Showing posts with label đèo mang yang. Show all posts
Showing posts with label đèo mang yang. Show all posts

Wednesday, January 17, 2024

TRẬN ĐÁNH TỔNG DỢT CỦA VM TRƯỚC KHI XÓA SỔ CHIẾN ĐOÀN 100 CỦA PHÁP.

                              



Lời nói đầu: Trong bài "Trận đánh 56 năm trước" mới đây của tác giả Nguyễn đạt Thịnh, nghe nói đồng khóa sĩ quan với tổng thống Nguyễn văn Thiệu, đã kể lại rất kỹ lưỡng về việc đại đội toàn người VN của ông, năm 1954 đã từng nằm đường để bảo vệ đoạn đường từ KM hay cây số 16 đến An Khê trên QL-19. 

Bài viết sau đây, đăng trên quyển Street Without Joy của Bernard Fall nói về những thiệt hại của CĐ 100 của quân đội Pháp khi di chuyển trên QL-19 từ Pleiku trước khi bắt tay với đại đội của trung úy Thịnh. 

(Tưởng cũng nên nói thêm, sau khi đến An Khê, CĐ được lịnh quay về Pleiku và trận đánh sau đó vào ngày 24.6.1954 đã xóa sổ CĐ này, mà tôi đã chuyển ngữ trong bài "Trận phục kích chiến đoàn 100 thiện chiến của Pháp trên Đèo Mang Yang năm 1954"). 

Sau đây là phần chuyển ngữ.

=================


https://dictionary.reverso.net/english-french/lowlanders+who+were+more+at+a+loss+in+the+jungle

. . . 

"Tháng ba năm 1954 đã trở nên một ác mộng của chiến đoàn 100 của quân đội Pháp, nhưng vì một lý do hoàn toàn khác. Lần này, VM, thay vì theo đuổi thuận lợi rõ ràng của chung quanh Pleiku, lại lần nữa đã tan biến trong rừng núi. Dù binh sĩ đau chân và mệt mỏi, thường xuyên bị quấy rầy (plague) bởi muỗi và vắt, lại phải đẩy và kéo theo các đại bác, chiến xa và xe tải, nhưng chiến đoàn (CĐ) lại được lịnh phải yểm trợ cho liên đoàn 3 Dù (gồm 3 TĐ và pháo binh và các đv cơ hữu) - đã được thả dù xuống ngày 1/3 để bao vây trung đoàn 803 hay 108 VMCS, trước giờ luôn né tránh đụng độ với quân Pháp. CĐ sẽ tiến theo hướng đông dọc theo QL-19 để đến làng Pleibon. (Nói thêm: Theo bản đồ của hội Địa lý Quốc gia Mỹ in tháng 2 NĂM 1967, làng này nằm trên một hương lộ hay đường làng bắt đầu từ QL-19, đi về phía bắc; trước khi tới làng Kon Mahar, sẽ thấy núi Kon Lak khá cao tới 5643 ft hay 1720 m ở bên phải. Tới làng này, hương lộ quẹo trái sẽ tới làng Kon Bah, nằm rất gần và ở đông nam của Kontum -- người dịch). Sau vài ngày mưa gió, con đường rất xấu tới Pleibon đã trở nên đầy bùn tới-mắt-cá-chân khiến các xe cộ của CĐ giống như chạy trong vũng lầy (quagmire) ko đáy. 

Trong cái nóng ẩm ướt cháy da (searing), các người lính tiếp tục tiến tới với sức mạnh của tuyệt vọng - khi nghĩ rằng địch sẽ phải ở đâu đó! Nhưng nhật ký hành quân của TĐ 1 Korea vào ngày 1/3, đã ghi ngắn gọn (tersely), "Cảm giác trống không tiếp tục." Đây chính là điều đã được BTTM của Pháp tại Đông Dương đặt tên là "cuộc chiến của những vườn không nhà trống" -- hoàn toàn ko giống cuộc chiến mà họ đã dự trên những đồng bằng và ruộng lúa với những nông dân - ở Nam phần. Ở đây, có thể cả một ngày trời họ ko thấy một bóng người; thật tình mà nói (to be sure), thì vẫn có vài túp lều, nhưng ko có ai. Vì những dân thiểu số trung thành với Pháp giờ đây sống trong đồn hay trại, và những kẻ khác thì theo VM rút vào những đồi núi chỉ cách đường vài km. 

Cuộc đột kích cuối cùng của LĐ nhảy dù này vào phía bắc của làng DÉ  KYENG hay DE KIENG phía đông nam Kontum, hỗ trợ bởi một pháo đội của CĐ 100, ko mang lại kết quả, ngoài việc tìm thấy vài vị trí đóng quân của VM đã có người ở trước đó 3 tới 5 ngày - và ở phía bắc của Dé Kyeng bắt đầu là vùng đánh dấu màu vàng trên bản đồ. Ngày 14/3, cuộc HQ kết thúc, vì lính Dù phải rút ra để được thảy vào Điện Biên Phủ và CĐ 100 được chỉ định nhiệm vụ bảo vệ đoàn công-voa hàng tháng chạy từ Pleiku đi An Khê, dài 100 km. Một lần nữa, kẻ thù đã né tránh đụng độ, và một lần nữa, CĐ đã mệt đứt hơi (dead-tired) này phải di chuyển trở về Pleiku, sau đó theo QL-14, đi về hướng nam tới ngã ba Mỹ Thạnh, và quẹo trái vào liên tỉnh lộ (LTL) -7. Họ đã vượt qua 130 km trong hai ngày để đối diện một đe dọa mới từ kẻ thù cũ của họ, đó là trung đoàn 803 VMCS, mà theo tin tức đang gần làng DO DAK BOT, xem bản đồ, nằm trên một hương lộ đi từ LTL-7 tới QL-14. 

                     


Giờ đây, hai trung đoàn VMCS tại khu vực cao nguyên (plateau) trung tâm đã chuẩn bị chiến thuật của họ đến từng chi tiết: ko vướng bận (unhamper) bởi chiến cụ nặng, cũng ko ràng buộc phải bảo vệ mấy trăm km đường xá, VM đã luôn luôn có thể di chuyển nhanh hơn bất cứ đv cơ giới nào - vì các đv này luôn luôn phải dựa vào hệ thống đường xá để di chuyển. (Tình hình này đã lập lại trong cuộc chiến từ 1954-75 -- người dịch). Với sự khéo léo của một cao thủ dày dặn (seasoned), trung đoàn 108 VM sẽ thu hút CĐ 100 về phía nam nơi ko có đường xá; trong khi chủ lực của trung đoàn 803, tức hai TĐ 39 và 59, nhanh chóng tiến về phía nam dọc theo sông Dak Ya-Ayun (chảy từ bắc xuống nam) để đến ngã ba trên đây khoảng HAI NGÀY trước CĐ bắt đầu hành quân. Vào lúc mà BCH CĐ dựng trại đóng quân chung quanh làng Plei Rinh, nằm trên LTL-7, xem bản đồ, VM lại lần nữa giương bẫy. Bẩy sẽ căng ra ngày 22/3/1954 lúc 0245. 

           


   

CĐ đã hạ trại chung quanh một đồn nhỏ ở làng này, đồn gồm một ngôi nhà với kẽm gai bao quanh được thiết kế để cung cấp chỗ trú ẩn trong mùa mưa cho một trung đội lính địa phương nhằm thu thuế hơn là một cứ điểm quân sự. CĐ lập tuyến phòng thủ theo hình bán nguyệt, tựa lưng vào sông Dak Ya-Ayun. BCH, pháo và xe tăng ở giữa và 3 TĐ ở chung quanh. Thung lũng hơi bằng phẳng cung cấp xạ trường tốt dù vài chỗ bị vướng các bụi cây (clump of brush). Các tiền đồn ở trước phòng tuyến chánh (military line of resistance hay MLR) đã báo ko gì khả nghi cho tới khoảng 0245, khi một khu vực của TĐ 2 Korea báo cáo có vài chuyển động ở gần sông Dak Ya-Ayun.

Lúc 0245, toàn khu vực của CĐ bị tấn công bởi hỏa lực cực kỳ dữ dội của súng cối, và hầu như ngay sau đó bởi hỏa lực chính xác và tập trung của các súng trường và vài súng đại và trung liên. BCH và TĐ 2 Korea gần như lập tức trúng vài quả cối, và vào khoảng 0330, những tiếng hét gây kinh hải (dread scream) "Tiến lên" đã vang dội trong khu vực của TĐ 2 Korea trong khi lính VM trong bộ đồ đen xung phong vào vị trí của đ.đ. 5 của TĐ 2 Korea, làm bị thương và bắt sống đại úy Charpentier. 

