong khi tiếp tế tản thương không được, thì dù có lấy được mảnh đạn hay đầu nổ cũng bằng thừa mà thôi.



Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng cùng Đại Uý Đoàn Phương Hải, sĩ quan hành quân, thuộc tiểu đoàn 11 Nhảy Dù


Ngày 8 tháng 4 năm 1972 một biến cố vô cùng quan trọng, một rừng phòng không chung quanh Charlie, ngày hôm trước không có một cây phòng không nào xuất hiện, SQLLPB/TĐ11ND cho tôi biết anh đã đếm được 10 vị trí phòng không chung quanh Charlie, tôi cho lệnh điều chỉnh pháo binh để tiêu diệt chúng, nhưng không có hiệu quả cho lắm, vì ta ở dưới thấp hơn, nên không nhận rõ vị trí của chúng, khi CNC vào vùng tôi xác định được một vị trí phòng không, tôi đã điều chỉnh một khẩu đội khóa họng chúng, nhưng không có quân tới lục soát, sau đó khi nào CNC của chúng tôi vào vùng chúng không khai hỏa nên không sao nhận diện được thêm một vị trí nào nữa. Chúng chỉ khai hỏa khi chúng tôi vừa qua đầu chúng, hay những lúc bay vòng lại, những lúc như vậy tôi không thể nào thấy chúng được, CNC không giám xuống thấp vì trực thăng bay chậm làm mồi cho phòng không dễ dàng. Khi các oanh tạc cơ vào vùng là chúng khai hỏa ngay lập tức, tôi đã cho Đại Úy Thạnh Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân bên cạnh Lữ Đoàn biết tình hình phòng không, thông báo cho các Quan Sát Viên Phi Cơ, cùng các Phi Công khu trục phải thận trọng kẻo bị rớt, nhưng các phi công lì lợm cất cánh từ phi trường Pleiku, coi sống chết như không, lúc nào cũng xuống thấp để oanh tạc cho đúng mục tiêu, như đùa dỡn với những dàn phòng không, dấu hiệu rõ ràng cho chúng ta thấy Delta không nuốt được nữa, địch nhả Delta và dồn quân về Charlie, địa thế Charlie dễ pháo và dễ đánh bằng bộ binh hơn, charlie không phải là một điểm quân sự tốt, khi không chúng ta đóng quân tại Charlie là dâng một mục tiêu tốt cho địch, chúng không muốn thất bại thêm, chúng cần phải chiến thắng sau bốn lần thất bại liên tiếp, tình thế bắt buộc chúng phải thay đổi chiến thuật, không thể dùng mưu trí hay sức ngưởi để thắng đoàn quân trên chân chúng mọi mặt.


Dù ngu ngơ đến đâu chăng nữa, chúng ta cũng phải nhận thấy rằng Charlie khó có thể cầm cự lâu dài, vì Charlie không phải là điểm quân sự có lợi thế như Delta, những lần chạm địch cấp tiểu đoàn đã nhận thấy tình hình tồi tệ hơn, nhất là buổi sáng ngày 8 tháng 4 năm 1972, khi cánh quân hai đại đội do Thiếu Tá Lê văn Mễ tiểu đoàn phó TĐ11ND chỉ huy, cố gắng chiếm những cao địa hướng đông đông nam, cách Charlie không đầy một cây số, thì đụng phải lực lượng địch, địch có sẵn trận địa pháo, địch đông quân số hơn, cố nhử ta vào bẫy, dù ta có cố gắng bám sát nhưng không sao làm chủ tình hình, nên đành bỏ lại những cao địa này. Tối hôm đó lúc uống trà vói Đại Tá LĐT, nghĩ tới Bảo, tôi đã buột miệng nói nhảm, mà đúng ra tôi nghĩ sao nói vậy:


-Tôi sợ Bảo nó không qua nổi trận này, giặc thì mỗi ngày được tăng cường thêm, còn ta thì mỗi ngày yểm trợ kém đi.


Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng nghiêm mặt nhìn tôi:


-Này, ăn mắm muối gì không đó, mà ăn nói bậy bạ vậy, đừng nói bậy.


Ông có biết đâu tôi là người lo cho Bảo ngày đêm, không lúc nào tôi yên tâm khi thấy Charlie khó thoát nổi đắng cay, không phải tiên tri, nhưng nhìn vào tình hình ai cũng nhận thấy như vậy, tội nghiệp trên sáu trăm sinh mạng, khi không làm vật tế thần hay sao đây? Nỗi đắng cay này ai phải chịu trách nhiệm, cô nhi tử sĩ nào ai hay.


