Saturday, November 21, 2020

 TẠI SAO TÔI TIN CÓ LUÂN HỒI NHÂN QUẢ ?

- Nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn đại dương .-- Kinh Phật .
- Nếu biết KIẾP TRƯỚC tạo nhân gì, hảy xem kiếp này hưởng quả gì .-- Kinh Phật.
Tôi là ng thường xuyên cổ vỏ cho Luân Hồi Nhân Quả trên FB này. Có bạn có thể nghĩ rằng tôi là một Phật tử THUẦN THÀNH (nên truyền bá đạo mình): sai rồi, vì dù chỗ ở kế chùa nhưng tôi chỉ qua vài lần khi bạn bè mời ăn cơm chay tại nhà hàng chay của chùa; dù ở Mỹ 26 năm, tôi đi chùa chưa tới 10 lần. Ở nhà cũng ko có bàn thờ Phật, chỉ thờ cha mẹ ông bà hay chị em đã chết.
Hồi 14-15 t, khi được gia sư Pháp văn (từ Pháp về dạy cho 2 anh em tôi) nói về luân hồi (LH), tôi ko tin. (Viết tới đây con gái ông láng giềng Mỹ đen xin 1 cuộn giấy VS và nói dăm ba câu chuyện, chờ khi cô đi tôi viết tiếp).
Tôi nói với thày, "nếu có LH sao tôi ko nhớ kiếp trước" và tôi cãi rất hăng. Sau này, khi bất ngờ bị bịnh nặng khi 14 t, dùng nhiều trụ sinh, cơ thể bắt đầu gầy ốm, suy dinh dưỡng, thường xuyên bịnh tật, v.v... tôi bắt đầu đặt câu hỏi như TẠI SAO TAI HỌA ĐẾN VỚI MÌNH mà ko đến với người khác, v.v...
Năm 1968, khi vào quân trường đã bị bạn bè coi thường, thậm chí khinh rẻ vì PHẢN XẠ VỤNG VỀ, ĐẦU ÓC LẨM CẨM, v.v...
Khoảng giữa năm 1969, khi ra đơn vị đầu tiên , tôi bị cấp trên khinh rẻ, coi thường, v.v... Họ xử sự cũng đúng thôi vì lúc đó là chiến tranh ác liệt , đơn vị trưởng sẽ rất khó chịu khi phải tiếp nhận một quân nhân "vịt đẹt" hay "cà chớn" như tôi (sic) ! .
Để quên đi ĐAU KHỔ này, mỗi chúa nhựt , tôi thường nghe diển thuyết tại hội Thông thiên học đường Phan Thanh Giản Sài Gòn và tôi bắt đầu say mê tìm hiểu về LH , đặc biệt đọc ngấu nghiến quyển Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời do Nguyễn Hữu Kiệt dịch .
Tôi suýt quên, cũng do một THÔI THÚC VÔ HÌNH , sau cơn bịnh nặng này , tôi bắt đầu TỰ HỌC Anh ngữ và đọc nhiều sách về KHKT từ cơ khí (kể cả cơ khí xe hơi) , cơ học , vật lý , xây dựng , kiến trúc , điện , y khoa , điện tử . . . và khảo cổ , cảm giác ngoài giác quan (extra-sensory perception/ESP) ,v.v....
. . .
Từ đó , tôi đã phần nào biết NGUYÊN NHÂN của đau khổ về THỂ XÁC .
Tới năm 1986 , nhân khi dự đám tang của em gái tại chùa , tôi đọc 1 đoạn kinh như sau "Trong các thân nhân nhà ngươi , có kẻ KIẾP TRƯỚC là KẺ THÙ của ngươi , nay họ đầu thai làm thân nhân của ngươi để TRẢ THÙ" . Tôi vẫn ko tin vì "chưa thấy quan tài chưa đổ lệ" .
