Showing posts with label tiểu đoàn 41 bđq. Show all posts
Showing posts with label tiểu đoàn 41 bđq. Show all posts

Saturday, July 5, 2025

 TIỂU ĐOÀN 516 ANH HÙNG - CHIẾN THẮNG LỘ THƠ, PHÁ VÒNG VÂY AN KHÁNH

--------
Cuộc đời binh nghiệp giúp tôi nghiệm ra: Kẻ thù có thể “bấm nút” phát động cuộc chiến, nhưng không thể sử dụng “nút bấm” để điều khiển đi đến kết cục của chiến tranh theo ý muốn. Những chiến lược, chiến thuật của đối phương dù hiểm độc tân kỳ đến đâu cũng lần lượt phá sản khi đối đầu với sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân. Ngày nay, tham vọng điên cuồng, nham hiểm của nước lớn cũng sẽ thất bại thảm hại khi thách thức lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam.
Sự kiện nào của lịch sử cũng đều có nhân có quả, có tiền đề và nối tiếp, có kế thừa và phát huy. Từ quan điểm đó, khi nhìn nhận sự kiện ra đời, chiến đấu và trưởng thành của đơn vị vũ trang nằm trong tiến trình của lịch sử thì rõ ràng Tiểu đoàn 516 thời kỳ chống Mỹ được hình thành có kế thừa truyền thống của Chi đội 19, Trung đoàn 99 thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Chúng ta cần có cự ly giãn cách để quan sát những vật thể lớn. Đó là nguyên tắc trực quan nhận biết hình khối không gian. Thế còn khi nhìn nhận sự kiện lịch sử thì cần có khoảng lùi về thời gian mới bao quát sự kiện trên cơ sở khoa học lịch sử. Nửa thế kỷ trôi qua, đủ độ dài thời gian để khẳng định tầm vóc của Tiểu đoàn 516 và trận đầu thắng lớn ở Lộ Thơ, phá vây thoát hiểm ở xã An Khánh vào tháng 8-1964.
Lịch sử là dòng chảy thời gian song hành với chuỗi sự kiện nối tiếp và hàm chứa sự phát triển. Vì thế lịch sử không có sự lặp lại. Thế nhưng, thực tiễn dòng chảy lịch sử có những trùng hợp tưởng chừng như lịch sử lặp lại. Sự trùng hợp ấy theo qui luật từ không đến có, từ yếu đến mạnh và bao giờ cũng trên tinh thần kiên cường trong đấu tranh vũ trang, vượt qua thử thách, khó khăn ác liệt để tồn tại, phát triển bền vững. Thật vậy, những ngày đầu khởi sự đánh Tây sau giành chính quyền năm 1945 và trước khi nổ ra cuộc Đồng Khởi năm 1960 thì lực lượng cách mạng chưa có đơn vị vũ trang. Từ bạo lực chính trị chuyển sang chiến tranh cách mạng, bạo lực vũ trang giành chính quyền là một tất yếu. Những đơn vị vũ trang ban đầu của hai thời điểm ấy được ra đời từ không đến có, từ nhỏ lẻ manh mún đến tập trung lớn mạnh. Chỉ có khác nhau là những đơn vị tiền thân của Chi đội 19 hoạt động chưa có sự lãnh đạo của Đảng, còn các đơn vị vũ trang tiền thân của Tiểu đoàn 516 được sự lãnh đạo của Đảng ngay từ đầu - xem đó là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển không ngừng và lớn mạnh toàn diện dài lâu.
Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiến hành cuộc Đồng Khởi lịch sử năm 1960 từ tay không, nổi dậy phá thế kềm kẹp, chuyển từ thế thủ sang thế công. Trong cao trào Đồng Khởi ấy, lực lượng vũ trang các nơi nhen nhóm hình thành từ không đến có. Hai đại đội vũ trang tuyên truyền được thành lập mang phiên hiệu C269 ở cù lao Bảo và C264 ở cù lao Minh. Tuy đơn vị còn son trẻ, nhưng đến tháng 3-1960 đã biết phối hợp đánh diệt Đại đội Thủy quân lục chiến ở ấp Định Hưng (xã Định Thủy). Sau đó phối hợp với các lực lượng và quần chúng cách mạng tiếp tục chống càn thắng lợi: đánh bại cuộc bao vây của tướng Lê Văn Tỵ chỉ huy hơn một vạn quân hỗn hợp “triều Ngô” vào ba xã trọng điểm Đồng Khởi, bẻ gãy ý đồ tiêu diệt đầu não lãnh đạo và lực lượng vũ trang cách mạng còn son trẻ mà Ngô Đình Diệm gọi là “ung nhọt Kiến Hòa”. Chiến dịch “Bình trị Kiến Hòa” của địch bị thất bại. Lực lượng cách mạng vẫn tồn tại và phát triển, giữ thế tiến công địch bằng cả chính trị, binh vận và vũ trang.
Đại đội C269 và C264 là tiền thân của đại đội cơ động đầu tiên của tỉnh với phiên hiệu 261 để rồi sau đó trở thành lực lượng nòng cốt hình thành Tiểu đoàn 516 có biên chế đủ các bộ phận của một đơn vị chủ công với khoảng 800 quân. Tiểu đoàn 516 thực sự trở thành quả đấm mạnh về quân sự, đồng thời làm đòn xeo cho phương thức tiến công địch bằng “hai chân, ba mũi” và hỗ trợ đắc lực cho phong trào du kích chiến tranh nhân dân rộng khắp trong tỉnh.
Lịch sử có thêm sự trùng hợp lý thú, đó là Tiểu đoàn đầu tiên của Bến Tre thời kháng chiến chống Mỹ được thành lập, chính thức ra mắt cũng tại địa danh Tân Xuân - nơi hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của Bến Tre thời kháng chiến chống Pháp. Phải chăng sự trùng hợp ấy có ý nghĩa khởi nguồn cho truyền thống vẻ vang của Tiểu đoàn bộ binh nòng cốt của lực lượng vũ trang Bến Tre trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cũng là đơn vị thực binh nòng cốt trong thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trên quê hương Đồng Khởi!
Thật vậy, mới bốn tháng tuổi, Tiểu đoàn 516 ra quân trận đầu thắng lớn ở Lộ Thơ (xã Thành Triệu), diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực và phá vây thoát hiểm ở xã An Khánh do tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Vĩnh Nghi điều khiển hải, lục, không quân với quân số hỗn hợp lên đến 1 sư đoàn tăng cường siết chặt vòng vây. Chiến binh “Năm mười sáu” kiên cường đánh trả, diệt thêm gần 300 tên, quả cảm phá vòng vây, bảo toàn lực lượng. Ba sự kiện: công đồn Phú Túc, diệt viện Lộ Thơ và phá vây An Khánh nằm trong tổng thể trận đầu ra quân của Tiểu đoàn 516 đã vượt tầm dự kiến của Tỉnh ủy, Tỉnh Đội về không gian chiến trường, về đối tượng tác chiến và qui mô chiến trận. Từ đó, chiến công nối tiếp chiến công của Tiểu đoàn 516 gắn liền với những trận đánh hay, thắng lớn trên các địa danh khắp ba dải cù lao xứ Dừa, mãi mãi được lưu danh trong sử sách.