Bất giác như linh cảm được một điều gì không hay đến với Bảo, tôi kể cho ông nghe từ việc tại nhà Bảo, tự nhiên anh cho đóng bộ ghế tại phòng khách, một chiếc giống như chiếc quan tài, tôi thấy như vậy nhưng không giám nói cái ý nghĩ quái gở của mình với Bảo, rồi Bảo cho làm Câu Lạc Bộ mới cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, anh tổ chức buổi lễ khánh thành câu lạc bộ, nhà văn Nguyễn đạt Thịnh được mời tham dự, anh Thịnh tặng ngay bức tượng mẹ bồng con, nên những việc đó nó cứ ám ảnh tôi. “Sang tới Hoa Kỳ năm 1987 tôi mới gặp anh Thịnh, tôi vẫn còn thắc mắc và hỏi tại sao anh lại tặng cho Bảo bức tượng Mẹ Bồng Con, tôi được anh trả lời như sau:


-Tôi xin món quà đó từ một người bạn thương gia ở Sài Gòn, tôi cho họ biết là tặng cho một người bạn khác, tổ chức lễ khánh thành câu lạc bộ, tôi dặn họ gói hộ tôi, nên khi tặng món quà này tôi không biết có gì ở bên trong, bây giờ tôi mới biết………….xong anh thở dài”. Tôi hoàn toàn không tin dị đoan, nhưng nó như những điềm báo trước.


Ngay trong buổi họp đầu tiên với Quân Đoàn, có đủ các cấp liên hệ, Trung Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II có nói:


-Hiện nay theo tin tức tình báo thì Sư Đoàn 320 của Cộng Quân có mặt tại vùng II, nhưng chưa kiểm chứng được. Anh em Nhảy Dù cố gắng chạm địch, làm sao có bằng cớ xác nhận được đơn vị địch, chẳng hạn như tịch thu được tài liệu, bắt sống được tù binh, nếu anh em làm được thì công của anh em rất lớn. Cố vấn của Quân Đoàn II sẽ xin B52 để tiêu diệt đơn vị này và anh em sẽ có thưởng.


Nhưng từ ngày ĐĐ2TSND bắt sống được tù binh, xác nhận rõ đơn vị cho đến nay chưa có một box B52 nào xin được chấp thuận, lại thêm một chiếc bánh vẽ nữa, trận giặc sinh tử nhưng cấp trên thờ ơ quá, chúng tôi đâu có cần thưởng, thưởng nhiều quá rồi, chúng tôi cần cấp trên nhìn thấy chúng tôi đang làm gì và đang cần gì, không biết ngôi sao nào trong tử vi chiếu vào chúng tôi mà tệ hại quá vậy.


Lúc này không có cách nào TĐ11ND tránh khỏi tổn thất, xử dụng không quân chiến lược ư, lời hứa của Quân Đoàn như mây như khói, không quân chiến thuật ư, có nhưng hạn chế, quân tăng cường càng không thể được, càng đông quân càng làm mồi cho pháo địch mà thôi, xin cho TĐ11ND tự do hoạt động trong vùng không được chấp thuận, với lý do “trên không chấp thuận” Đại Tá LĐT thấy rõ nguy cơ, nhất là từ khi tất cả các Box B52, các kế hoạch hành quân của ông đều bị bác bỏ, chúng tôi đành dùng pháo binh cơ hữu của mình để thay thế những box B52 đã xin, nhưng đạn dược cũng không được dư dả, vì đường tiếp tế duy nhất từ Pleiku đến Kontum bị trở ngại tại Chu Pao, lúc thông lúc tắc.

Tôi tháp tùng trên máy bay CNC, dàn hỏa tiễn 120 ly khai hỏa vào căn cứ Non Nước, tức vị trí của Pháo Đội C1 của Đại Úy Nguyễn cẩn Ngọc ( sau này là Thiếu Tá, nay đang ở Houston, Texas), ngay lúc chúng tôi trên vùng và nhận rất rõ vị trí, chỉ cách Charlie không đầy 5 cây số về hướng đông bắc, tôi điều chỉnh ngay hai pháo đội B1 và C1 phản pháo trúng đích, có tiếng nổ phụ rất nhiều, chúng tôi cũng hiểu rằng tại vị trí này chỉ có ba dàn phóng và một số đạn dược mà thôi, không có quân, chúng đã pháo bằng thời chỉnh, tức là chúng đặt dàn hỏa tiễn, ghi sẵn mọi yếu tố xong, chúng chỉnh giờ khai hỏa rồi bỏ trốn, khi đúng giờ đã định trước là khai hỏa, nếu có người ở vị trí chúng không giám khai hỏa khi chúng tôi đang có mặt trên vùng, chúng thuộc tên tôi và cả giọng nói của tôi, chúng biết nếu khai hỏa mà tôi biết được vị trí là tự sát, do đó chúng tôi nghĩ tại đó không có quân, cũng như không có BCH nào gần, sau đó chúng tôi thỉnh thoảng bắn một viên đạn pháo binh vào đó, hầu như vị trí này cho tới cuối cuộc hành quân, chúng không xử dụng nữa.