Tuy nhiên , vài năm sau đó , một người thân trong gđ bắt đầu quậy do mê cờ bạc, v.v... và tôi THẤM THÍA lời dạy trong kinh này. Tới năm 1994 , tôi đi Mỹ và y cũng xuất cảnh thì gđ tôi tạm yên 1 phần .
Cũng do có tánh ĐỒNG CẢM (empathic) nghĩa là CŨNG đau khổ khi thấy kẻ khác đau khổ , tôi bắt đầu làm những chuyện , mà nhiều kẻ gọi là RUỒI BU , để giảm bớt đau khổ của người nghèo , kẻ sa cơ thất thế , v.v... - mà tôi THƯỜNG XUYÊN BÁO CÁO trên FB .
Vì sách của Linda Goodman viết về tôi : “Họ ban ân cho kẻ khác với thiện ý xuất phát từ sự thấu hiểu về tình cảm của họ truớc nỗi đau khổ của kẻ khác (they bless others with the grace of their sympathetic understanding of pain and suffering); do vậy bạn bè , thân nhân , đồng nghiệp thuờng nhờ họ giải quyết những khó khăn của mình“. Tôi đã giúp đỡ nhiều nguời từ lúc còn ở VN . . .
(Còn tiếp).


 Nguyễn Vô Danh: Người Hạ Sĩ Nhứt

08/10/2019
- Ở thời đại vật đổi sao dời, nếu giữ đc thủy chung trước sau như một là một điều hiếm quý.
Tài Trần: câu chuyện về tình nghĩa của một HSQ đối với Thiếu úy Đức, một phó quận trưởng ở tỉnh Tây Ninh. Trong những ngày cuối tháng 4/75, anh đã dìu ông phó quận bị thương vào nhà một cô gái - mà trước đó anh nghĩ là có cảm tình với VC; ko ngờ cô gái cho mượn hai cái phao (ruột bánh xe hơi) và chỉ dẩn 2 người cứ thả trôi sông chừng 8 km sẽ gặp nhà thờ Suối Dây và sẽ được cứu giúp. Thật đúng như vậy, 2 ng đã đc linh mục nuôi dưỡng trong 3 tuần.

NHÀ THỜ SUỐI DÂY


THÁNH ĐƯỜNG HỒI GIÁO

Vì là HSQ nên anh chỉ học tập vài ngày và làm ruộng ở Ô Môn, Cần Thơ. Sau này anh dò la tìm kiếm và gặp đại úy cựu quận trưởng và nghe đồn thiếu úy Đức trốn trại và bị xử bắn?
Hai mươi năm sau 75, trong khi làm ruộng ngoài đồng, có người báo "có hai VK sang trọng đang ngồi nhà chờ anh". Anh về nhà thì gặp thiếu úy Đức và vợ ông là cô gái đã cứu ông thuở nào. Số là, sau khi ra tù và đi Mỹ, ông Đức đã gặp lại cô gái cứu mình và cả hai thành vợ chồng và sau đó đi dò hỏi người cấp dưới rất thủy chung của mình.
Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, “Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?”. Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp – ý tui muốn nói là xuông xẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.
Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói – nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.
Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.
Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.
Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cái đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài – chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.
Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn “đội banh nhà” ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.
Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn … hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.
Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.
Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:
– Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.
Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, … chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) – một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi – thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? hay là xem cá có cắn câu chưa? hay là đang dò xét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?… Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.
Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, … Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:
– Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thì trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây.
Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.
Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục dấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:
– Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú … như người nhà. Cám ơn chú … đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và … đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.
Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới – cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời – cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.
Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:
– Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.
– Thưa đồng chí xã trưởng …
– Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.
– Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính kiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?
– Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.
– Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.
– Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.
Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.
Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.
Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được “khoan hồng” về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.
Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.
Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo dấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.
Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, … Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.
Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.
Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:
– Chú Sơn có nhận ra tôi không? … anh Đức đây?
– “Hả, … ôi trời, Thiếu Úy Đức, … ông Phó!…”; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.
– Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.
– Dạ, dạ … ông Phó, à quên, … anh Đức. Tưởng là anh đã … Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.
– Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.
– Còn đây là bà xã của anh.
– “Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?”; Tui hỏi.
– “Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó”; TUĐ trả lời.
Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:
– Tui hổng có dè có ngày này… 20 năm rồi. Cám ơn anh chị … đã nhớ đến tui… Tui mừng quá. Sao … tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông?
TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:
– Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.
* * *
Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.
Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la, …
Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.
Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm “Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má”
Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.
Ngày đó chắc là phẻ re, há?
Nguyễn Vô Danh
Seattle, một ngày buồn cuối tháng 4, 2019.
====
ĐỌC THÊM:
Qua Suối Dây
Cập nhật ngày: 13/06/2018 - 07:18
BTN - Theo lối đường 785 từ TP. Tây Ninh đi lên, tới ngã tư Ðồng Pan thì rẽ trái, qua vài cây số hết thị trấn Tân Châu, sang bên kia cầu và đập Tha La là đã tới Suối Dây.
Qua Suối Dây
Ðã có 5-6 năm không trở lại nơi đây nhưng tôi vẫn nhớ con đường gập ghềnh đá sỏi và hầu như lúc nào cũng lầm bụi đất. Bạn đồng hành khi ấy thường an ủi nhau:- Xe chở mía, mì rầm rập thế kia thì đường nào chịu nổi. Ấy là con đường từ cầu Tha La qua Suối Dây đi tiếp tới Tân Thành, Suối Ngô một thuở chưa xa.
Hồi ấy, hoặc đi thăm bà con tộc Tà Mun ở Tân Thành mỗi kỳ lễ tết; có chuyến đi thăm Khu di tích Ðồng Rùm, cũng ở Tân Thành nhưng liền sát Suối Dây. Lần duy nhất đi xe máy là lên thăm rẫy cao su của một người bạn mới về hưu.
Ôi chà, nhớ đến tận giờ, bởi vào rẫy mùa mưa thì con đường này đã biến thành một tuyến bùn lầy không thể chạy xe, cũng không thể đẩy tới đẩy lui. Bùn và đất sét Suối Dây cứ bện bám chặt vào bánh xe như thể muốn giữ người ở lại.
Kỷ niệm ấy khiến lần này lên ấp 6 Suối Dây bằng con đường qua phà ngang Lòng hồ, bên này là ấp Tân Long, xã Tân Hưng ngay cạnh đường 785 đã lì láng mặt bê tông nhựa.
Bến phà bên này đã nhường chỗ cho công trường khai thác cát giữa lúc cát ầm ầm lên giá. Bên kia, sau gần một cây số lênh đênh trên mặt nước mất hơn 10 phút đồng hồ vẫn còn thấy một cái bến sông bình dị đợi chờ ta. Gọi bến, nhưng cũng chỉ là một triền bờ loang lổ xanh từng vệt cỏ.
Có lối mòn cho xe máy chạy lên và trên nữa là cả một ngôi nhà có gắn tấm biển sơn: Bến đò Cầu Sập. Hỏi với vào người đàn ông đang đưa võng, ông bảo: cũng còn tuỳ mực nước cao hay thấp.
Nhưng cứ như hôm nay thì mặt nước rộng chừng 800m. Và thế là ta đã ở trên ấp 6, xã Suối Dây của huyện Tân Châu, chỉ cách đường 785 khoảng 4 cây số đường bộ và 800m mặt hồ.
Từ bến lên tới đường xuyên ấp chẳng bao xa. Ðể bánh xe lại được lăn trên đường nhựa. Chẳng lẽ đây là con đường xưa, nơi những chiếc bánh xe này từng bị đất sét quyện chặt vào níu giữ.