Cùng lúc, cuộc tấn công nghi binh bởi súng không giựt của VM, vào trung đội lính địa phương ở đồn Plei Rinh, đã làm cháy đồn, và soi sáng chiến trường, và sau đó vài phút là hai xe GMC của TĐ 2 Korea cũng bị cháy vì trúng đạn cối. Ánh lửa đã tạo thuận lợi cho lính Pháp vì các xe tăng của thiết đoàn có thể can thiệp dễ dàng, bằng cách xông vào khu vực của TĐ 2 Korea để cứu đ.đ. 5 khỏi bị tiêu diệt; những kẻ sống sót của đ.đ. đã phản công và cứu đ.u. Charpentier. 

Một số lính VM đã tới gần BCH CĐ, nhưng bị bắn vào phút chót bởi lính của đ.đ. chỉ huy. Tới 0430, trung đoàn 803, nhanh chóng như lúc xuất hiện, đã tan biến vào rừng gần đó. Các oanh tạc cơ và L-19, đến vào lúc bình minh, dĩ nhiên, ko thấy gì hết. Sau đó, một toán trinh sát của TĐ 1 Korea đã tìm thấy một BCH và doanh trại trống rổng của trung đoàn 803. Một số lớn băng cứu thương đẫm máu chứng tỏ rằng VM cũng bị tổn thất. Ba mươi chín VM bỏ xác tại trận và 2 bị thương. 

Nhưng phe Pháp cũng nặng ko kém - 36 chết, gồm một đ.u.; 177 bị thương, gồm thiếu tá Kleinman-TĐ trưởng của TĐ 2 Korea, và 13 sq khác; và 8 mất tích. Ngoài ra, CĐ đã gần hết đạn và dụng cụ cứu thương. CĐ, như một võ sĩ, vẫn có thể chiến đấu, dù đã mất máu nhiều do thương tích (maul). 

Trong một nhật lịnh, ĐT Barrou đã khen lính của ông về can đảm và đã khiến cho "trung đoàn 803 VM bất khả chiến bại và luôn né tránh, phải nhục nhã trong trận này khi bỏ người chết và bị thương tại chiến trường."

"Cho phép tôi bày tỏ tới các chiến hữu," ông nói tiếp, "niềm hãnh diện, sự trìu mến của tôi và tin tưởng của tôi vào tương lai và vào chiến thắng của chúng ta."

Nhưng những ngày qua vẫn còn là khó khăn với CĐ 100 khi TĐ 1 Korea quân số từ 834 trong tháng 12 chỉ còn 532. May mắn là TĐ 2 Korea và TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa chỉ bị thiệt hại nhẹ (hardly less severe) - và điều xấu nhứt vẫn chưa đến. 

Với người bị thương hầu hết đã đc di tản và hầu hết đạn dược và xăng dầu cũng đã đc tái tiếp tế, một tình trạng khẩn cấp khác chung quanh An Khê đã khiến CĐ lại lên đường. Cho tới nay, An Khê đã đc xem như một khu vực tương đối yên tỉnh, dù có bị VM xâm nhập hay nội tuyến, nhưng ko đến mức sắp bị VM tràn ngập. Việc phòng thủ TP này trong tay của CĐ 11 (tác giả Trần ngọc Nhuận của "Ký ức đời quân ngũ" đã từng phục vụ trong TĐ 1 của trung đoàn này -- người dịch),  gồm toàn lính VN gốc người Kinh (Vietnamese lowlander). BCH của VM ko để cơ hội này tuột mất. 

NGÀY 30/3/1954, hai TĐ độc lập của "Liên-Khu 5" đã tấn công đồn VN ở ĐÈO MANG, có nhiệm vụ kiểm soát đường tiến sát phía đông của An Khê. (Nói thêm: Đèo Mang ở phía đông An Khê, trong khi đèo Mang Yang ở phía tây An Khê -- người dịch). Khi bình minh xuất hiện, đồn này đã bị hủy diệt và trang bị của cả một TĐ bộ binh và 4 khẩu 105 ly lọt vào tay VM. Cùng lúc, tình báo cho biết việc tái xuất của TĐ 39 và TĐ vũ khí nặng của trung đoàn 803 VM ở vài km nam QL-19, trong một hành động có vẻ định cắt An Khê từ hướng tây. 

TRỞ LẠI QUỐC LỘ 19

Ngày 1/4/1954, toàn CĐ - gồm xe tải, tăng, pháo - lại lần nữa đã vượt hơn 140 km để tới QL-19 hầu đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ bán-tỉnh (semi-static) cho toàn khu vực cao nguyên trung tâm này, với đại tá Barrou làm TL vùng An Khê và khu vực bộ lạc Bahnar, để giảm nhẹ gánh nặng của CĐ 11 của quân đội quốc gia VN ko còn tinh thần chiến đấu (sau khi Đèo Mang do một TĐ của CĐ 11 bị thất thủ ngày 30.3.1954 -- người dịch). Thế là, CĐ phải chuyển quân từ làng Plei Rinh, ở phía đông của ngã ba Mỹ Thạnh và cũng ở trên LTL-7, ra QL-14 để chạy về về Pleiku với không khí miền Viễn Tây, nơi mà vài chủ đồn điền trà người Pháp còn lại tụ họp mỗi tối tại "Bar Embuscade" với súng Colt bên hông và xe Jeep xích vào một cái trụ để khỏi bị trộm. CĐ đã ko ngừng ở đây và tiếp tục chạy trên QL-19, đi ngang nơi đóng quân cũ của TĐ 1 Korea và ngã ba nơi mà những người của Dak Doa đã đánh trận cuối cùng. (Trên QL-19, có một ngã ba để vào làng Dak Doa ở phía tây bắc của ngã ba này và một trận ác chiến đã xảy ra ở ngã ba này giữa CĐ 100 và VM -- người dịch). Và lần nữa, họ lại vượt sông Dak Ya-Ayun, nơi mà tháng trước đây, họ đã truy đuổi vô ích trung đoàn 108 VMCS tới một khu rộng lớn ở phía bắc làng Plei Bon, và bây giờ CĐ đang tiến về đèo Mang Yang ở km 22 và căn cứ An Khê phòng thủ kiên cố, ở phía tây và cách đèo 22 km.  

QL-19 ko còn an toàn cho mọi thứ trừ các đoàn công-voa có hộ tống, và chuyến đi của ĐT Barrou tới An Khê cũng là một cuộc HQ. Với đ.đ. 1 và 4 của TĐ 1 Korea và hai đ.đ. thuộc TĐ khinh chiến của trung đoàn 43 thuộc địa, CĐ mở đường tới CÂY SỐ 11 trong khi CĐ 11 của quân đội quốc gia VN gửi ba đ.đ. từ An Khê tới cây số 11 để hộ tống ĐT Barrou và đoàn xe chở xăng tới cứ điểm An Khê. Sau khi đã tới An Khê vô sự, đoàn xe quay về và tới 14:45 g, ĐT Barrou và các xe chỉ huy và những xe bồn ko còn xăng đã vượt cây số 11 để vào vùng bảo vệ bởi các toán tiền tiêu của trung đoàn 43 thuộc địa và TĐ 1 Korea. 

Giờ đây họ bắt đầu chuyển quân như sau: Khi đv đầu tiên bắt đầu di chuyển từ A tới B thì đv thứ 2 vẫn ở tại A sẵn sàng chiến đấu. Khi đv đầu tiên đã tới B thì báo cho đv thứ 2 biết để đv này di chuyển và đv đầu tiên phải sẵn sàng để bảo vệ đv thứ 2. Họ phải lần lượt làm như vậy tới lúc đến vị trí an toàn mới thôi. Và TĐ 1 Korea đã chuyển quân an toàn.

Lúc 1520, lịnh từ BCH ở cây số 22: "Đoàn xe đã tới an toàn. Rút quân." Hai đ.đ. của trung đoàn 43 bắt đầu đi bộ về phía tây vì họ ở gần BCH, với đ.đ. 1 của đ.u. Léouzon đi sau.

Đoàn quân bắt đầu di chuyển trong mệt mỏi và cảm thấy an toàn với tiếng lách cách của trang bị và  súng đạn. Một tiểu đội dưới quyền chỉ huy của Trung sĩ Li-Som, người Miên (phần lớn trung đoàn 43 thuộc địa là lính Miên), dẫn đầu. Lúc này là 15:30, mặt trời vẫn còn cao và  trung đoàn 43 thuộc địa ở khoảng 2 km tây của cây số 15.

Đột nhiên, Li-som đứng lại. "Cái gì vậy, Li-som," đại úy Léouzon của đ.đ. 1 nói. "Ông thấy cái gì?" Giờ đây mọi người của CĐ bây giờ đều biết, một trong những phục kích tệ hại nhứt đã xảy ra vào lúc cuối một cuộc chuyển quân vô sự.

"Không, đích thân," Li Som nói, mặt y nhăn nhó vì tập trung suy nghĩ, "súng liên thanh. TĐ 1 Korea đã đụng rồi."