Biết TĐ11ND sẽ bị nguy khốn mà không làm gì được, phải bay điều quân suốt ngày, vừa lao tâm vừa lao lực, bệnh cao máu hoành hành trở lại, cho nên Đại Tá Lịch cáo bệnh với BTL/SĐND xin người thay thế, tuy nhiên ông xin được trị bệnh ngay tại vị trí hành quân, ông nói với tôi trong bực dọc:”thằng 11 sẽ thất bại,sức người chỉ có hạn”, tôi biết việc cáo bệnh của ông đúng ra chưa cần, trong ngày 8 tháng 4, Trung-Tá Nguyễn Thu Lương trưởng phòng III SĐND ra thay thế. Kể tứ ngày 8 tháng 4, ban ngày cũng như ban đêm cứ khi nào hết pháo là chúng tấn công vào Charlie, có khi địch tấn công bằng cấp tiểu đoàn, có khi bằng cấp trung đoàn, không còn cấp đại đội nữa, địch bắt đầu xài toàn giấy năm trăm, canh bạc phé này địch quân có nhiều vốn hơn chúng tôi, cũng may đêm nay sẽ có Box. B52 yểm trợ cho Charlie, đây là box B52 đầu tiên cho Charlie, món quà sinh tử đó, tôi thầm nghĩ nếu chỉ có vậy thôi cũng không cứu được Charlie, có còn hơn không, nhưng rồi không có B52 nào đến, đó chỉ là thông báo vu vơ; đêm nào căn cứ 5, căn cứ 6 cũng báo cáo đoàn xe tiếp tế của địch ban đêm đèn sáng như xa lộ Sài Gòn; cho nên đạn dược, quân số chúng dồi dào hơn mình, canh bạc này phải thua thôi. Các toán viễn thám của ĐĐ2TSND nhận nhiệm vụ vào phá hoại trục giao thông của chúng, nhưng cũng chỉ được một vài lần mà thôi. Tôi cố gắng dùng hỏa lực cơ hữu của mình, may ra có giúp được phần nào cho Charlie hay không, vùng này tôi bay nhiều cho nên tôi nắm vững địa thế, những chỗ khả nghi tôi đều có những hỏa tập bất thường, cho nên trung tâm phối hợp hỏa lực của TĐ1PBND bận rộn suốt ngày đêm, sĩ quan liên lạc Không Quân bên cạnh LĐ2ND làm việc thật giỏi, nhiều kinh nghiệm nhưng cũng khó khăn lắm mới xin được một phi tuần Hoa Kỳ, may mắn là Không Quân Việt Nam lúc nào cũng hết lòng với Nhảy Dù, chính những Phi Công không may gẫy cánh trong trận này như Thặng..Kỳ…là vì quá tận tình với chúng tôi, Hà cũng bị rơi nhưng may mắn Trinh Sát của chúng ta cứu kịp.

Ngày 9 tháng 4 năm 1972 mới sáng sớm, trung đoàn địch được lùa vào trận tuyến, chúng như những con thiêu thân, muốn chiến thắng đầu tay đến với chúng, thây chết ngập sườn đồi, ta thu gần hai trăm súng, lúc này súng đạn của địch rất cần cho các chiến sĩ Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù, không tiếp tế không tản thương, nguồn tiếp tế đạn dược chính là địch, con cháu bác lại có dịp được thưởng thức bắp chuối B41, cùng ngô rang AK47. Các cấp chỉ huy của mặt trận B3 và Sư Đoàn 320 sư đoàn mệnh danh là sư đoàn thép, lần này hẳn chúng phải nhận ra rằng chúng đang húc phải một bức tường cứng hơn “thép” của chúng, bằng mọi giá chúng phải thắng trận này để lấy danh dự lại cho quân đội miền bắc, chúng phải thắng một trận cho dù thiệt hại quân số bao nhiêu không kể, nếu không thắng trận này, ngay các đơn vị của chúng tại đây không còn tinh thần chiến đấu nữa, chúng ta coi trọng mạng sống của thuộc cấp, còn cấp chỉ huy của miền bắc cần thắng, thuộc cấp chết không đếm xỉa đến, đó chính là hai quan niệm về chiến tranh khác hẳn nhau, tôi chợt nhớ tới câu nói cũa tướng Westmoreland, khi ông được một phóng viên hỏi về tướng Võ Nguyên Giáp, ông thẳng thắn trả lời : “Tướng Võ Nguyên Giáp là một tướng tài, nhưng nếu để ông chỉ huy quân đội của chúng ta, thì chỉ cần một trận là ông phải triệu hồi, ra tòa án quân sự vể tội thí quân vô ích, tội sát nhân” địch quân phải thắng, vì chúng đang được cấp trên của chúng tôi phụ họa theo, Bảo ơi hãy đón nhận pháo cho rách đơn vị, để rồi lúc sức cùng lực kiệt đón nhận thêm trận biển người của nguyên Sư Đoàn Bùn, lúc đó sẽ có B52 giúp anh trộn lẫn xương thịt của đôi bên trở thành phân bón cho núi rừng Charlie. Đúng 23:30, Box B52 đầu tiên xuống phía đông nam Charlie, núi rừng chuyển động như sóng cồn, người lính Nhảy Dù gác giặc quên cả tiêu lệnh của một lính gác, la lớn tay ôm lấy ngực để máu trong lồng ngực khỏi trào ra, sau đó bị té hất ngược trở lại.