Giờ đã là mặt đá nhựa rộng khoảng 6m trên nền sỏi đỏ. Chỉ một ấp 6 thôi mà xe chạy hoài không hết. Thế mới biết là đất Suối Dây thênh thang. Xem trên bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh, in năm 2001 có thông tin: diện tích đất: 11.087 ha.
Tính sơ, Suối Dây lớn gấp hơn 20 lần phường 3, một phường lớn trung bình của thành phố Tây Ninh. Suối Dây còn lớn hơn cả huyện Hoà Thành.
Lạ thay, suốt 6-7 cây số qua ấp 6 mà chẳng gặp nhà cửa ngoài vị trí đặt cổng chào của ấp văn hoá. Hai bên đường lúc là ruộng mía, lúc là vườn cao su tít tắp. Có nơi là một mảnh rẫy của ai đó vừa đốt, để lại màu đất đen thẫm đầy hứng khởi cho mùa sau. Lưới điện giăng dài dọc hai bên đường, dọc ngang trên rẫy ruộng.
Toàn cột điện bê tông tròn thẳng thớm. Ðó đây là những chiếc máy bơm nằm vắt vẻo trên bờ ruộng. Và có lẽ chỉ trừ vườn cao su, các rẫy ruộng còn lại được lắp đặt hệ thống tưới nước hiện đại, bằng dàn ống nhựa đứng gắn với vòi phun xoay tự động… Có phải đây là Suối Dây?
Vâng! Xem Ðịa chí Tây Ninh mới biết thêm rằng:- Suối Dây là xã sinh sau đẻ muộn. Mãi tới năm 1979 mới thành lập xã Suối Dây thuộc huyện Tân Biên.
Ðến năm 1982, Suối Dây được cắt về huyện Dương Minh Châu. Tới khi thành lập huyện Tân Châu năm 1989 thì Suối Dây lại thuộc về huyện mới Tân Châu. Vậy mà cái địa danh này đã có từ rất lâu đời, thậm chí được ghi vào sử sách.
Cuốn sử ấy là tác phẩm Chống xâm lăng của giáo sư Trần Văn Giàu (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2001). Trong chương Nam kỳ kháng Pháp, có phần mô tả cuộc chiến đấu của Liên quân Trương Quyền - Pô-kum-pô trên đất Tây Ninh vào những năm 1860.
Trang 184 có đoạn: “Quân khởi nghĩa phải rút về vùng Suối- Giây nghèo nàn, dân thưa, lúa ít ở phía bắc Tây Ninh, rồi rút về phía Stung-treng, Samboc gần biên giới Lào. Ngày 28.7.1867, căn cứ Suối- Giây bị địch phá… Nghĩa quân Việt Nam bắt buộc phải rút lui từng toán nhỏ xa dưới vùng Hậu Giang…”.
Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Long, trong bài “Trương Quyền người anh hùng đất Gò Công” (Tạp chí Xưa nay, số tháng 9.2001), lại kể thêm về cái chết bất khuất của Trương Quyền. Ông viết: “Ngày 28.7.1867, căn cứ Suối Giây thất thủ, liên quân phải rút về Stung-Treng, Sa-Bóc… Quân Pháp kêu gọi Trương Quyền đầu hàng, nhưng ông và các quân sĩ còn lại không chịu khuất phục, chạy vào rừng sâu tiếp tục cuộc kháng chiến, nhưng chẳng may ông bị bệnh sốt rét và chết, hưởng dương 22 tuổi…”.
Dù các tác giả trên viết là Suối Giây, nhưng rõ ràng đây là Suối Dây của hôm nay, vì không còn một địa danh nào khác tương tự.
Vậy là Suối Dây đã từng là căn cứ của nghĩa quân chống Pháp từ hơn 150 năm trước. Ðể đến thời cách mạng, kể từ năm 1951, nơi đây lại thuộc về căn cứ địa Dương Minh Châu lẫy lừng suốt hai thời kháng chiến.