Công đồn, diệt viện và phá vây là những hình thức chiến thuật nằm trong tổng thể trận đầu ra quân của Tiểu đoàn 516. Sẽ không đúng tầm vóc khi tự hào thắng lớn ở Lộ Thơ mà xem nhẹ thắng lợi công đồn Phú Túc và phá vây An Khánh. Đồng thời cũng không công bằng khi ghi nhận chiến công của Tiểu đoàn 516 mà quên sự góp công của các đơn vị được tăng cường phối thuộc, trong đó có Đại đội Địa phương quân Châu Thành và du kích các xã có chiến sự, hợp thành một trận đánh hay, đánh đẹp của ba thứ quân. Ngoài ra, Huyện ủy, các ngành và nhân dân Châu Thành góp công to lớn trong vai trò hậu phương trực tiếp của chiến trường. Đặc biệt hành động quả cảm của các mẹ, các chị nuôi quân những ngày Tiểu đoàn nằm trong vòng vây ở An Khánh. Tôi xem các mẹ, các chị như những anh hùng! Là người trong cuộc - nhân chứng của Ban Chỉ huy Tiểu đoàn, tôi xin ngả nón cúi đầu cám ơn Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Châu Thành đã góp công xuất sắc cùng Tiểu đoàn 516 làm nên chiến thắng: công đồn Phú Túc, diệt viện Lộ Thơ và phá vây An Khánh. Đó là chiến công chung của các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, không phải của riêng ai.
Tiểu đoàn 516 trải qua nhiều chiến trận, nhanh chóng trưởng thành, vinh dự được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu năm 1970 với danh hiệu những chữ vàng truyền thống “Liên tục tiến công - thắng Mỹ, diệt ngụy”, “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Tiểu đoàn 516 trở thành đối tượng phong phú cho văn, thơ, nhạc, họa và điêu khắc của văn nghệ sĩ tỉnh nhà. Phiên hiệu “Năm mười sáu” luôn là niềm tự hào của lực lượng vũ trang, đơn vị đầu đàn tin yêu của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre.
Tiểu đoàn 516 chẳng những là đơn vị chủ công trong thế trận chiến tranh nhân dân mà còn đảm trách vai trò nòng cốt phát triển lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh, đáp ứng cho từng giai đoạn tác chiến trên chiến trường Bến Tre và sẵn sàng cung ứng lực lượng theo yêu cầu của cấp trên. Tiểu đoàn 516 thực hiện sự “nở nồi”, làm nòng cốt hình thành ba tiểu đoàn bộ binh để khi bước vào chiến dịch tổng công kích Xuân Mậu Thân năm 1968 có đủ lực lượng tiến công vào thị xã Bến Tre trên các hướng.
Tiểu đoàn 516 đóng vai trò đơn vị chủ công, lập nhiều thành tích xuất sắc trong đội hình Chiến đoàn Bến Tre và Trung đoàn Đồng Khởi cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. “Năm mười sáu” chẳng những là đội quân chiến đấu giỏi, đối tượng đáng sợ của chủ lực đối phương trên chiến trường Bến Tre, mà còn là đội quân công tác tốt, luôn ân nghĩa với đồng bào. “Năm mười sáu” có cái đặc biệt là Tỉnh ủy, Tỉnh Đội chỉ đâu đánh đó, dù nhiệm vụ có khó khăn nặng nề cỡ nào cũng phấn đấu vượt qua để giành thắng lợi. Trong chiến đấu, “Năm mười sáu” chưa rời khỏi chiến trường khi thương binh, liệt sĩ còn nằm ở trận địa và luôn chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tù binh, hàng binh. Đồng bào ở khắp chiến trường trên ba dải cù lao xứ Dừa dành trọn tình nghĩa với “Năm mười sáu”, bởi các chiến binh luôn nêu cao khẩu hiệu hành động “Đến dân mừng - Làm dân tín - Ở dân thương - Đi dân nhớ”, góp sức xây dựng xã, ấp chiến đấu, vận động quần chúng hăng hái thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hậu phương trực tiếp của chiến trường. Bà con nơi nào cũng muốn “Năm mười sáu” về trú quân ở ấp mình. Nhiều bà mẹ tự nguyện nuôi thương binh. Nhiều thương binh ở bệnh xá dã chiến chưa lành bệnh lại đòi về đứng trong đội hình của “Năm mười sáu”. Tinh thần chiến đấu, tình đồng đội, nghĩa đồng bào trong chiến tranh được xem là nguồn lực sức mạnh chiến đấu và trưởng thành của “Năm mười sáu”.
Sau 30-4-1975, cán bộ, chiến sĩ “Năm mười sáu” chưa đủ thời gian thăm lại chiến trường xưa - những nơi từng in dấu bước chân quân hành… để tạ ơn đồng bào vùng giải phóng cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ Tiểu đoàn trong khói lửa chiến tranh. “Năm mười sáu” nhanh chóng hành quân xa đến với chiến trường nóng bỏng ở biên giới Tây Nam.
Tiểu đoàn 516 tiếp tục “nở nồi”, nòng cốt hình thành ba Tiểu đoàn 516 B, C, E. Sau đó, Tiểu đoàn 516 A nhập thân trong đội hình của Sư đoàn 339 của Quân khu 9, hai Tiểu đoàn 516 B và C nhập thân trong đội hình Quân khu 7, góp công xuất sắc trong chiến tranh biên giới Tây Nam. “Năm mười sáu” còn cung cấp cán bộ góp sức hình thành các Tiểu đoàn của Bến Tre thực hiện nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Campuchia.
60 năm có biết bao thế hệ quân nhân trưởng thành từ nguồn “Năm mười sáu”. Tiếp bước truyền thống vẻ vang của “Năm mười sáu” anh hùng năm xưa, thế hệ trẻ “Năm mười sáu” hôm nay cần ra sức xây dựng đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, dẫn đầu phong trào thi đua quyết thắng cụm đơn vị, phấn đấu trở thành ứng viên danh hiệu cao quý: “Đơn vị anh hùng thời kỳ đổi mới”. Nâng cao hơn nữa ngọn lửa anh hùng, sáng mãi truyền thống vẻ vang.
-------

Tuesday, July 1, 2025

  The Tien Giang Tactical Area

 During the first half of 1964, the autonomous Tien Giang Tactical Area south of Saigon 

had been one of the most contentious places in South Vietnam. The summer mon

soons brought no relief, as the number of enemy incidents in the third quarter of 1964 

increased by 52 percent over the previous quarter. As was the case with other divi

sions, the 7th Division, which controlled the area, tried to achieve a balance between 

pacification and offensive operations, but the need to react to enemy initiatives often 

disrupted this effort.40

 Using the Cushman concept as a model (see Chapter 6), by July, the division had its 

own pacification cadre trained by division and province personnel. One American and 

six Vietnamese MEDCAP teams actively treated the rural sick. Division senior adviser 

Col. Edward Markey credited the division’s educational efforts in getting tactical units 

to be more sympathetic to the population. By July, the division had completed 106 of 

the 405 New Life hamlets planned for 1964.

 T

 he division relied heavily on artillery to perform its mission. Howitzers covered 

85 percent of the Tien Giang area and helped repulse 218 of 243 attacks in July. During 

that same month, government pieces expended more than 6,000 rounds in harassment 

and interdiction fire that produced 200 known casualties. In one incident, 105-mm. 

howitzers fired fifty rounds based on information provided by a civilian, killing 

twenty-four insurgents. The enemy evacuated about seventy additional casualties 

before troops arrived.41

 U.S. Army Aviation also played a key role. The division typically ran three to 

four “Eagle flights” per week, in which U.S. helicopters ferried Vietnamese soldiers 

of platoon or company strength over the countryside in search of insurgents. The 

modus operandi was for Colonel Markey and the division G–3 to take to the air in a 

command-and-control helicopter. If they saw something suspicious, they would send 

in a helicopter bearing a squad from the division’s reconnaissance company. During a 

typical flight, they would drop five to ten squads to search multiple locations. If contact 

occurred, they could call in the rest of the company, or even the divisional reserve—

 two airborne battalions assigned to Tien Giang because of the area’s heavy fighting. 

T

 he technique was successful, but during one landing, Markey triggered a booby trap 

that injured his leg. He returned to the United States for treatment.

On 22 June, the 1st and 3d Airborne Battalions were on a search-and-destroy 

operation in support of the 7th Division near Bang Lang, Dinh Tuong Province, 

72 kilometers southwest of Saigon when they ran into the 261st and 514th PLAF 

Battalions. Enemy fire downed four U.S. Army helicopters, including one carrying the 

commander of U.S. Army Support Command, General Joseph Stilwell. The general and 

all the aviators emerged unscathed. Meanwhile, helicopter gunships lent their support 

to the fight, at one point accidently inflicting nine casualties on the South Vietnamese. 

T

 he combat below was intense, with the paratroopers charging the enemy multiple 

times. Hostile fire killed or wounded all nine platoon leaders in the 1st Battalion, but 

the unit never wavered. The enemy retreated at the end of the day. The paratroopers 

lost twenty-nine killed and eighty-nine wounded. Known enemy losses amounted to 

f

 ifty-eight killed, twenty-six fighters captured, and twenty weapons. One adviser called 

the battle a “little classic of a military operation.” The Army awarded a Bronze Star and 

two Silver Stars to three advisers who fought in the action. One of the men who earned 

the Silver Star was Capt. James J. Lindsay, a future general.43

 On 18 July, nearly one hundred U.S. helicopters ferried troops to Cao Lanh, Kien 

Phong Province, 80 kilometers south of Saigon. The massive operation did not achieve 

much, but the enemy shot down a helicopter that was evacuating wounded soldiers. 

T

 he crew of the downed aircraft fought the enemy for about ten minutes before 

more helicopters arrived to rescue them. Troops also deployed to guard the downed 

helicopter and a team of U.S. technicians. The craft flew out on its own power the 

following day.44

 At 0100 on 20 July, the revolutionaries launched a major attack of their own. 

T

 hey massed three battalions—the 261st, 263d, and 514th—and one company each of 

recoilless rifles, machine guns, mortars, and sappers to attack Cai Be district town in 

western Dinh Tuong. About 300 soldiers, drawn from a regimental headquarters and 

local territorials, defended Cai Be. The insurgents penetrated the town and inflicted 

much damage, particularly on the housing of Regional Forces families. They killed 

twelve defenders and forty dependents. Another forty defenders and forty civilians 

suffered injuries. The insurgents withdrew at 0500.45

 T

 he government responded with five battalions backed by armor to pin the enemy 

against the Mekong River, 5 kilometers west of Cai Be. Two battalions saw the most 

action. The 8th Airborne Battalion occupied Cai Be and then continued through sugar 

cane and rice paddies until 1545 when enemy fire hit two of its companies. The lead 

company advanced an additional 90 meters when heavy automatic weapons fire finally 

stopped it. The second company faltered after enemy fire killed its commander and 

radio operator. U.S. Army gunships fired 130 rockets as close as 45 meters in front of 

friendly troops to keep the enemy at bay. The battalion eventually withdrew at 1900. 

Meanwhile, at 1600, insurgent soldiers entrenched along a tree line pinned 

down a company from the 6th Airborne Battalion. After some delay, the 

battalion commander accepted his adviser’s recommendation to attempt a double 

envelopment, but the move was too shallow, and the pincers hit the enemy’s front 

rather than its flanks. At 1830, the battalion launched a frontal assault, assisted 

by two armed U.S. Army Mohawk aircraft and several gunships. Unfortunately, 

the gunships mistakenly hit the 6th Airborne, unnerving the unit, which then 

recoiled into a perimeter for the night. After Vietnamese helicopters refused to 

evacuate the casualties, a U.S. Army medevac helicopter arrived to remove twelve 

wounded soldiers. The senior adviser to the Airborne Brigade, Col. John G. 

Hayes, expressed disappointment at the lack of aggressiveness exhibited by the 

airborne battalions that day. Thirteen Vietnamese paratroopers died and fifty-two 

were wounded, as was one American. The enemy lost forty-six dead and a dozen 

f

 ighters taken prisoner. An adviser speculated that the allies had probably caused 

another hundred casualties. Military Region 2 contended that by attacking Cai 

Be it had made the South Vietnamese fearful of attacks on other district capitals. 

Consequently, observed the command, “They are forced to split up to reinforce the 

posts, and the morale of their troops is more apathetic than before.”46

 T

 he politico-military struggle continued in August. Pacification advanced 

modestly. The number of constructed hamlets rose to 155, MEDCAP teams treated 

20,000 sick civilians, and the division completed 18 civic action projects. Against 

this backdrop, the killing continued. On the tenth, Col. Huynh Van Ton reacted 

to information that a PLAF company was located 15 kilometers west of My Tho by 

sending out four battalions (one airborne, one infantry, and two ranger) and an M113 

troop supported by a platoon of 105-mm. howitzers. The armored carriers and the 

airborne and infantry battalions advanced south from Highway 4 while the rangers 

attacked from east to west from a position 5 kilometers to their south. All units made 

contact, and an airstrike helped to kill forty-two enemy combatants. The insurgents 

evacuated an estimated seventy more casualties. The South Vietnamese lost sixteen 

dead and forty-one wounded.47

 Ten days later, revolutionaries sprang a trap of their own. On 20 August, they 

overran Phu Tuc post in Kien Hoa Province, 10 kilometers northwest of Ben Tre, killing 

seven, wounding fifteen, and capturing the rest of the post’s thirty-six-man garrison. 

T

 he insurgents then burned the post and assaulted a nearby hamlet. These attacks were 

primarily a pretext for goading the South Vietnamese into sending a relief force. The 

government took the bait, sending elements of several battalions, which the insurgents 

declined to engage. Instead, they waited until government troops were departing Phu 

Tuc along a forest road, hitting the column when its guard was down. Caught in the 

ambush were 360 soldiers from the 41st Ranger Battalion and the 3d Battalion, 12th 

Infantry. The fighting lasted for more than an hour, with the 514th PLAF Battalion 

launching repeated bayonet charges heralded by bugles.

 Four Americans participated in the combat. 1st Lt. James M. Coyle was severely 

wounded but nevertheless kept fighting. Capt. Bryan C. Stone found himself firing 

a Browning automatic rifle in four directions as the enemy closed in around him. 

1st Lt. William D. H. Ragin grabbed a machine gun from a dead soldier and fired 

it point-blank at sixty advancing enemy soldiers. Moments before, he had thought 

they were friendly because they were clothed in government uniforms. Assisted by 

Sfc. Tom Ward, Stone, Coyle, and Ragin covered the retreat of the surviving South 

Vietnamese. By the time the battle was over, the insurgents had killed 85 South 

Vietnamese soldiers, wounded 60, and captured 122 weapons, with another 91 

government soldiers missing. All four Americans died in the engagement. General 

Westmoreland attended their memorial service, and the Army posthumously 

awarded them Distinguished Service Crosses.48

 Stung by the calamity, U.S. helicopter gunships attacked insurgents exiting the area 

by boat that night as more troops rushed to the scene. Allied forces failed to contact the 

enemy on the twenty-first, and on the night of 21–22 August, gunships again took to the 

night sky looking for sampans. On the morning of the twenty-second, seven battalions, 

two armored cavalry troops, and naval forces tried to encircle the enemy in Kien Hoa’s 

Ham Long District. The first attempt failed, but Ton quickly redeployed his men by 

boats and U.S. helicopters to catch the elusive foe. In the ensuing battle, 7th Division 

artillery fired 3,222 rounds, and the Vietnamese Air Force flew 10 fighter-bomber 

sorties. When the smoke cleared, the allies had killed ninety-eight PLAF soldiers 

and captured forty-three prisoners and thirty-seven weapons. Agents reported that 

the enemy buried another 200 dead and evacuated 300 wounded. Government losses 

amounted to seventeen killed and forty-five wounded. Nevertheless, IV Corps adviser 

Col. Sammie Homan thought that commanders were becoming cautious because of 

the action on the twentieth and other recent ambuscades. To restore their confidence, 

he pledged to use U.S. Army helicopters to escort all future troop movements.49

 An example of the promised support occurred on 5 September, when five UH–1B 

gunships from the 120th Aviation Company supported a 7th Division operation in 

Dinh Tuong. The entrenched insurgents hit three of the gunships, compelling one 

to return to base. The gunships in turn killed sixty revolutionaries and wounded an 

estimated forty more. Thirty-four enemy soldiers surrendered after the onslaught.50

 September brought new men to the top echelons of the 7th Division. Brig Gen. 

Nguyen Bao Tri became division commander, and MACV appointed Col. Robert A. 

Guenthner to advise him. Guenthner had received the Silver Star and Bronze Star 

medals for bravery at Salerno and Anzio, Italy, during World War II. Before coming 

to Vietnam, he had served as an adviser to the Nationalist Chinese army. Guenthner 

continued Markey’s strong support for civic action, psychological warfare, and the 

Chieu Hoi program. He had great respect for the U.S. Operations Mission personnel 

working in the field. He also emphasized intelligence, most of which came from the 

agent networks run by district, province, and division entities. The chief problem 

with the networks was that information traveled slowly, as the agents, fearful that the 

insurgents would detect them if they used radios, preferred to send reports by courier. 

Information provided by civilians was also useful but tended to be exaggerated in 

Guenthner’s opinion.51

 As had previous commanders and advisers, Tri and Guenthner exploited the in

depth knowledge of Major Binh, who had accumulated extensive files over his seven 

years of service in the division’s G–2 section. This data sometimes allowed Binh to 

predict where the enemy might move next, and Guenthner established a joint planning 

committee to target specific enemy units based on the data.52

 Even if pattern analysis helped find enemy units, the division had little luck 

penetrating the National Liberation Front’s political apparatus. The Front employed 

strict security measures, and because torture and death awaited anyone it discovered to 

be a government agent, few were willing to attempt to penetrate enemy organizations. 

As Americans had found elsewhere, Guenthner discovered that even after the 

government had identified a clandestine Front cadre, “there is not an aggressive 

program designed to eliminate these persons.” When a suspect did fall in to the 

military’s hands, the colonel considered South Vietnamese interrogation procedures 

to be poor and accompanied by  “unnecessary shouting, shoving, hitting, and kicking 

of the captive.”53

September brought one other development in addition to the change in command. 

On 5 September, the Joint General Staff abolished the Tien Giang Tactical Area. It 

transferred the 7th Division and four of the five provinces it supervised to IV Corps 

and assigned Long An Province to III Corps. Over the summer months, the division 

and its provinces had managed to bring about 50,000 more people into the most secure 

category of government control, but the allies conceded that the majority of the area’s 

residents, nearly one million people, remained under the domination of the National 

Liberation Front. 

Thursday, May 8, 2025

 Tiểu Đoàn 41 Biệt Động Quân

CHIẾN THẮNG HÀM LƯƠNG
( Vũ-đình-Hiếu )
*
*
*
Trong thời gian quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, các tiểu đoàn Biệt động quân có thêm một toán cố vấn Hoa-Kỳ đi theo để phối hợp trong vấn đề yểm trợ hỏa lực và nhất là không trợ. Các quân nhân Hoa Kỳ này chia sẻ cực khổ, nguy hiểm với người bạn đồng minh Việt Nam và họ rất hãnh diện về binh chủng Biệt-động-quân. Bài viết dưới đây được lấy ra trong tài liệu "BĐQ trên đòng bằng Cửu-Long" của cựu trung-tá Roy S. Lombardo, cố-vấn trưởng tiểu-đoàn 41 BĐQ. Tài liệu này đã được dùng làm tài liệu huấn luyện trong trường Lục-quân Hoa-Kỳ.
*
*
Bắt đầu từ tháng chín năm 1967, tất cả các cuộc hành quân có tiểu đoàn 41 BĐQ tham dự đều chạm địch. Lần đầu trong tỉnh Định-Tường, sau đó di chuyển về phía nam và đông sang tỉnh Kiến-Hòa, các cuộc chạm súng với địch quân gia tăng đều đặn. Quốc lộ 4 bị cắt (đắp mô) hàng ngày. Cây cầu ở phía đông Bến-Tre bị phá sập, cô lập vài quận lỵ và ba tiểu đoàn thuộc trung-đoàn 10, sư-đoàn 7 Bộ-binh.
Ngày 18 tháng mười 1967, một cuộc hành quân "lùng và diệt" trong quận Trúc Giang, vùng trách nhiệm của trung đoàn 10/BB do tiểu đoàn 3/10 và TĐ 41 BĐQ đảm trách. Hai tiểu đoàn được vận chuyển bằng xuồng đổ bộ dọc theo sông Hàm Lương về phiá nam để truy lùng các đơn vị Việt cộng thuộc tiểu đoàn 504, 303 điạ phương. Các đơn vị Việt cộng đã chứng tỏ sự hiện diện trong vùng cùng với súng cối 82 lỵ
Trong vùng đồng bằng Cửu Long, vấn đề chuyển quân bằng xuồng rất thường. Khi đoàn tầu xuôi dòng về hướng nam, các mục tiêu ở về phiá bắc có thể coi như an tâm, vả lại di chuyển bằng xuồng không đạt được yếu tố bất ngờ như trong cuộc hành quân trực thăng vận.
Theo kế hoạch hành quân, TĐ 41/BĐQ sẽ đổ quân ở phiá nam TĐ 3/10/BB, tiến về phiá đông sau đó bọc ngược trở lại tiến quân song song với TĐ/BB.
*
*
Cuộc chuyển quân TĐ 41 bắt đầu lúc 1 giờ chiều tại bến tầu làng Mỹ Hoà, tây nam Bến Trẹ Sau khi đổ bộ Biệt-động-quân dàn đội hình tiến quân, đến 6 giờ chiều, thiếu tá Toàn ra lệnh dừng chân thiết lập vị trí phòng thủ đêm.
Toán cố vấn Hoa Kỳ gồm sáu người chia đôi đào hố cá nhân gần đại úy Mười tiểu-đoàn phó và thiếu tá Toàn TĐ trưởng. Sau khi mọi chuyện xong xuôi, người hiệu thính viên Macey liên lạc với Trung tâm hành quân tỉnh Kiến Hòa, nơi này làm việc 24/24 mỗi ngày, còn hệ thống Cố vấn chỉ làm việc ban ngày. Chúng tôi có thể liên lạc với thiếu-tá Wayne Shipman,cố vấn trưởng trung đoàn 10/BB, qua hệ thống truyền tin của trung đoàn 10 mà tiểu đoàn 41 BĐQ tăng phái. Chúng tôi để tần số làm việc với trung tâm hành quân Kiến Hòa sau khi báo cáo vị trí đóng quân, tình hình và vài điều cần thiết. Toán cố vấn của tiểu đoàn 3/10 bỗng dưng biến mất trên tần số làm việc kể từ khi hai tiểu đoàn đổ quân. Vị trí đóng quân đêm của TĐ BB cách Biệt-động-quân khoảng một cây số về hướng tây.
Khi mọi người vừa chuẩn bị đi ngủ, địch quân bắt đầu pháo kích bằng súng cối 82 ly, viên cố vấn trưởng Lombardo và người hiệu thính viên Macey vội nhẩy xuống hố cá nhân lúc đó đã ngập nước, họ kéo ba lô sát miệng hố che miểng đạn. Tất cả 29 viên vào đúng phòng tuyến TĐ 41/BĐQ, điều này chứng tỏ địch quân có một đơn vị chủ lực trong vùng, quân Việt cộng điạ phương không được trang bị súng cối 82 lỵ Khi đợt pháo kích chấm dứt, súng nổ dòn tan tại phiá bắc phòng tuyến.
Macey, qua tần số trung đoàn 10 BB báo cáo tình hình, đồng thời thiếu tá Toàn cũng báo cáo cho vị trung đoàn trưởng. Lúc đó viên cố vấn trưởng của trung đoàn mới lên máy, điều đáng ngạc nhiên là toán cố vấn cho TĐ 3/10 vẫn im hơi lặng tiếng.
- Pickle Factory, đây là Tiger Spanker, VC tấn công từ phiá bắc lúc 1 giờ 15 với 29 quả 82 ly và bằng quân bộ (tối thiểu cấp tiểu đoàn). Cuộc tấn công bị chặn đùng cách phòng tuyến chúng tôi khoảng 100 thước. Yêu cầu không yểm Gunship và AC 47 lên bao vùng càng sớm càng tốt.
- Roger, Tger Spanker, Chờ cho hỏa lực yểm trợ. Nhắc lại cho tôi sau.Dứt !
Như vậy là chúng tôi phải tự lo liệu lấy (họ làm việc theo giờ giấc đã định). Trong khi chờ đợi súng cối 60 ly của Biệt-động-quân soi sáng bãi chiến trường. Các binh sĩ BĐQ khai hỏa, ném lựu đạn vào tất cả các bóng đen di chuyển trên cánh đồng ruộng, lúc này các đại đội trưởng đã ra lệnh ngưng tác xạ các khẩu đại liên để bảo trì đạn dược.
Thời gian dường như ngừng lại, đạn VC với những viên đạn lửa mầu xanh bay vào phòng tuyến quân ta, các quân nhân cứu thương bò ra sát phòng tuyến lôi kéo thương binh vào bên trong để băng bó, cứu cấp tạm thời.
Tại hướng bắc tiếng súng tạm yên, địch quân mở một đợt tấn công mới vào hướng tây. Súng nổ mỗi lúc càng ác liệt, thiếu tá Toàn TĐT gửi thêm hai khẩu đại liên M-60 ra phòng tuyến phiá tây để tăng cường hỏa lực cho đại đội đang phòng thủ. Địch quân khi xung phong đến cách phòng tuyến chừng 150 m bị khựng lại trước sự chống trả quyết liệt của các binh sĩ BĐQ. Cuộc tấn công vào phòng tuyến Biệt-động bị đẩy lui, lúc đó về hướng tây, hỏa châu thắp sáng vị-trí tiểu-đoàn 3/10/BB. Toán cố vấn của TĐ này vẫn im lặng.
Sau khi Lombardo báo cáo tình hình của TĐ/41/BĐQ cho viên cố vấn trưởng trung-đoàn 10, ông ta cho biết AC-47 đang trên đường đến mục tiêu và yêu cầu vào tần số làm việc với trung tâm hành quân tỉnh Kiến Hòa. Các viên cố vấn tại đó đang lo lắng cho TĐ/BĐQ.
- Tiger Spanker, đây là Spooky 43. Tôi có thể giúp được gì không?
- Roger Spooky 43, Vị-trí địch ở hàng cây dừa phiá bắc chúng tôi tại tọa độ 565208. Tôi đánh dấu vị trí chúng tôi. Lombardo tung một trái khói sáng đánh dấu quân bạn cho AC-47.
- Tiger Spanker, Tôi thấy trái khói sáng.
- Roger Spooky 43, Vòng đai phòng thủ của tụi tôi cách trái sáng 100 m về mọi huớng.
Chiếc AC-47 (Hỏa Long) nghiêng cánh tưới hàng loạt đạn đại bác tàn-phá những nơi tình nghi có địch tập trung. Khoảng năm phút sau, Spooky 43 cho biết là phải bay qua tỉnh Định Tường để hộ tống một đoàn thuyền quân vận, tuy nhiên sẵn sàng trở lại nếu mục tiêu đã vạch sẵn. Mất một tiếng rưỡi đồng hồ đến mục tiêu, sự hứa hẹn trở lại của AC-47 rất mong manh.
- Roger Spooky 43, Cám ơn sự giúp đỡ của bạn, sẽ cho biết kết quả vào sáng sớm khi tụi tôi lục soát mục tiêu.
- Đây là Spooky 43, Ráng lên! Tụi tôi bắt đầu rời vùng hành quân của bạn. Dứt.
- Roger, đây là Tiger Spanker, Dứt.
Lúc đó đồng hồ dạ quang chỉ sáng, còn hai tiếng đồng hồ nữa trời mới sáng. Người hiệu thính viên Macey đã làm cho chiếc máy truyền tin PRC-25 im tiếng rè. Trong bầu không khí im lặng, vài ý tưởng vớ vẩn thoáng qua trong đầu viên cố vấn trưởng Roy S. Lombardo. Máy truyền tin còn sử dụng được không? Có ai nghe không nếu mình gọi? Nơi nào có hỏa lực yểm trợ dự trù (back up) mà lúc nào gọi cũng được khi là một đại đội trưởng của lữ-đoàn 173 Dù HK trong chiến khu D? Hình ảnh gia đình cũng thoáng hiện rạ trong sự im lặng của màn đêm, Roy cầu nguyện trong tâm "Xin Thượng-Đế giúp tôi và các Biệt-động-quân qua khỏi đêm naỵ Giúp tôi hoàn thành nhiệm-vụ. Giúp tôi biết điều hay nhất để làm khỏi phải do-dự". Với tay cầm lấy combinet từ Macey, Lombardo gọi:
- Pickle Factory, đây là Tiger Spanker. Chúng tôi cần ít nhất ba chiếc trực thăng tản thương khi tia sáng đầu tiên vừa lên để di tản các thương binh và binh sĩ tử trận. Tiểu đoàn này sẽ không di chuyển nếu điều đó không thực hiện xong.
- Roger, Tiger Spanker, Tôi đang lo chuyện đó... Dứt.
Chẳng bao lâu, 'Thum...Thum...Thum...' quân VC lại pháo kích, lần này trúng bộ chỉ huy tiểu đoàn. Lombardo lăn mình xuống hố cá nhân, vị TĐT thiếu tá Toàn nhẩy không kịp bị trúng miểng nơi hông và chân trái. Mọi người đều căng thẳng, đạn dược cũng gần cạn, lúc đó trung úy Minh đại đội trưởng ĐĐ 4 đứng dậy và bắt đầu hát bản 'Biệt-động-quân hành khúc', các binh sĩ BĐQ đồng thanh hát theo, tiếng hô 'Biệt-động-quân... Sát!... Biệt-động-quân... sát!' vang dội trong màn đêm. Đợt tấn công thứ ba bắt đầu, thiếu tá Toàn vẫn còn ngồi được ra lệnh cho trung úy Minh dẫn đại đội phản công đánh ra hướng tây qua khỏi cánh đồng ruộng rồi vòng qua hướng đông. Bị phản công bất ngờ, địch quân bỏ chạy để lại nhiều xác chết, ĐĐ 4 lấy được 13 AK-47 và 2 súng B-40.
Sớm hôm sau, trực thăng tản thương đến di-tản 17 BĐQ tử trận, 12 bị thương. Lúc tiến quân quân ta phát giác nhiều băng cá nhân, dụng cụ y khoa của địch cùng nhiều dấu chân, hầm hố của địch để lại. Trận này làm cho Lombardo ghi nhớ mãi những kỷ niệm chiến đấu bên cạnh Biệt động quân Việt Nam.
*
*
Cựu trung-tá Roy S. Lombardo đã giải ngũ hiện sống tại tiểu bang Maryland. Sau năm 75 ông ta đã tìm kiếm các người bạn BĐQ xưa trong các công đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông ta đã được toại nguyện Trung tá Lê bảo Toàn cùng gia quyến đến định cư tại Garden Grove California, Thiếu-tá Đỗ văn Mười cùng gia quyến hiện cư ngụ tại Seattle, Washington state.
Ông Lombardo và các cựu cố vấn BĐQ khác đã xin và được chấp thuận xây một tấm bia tưởng niệm cho các tử sỹ BĐQ/VN và các cố vấn Hoa Kỳ trong nghĩa trang quốc gia Arlington.
No photo description available.
All reactions:
Hưng Nguyễn Hiệp, Quang Tri Nhan and 160 others
7 comments
17 shares
Like
Comment
Share
Nguyen Thiai Lien
Đúng rồi thưa anh, Hàm Luông! Bây giờ mời quý anh nghe em hát bài về bố nhé. Bố em thuôc TĐ 41 BĐQ. https://www.youtube.com/watch?v=PZSnLBuXaqA
  • Like
  • Reply
3
Nguyễn Bay
cho em hỏi nha minh co người thân nào từng o tiểu đoàn 41 biệt động quân k a
  • Like
  • Reply
View 1 reply
Huynh Ngoc Qui
Hàm Luông
  • Like
  • Reply
Most relevant is selected, so some comments may have been filtered out.