Ngày 10 tháng 4 năm 1972, địch không còn sức tấn công nữa, mũi tấn công nặng nề và thường xuyên nhất mỗi ngày, mỗi giờ, bây giờ im lặng, tất cả im lặng, thân xác của chúng đã bị B52 cuốn trôi, nhường cho tiếng pháo của súng 130 ly, hỏa tiễn 120 ly năm nòng, không còn đếm nổi mỗi ngày chúng trút tới Charlie bao nhiêu đạn nữa, mà phải ước lượng bằng con số hàng ngàn, từ Võ Định lúc nào cũng nghe tiếng pháo địch nổ, nếu trời trong thì thấy bụi đất bay mù mịt suốt ngày, lần đầu tiên hai đài quan sát của ta thấy đoàn xe địch di chuyển ban ngày, tôi cho lệnh pháo đội tại Yankee có vị trí cao nhất, tính yếu tố bắn ở tầm xa dài nhất, nhắm cho đúng hướng thử bắn một viên đạn khói, rồi quan sát xem sao, mặc dầu chúng tôi đã biết trước kết quả, Pháo Đội Trưởng báo cáo: Còn cách quá xa mới tới đoàn xe; khi phi cơ quan sát lên vùng, chúng vẫn di chuyển, nhưng chỉ di chuyển ít xe một, phi cơ quan sát bay quá cao không thấy rõ, khi oanh tạc cơ lên vùng thì chúng chui vào bụi rậm mất hút, hơn nữa lúc đó xử dụng các phi vụ oanh tạc cũng hạn hẹp, không có phi vụ nào bao vùng cả, ban đêm chúng hoàn toàn tự do, các toán Viễn Thám của ĐĐ2TSND có làm cho chúng phải e dè; sức người có hạn làm sao đây.


Chúng tôi tuy không nói với nhau nhưng cũng cùng một ý nghĩ oán hận, tiếp tục nhận những lệnh tồi tệ nhất, lo cho số phận Charlie việc đến sẽ phải đến thôi, chỉ có tất cả đều là Phù Đổng Thiên Vương thân hình bằng sắt thép pháo không hề hấn, mới qua khỏi trận này, còn bất cứ đơn vị nào vào thế TĐ11ND cũng không thể có đáp số khác, pháo của địch ngày đêm, địch được tiếp tế đạn dược đầy đủ, chưa bao giờ địch quân được ưu đãi như lúc này, không bị nhòm ngó, tự do điều chỉnh, bắn một quả không trúng, thì trăm quả phải trúng, xin nhấn mạnh là Charlie không phải là đỉnh quân sự tốt, nên là mục tiêu tốt cho pháo binh, tôi khẽ ca bản nhạc Mấy Dặm Sơn Khê của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông:


Anh đến đây rồi anh như bóng mây………

Mấy ai ra đi………hẹn ngày về dệt thắm tơ vương.


Đang lúc mải mê suy tư, địch pháo hỏa tiễn 120 ly ba nòng vào Võ Định với đầu nổ chậm, ngồi trong hầm chỉ huy, sức đạn nổ làm hầm phải rung ring, sức nổ gần hầm như những nhát búa bổ lên đầu, bước ra khỏi hầm tôi chẳng thèm núp dưới căn hầm nữa, tự nhiên nước mắt tôi lưng tròng, thương Bảo và thương cho chính mình, tại sao chúng tôi phải hy sinh vô lý như thế này nhỉ ?


Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung .


Chàng tuổi trẻ ngày xưa, có bị hy sinh vô lý như thế này hay không? Tại sao bây giờ chúng tôi lại phải hy sinh vô lý như thế này? Sau này khi Đại Tá Đạt hy sinh, tôi hoàn toàn đồng ý với ý nghĩ, phải diệt nguồn gốc những thủ đoạn cấu tạo nên sự hy sinh vô lý này.


Tại sao cấp trên lại muốn TĐ11ND phải chịu đau thương như thế này? Nếu không tại sao không dồn hỏa lực khi đã biết rõ đơn vị, lực lượng địch và có khi còn biết rõ điểm đóng quân của chúng nữa. Lời hứa ban đầu sẽ dùng B52 khi biết đơn vị địch nay đã biến đâu rồi? Cấp chỉ huy gì mà thấy địch không muốn giết, lại muốn lấy quân mình làm mồi cho địch tiêu diệt, hay ở một khâu nào đó có địch làm nội tuyến. Tôi rùng mình với những ý nghĩ như vậy, rồ dại hay nghiêm chỉnh đây? Sau khi địch pháo BCH chắc chắn chúng sẽ tấn công các đơn vị ở ngoài, tôi trở vào Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực, quả đúng như vậy, hai pháo đội đang hoạt động yểm trợ cho Chatlie, hôm nay chắc địch quân có quân tăng cường sau khi tổn thất vì B52, mấy ngày nay lúc nào địch quân cũng muốn chọc thủng hướng tây bắc, hướng này rất khó yểm trợ, vì bắn qua đầu bạn, tôi cho lệnh các pháo đội trong tầm, kể cả pháo đội 155 ly, bắn góc cao, khi đã được điều chỉnh cẩn trọng, sau đó dội đủ loại đạn thay B52, quả nhiên sau gần nửa tiếng TOT, địch quân nhả ra không tấn công nữa, sau đó TTPHHL/TĐ1PBND nhận được sĩ quan TSV báo cáo như sau:


-Bạch Hùng đây Thanh Hùng 133


-Thanh Hùng 133 đây Bạch Hùng


-Báo cáo với Bạch Hùng, tụi nó chết nhiều lắm, súng vất như củi, nhưng con cái chỉ thu đạn mà thôi, không còn chỗ chất súng nữa. Lúc này tin chiến thắng đến với chúng tôi, không hứng thú bằng tin ta vô sư,ỉ tôi cho lệnh hỏi tin tức của ta, ngay tức thì được báo cáo ta chỉ có ba bị thương nhẹ, đó mới chính là niềm vui của chúng tôi, không may bị thương nặng thì chỉ có nằm đó chờ chết, mấy ngày nay không tiếp tế không tản thương. Chúng biết là khi chúng tôi đã đóng quân, thì chúng phải dùng quân số gấp 5 lần tấn công, may ra mới hy vọng báo tin mừng cho Bác, nhưng nay không có một ngày nào chúng làm như vậy, chúng biết rằng Thép mà gặp các Thiên Thần, mà Thiên Thần có sức làm lò luyện thép, nên sư đoàn thép cũng bị chảy thành Bùn, nên lúc nào chúng cũng dùng 10 chọi một, chúng tôi biết canh phé này địch quân nhiều vốn hơn chúng tôi, chúng tôi thận trọng từng nước đi không một sơ hở, dù là sơ hở cỏn con, chúng đi tiền mười lần phải có một lần thắng, dầu sao chăng nữa sức người cũng chỉ có hạn, chúng pháo một ngàn trái không trúng, một vài chục ngàn trái bắt buộc phải trúng, thê thảm ở chỗ đó.


Sau khi họp hành quân cuối mỗi ngày với Trung Tá Lương xử lý thường vụ chức vụ LĐT, tôi vẫn phải trình bầy riêng với Đại Tá Lịch, khi nghe tôi trình bầy xong, tình hình hiện tại của Charlie, Đại Tá Lịch thở dài và nói bâng quơ một mình:


-Cao lắm một tuần nữa thôi ! ! !


Tôi thầm nghĩ trận giặc này chúng tôi thua từ trong thua ra, tôi vô cùng bực bội bất mãn, một mình vừa đi vừa văng tục đủ loại, nhưng khi về đến TTPHHL/TĐ1PBND, tôi vẫn làm ra vui vẻ cho lệnh T/T Tấn ban 3 Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù, cho lệnh các TSV và các Pháo Đội thi hành các tác xạ TOT có điều chỉnh, có quan sát thay thế các Box B52. Chúng tôi lại còn phải quan tâm đến đường tiếp tế đạn dược. May mắn cho chúng tôi là sau nhiều lần chúng dùng Sư Đoàn 2 Sao Vàng cố gắng cắt đứt trục giao thông từ Kontum tới Tân Cảnh, nhưng đều bị các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù chặn đứng dễ dàng, nay LĐ3ND đã về hoạt động tại chiến trường An Lộc, cùng với LĐ1ND và Bộ Tư Lệnh SĐND/VN, một Liên Đoàn BĐQ vào thay thế nhiệm vụ này.


Trời bỗng dưng u ám, cỏ cây mới tháng tư mà như đã sang Thu, sau khi ban 3 trình bầy tình hình trong đêm, tình hình đạn dược, tôi an tâm vì tình hình đạn dược của các Pháo Đội, hôm nay không ngờ đây là chuyến bay chót trong đời tôi trên vùng trời Charlie còn Bảo ở dưới nói vọng lên, tôi gắng gượng điện đàm ngắn với Bảo, tôi biết lúc này Bảo đang để tâm tới đơn vị của anh, bao nỗi khó khăn đang làm anh phải nhức đầu không ít, không hiểu sao các Mũ Đỏ 11 không ai ra điên vì bất mãn, tôi chuẩn bị trước là nếu có thể được tôi sẽ ném xuống cho Bảo chai Hennessy, nhưng không, ân huệ này không đến với chúng tôi, thời tiết xấu cũng có, rừng phòng không đang rình rập chúng tôi nếu xuống thấp là đi đứt, Bảo cố nhắc tôi đừng có dại làm việc điên rồ, nếu tôi có yêu cầu thì Phi Công cũng chẳng làm, tôi nhìn đồng hồ hôm nay ngày 11 tháng 4 năm 1972, Charlie mờ mờ ảo ảo dưới bụng máy bay, tôi dặn dò các anh em TSV những việc phải làm, sự thực các điều dặn của tôi cũng là thừa, vì các điều này tôi đã nhắc quá nhiều lần, tôi muốn anh em dưới quyền tôi hiểu rằng: Lúc nào tôi cũng quan tâm đến họ, mà thực lòng như vậy.


Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II, cố vấn J.P. Vann, Đại Tá Tư Lệnh SĐ22BB và phái đoàn tới thăm chúng tôi tại Võ Định. Sau khi chúng tôi trình bầy tình hình dịch, kế hoạch hành quân của chúng tôi, Đại Tá Lịch dù đang bịnh, ông cũng cố gắng gặp phái đoàn, dù không được khỏe cho lắm, nhưng TĐ11ND đang hứng pháo để chịu đau thương làm ông không sao yên lòng cho được; trước mặt phái đoàn ông trình bầy kế hoạch cản địch, tiêu diệt địch mà không cần phải đóng trụ tại Charlie, TĐ11ND nếu lưu động còn có thể khám phá ra nhiều điều có lợi cho ta nhiều hơn, kể cả có thể len lỏi phục kích đoàn xe của địch, nhưng câu trả lời chắc nịch của J.P. Vann: Trên không thuận, trên đây là ai vậy, tại sao Trung Tướng Tư Lệnh không trả lời. Ngay lúc đó TĐ11ND báo cáo đang bị pháo bằng 130 ly và các loại hỏa tiễn, súng cối 82 ly, ngay cả các loại súng không giật như 57 ly, 75 ly.. v..v ..vì phòng làm việc ngay sát với phòng thuyết trình cho nên mọi người đều nghe rõ tình hình, lập tức J.P. Van và TT/TL/QĐ II đều nói với TT Nguyễn Trọng Nhi là cho lệnh TĐ11ND phải lấy mảnh đạn pháo binh địch chứng minh là 130 ly, Nhi nhăn mặt vì không muốn chuyển cái lệnh kỳ khôi này, nhưng rồi cũng phải chuyển: Giọng TT Đoàn Phương Hải ban 3 TĐ11ND oang oang trên loa của máy truyền tin:


-Nếu không phải là 130 ly của địch, thì từ dẫy Big Mama tới đây trên 25 cây số, súng nào có tầm xa như vậy? Bây giờ ra lấy để tự sát hay sao?


Nhưng lệnh là lệnh, Nhi nhăn mặt như anh chàng mắc bệnh trĩ, phải lập lại lệnh lượm vỏ đạn; Hải như điên lên, không còn bình tĩnh


-Bảo họ vào đây mà lấy, không tiếp tế, không tản thương, cứ đòi chuyện trên trời. “đúng ra là lệnh lấy đầu nổ của pháo địch thì hợp lý hơn, vì lúc này lấy đầu nổ dễ hơn, chúng đang pháo trúng vị trí, không như những ngày chúng tôi còn đáp xuống căn cứ, lúc đó địch còn đang điều chỉnh vu vơ xa căn cứ, không thể nào lấy đầu nổ cũng như mảnh đạn được, trên đầu nổ lại có ghi rõ ràng loại đầu nổ nào, dùng cho súng nào, còn mảnh đạn, đôi khi cũng hơi khó phân biệt”, những cuộc đàm thoại trên được ngụy thoại hoàn toàn, hơn nữa lúc này ra lấy đầu nổ, hay mảnh đạn đều có cơ nguy là thêm một quân nhân bị thương, việc làm vô ích. Việc Charlie bị pháo là đúng vì ai cũng có thể nhìn thấy, còn loại pháo nào không phải là việc chính yếu để quyết định nhiệm vụ chiến thuật cho TĐ11ND lúc này, nhưng cấp trên nại những lý do không đâu để lấp liếm, khi LĐ2ND xin cho TĐ11ND được tự do hoạt động.


Quân Đoàn cứ nói là cấp cao hơn không thuận, làm sao hài lòng cho được, không có chứng cớ, nhất là cả Vùng II Chiến Thuật này chưa một ai được nghe tiếng nổ của đạn pháo 130 ly bao giờ, J.P. Vann chỉ là một Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, những ngày 1965 TQLC/HK vào vùng hành quân Quảng Trị, do bạn bè của Hắn kể lại rằng tại vùng DMZ nơi chịu pháo cũng nhiều, nơi địch quân có thể kéo pháo dễ dàng, tuyệt nhiên không có 130 ly, hắn đâu có hiểu rằng ngày đó địch quân chưa có pháo 130 ly, cũng như ngày đó chỉ có B40 chưa có B41 như ngày nay, còn nhiều thứ võ khí khác tối tân hơn nhiều, như phòng không, vũ khí cộng đồng, vũ khí cá nhân đều khác xa, không hiểu vì lý do nào đó, có thể vì tự ái lỡ phủ nhận rồi, hắn ngoan cố không chịu hiểu, rồi cả Quân Đoàn đều như vậy,Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II quả quyết rằng, vì đường xá khó khăn nên chúng chưa thể kéo súng 130 ly vào vùng 2 được, thấy không khí có vẻ không vui, tôi trình diện theo đúng quân kỷ và trình bầy như sau:


-Thưa Trung Tướng, tôi xác nhận địch pháo 130 ly, thứ nhất do tiếng đạn nổ mà chúng tôi đã chịu pháo tại Hạ Lào, nên chúng tôi không thể lầm lẫn được, thứ hai súng đặt tại dẫy núi Big mama từ đó đến Charlie trên 20 cây số, không có súng nào của địch có tầm xa này, chúng ta không thể mang miểng đạn ra đây, vì chúng pháo liên tục, ngưng pháo là tấn công, rất ít quân nhân di chuyển trên mặt đất lúc này vì sợ bị thương không tản thương được, không lẽ bây giờ đi kiếm miểng đạn để bị thương hay tử thương hay sao? Nếu có sẵn miểng đạn rồi làm sao mang ra đây? Thứ ba địch có thể kéo pháo đến bất cứ chỗ nào, nếu ở đó chiến xa có thể tới được, tôi tin chắc là TĐ11ND báo cáo đúng, hơn nữa chính tôi đã đứng tại Charlie nhận pháo 130 ly của địch, nhưng lúc đó địch đang điều chỉnh chưa trúng vị trí của ta, vì vậy thời gian này không có thể lấy miểng đạn được, báo cáo sai để làm gì, đâu có lợi gì cho chúng tôi đâu? Chúng tôi, những quân nhân Nhảy Dù chưa bao giờ báo cáo sai, quan niệm báo cáo tăng khả năng địch, đối với chúng tôi cũng là một hành động khiếp nhược.


-Anh nói sao chứ phía Cố Vấn Mỹ họ không tin như vậy.


Tôi im lặng, tại sao cấp Quân Đoàn lại có thể lập lại lệnh của Cố Vấn, như cấp Trung Đội Trưởng vậy, thời thế này còn nói gì hơn được nữa, và thầm nghĩ chỉ trừ những quân nhân đã tham dự trận Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971 thì mới biết pháo 130 ly của địch quân, còn lại kể cả cố vấn Mỹ cũng chưa ai biết pháo 130ly ra làm sao? Bây giờ chúng tôi phải nói cho ai hiểu đây? Chúng tôi đã chịu chỉ huy bởi những người chưa đủ kinh nghiệm chiến trường, do đó chúng tôi phải chịu nhận những lệnh thiếu kinh nghiệm chiến trường, là điều đương nhiên phải đến mà thôi, các cấp chỉ huy của quân đội Pháp cũng tin là Việt Cộng không thể mang pháo lên dẫy núi chung quanh Diện Biên Phủ, các cấp chỉ huy như vậy làm sao có khả năng đương đầu với địch quân, quân đội Pháp không may có cấp chỉ huy tiên đoán địch tình như vậy, cho nên mới phải đầu hàng nhục nhã tại Điện Biên Phủ, bây giờ không lẽ chúng tôi phải chịu nhục nhã tương tự hay sao đây?


Bác thang lên hỏi ông trời

Trao thân cho ác….biết đời nào hay. ( láo)


Tối hôm đó tuy rất mệt mỏi, nhưng tôi không giám lơ là, tôi cho lệnh tác xạ TOT trên những mục tiêu mà chắc chắn địch quân đang ở đó, vì chúng đang chờ úp hụi TĐ11ND, tất cả những điểm này đều chung quanh Charlie, không có điểm nào xa quá 2 cây số, nhất là tôi được báo cáo, địch đang pháo vào Charlie dữ dội, sau đợt pháo này chúng sẽ tấn công, kế hoạch tiền pháo hậu xung chúng áp dụng suốt ngày đêm, nhưng những loạt TOT làm chúng không còn tấn công Charlie được sau các đợt pháo như chúng thường làm, chúng trả đũa bằng cách pháo dữ dội vào tất cả các vị trí của ta, lúc đó là 01:00G sáng ngày 12-4-1972. Không ngờ rằng lần TOT đó chính là lần mà tôi tạ từ với Bảo.

Ngày 12-4-1972, ngày quí dậu, tức 19 tháng 2 năm Nhâm Tý lúc 09:00G sáng tôi nhận điện thoại của TT Nguyễn Trọng Nhi Trưởng ban 3 của LĐ2ND cho tôi biết Bảo đã tử thương vì pháo của địch, hầm ngủ của Bảo đã nhận nguyên một trái 130 ly delay, tôi lặng người thầm nghĩ, trước sau cũng phải như vậy, hôm nay chưa xẩy ra thì ngày mai phải đến có vậy thôi, chính tôi cũng lo ngại việc gì sẽ xẩy ra ! ! ! Tôi im lặng, buông ống liên hợp rớt xuống đất, không nói một lời với TT Thông tiểu đoàn phó, TT Tấn ban 3 tiểu đoàn đang đứng bên tôi, còn gì để nói nữa đây, nhưng mọi người trong trung tâm phối hợp hỏa lực cũng hiểu phần nào câu chuyện.