Nếu đi thẳng con đường từ bến Cầu Sập ta sẽ đến được nơi gọi là Ðồng Rùm, nay thuộc về xã Tân Thành. Nơi đây hiện có di tích lịch sử Căn cứ Xứ uỷ Nam bộ (X40 Ðồng Rùm), tồn tại từ năm 1951 đến 1960- đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.
Qua hết ấp 6 là đã tới ấp Chăm. Dường như có một không gian khác với những mái nhà sàn thấp thoáng giữa vườn cây. Dù vẫn là con đường đá nhựa chạy giữa màu xanh cây trái.
Băng băng trên đường là những cô gái Chăm chở nhau bằng xe máy từ rẫy ruộng về. Nét duyên không thể lẫn với chiếc khăn đặc trưng trùm kín đầu và mặt, chỉ lộ ra đôi mắt đen to đầy bí ẩn.
Chợt nhớ ấp Chăm này cũng chỉ mới có sau khi lập xã Suối Dây (1979). Nhiều người Chăm ở Suối Dây có gốc gác từ làng xưa Ðông Tác, nay là một khu phố thuộc về phường 1, TP. Tây Ninh. Theo chính sách kinh tế mới, người Chăm được cấp đất, ruộng đã về đây sinh sống, lập nên xóm ấp.
Trong khi ở phường 1, khu phố Chăm đã vắng hẳn bóng nhà sàn thì ấp Chăm Suối Dây vẫn còn cả chục ngôi. Nhà gỗ, mái ngói đậm nâu hơn cả màu của đất. Cây xoài nào cũng trĩu trái trước sân.
Lại cũng có những ngôi nhà sàn đã “lai” cho hợp với kinh tế thị trường. Bằng một gian xây gạch lợp tôn nhô ra lề đường phía trước làm nơi hành nghề dịch vụ hay buôn bán…
Nhưng! Ðiều khởi sắc nhất của ấp Chăm chính là ngôi thánh đường mới vừa được khánh thành đầu năm 2018. Ðấy là thánh đường Jamiul Nỉa mah, có biển số nhà là 140 ấp Chăm.
Vẫn trong khuôn viên rộng thênh thang của ngôi thánh đường cũ, nhưng ngôi mới đã nổi bật với ba màu: hồng, xanh cây và trắng. Diễm lệ vươn cao những tháp tròn đỉnh nhọn hoắt và những trụ có ngôi sao xanh trong một mảnh lưỡi liềm trăng.
Những hành lang, tiền sảnh rộng thênh thang được tạo tác từ những vòm cong đỉnh nhọn đặc trưng của kiến trúc Islam. Ðang là tháng chay Ramadal của người Hồi giáo, thánh đường nhộn nhịp người đến dự các nghi thức cầu nguyện. Ấp Chăm Suối Dây vẫn tràn đầy bản sắc riêng có của người Chăm. Mong sao bản sắc ấy không bị phai nhạt đi trong thời đô thị hoá.
Suối Dây đang tiến mạnh trên con đường phát triển kinh tế xã hội. Con đường xuyên qua trung tâm ấp phẳng băng mặt bê tông nhựa, hai làn xe chạy thênh thang.
Tiệm, quán, cửa nhà khang trang. Lưới điện dọc ngang như ở phố. Suối Dây nay đã có đủ các công trình tâm linh tín ngưỡng như nhà thờ xứ đạo Suối Dây, hay thánh thất Cao Ðài. Trường THCS xã trải dài bên mặt lộ với 3 tầng cao hiện đại vôi vàng, ngói đỏ.
Nhìn cột cây số, biết từ trung tâm xã ra đập Tha La còn hơn 6km nữa. Ðể rồi, ra tới đập sẽ thấy mênh mang một vùng hồ. Nhìn lên phía Bắc xã Suối Dây nơi tiếp giáp mặt nước, chỉ thấy một vùng trời nước bao la với một đường chân trời màu xanh lá.
TRẦN VŨ
Ảnh: Thánh đường Hồi giáo Suối Dây.