Giờ mọi người trong đ.đ. 2 đều nghe: súng liên thanh và súng không giựt của VM nổ rền trời. Đây là một cuộc phục kích lớn, và cái giá xứng đáng để bỏ ra - hai đ.đ., 10 xe tải và một trung đội thiết giáp. Đ.đ. của Léouzon ko cần ai ra lịnh. Khoảng 1530, họ bắt đầu đi ngược về cây số 15, sau đó năm phút là trung đội 4 của chi đoàn 5 thiết giáp, chỉ huy bởi đ.u. Doucet.

Mọi thứ đã bùng nổ ở cây số 15. Đ.đ. 4 của TĐ 1 Korea vừa vượt qua đ.đ. 1 của TĐ và bắt đầu bố trí khi, ko có một tiếng động của cảnh báo trước, mọi xe tải của đ.đ. này bị hỏa lực của liên thanh và súng trường từ lề nam của đường. Trước khi các binh sĩ có thời giờ để ngừng xe, xe tải đi đầu đã nổ tung và bốc cháy, và làm cản đường khi xe tải thứ hai vừa tới. Giây lát sau, lần nữa tiếng hô "Tiến lên" và lính chính quy VM (gồm TĐ 19 của trung đoàn 108 và TĐ độc lập 30 của Liên-Khu 5) đã bắt đầu xung phong từ các bụi rậm (thicket).

Đ.đ. 4 gồm toàn lính dày dặn (seasoned); những ai còn sức chiến đấu nhảy khỏi xe tải và hướng về lề đường cao hơn bên phải. Lúc 1525, đúng vào lúc TS Li-Som nghe tiếng súng đầu tiên, những kẻ sống sót của đ.đ. 4, bây giờ chỉ huy bởi các hạ sĩ (corporal) - vì các tất cả các SQ và HSQ của đ.đ. đều chết hay bị thương - đã chiến đấu cho trận cuối cùng của cuộc đời. Thực tế, họ đã tập hợp lại đủ để tung ra hai cuộc phản công dù ko hiệu quả để chống kẻ thù với hy vọng cứu một số kẻ bị thương khỏi chết cháy trong các xe đang cháy hay giúp họ khỏi bị VM dùng làm khiêng đỡ đạn khi VM tiến qua đường. Hơn nữa, một lời cầu cứu được gửi tới BCH, và những đv khả dụng của CĐ đang trên đường tới cây số 15. Đại đội 2 của 43 thuộc địa tuy ko nhận được cầu cứu này nhưng cũng quay về địa điểm phục kích.

Đv đầu tiên tới địa điểm phục kích là đại đội đoạn hậu (rear guard), với thiết giáp cơ hữu gồm hai chiến xa nhẹ và chiếc half-truck dẫn đầu chạy hết tốc lực (hell-for-leather) xông thẳng vào trung tâm của chỗ phục kích, với hy vọng sự xuất hiện của thiết giáp ít nhứt sẽ khiến lính VM sợ hãi (startle) và tạo cơ hội cho đ.đ. 4 tập hợp lại. Nhưng lính VM cũng dày dạn. Chiếc half-truck có tên Dingo (theo truyền thống của quân Pháp, mọi xe thiết giáp đều được đặt tên) đã ngừng hẳn vì một đạn không giựt trúng vào trục trước; trong khi chiếc tăng đi kế bắn vào chiếc xe half-truck này bằng đại liên làm bị thương Trung sĩ Lem trưởng xa và hạ sĩ Trần văn Srey xạ thủ bị thương. Hỏa lực dầy đặc và chính xác nhắm vào khe hở (slit) của các xe tăng khác khiến làm bị thương một số lính trên xe tăng và VM bắt đầu trèo lên các xe này. 

Vị cứu tinh đã giúp đv này khỏi bị hủy diệt là đ.u. Doucet chỉ huy trung đội tăng số 4. Các xe tăng của ông vừa chạy vừa bắn vào địch quân đã giúp giúp các xe bọc sắt tạo thành một hình vuông để giúp những kẻ sống sót của các đ.đ. bộ binh có chỗ ẩn núp. Điều này đã làm chậm bước tiến của VM một lúc. Từ 1600 đến 1700, VM đã bốn lần tấn công các xe tăng, có vẻ bất chấp tổn thất về phía họ. Hai lần họ đã trèo lên hai xe tăng có tên Diable và Dingo - chiếc này đã bị trúng đạn trước đó, để rồi bị đánh bật bằng cận chiến bởi lính thiết giáp, và có một lúc hình như là giờ phút cuối của các xe tăng khi đạn sắp hết sau gần 90 phút tác xạ dữ dội.

Điều lạ lùng là đại bác của CĐ vẫn yên lặng. "Đại bác ở đâu?" Doucet gọi về BCH CĐ. "Không thể can thiệp," là câu trả lời, "Có một L-19 đang bay trên đầu bạn." Trong lúc đánh nhau, ko ai để ý chiếc máy bay này, nhưng bây giờ người ta mới nghe nó. Liền sau đó là các oanh tạc cơ B-26, do Mỹ sản xuất, từ Nha Trang bay tới. VM bắt đầu rút lui vào rừng nhưng ko kịp. Lấy các xe bị cháy của đ.đ. 4 làm mốc, chúng bay sát ngọn cây, ném những bom màu đen. Đó là những bom napalm sẽ thiêu đốt đến chết những ai bị trúng bom. 

Đ.đ. 3 của TĐ 1 Korea vừa tới với một xe chở đạn cho xe tăng đã thêm sức mạnh của quân Pháp. Vì VM lo đối phó với B-26, lính Pháp đã phản công lần cuối lúc 1715. Yểm trợ bởi xe tăng có tên "D'Arc II" và đại bác tự hành có tên "Duroc", đ.đ. 3 của trung úy De La Brosse và vài thành phần của đ.đ. 1 cố gắng di chuyển ngang qua đoàn xe, bằng cách đẩy những xe hư ra khỏi đường và khởi động những chiếc khác, trong khi vẫn dưới hỏa lực địch. Lúc 1900, tất cả những kẻ chết và bị thương của ba đ.đ này hay của các xe tăng trúng đạn đều được đưa lên xe tải. Đoàn xe vừa đụng trận (batter) này đã bắt đầu rút về km số 22 nơi mà một lần nữa, toán đoạn hậu, lần này là đ.đ. của De La Brosse và thiết giáp, bị tấn công.

Tác chiến trong rừng núi ko dễ dàng chút nào. Trong bóng tối của đêm nhiệt đới, đó là địa ngục (hellish). Khoảng 15 VM tràn lên đại bác tự hành "Duroc"mà tài xế chỉ thấy chúng vào giây phút cuối và đã tăng tốc xe, cán lên ba tên thành đống thịt bầy nhầy với xích của xe này. Nhưng lính VM ko bị lung lay (were not to be shaken); Trung Sĩ Piccardat, trưởng xa bị bắn vào mặt, trong khi tài xế, hạ sĩ Bonnat, tử thương vì trúng đạn ở ngực. Xe ko tài xế đã lao xuống đường mương kế đường, với lính VM vẫn còn bám trên xe. Piccardat bị VM lôi đi (drag out) và một tài xế khác, Danh Cương đã bị trói và sắp bị lôi đi khi chiếc "D'Arc II" của Trung sĩ Temmermann xuất hiện gần khúc quanh (bend), với đèn pha chiếu sáng và đại liên nổ dòn. 

Với bình tỉnh, như đang thực tập, Trung Sĩ trẻ Temmermann leo ra khỏi tăng với hai người lính, trèo lên chiếc đại bác tự hành "Duroc" và tháo máy truyền tin, tháo khóa nòng/quy-lát (breech block) của súng và những giấy tờ trên xe, và sơ cứu cho Piccardat và Bonnat đang hấp hối, và đặt họ và hai lính của chiếc "Duroc" vào xe tăng của y.

Nhưng đó ko phải là trận đánh cuối cùng trong ngày. ĐV thiết giáp của đ.u. Doucet khi hộ tống đám lính bộ binh này về trại ở km 22, lại lọt ổ phục kích lúc 2000. Kiểu cách cũng như cũ: tấn công trực tiếp vào xe tăng. Một đại bác tự hành khác, có tên "Don Quixote" bị trúng đạn và hai lính trên xe bị thương. Trong chỉ vài phút, VM đã tràn lên các xe tăng, trong khi đó, các xe tăng đều chiếu sáng xe trước và bắn đại liên vào VM đang ở trên xe trước. Lính bộ binh chung quanh xe ko thể can thiệp hữu hiệu vì sợ bắn vào lính xe tăng hay bắn lầm vào nhau. Giống như voi bị hổ tấn công, các xe tăng bắn vào các kẻ tấn công họ. Lúc 2300, trung đội thiết giáp cuối cùng đã ầm ầm (rumble) tiến vào chu vi phòng thủ, kéo theo nó hai chiếc half-truck đã bị trúng đạn vào buổi chiều. Những người lính thiết giáp này đã trải qua 9 - 11 giờ trong thùng xe với nhiệt độ bên trong là 110 độ F hay 43.3 độ C!

Ngày hôm sau, một đoàn thám sát mạnh mẻ gồm TĐ 2 Korea và một đ.đ. của 43 thuộc địa đã đến chỗ phục kích để thấy 7 xác lính Pháp - lúc đầu nghĩ là mất tích, cũng như 23 xác VM - và lần nữa một cử chỉ mã thượng (gesture of chivalry) của VM: một lính Pháp bị thương nằm giữa đường, đc băng bó và cho ăn!

Một lần nữa, tổn thất thật khủng khiếp: CĐ có 90 chết và bị thương, trong đó 1 thiếu úy chết, so với 81 VM chết đếm được. Từ 175 người mỗi đ.đ., đ.đ. 1 của TĐ 1 Korea chỉ còn 67, đ.đ. 2 còn 83, đ.đ. 4 còn 94. CĐ vừa có một diển tập (rehearsal) cho chính họ mười tuần trước khi CĐ bị xóa sổ (vào ngày 24-25/6/54), và chỉ cách 1.6 km nơi mà họ sẽ bị xóa sổ. Sân khấu đã được dàn dựng cho chương cuối cùng của cả hai phía.

Dù bị tổn thất nặng CĐ vẫn ko thay đổi nhiệm vụ. Đó là giảm gánh nặng hay giải vây cho CĐ 11 (mà tác giả Trần Ngọc Nhuận phục vụ) tại An Khê, vì đv này đc xem như mất hết tinh thần (too demoralizes) để phòng thủ toàn lực (all-out), và CĐ phải giữ An Khê với một lực lượng nhỏ hơn so với lực lượng của địch chưa bao giờ tập trung như vậy trong vùng. Trong lúc đó, BCH tại Cao Nguyên vẫn còn nhiều lạc quan. Thực vậy, CĐ 100 là đối tượng của một nhật lịnh đặc biệt vào ngày 9/4/1954 như sau:

... Bằng cách tiến nhanh dọc theo Sông Ba, bạn tấn công cạnh sườn phía tây của địch và chiếm Củng Sơn. Và, trong một bước nhảy vọt bạn trở lại Kontum và đánh địch ở một khu vực mà địch muốn tới...

... Và vài ngày sau, bạn sẽ gây ngạc nhiên cho họ tại La PIT và --- trong khi tiến nhanh bằng thiết giáp và cận chiến với súng trường, hỗ trợ bởi pháo -- bạn sẽ gây thiệt hại nặng cho chúng...

Bạn sẽ ko cho kẻ thù cuồng tín nghỉ ngơi. Một cuộc chạy đua giữa chúng và bạn trên tại khu vực giữa đường 19 và thung lũng Plei Bon. Bạn nhanh hơn họ nhờ phản ứng nhanh và chiến đấu dũng cảm...

... Lại lần nữa, bạn sẽ đánh bại địch quân trong cuộc chạy đua của họ về An Khê dù nhiệm vụ của họ là diệt bạn. Đây là lực lương đã bị tổn thất trong trận đánh vào tối ngày 4/4 ở km 14 tây An Khê...

... Kết quả là gì? Địch sẽ bỏ mọi hy vọng chiếm An Khê và hủy diệt viện quân của ta...

Nhật lịnh được thông báo tới mọi đv của CĐ. "Họ PHẢI nói một điều gì đó," một thiếu úy và trung tá Lajouanie, chỉ huy trưởng trung đoàn Korea, nói thêm: "Nhưng BTL của chúng ta nên mơ mộng thêm điều gì đó để gần thực tế hơn. Cái mà chúng ta cần bây giờ ko phải là lời khen, mà là viện binh."

Nhưng lấy viện binh ở đâu ra khi Điện Biên Phủ đang ăn vào ruột của quân Pháp tại Đông Dương như ung thư, và Bắc Kỳ là một ưu tiên. Kế đó là Lào và Nam Việt Nam (vì lý do chính trị, vì thủ đô của nước đặt tại đó), và cuối cùng, vùng cao nguyên và Cambodia yên tỉnh (quiescent). 

Kể từ tháng 12/1953, quân số của CĐ chỉ còn 75/100, và những trận vừa rồi đã làm mất những chiến sĩ giỏi. Ngay cả trước phục kích ngày 4/4/54, CĐ đã thiếu 12 trung đội trưởng bộ binh, 5 trung đội trưởng vũ khí nặng, 12 y tá, và khoảng 12 lính truyền tin. "Hãy tự gở rối" (débrouillez-vous/muddle through) là câu trả lời thường xuyên từ BTL đặt lại Pleiku, kèm đó những bảo đảm rằng những thay thế hay viện binh sắp đến "sớm sủa". Nhưng đối diện với ba trung đoàn đầy quyết tâm của VM, lời trả lời "sớm sủa" ko phải là đủ đối với CĐ. 

Giờ đây là giai đoạn ngắn để nghỉ ngơi cho CĐ. Để giảm nhẹ trách nhiệm của CĐ 11 tại An Khê, họ phải thường xuyên xây dựng các công sự quanh An khê, cải thiện sân bay để C-47 có thể đáp xuống, vì lúc này TP này hoàn toàn bị bao vây và tiếp tế hay viện quân đều dựa vào không quân, và họ chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng -- một Điện Biên Phủ  của CĐ mà một số lính đã nói đùa như vậy. 

Vì mọi đồn bót đều bị bao vây nhưng chưa bị tấn công, khiến tinh thần, từ chỗ đang tốt bắt đầu xuống dốc. Đ.đ. 4 của tđ 1 Korea báo cáo nhiều đào ngũ cũng như tự gây thương tích: Ngày 15/4, binh nhứt Hiem Rum đào ngũ mang súng lúc 0210; ngày kế , binh nhứt Phạm văn Mười tự bắn vào chân mình, và 2 ngày sau, binh nhứt Trần văn Lợi thuộc đ.đ. 4 cũng bắn vào chân.

Vào ngày ĐBP thất thủ, 8/5/1954, những người bị bao vây (beleaguered) tại An Khê có thể nghe giọng chế giễu (mocking voice) phát đi từ một cái loa của VM phát đi qua cánh đồng: "Hỡi các lính của CĐ 100! Các bạn của bạn ở ĐBP đã ko thể kháng cự cuộc tấn công của QĐNDVN. Bạn yếu hơn ĐBP! Bạn sẽ chết, người Pháp, và cũng như vậy bọn VN tay sai!" Kêu gọi như vậy, dù chỉ nhắm vào lính VN, nhưng đây trở thành vấn đề chính. 

Trong CĐ 100 có một đv là tđ 520 khinh chiến (TĐKC), toàn lính VN. Đây là một trong những đv mới thành lập để tìm và diệt địch theo cách của họ. Nhưng những kẻ nói đùa đã nói, TĐKC "ko phải lính cảm tử, cũng ko phải là TĐ". Thành lập vào năm 53, TĐ khinh quân này hoàn toàn ko đáng tin cậy như một đv chiến đấu tự trị (autonomous) vào mùa xuân 1954. Điều này đã tạo hậu quả bi thảm cho kết cục của CĐ 100. 

Tháng 5/54 mọi sự tốt đẹp cho An khê. VM đang đối diện những khó khăn của chính họ dọc theo bờ biển Trung kỳ, nơi mà cuộc HQ "Atlante", sau nhiều tháng sa lầy, đã khiến Pháp hủy bỏ vào giờ cuối, nên lực lượng của họ tại vùng cao nguyên này đã hoãn cuộc tấn công vào Pleiku và An Khê. 

Nhưng vào tuần thứ ba của tháng 6, VMCS đã sẵn sàng để tấn công sâu vào khu vực cao nguyên vì biết rằng Pháp ko còn quân trừ bị. BTL Pháp cũng biết ý định của VM nên ra lịnh cho CĐ 100 di tản khỏi An khê và rút về Pleiku, khoảng cách 80 km đầy địch quân. Một cuộc không vận đều đặn bằng C-47 và những chiếc Bristol khổng lồ, xem hình, - đây là những máy bay hai động cơ với cửa mở ra ở mủi, do Anh sản xuất, để chở đi những trang bị quí và 1.100 dân. 

Mọi trang bị và đạn dược ko thể mang đi theo CĐ đều được để gần sân bay An Khê để máy bay phá hủy sau khi đv cuối cùng rút đi. Tuy nhiên, ngày 23.6, tin tình báo cho biết có lẽ một lực lượng lớn của VM, có lẽ là trung đoàn 803 vm, trên đường tới QL-19 với hy vọng sẽ ngặn chặn cuộc rút quân. Thay vì rút quân ngày 25.6 như dự trù trong lịnh hành quân lúc đầu, ĐT Barrou cho rút vào sáng sớm ngày 24.6 và đi từ An Khê đến km 22 trong một ngày thay vì chỉ đi tới km 11

Điều này dẫn đến di chuyển nhanh hơn, kỷ luật đoàn xe tốt hơn nhưng kém bảo vệ cạnh sườn, nhưng Barrou nghĩ rằng nhờ vậy CĐ của ông sẽ sớm bắt tay với CĐ 42, phần lớn là lính Thượng địa phương, tăng cường bởi CĐ Dù số 1, từ Pleiku sẽ kịp đến đèo Mang Yang./. 

. . .

Chuyển ngữ từ trang 179 - 191 của quyển Street Without Joy của Bernard Fall.

SJ ngày 17/01/2024

Tài Trần

Cập nhựt ngày 18/04/2024.


Saturday, October 31, 2020

TRẬN CHIẾN ÁC LIỆT TRÊN QL-19 CỦA SƯ ĐOÀN 22 VNCH THÁNG 3/1975

Bài chuyển ngữ này nhằm mục đích ghi ơn những chiến sĩ của SĐ 22 bộ binh, đặc biệt là trung đoàn 47, đã hy sinh trong trận đánh giữa đầu đèo phía đông của đèo An Khê và Bình Khê; dù cái chết của họ đã không cứu vản VNCH sụp đổ trước sự xâm lăng của quân CSBV, nhưng chiến công của họ để bảo vệ khu vực trách nhiệm sẽ lưu danh thiên cổ.-- Tài Trần, một cựu quân nhân của trung đoàn 10 sư đoàn 7 bộ binh - một sđ đã có hai vị danh tướng đã tuẩn tiết trong ngày 30.4.75 vì đã không thể cưởng lại số phận nghiệt ngã của dân tộc. 

- Lời nói đầu: trước khi trận Ban Mê Thuột bùng nổ ngày 10/3/75, ngay từ NGÀY 4/3/75, TĐ 1 và 2 của trung đoàn 47 sđ 22, bảo vệ đầu đèo phía đông của ĐÈO AN KHÊ trên QL-19 đã đẩy lui nhiều cuộc tấn công của trung đoàn 2 và 141 thuộc sđ 3 csbv. Chỉ trong 9 ngày chiến đấu ác liệt với địch quân vượt trội về quân số và vũ khí, tính tới ngày 13/3, chỉ riêng TĐ 1/47 đã có BỐN tiểu đoàn trưởng anh dũng hy sinh. Sau đó tđ phải về hậu cứ SĐ để bổ sung quân số vì thiệt hại 50/100 do chết và bị thương. 

. . . 

"TRONG KHI CHIẾN SỰ ác liệt tại tỉnh lỵ Ban mê Thuột và các khu vực lân cận, và ba sđ csbv đã tấn công sđ 23 VNCH, vừa yếu về hỏa lực và quân số (out-gunned and out-manned); sđ 22 VNCH, dưới quyền chuẩn tướng Phan đình Niệm, vẫn tiếp tục chiến đấu tại tỉnh Bình Định. Dù sđ 22 ko thể phá vở áp lực của sđ 3 csbv trên Đèo An Khê nằm trên QL 19, các chiến sĩ bộ binh, pháo binh, và các cuộc không kích của VNCH đã gây thiệt hại nặng cho địch. Trong những ngày đầu của cuộc chiến, tướng Niệm đã nghĩ rằng với những thiệt hại nặng nề này, ko sớm thì muộn sđ 3 csbv sẽ rút lui. Nhưng bất hạnh thay, ông đã ko dự đoán được tình hình đã thay đổi quá đột ngột (precipitous turn of events) ở phần còn lại của Quân khu (QK) 2, đã khiến, những chiến thắng của sđ 22 tại Bình định trở nên vô ích.  


1. QL-19 VỚI CÁC TRẬN ĐÁNH TẠI ĐÈO AN KHÊ BÌNH KHÊ: ta thấy quân CSBV đã cản đường ở phía tây Đèo Mang Yang và phía đông của Bình Khê

               2 : PHÍA ĐÔNG CỦA BÌNH KHÊ 

3. ĐÈO AN KHÊ VỚI ĐÈO MANG VỚI KHÚC QUẸO CÙI CHỎ Ở NÚI CÂY RUI. 

      

                4. QUỐC LỘ 19 VÀ BÌNH KHÊ 

Cuộc tấn công đầu tiên của sđ 3 csbv tại ĐÈO AN KHÊ và BÌNH KHÊ, xem bản đồ số 1, đã thành công khiến các đv phòng thủ, phần lớn là ĐPQ, đã rút khỏi các vị trí - từng giúp họ kiểm soát đèo này hay giữ các cầu trên QL-19. Trong vài trường hợp, ĐPQ đã rút lui chỉ sau một thời gian chiến đấu ngắn ngủi. Đến lúc tướng Niệm có đủ cả ba TĐ để có thể phản công, csbv đã khai thác những thành quả ban đầu và đã có những thành phần lớn của cả ba trung đoàn của sđ 3 csbv - 2, 12 , và 141 - cộng với các đv đặc công, pháo, và địa phương, tập trung ở đầu của THUNG LŨNG VĨNH THẠNH, giữa Đèo An Khê và Bình Khê, xem bản đồ 1.

NGÀY 10/3, khi sđ 320 csbv tiến vào Ban Mê Thuột, tướng Niệm đã có BA trong bốn trung đoàn phụ trách khu vực giữa ngã ba AN NHƠN, nơi tiếp giáp giữa QL-19 và QL-1, và ĐẦU PHÍA ĐÔNG của ĐÈO AN KHÊ, xem bản đồ số 1. TĐ 1 và 2 của trung đoàn 47, ở đầu đèo phía đông của Đèo An Khê, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của trung đoàn 2 và 141 csbv. NGÀY 11/3, TĐ 3/47 được không vận đến quận lỵ BÌNH KHÊ, để cho trung đoàn 47 có đủ 3 TĐ. LIÊN ĐOÀN (LĐ) 927 ĐPQ vẫn còn giữ những vị trí trong đèo này nhưng ko thể kiểm soát con đường đi qua đèo. TĐ 209 của LĐ này đã bị tràn ngập ngày 11/3, và TĐ 218 cũng của LĐ, với các đ.đ. đóng rải rác trong đèo, ko phải là đối thủ của địch quân.

TRUNG ĐOÀN 42 bộ binh của ĐT NGUYỄN HỮU THÔNG, với BCH đặt tại Bình Khê, đã tấn công về hướng tây dọc theo QL-19 nhằm bắt tay với hai TĐ của trung đoàn 47 đã mất sức vì đụng độ liên miên. TRUNG ĐOÀN 41 bộ binh, đã tiến từ BỒNG SƠN ngày 8-9/3 để tới AN SƠN trên QL19, nhằm bảo vệ tuyến phòng thủ (line of communication) ở phía tây tới BÌNH KHÊ và bảo vệ SÂN BAY PHÙ CÁT. 

TRUNG ĐOÀN THỨ TƯ của sđ 22, trung đoàn 40, vẫn ở bắc Bình Định, giữ đường vào thung lũng AN LÃO và giữ Đèo PHÙ CỦ trên TL-506 bắc PHÙ MỸ. 

NGÀY 11/3, TĐ 1 và 2 của trung đoàn 2 csbv BỊ THIỆT HẠI NẶNG bởi pháo và không quân VNCH. TĐ 7 trung đoàn 141 csbv, bị đẩy lui khỏi hợp lưu của Sông Côn và Sông Đông Phổ với hai đ.đ. gần như tan rả. TĐ 3 trung đoàn 2, và TĐ 5 trung đoàn 12 cũng bị thiệt hại nặng. Những xe tải chở đạn và quân mới tinh xuất phát từ thung lũng Vĩnh Thạnh và sau đó chở lính chết và bị thương về lại căn cứ này của csbv phía bắc của Vĩnh Thạnh. 

NGÀY 13/3, một đại diện của cơ quan DAO thăm một tiền đồn của sđ 22. Báo cáo của ông này phản ảnh sự tin tưởng của tướng Niệm và lạc quan tại BTL của tướng Niệm. Những cuộc tấn công dữ dội của năm TĐ CSBV chống lại TĐ 1 và 2/47 VNCH, đã bị đẩy lui, dù BỐN TĐ TRƯỞNG CỦA TĐ 2 LẦN LƯỢT TỬ TRẬN KỂ TỪ 4/3. Nay được chỉ huy bởi một đại úy, TĐ này chỉ còn 1/2 quân số và rút về hậu cứ sđ để bổ sung. Dù ko có TĐ 2, trung đoàn 47 đc lịnh tấn công địch ở chân đèo phía đông của đèo An Khê, và bắt tay với ĐPQ ở trong đèo. LĐ 927 ĐPQ, dưới quyền của trung đoàn 47, có BCH ở phía tây đèo An Khê với các đ.đ. của ba TĐ thiếu quân số gồm tđ 209, 217 và 218 - giữ các tiền đồn dọc theo đèo. Khi bch của TĐ 218 đpq và một đ.đ. của TĐ bị tràn ngập ngày 12/3, trung đoàn 47 VNCH có vẻ ko thể vượt qua đèo kịp thời để bắt tay với các đv ĐPQ. TĐ 218 ĐPQ đã tái bổ sung, vẫn giữ một số vị trí ở đầu đèo phía tây, nhưng ngày 17/3, tđ bị tấn công bởi tđ 5/12 csbv. 

Cuộc chiến diển ra ác liệt ở đầu đèo phía đông và Bình Khê từ 15-17/3.  Trung đoàn 42 VNCH định đẩy lui 3 tđ của sđ 3 csbv đang chiếm cao điểm gần đầu đèo phía đông. Dù giết gần 500 ĐỊCH QUÂN TRONG HAI NGÀY, trung đoàn 42 ko có tiến triển đáng kể. ĐT Thông, BỊ THƯƠNG HAI LẦN nhưng ko tản thương. Trong khi đó, trung đoàn 41 chuyển về nam quận lỵ Bình Khê.

Tướng Niệm đã rút hai TĐ còn lại của trung đoàn 47 và gửi họ lên bắc Bình Định để thay thế tđ 2 và 3/40, đã được lịnh về Khánh Dương tỉnh Khánh Hòa. Sau khi tđ 2/47 bổ sung quân số tại hậu cứ SĐ, ông gửi lên phía bắc để thay thế tđ 1/40, giờ làm trừ bị cho SĐ. 

Với chỉ có hai trung đoàn khả dụng và ko có trừ bị, ngày 17/3 tướng Niệm đã quyết định rằng sẽ ko thông thương đèo An Khê và ra lịnh các tđ đóng tại chỗ. Dù vài ngàn dân thường và vài trăm lính ĐPQ tại An Khê ko thể rút về Qui Nhơn, ông thấy ko có lý do gì để tiếp tục tấn công. Trong khi đó, cuộc di tản đang diển ra ở LTL-7B.

NGÀY 19/3, csbv đã kiểm soát đèo và tiến về phía tây, tới gần ngoại ô của An Khê. Ngày 22, tđ 5/12 csbv đã vào An Khê. Mọi kháng cự của QLVNCH đã chấm dứt, và hơn 5.000 người đã di tản trong hoảng loạn về phía nam trên các đường làng và đường mòn để cố gắng tới Qui Nhơn. Ngày 24/3, tr.đ. 42 rút lui dọc theo QL-19, phía đông Bình Khê, và tr.đ. 41 giữ nhiệm vụ bảo vệ Bình Khê. 

Cùng ngày,cuộc tấn công của csbv vào Bình Khê bắt đầu, và tr.đ. 41 và 42 đã BỊ KHÓA ĐUÔI (were cut off). SĐ 3 csbv cho trung đoàn 141 và 12, trừ TĐ 5 vẫn còn ở An Khê, tiến hướng đông về sân bay Phù cát. Trong khi đó, tr.đ. 95 của mặt trận B3, từ Pleiku đi theo QL-19, hợp lực với tr.đ. 2 để tiếp tục tấn công tr.đ. 42 đông Bình Khê.

Nhưng tr.đ. 41 và 42 ko chờ đợi cuộc tấn công này. Thay vào đó, ngày 27/3, họ phá vòng vây và đánh về hướng đông để tiến về Qui Nhơn, mang theo hơn 400 lính ĐPQ - được trực thăng cứu ngày hôm trước từ khu vực An Khê. Trong khi tr.đ. 41 và 42 đang cố thủ bảo vệ Qui Nhơn, lịnh từ Sài gòn ra lịnh cho sđ 22 phải di tản. QK 2 gần như đã mất. 

Khi quân csbv tấn công sân bay Phù Cát ngày 31/3, KQ VNCH đã mang đi khoảng 32 máy bay, để lại khoảng 58 chiếc, phần lớn hư hỏng hay hủy diệt trên mặt đất. Ngày 1-2/4, khoảng 7.000 binh sĩ của sđ 22 và đpq tỉnh Bình Định đã lên tàu hải quân tại Qui nhơn đi Vũng tàu. Xe tăng và bộ binh csbv đã tiến vào Qui nhơn.

...

Dịch từ: "From cease-fire to capitulation" (Từ ngưng bắn đến đầu hàng) của cựu ĐT Le Gro thuộc cơ quan DAO. 

Bản đồ số 1 từ sách đã dẫn, các bản đồ còn lại lấy từ mạng. 

Đọc thêm: https://quanvan.net/cac-tran-danh-nam-1975-36-binh-dinh-di-tan/#.X5914ZCSk2w


5 VÀ 6:  THÀNH PHỐ AN KHÊ 

                                   

7. ĐÈO MANG YANG





Thursday, September 28, 2017

 Chiến đoàn 100 - phần 1. 

Lời nói đầu: Chiến đoàn 100 là một trong những đv giỏi nhứt và nặng nhứt của loại này*. Thành phần cốt lõi là những cựu binh của tiểu đoàn Pháp trong lực lượng LHQ tại Triều Tiên (Korea), họ là những ng lính thiện chiến dày dạn kinh nghiệm (battle-hardened elite troop), nhiều người trong số sq và hsq đã chấp nhận giảm hai hay nhiều cấp để phục vụ trong lực lượng LHQ. Tại Triều Tiên, TĐ này đã chiến đấu trong hàng ngũ SĐ 2 bộ binh Mỹ và đã chiến thắng tại Chipyong-ni, Wonju và Rặng Núi Đầu Mủi Tên (Arrowhead Ridge). Được chuyển tới Đông Dương sau khi ngừng bắn tại Triều Tiên tháng 7/1953, TĐ KOREA này, được tăng cường bởi thành phần trừ bị của TĐ và sự kết nạp (incorporation) của hai đại đội lính Việt Nam đội quân commando có tên Bergerol*, đã trở thành TRUNG ĐOÀN KOREA (gồm hai TĐ 1 và 2). Sau đó có sự kết nạp của TĐ 2 thuộc Trung đoàn 10 Pháo binh Thuộc địa (10th Colonial Artillery Regiment, và TĐ Khinh quân (Bataillon de Marche, viết tắt là B.M. của Trung đoàn 43 Bộ binh Thuộc địa (43rd Colonial Infantry) - một đv gồm toàn lính Pháp và Cambodge quen chiến đấu trong rừng (jungle-wise). Với những thành phần như vậy, CĐ 100 đã ra quân NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 1953... 
Đến ngày 29/11, CĐ đã huấn luyện thành thục, đã hành quân dã ngoại với pháo binh RIÊNG của CĐ (một điều khá hiếm vào thời đó). Sau đó CĐ lại tăng cường thêm Chi đoàn 3 của Lữ đoàn 5 Thiết kỵ (3rd Squadron of the 5th Armored Calvary) có tên là Royal Poland. Quân số lúc này của CD lên tới 3.498 người
* Đây là một đv có thể chiến đấu độc lập vì có pháo và xe tăng cơ hữu, chưa kể trung đội công binh, truyền tin. Đây là điều mới lạ với tổ chức của QĐ Pháp thời đó. Nhưng là thông thường với QĐ Mỹ
** Đây một toán nhỏ cảm tử quân, thường mang tên ng chỉ huy của họ: như Bergerol, Vitasse (có mặt trong trận đánh này), Vanderberg, v.v...
 
. . . 
 Tuần lễ thứ ba của tháng 6/1954, CĐ được lịnh bỏ An Khê rút về Pleiku vào ngày 25/6 trên đoạn đường 80 km đầy địch quân. Trước đó, một cuộc không vận gồm các máy bay C-47 và Bristol của Anh mang đi hầu hết những trang bị quí và 1.100 dân thường. Những gì ko thể mang đi lúc di tản bằng đường bộ thì để kế phi đạo để máy bay Pháp phá hủy sau khi rút đi hết. 
Vào ngày 23/6, tin tình báo cho biết một lực lượng lớn của Việt minh, có lẽ là toàn bộ Trung đoàn 803, đang trên đường đến đường 19 (đi từ Qui Nhơn lên Pleiku.--Tài) để chặn đánh đoàn xe.
Ngày di tản được sớm một ngày (24/6) vào lúc rạng đông và ĐT Barrou, chỉ huy CĐ đã quyết định đi đoạn đường từ An Khê đến KM 22 (đèo Mang Yang) trong một ngày thay vì chỉ tới KM 11.
Điều này khiến đi nhanh hơn, kỷ luật của đoàn xe tốt hơn nhưng lại thiếu an ninh để bảo vệ cạn sườn, nhưng Barrou nghĩ rằng nên thử thời vận vì nghĩ rằng CĐ 42, phần lớn từ dân Thượng địa phương sẽ tới đèo Mang Yang trước để bắt tay với CĐ 100 và sau đó CĐ 42 có thêm tăng viện của CĐ Dù số 1. 
(Xin lập lại: CĐ 100 của ĐT Barrou có các đv cơ hữu sau: a/ một TĐ bộ binh thuộc tr.đoàn 43 thuộc địa gồm lính Pháp rất thiện chiến, b/ TĐ 2 bộ binh Korea, c/ TĐ 1 bộ binh Korea và d/ một TĐ thuộc Tr.đoàn 10 Pháo binh - chia đều đại bác 105 ly cho 3 TĐ này. Ngoài ra có 3 xe haft-track và 2 chiến xa M-8 (có súng 37 ly). Chưa kể truyền tin, quân y và công binh). 
Cuộc di tản bắt đầu lúc 3 g sáng ngày 24/6 với các tiền đồn ở phía tây An Khê kéo về để nhập chung đoàn xe: đi đầu là TĐ 43 thuộc địa, kế đó là TĐ 2 Korea và TĐ 1 Korea sau cùng. Lính tráng đều xuống xe đi bộ để bảo vệ đoàn xe, riêng TĐ 43 thuộc địa còn phải bảo vệ TĐ 520 Khinh quân VN. Đại đội chỉ huy và BCH nhẹ của CĐ thì đi sau đoàn xe chở TĐ 520 khinh quân. Cách đoàn xe một khoảng có 300 dân thường đi theo, vì họ ko di tản kịp bằng máy bay dù lịnh của BTL Quân đoàn ko cho dân thường đi chung. Vào lúc CĐ lên đường, những máy bay B-26 đã tới phía trên căn cứ An Khê trống vắng và bắt đầu phá hủy các chiến cụ bỏ lại. 

Cuộc di tản ko thể giữ bí mật khi: trước đó máy bay lên xuống liên tục để di tản trang bị quí gía, các đơn vị Pháp đã kéo về An khê để tham gia di tản, dân thường tại An Khê cũng di tản và VM đã đánh giá tình hình. VM chỉ có việc chạy bộ làm sao để chận đánh đoàn xe ở nơi họ chọn trước trên đường 19. 
Lúc 0900, toán đi cuối cùng của đoàn xe (thuộc TĐ 1 Korea) đã tới KM 6 và bị bắn sẻ, đ.đ. 2 và 3 của TĐ này bung ra lục soát, một số bị thương; tới 0930 súng ngưng, hai đ.đ. này tiếp tục.
Khoảng 1100, toán bọc hậu này đã tới KM 8 gần sông Dak Jappau và đồn điền. Một số lính Pháp bị trúng tên độc phóng từ ổng thổi của Thượng Cộng. 
Cùng lúc đó, đoàn xe đã tới KM 11, lẽ ra là mục tiêu của kế hoạch ban đầu nhưng nay chỉ là nơi nghỉ chân chốc lát. Từ đây, đường bắt đầu đi vào rừng già, với cây cao mọc sát (fringe) đường và vách đá hai bên đường cung cấp vị trí lý tưởng cho một phục kích. ĐT Barrou CĐ trưởng và Tr.tá Lajouanie, chỉ huy trung đoàn Korea đã quyết định chia đoàn xe làm bốn phần, mỗi phần gồm bộ binh và pháo binh để có thể hoạt động độc lập khi bị tấn công.
Với bố trí lại như vậy, phần đầu của đoàn xe bắt đầu rời KM 11 lúc 1250, phần hai lúc 1300, phần ba lúc 1330, và phần bốn lúc 1400 (chậm lại do đ.đ. 2 và 3 phải mang lính bị thương lúc sáng). Liên lạc rất tốt giữa các đv qua máy vô tuyến và máy bay thám thính L-19 bay phía trên đoàn xe. Máy bay ném bom ứng chiến sẵn sàng ở Nha Trang và đoàn xe chỉ phải vượt đoạn đường 11 km còn lại từ KM 11 tới đèo Mang Yang (KM 22), để bắt tay CĐ 42 đang chờ họ . 
. . . Chỉ một lát sau, xe truyền tin nhận tin của toán biệt kích của Đ.U. Vitasse: "Một đv lớn của VM ở cách đường 19 ba km". Gần như cùng lúc, một trong những chiếc L-19 báo cáo một đv VM xuất hiện ở Kon-Barr, khoảng 8 km phía bắc KM 11. BCH của CĐ nhận được hai tin này lúc 1330, và vài phút sau, đại bác 105 ly của PĐ 4, vẫn còn ở KM 11 bắt đầu nhả đạn vào vị trí địch gần Kon-Barr, kế đó là máy bay ném bom B-26. 
Nhưng có một sai lầm chết người: thông tin gửi đến xe truyền tin (về tin VM ở 3 km cách đường 19) được thông báo cho mọi đv TRỪ tiểu đoàn khinh binh của Tr. đoàn 43 Thuộc địa. Không thể kiểm chứng được điều gì xảy ra vì sau đó vài phút xe truyền tin bị cháy vì trúng đạn pháo VM. Trước đó mấy ngày ĐT Barrou đã báo cáo thiếu 20 hiệu thính viên truyền tin (radio operator). Do vậy, thành phần đi đầu (TĐ 43) ko hay biết gì hết, vẫn tiến về KM 15. Lúc 1400 máy bay L-19 cho biết có đá chận đường ở KM 15.
Gần KM 15, đường 19 đi vào một cánh đồng nhỏ hai bên mọc đầy cỏ voi cao 6-bộ Anh (hơn 1, 8 m) và đường quẹo về phía tây theo một vòng cung rộng (wind toward the west in a wide arc). 
Đ.U. Léouzon, coi đại đội 1 của TĐ 43 khinh quân ngừng lại bên trái đường nghe ngóng, ông đi bộ về TT Muller, TĐT.
"Tôi thấy có gì chờ đợi chúng ta. Nếu VM muốn phục kích, đây là chỗ lý tưởng nhứt. Xạ trường rộng rải, nhiều đường rút lui vào rừng, máy bay khó quan sát. Tôi muốn tung thám kích để xem có điều gì."
"Đồng ý, nhưng làm như vậy mất thời giờ, phải cần tới đ.đ. 2 và 3 và làm đoàn xe bị yếu đi."
"Tôi đi với đ.đ. tôi, xuyên qua đám cỏ voi này; nếu ko gặp địch thì TĐ có được bảo vệ cạn sườn trong lúc tiến quân trên lộ; nếu tôi gặp địch thì TĐ sẽ yểm trợ."
Đ.Đ. 1 rời đường để chui vào đám cỏ voi sắc cạnh giữa trời nóng chang chang. Chỉ vài phút sau họ mất hút trong biển màu xanh này và bắt đầu trèo lên một đồi nhỏ, dù phủ đầy cỏ, nhưng giúp họ quan sát toàn cảnh. Lúc đó, trung sĩ Li-Som, người Miên ngừng lại và ra dấu cho trung đội dừng lại.
"Im lặng - tôi muốn im lặng tuyệt đối!"
Họ đã nghe một tiếng động lạ phát ra khi cỏ bị một đoàn người giẫm đạp, sau đó cỏ sẽ bung dậy khi đoàn người đi qua. Đối với TS Li-Som, VM đang ở kế cận họ. Những đv VM bị phát hiện trước đó ở phía bắc đường 19 bởi biệt kích của Vitasse hay L-19 chỉ nhằm đánh lừa (decoy) hay chỉ là viện quân vì VM đã có mặt tại vị trí phục kích, súng chờ nhả đạn.
Hai súng liên thanh VM nổ ở tầm khoảng 30 yard (khoảng 28 m) vào bên hông (broadside) của tr.đội. Li-Som hô to "tr.đội 2 theo tôi" và chạy về hướng đồi, y vừa chạy vừa ném lựu đạn. Một loạt đạn liên thanh đã trúng ngực y trong khi khẩu thứ nhứt nổ tung vì trúng lựu đạn của y. 
"Cứu Li-Som", lính đ.đ. 1 hô vang; tr. đội của anh ta tiếp tục trèo lên đồi, 2 người khác trúng đạn nhưng cuối cùng tr.đội đã mang xác Li-Som về đ.đ., lúc này đang lập chu vi phòng thủ. 
Lúc bấy giờ là 1420 trên đồng hồ của Léouzon, ông và lính biết rằng họ sắp chết ngay tại nơi đây... một xạ thủ súng 57 ly không giật đến nằm kế đ.đ. trưởng Léouzon để tác xạ. Vài mét kế đó, hạ sĩ Beausset, chật vật với máy truyền tin SCR 300 để liên lạc với TĐ nhưng cuối cùng mới biết máy hỏng do trúng đạn 12,7 ly. 
...
Ở khúc có BCH của CĐ 100 tình hình khác hẳn. Tr. đội cơ giới gồm ba xe half-track một chiếc xe bọc thép M-8, đi phía trước BCH CĐ, trừ 1 chiếc M-8 đi với TĐ 2 Korea. ĐT Barrou, đi xe Jeep với tay cầm carbine, xe chạy sau tr. đội cơ giới. 
Vào lúc 1415, đoàn xe chạy trước ông chạy quá nhanh, trong đó có trung đội cơ giới, thay vì chạy chậm để bảo vệ BCH CĐ. Ôngliền  xuống xe, đi bộ lại xe truyền tin và ra lịnh cho trung đội cơ giới chạy chậm lại, sau đó ông trở lại xe Jeep. Ngay lúc đó, liên thanh của VM bắt đầu nổ từ xa, và một lựu đạn rơi trước ông. Lúc đó 1420.

                  Nơi chiến đoàn 100 bị phục kích.

               Hai ảnh do không quân Pháp chụp.


Đoàn xe của BCH Chiến đoàn ở góc dưới phải, gần đó là hai khẩu 105 ly nằm trên đường. 

Giống như bị động đất, đoàn xe của BCH CĐ giờ đây đã biến mất trong đám mây của bụi và kim loại của xe cộ bị xé nát khi từng loạt đạn bazooka và cối VM bắn vào. Tr.đội cơ giới đã bất khiển dụng trước khi bắn trả. Chỉ trong bốn phút, ba chiếc half-truck và một chiếc M-8 bốc cháy và nổ tung. Chiếc M-8 còn lại với đạn 37 ly chống biển người (antipersonal/canister shell), đã bắn trúng ổ liên thanh VM trên đỉnh đồi gần đó - đang nhả đạn vào đoàn xe bất động. 

Chiến xa M-8, trang bị đại bác 37 ly đã bắn đạn chống biển người vào VM.



H5: xe half-truck, vừa chạy bánh và xích, đã bất khiển dụng ngay từ đầu.

Lúc 1425, xe truyền tin duy nhứt đã bốc cháy, cắt mọi liên lạc giữa CĐ với các đv và với BTL Quân khu. 
Barrou phản ứng nhanh. Tay cầm carbine, ông cùng đại úy Fiévet của đ.đ. chỉ huy tập hợp binh sĩ để tấn công vào đỉnh đồi (hill crest) phía bắc của đoàn xe- nơi súng liên thanh của VM bắn liên tục vào đoàn xe đang dồn cục (massed vehicles). Lúc 1435 ĐT bị trúng đạn trung liên BAR ở đùi. Sau đó vài phút, viên đ.đ.t này cũng chết cạnh Barrou vì đạn phá nát ngực.
Trung tá Lajouanie, chỉ huy tr.đoàn Korea, cũng cố gắng tấn công đồi này. Đạn chống biển người từ chiếc M-8 bắt đầu có hiệu quả và mọi ng đều nghĩ, chẳng mấy chốc tàn quân của đ.đ. chỉ huy sẽ tới đỉnh đồi và đi vòng qua hông địch (outflank). Tuy nhiên, lúc đó , súng đại bác của chiếc M-8 lại im bặt, xạ thủ đã chết và lúc 1445, tr.tá Lajouanie tử thương bên cạnh Barrou.
Từ trên đồi, Barrou lăn xuống tới cạnh chiếc M-8 bị hư và dù bị thương ở đùi, cố gắng trèo lên pháo tháp để bắn lên đồi nhưng một lính VM đã thấy cấp bậc kim loại của ông và bắn trúng chân còn lại khiến ông rơi xuống đất. Ông liền lăn xuống con mương kế đường và xé bỏ/tháo gở cấp bậc, giấy tờ tùy thân cũng như giấy tờ quan trọng khác. Một lính quân y, ko biết ông là đại tá, đã băng bó cho ông trước khi chạy nhanh về TĐ. 43 đang bị thiệt hại nặng. Thiếu tá Hipolite, TMT của tr.đòan Korea cũng gục ngã sau đó vài phút. Thế là chỉ sau MƯỜI PHÚT, cả CĐ 100 như rắn mắt đầu (leaderless). 
Tài xế của các xe Công Binh đi đầu đoàn xe đã bỏ xe mà chạy, TĐ 520 khinh quân VN cũng nhanh chóng tan rã, khiến những kẻ còn sống của đ.đ. chỉ huy của CĐ và pháo đội chỉ huy của tr. đoàn pháo số 10 phải tự lo thân mình. 
Lúc 1500 vì trúng pháo VM, các xe tải của công binh chở đạn bắt đầu nổ tung, quăng mọi thứ lên trời.
Chính vào lúc đó, TĐ 1 và 2 Korea và pháo binh của họ đã tới KM 15, và cứu đám tàn quân của BCH CĐ khỏi sự hủy diệt. Ngay lập tức 2 đ.đ. của t.đ. 2 Korea mở đường qua đám xe hư hại vì pháo của VM và đã bắt tay (link up) với t.đ. 43 đang tập hợp ở một khoảng cách ko xa các xe cộ đang cháy và nổ (xe tiếp tục nổ tới 1730); họ cũng cố gắng dọn đường trống cho đoàn xe phía sau tiến tới. 
Dưới hỏa lực khủng khiếp (wither) của VM, TĐ 43 thuộc địa cố gắng khởi động vài xe nhưng sau đó phải ngừng vì hỏa lực áp đảo của VM, nhưng vài xe thoát được về tới KM 22. 
Trong khi đó, TĐ 1 Korea và tàn quân của các đv khác tập hợp lại và đào hố cá nhân quanh đoàn xe. Thiếu tá Kleinman của TĐ 2 là sq cao cấp nhứt của CĐ nắm quyền chỉ huy (vì họ ko biết ĐT Barrou ở đâu) và lúc 1530 quân Pháp đã lên tinh thần: dù tổn thất nặng và bị pháo bởi cối của VM, các khẩu 105 ly của Pháo đội 4 liên tục bắn thẳng/trực xạ (point-blank range) với ngòi nổ (fuse) tối thiểu vào các đợt xung phong của bộ đội VM. Vào lúc 1620 , thiếu tá Kleiman và Guinard TĐT của TĐ 1 Korea và Muller của TĐ 43 đã quyết định rằng tàn quân của CĐ đủ mạnh để lập một chu vi phòng thủ và chuẩn bị bải thả (drop zone) đạn dược vì sắp hết.
Máy bay ném bom B-26 cũng đã giúp cũng cố tình hình, dù ko như ý. Khi B-26 tới, hai bên đã cài răng lược tại nhiều chỗ (hand-to-hand stage at many places) khi quân hai bên cách nhau vài mét. Khi bom và đạn từ trên đầu đổ xuống, quân hai bên đều nhìn lên trời ko biết cái chết sẽ đến vào lúc nào. 
Khi trời bắt đầu tối, quân Pháp biết rằng khó cầm cự (untenable). Trong khi áp lực của bộ binh VM giảm đi nhưng hỏa lực của cối vẫn nặng nề và chính xác. Phía Pháp, nhiều súng của Pháo đội 4 lại lần nữa yên lặng vì xạ thủ chết và gần hết đạn. Hơn 100 thương binh đang rên rỉ (moan) ở góc phía đông của đoàn xe, nơi mà BS Varme-Janville đang săn sóc họ trong một ô vuông nhỏ tạo bởi các xe tải lật ngửa (overturn) và một xe cứu thương; vị bs đã thao tác chuyên nghiệp với các y tá cũng bị thương trong khi họ chăm sóc thương binh; với các người bị thương lần nữa do đạn của VM vẫn tiếp tục đổ xuống. Cuối cùng, các băng-ca (stretcher) được đẩy dưới các xe tải để an toàn hơn dù chúng chỉ cách chiến tuyến chừng 20 mét (... they were only within 20 yards of the actual firing line. It was obviously that none of the severely wounded would survive the next day unless they were soon removed from the battle area). 

(Còn tiếp ở phần 2)

Rạng ngày 28/9/17 lúc 00:45 sáng .  
Nguồn : Street Without Joy từ trang 207-218 . 
CẬP NHẬT:
 Sách và phim liên quan đến trận đánh:
- Phim
a/ Phần mở đầu của phim: We Were Soldiers.
b/ Phim Go Tell the Spartans: https://www.bing.com/videos/search?view=detail&mid=4883AB28368F080B12C74883AB28368F080B12C7&shtp=GetUrl&shid=b546f646-f160-4eb4-a0f5-ec2cf023a73a&shtk=R28gVGVsbCBUaGUgU3BhcnRhbnMgKDE5Nzgp&shdk=R28gVGVsbCBUaGUgU3BhcnRhbnMgKDE5Nzgp&shhk=Q7saH9%2FkMVjvCfDtDXX7bVmj1fxw9lYeAOyGxUo90WE%3D&form=VDSHOT&shth=OSH.ow6Ug%252FDd6WSQccaIegpNpw
- Sách
a/ Street without Joy.
b/ Incident at Muc Wa, Daniel Ford.