Tôi lững thững ra ngoài hầm nhìn lên Charlie, khuôn mặt Bảo độ lượng hiện ra trong đám sương mù trắng xóa, ánh mắt anh vẫn trong sáng, không cười không nói, không oán than, không phân bua, khuôn mặt anh linh hiển như thánh thần, anh xứng đáng được như vậy, một lằn nước mắt tự nhiên tuôn tràn, tôi nghĩ tới vợ con Bảo lúc này: Chị Bảo chắc đã đi làm, các cháu chắc đang ngồi ngoan ngoãn trong lớp học, màn khăn tang sao sớm vấn trên đầu trẻ thơ, tôi nghĩ tới anh em bạn bè còn đang kiên cường trên Charlie, không hiểu họ còn đủ viên đạn cuối cùng để vinh danh hay không? Hay đành dơ tay chịu nhục đầu hàng, từ ngày 7-4-1972 họ không có tiếp tế lương thực, không có tiếp tế đạn dược, lấy tay không để đỡ đạn, lấy trí dũng hiên ngang che dấu hình hài, làm thân lính chiến mà không được chiến đấu, phải đưa lưng chịu đạn quân thù, huấn luyện một đơn vị xung kích tổng trừ bị để làm công việc này hay saoTại sao chúng tôi vẫn hiên ngang chấp nhận đau thương, trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã này, tại sao những anh em Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù vẫn chiến đấu không tan hàng, để hấng chịu sự độc ác của cả bạn lẫn thù.


Ngày 14-4-1972 những trận pháo ghê hồn vẫn tiếp diễn, để nghiền nát hình hài, để trộn lẫn thịt xương với đất cát núi rừng, xác địch không còn chỗ nằm, thân bạn nằm cản lối đi, con sâu cái kiến còn biết tìm sống, không lẽ chúng tôi đành gục mặt nhận cái chết từng người một cho đến người cuối cùng hay sao đây?


Không ! Không thể như vậy được, cho nên Lê Văn Mễ, Đoàn Phương Hải đã phải có quyết định cuối cùng để cứu lấy những người còn may mắn, có thể tự di chuyển được, họ phải sống để làm nhân chứng, chứng tích của một mặt trận thê lương – tồi bại nhất, trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên thế gian này không một ai chấp nhận sự bất lương này, đơn vị thất bại vì địch quân là chuyện bình thường, nhưng thất bại vì địch và vì bạn nữa là chuyện có một không hai trong quân sử của thế giới bẩn thỉu này.


Vừa ra khỏi lò nhồi xương thịt, toán nhân chứng vừa lấy đội hình tác chiến chưa hoàn hảo, để vĩnh biệt Charlie, thì pháo và quỉ dữ bám sát ngay, ngay tức thì hàng tấn bom do sáu chiếc B52 dội xuống Charlie, địa ngục trần gian bị cầy nát, chỉ có con tạo mới có khả năng giữ Charlie không trở thành đồng ruộng. Ba tiểu đoàn địch tràn vào Charlie, miệng đang hung hãn với kinh kệ “hàng sống chống chết” cấp chỉ huy của chúng chưa kịp báo cáo điểm đứng, thì thân xác chúng đã biến tan cùng cỏ cây. Tử khí ngất trời cao, lòng người nào chịu ngưng tại đó, toán nhân chứng còn không đầy một đại đội, vậy mà một trung đoàn khác được điều động tới bám sát họ, họ bình tĩnh nắm tay nhau, len lỏi cố gắng đánh lạc hướng địch, mỗi người còn không đầy một băng đạn, khi gặp địch quân cản trở khai hỏa từng viên đạn một, họ bị chia cắt, bị phục kích, bị pháo bằng súng cối, cuối cùng đành phân tán mỏng, từng toán một tự mưu sinh.


Ngày 15-4-1972 những người cuối cùng được cứu bằng trực thăng chấm dứt, cùng hẹn nhau phương giác 800, điểm đến là con đường nối dài từ Tân Cảnh đến Võ Định (nơi đặt BCH của LĐ2ND), sức người cộng với sự trợ giúp của Phật, của Thiên Chúa, không có lương thực không có vũ khí vậy mà từng toán nhỏ vần về tới được Võ Định, hay Non Nước nơi đồn trú của Pháo Đội C1 Nhảy Dù ven sông Pôkơ, đang từng năm phút một bắn đi một viên đạn, tiếng đạn bắn đi để định hướng cho những anh em kém may mắn đang mò mẫm nhận hướng tới, tiếng đạn vang vang như tiếng gầm của mãnh hổ lạc đàn, tiếng gầm giúp cho những anh em không có địa bàn, những anh em Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù tới ngày 17-4-1972 là những toán sau cùng, an toàn trở về. Tới đây kể như Charlie không còn nữa, những người trở về được là một phép mầu, là một diễm phúc…


Viết xong tháng 4 năm 1996 tại San Jose California,

Viết cho anh em, viết cho bạn bè

Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc


Share this: